vietsoul21

Archive for the ‘talawas’ Category

Tháng Tư Câm

In talawas, Việt Nam on 2009/04/30 at 05:33

BBT: Tưởng niệm tháng Tư, 35 năm “Thống Nhất” trong chia rẽ lòng người. Bạo quyền độc tài vẫn còn thống trị đất nước, áp bức dân lành, cướp của bán đất, bán dân làm nô lệ thời hiện đại xứ người.


Nguyễn Hiếu

“…‘home’ is a mythic place of desire in the diasporic imagination.”

Avtar Brah, Cartographies of Diaspora


Tháng Tư. Ngày đầu tháng là “Ngày lỡm” (April fools’ day). Ngày cuối tháng là ngày kỷ niệm chấm dứt chiến tranh Việt Nam/Hoa-kỳ. Phải chăng ai đã đùa tinh quái và dân tộc Việt Nam mắc lỡm. Hơn hai mươi năm tương tàn và ba mươi hai năm ly tán. Thiền sư Nhất Hạnh trở về lập đàn giải oan cầu vong linh hàng triệu người chết siêu thoát, và mong tám chục triệu người còn sống hoà giải bắt tay nhau. Thế nhưng không được nói, không được nghe, làm sao được hiểu?

“Khi Đồng Minh Tháo Chạy”[1] xây tượng đài kỷ niệm, viết những trang sử xét lại biến thua thành thắng sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt cuối thập niên 80. Với “Đại thắng mùa Xuân” người anh em bên kia vĩ tuyến viết bao ca ngợi chiến thắng lịch sử, huy hoàng và tiếp tục bán chác dưới hào quang một thời. Còn hơn mấy triệu người tan đàn, tản mát, trôi dạt, vì sợ hãi, vì không sống nổi trong kềm kẹp. Những đứa con ghẻ (được coi như cùi hủi) của chế độ không bao giờ có tiếng nói. Những người ấy bị đá ra lề dòng sống chính không được kể đến vì lịch sử được viết từ người thắng cuộc.

Trong một đoạn phim “Việt Nam: cuộc chiến 10.000 ngày” (Vietnam: the 10,000 days war) có cảnh bà mẹ ôm đứa con nhỏ (chắc khoảng chừng 4-5 tuổi) bị cháy bỏng chạy hớt hải trên đường làng. Trước đây tôi đã từng xem đoạn phim này nhưng không nghe tiếng vì lời tường thuật của thuyết viên chồng lên tiếng thật của phim. Lúc đó chỉ thấy cái đau thương, sức huỷ diệt của bom đạn trong cuộc chiến. Người ta nói “hình ảnh đáng giá hơn ngàn lời” nhưng khi được xem lại đoạn phim đó với tiếng khóc kêu của bà mẹ thì “một lời chứa đựng ngàn năm”. Bà mẹ khóc than “Trơì ơi, con ơi, Lượm ơi, mày đi đâu mà tội vậy con, mới thấy mày ở đây mà giờ như dzậy.” Tiếng kêu than, trời cao sao thấu. Tiếng thống thiết, ai biết cho vừa. Ôm đứa con da lột bỏng vì bom Napalm trong vòng tay, bà chỉ biết than trời, trách phận. Bom rơi, đạn nổ bà chẳng biết tại sao, chỉ biết rằng con mình bị nạn. Đó là tiếng của người gặp nạn, của người không có quyền lực, của người đã qua ngàn năm đô hộ, của người mất quyền sống. Bà đã bị tước đoạt hoàn toàn mảnh đất sống. Bà không có một nơi trú ngụ an toàn. Bà, gia đình con cái sống trên mảnh đất đơn sơ đó nhưng số phận thì đã bị định đoạt ở nơi đâu. Số phận đã được định đoạt bởi quyền lực phương Bắc hơn một ngàn năm trước đó, bởi quyền lực phương Tây ngàn dặm bên kia bờ Thái bình dương, rồi bà và con cháu bà sẽ ở dưới độc tài toàn trị bao năm sau.

Lúc đau đớn tột cùng đó bà không đổ lỗi cho người hoặc cho mình. Thế thì lỗi tại ai? Tại chiến tranh. Chiến tranh như một thực thể vô sinh và khách quan. Có chiến tranh thì có chết chóc, vậy thôi. Chiến tranh không trách nhiệm với cái chết. Và cái chết của những người thường dân vô tội được coi như “tổn thất phụ” (collateral damage) viết ngoài bìa sổ giữ con số chính thức của địch/ta bị chết, bị thương để xác định thắng/thua. Người ta nói “bom đạn không có mắt” như một tai nạn bất thường để giải thích cho cái không lý giải của số phận. Nhưng chắc họ quên mất là có người nhắm và bóp cò.

Còn trong một đoạn phim “Thương tiếc báo tin” (Regrets to inform) một bà lão kể đến việc 9 người trong gia đình bà bị đem ra bắn chết vào một buổi sáng khi quân Mỹ hành quân qua. Bà nhắc đi nhắc lại là cả nhà chưa ăn sáng chi hết mà bị đem đi bắn chết. Như rằng nếu có giết thì cũng để cho người ta ăn một miếng cơm, chứ chết tức tưởi chưa có miếng cơm vào bụng, thành ma đói. Người nông dân bé cổ, yếu thế tránh né hận thù về cái chết và chỉ than vãn về hiếp đáp không để cho ăn được miếng cơm.

Suốt những đoạn phim tài liệu chiếu cảnh dân tình loạn lạc thì thấy đa số là người già, trẻ em, và phụ nữ. Thiếu bóng những người đàn ông vì ở chiến trường hoặc nhiệm sở. Phụ nữ lo cho cha mẹ già, con trẻ, cho miếng cơm manh áo hàng ngày. Sau chiến tranh, lại cũng những người phụ nữ đi tiếp tế thăm nuôi cho chồng, con tù đày ở trại cải tạo hoặc nuôi dưỡng những tấm thân què quặt, đui mù thương phế. Một số phụ nữ khác thì được đặt lên bệ đài cao cả, “tình nguyện” lấy thương binh, quên mình, sống đời khiên cưỡng. Không ít phụ nữ nhỡ muộn, quá tuổi (một mức tuổi khắt khe, ngắn hẹp, chưa mở đã khép theo hệ thống xã hội phụ hệ) thèm một mụn con, “xin con” để đỡ khát con từ bản năng người mẹ và hủ hỉ tuổi già. Có ai nghe những tiếng thở dài thầm lặng trong đêm khuya?

Và bao nhiêu người lưu lạc không tiếng nói trong một ngày nào đó ngỡ ngàng khi tiếng mẹ đẻ của mình cũng mất đi. Họ mơ bằng ngoại ngữ, suy tư bằng tiếng bản địa nơi cư trú. Lưỡi cứng, đầu mù, tim sai nhịp. Một nỗi đau mất mát cắt sâu. Những người con của họ, thế hệ thứ hai, có được nghe, biết, và hiểu gì về đất nước mà cha mẹ, ông bà, chú bác của chúng đã lìa xa? Cuộc sống bươn chải, vất vả ban đầu mà cha mẹ chúng đã trải qua để sinh tồn trên đất lạ đã chiếm hết thời giờ, sức lực và chẳng còn dành được chút khoảng khắc nào để chia sẻ. Khoảng cách tuổi giữa hai thế hệ, khoảng cách giữa hai nền văn hóa, nỗi mặc cảm, tự ti người da màu trên đất khách làm những điều không/khó nói ra được. Những người con không được biết nguồn gốc, lịch sử của cha mẹ mình. Những gì chúng biết chỉ là những mảnh vụn kỷ niệm, ký ức thi thoảng tình cờ được nghe. Chúng học lịch sử Việt Nam qua phim ảnh, qua sách giáo khoa viết bởi những người bản xứ. Sách giáo khoa lớp Năm “Xây dựng đất nước” (Build Our Nation) của nhà xuất bản Houghton Mifflin nói rất ngắn gọn về vai trò của Hoa Kỳ tại Việt Nam tương tự như Nam Hàn là để chống bành trướng Cộng Sản và không hề đề cập đến số thường dân thiệt mạng. “Apocalypse Now”, “Platoon”, “Hamburger Hill”, “Rambo”, “Missing in Action”, “We’re soldiers” cũng như một số phim hạng ba khác chỉ vẽ ra cái khốc liệt của chiến tranh thu gọn lại ở một trận chiến nào đó để những hành động anh dũng trong tình đồng đội vượt qua và che mờ cái bối cảnh rộng lớn bất cập hoặc quy vào một vài quân nhân riêng lẻ hành động điên rồ do ảnh hưởng sức ép cuộc chiến, tâm lý bệnh hoạn hoặc những cuộc giải thoát cứu bạn tù huy hoàng (chiến thắng trong chiến bại). Chúng học thế thì hiểu ra sao?

Tại Hoa-Kỳ, người tị nạn nào may mắn ở những địa phương tập trung đông đảo như “Little Saigon” vùng quận Cam, San Jose, Virginia, Houston, Biloxi; ở Úc, Sydney, Melbourne, Canberra, Brisbane, Adelaide; và Gia Nã Đại, Vancouver, B.C., Montreal, Toronto, Calgary, Edmonton, Quebec, Ottawa, v.v… mới có cơ hội tiếp cận với ngoại sử trong dòng văn hoá lưu vong nhưng cũng còn vô số ở rải rác các địa phương lèo tèo vài chục, vài trăm gia đình quá xa xôi không gần ngay cả phụ lưu dòng chảy nhỏ cạn ấy. Thế hệ thứ nhất muốn quên còn thế hệ thứ hai không được nhớ. Đặc biệt là thế hệ một chấm rưỡi (1.5), thế hệ bắc cầu, thế hệ giữa-hai-bên (in-between) không muốn quên nhưng nào có bao nhiêu để nhớ. Họ định vị giữa-hai-bên về thời gian, không gian, tâm thức và chịu lực kéo đẩy cả hai: nhà (quê hương/chốn ở), tuổi thơ VN/cuộc sống địa phưong, lý trí/cảm tính, ký ức/lãng quên. Nhưng nói chung, tất cả họ đều ở vùng giữa-hai-bên, đầy cơ hội và cũng lắm rủi ro.

Chấp nhận hay kháng cự với quên lãng và câm lặng. Thỏa hiệp dễ hơn là phản kháng. Dối trá dễ chịu hơn là đối diện với sự thật. “Sự thật không có quyền lực bằng giả dối. Sự thật là cái người ta thường chối bỏ, nhưng dối trá thì người ta ôm ấp lấy. Nó [Dối trá] bao che và vỗ về. Sự thật thì không bao giờ làm ta khuây khỏa, nó luôn gây bối rối.”[2]

Những cố gắng để thốt lên tiếng nói kể lại hành trình “Vượt Sóng”[3] trong kinh hoàng “Bolinao 52”[4] dù giới hạn nhưng ấn tượng để không bị lãng quên vì “cuộc đấu tranh của con người chống lại quyền lực là sự cố gắng cho ký ức khỏi bị xóa quên.”[5] Và vẫn còn một niềm hy vọng không bị quên lãng xóa nhòa từ những nỗ lực, niềm tin và phương tiện hiện đại để nói, viết, chia sẻ trong một cộng đồng Việt Nam xuyên quốc gia, không biên giới (talawas, tienve, damau, diendan, Wikivietlit, …)[6] ở vùng giữa-hai-bên đầy cơ hội ấy.

@tạp chí da màuhttp://damau.org/archives/14909

CHÚ THÍCH:

[1] Nguyễn Tiến Hưng, Khi Đồng Minh Tháo Chạy, (Cơ Sở Xuất Bản Hứa Chấn Minh, San Jose, 2005)

[2] bell hooks, Wounds of passion: a writing life, (New York: Henry Holt, 1997), p.36

[3] Phim Vượt Sóng (Journey from the fall), đạo diễn Trần Hàm

[4] Phim tài liệu Bolinao 52, đạo diễn Nguyễn Đức

[5] Milan Kundra, The book of laughter and forgetting

[6] Những diễn đàn, nguồn thông tin mạng

Các bài khác trên talawas:

Chúng tôi (Tự trào – Trí Thức – Tâm Tài)

Tôi là người Việt Nam

Thời cửu vạn, ôsinThe Age of Day Laborer and Housemaid

Những cái nhập nhằng không tênThe Unspoken Ambiguities

Lết tới “thiên đường”

Phản bội hay trung thành với lý tưởng?

Lết tới “thiên đường”

In talawas, Tạp văn, Việt Nam on 2009/01/01 at 05:38

Càn Di

Khi vào tuổi trưởng thành, không ít lần, tôi tự hỏi về chốn thiên đường, một nơi hứa hẹn dành cho kẻ tốt lành, nhưng đã lâu rồi, tôi không còn nghĩ đến điều này nữa. Thật tình cờ, trong một chuyến đi/về thăm quê nhà, tôi đã đến gần “thiên đường”.

Hòn Khói, Khánh Hoà

Ông D, cư dân xã Ninh Hải, khu vực Hòn Khói thuộc huyện Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hoà hỏi tôi ở “thiên đường” nào vậy. Tôi chững lại. Tôi thật sự không hiểu câu hỏi của ông nên hỏi lại rằng có phải ông muốn biết tôi ở nước nào về, như thời thập niên 1980, 1990 người ở quê nhà cho rằng xuất ngoại (sang Hoa Kỳ) là lên thiên đường. Không ngờ, ý ông hỏi là tôi đang ở khách sạn Thiên Đường I hay Thiên Đường II trong khu du lịch Hòn Khói này. Tôi vỡ lẽ, ngượng, và phải nói chữa là làm sao tôi được ở thiên đường, vả lại, có hai thiên đường thì biết đằng nào mà chọn. Tôi nói ở Dốc Lết Resort (xin đừng thấy chữ “resort” mà tưởng bở, đây là khu du lịch quốc doanh bẩn, cũ được cổ phần hoá hơn một năm trước) chứ nào biết “thiên đường” mà đến. Ông cho biết chủ nhân Thiên Đường I và Thiên Đường II là hai phụ nữ lấy chồng người ngoại quốc, một người Anh và một người Pháp. Bên cạnh Thiên Đường I và II là biệt thự của ông Thuỵ Sĩ đồng tính, có khách sạn ở ngoài đảo. Khách sạn này chuyên phục vụ cho người Thuỵ Sĩ du lịch tại Việt Nam. Ông Thuỵ Sĩ già này chiều chiều dẫn chó đi dạo và gạ gẫm thanh niên trong vùng. Ông kể, “Thằng cha này nó ‘yêu’ dữ lắm, đám thanh niên cần tiền đi một đêm 300.000 đồng ($18 USD) tưởng dễ ăn, nhưng bị thằng cha này quần suốt đêm nên bây giờ ai cũng chạy mặt hắn. Vậy mà thằng cha đó cũng kén chọn chỉ lựa đứa đẹp trai và to con”.

người gánh nước

Ngay Dốc Lết, từ tờ mờ sáng, hai người đàn ông gánh nước biển lên đổ vào thau chậu cho hơn 10 sập trong chợ chồm hổm nhỏ. Chợ này bán cua, ghẹ, tôm, ốc lấy từ bạn chài. Mỗi ngày, tuỳ theo ế, đắt, các bạn hàng góp 1.000-2.000 đồng trả thù lao cho ông gánh nước. Nghe đâu, hai cô bán ghẹ, bán ốc đã từng lê lết ở Sài Gòn làm mướn, nhưng chưa đầy một năm, họ đã phải quay về quê miền cát nắng vì không chịu nổi điều kiện làm việc quá khắc nghiệt. Trên bãi biển, bên ngoài khuôn viên khu du lịch, hai người đàn ông lớn tuổi dựng hai chiếc xe đạp, ngồi bệt trên cát, róc suốt cuống lá dừa về bó làm chổi.

Bên cạnh Thiên Đường Resort

Ông D kể tiếp rằng, trước đây quận, vùng đã có kế hoạch chia đất, xây nhà cho người dân nghèo, nhờ việc chuyển nhượng đất cho cơ sở đóng và sửa chữa tàu Hyundai Vinashin. Người dân nghèo mấy xã Ninh Phước, Ninh Hải, Ninh Diêm, Ninh Thuỷ lúc đó đã bốc thăm, lấy số và chờ được cấp nhà ở, nhưng chẳng bao lâu sau đó bị thâu hồi lại và kế hoạch bị huỷ bỏ không lý do. Nghe chừng là bà Phương Mai, chị ruột của một vị lãnh đạo chính phủ đến tặng mỗi xã (bí thư, chủ tịch) một chiếc xe hơi và đất đai khu Hòn Khói này nay đã nằm trong tay bà ấy, chờ cho sự việc chìm xuồng để họ đem ra chuyển nhượng hoặc phát triển bỏ vào túi riêng. Người dân Hòn Khói lay lắt với thu nhập thấp, nhiều hộ, con cái phải bỏ học để phụ giúp gia đình. Nơi đây, tôi bắt gặp những khuôn mặt trẻ thơ sáng sủa đang nhìn về một tương lai đen tối, ngay cạnh “thiên đường” rực rỡ.

Đồi Thiên An, Huế

Chúng tôi đến đồi Thiên An vào khoảng xế trưa. Tại ngã rẽ lên đồi Thiên An có một bảng chỉ hướng lên khu du lịch sinh thái hồ Thuỷ Tiên và đường lên đan viện. Đan viện Thiên An nằm trên đỉnh đồi, yên tĩnh bao bọc bởi rừng thông. Vào hẳn trong khuôn viên đan viện, chúng tôi thoáng nghe tiếng thánh ca của các chủng sinh, các thầy. Những âm vang vọng không biết tự hướng nào làm lòng lắng đọng, thanh thoát. Bước nhẹ qua các dãy hành lang từ nhà nguyện vào sâu trong, không khí càng tĩnh lặng, trang nghiêm, thanh tịnh. Một chủng sinh đến chào và cho biết rằng chúng tôi đã đi lạc vào nơi không dành cho khách vãng lai. Tôi hỏi chuyện và hiểu được nỗi bức xúc của nhà dòng. Được biết năm 2000, nhà nước đã chiếm lấy 15 hecta đất của nhà dòng để làm khu giải trí, bất chấp sự phản đối của nhà dòng Benedict và cộng đồng người Công giáo trên thế giới.[1] Suốt bao nhiêu năm, người xứ Huế vẫn đến đồi Thiên An để hưởng sự yên tĩnh hay hẹn hò, nay không còn nữa. Vùng đất thơ mộng nguyên sơ mà người bạn xứ Huế tha phương của tôi đã nhắc đi nhắc lại và dặn dò tôi nhớ tới thưởng ngoạn nay đã bị trưng dụng và biến thành một nơi huyên náo làm tiền của sở du lịch Thừa Thiên – Huế.

Trung tâm Khiếm thị Bừng Sáng, Sài Gòn

Đến Trung tâm Bừng Sáng, cơ sở tư nhân giúp các trẻ em khiếm thị trong hẻm đường Vĩnh Viễn ở quận 10, vào ngày cuối trước khi lên đường trở về Hoa Kỳ, lòng chúng tôi chùng xuống. Vị giám đốc, cũng là người sáng lập trung tâm, vừa mới mất đột ngột chỉ hơn một tháng trước. Căn nhà hai tầng chật hẹp không có không gian để thở. Văn phòng là một ô ngăn chỉ nhỉnh hơn phòng điện thoại công cộng trên các góc đường ở Hoa Kỳ. Phòng trước có vài chiếc ghế nhựa xếp chồng lên nhau cho khỏi choáng chỗ, và ba em trai đang ngồi chơi piano điện ở các góc phòng. Trước cửa có để một băng ghế đá và các đồ dùng lặt vặt khoanh vòng rào lại. Phòng sau là nhà bếp. Trên lầu, ban công cỡ 4 mét vuông được che lại thành nhà tắm, phòng chính giữa với sàn gỗ là nơi ngủ, với một bên tường là tủ khoá chia ô cho mỗi em đựng vật dụng riêng; phòng sau cỡ 20 m2 dùng làm lớp học chữ nổi lúc đó đang có 6 em học sinh. Các em được đi học ở trường tiểu học, trung học phổ thông gần đó.

Chúng tôi gặp anh Quyến, thầy dạy học và đang tạm điều hành, dù anh không hề được chuẩn bị cho công việc này. Sau đó, tôi được dẫn đến một căn nhà khác dành riêng cho các em gái ở sâu trong hẻm. Vừa vào cửa, tôi thấy năm sáu em đang quây quần ngồi dưới đất ôn bài thi, dưới sự hướng dẫn của một cô gái. Cô này đã tình nguyện đến giúp các em hơn hai năm nay. Tôi bước lên tầng trên, một phòng rộng với một nhóm em đang ăn quà đùa vui. Khi yêu cầu, chúng tôi được một em gái độc tấu đàn tranh một số bản dân ca cho nghe. Khi chúng tôi hỏi về ý nguyện, các em cho biết muốn được ở lại trung tâm dù sau khi trưởng thành hay lập gia đình. Các em đã gắn bó với nơi đây vì đây là gia đình thật sự của các em; nơi các em tìm được sự bình đẳng, cảm thông, và thương yêu. Khi hỏi về ước vọng, một em muốn tiếp tục làm nghề mát-xa, em kia muốn được làm cô giáo dạy đàn, còn em khác muốn làm vi-tính… Những em gái cười vui rạng rỡ dù không nhìn thấy gì. Chúng tôi chia tay đem theo món quà của những phút chia sẻ tâm tình và cảm thông.

Cô gái mù đàn Tranh

“Việt Nam, điểm hẹn của thế kỷ 21” quyến rũ mời chào du khách tới thăm. Trong gần hai thập niên vừa qua, rất nhiều người vội đến thăm trước khi đất nước này mất hết những đặc thù. Cuộc chạy đua khám phá Việt Nam là một cảnh báo về viễn cảnh toàn cầu hoá làm nền văn hoá ngày càng phai dấu ấn. Việt Nam quyến rũ với người già tha hương, với trung niên viễn xứ, với thanh thiếu niên lạc lõng, với chuyên gia, với công ty ngoại quốc, thương gia Việt kiều… Mỗi người có âm hưởng rung động theo tần số chào mời khác biệt: Người muốn quay về nơi chôn nhau cắt rốn, nơi tiếng nói là của mình. Người đi tìm lại tuổi thanh xuân đã mất, những kỷ niệm nhạt nhoà. Trẻ chơi vơi trong thân Việt, hồn ai cố gắng giải toả xung đột chân diện. Trẻ lạc loài tha nhân đi tìm ý nghĩa, rời cuộc sống thừa mứa vô tâm, vô cảm. Giới chuyên gia đến nghiên cứu, thu nhặt dữ kiện, mổ xẻ, phân tích rồi dạy bảo lại cho học sinh địa phương. Công ty ngoại quốc và thương gia Việt đến Việt Nam để khai phá vùng đất hoang thị trường đầy cơ hội và tranh giành nắm bắt độc quyền. Tất cả đi/về Việt Nam để nhận bắt cái “của mình” và Việt Nam “cô Kiều” bán thân đợ nợ.

bà cụ không nhà

Chỉ có “thượng đế” mới ở trong “thiên đường”. Không ít người bây giờ đã làm “thượng đế” ở trong “thiên đường”. Mọi dịch vụ sẵn sàng cho “thượng đế”, nhất là các khoản “cấm”, “khó”, “ngặt” ở nơi khác. “Thượng đế” nào để mắt cảnh tay mỏi còng lưng lúi cúi nhặt rác phế thải, chân chai lê lết bán vé số, lưng vai nhức mỏi quảy gánh hàng rong, thân quằn đẩy chiếc xe chất nặng hàng, đầu trơ chang vang dưới nắng cát, v.v. Chắc chắn người dân không có sức để lết tới “thiên đường” trong lý thuyết kinh điển “tư tưởng Hồ Chí Minh” hay “thiên đường mở cửa” trong thực tế tư bản thô lậu dưới chế độ độc tài toàn trị. Những gia đình nghèo năm ba đời vẫn nghèo. Những đứa trẻ nghèo thất học lay lắt ở vỉa hè đường phố hoặc ở ven vùng sâu xa, những khuôn mặt sáng ngời nhưng quá khứ, hiện tại và tương lai đều đen tối, đang sống như con cá ngoắc ngáp trong dòng nước thải độc hại từ các vấn nạn: chính sách giáo dục, xã hội, y tế, lao động, tài nguyên, môi trường, và nền chính trị độc tài toàn trị…

Các em học sinh ở gần Tháp Bánh Ít

Riêng tôi đã được vào thiên đường dù không hề mong đợi. Gặp các em tiểu học trưa thứ Bảy, lúc lên chùa Nguyên Thiều chơi. Các em dẫn chúng tôi lên tháp Bánh Ít. Khi xuống lại chân đồi, cả thảy chúng tôi mười mấy người chia nhau mỗi người một ngụm nước vì chỉ còn nửa bình nước nhỏ. Chia tay nhau, một em gái chúc “cô chú luôn hạnh phúc, nhưng chú đừng đánh cô nghe”. Nghe mát ruột, nhưng lòng tôi đau vì có lẽ em đã chứng kiến bạo động gia đình nhiều nên mới thốt ra câu ấy. Ở Huế, chúng tôi có những giờ phút chia sẻ với các em học sinh lớp bảy gia cảnh nghèo ở gần chuà Thiên Mụ không thể quên. Các em hồn nhiên, vui nghịch, nhưng rất lễ phép chia sẻ với chúng tôi vài bánh men sâu, hạt dưa; sau đó, chúng tôi cùng nhau đi ăn bánh nậm, bánh bột lọc mừng sinh nhật ba em cùng tháng. Chúng tôi lại được gặp các cụ, ông, bà mắt mù loà hay tay chân chệnh choạng sống cơ cực sau cơn lũ lụt đến nhận quà cứu trợ ở sân chùa miền Trung, những người bảo mẫu bao năm nhẫn nại chăm sóc các em sơ sinh tại trung tâm nuôi trẻ mồ côi, các sơ dòng Phan-xi-cô nuôi gia đình nhiễm HIV và mở trạm xá y tế miễn phí cho người nghèo và những bệnh nhân (nhiều khi bị ép buộc bất đắc dĩ) tại trại tâm thần rất tỉnh, đói cơm, đói thuốc lá, thèm được thăm viếng và muốn về thăm nhà nhưng không có tiền về xe, dù đã được phép ra khỏi trại. Hàng rào sắt hay hàng rào tiền, thứ nào cũng ngăn họ rời khỏi nơi không muốn ở này. Câu chuyện trò ân cần, vồn vả thăm hỏi khi gặp vợ chồng anh chị M ở Phú Quốc. Anh chị M quê Phù Mỹ, Bình Định, người “nẫu” xa quê nhận tôi là đồng hương, dù rằng, tôi chỉ là Bắc lai “nẫu”, làm tim tôi nở phồng. Rồi những phút giây trò truyện với nhóm em gái ở Trung tâm Bừng Sáng, với bình đẳng, trân trọng, mở lòng cùng nhau chia sẻ, các em vang tiếng cười rạng rỡ chiếu sáng nỗi mù loà của riêng tôi. Chốn thiên đường ở đó và họ đã mở cửa đón tôi.

© 2008 talawas, http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=12085&rb=09

CHÚ THÍCH:

[1] European Parliament resolution on Vietnam (http://www.radicalparty.org/radicalseu/vietnamen.htm)

Các bài khác trên talawas:

Bịt miệng nạn nhân

Chúng tôi (Tự trào – Trí Thức – Tâm Tài)

Tôi là người Việt Nam

Thời cửu vạn, ôsinThe Age of Day Laborer and Housemaid

Những cái nhập nhằng không tênThe Unspoken Ambiguities

Phản bội hay trung thành với lý tưởng?

Các bài trên Tạp chí Da Màu:

Tháng Tư Câm

Hồn ma và xương khô

Phản bội hay trung thành với lý tưởng?

In Chính trị (Politics), talawas, Thế giới on 2008/01/01 at 08:04

Nguyễn Hiếu

(Gợi hứng từ bài ”Phản bội lý tưởng” của Lê Tất Điều)

Lý tưởng cao cả của Hoa Kỳ là gì? Tự do, Dân chủ? Có phải vai trò của Hoa Kỳ trong thế giới là “mở rộng tự do dân chủ”, “bảo vệ thành trì tự do”, hay “chấm dứt và tiêu diệt bạo quyền, khủng bố và thay thế hận thù bằng hy vọng.” Chúng ta đã luôn được nghe những câu tuyên ngôn hùng hồn và những lời hứa hẹn mỹ miều để củng cố niềm tin mặc định vào một chân lý dường như hiển nhiên không thể chối cãi. Thế nên đôi lúc người ta phải ngỡ ngàng hoặc thất vọng trước những sự kiện trong đường lối và chính sách của Hoa Kỳ, nổi bật nhất là với nội các chính phủ Bush, đi ngược với lý tưởng đó.

Chủ nghĩa lý tưởng (Wilsonian Idealism về chính trị và quan hệ ngoại giao quốc tế) khởi phát vào hai thập niên trong cuối thế kỷ 19 (những năm tám mươi và chin mươi) với lý thuyết hòa bình dân chủ (democratic peace theory) tôn trọng nguyên tắc tự chủ quốc gia (national self-determination principle). Chủ thuyết này chưa kịp lớn mạnh thì rơi vào khủng hoảng sau hai Thế chiến I và II, qua đó các nước tư bản đồng minh tranh giành, xâu xé thuộc địa từ các Đế quốc Hung-Áo, Đức, và Ottoman (Thế chiến I) và phát xít Đức (Thế chiến II). Chủ thuyết này rốt cuộc bị lấn áp và rút ruột để được nhét vào cốt lõi của chủ nghĩa tân thuộc địa (neo-colonialism), qua đó tư bản đế quốc có cái bình phong che đậy những chính sách gián tiếp bóc lột, khai thác, chiếm hữu tài nguyên các quốc gia yếu kém. Ngay chính Wilson sau khi đạt ghế Tổng thống cũng đã bị quyền lực của giới tư bản và quyền lợi riêng nước Hoa Kỳ áp lực đi trệch lý tưởng do chính ông khởi xướng. Wilson đã dùng quân lực thay đổi chế độ ở Nicaragua, kiểm soát trực tiếp Haiti và Dominican Republic, cũng như phong toả hải phận xâm lấn Mexico. Ngay sau Thế chiến I ông cũng đã phá lệ, thuận tình cho Pháp và Anh giữ lại các nước thuộc địa thay vì để các nước này đạt được độc lập, tự chủ. [1]

Chính sách của Hoa Kỳ trong vòng 100 năm qua đặt trọng tâm vào sự bành trướng khu vực ảnh hưởng, mở rộng thị trường theo chủ thuyết tư bản, tân thuộc địa, tân tự do (neo-liberalism) dưới chiêu bài tự do và dân chủ. Hoa Kỳ đã và luôn sẵn sàng dùng mọi biện pháp để tạo một môi trường “tự do” thương mại với điều kiện hết sức thuận lợi cho các tập đoàn tư bản nước Mỹ. Hoa Kỳ đã từng gây chính biến lật đổ các chính thể dân chủ xã hội, dân chủ nhân dân, cộng hòa hoặc can thiệp quân sự khắp nơi từ các nước Nam Mỹ (Chile, Guatemala, Colombia, Nicaragua, El Salador, Mexico v.v.) đến vùng Vịnh (Iran, Iraq, Bahrain) và châu Phi, dựng lên những chế độ độc tài, quân phiệt, hoặc quân chủ tộc quyền.

The overall history of US activity in Africa during the cold war reads like a litany of anti-Wilsonian practices justified in the name of containing communism. This included US support of such brutal dictators as Mobutu, Moi, Barre, Nimieri, and Selassie, whose human rights records were among the worst in Africa. Billions of dollars were spent to roll back communism. Indeed, US weapons played major roles in conflict situations in Angola, Ethiopia, Liberia, Zaire (now the Democratic Republic of Congo-DRC), Namibia, Somalia, Sudan, Uganda, and Sierra Leone. [2]

Tổng thể lịch sử về hoạt động của Hoa Kỳ tại châu Phi trong thời chiến tranh lạnh viết nên một chuỗi dài những hoạt động phản-lý-tưởng được biện hộ với danh nghĩa ngăn chặn cộng sản. Hoa Kỳ ủng hộ những nhà độc tài tàn bạo như Mobutu, Moi, Barre, Nimieri, và Selassie, với lý lịch hồ sơ nhân quyền tồi tệ nhất ở châu Phi. Hàng tỉ đô-la chi dùng nhằm đẩy lùi chủ thuyết cộng sản. Thực ra, vũ khí của Hoa-kỳ đóng vai chính trong những xung đột tại Angola, Ethiopia, Liberia, Zaire (hiện tại là Cộng hoà Dân chủ Congo), Nambia, Somalia, Sudan, Uganda, và Sierra Leone.

Thử nghe những nhận định của Woodrow Wilson về Hoa Kỳ ở thập niên của đầu thế kỷ 20 và so sánh với bây giờ. Thực sự không có gì đổi khác ngoại trừ mức độ trầm trọng hơn, tư bản tập trung hơn, kỹ thuật tuyên truyền che dấu tinh tế hơn. Hoa Kỳ luôn trung thành lý tưởng mở rộng thị trường “tự do” cho đại tư bản siêu cường quốc.

“American free enterprise is not free…Why? Because the laws of this country do not prevent the strong from crushing the weak.” (Thương trường tự do Hoa Kỳ không có tự do … Tại sao? Bởi vì luật lệ nước này không ngăn ngừa kẻ mạnh đè bẹp người yếu.)

“The government, which was designed for the people, has got into the hands of their bosses and their employers, the special interests. An invisible empire has been set up above the forms of democracy.” (Chính quyền này thay vì nhân dân, đã rơi vào tay những tên xếp và chủ nhân, những đặc quyền thiểu số. Một đế quốc vô hình đã được thành lập trên đầu những hình thức dân chủ.)

“Why, my fellow Americans, is there any man here or any woman – let me say, is there any child here – who does not know that the seed of war in the modern world is commercial and industrial rivalry.” (Tại sao, hỡi đồng bào của tôi, quý ông hay quý bà, hay thôi, có trẻ con nào ở đây mà không biết rằng mầm mống của chiến tranh trong thế giới hiện đại là tranh chấp thương mại và kỹ nghệ.)

Hãy nghe lời than trách của ông Elie Weisel, người được trao giải Nobel hòa bình và cũng là nhân chứng sống sót từ Holocaust, trong bài diễn văn “Hiểm họa của sự dửng dưng” [3] ở phòng Đông tại Bạch Ốc tháng 4 năm 1999 khi nhắc lại chuyện tàu St. Louis chở hơn 1.000 người Do Thái trốn phát xít Đức đến Hoa Kỳ bị từ chối cập bến và trao trả lại. Số phận của những người đó ở trong trại tập trung và lò thiêu thì lịch sử đã viết rõ. Ông đặt câu hỏi về thái độ bàng quan của chính quyền Hoa Kỳ và việc các công ty lớn hàng đầu của Hoa Kỳ tiếp tục duy trì thương mãi với Đức Quốc xã cho đến 1942 (tài liệu dẫn đến kết luận nếu không có sự tiếp tay của tư bản Hoa Kỳ cung cấp dầu thì Đức không thể đánh chiếm Pháp).

Lợi dụng cơ hội những cường quốc khác bị suy sụp sau Thế chiến II, Hoa Kỳ dùng sức mạnh quân sự và tư bản tập trung để củng cố địa vị trở thành siêu cường độc nhất trên thế giới. Họ khai thác tuyệt đối thị trường quốc tế đem lại lợi tức vượt trội cho các đại tư bản Hoa Kỳ rồi nhỏ giọt xuống các tầng lớp kinh tế xã hội dưới thấp. Người dân được hưởng một số quyền tự do căn bản, có chút phúc lợi xã hội, đạt mức thu nhập và tiêu chuẩn sống cao. Hoa Kỳ cho người dân cảm thấy thoải mái với đời sống riêng và ru ngủ họ với lối sống tiêu thụ, tha hóa, vị kỷ. Phần lớn dân chúng trở nên thờ ơ, dửng dưng với những cuộc tàn sát, chiến tranh diệt chủng, chết chóc, nghèo đói, huỷ hoại môi sinh ở các quốc gia khác, kể cả do hệ quả của chính sách đế quốc bá quyền miễn sao tỉ lệ thất nghiệp thấp, giá cả hàng hoá rẻ, và được an toàn trong nội địa mình.

Thêm nữa, hệ thống lưỡng đảng (kể như là độc quyền) với tài trợ của giai cấp tư bản phú trọc, của các đại công ty và giới vận động hành lang (lobbyist) cho những đặc quyền thiểu số (special interests) đã làm cho dân chúng cảm thấy bất lực không có khả năng thay đổi gì được. Họ nghĩ và tin vào đó để rồi dùng nó bào chữa cho thái độ dửng dưng không dính líu đến chính trị, dân chủ, xã hội. Tuy nhiên cũng có một số công dân tích cực hoạt động công bằng xã hội và hòa bình, dóng chuông kêu gọi đám đông tham gia thực thi dân chủ. Điển hình là thành viên “Trung tâm khởi điểm cho Hành động bất bạo động” (Ground Zero Center for Non-violence Action) diễn hành đến căn cứ hải quân Bangor (Bangor Naval Base) trong ngày lễ Martin Luther King để phản đối và đòi hỏi giải giới vũ khí hạt nhân (abolish nuclear weapons), hoặc nhóm “Lake Forest Park cho hòa bình” (Lake Forest Park for Peace) diễu hành cho hòa bình tại Seattle, tiểu bang Washington để phản đối cuộc chiến Iraq.

Ground Zero Center for Non-violence Action – MLK 2007

Người Việt tha hương ở hải ngoại khởi đầu có tâm trạng vừa hận Mỹ đã chạy bỏ rơi đồng minh dưới sự đày đọa của cộng sản Việt Nam, vừa mang ơn được cứu vớt, dung dưỡng. Tâm trạng mang ơn phổ biến trong tầng lớp có công ăn việc làm ổn định, sở hữu nhà cửa, cuộc sống sung túc so với tầng lớp nghèo bản xứ. Thật khó lòng để chỉ trích đường lối và chính sách của chính quyền khi họ “cho” dung thân và việc làm, “tạo” điều kiện học hành, cơ hội thăng tiến, “bảo vệ” khỏi hiểm họa khủng bố, chiến tranh trên đất nước. Thêm nữa huyền thoại “cứu vớt và giải phóng” (“rescue and liberation” [4] ) được nhắc đi nhắc lại qua bao lần nên khó bỏ ngoài tai.

Không biết cái tên “tị nạn” (refugee) gán ép cho mình có ảnh hưởng gì đến cách suy nghĩ và lối sống? Phải chăng cái tên “tị nạn” ấy làm cho mình lúc nào cũng có cảm giác ở trong trạng thái sống còn (survival mode) nên chỉ nghĩ đến sự sinh tồn và an toàn cho bản thân và gia đình không? Có nên tự cởi trói khỏi định danh hạn hẹp “tị nạn” ấy để hành xử, không chỉ với tư cách là công dân một nước nhưng là một thành viên xuyên quốc gia (transnational), mạnh dạn tham dự vào những hoạt động dân chủ, tự do, công bằng, bình đẳng cho mọi người.

Martin Luther King Day 2007 – Walk for Peace

Milan Kundera mở đầu tiểu thuyết “The book of laughter and forgetting” bằng câu “cuộc đấu tranh của con người chống lại quyền lực là cuộc đấu tranh của ký ức chống quên lãng.” (“the struggle of man against power is the struggle of memory against forgetting.”). Trong cuộc tranh đấu dân quyền, nữ quyền chống kỳ thị màu da, kỳ thị giới tính, bell hooks cũng nói “cuộc đấu tranh của chúng ta là cuộc đấu tranh cho ký ức khỏi xóa nhoà” (our struggle is the struggle of memories against forgetting) [5]. Lẽ nào nguyên nhân cơ bản và hệ quả của cuộc di dân lớn nhất trong lịch sử Việt Nam lại bị xoá khỏi ký ức chúng ta?

Không thể để ký ức xóa mờ chính sách bành trướng đế quốc Hoa Kỳ dưới chiêu bài ngăn chặn hiểm họa Cộng sản. Không thể quên hàng triệu người dân Việt chết bên hai chiến tuyến. Không thể quên độc tài Cộng sản đày đọa hàng trăm ngàn người trong lao tù “tập trung cải tạo.” Không thể bỏ quên phong trào đấu tố trong Cải cách Ruộng đất, đàn áp Phật giáo, thảm sát Mỹ Lai, thảm sát biến cố Tết Mậu Thân, chiến dịch Phượng Hoàng.

Chúng ta phải nhắc nhở nhau để ký ức tập thể (collective memories) không bị xóa nhòa, để đấu tranh chống lại bạo quyền dưới bất cứ hình thức hoặc chiêu bài nào. Nhất là không thể dửng dưng với quyền lực đang vẫn áp đặt trên hai đất nước (Việt Nam, Hoa Kỳ).

“To take seriously Vietnamese standpoints on the war and its aftermath is to critically examine the relationship between history and memory, not as facts but as narratives. Like other communities in exile, Vietnamese in the United States feel keenly the urgency to forge unified histories, identities, and memories. Against this moral weight of ‘the community,’ we need to ask what happens to events that cannot be narrated.” [6]

(Để nhìn nhận nghiêm túc những quan điểm người Việt về cuộc chiến và hậu quả của nó thì phải xem xét nghiêm khắc mối quan hệ giữa lịch sử và ký ức, không phải như những sự kiện riêng biệt mà là những câu chuyện nối kết. Cũng như các cộng đồng tha hương khác, người Việt ở Hoa Kỳ cảm thấy sự cấp bách mãnh liệt phải tạo dựng lịch sử thống nhất, bản chất, và ký ức cho mình. Dưới gánh nặng đạo đức của “cộng đồng”, chúng ta cần hỏi cho ra lẽ những sự tình không thể thuật lại.)

Những gì được chia sẻ, bàn thảo trên diễn đàn này giới hạn ở tầm nhìn trên góc độ khác nhau. Nó chỉ là một cuộc tập diễn trí tuệ (intellectual exercise) đơn thuần. Công việc thiết thực hơn là đóng góp và tham gia trực tiếp vào những hoạt động tùy theo khả năng ở tầm tay và quan tâm riêng ngay tại địa phương hoặc rộng lớn hơn. Nếu không chúng ta sẽ trở thành người quá thích nghi với sự bất công (“The last thing one wants to see [is] people who are well adjusted to injustice” ).[7]

© 2007 talawas, http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9218&rb=0402

CHÚ THÍCH:

[1]John Thompson, Woodrow Wilson, (New York: Pearson Education Limited, 2002)

[2]Korwa G. Adar, The Wilsonian Conception of Democracy and Human Rights: A Retrospective and Perspective, African Study Quarterly – The Online Journal for African Studies.

[3]Ellie Wiesel,The Perils of Indifference, April 12, 1999.

[4]Lisa Yoneyama, “Liberation Under Siege: U.S. Military Occupation and Japanese Women’s Enfranchisement,” American Quarterly 57, no. 3 (September 2005): 885-910.

[5]bell hooks, Yearning: race, gender and cultural politics, (Boston, MA: South End Press, 1990).

[6]Yến Lê Espiritu, Toward a Critical Refugee Study: The Vietnamese Refugee Subject in US Scholarship, Journal of Vietnamese Studies, no. 1-2 (Fall 2006): 410-433.

[7]Cornel West, lecture on “Race, Injustice” at Cornell University, April 2006.

Các bài khác trên Talawas:

Bịt miệng nạn nhân

Chúng tôi (Tự trào – Trí Thức – Tâm Tài)

Tôi là người Việt Nam

Thời cửu vạn, ôsin

Lết tới “thiên đường”

Những cái nhập nhằng không tên

Các bài trên Tạp chí Da Màu:

Tháng Tư Câm

Hồn ma và xương khô

Thời cửu vạn, ôsin

In Chính trị (Politics), talawas, Việt Nam on 2007/03/29 at 08:09

Nguyễn Hiếu

Talawas – 29/3/2007

Chưa bao giờ hiện tượng cửu vạn, ôsin lại phổ biến như bây giờ. Người làm công tạm cư có mặt đầy rẫy khắp nơi trên thế giới từ nước nghèo đến nước giàu. Họ được mang những tên khác nhau như làm công nhật (day laborer), làm tạm cư (migrant worker), làm hợp đồng, làm khoán. Họ từ thôn quê lên thành thị, tạm trong lúc giữa mùa hay suốt cả năm. Họ từ nước này sang nước nọ, theo hợp đồng hoặc đi chui. Họ khác nhau về màu da, tiếng nói, nhưng cảnh ngộ đều như nhau. Cảnh nghèo!

Lần đầu tiên về Việt Nam năm 1993 tôi được nghe đến từ “cửu vạn” [1] , hoàn toàn xa lạ với người sinh trưởng ở miền Nam và cắt đứt với dòng sống đó gần 15 năm, rồi được giải thích gốc rễ của từ ấy. Năm 2004, tôi viếng cảnh Sapa ngồi nói chuyện với một cô bán khoai lùi, nếp nướng, cô nói không ngừng nhờ giúp đưa vào Sài Gòn làm “ôsin”, như thể đó là phép màu ra khỏi tình cảnh bế tắc. Tôi nghe và ngầm hiểu theo ngữ cảnh trong câu chuyện và sau này tìm hiểu thêm mới biết Ôsin là tên một cô gái trong một phim truyện nhiều tập của Nhật Bản một thời được chiếu trên truyền hình Việt Nam. Ngày xưa khi tôi nghe nói về cuộc sống của những người phu khuân vác ở bến tàu, những người làm cu-li thời Pháp thuộc, những người ở đợ cho điền chủ là điển hình cho giới cùng đinh, thấp kém, bị bóc lột trong xã hội. Ai ngờ qua thế kỷ 21 những người đó nhiều như những đạo quân. Chỉ riêng Trung Quốc, trong thống kê 2003 có gần 113,9 triệu lao động tạm cư với tỉ lệ 23,2 % tổng số lao động vùng quê. [2]

Cửu Vạn Ôsin

Tại Hoa Kỳ, họ có mặt trong các tiểu bang tập trung vào nông nghiệp, gia súc, xây cất, và dịch vụ không chuyên môn. Đến các nông trại ta thấy họ làm công việc lượm, hái, đóng thùng, chất rau quả. Đến các lò súc sanh gà, heo, bò, họ làm công việc bắt, chặt, gói thịt. Đến các công trường xây cất họ làm việc đào, xúc, khuân, đổ. Đến các nhà ăn họ làm việc dọn, rửa, lau, chùi. Đến các chợ họ làm khuân vác, sắp xếp, dọn dẹp. Đến các trung tâm vật liệu xây cất, sửa sang nội thất ta thấy họ quần áo xộc xệch, ba lô cũ kỹ đứng, ngồi, tập trung ở một góc bãi đậu xe, chờ đợi một cánh tay vẫy đến đón về làm công.

Ở Dubai, một trong bẩy thủ hiến tự trị của Liên hiệp Ả-rập (United Arab Emirates), đổ đồng cứ mỗi công dân quốc gia này là có tám người làm công tạm cư chủ yếu đến từ các nước châu Á, châu Phi và Trung Đông. Họ làm tất cả mọi việc từ trong nhà ra ngoài đường, giao sữa buổi sáng, lau chùi bệnh viện, dọn đổ rác, giữ trẻ, nấu ăn, đổ móng, sửa ống nước, cắt tóc, v.v… ngoại trừ các việc làm ở công sở chính quyền. Nói chung những công việc nặng nề nhất, dơ nhất, nguy hiểm nhất.

Số phụ nữ đi làm ôsin trong nước và xuyên quốc gia cũng không kém gì lực lượng cửu vạn. Đấy là một phương thức giảm đói, một hy vọng và con đường duy nhất thoát nghèo, vì không phải ai cũng có đủ tiền, trí óc, và kiên nhẫn để mua vé cho chuyến xe học vấn ra khỏi tầng lớp nghèo. Số vốn cỏn con nếu có thì cũng để dành ưu tiên cho con trai, còn con gái phải lượm mót phần sót lại. Trong thế giới phụ hệ, phân chia lao động theo giới tính, thì phụ nữ lãnh đủ. Phụ nữ chiếm một nửa của nhân loại, nhưng vẫn là thành phần nghèo nhất của giới nghèo. Họ đóng góp khoảng 2/3 công việc trên thế giới nhưng chỉ được 1/10 lợi tức thu nhập. Họ sở hữu ít hơn 1/100 tổng tài sản. [3] Phụ nữ không chỉ bán sức lao động mà ngay thân thể họ cũng bị dùng như món hàng. Không biết bao nhiêu gia đình đã đem con gái gả, bán, chuộc nợ, gây vốn “hy sinh” cho gia đình (anh trai, em trai, ông bố). Một trong những hệ quả của cửu vạn, ôsin là cấu trúc gia đình, nền tảng của xã hội bị phá vỡ. Con cái của họ phần lớn bị tách rời không thể theo cha mẹ vì điều kiện cư trú, hộ khẩu và phải ở lại với ông bà nơi thôn quê. Ảnh hưởng tâm sinh lý do sự cách biệt đó lâu dài không lường. Vợ hoặc chồng xa cách quá lâu dẫn đến tình cảm nhạt mờ hoặc nhu cầu sinh lý, cô đơn đẩy vào liên hệ ngoại hôn.

Đã qua rồi một thời lo âu (age of anxiety) của thế kỷ 20 và bây giờ là thời sợ hãi (age of fear) của thế kỷ 21. Không còn nữa những lo âu, bất ổn về đối nghịch giữa đế quốc, thuộc địa, tự do, phát xít, và cộng sản. Đây là thời chấm dứt của ý thức hệ (the end of ideology). Cộng sản suy thoái rơi vào thùng rác của lịch sử để còn lại duy nhất một nền kinh tế thị trường của tư bản toàn cầu xuyên quốc gia. Không còn ý thức hệ nên hầu hết các nhà lãnh đạo, chính trị gia sẵn sàng quên (hay từ bỏ) lý tưởng phục vụ xã hội, quốc gia và gắn cho mình chiếc cầu vai thực dụng (pragmatist) để có chân trong thiểu số đặc quyền tư bản. Vấn nạn của thế kỷ này là tư bản toàn cầu và độc tài toàn trị. Cái nào cũng đáng sợ nhưng sợ hơn là khi cả hai liên kết với nhau và người dân “một cổ hai tròng” như theo mô hình Trung Quốc mà Việt Nam nhại lại. Một mặt độc tài toàn trị tạo giai cấp lãnh đạo cai trị với đặc quyền, đặc lợi, không giới hạn, không kiểm soát, trù dập dân chủ, giới hạn tự do. Mặt khác kinh tế thị trường lũng đoạn bởi tham nhũng, co cụm phúc lợi xã hội công cộng, tư nhân hóa giáo dục và y tế công cộng dẫn đến bất công xã hội, đào sâu cách biệt giàu nghèo, gia tăng nghèo đói. Giới lãnh đạo cai trị gián tiếp hay trực tiếp làm nhiệm vụ cò mồi móc túi. Mặt nổi của kinh tế thị trường đầy hàng hoá sung túc không lấp được một nỗi sợ bao trùm. Nhà nước sợ người dân có tự do, dân chủ phản kháng với độc tài toàn trị. Người có tiền do tham nhũng sợ bị tố, hất cẵng. Người làm ăn chân chính sợ sách nhiễu thuế má, vòi vĩnh. Tài xế sợ công an giao thông ghi phạt, giam xe, rút bằng vô lối. Hãng xưởng sợ bị mất giao kèo. Bệnh nhân sợ vào bệnh viện bị đối xử phân biệt nếu không có tiền mặt hoặc bảo hiểm. Học sinh sợ thi không đạt nếu không học tư thêm ngoài giờ. Người làm sợ bị mất việc và giai cấp lao động tê liệt không phản kháng. Một nỗi sợ về tương lai bất ổn, cản trở các toan tính hợp lý, nhất là niềm tin và hy vọng vào tương lai để có động lực chống lại những điều kiện quá quắt không chấp nhận được hiện thời. [4]

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một quái thai sanh ra từ con cái “tư bản toàn cầu bóc lột” dưới nhãn hiệu tự do và con đực “độc tài toàn trị” trên chiêu bài xã hội chủ nghĩa. Dưới chính sách kinh tế hiện nay, tư sản chân chính bị đè bẹp và tư bản đỏ thống trị dẫn đến phân hóa xã hội trầm trọng. Mở rộng thị trường để tự do cạnh tranh, chèn ép, và lừa đảo. Thị trường chứng khoán Việt Nam hiện thời là môi trường cho lừa đảo và công cụ rửa tiền (biến tiền làm ăn phi pháp, tham nhũng thành tiền chính thức) tiện nghi hợp pháp. Đó cũng là một sòng bài hợp thức hoá làm tán gia bại sản như phong trào “chim cút”, “nuôi chó”, trong đó mơ ước hão huyền từ vốn liếng nho nhỏ ăn theo bị cuốn mất trong mê man của cơn sốt bệnh hoạn. Cái bong bóng xà phòng màu sắc lung linh ấy vỡ ngay sau khi lơ lửng vài giây. Không biết định hướng xã hội chủ nghĩa như thế nào nhưng nhà cửa, đất đai của người dân bị trưng mua bồi hoàn với giá vất đi trong khi đất công hữu thì hoặc chia năm xẻ bẩy vào tay riêng hoặc chuyển nhượng cho giới đầu tư với bao bì đút túi. Nhà nước càng ngày càng tư hữu hóa những cơ chế công cộng căn bản góp vào phúc lợi xã hội như y tế, giáo dục, giao thông để dân nghèo phải nhịn cơm mua thuốc, bỏ học đi làm, mất phương tiện di chuyển mưu sinh.

Tại sao đội ngũ cửu vạn, ôshin tăng trên đà gia tốc trong khi chỉ hơn hai chục năm về trước số người làm công nhật lẻ tẻ, rời rạc không tập trung như bây giờ?

Cửu vạn và ôsin là nô lệ thời hiện đại vì “chủ nhân không cần phải chiếm hữu nô lệ mà chỉ cần mướn nô lệ” [5] . Không cần phải đô hộ chiếm đóng về không gian địa lý hoặc về thân thể, mà qua trung gian của thị trường. Kỹ nghệ hoá tạo thặng dư lao động và giới vô sản sẵn sàng cạnh tranh, giành giựt lẫn nhau để kiếm chút cháo. Các nước nghèo kém tranh giành hạn nghạch và điều kiện tối ưu để xuất cảng sang Hoa Kỳ, châu Âu. Việt Nam, Campuchia, Bangladesh tranh nhau ở hàng vải, quần áo. Tương tự ở ngành xuất khẩu tôm, cá Basa, cà phê, tiêu, v.v… Những địa phương sản xuất này được thay đổi như áo lót và sẵn vứt đi như vớ rách. Tư bản toàn cầu xuyên quốc gia nắm giữ phương tiện sản xuất, phân phối, quyết định chỉ số sản xuất, và ấn định giá thành. Giới tiêu thụ được tự do lựa chọn và mua dùng. Những hình thức khuyến mãi tiêu thụ tạo thèm muốn cho giới tiêu thụ, từ người có của cho đến kẻ nghèo khó, từ lúc sơ sinh cho đến khi về trời. Mọi người có cảm giác bình đẳng với nhau và tự do lựa chọn trên mặt bằng tiêu thụ. [6] Nhưng quyền tự do và bình đẳng trên lãnh vực khác thì không thấy đâu. Người làm công tầm tầm vẫn có thể dành dụm mua quần Calvin Klein, ví tay Coach, đeo kiếng Chanel cứ như là người mẫu. Nhưng chỉ cần một tai biến như cơn bệnh nặng của cá nhân hoặc gia đình thì các món hàng sở hữu được đem đi cầm, bán đổ bán tháo, gia nhập vào đám đông nghèo khó không có một phúc lợi xã hội nào đỡ đần.

Việt Nam gia nhập WTO và ký những hiệp ước thương mại trong vùng, đặt chân lên con tàu tốc hành tư bản kinh tế thị trường, nhưng có lẽ đã vào toa sau cùng dành cho người phục vụ. Đội quân cửu vạn, ôsin sẵn sàng thay thế người gục ngã.

Chẳng lẽ dân tộc Việt Nam không đáng được một nhà nước pháp quyền, tự do, dân chủ với cơ cấu phúc lợi xã hội công cộng vững chắc và các tổ chức hiệp hội nông dân, công đoàn, chính trị, tôn giáo, báo chí, truyền thông, văn bút, nghệ thuật độc lập, tự trị, để tiếng nói của mỗi người dân mọi giới góp vào xây dựng một xã hội ấm no, hạnh phúc, và công bằng?

© 2007 talawas

http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=9597&rb=0502

Bài dịch Anh ngữ: The Age of Day Laborer and Housemaid

CHÚ THÍCH:

[1] Hình ảnh nữ ‘cửu vạn’ trong ngày 8/3 (VnExpress.net)

[2] China had 113.9 million migrant workers in 2003 (Xinhua 2004-05-15)

[3]Paul Ekins, A New World Order: Grassroots Movements for Global Change (New York: Routledge, 1992), p. 74.

[4] Pierre Bourdieu, Acts of Resistance – Against the Tyranny of the Market, (New York: The New Press, 1998), p. 82.

[5] Harvest of Shame, 1960

[6] Zillah Eisenstein, global obscenities, (New York: New York University Press, 1998), p. 46.

 

Everyday Life-Global Capitalism_1

Các bài khác trên talawas:

Bịt miệng nạn nhân

Chúng tôi (Tự trào – Trí Thức – Tâm Tài)

Tôi là người Việt Nam

Những cái nhập nhằng không tênThe Unspoken Ambiguities

Lết tới “thiên đường”

Phản bội hay trung thành với lý tưởng?

Đọc tiếp »