vietsoul21

Archive for the ‘Cộng Đồng’ Category

Vô vọng: Tại sao giới trí thức cánh tả không hiểu cộng sản

In Cộng Đồng on 2015/12/09 at 21:59
Lost Cause: Why Intellectuals of the Left miss Communism

Los Angeles Times, Ngày 14 tháng 1 năm 1996 | TODD GITLIN |

Vài lời về tác giả:

Todd Gitlin là học giả, nhà văn, nhà xã hội học, nhà thơ, và một trí thức bộc trực, và là tác giả của mười lăm quuyển sách. Một trong các cuốn sách nổi tiếng của ông là “Hoàng hôn của giấc mơ chung: Tại sao nước Mỹ bị hủy hoại bởi Chiến Tranh Văn Hóa” (Nhà Xuất Bản Metropolitan / Henry Holt).

Ông tốt nghiệp cử nhân toán tại Harvard, lấy bằng Cao Học môn khoa học chính trị, và Tiến Sĩ môn xã hội học tại Đại học California, Berkeley. Ông là chủ tịch thứ ba của Hội Sinh Viên Đấu Tranh Cho Một Xã Hội Dân Chủ  vào năm 1963-1964, và là điều hợp viên của Dự án Nghiên cứu Hòa bình và Giáo dục SDS vào khoảng 1964-1965. Trong thời gian đó ông đã tổ chức các cuộc biểu tình đầu tiên toàn quốc chống lại cuộc chiến tranh Việt Nam. Ông cũng là người Mỹ đầu tiên có mặt trong các cuộc biểu tình chống lại các doanh nghiệp đã viện trợ cho chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi. Trong thời gian 1968-1969, ông Gitlin là một phóng viên/biên tập viên cho San Francisco Express Times, và từ đó cho đến năm 1970 ông đóng góp thường xuyên cho báo chí đấu tranh bí mật. Trong 2003-2006, ông là thành viên của Hội đồng quản trị của tổ chức Greenpeace tại Hoa Kỳ. Ông hiện là giáo sư của ban báo chí và xã hội học, và là khoa trưởng của chương trình Tiến sĩ môn Truyền thông tại Đại học Columbia, New York.

Ba năm trước đây trong một bữa tiệc sinh nhật, cuộc trò chuyện chuyển sang vụ Bosnia. Chúng tôi sáu người ngồi cùng bàn, các nhà báo và các học giả, bạn bè phong trào Tân Cánh Tả. Chúng tôi đã từng đi diễu hành chống việc chế bom H và ủng hộ quyền dân sự và chống chiến tranh Việt Nam. Chúng tôi lái xe cả đêm để đến được các buổi họp tại những vùng xa xôi hẻo lánh nhằm thực hiện kế hoạch tập hợp các lực lượng lèo tèo ít ỏi đôi khi của mình vì một mục đích tốt đẹp. Trong những năm tháng đó, ít khi nào chúng tôi bất đồng với nhau. Nhưng khi cuộc thảo luận chuyển sang vụ Bosnia, chúng tôi đã không còn ngồi dù chung một bàn. Một số người, bao gồm cả bản thân tôi, muốn Hoa Kỳ ném bom người Serbs đang pháo kích vào Sarajevo ở Bosnia; những người khác thì cho rằng Mỹ không có cơ ngăn gì để can thiệp vào chuyện này. Không còn điều gì rõ hơn nữa là lúc đó phe cánh Tả đã tan vỡ, ít nhất là trong vấn đề đối ngoại.

Những đam mê và tranh luận của giới trí thức – phe tả, phe hữu và thành phần khác nào đó– đưa đến cách định hình về các điều khoản mà trong đó toàn nền dân chủ mặc cả cho định mệnh của nó. Các cuộc thảo luận của giới trí thức cánh tả về Tây Ban Nha năm 1936 đã tạo tiền chất cho thế chiến đệ nhị; các cuộc tranh luận về (chiến tranh) Việt Nam có lẽ đã ngăn được lạm phát lớn những năm 1970. Vì vậy, sự thất bại của giới trí thức khi không xem vấn đề Bosnia là nghiêm trọng đã gây một tác động rất lớn.

Một chính sách chung từ giới trí thức cánh tả cho vấn đề Bosnia – hoặc Haiti hay ngay cả Rwanda – đã không thành, và vẫn chưa hề có. Bởi vì một khi bạn thuộc phe tả – phe tin vào sự bình đẳng – thì không hẳn nhất thiết chỗ đứng của bạn về một vấn đề chính sách đối ngoại nhất định sẽ là X, Y hay Z.

Tây Ban Nha, Cuba, Việt Nam, Nicaragua, El Salvador – vào những thời điểm khác nhau – chính là căn cơ cho toàn cánh tả và giới trí thức. Nếu có những chia rẽ, căng thẳng, mơ hồ thì việc khó khăn là làm thế nào để bộc lộ bày tỏ sự đồng cảm của mình với người ở nơi nào đó trên thế giới được chính xác, nhất là trước các bằng chứng quá tồi tệ của các đảng cộng sản – chẳng hạn như về những gì đảng Cộng sản Tây Ban Nha đã làm? Cần bao nhiêu tha thứ cho Cộng Sản Bắc Việt, hoặc mặt trận giải phóng Sandanistas?. Và rốt rồi, hầu hết trí thức cánh tả đạt một thỏa thuận chung về những gì mà Hoa Kỳ cần phải làm. Quốc gia này đáng lẽ phải can thiệp vào Tây Ban Nha, bảo vệ  sự thành lập nước Cộng hòa một cách hợp pháp chống lại các cuộc tấn công của quân phát xít vào năm 1936; đáng lẽ không nên tập kích vào Vịnh Con Heo, không nên mưu sát Fidel Castro, không nên tham dự vào Việt Nam, hay không nên trang bị cho lực lượng Contras.

Khối trí thức cánh tả–trong mọi hóa thân biến dạng của nó ở thế kỷ 20–vẫn kiên quyết phải cưu mang chủ nghĩa quốc tế. Khối ấy không tin rằng đại loại có những “người ở xứ hóc bò tó mà ta không hề biết tới”. Đấy là ngôn ngữ mà Thủ tướng Anh Neville Chamberlain đã dành cho Tiệp Khắc năm 1928 – và là loại ngôn từ mà không một người theo chủ nghĩa quốc tế đầy tự trọng có thể nói mà không ngượng ngùng. Nghĩa vụ của những người giới cánh tả là phải biết về các dân tộc xa lắc. Vô minh không thể cho là hạnh phúc và cũng không coi là chứng cớ cho ngoại phạm. Nếu bạn không thể phân biệt các tay chơi không có thẻ điểm thì bạn buộc phải kiếm một bảng điểm khá hơn.

Hiện tượng ấy dẫn đến những buổi tối mà những ai thiên tả học hỏi được ngay, thí dụ như việc giết người thổ dân ở Guatemala hơn là phải mãi miết tìm cả năm trời qua các tờ báo Mỹ. Tệ nhất là các buổi tối trở thành rập công thức đến độ nhàm chán khi nghe tin mới nhất về “cuộc đấu tranh ở Mozambique.” Thường thường những gì trí thức tả khuynh (cũng như ngay cả giới trí thức hữu khuynh) tưởng là họ biết về các dân tộc xa xôi thì tất nhiên sai lầm đến chết người. Họ đã quá háo hức mong tương lai mở ra. Họ khát khao đến độ tin rằng một số khuôn phép nhân phẩm đang được gầy dựng vun đắp tại một nơi nào đó trên thế giới, thích nhất nếu đang xảy ra ở một vùng khuất lấp mù mịt nào đó nơi mà dáng dấp của dân chúng trông là lạ. Những người Cộng Sản và đồng hành của họ thì hát “Giai cấp công nhân quốc tế sẽ đại diện cho nhân loại,” – và nhiều người độc lập thiên xã hội chủ nghĩa cũng thế nhưng lại nghĩ rằng những người cộng sản đã phản bội giai cấp công nhân quốc tế. Trong khi những kẻ tôn thờ tiệc tùng, bọn giả định, thứ kiêu ngạo về vinh quang và lũ ảo tưởng nhiều thứ khác đang bị chế nhạo tuốt tuồn tuột, thì cũng là khi niềm đam mê cho toàn thể nhân loại, và sự cảm kích dành cho những ai có vẻ khác mình trở thành một đặc tính vinh dự và cần thiết.

George Orwell, người bị bọn phát xít Tây Ban Nha bắn vào cổ họng và biết phe cánh tả của ông ta bị các tên cộng sản buộc tội là đi theo phía tướng Francisco Franco vì sự đau đớn của mình, thậm chí đã viết: “Cuộc chiến tranh này… đã để lại cho tôi những hồi ức toàn là ghê rợn, nhưng tôi không hề muốn bỏ lỡ nó. Khi bạn đã nhìn thấy một thảm họa như thế – và dù nó kết thúc như thế nào, cuộc chiến tranh Tây Ban Nha sẽ vẫn là một thảm họa kinh hoàng, ngoài những thảm sát và đau khổ về thể chất – kết quả không nhất thiết phải là vỡ mộng và hoài nghi. Kỳ lạ thay, toàn bộ kinh nghiệm đã để lại cho tôi không ít mà chí nhiều thêm niềm tin vào nhân phẩm của con người.” Orwell, dù không phải là kẻ khờ, không cách chi hiểu được KGB đã tích cực cỡ nào trong sự nghiệp của nền Cộng hoà (Tây Ban Nha); và đặt trường hợp ông không ngạc nhiên khi biết phe chính nghĩa đã thỏa hiệp như thế nào, ông chắc cũng vẫn đổ lỗi cho phương Tây là đã bỏ rơi để nền Cộng hòa (Tây Ban Nha) lọt vào tay thô bạo của Joseph Stalin.

Thập niên 60 tuần tự đưa đến sự xác định hai lý tưởng: dân quyền và phản chiến. Nếu bạn thuộc phe cánh tả, bạn đã biết lập trường mình là gì. Ác độc là dùi cui điện, ác độc là bom napalm. Bạn muốn gửi quân đội đến vùng Mississippi và phải rút khỏi Đà Nẵng. Dẫu đã có bao cái nhìn ngây ngô về các đối thủ người Việt (cũng như về những người Việt Nam đồng minh với chính khách Washington), nhưng trí thức cánh tả vẫn thống nhất trong quan điểm người Mỹ không việc gì phải đánh nhau với người Việt Nam yêu nước – dù họ là cộng sản. Quan điểm này lậm hơn cả một niềm tin và đã trở thành cách sống của hàng trăm ngàn người. Nó đã gây ra các bản án tù tội, lưu đày, xa lánh, và hoài nghi cao độ đối với chính phủ (Hoa Kỳ). Cuộc chiến (Việt Nam) và phong trào phản chiến đã phá vỡ, rồi có lẽ, tái tạo lại tinh thần dân tộc. Đối với cánh tả, chiến tranh củng cố cái mệnh đề đơn giản nhất thiết rằng chống cộng thì phải là say sưa giết người. Mệnh đề phải đơn giản tận cùng như thế vào lúc đó.

Trong gần nửa thế kỷ, Chiến tranh Lạnh là ý thức hệ cho các tổ chức phe thiên tả khắp mọi chốn. Nếu bạn là một trí thức cánh tả, bạn biết rằng Liên Xô không chỉ là quốc gia có quyền lực đáng sợ nhất, có sức mạnh tàn nhẫn nhất trên thế giới. Bạn cũng biết về cuộc đảo chính mà CIA tài trợ ở Iran, Guatemala, và Indonesia. Dẫu cho bạn băn khoăn về chủ nghĩa cộng sản, bạn thừa biết không thể đổ lỗi cho cộng sản về nạn phân biệt chủng tộc tại Nam Phi, hay những tàn dư của chủ nghĩa thực dân Bồ Đào Nha, hoặc hội đồng dân sự của Argentina hay Chile. Bạn biết nhiều lỗi lầm của các pháp nhân và chính sách Hoa Kỳ . Nếu lo sợ về các cuộc chạy đua vũ trang tại Mỹ, bạn thành đồng minh với những thành phần ngược lại khắp chốn – tại châu Âu, trong thế giới thứ ba, thậm chí ở Đông Âu và Trung Âu.

Sau đó thì chiến tranh lạnh tan rã, chủ nghĩa cộng sản sụp đổ và trí thức cánh tả bị đẩy vào chỗ hỗn loạn. Chủ nghĩa chống can thiệp–một loại chính trị vô nghĩa–vẫn được duy trì. Sự chia rẽ trong hàng ngũ trí thức này đã lộ rõ qua sự kiện chiến tranh vùng Vịnh – cả cánh tả ở châu Âu và Hoa Kỳ đều bị chẻ làm hai. Những ai nhìn Kuwait thì thấy Việt Nam và hồn ma của Lyndon B. Johnson. Kẻ khác thấy Munich thì nghĩ đến hồn ma của Chamberlain. Thế thì quốc gia siêu cường này là ai vậy? Một đế chế đê tiện cuối cùng bùng nổ? Một nguồn quyền lực có đáng tin cậy trong vấn đề can thiệp nhân đạo?

Phe cánh tả ở châu Âu lại bị chia rẽ đến độ thê thảm qua sự kiện Bosnia. Lần này sự chia rẽ và tháo lui xuống tới mức bỏ rơi, bởi vì đáng lẽ quốc gia của họ có thể thay đổi được tình hình. Các nhà hoạt động trí thức cánh tả tại Anh như EP Thompson không thể tin rằng người Serbia–đồng minh một thời chống lại phát xít Croatia của họ–đã phạm tội một cách hệ thống hóa.  Tại Pháp, một nỗ lực vào năm 1991 nhằm tổ chức một phe đấu tranh nhằm can thiệp qua khẩu hiệu “Châu Âu bắt đầu ở Sarajevo” đã sụp đổ lập tức vì các chiến thuật hỗn độn. Giới trí thức, bao gồm cả các ngôi sao truyền thông Bernard-Henri Levy và Andre Glucksmann, đe dọa phản đối cuộc bầu cử Nghị viện Âu châu, rồi sau đó (theo nguồn tin của kẻ chống đối họ) đã lùi lại, và thỏa hiệp bởi vì họ sợ mất quyền tiếp cận với chính quyền Francois Mitterrand trong chính sách thiên người Serbia rất hiệu quả. Đến đầu năm 1995, chỉ một vài nghìn người đổ về tham gia các cuộc biểu tình ủng hộ sự can thiệp ở Paris. Tại Đức, khi Danny Cohn-Bendit (hay 1968 của “Danny Đỏ,” và bây giờ là lãnh đạo đảng Xanh) kêu gọi sự can thiệp của quân đội Đức thì các nhà cựu hoạt động tiên phong khác cực lực phản đối.

Trong khi đó, trí thức cánh tả Mỹ sụp đổ tan vỡ thành những mảng lẩn quẫn trong bối rối và nản lòng. Chăm lo vun trồng cho cái bản sắc bị phân tán ấy thành chuyện dễ dàng hơn là việc công nhận sức mạnh quân sự của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương có thể làm được điều gì khả dĩ. Cái vũng lầy đạo đức này là nỗi buồn có thật đằng sau bài tiểu luận “Bi ca cho Bosnia” gần đây của Susan Sontag.

Sontag quả là nói đúng khi cho rằng trong vòng bốn năm đại đa số trí thức trên toàn thế giới đã ruồng bỏ [ý thức hệ cánh tả]- dù bà đã tha không đề cập đến một số người Mỹ tên tuổi từng một thời là những người cố hết sức ủng hộ chuyện can thiệp, ví dụ như Stanley Hoffmann và Robert Jay Lifton. Người Mỹ duy nhất mà bà trừng phạt nêu tên là Noam Chomsky – người lúc nào cũng khăng khăng việc Hoa Kỳ đã bị ô uế vì chủ nghĩa đế quốc là điều không thể chối cãi được, và người cho rằng Hoa Kỳ phải chịu trách nhiệm về hiện tượng trở thành trơ chai của cánh tả Mỹ hơn bất kỳ giới trí thức nào khác. Chỉ vài thành phần thuộc đảng Dân chủ có ý ép chính quyền Clinton dội bom hầu mong có thể ngăn cản người Serbia. Cuối cùng chỉ còn mỗi Thượng nghị sĩ Bob Dole (thuộc Đảng Cộng Hòa tiểu bang Kansas) thúc đẩy hủy bỏ cấm vận vũ khí cho Bosnia.

Chẳng có xu hướng chính trị nào có thể lộ vẻ tươi đẹp dưới luồng ánh sáng khủng khiếp rọi soi những gì cứ để xảy ra trên đất Nam Tư cũ (đa phần là trên truyền hình!) trong suốt nhiều năm. Tất nhiên, trí thức cánh tả không muốn chỉ là một phe phái. Họ muốn mình là giới ưu việt. Nhưng không phải vậy! Cái ước muốn đó của trí thức cánh tả sẽ bị ám ảnh mãi mãi bởi vị trí mà họ ruồng bỏ một cách đáng hổ thẹn.*

Nguồn: Los Angeles Times, 14/1/1996

Advertisements

VietSoul:21’s Letter to the Seattle Times Editor

In Cộng Đồng, Lịch Sử, LittleSaigon - Seattle on 2015/11/19 at 19:31

Letter to The Seattle Times Editors in response to the essay Veterans Day notebook: PeaceTrees Vietnam and Dan Evans on ‘transforming sorrow into service’

Written by Neighborhood Artivists for Democracy & Social Justice – Northwest Region  (Facebook: Đinh-Lê-Lý-Trần Hồn-Việt)

We wrote the following letter to address the issues of Historical Context, Reconciliation and Power in response to the thoughts in the above essay posted on Seattle Times on the Veterans Day, 11/11/2015.

This is an uplifting reconciliation story that shows American individuals’ effort to alleviate old wounds and prevent further damages by one of the long residues of the Vietnam War, the unexploded ordnances. As such it heals the psychological rift and puts closure to a troublesome period in the lives of Vietnam veterans and their loved ones.

However, the comparison on the difference between forgiveness and reconciliation of the Americans and Vietnamese American community with their old foes is an inapt contrast. This association missed not only a broader and critical context but also the power struggle perspectives.

It’s problematic in such parallel comparison drawn from a supposed inference that Vietnamese community, especially the first generation, could not overcome their sufferings and hatred; and hence, renounce forgiving to be able to move toward a reconciliation process. This deduction implies that the mainstream Americans are capable of forgiveness and reconciliation while the Vietnamese American community didn’t get it (grasp the concept).

The fact that Americans and Vietnamese American community are under completely different background context and power relations was not considered in this article.

The war ended on April 30, 1975. Americans were no longer in direct conflict with their foes, and hence, their lives (with the exception of the Vietnam veterans’) were not affected by the post-war aftermath. Americans could choose to engage in reconciliation and forgiveness with their enemies because they are in a privileged position regarding compensation and remediation. Americans do have the choice to walk away if their efforts failed the planned expectations or not getting the reciprocated gestures.

On the other hand, Vietnamese of the old (Southern) Republic of Vietnam—who remained in Vietnam after the North communist takeover of the South—were considered as traitors and scums of the land. They were punished severely physically and psychologically by their old foes, the Vietnamese communists. Hundreds of thousands were imprisoned and died while in prison. Their land, houses, properties were confiscated. Their families were pushed out to rot with hunger in the “new economic zone”. Their children were denied of education and jobs. The South Vietnam culture was systematically erased by that totalitarian regime. These Vietnamese didn’t have a choice to walk away and live in peace even until today. In short, the Vietnamese people have not had a choice in reconciliation and forgiveness.

In such dictatorship state, the Communist party has retained its monopoly of power and imposed its voice through an all-encompassing propaganda machine, and hence, its citizens have none. Their basic rights have been forsaken.

The saying “… the word reconciliation comes from the word ‘reconcilen’ which means to make good again, or to repair” sounds truthful for some but not for the wretched with no power.

The Vietnamese Communist regime with lip service spouted to “make good again” but continued degrading the Southerners with name calling and enforcing discrimination and elimination toward them. So the only option left for the ones who longed for freedom and basic human rights was to flee, on foot or by sea, by millions. Many Vietnamese ex-refugees and ex-political prisoners in the Vietnamese American community at the present would have forgiven all the bad things done to them in the past if there is a true reconciliation from the one who abuse their power.

Vietnamese are forgiving people. We know forgiveness and reconciliation. But we do not forget lessons of history and social memory of anti-oppression. That is who we are then and now.

Historically speaking, we reconciled and forgave our archenemy many times over regardless of our sufferings over a thousand years under Chinese colonization. It’s written in the Bình Ngô đại cáo (literally means Great Proclamation upon the Pacification of the Wu) as “Utilize great righteousness to triumph over barbarity. Bring forth utmost human compassion to overcome violent aggression.” In 1788, Nguyễn Huệ (also known as Emperor Quang Trung)—who defeated the forces of the Qianlong Emperor of the Chinese Qing dynasty—did not keep any prisoners, but provide provisions and allow them to return home with honor. In other words, we had encouraged a peaceful relationship with the defeated.

The Vietnamese communist disregarded such reconciliation practice. Instead of using great righteousness toward its fellow citizens the Vietnamese Communist regime feted out the extreme measures and punishment with impunity. Instead of affecting utmost human compassion to its citizens the Vietnamese Communist regime imposed inhuman treatment with disregard to basic human rights. Consequently, the mass exodus of Vietnamese boat people from 1976 through 1989 with half a million perished at sea not only became a catastrophe  in our mind and heart but also shook the world’s conscience.

The Vietnamese Communist regime—the persecutor, the one who has absolute power—must but has not taken steps in the reconciliation and forgiveness.

Forgiveness and reconciliation is not only for what have happened but what is now and forward. The majority of Vietnamese Americans, not only the first generation, probably have forgiven for what had happened to them. However, we won’t reconcile with the dictatorship for what is now and forward. How could the Vietnamese American reconcile when the oppression and injustice have been continuing under the absolute power control of such police state?

Vietnamese community will forgive if the Vietnamese Communist regime ceases its practice of persecution and oppression on their own citizens.

Vietnamese community will reconcile when the Vietnamese Communist regime relinquish complete control of power allowing its citizens the freedom to choose how to live in a democracy.

There would not be then any reconciliation as long as the Vietnamese Communist regime maintains a totalitarian state.

In sum, the statement “In our Vietnamese community, forgiveness and reconciliation with old foes is a difficult concept for many to grasp” is unfair and seems prejudice due to lack of power perspective and historical context.

© 2015 Vietsoul:21

Bốn mươi năm: Chưa hết tháng Tư

In Cộng Đồng, Chính trị (Politics), Lịch Sử, Liên Kết, Tạp văn on 2015/04/26 at 21:34

Cái rìu thì quên nhưng thân cây luôn nhớ[1]

Ngạn ngữ Phi Châu

 

… những ý nghĩ vụn về bài viết “Bốn mươi năm: Vẫn một tháng Tư” [2]

image

Cách đây hai năm tụi tui có đọc bài “Tháng Tư, và bạn và tôi” của bà Nguyễn Thị Hậu viết cho “chúng tôi”, những người thuộc thế hệ “vùng biên” này. Chúng tôi đã viết bài “Tháng tư, nhớ và quên[3] để đáp lời.

Năm nay, 40 năm hậu chiến, lại một cột mốc thời gian để đánh dấu. Cột mốc càng ngày càng dài hơn thì lòng người càng ngày càng quằn quại hơn nữa. Và bốn mươi năm sau chưa hết tháng Tư cho người bên ni và người bên nớ.

Tác giả bài “Bốn mươi năm: Vẫn một tháng Tư” đã cá nhân hóa sự việc để giảm tầm quan trọng và đưa ra một so sánh khiên cưỡng trật đường rầy.

Nghe thì lọt tai nhưng hoàn toàn sai. Hãy đọc xem:

“Còn người bị phụ tình, dù biết chẳng thể trông đợi điều gì khi người kia đã dứt áo ra đi, vẫn không chịu chấp nhận rằng, mình đã “thua” trong một cuộc tình. Vì vậy cứ trách móc, cứ hận thù, cứ giữ mãi trong lòng những đau đớn và rồi nuôi dạy con cái bằng chính những căm hận đớn đau.[4]

Ngày “Thống Nhất” thì lẽ nào lại so sánh khiên cưỡng như một cuộc tình tan vỡ?

Ngày kết hợp hai miền Nam Bắc có thể so sánh như là một cuộc hôn nhân. Nhưng theo cung cách và phương tiện sử dụng để kết hợp hai miền thì có lẽ phải so sánh như là một cuộc cưỡng dâm rồi ép hôn.

Chẳng phải “Bên thắng cuộc” đã từng huyên hoang tuyên bố “Nhà Ngụy ta ở, vợ Ngụy ta lấy, con Ngụy ta sai[5] như thế sao?

Sau một cuộc cưỡng dâm thì thủ phạm có thể quên, nhưng nạn nhân thì bao giờ cũng nhớ. Nó đã ghi vào người trên từng thớ thịt và tế bào. Rồi mỗi khi có một hành vi hoặc ngoại cảnh nào đó tác động thì ký ức lại tràn ngập, chèn ngạt cuộc sống.

Ai thì sao chúng tôi không biết. Chứ riêng chúng tôi thì không có lòng thù hận cá nhân người lính bộ đội hoặc cá nhân những người miền Bắc vào miền Nam công tác. Chỉ đến khi những tên công an phường, công an khu vực, cán bộ phường xách nhiễu, áp đặt chính sách độc tài, áp bức, thù hằn, o ép, nhồi sọ thì họ tạo ra lòng oán hận. Những người này là bộ mặt đại diện cho đảng csvn. Và lòng thù hận đảng csvn được thể hiện trực tiếp qua những khuôn mặt này.

Chúng tôi không phải là nhà chuyên gia tâm lý để có một lời tư vấn cho nạn nhân rằng hãy quên đi, quên đi cái quá khứ chết tiệt ấy. Chắc chắn lời khuyên “quên đi” là câu nói mà nạn nhân không hề mong đợi để nghe.

“Một ông bác sĩ tâm thần người Do Thái nói với bà đồng nghiệp người Việt là ‘chiến tranh đã qua 35 năm rồi mà sao tụi bay vẫn còn nói tới nói lui hoài.’ Chị bạn tôi trả lời ‘chừng nào người Do Thái các ông không còn nhắc nhở đến Holocaust thì chúng tôi sẽ ngừng nói về cuộc chiến Việt Nam’ (when the Jews no longer talk about the Holocaust then we’ll stop talking about the Vietnam War). Một người Mễ đồng nghiệp khác cũng nói tương tự với chị và chị đã trả lời ‘khi nào ông nói với một thân chủ nạn nhân lạm dụng tình dục là hãy câm miệng và lo sống thì lúc đó chúng tôi sẽ không nói đến cộng sản đã đối xử với đồng bào chúng tôi như thế nào’ (until you tell your patient, a victim of sexual abuse, shut up, move on, then we will not talk about what they have done to our people.)”[6]

Khi nào thủ phạm vẫn thoái thác, lắc léo, và chối phăng thì nạn nhân vẫn ghi nhớ và đòi hỏi công lý nêu danh tội phạm. Người Armenia bị tàn sát bởi Đế chế Ottoman nước Thổ Nhĩ Kỳ một trăm năm sau vẫn nhớ và đòi hỏi đích danh.[7] Người Armenia không nề hà gánh nặng cả 100 năm để nêu tên tội phạm.

Nạn nhân không thể quên khi thủ phạm cưỡng dâm vẫn nhởn nhơ khoe khoang thành tích và cùng lúc lại chối phăng tội phạm.

Nạn nhân không thể quên khi thủ phạm vẫn sỉ nhục họ bằng cả lời nói và hành động.

Họ nói “Tôi nghĩ rằng sau chiến tranh, Việt Nam không có ngược đãi đối với mọi người. Bởi vì chính sách lúc ấy của nhà nước Việt Nam là chính sách hòa hợp dân tộc” , “Thế còn việc tập trung học tập hay cải tạo, tôi nghĩ đấy là để học cho nó rõ chính sách của nhà nước Việt Nam thời bấy giờ. Chứ không có nghĩa là một chế độ tù đầy.[8]

Còn nữa, chưa hết.

Chúng ta là người chủ đất nước, chúng ta đi lên thì không có lý gì bỏ rơi họ trong mặc cảm, tự ti. Họ đã ra đi trong suốt 40 năm qua và luôn mặc cảm, có những hận thù đối với đất nước.”, “Chúng ta đã tha thứ cho kẻ thù của chúng ta là đế quốc Mỹ, thực dân Pháp. Vậy tại sao họ dễ dàng tha thứ cho Mỹ, Pháp mà không nhìn nhận người anh em cùng một bào thai, cùng một dòng máu Lạc Hồng?[9]

Riêng lời khuyên “Nếu luôn chỉ nhìn thấy một phía của quá khứ thì đâu còn đủ bình tĩnh để nhìn thấy hiện tại và tương lai chung của đất nước này.” thì cũng đúng phần nào.

Lẽ thường thì không ai muốn ôm chặt một quá khứ, nhất là một quá khứ đen tối, đau thương để đắm chìm và chết ngộp vì phải chạm mặt phải sống lại nỗi niềm mất mát đau khổ cả. Tuy nhiên, quá khứ luôn được nhắc nhở tưởng niệm vì người Việt tị nạn hiểu thấm thía rằng nhớ, hận hay giận, tự nó, không phải là tâm lý bất thường bịnh hoạn cho dù xã hội và các luồng lực nỗ lực tuyên truyền, đặc biệt hướng về hòa hợp hòa giải kiểu bỏ rọ, muốn họ tự nghi ngờ và thấy kém kỏi để rồi tin vào như thế.

Hơn thế nữa, gần như đa số người Việt tị nạn lúc nào cũng hướng mắt về nước nhà để “nhìn thấy hiện tại”. Càng nhìn vào hiện tại thì họ lại thấy rõ hơn “tương lai chung của đất nước này”.

Ngoài cái vỏ bọc hào nhoáng, rỗng tuếch của công viên vui chơi, tượng đài hoành tráng, công thự nguy nga xây dựng từ tiền viện trợ, mượn nợ, kiều hối, tài nguyên thì bên trong mục rửa nền giáo dục, văn hóa, môi trường. Thời kỳ đồ đểu lên ngôi[10], thời kỳ con ông cháu cha, con cháu các cụ[11], công tử đảng sắp đặt độc quyền, độc đoán, độc hại làm chủ nhân đất nước.

Càng nhìn thì họ càng thấy không có một tương lai (sáng sủa) nào cho một đất nước trước họa tiêu vong.

Nạn nhân chỉ có thể quên đi và lo sống khi đã giải tỏa được tâm lý, tìm được niềm tin, và nhìn thấy tương lai. Nhưng người Việt luôn cảm thấy thế nào?

  • Không giải tỏa được tâm lý do một mặt nhà cầm quyền csvn tung hê những từ rụng rún “khúc ruột ngàn dặm” trong kiều vận, nhưng mặt khác đảng và nhà cầm quyền csvn vẫn ra rả “ngụy quân”, “ngụy quyền” trên báo chí, trong sách giáo khoa, trong bảo tàng lịch sử “tội ác Mỹ – Ngụy”.
  • Không tìm được niềm tin do những đối xử phân biệt theo chính sách lý lịch[12], hành hung, giam giữ tùy tiện những người hoạt động xã hội dân sự về dân quyền và nhân quyền[13], tiếp tục trù dập các tổ chức tôn giáo từ Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Phật Giáo Hòa Hảo[14] Nguyên thủy cho đến Hội Tin Lành Mennonite[15].
  • Không thấy được tương lai vì dân oan[16] mất đất mất nhà không phương tiện mưu sinh, công nhân bị o ép bóc lột[17], sinh viên học sinh thất nghiệp phải đi làm ô sin, cửu vạn nước ngoài, làm gái mại dâm[18], người dân hết đường sống vì chủ trương chính sách sai trái tùy tiện[19], đất đai tài nguyên khắp nơi đất nước bị thế chấp, cho thuê nhượng vô tội vạ[20].

Bà Nguyễn thị Hậu hỏi: “Còn việc hoà giải giữa những người cùng một nước sao lại không bắt đầu từ mỗi người chúng ta? Không lẽ chống lại người ngoài hay hoà giải với người ngoài dễ dàng hơn làm lành với đồng bào mình?

Câu hỏi này nó lại na ná với một câu phát biểu của ông Nguyễn Thanh Sơn, “Chúng ta đã tha thứ cho kẻ thù của chúng ta là đế quốc Mỹ, thực dân Pháp. Vậy tại sao họ dễ dàng tha thứ cho Mỹ, Pháp mà không nhìn nhận người anh em cùng một bào thai, cùng một dòng máu Lạc Hồng?

Phải nói đến bao nhiêu lần để nhà cầm quyền csvn hiểu rằng giữa người dân ba miền và người Việt hải ngoại không cần ai hô hào hòa giải với nhau.

Đã có hàng chục ngàn chuyến bay chở người Việt hải ngoại về Việt Nam hàng năm. Đã có hơn 12 tỷ đô la kiều hối chuyển về bà con quê nhà để giúp đỡ xây dựng cuộc sống của thân nhân. Đã có bao nhiêu tổ chức thiện nguyện vô vị lợi, tổ chức tôn giáo bỏ công bỏ của để xây trường học, thư viện, bệnh xá, cầu đường, chùa chiền, nhà thờ giúp đỡ đồng hương hoạn nạn.

Dù cho đảng csvn có bắt thân nhân của họ và đất nước Việt Nam làm con tin trong cái rọ “Tổ quốc Chủ nghĩa Xã hội” thì người Việt tị nạn hải ngoại vẫn thăm nuôi với tình tự đồng hương và họ hòa hợp với nhau trong tình cảm thiêng liêng đó.

Nhiều gia đình, dòng họ có ông bà, chú bác, con cháu bên hai chiến tuyến đã chia sẻ những mất mát trong cuộc chiến. Thằng Tí thằng Tèo, anh Tám anh Tư, bà Bốn bà Bẩy, chị Hai chị Ba nếu có xích mích thì hàng xóm họ đã tự giải hòa hoặc nhờ người thông giải. Cá nhân họ có xích mích nhau không hòa giải được thì cũng chẳng ảnh hưởng gì đến ai ngoại trừ đương sự. Chuyện có lớn hơn thì nhờ pháp luật (cái này thì chưa chắc ở VN có sự xét xử công bằng vì luật ngầm phân biệt người “thân nhân tốt”, gia đình cách mạng, quan chức với đám phó thường dân hoặc “Ngụy”).

Nếu muốn nói tới hòa giải dân tộc thì phải nói là hòa giải giữa nhà cầm quyền và khối người dân Việt Nam qua những đại diện của các tổ chức chính trị, xã hội, hiệp hội thông qua những cơ chế và chính sách.

Nhưng Việt Nam là một nước độc tài toàn trị do đảng cộng sản nắm giữ hết quyền lực, và mọi tổ chức hội đoàn đều nằm dưới cái ô dù Mặt Trận Tổ Quốc hoặc là một cơ cấu ngoại vi của đảng. Ngay cả các tổ chức đúng ra là phi chính phủ (Non-Government Organization) cũng do chính phủ thành lập (GONGO – Government organized Non-Government Organizations) [21].

Thế thì nói hòa giải dân tộc trong một chế độ độc tài cộng sản là nói chuyện với đầu gối.

Chỉ có những quyền lực tương xứng thì mới đủ sức đàm phán, thương lượng, để hòa giải với nhau. Chứ như đám dân quèn chúng tôi thì làm gì nói chuyện hòa giải với đảng, nhà nước csvn. Cá nhân chúng tôi có yêu sách thì cũng chỉ làm dân oan “con kiến mà kiện củ khoai” hay lại phải “xin-cho”, “ơn đảng ơn chính phủ”.

Hòa giải qua nghị quyết 36, qua chỉ thị, qua tuyên truyền làm sao bưng bít được bụng dạ một bồ dao găm.

Hòa giải bằng kiểu cả vú lấp miệng em, miệng quan gang thép, sỉ nhục đối tượng!

Nguyễn Thanh Sơn, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài phán: “Chúng ta là người chủ đất nước, chúng ta đi lên thì không có lý gì bỏ rơi họ trong mặc cảm, tự ti. Họ đã ra đi trong suốt 40 năm qua và luôn mặc cảm, có những hận thù đối với đất nước.”[22]

Không ai hận thù với đất nước cả ông ơi! Ông đừng đánh đồng “yêu tổ quốc (đất nước) là yêu chủ nghĩa xã hội (đảng cộng sản)” để ngụy biện và mạ lị người Việt hải ngoại.

Làm gì có ai mặc cảm hả ông? Ông chớ tự hào “đỉnh cao trí tuệ” với mặc cảm ếch ao làng để nói lời khinh thường một khối người dân Việt Nam lớn mạnh thành công ở hải ngoại.

Khi nào nhà cầm quyền csvn vẫn tiếp tục chính sách hòa giải hòa hợp kiểu con lợn bỏ vào rọ thì ngay cả những con heo ngu đần cũng phải eng éc bỏ chạy xa và “Nếu cái cột đèn biết đi nó cũng chạy”.

Muốn hòa giải với toàn dân trong và ngoài nước thì dễ ợt à. Vậy mà đảng ta “đỉnh cao trí tuệ” vẫn một kèn một trống hát khúc “tiến quân ca” trên con đường tới thiên đàng “xã hội chủ nghĩa”.

Thôi thì trên diễn đàn này tui mạo muội đề nghị các bước cụ thể và tích cực để hòa giải các khuynh hướng, nguyện vọng của toàn dân.

  1. Loại bỏ điều 4 hiến pháp dành độc quyền cho đảng csvn trong chính trường.
  2. Bãi bỏ chế độ đảng cử dân bầu. Tiến hành phổ thông bầu phiếu ở các cấp chính quyền. Bảo đảm cho người dân với mọi xu hướng chính trị thành lập đảng phái tham gia chính quyền.
  3. Chấm dứt chế độ hộ khẩu với kiểm tra hộ khẩu sách nhiễu người dân vi phạm quyền hiến định của công dân.
  4. Chấm dứt chính sách lý lịch đối xử phân biệt.
  5. Chấm dứt việc dùng ngôn từ xúc xiểm đến quân dân cán chính VNCH như “Ngụy”, “Ngụy Quân”, “Ngụy Quyền”.
  6. Phê chuẩn chính sách đối đãi thương phế binh VNCH tương tự thương binh QĐNDVN.
  7. Trùng tu các nghĩa trang quân đội VNCH, nghĩa trang QĐNDVN. Yêu cầu Trung Quốc cải táng tất cả mộ phần binh lính của họ về nước và tái quy hoạch Nghĩa trang Liệt sĩ Trung Quốc tại Việt Nam thành những công trình phục vụ lợi ích công cộng cho người dân địa phương.
  8. Loại bỏ hết những bài học giáo khoa các cấp từ phổ thông đến đại học xuyên tạc phỉ báng chế độ VNCH.
  9. Loại bỏ môn học chính trị Mác-Lê, Tư Tưởng HCM.
  10. Bảo đảm quân đội và các lực lượng vũ trang độc lập không đảng phái, không chính trị, không làm kinh tế.
  11. Giải thể tổ dân phố, công an khu vực, dân phòng, các hội đoàn phường. Những thành phần chuyên xách nhiễu cư dân.
  12. Giải tán các hội đoàn chuyên môn tổ chức bởi chính quyền, các Tổ chức phi chính phủ do chính quyền thành lập (Government organized Non-government Organization). Bảo đảm cho các hiệp hội thợ thuyền, chuyên môn, tương tế, tôn giáo, sở thích được thành lập và điều hành hoàn toàn độc lập và tự do.

Tụi tui ăn học ít nên chỉ biết vậy thôi. Mời bà con cô bác đề nghị những việc làm cụ thể để có được hòa giải hòa hợp dân tộc.

image

Vì sao đã bốn mươi năm vẫn một tháng Tư?

Chắc chắn không ai muốn vác trên vai một gánh nặng suốt cả trăm năm. Nhưng tại sao người Armenia vẫn sẵn lòng gánh nặng một sự kiện lịch sử 100 năm trước đây? Vì không ai gánh cho họ. Vì họ không muốn quên dù họ có thể quên.

Một khi ký ức mất đi thì dân tộc đó chết theo. Nếu như ký ức được ngụy tạo và bóp méo? Đó là điều tồi tệ nhất. Đó là thảm sát. (Silvanadan, “When memory dies”)

Riêng tụi tui không thể quẳng gánh (nặng) đi và lo sống (cho cá nhân) vì đây là một gánh nặng của dân tộc.

Nên bây giờ bốn mươi năm chưa hết tháng Tư.

© 2015 Vietsoul:21


[1] ‘The axe forgets; the tree remembers.’ – African Proverb

[2]Bốn mươi năm: Vẫn một tháng Tư”, Viet-Studies

[3]Tháng tư này, nhớ và quên”, Vietsoul:21

[4] Bài đã dẫn (2)

[5] Phát biểu của Nguyễn Hộ, Chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam TP HCM.

[6] Bịt miệng nạn nhân, talawas

[7] Armenian genocide survivors’ stories: ‘My dreams cannot mourn’, the Guardian

[8]Không có ngược đãi sau 30/4”, BBC

[9]Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn: Tư tưởng hận thù sẽ làm đất nước yếu kém”, Pháp Luật

[10]…ngai vàng cựu TBT Nông Đức Mạnh”, Nhật Báo Văn Hóa. Thăm nhà cựu Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, BBC

[11]Con Cháu Các Cụ Cả’, Người-Việt

[12] 40 năm hỗn danh “ngụy” và những trận đòn thù của ác quỷ!, Dân Làm Báo

[13] CA nện đá vỡ đầu anh Trịnh Anh Tuấn – admin nhóm Vì Một Hà Nội Xanh, Dân Làm Báo

[14] Tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo liên tiếp bị đàn áp, RFA
[15] Tín đồ Tin Lành tại Bình Dương tiếp tục bị sách nhiễu, RFA. Công an, côn đồ, du dãng khủng bố Hội Thánh Tin Lành Mennonite Bến Cát, Youtube
[16] FB Dân Oan Việt Nam

[17] Tại sao công nhân Pou Yuen đình công?, RFA.

Sài Gòn công nhân nhà máy PouYuen đình công ngày 1/4 /2015, Youtube

[18]Mỗi năm, gần 5000 phụ nữ Việt Nam bị đưa sang Malaysia, Singapore bán dâm”, Thanh Niên. 18.000 gái Việt ra nước ngoài hành nghề mại dâm mỗi năm, Đất Việt

[19] Bình Thuận: Dân chặn xe trên quốc lộ 1 và đụng độ với cảnh sát cơ động, Dân Luận. Người dân chặn đường phản đối ô nhiễm, RFA. Dân đổ cá chết phản đối xáng cạp, gây tắc quốc lộ, Tuổi trẻ. Tiểu thương Nha Trang biểu tình, Dân Làm Báo

[20] Vì sao lao động TQ ngang nhiên khai thác quặng trái phép? Vietnamnet. Chỉ 36% lao động Trung Quốc ở Vũng Áng có phép.

[21] Government Organized Non-government Organization (GONGO), wikipedia

[22] Bài đã dẫn (9)

“Tổ quốc trên hết”

In Cộng Đồng, Chính trị (Politics), Tạp văn on 2015/04/16 at 23:42

Những ngày tháng Tư cận kề ngày Quốc Hận, Quốc Nạn này sống ở trên đất người làm tôi nhớ về một đất nước chưa từng ngày ấy.

Một đất nước chưa từng vì chia đôi và nửa kia gây chinh chiến tóc tang. Một đất nước chưa từng vì tinh hoa chưa bừng phát đã thắt trắng khăn tang. Một đất nước chưa từng bởi siêu cường phản bội. Một đất nước chưa từng vì nhuộm đỏ độc tài.

Cũng đã khá lâu tôi rồi không còn muốn về quê hương đất tổ dù trong lòng luôn luôn thương nhớ. Nghịch lý nào gieo rắc trong tôi? Số phận nào giáng họa cho tôi?

Mảnh đất khổ chết yểu. Nụ hoa tự do chưa nở hoa kết trái thì giang sơn nhuộm đỏ một màu. Thời kỳ độc tài, thời kỳ nô lệ và bắt đầu kỷ nguyên Bắc thuộc lần thứ Năm?

Mọi sự khởi đầu từ ngày tham gia cách mạng vô sản của cộng sản quốc tế đến nhận nhiệm vụ tiền đồn xã hội chủ nghĩa “Đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô – Trung Quốc”. Để rồi kết cuộc “đổi đời” đầy tớ lên ngôi.

Chế độ nội-thực-dân nô dịch đỏ[1] áp đặt trên toàn cõi Việt Nam, không còn hai miền hai chế độ. Những thái thú lộ dạng nguyên hình thế chấp bán đất, bán biển, bán người, trao thân làm nô lệ.

Ở thời kỳ Bắc thuộc lần thứ Tư “Những người hợp tác với quân Minh được đưa sang Trung Quốc để học hành một thời gian rồi đưa về phục vụ trong bộ máy cai trị tại Giao Chỉ. Điều đó nằm trong chính sách dùng người Việt trị người Việt của nhà Minh.”

Ở kỷ nguyên Bắc thuộc thế kỷ 21 này thì ngoài việc thành viên ban chấp hành trung ương đảng đi chầu[2] thì cán bộ đảng, sĩ quan quân đội, công an, thành đoàn[3] được đưa sang Tàu học hành để trở về cai trị nước Việt.

Cai trị bằng chính sách hộ khẩu rập khuôn của Trung Quốc để “quản lý” người dân. Đó là sợi dây thòng lọng thắt cổ người dân. Nó vi phạm mọi quyền con người và quyền công dân và biến người dân thành người nô lệ mới[4].

Chế độ sở hữu toàn dân đểu cáng lên ngôi, so sánh nào thua thời Bắc thuộc nhà Minh bên Tàu “Giáo mác đầy đường đâu cũng thấy tham quan cường bạo. Tài nguyên cả nước thành một đống tro tàn.[5] Vũng Áng đã là vũng bán. Bô-xít Tây Nguyên trái bom tấn bùn đỏ[6] lấp chìm cơ nghiệp mưu sinh của nông dân[7] và ô nhiễm môi trường sống của người dân.

“Tổ Quốc Trên Hết” luôn là câu nằm lòng trên chót lưỡi đầu môi của miệng quan trôn trẻ đảng csvn và dư luận viên.

“Tổ Quốc Trên Hết” là khẩu hiệu rỗng tuếch để lấp liếm cho mọi chính sách độc tài, áp bức, nội-thực-dân nô dịch đỏ. “Tổ Quốc Trên Hết” bị đảng bắt cóc làm con tin buộc người dân phải hứng chịu mọi thiệt hại[8], lầm than, và tang tóc bởi chủ trương, chính sách, và luật lệ(nh) lợi đảng, hại dân.

“Tổ Quốc Trên Hết” là cả vú lấp miệng những bất đồng chính kiến đòi hỏi dân chủ tự do.

“Tổ Quốc Trên Hết” thì cớ gì “Còn đảng còn mình”, “Trung với đảng, hiếu với dân”, “Mừng đảng mừng xuân”, “Đảng csvn quang vinh muôn năm”.

Sau 30-4-75 thì nhiều người miền Nam như tôi đã trực giác rờn rợn cái đổi đời của một đất nước “thống nhất” thâu về một cõi. Tổ quốc của tôi đã một cõi (âm) đi về.

Bốn năm trời (1975-1979) đời tôi có đảng (đì) thì hết họp nhóm, họp tổ, học chính trị, học nghị quyết và thấm nhuyền đạo đức cách mạng để trở thành “con người mới”. Đảng thiết kế và rèn luyện con người mới bằng cách cấy bộ óc con lừa. Ban tuyên huấn, tuyên truyền và loa phường ra rả.

Để sống sót tôi học đòi con vẹt.

Tôi học thuộc và lập lại nguyên văn tất cả những lời tuyên giáo, tuyên truyền trả bài tất tần tật như một con vẹt. Họ (muốn) nắm[9] cái đầu nhưng không nắn được bộ não, tư tưởng.

Tôi không biến thành con lừa. Dù họ dạy “đảng đã cho ta sáng mắt sáng lòng”, họ bảo “từ ấy trong tôi bừng nắng hạ”, và ra rả “yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội”.

Tôi yêu tự do, không chấp nhận thân phận con lừa nên tìm đường vượt thoát.

Hơn 35 năm sống ở quê người tôi chưa hề phải nghe “Tổ Quốc Trên Hết” ở cái xứ sở này. Chính quyền đương nhiệm và các ứng cử viên dù đảng phái nào cũng chỉ quảng cáo “vì dân” để kiếm phiếu bầu cho họ. Họ dẫn chứng tạo công ăn việc làm, giảm giá cả hàng hóa, nhu yếu phẩm, tiền lời thấp để tăng khả năng tiêu thụ, nâng cao dân sinh và coi “người dân trên hết”. Họ đưa ra chính sách giảm thuế, điều tiết kinh tế, giữ lạm phát thấp để khoan sức dân[10].

Ở xứ tư bản “bóc lột” này thì họ tìm cách cho công nhân có năng suất cao, tạo lợi nhuận thặng dư để kiếm lời. Họ để cho công nhân có tiền xài, mua máy móc, mua xe, mua nhà kích thích tăng trưởng kinh tế vì dân giàu thì nước mạnh. Họ tạo điều kiện sở hữu tư nhân để tích lũy tài sản và đầu tư phát triển.

Ở xứ sở “Tổ Quốc Trên Hết” của xã hội chủ nghĩa Việt Nam siêu việt thì sở hữu toàn dân nên tất cả thâu về một túi. Túi của trung ương đảng csvn và nhà nước (ăn cướp). Họ dùng sở hữu toàn dân để thâu tóm và tẩu tán cái chung để tích lũy tài sản cho riêng tư và nhóm lợi ích. Quan chức lớn nhỏ vùng miền vơ vét. Hết thế chấp đất đai rồi bán rừng, bán đất, bán biển, bán cảng. Hết chặt cây trên rừng thì chặt cây thành phố[11]. Hết đào xới tài nguyên vùng sâu vùng xa thì cưỡng chế[12] ngay thành phố cho gần. Cướp đất cướp nhà “Độc lập tự do nằm co vệ đường”[13] dân lang thang thành người vô sản dân oan[14].

“Tổ Quốc Trên Hết” ắt phải nằm trong Nghị quyết 36 đầy “tình tự dân tộc” cho “khúc ruột ngàn dặm”. Khúc ruột tượng của người Việt hải ngoại trên toàn thế giới mà nhà nước csvn hàng năm đã rút về xấp xỉ 12 tỷ đô la gần bằng 1/10 tổng sản phẩm quốc nội. Thế cho nên “Bài học đầu cho con” của nhà thơ Đỗ Trung Quân được phổ qua nhạc phẩm “Quê Hương” và “cải biến” thêm “nếu không nhớ, sẽ không lớn nổi thành người[15]. Không nhớ, không (đem tiền) về thì sẽ không lớn nổi thành người!?

Tôi không còn muốn về quê hương đất tổ dù trong lòng luôn luôn thương nhớ. Đó không phải là một nghịch lý. Nào còn một tổ quốc cho người dân Việt trong kỷ nguyên Bắc thuộc mới.

Tổ quốc lê lết. Tổ quốc bê bết. Tổ quốc tế thần.

Tổ quốc trên hết?

© 2015 Vietsoul:21

[1] nội-thực-dânnô dịch đỏ, Vietsoul:21

[2] Vừa đến Bắc Kinh, Nguyễn Phú Trọng đã vội vàng ký kết 7 thỏa ước với Tập Cận Bình, blog Dân Làm Báo. Từ không nhân nhượng đến hợp tác bình đẳng, blog Người Buôn Gió. Tuyên bố chung hai nước Việt Nam và Trung Quốc, VNExpress.

[3] Thanh niên là sứ giả thúc đẩy tình hữu nghị Việt – Trung, doanthanhnien.vn

[4] Hộ Khẩu: Một thứ khôi hài, vô lý và ngu ngốc, blog Triết Học Đường Phố

[5] “Giáo mác đầy đường đâu cũng thấy quân Minh cường bạo. Sách vở cả nước thành một đống tro tàn.”, Ngô Sĩ Liên

[6] Thủ tướng: ‘Lo ngại về bùn đỏ bô xít đã được giải tỏa’, VNExpress

[7] Lâm Đồng: Nông dân “khóc ròng” vì bùn đỏ đổ về, VTV Cần Thơ

[8] 

Nhân dân Bình Thuận dùng bom xăng “giao lưu” với cảnh sát cơ động tối 15/4/2015

[9] “Nắm, nắm cái con cặc”, Trần Dần

[10] “Khoan thư sức dân để làm kế bền gốc, sâu rễ, đó là thượng sách giữ nước.”, Trần Hưng Đạo

[11] Hà Nội không vội… mà sao chặt cây thì nhanh thế? –  Tiếp tục biểu tình chống chặt phá cây xanh tại Hà Nội, blog Dân Làm Báo

[12] CA Hà Nội cướp đất, đàn áp khốc liệt nông dân Dương NộiCA cướp đất, đánh người tàn bạo ở Dương Nội 25/04/2014

[13] “Người Việt gốc me”, RFA

[14] Dân oan Long An nổ bình hàn gió đá, tạt axit làm bị thương lực lượng cưỡng chế thu hồi đất, Dân Luận.
Long An: Dân oan liều chết ném bom xăng, tạt axit chống trả CA cướp đất, Dân Làm Báo

[15] Nhà thơ Đỗ Trung Quân: Câu cuối của bài Quê Hương không có trong nguyên bản, RFA

Thư gởi RFA về Cuộc phỏng vấn của Việt Hà và vấn đề chuyển ngữ của Vũ Hoàng với tác giả cựu phóng viên chiến trường Uwe Siemon-Netto qua bài “Ký ức về cuộc chiến Việt Nam của một phóng viên Đức”

In Cộng Đồng on 2015/02/15 at 18:11

BBT (3/5/2015): Ban điều hành đài Á Châu Tự Do (RFA) đã sửa chữa các vấn đề, nhất là tựa đề sách và cho đăng tải phần hai của cuộc phỏng vấn, mặc dù không trả lời chúng tôi. Đây là các vấn đề mà chúng tôi nêu ra trong lá thư dưới đây.

BBT (2/16/2015): Hôm qua, sau khi chúng tôi cho đăng lá thư viết cho ban điều hành của đài RFA than phiền về việc phiên dịch sai sót (mang tầm ảnh hưởng nghiêm trọng trong việc định hướng dư luận tiêu cực) qua cuộc phỏng vấn của Việt Hà với một cựu phóng viên chiến trường người Đức từng có mặt tại Việt Nam trong thập niên 1960 và 1970 trước biến cố tháng 4 1975, có thể sẽ có người sau khi đọc lá thư này sẽ nghĩ là chúng tôi quá cẩn thận.

Chúng tôi thiển nghĩ lá thư này không phải là chuyện phản ứng một cách “cực đoan”, chi li hay “vạch lá tìm sâu”.

Lý do? Chúng tôi đã viết như sau trong đoạn kết của lá thư:

“… dù vô tình hay cố ý, việc chuyển ngữ mang tính chủ đích này đã làm lợi cho nghị quyết 36 của ĐCSVN.

Nói một cách khác, ngôn ngữ thì không tránh khỏi tính chính trị dù ta cố tìm cách bào chữa và cho nó chỉ là “từ vựng” mang tính trung lập. Dịch thuật, do đó, bị giới hạn vì bản sắc và phẩm chất của bản dịch cuối cùng chịu ảnh hưởng của người mang trách nhiệm chuyển dịch–không những chỉ ở mức độ khả năng và trình độ mà còn do thành kiến định chế từ kinh nghiệm sống và bối cảnh văn hóa và không gian chính trị–nơi mà từ đó họ đã sinh trưởng.”

Điều độc hiểm xảo quyệt trong chủ đích lựa chọn hay cắt xén ngôn từ này đã từng được chứng minh.

Ví dụ, mới đây ông Thomas Bass, một phóng viên nghiên cứu đang giảng dạy tiếng Anh và báo chí tại Đại học tiểu bang New York ở Albany và người đã làm một cuộc thí nghiệm để nghiên cứu kiểm duyệt ở Việt Nam, đã từng nhận định như sau trong bài viết mang tựa đề, “Vietnam’s concerted effort to keep control of its past” (Nỗ lực của Việt Nam để giữ quyền kiểm soát về lịch sử quá khứ)

“In fact, the most insidious changes occur at the level of language.” (Trong thực tế, những thay đổi độc hiểm nhất xảy ra ở cấp độ ngôn ngữ.)

(Xin xem toàn bộ bài viết của ông đã được chúng tôi phiên dịch tại https://vietsoul21.net/2015/02/02/no-luc-cua-viet-nam-de-giu-quyen-kiem-soat-ve-lich-su-qua-khu/)

Chuyện nhỏ nhưng không phải nhỏ là vậy.

Nếu chúng ta coi thường tầm ảnh hưởng mang tính chính trị của ngôn ngữ qua hành động các con chữ được gạn lọc và bị cắt xén theo một chủ thuyết mục đích tuyên truyền nào đó, chúng ta vô hình chung đã rơi vào bẫy độc hiểm xảo quyệt nhất trong tiến trình tạo ra và củng cố diễn luận (discourse) của kẻ nhóm/tập đoàn thống trị.

Diễn luận thì đã xảy ra rất nhiều và cả người làm báo/truyền thông cũng không miễn nhiễm. Chúng tôi do đó cũng đã phân tích tầm ảnh hưởng của diễn luận ví dụ như qua loạt bài về “bất bạo động” trên blog của mình, https://vietsoul21.net/2014/06/07/bat-bao-dong-trong-dien-luan-phan-i/

Chuyện gì xảy ra khi đã rơi vào bẫy tròng diễn luận này? Lú lẫn lãng quên!!!

Chuyện gì xảy ra khi trò chơi qua ngón đòn “lú lẫn lãng quên” thành công? Quý bạn đã có thể tự trả lời rồi đấy.

**************************************************
Re: Cuộc phỏng vấn của Việt Hà và vấn đề chuyển ngữ của Vũ Hoàng với tác giả cựu phóng viên chiến trường Uwe Siemon-Netto qua bài “Ký ức về cuộc chiến Việt Nam của một phóng viên Đức
Kính gởi ban điều hành Đài Á Châu Tự Do/chương trình Việt Ngữ [Radio Free Asia(RFA)/Vietnamese program]:

cc: vietweb@rfa.org; siemon-netto@siemon-netto.org; uwesiemon@mac.com; uwesiemon@me.com; quyvanly@aol.com

Chúng tôi rất thất vọng về việc dịch thuật của nhân viên đài phát thanh RFA cho tựa sách xuất bản lần thứ ba của tác giả/cựu phóng viên chiến trường người Đức, ông Uwe Siemon-Netto. Nguyên tựa đề của quyển hồi ký tái xuất bản lần thứ hai và thứ ba này là, “Triumph of the Absurd: A reporter’s love for the abandoned people of Vietnam”.

Cuộc phỏng vấn của Việt Hà/RFA này đã được chia ra thành hai kỳ và cho phát thanh phần một trong Chương trình 9:00 tối 12-02-2015 ở phút thứ 30′:13“, và phần hai trong Chương trình 6:30 sáng 13-02-2015 ở phút 11′:22″.

Chúng tôi nhận định việc sai sót này không thật sự liên quan đến trình độ phiên dịch của Vũ Hoàng và Việt Hà—hai nhân viên gốc gác sinh trưởng và lớn lên tại miền Bắc Việt Nam và đã được quý đài tuyển mộ trong một thời gian tương đối khá dài.

Quyết định cố ý dịch tựa sách thành “Đức: Thâm tình của một phóng viên với thương binh Việt Nam” tuy nhìn trên bề mặt chỉ như một sai sót thật ra là nghiêm trọng và có liên quan đến các vấn đề sau đây:

(1)          Sai sót lớn trong chuyển ngữ:

(1a).       Chúng tôi muốn biết vì lý do gì tựa đề của quyển hồi ký xuất bản lần thứ ba là “Triumph of the Absurd: A reporter’s love for the abandoned people of Vietnam” đã bị chuyển dịch thành “Đức: Thâm tình của một phóng viên với thương binh Việt Nam”?

Nếu dựa vào tựa sách lần xuất bản đầu tiên, “Đức: A Reporter’s Love For a Wounded People” thì ít ra cũng phải được tạm dịch là “Đức: Thâm tình của một phóng viên dành cho một dân tộc nhiều đau thương”. Nếu dựa vào tựa sách lần hai và ba thì phải dịch là “Sự Vinh Quang Phi Lý: Thâm tình của một phóng viên dành cho một dân tộc bị bỏ rơi”.

Khi cố ý dịch từ “dân tộc” thành “thương binh Việt Nam” và xóa từ “đau thương” hay “bỏ rơi” cho tựa đề của hồi ký thì việc chuyển ngữ này mà Vũ Hoàng và Việt Hà đã làm với chủ đích gì? Đây không phải là việc sai sót nhỏ. Tại sao giảm thiểu tựa đề của quyển hồi ký xuống chỉ còn nhắm đến thành phần “thương binh” thay vì một “dân tộc”? “Thương binh Việt Nam” nào trong bối cảnh nào được đề cập?

Nếu e có sự ngộ nhận trong từ ngữ “dân tộc” trong quyển hồi ký này thì điều cần thiết là phải có chú thích/giải thích về chữ “dân tộc” mà tác giả đề cập đến và nhấn mạnh trong hồi ký này là dân miền Nam Việt Nam trong thời kỳ trước tháng 4 năm 1975. Thật ra, theo thiển nghĩ của chúng tôi, ông Siemon-Netto đã nghĩ rộng hơn nữa, “dân tộc” là cả một dân tộc Việt Nam đã bị bỏ rơi và chịu đau khổ cho đến ngày hôm nay vì một cuộc chiến oái ăm do những kẻ phi lý được Liên Xô và Trung Cộng hỗ trợ cả tiền và vũ khí.

Như đã đề cập ở trên, hồi ký của ông Siemon-Netto đã xuất bản ba lần. Chúng tôi chú ý đến các hoạt động liên quan đến quyển hồi ký này từ khi khởi đầu, và đã có các bài dịch thuật đăng tải liên quan đến quyển hồi ký này trên trang blog của VietSoul:21. Đây là một sản phẩm văn hóa/giáo dục hiếm hoi quan trọng ra đời trong khoảng thời gian gần đây đồng loạt với một vài tác phẩm (ví dụ như Lan Cao với “Hoa Sen và Bão Tố” hay bộ phim của Rory Kennedy “Những Ngày Cuối Cùng tại Việt Nam”) mang tính khôi phục các góc cạnh lịch sử đã bị bóp méo/bôi xóa, cũng như tôn trọng sự thật từ lăng kính và kinh nghiệm sống của kẻ/nhóm không có tiếng nói và đã/đang bị bịt miệng vì nhiều lý do mang tính chính trị. Tại sao hiếm có? Vì đây là một sản phẩm hoàn toàn đưa ra góc nhìn phản kháng khác hẵn 700 sản phẩm văn hóa thiên tả–từ phim ảnh Hollywood đến sách nghiên cứu hàn lâm–khác tại Hoa Kỳ đã ra đời chất chứa nhiều định kiến và sai lệch về cuộc chiến Việt Nam.

Do đó, việc cố tình dịch thuật méo mó tựa sách sẽ ảnh hưởng tầm nhìn của những cá nhân và thành phần nào? Chắc chắn là không phải là những ai theo dõi xuyên sát về các sản phẩm mang giá trị quan trọng về lịch sử và chính trị, chẳng hạn những bloggers như chúng tôi.

(1b) Sau khi có cuộc phỏng vấn của Việt Hà với chính tác giả, phần I của cuộc phỏng vấn này đã được dịch và đăng tại link của RFA sau đây, http://www.rfa.org/vietnamese/SpecialTopic/40years-april30/memory-vn-war-b-german-reporter-02132015130158.html?searchterm:utf8:ustring=Uwe+Siemon-Netto.

Chúng tôi muốn biết tại sao phần hai (từ phút 11’22” đến 17’44”) không được chuyển ngữ và đăng tải trên blog của đài? Đây là đoạn phỏng vấn không kém phần quan trọng khi Việt Hà đặt các câu hỏi thường được đặt để bởi các ký giả/giáo sư/chính trị gia thuộc thành phần thiên tả.

Thật ra cách phỏng vấn thuộc phần hai này không phải là chuyện không nên làm, nhưng cũng giúp chúng tôi có thể nhận định rõ ràng về các chủ ý phi dân chủ của các tác giả/người làm việc liên quan đến truyền thông báo chí cũng như các giới hạn của ngôn ngữ và dịch thuật. Điều này ông Siemon-Netto cũng đã đề cập tới trong quyển hồi  ký để phê phán các chủ đích và hành động không trung thực của giới truyền thông cánh tả tại Hoa Kỳ trong thập niên 1970.

Tóm lại, đây là việc làm với các quyết định không thiếu tính chính trị. Chúng tôi sẽ đề cập rõ điều này thêm trong phần 3.

(2)          Trách nhiệm dịch thuật và phỏng vấn:

Qua nhận xét mà chúng tôi đã đưa ra trong phần 1(b), câu hỏi cần được đặt ra là làm thế nào để tạo sự cân bằng chính xác trong vấn đề dịch thuật/phỏng vấn? Ai là người đảm nhiệm giám sát cho việc chỉnh sửa/sắp xếp nhân viên cho các công việc phỏng vấn/phỏng vấn/chuyển dịch này? Tại sao việc dịch thuật này lại đi ngược với tôn chỉ hoạt động—nhất là “không bè phái”—mà chương trình phát thanh lặp đi lặp lại hằng ngày trên sóng? Việc giám sát dịch thuật/phỏng vấn thuộc các vị điều hành nào?

Chúng tôi thiết nghĩ các quý vị đã từng có kinh nghiệm sống tại miền Nam Việt Nam và thuộc cấp cao hơn hai nhân viên này chẳng lẽ không có trách nhiệm giám sát kiểm chứng nhằm gắn liền với tôn chỉ “độc lập” và Quy tắc đạo đức nghề nghiệp hay sao? Hơn thế nữa, tại sao không có sự sắp xếp giúp cho một ký giả miền bắc có thể làm việc với một nhân viên miền nam thuộc thế hệ thứ nhất hay 1.5 đã từng sống hoặc hiểu kinh nghiệm của người miền Nam trước năm 1975 để cùng trao đổi đối thoại và tra dò kiểm chứng trước khi cho ra đời các chuyển dịch và phỏng vấn mang tính lịch sử và chính trị như thế này?

(3)          Tầm ảnh hưởng của viêc chuyển ngữ sai sót lớn này:

Như đã đề cập ở trên, đám đông thính giả mà quý đài nhắm vào là đa số dân chúng trong nước tức là nhữnng ai không biết hoặc không rành Anh ngữ hay/và không hề biết về các sản phẩm văn hóa/lịch sử đề cập đến cũng như kinh nghiệm sống của kẻ bị trị và đàn áp bởi CSVN trong vòng 70 năm nay. Điều đó đồng nghĩa với một tầm ảnh hưởng tiêu cực của truyền thông trong việc định hướng dư luận và mang tính phi dân chủ. Ngoài ra, dù vô tình hay cố ý, việc chuyển ngữ mang tính chủ đích này đã làm lợi cho nghị quyết 36 của ĐCSVN.

Nói một cách khác, ngôn ngữ thì không tránh khỏi tính chính trị dù ta cố tìm cách bào chữa và cho nó chỉ là “từ vựng” mang tính trung lập. Dịch thuật, do đó, bị giới hạn vì bản sắc và phẩm chất của bản dịch cuối cùng chịu ảnh hưởng của người mang trách nhiệm chuyển dịch–không những chỉ ở mức độ khả năng và trình độ mà còn do thành kiến định chế từ kinh nghiệm sống và bối cảnh văn hóa và không gian không gian chính trị–nơi mà từ đó họ đã sinh trưởng. Hơn nữa, người điều hành trong giới truyền thông phải chịu một trách nhiệm lớn một khi việc định hướng dư luận đã trở thành tiêu cực và ở mức độ nghiêm trọng.

Bản Anh ngữ của lá thư này sẽ được chuyển đến đài RFA và các tác giả/dịch giả liên quan đến hồi ký này trong vài ngày tới. Chúng tôi hy vọng sẽ sớm có phúc đáp của ban điều hành chương trình RFA/Việt Ngữ về vấn đề nghiêm trọng này.

Kính thư,

VietSoul:21

Phạm Thị Hoài – Một con thuyền

In Cộng Đồng on 2014/12/11 at 16:44

Năm ngoái, anh Lập đề nghị tôi đứng tên phụ trách Quê Choa. Đó là thời điểm Nghị định 72 chuẩn bị có hiệu lực. Quê Choa đã tự điều chỉnh, như nhiều lần trước đó. Lúc chỉ đăng bài của chính Bọ. Lúc tạm đóng phần bình luận của độc giả, rồi mở lại, rồi đóng hẳn. Lúc thêm chế độ đánh giá bài, rồi lại bỏ. Lúc tạm dừng đăng bài, chỉ điểm tin từ báo chí nhà nước và một số hãng tin lớn quốc tế. Lần này, chủ trang thận trọng kèm lời ghi xuất xứ: “Bài của tác giả gửi Quê Choa” và tin cậy vào sự ủng hộ của bạn bè. Trang của anh, ngoài nội dung thông tin, còn có thể coi là một hàn thử biểu đo thời tiết chính trị ở Việt Nam. Thời tiết thoáng đãng hơn, không khí cởi mở hơn, Quê Choaxông pha hơn, đăng lại cả bài của những tác giả bị nhà nước Việt Nam khóa chặt trong danh sách đen. Mây mù bắt đầu kéo lên, Quê Choa nhẹ nhàng lui lại một bước, hai bước, có khi cả ba bước. Anh Lập là tất cả, chỉ trừ cực đoan.

Tôi thật sự thấy vinh dự, nhưng đã từ chối. Quê Choa sẽ không còn là nó, nếu do một người khác điều hành, nhất là điều hành từ hải ngoại, dù chỉ trên danh nghĩa. Thành công của trang tin này gắn với chủ nhân của nó, một nhà văn nổi tiếng, sống trong nước, có một sự nghiệp sáng tác thuộc hàng đầu trong văn chương đương đại nước nhà. Tác phẩm của anh đứng trong dòng chính. Sách của anh bán chạy. Kịch của anh đắt hàng. Anh viết sinh động, hóm hỉnh, thiên về hướng dân dã mộc mạc, gần đây pha đậm chất khẩu văn tếu táo, vốn không phải sở thích lâu dài của tôi, song ở những trang xuất sắc nhất tôi có cảm giác rằng các mẩu kí ức vụn của anh về những mảnh đời đen trắng trong cái thời màu xám của chúng ta có thể diễn đạt nhiều hơn bao nhiêu nhận định, phân tích, nghiên cứu, tuyên ngôn hùng biện… Nếu tôi không nhầm, anh cũng là đảng viên và giao du thân mật với một số nhân vật trong chính quyền. Một chức quan văn kha khá trong vô số các hiệp hội văn học nghệ thuật ở Việt Nam là chuyện trong tầm tay, ở đó anh hoàn toàn có thể trở thành một Mạc Ngôn trừ đi phần huyễn giác huyền ảo thêm vào phần hài hước, một lúc nào đó cũng trúng cơ cấu Giải thưởng Nhà nước rồi bước vào sách giáo khoa, thêm vài giải thưởng trong khu vực nữa là mãn nguyện một sự nghiệp. Nhưng ngay từ đầu, trong những buổi trò chuyện đầy cảm hứng ở thời Đổi Mới hai mươi lăm năm trước, tôi đã nhận ra không lầm rằng anh sẽ chẳng bao giờ trở thành một quan chức văn nghệ, dù chỉ quan chức hờ chờ phát biểu lấy lệ và sổ hưu. Anh trở thành một blogger.

Chuyển Quê Choa sang Berlin thì vô nghĩa, dù hai phần ba người Việt ở đây nói giọng bọ, tôi đùa. Chuyển Ba Đình sang Boston hợp lí hơn, giới quý tộc đỏ – hoặc đã chuyển màu huyết dụ – nhập hộ khẩu ở duyên hải miền Đông Hoa Kỳ ngày càng đông đảo. Nhưng giọng người bạn cách nửa vòng trái đất thì đầy lo ngại. Chỉ cần nó phạt hành chính, hôm nay vài chục triệu, ngày mai vài chục triệu, mình viết văn chứ có buôn cổ phiếu đâu. Rồi nó gọi lên gọi xuống, mình chân tay người ngợm thế này, đứng lên ngồi xuống còn vất vả, rồi làm khổ cả gia đình… Tôi gợi ý, thuê máy chủ bên này, kĩ thuật viên bên này, lỡ có sự cố gì thì Quê Choa vẫn tồn tại. Song lại nhận ra rằng đề nghị đó cũng vô nghĩa nốt. Quê Choa gắn với bọ Lập. Không có tác nhân hội tụ là anh, Quê Choa chỉ còn là cái xác trên một server an toàn. Tôi bảo, trăm triệu thì không có ngay, chứ chục triệu chẳng lẽ mấy trăm ngàn độc giả của anh không góp được để trả tiền phạt? Rồi cũng lại nhận ra, đó là chuyện không tưởng. Chúng ta có thể chờ đợi tất cả ở người Việt – và ở đây đang nói đến những người còn quan tâm đến thế sự thời cuộc -, chỉ trừ sự đóng góp cụ thể và bền bỉ về tài chính. Tất cả, dù chia rẽ trong mọi quan điểm, đều đồng thuận trong tinh thần hưởng thụ miễn phí. Tự do, dân chủ, nhà nước duy pháp quyền là những thứ rất tốn kém. Vấn đề đầu tiên của một nền báo chí độc lập cho Việt Nam là tiền đâu. Chừng nào còn né tránh nó, chúng ta còn giầm chân trong giới hạn cuối cùng mà những thành tựu thiện nguyện và tài tử có thể đạt tới. talawas trước kia đã đi hết giới hạn đó.

Phương án này, phương án kia. Song chúng tôi biết rằng cuối cùng vẫn không có gì khác. Anh biết rằng tôi không thể nhận lời. Tôi biết rằng anh không thể không tiếp tục. Ừ, để mình tính, dám làm thì dám chịu, hi vọng tình hình khá lên, anh Lập kết thúc vụ âm mưu xuyên biên giới, giọng thì cười nhưng người thì không.

Tình hình có vẻ khá lên, với sự ra đời liên tiếp trong một thời gian ngắn của Ban Vận động thành lập Văn đoàn Độc lập Việt Nam và trang Văn Việt, Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam và trang Việt Nam Thời báo. Cũng liên tiếp trong một thời gian ngắn, các nhà báo và nhà hoạt động dân chủ nổi tiếng Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Tiến Trung, Vi Đức Hồi, Đỗ Thị Minh Hạnh, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải và một số người khác được trả tự do trước thời hạn. Quê Choa dường như bình an. Anh Lập còn tuyên bố rút hẳn khỏi tất cả các hội văn nghệ mà anh là thành viên, để tập trung vào trang blog đã trở thành địa chỉ truy cập hàng đầu của báo chí tự do, làm một cá nhân độc lập, một “người lái đò nhỏ chở con thuyền sự thật”, vẫn ôn hòa và thận trọng như xưa.

Gần hai tháng nay, tôi để ý thấy Quê Choa chủ yếu đăng lại tin từ báo chí nhà nước và các hãng tin quốc tế, thỉnh thoảng có bài từ các blogger và Facebooker danh tiếng, song là những người không hề bị coi là persona non grata đối với chính quyền. Từ khi blogger Hồng Lê Thọ bị bắt, Quê Choa càng kiềm chế hơn. Song điều duy nhất có thể đoán trước ở một chế độ chuyên chế là sự không thể đoán trước của nó, kể cả sự sụp đổ. Và điểm tích cực duy nhất, nếu có thể dùng từ này, trong sự kiện anh Lập bị bắt, là nhận thức – vâng, nhận thức miễn phí cho tất cả, chỉ rất đắt cho anh và gia đình – rằng mọi bí quyết để an toàn tương đối trong một nhà nước chuyên chế là tuyệt đối vô nghĩa.

Chúng ta lại đoán già đoán non vì sao người này bị bắt, người kia không. Chúng ta lại lần mò ranh giới an toàn giữa một bãi mìn. Chúng ta lại đi tìm tín hiệu từ những hộp đen. Chúng ta lại nghe ngóng thế cuộc trên thượng tầng quyền lực. Chúng ta lại đổ tất cả lên đầu Trung Quốc và đặt tất cả hi vọng vào Hoa Kỳ. Chúng ta lại cảm thán, bằng cả văn vần, về một con người đầy khí phách vừa lâm nạn. Và tất nhiên chúng ta cầu cho anh bình an. Vâng, bình an, nghe mà phát điên, nhưng chúng ta vẫn không thôi nói như thế. Điều duy nhất chúng ta không làm là những hành động cụ thể, ở quy mô đủ rộng để có một tác động thực. Hàng trăm nghìn độc giả của anh sẽ quen rất nhanh khoảng trống anh để lại trên không gian ảo, như hàng trăm nghìn độc giả của Anh Ba Sàm.

Con thuyền của anh Lập, dập dìu sóng vỗ khi nào, là một con thuyền lẻ loi. Lật bởi sự tồi tệ của thể chế chính trị. Chìm bởi sự đơn độc của chính nó giữa vài ba con thuyền đơn độc khác. Đắm bởi sự bạc bẽo của phần lớn chúng ta.

© 2014 pro&contra

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Những Người Tù Ngoại Trú

In Cộng Đồng on 2014/12/11 at 12:02

Cái sự coi mỗi công dân là một người tù dự khuyết mở đầu cho một thời đại khốn nạn. Rồi đây chúng ta sẽ phải trả giá cho sự thất nhân tâm này.

Vũ Thư Hiên – Đêm Giữa Ban Ngày

Từ Hà Nội, Zoe Daniel, ABC News, tường thuật:

 

“Vụ xét xử một luật sư nhân quyền đang làm dấy lên những lời kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam phóng thích những người chỉ trích chính quyền khỏi nhà tù. Chỉ trong năm nay, hơn 50 người đã bị kết án và tống giam trong các phiên toà chính trị.”

 

Con số “hơn 50 người đã bị kết án và tống giam trong các phiên toà chính trị” trong năm nay, ngó bộ, hơi nhiều à nha. Đã vậy, còn có “tin đồn vỉa hè là số blogger có thể bị bắt giữ lên đến 20” mạng – theo như bản tin của Thuỳ My, qua RFI :

 

“Hiện nay các blogger tại Việt Nam thường xuyên liên lạc với nhau để biết ‘ai còn, ai mất’, cũng như chuẩn bị sẵn tinh thần để ‘lên đường’ khi có tin xấu nhất.”

 

Dù giọng nói của thông tín viên Thuỳ My nghe rất nhẹ nhàng và khả ái, nội dung bản tin mà bà vừa chuyển tải (vào hôm 3 tháng 7 năm 2103 vừa qua) vẫn khiến người ta lên tưởng đến cái không khí đe doạ nặng nề đã bao chụp lên đời sống của những người bất đồng chính kiến – vào những năm cuối thập niên 1960 – ở miền Bắc Việt Nam:

 

“Bình bàng hoàng khi biết mình có ‘đuôi’….  Anh như ngửi thấy cái mùi của nhà tù. … Đó là đòn đánh ngang đầu. Là đất sụt nơi mình đứng. Là cuộc đời bỗng nhiên không còn là cuộc đời nữa.

 

Trời đất đảo lộn. Cuộc sống dù sao cũng là cuộc sống. Vẫn có trời. Có gió. Có mây. Có cánh đồng, có đường phố. Có lúc giận vợ. Có lúc nô đùa với các con. Và viết. Nay sắp mất tất cả… Và có cảm giác của một con thú bị nhốt trong chuồng lồng lộn nhưng không sao thoát được. Thì ra họ có toàn quyền làm những việc họ thích. Họ huy động cả guồng máy khổng lồ để hại mình.” (Bùi Ngọc Tấn. Chuyện Kể Năm 2000, tập I. CLB Tuổi Xanh, Westminster, CA: 2000).

 

Cái “guồng máy khổng lồ” của nhà nước Việt Nam, vào thời điểm này, đã mang đến nỗi sợ hãi (cũng như phẫn uất) cho rất nhiều người nằm trong vòng quay của nó:

 

“Hôm ấy là ngày 24-12 hôm trước của Nô-en 1967.

Từ sớm đã có báo động máy bay. Trẻ con nhà tôi đã đi sơ tán cả, ở nhà chỉ còn có hai vợ chồng. Hai chúng tôi nhảy xuống cái hố cá nhân ở mảnh sân con trước cửa nhà. Đứng nép hai người dưới cái hố cá nhân chật chội, nghe tiếng bom nổ, tôi nói:

– Ước gì một quả bom rơi xuống trúng hố cho chúng mình chết luôn. Có đôi.

Nghe tôi nói, vợ tôi mỉm cười buồn rầu. Vợ tôi hiểu tâm trạng của tôi là tâm trạng của một con thú bị săn đuổi không có đường chạy tháo thân.

Thế là sau đợt bắt bớ thứ nhất hồi tháng 7, đến tháng 10 đã diễn ra đợt bắt bớ thứ hai. Số người bị bắt bao nhiêu tôi không rõ, chỉ biết là nhiều hơn lần trước và trong đó có Kiến Giang.

Thông báo số 1, Thông báo số 2… Nghe ghê cả người!
…..
Tối hôm đó vợ tôi chuẩn bị cho tôi một ba lô đầy chăn màn, quần áo ấm. Sáng sớm lại chạy đi mua một đôi bánh mì cặp nhân đầy lên, đút cả vào ba lô. Vừa xong thì báo động máy bay. Đạn cao xạ ầm ầm…

Một lát lâu sau có tiếng commăngca đỗ xịch ngoài sân. Tôi chưa kịp định thần đã thấy xuất hiện hai viên thiếu úy trẻ tuổi nai nịt chỉnh tề, một người dừng lại trấn giữ cửa, người kia bước xộc vào. Tôi giật thót mình.

Viên thiếu úy thứ hai nói như ra lệnh:

– Anh đứng nghiêm nghe lệnh!

Anh ta rút trong sắc cốt ra một tờ giấy nhỏ bằng trang vở học trò, tuyên đọc:

Lệnh bắt giam.

Ra lệnh bắt: Tên phản cách mạng

Trần Thư.

Vì tội: có hành động nguy hại đến nền an ninh của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Nơi giam: Hỏa Lò.

Ký tên

Đại Tá Kinh Chi. Cục Trưởng Cục Bảo Vệ

Lệnh vắn tắt một cách đanh thép, không có những câu thừa như căn cứ điều khoản bao nhiêu của bộ luật nào đó v.v… Bắt, thế thôi, không oong đơ (un deux) gì cả…

Âu thế cũng là xong. Chứ sống như những ngày tháng vừa qua thì tôi không chịu nổi nữa rồi.

Tôi có cảm giác được giải thoát.

Cái cảm giác được giải thoát ấy nó mạnh đến nỗi khi hai cánh cổng nặng chịch của nhà tù Hỏa Lò mở ra cho chiếc xe chở tôi từ từ bò vào trong sân, tôi không có gì xao xuyến, lo âu.” [Trần Thư. Tử Tù Xử Lí Nội Bộ (Hồi Ký Của Anh Cả Cò). Văn Nghệ, Westminster, CA:1995]

 

Nhà báo Trần Thư bị bắt vào cuối năm 1967. Từ đó đến nay đã gần nửa thế kỷ trôi qua. Nhà giam Hoả Lò vẫn vẫn trơ gan cùng tế nguyệt, và vẫn lầm lì đe doạ như xưa. Nhà nước Việt Nam cũng thế.

 

Chỉ có thái độ của lớp người cầm bút thuộc thế hệ tiếp thì hoàn toàn đổi khác. Họ coi “cái guồng máy khổng lồ” của nhà nước toàn trị hiện nay không có kí lô nào hết trơn hết trọi, còn nhẹ hơn bông nữa. Blogger Mẹ Nấm là một trong số những người có thái độ (bông lơn) như vậy đó:

 

“Vừa nhận được một email của bà bạn, gửi cho mình ngắn gọn thế này: ‘Tui báo cho bà biết, bà nằm trong danh sách mà người ta gọi là Top 20. Hai mươi người này được phía bạn giao cho chính phủ để ‘nhập kho’. Liệu mà viết.

Hi hi… Xem cái thư này mình không thể nhịn cười…

 

Hai mươi con người với hàng ngàn bài viết có thể làm chế độ lo sợ và lung lay. Họ không phải là những con số nằm im để cho nhà nước ném vào thống kê tội phạm. Hai mươi con người ấy dù không làm được gì lớn lao nhưng chắc chắn là họ không hề thiếu niềm tự hào vì đã dám nghĩ và viết những điều mà 17 ngàn nhà báo Việt Nam không dám.

 

17 ngàn là con số. Hai mươi người là những con người, những con người cầm viết.

Con người, hai mươi cái tên trong danh sách Top 20 kia thật đáng tự hào. Mình sẽ thật sự kiêu hãnh nếu được nằm trong cái danh sách ấy.”

 

Ý trời, đất, qủi, thần, thiên địa ơi! Còn “tự hào” với “kiêu hãnh” nữa chớ. Không biết con cái nhà ai mà ăn nói (nghe) bán mạng vậy cà? Con nhỏ “khiêu khích” thấy rõ. Và cái thái độ “gây gỗ” tương tự cũng có thể tìm thấy ở một “con nhỏ” khác, blogger Còn Huỳnh Thục Vy:

– “Bấy nay yên lặng vì bận thôi chứ không phải sợ đâu.”

 

Thiệt là quá đáng, và … quá đã!

 

Còn đối với những blogger thuộc lớp trước nữa thì sự kiện đã được họ đón nhận một cách… nhẹ nhàng hơn và cũng giễu cợt hơn – theo như cách bầy tỏ của ông Huỳnh Ngọc Chênh, một trong những nhân vật (“đang nằm”) trong cuộc và … trong rọ:

 

“He he, ngày xưa có rừng để trốn, bây giờ thì có chỗ nào chui? Thôi thì…’hãy cứ vui như mọi ngày, dù ngày mai không ai thăm nuôi’ như Đỗ Trung Quân vẫn nghêu ngao hát.

 

Hôm qua nghe Nguyễn Trọng Tạo nói về danh sách lên đến 20 người thì bao nhiêu chút sợ hãi còn vương vất lại trong chúng tôi đều bay đi sạch. Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên, chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nội, từ Hà Nội bay vào với tâm trạng phơi phới rủ chúng tôi đi nhậu. Nghe nói anh cũng có tên trong danh sách nầy.

 

Rượu vào rồi thì chuyện tới trời cũng xem như chuyện đùa bỡn. Những bạn bè ngồi trong bàn mà không có tên trong danh sách tự dưng thấy thiệt thòi. Nhưng các bạn ấy cũng không ganh tị và tự nguyện phân công nhau lo thăm nuôi những người được xem là có tên.

 

Nguyện vọng thăm nuôi của nhà văn Nguyễn Quang Lập là một cái laptop, nếu có ba gờ nữa thì càng tốt để anh tiếp tục viết blog và liên lạc với thế giới bên ngoài. Nhà thơ kiêm họa sĩ Đỗ Trung Quân thì cần giá vẽ với màu xịn để vẽ và một chút ánh trăng qua cửa sổ…để làm thơ. Còn nguyện vọng của tôi: Cứ gởi đều đặn viagra vào. Các bạn hỏi: Để làm gì trong đó? Tôi nói: Buồn quá để đục vô tường chơi cho vui. he he.”

 

Nguồn ảnh: huynhngocchenh.blogspot

 

Tính tôi vốn (vô cùng) đa cảm nên nhìn mấy vị xồn xồn (từ phải qua trái: Đỗ Trung Quân, Nguyễn Quang Lập, Phạm Xuân Nguyên, Huỳnh Ngọc Chênh) có tên trong danh sách top 20 mà không khỏi sinh lòng ái ngại. Không phải tôi ái ngại vì cái bàn rượu  quá hoành tráng so với tình trạng sức khoẻ (chắc) đã hom hem của họ mà là ái ngại khi nghĩ đến thân phận của những người cầm viết ở Việt Nam, trước đó.

 

Trước đó, chỉ mới nằm “trong tầm ngắm” mà nhà văn Nguyên Bình đã cảm thấy “bàng hoàng,” cùng với cái “cảm giác của một con thú bị nhốt trong chuồng lồng lộn nhưng không sao thoát được.” Và giữa hoàn cảnh cùng quẫn, tuyệt vọng này thì nhà báo Trần Thư ước chỉ ước mong sao có “một quả bom rơi” để được chết chung với người thân, cho nó xong đời.

 

Còn bây giờ thì những kẻ “ở trong tầm ngắm” vẫn cứ ngồi nhậu lai rai, với “tâm trạng phơi phới” cứ y như là họ đang còn ở tuổi đôi mươi và vừa có tên trong sanh sách thi đậu tú tài vậy.

 

Thiệt là hết thuốc!

 

Sẵn trớn đang ái ngại, tôi cũng cảm thấy ái ngại (luôn) cho tướng Trần Đại Quang, vị Bộ Trưởng Công An đương nhiệm, khi chợt nhớ đến người tiềm nhiệm của ông: Trần Quốc Hoàn. Nhân vật này – rõ ràng – đã sinh ra đời dưới một ngôi sao cực tốt, và ở vào một thời đại cực thịnh của chế độ công an trị. Muốn bắt ai thì bắt, muốn hiếp ai thì hiếp, và muốn giết ai rồi vứt xác ra đường cũng được mà cả nước vẫn cứ im thin thít.

 

Cái thời vàng son đó, tiếc thay, không còn nữa. Giờ đây, ông Quang mới đổi có mấy cái bảng số xe (từ trắng ra xanh) và đổi tên tuổi mình (chút xíu) thôi mà trên diễn đàn Dân Luận đã có lắm điều tiếng eo xèo rồi: ”cơ hội, thoái hoá, đổi trắng thay đen, thao túng luật pháp…”

 

Dân tình, rõ ràng, mỗi lúc một thêm khó dậy, và … mất dậy. Đưa ra nguyên một cái danh sách dài thòng (Top 20) mà không thấy dư luận “rúng động” gì ráo trọi, chỉ nghe có những tiếng cười (“he he”) hồi đáp – từ bàn nhậu – thôi hà.

 

Những tiếng cười giễu cợt tương tự đã vang lên từ mọi ngõ ngách ở đất nước Việt Nam, và mọi người đều nghe thấy – trừ ông Trần Đại Quang, và những người thuộc giới lãnh đạo của đất nước này. Họ vần cứ hành xử như thể là “chưa” có chuyện gì đáng tiếc xẩy ra. Họ không có khả năng thích nghi với tình thế và thời thế; bởi thế, họ sẽ không thể tiếp tục tồn tại nữa.

 

Nguồn: rfavietnam