vietsoul21

Archive for the ‘Thế giới’ Category

Aung San Suu Kyi – Tự do khỏi nỗi khiếp sợ

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Thế giới on 2012/06/08 at 07:18

Lâm Yến dịch

Không phải quyền lực làm cho tha hóa, mà chính là sự khiếp sợ. Sự khiếp sợ đánh mất quyền lực làm tha hóa những kẻ đang nắm trong tay quyền lực và sự khiếp sợ bị quyền lực trừng phạt làm tha hóa những người đang nằm dưới tay quyền lực. Đại đa số người Miến quen thuộc với bốn gati, bốn hình thức của tha hóa. Changda-gati (Tham), sự tha hóa bắt nguồn từ lòng ham muốn, là sự từ bỏ chính đạo để tìm kiếm tặng vật bất chính hay những thứ mình thèm khát. Dosa-gati (Sân) là việc đi vào lạc đạo nhằm trừng phạt những người mà mình ghét bỏ, Moga-gati (Si) là sự sai lầm do si đần. Nhưng có lẽ cái tồi tệ nhất trong bốn hình thức tha hóa là Bhaya-gati (Úy), không phải chỉ vì bhaya (sự khiếp sợ) làm tê cứng và dần phá hủy tất cả các cảm giác về đúng-sai, mà nó thường là nguồn cơn của ba hình thức tha hóa còn lại. Giống như Tham, khi không bắt nguồn từ tính hám lợi thuần túy thì có thể là sản phẩm của sự khiếp sợ cảnh nghèo túng hoặc sợ làm phật lòng những người mình yêu quí, sự khiếp sợ bị vượt qua, bị lăng nhục hoặc thương tổn theo cách nào đó có thể xô đẩy con người đến những ác ý. Cũng khó có thể xua tan u mê trừ phi có tự do theo đuổi chân lý và không bị trói buộc bởi sự khiếp sợ. Với quan hệ gần gũi đến thế giữa sự khiếp sợ và tha hóa, không có gì phải ngạc nhiên là ở bất kỳ xã hội nào, khi sự khiếp sợ lan tràn, tha hóa dưới mọi hình thức sẽ bám rễ sâu trong lòng xã hội.

Việc công chúng không hài lòng với những khó khăn kinh tế vẫn được nhìn nhận là nguyên nhân chính dẫn tới phong trào đòi dân chủ ở Miến, được châm ngòi bởi những cuộc biểu tình của sinh viên năm 1988. Đúng là nhiều năm với những chính sách thiếu ăn nhập, các giải pháp sai lạc của chính quyền, lạm phát leo thang và thu nhập thực tế tụt giảm đã đưa đất nước đến tình trạng khủng hoảng kinh tế. Nhưng không phải những khó khăn trong việc nâng cao hơn mức sống – ở mức gần như không thể chấp nhận được – là lý do duy nhất xói mòn lòng kiên trì của người dân vốn đôn hậu và hiền lành, mà còn do sự lăng nhục bởi một lối sống bị biến dạng bởi tha hóa và khiếp sợ.

Các sinh viên đã đấu tranh không phải thuần túy vì cái chết của các đồng chí, mà còn chống lại sự phủ nhận quyền được sống của họ bởi chính thể toàn trị – một chính thể đã tước đi sự hiện diện của lẽ phải và không đem đến bất kỳ một hi vọng nào cho tương lai. Và vì các cuộc tranh đấu của sinh viên đã truyền tải rõ ràng sự thất vọng của công chúng, những cuộc biểu tình này lan nhanh thành một phong trào toàn quốc. Một trong những người ủng hộ nhiệt thành nhất cho phong trào là các doanh gia, những người đã hình thành những kỹ năng và quan hệ cần thiết để không chỉ tồn tại mà còn giàu có trong hệ thống. Nhưng sự giàu có không đem đến cho họ cảm nhận thực sự về an ninh và thành đạt, và họ không thể không nhận thấy rằng nếu họ và đồng bào họ, bất kể địa vị kinh tế, muốn có được một sự sinh tồn khả dĩ thì một bộ máy nhà nước khả tín ít ra phải là điều kiện cần, nếu không phải là điều kiện đủ. Người dân Miến đã lo ngại về tình trạng bấp bênh của kẻ nằm dưới sự trị vì của người khác, khi mà thân phận họ “như nước trong bụm tay” của những kẻ nắm quyền lực tối cao.

Chúng ta đẹp xanh như ngọc 
Trên bụm tay người 
Nhưng ôi, chúng ta cũng có khi là 
Những vụn gương vỡ nát 
Trên bụm tay người

Các vụn gương, những mảnh nhỏ nhất, óng ánh và sắc nhọn, có thể tự bảo vệ mình khỏi những bàn tay muốn nghiền nát chúng là một biểu trưng sống động của tinh thần can đảm, một phẩm chất cần thiết của những người muốn giải phóng mình khỏi sự kìm kẹp của bạo quyền. Bogyoke Aung San coi mình là một nhà giải phóng và không ngừng tìm kiếm câu trả lời cho những trở ngại mà Miến Điện gặp phải trong thời khắc thử thách của dân tộc. Ông hô hào đồng bào mình hãy can đảm hơn: “Hãy đừng lệ thuộc vào lòng can đảm và tinh thần dũng cảm của người khác, mỗi người trong các bạn hãy biết hi sinh để trở thành một anh hùng và tạo dựng sự dũng cảm và can đảm của chính mình. Chỉ đến khi đó chúng ta mới có thể cùng chung hưởng tự do thực sự”.

Nỗ lực cần thiết để tránh không bị tha hóa – trong một môi trường mà sự khiếp sợ là một phần máu thịt của sự tồn tại hàng ngày – không tức khắc rõ ràng với những người có may mắn sống trong những nhà nước có sự hiện diện của pháp quyền (rule of law). Luật pháp công minh không chỉ ngăn chặn sự tha hóa thông qua việc trừng phạt không thiên vị những kẻ phạm pháp. Luật pháp còn giúp tạo dựng một xã hội mà trong đó mọi người có thể thỏa mãn những yêu cầu căn bản-vốn thiết yếu cho việc bảo tồn nhân phẩm con người mà không cần phải cầu viện đến những hành vi tha hóa. Khi thiếu vắng luật pháp như thế, gánh nặng gìn giữ các nguyên tắc của công lý và sự đoan chính chuyển sang vai những con người bình thường. Chính hiệu ứng tích lũy những nỗ lực bền bỉ và sự nhẫn nại sẽ thay đổi một dân tộc – nơi lý trí và lương tri bị bóp méo bởi sự khiếp sợ – sang một xã hội mới- nơi luật pháp tồn tại là để đáp ứng khát vọng của con người về sự hòa hợp và công lý, trong khi giúp ngăn chặn những tính ác trong bản chất thiên bẩm của con người.

Trong một thời đại mà sự phát triển lớn lao của kỹ nghệ đã tạo ra những vũ khí chết người-những thứ có thể được, và đang được, những kẻ nắm quyền vô đạo dùng để thống trị kẻ yếu và không có khả năng tự vệ, có một đòi hỏi cấp thiết về mối quan hệ gần gũi hơn giữa chính trị và đạo đức, trên cả cấp độ dân tộc và quốc tế. Tuyên ngôn Nhân quyền Toàn cầu của Liên hợp Quốc khẳng định rằng tất cả mọi người và mọi hợp phần của xã hội phải đấu tranh nhằm thúc đẩy tự do và các quyền cơ bản mà theo đó mọi người, bất kể chủng tộc, quốc gia và tôn giáo đều được hưởng. Tuy nhiên, chừng nào còn tồn tại các chính quyền được thiết lập dựa trên sự áp bức thay vì sự chấp thuận của công chúng, chừng nào còn tồn tại các nhóm lợi ích chỉ biết đặt lợi ích trước mắt lên trên hòa bình và thịnh vượng lâu dài, thì hành động phối hợp quốc tế bảo vệ và phát huy quyền con người bất quá chỉ là một nửa cuộc đấu tranh. Vẫn sẽ có những đấu trường nơi các nạn nhân của bạo quyền phải tự dựa vào những nội lực của chính họ để bảo vệ các quyền bất khả nhượng với tư cách là những thành viên của gia đình nhân loại.

Cuộc cách mạng rốt ráo là cuộc cách mạng trong tinh thần, được khai sinh từ niềm tin trí tuệ về nhu cầu cần phải thay đổi các thái độ và các giá trị – những thứ định hình tiến trình phát triển của một dân tộc. Một cuộc cách mạng chỉ tập trung vào thay đổi các chính sách của nhà nước và các thể chế, với mục tiêu cải thiện các điều kiện vật chất, sẽ chỉ có rất ít cơ hội thành công thực sự.

Thiếu vắng cuộc cách mạng trong tinh thần, nguồn gốc tạo ra cái vô đạo của trật tự cũ vẫn sẽ tiếp tục vận hành, gây ra một đe dọa thường trực cho quá trình cải cách và phục hồi. Sẽ không đủ nếu chỉ cổ súy cho tự do, dân chủ và các quyền con người. Cần có quyết tâm thống nhất nhằm duy trì cuộc đấu tranh, chấp nhận hi sinh vì chân lý vững bền, chống lại các ảnh hưởng tha hóa của lòng ham muốn, của ác ý, của si đần và sự khiếp sợ.

Người ta từng nói rằng các vị Thánh là những tội nhân luôn cố gắng [rửa sạch lỗi lầm của mình]. Vì thế, người tự do là những người bị áp bức luôn cố gắng và trong quá trình đó, chuyển hóa mình để thích hợp với việc gánh vác các trách nhiệm và gìn giữ các nguyên tắc cho một xã hội tự do. Trong số những sự tự do cơ bản mà con người mong ước nhằm tạo dựng một cuộc sống tràn đầy và không bị trói buộc, tự do khỏi khiếp sợ nổi lên là một phương tiện, đồng thời là mục đích. Một dân tộc muốn xây dựng một đất nước mà trong đó các thể chế dân chủ mạnh được xây dựng bền vững như là một bảo đảm chống lại sự lạm quyền của nhà nước thì trước hết phải học cách giải phóng tâm mình khỏi sự vô cảm và sự khiếp sợ.

Luôn là một người thực hành những gì mình kêu gọi, bản thân Aung San luôn chứng tỏ sự can đảm – không chỉ là những biểu hiện bên ngoài, mà còn là sự can đảm cho phép ông nói lên sự thật, giữ lời, chấp nhận phê bình, thừa nhận những lỗi lầm mình có và sửa chữa, tôn trọng đối lập, hòa đàm với kẻ thù và để dân chúng vào vị trí quan tòa phán xét sự xứng đáng của ông trong vai trò lãnh đạo. Chính vì sự dũng cảm đạo đức như thế mà ông luôn được kính yêu ở Miến – không chỉ với tư cách là một chiến binh anh hùng mà còn với tư cách là nguồn cảm hứng và lương tri cho cả dân tộc. Những từ ngữ do Jawaharlal Nehru sử dụng khi nói về Thánh Gandhi có thể áp dụng tốt trong trường hợp của Aung San:

“Tinh hoa trong các bài giảng của ngài là sự không khiếp sợ và sự thật, cùng với các hành động thống nhất với hai yếu tố này [trong khi vẫn] luôn quan tâm đến phúc lợi của đám đông”.

Gandhi, nhà truyền giáo vĩ đại của tư tưởng bất bạo động, và Aung San, người sáng lập quân đội quốc gia, là hai người có tính cách rất khác nhau, nhưng cũng giống như có sự tương đồng hiển nhiên trong những thách thức của chế độ toàn trị ở bất kỳ đâu, bất kỳ lúc nào, thì cũng có những tương đồng trong các phẩm chất vốn có ở những người đứng lên đối mặt với những thách thức ấy. Nehru, người nhìn nhận việc lan truyền lòng can đảm trong dân chúng Ấn là một trong những thành tựu vĩ đại nhất của Gandhi, là một nhà chính trị canh tân, nhưng khi ông tiếp cận với các đòi hỏi của phong trào đòi độc lập trong thế kỉ hai mươi, ông đã nhận thấy là mình quay trở về với triết học cổ điển Ấn: “Món quà lớn nhất cho một cá nhân hay một dân tộc… là Abhaya, không khiếp sợ, không thuần túy là sự can đảm bề ngoài, mà còn là sự vắng bóng sự khiếp sợ trong tâm”.

Sự can đảm có thể là một món quà, nhưng có lẽ còn quý giá hơn nếu can đảm được khơi lên từ sự nỗ lực, thứ can đảm đến từ việc gieo trồng thói quen không để sự khiếp sợ kiểm soát hành vi của mình, thứ can đảm có thể được miêu tả bằng “tự tại trước áp lực” – sự tự tại được làm mới liên tục ngay khi đối mặt với những áp lực căng thẳng và dai dẳng.

Trong một hệ thống chính trị luôn chối bỏ sự tồn tại của các quyền con người cơ bản, sự khiếp sợ có vẻ như là thuộc tính nổi bật. Sợ tù đày, sợ tra tấn, sợ cái chết, sợ bị mất đi những bạn bè, gia đình, tài sản hay phương tiện sống, sợ đói nghèo, cô lập, trước thất bại. Hình thức quỷ quyệt nhất của sự khiếp sợ là hình thức ngụy trang dưới mặt nạ common sense (lẽ thường) hoặc thậm chí là sự thông thái, kết án những hành vi can đảm bé nhỏ thường nhật – những hành vi giúp bảo toàn niềm tự trọng và phẩm giá ẩn chứa trong mỗi con người – là [những hành vi] ngu ngốc, khinh suất, không đáng giá hoặc vô ích. Không dễ dàng để quần chúng đang khiếp sợ dưới sự cai trị hà khắc hiểu rằng họ có thể tự giải thoát mình khỏi bầu khí độc của sự khiếp sợ hãi đang làm họ kiệt sức. Ấy thế mà ngay cả khi dưới sự đàn áp của những bộ máy cai trị hà khắc nhất, tinh thần can đảm vẫn trỗi dậy hết lần này qua lần khác, vì sự khiếp sợ không phải là trạng thái tinh thần tự nhiên của một người văn minh.

Suối nguồn của lòng can đảm và sự vững vàng trước bạo quyền vô hạn độ thường là lòng tin son sắt vào các giá trị đạo đức thiêng liêng kết hợp với sự hiểu biết lịch sử rằng dù cho mọi khó khăn, lịch sử loài người được đặt trên một lộ trình duy nhất là sự tiến bộ cả về tinh thần lẫn vật chất. Chính khả năng tự cải biến và sửa sai là yếu tố quan trọng nhất phân biệt con người với con vật. Cội rễ của trách nhiệm người là khái niệm hoàn mỹ, sự khao khát đạt được nó, sự thông tuệ để tìm đường đến với nó, và sự sẵn lòng đi theo con đường đó cho tới đích cuối cùng, hoặc ít ra cũng đi được khoảng cách cần thiết để vượt lên trên các giới hạn cá nhân và các trở ngại của môi trường. Chính viễn kiến của con người về thế giới tương thích với nhân tính duy lý và văn minh đã dẫn chúng ta đến chỗ dám chịu đựng mất mát để xây dựng các xã hội tự do khỏi đói nghèo và khiếp sợ. Các khái niệm như sự thực, công lý và lòng trắc ẩn không thể bị loại trừ vì lặp đi lặp lại quá nhiều trong khi chúng thường là những bức tường thành duy nhất hiên ngang chống lại bạo quyền.

__________________

Tiểu Luận “Tự do khỏi nỗi khiếp sợ” của Aung San Suu Kyi lần đầu được phổ biến để xuất bản với mục đích kỷ niệm Giải thưởng Sakharov vì Tự do Tư tưởng mà Nghị viện Châu Âu trao tặng. Lễ trao giải diễn ra tại Strasbourg vào ngày 10 tháng Sáu 1991 mà không có sự hiện diện của bà.

Nguyên bản tiếng Anh: Freedom From Fear
Nhóm Duy Tân Trẻ giữ bản quyền của bản dịch tiếng Việt

Bài đã đăng trên talawas ngày 23.4.2005

Nguồn: pro&contra

Ngu

Phạm Thị Hoài – Đọ sức

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Thế giới, Việt Nam on 2012/05/24 at 12:57

Phạm Thị Hoài

Viết cho Người Buôn Gió

Đó là một cuộc đọ sức giữa hai đối thủ hoàn toàn không cân xứng: bên này là một nhà nước đầy quyền lực, sức mạnh và sẵn sàng nghiền nát bất kể ai và bất kể điều gì nó không ưng ý; bên kia là một con người bình thường, một cá nhân vô danh nhỏ bé.

Cuộc đọ sức không diễn ra ở lĩnh vực thường được gọi là chính trị. Bạn, cá nhân nhỏ bé kia chưa bao giờ là một nhà chính trị, lại càng không là một kẻ âm mưu, một kẻ chống phá nhà nước. Suốt cuộc đọ sức, bạn ở vị trí phòng thủ, không muốn gì hơn là được giữ những gì mà bạn coi là tính cách của mình, cuộc đời của mình và danh dự cá nhân của mình, dù hay hay dở.

Những thứ ấy đều bị nhà nước thường xuyên xâm phạm, bằng những phương tiện thừa thô thiển và lố bịch, nhưng không bao giờ thiếu dã man. Trấn áp và đe dọa, để buộc bạn phải từ bỏ bạn bè cùng chí hướng, phải gột rửa quan điểm riêng để tiếp thu những quan điểm theo chỉ đạo, phải xưng hô không như bạn thuận miệng, phải sinh hoạt trái với sở thích, phải dành thời gian cho những hoạt động mà bạn ghê tởm, phải tham gia những phong trào mà bạn dị ứng, phải học tập những tấm gương mà bạn chán ghét, phải tuân thủ những quy định mà bạn thấy phi lí, phải tán thành những điều mà bạn cho là ngu xuẩn… Và nhất là phải đầy biết ơn và hân hoan khi được nhà nước cho phép làm tất cả những điều phải làm đó.

Nhưng bạn không chịu. Bạn chẳng tha thiết với vai nạn nhân và không sắm sửa gì cho nó. Không bẩm sinh là một người hùng, lại càng không bẩm sinh là một kẻ tuẫn nạn, bạn thuần túy là một con người bình thường, với nhiều nhược điểm, đã thế lại còn là sản phẩm của một thời bạc nhược. Nhưng đơn giản là bạn không chịu. Và thế là bạn chấp nhận đọ sức. Chẳng sung sướng gì, đúng ra là phải tặc lưỡi mà chấp nhận, nhưng với một quyết tâm thầm lặng là không đầu hàng. Bạn yếu hơn đối thủ rất nhiều, đương nhiên, nhưng bạn lại linh hoạt hơn. Trong khi cái nhà nước đồ sộ cồng kềnh kia cần kha khá thao tác để có thể vặn cổ bạn thì bạn đã thụp xuống rồi lại vọt lên nhiều lần. Bạn biết né đòn và đánh lạc hướng. Bạn biết giữ thăng bằng và thoát hiểm trong gang tấc. Và ở bước đường cùng bạn cũng biết đem những phần thân thể đã trơ đòn ra chịu trận để che chở cái lõi nhạy cảm nhất, trong tận cùng tâm hồn bạn, cái làm nên con người cá nhân của bạn và bạn quyết giữ không cho nhà nước xâm phạm.

Cuộc đọ sức của bạn với cái nhà nước đó không phải là trường hợp cá biệt. Từ hơn nửa thế kỉ nay tại Việt Nam, hàng ngàn hay hàng trăm ngàn những cuộc đọ sức như thế đã diễn ra ở nhiều phạm vi và cấp độ; mỗi cuộc là một cá nhân đơn lẻ chỉ tìm cách bảo vệ danh dự riêng và con người cá nhân của mình, chống lại sự xâm phạm của một nhà nước hằn thù và siêu quyền lực; mỗi cuộc đều tuyệt đối cô lập và đóng kín trước công luận. Một số người, có thể nhiều khí chất anh hùng hơn hay quyết tuẫn nạn hơn, đã đi xa hơn bạn: họ đã vào đến trại cải tạo và nhà tù, đã đứng trong danh sách dự bị cho những tượng đài tương lai. Những người khác thì bỏ cuộc sớm hơn. Từ lâu họ đã trở thành những đảng viên cáu kỉnh hay các cán bộ tuyên truyền trệu trạo nhai sống khẩu hiệu và phàn nàn về rối loạn tiêu hóa.

*

Phần lớn đoạn văn trên đây không phải của tôi. Tôi chỉ diễn đạt lại và đặt vào khung cảnh Việt Nam lời mở đầu cuốn tự truyện của một người Đức thời Quốc xã[1]. Khi Hitler lên cầm quyền, tác giả là một sinh viên luật mới ra trường và đang thực tập tại Kammergericht, Tòa Thượng thẩm Berlin, biểu tượng kiêu hãnh của nền luật pháp Đức trước khi cuộc cách mạng màu nâu đồng hóa mọi lãnh vực xã hội vào ý hệ và tổ chức Nazi. Những tháng chứng kiến sự tàn phá thiết chế luật pháp tối cao, đầy uy tín và truyền thống này là trải nghiệm then chốt, khiến chàng thanh niên 25 tuổi Sebastian Haffner, con nhà lành, ít quan tâm đến chính trị hơn văn chương nghệ thuật, quyết định đọ sức với cái nhà nước tử thần đó. Tòa thượng thẩm ấy nổi tiếng vì 150 năm trước đó, hội đồng thẩm phán của nó đã thà vào nhà đá chứ quyết không vì lệnh vua mà sửa một bản án mà họ tin là đúng đắn. Huyền thoại kể rằng, khi xây dựng cung điện mùa hè nổi tiếng Sans Soucis ở Potsdam, vị vua Phổ cũng đầy huyền thoại là Friedrich Đại Đế muốn phá chiếc cối xay gió ở gần lâu đài để giải phóng mặt bằng. Vua ngỏ ý muốn mua lại. Chủ cối xay gió không muốn bán. Vua dọa, ngươi không bán thì ta tịch thu. Chủ cối xay gió đáp: Vâng, nhưng xin bệ hạ đừng quên rằng còn có Tòa Thượng thẩm Berlin. Đến hôm nay chiếc cối xay gió ấy vẫn còn nguyên, ngay cạnh lâu đài vua Phổ. Vài tháng sau khi thay máu Quốc xã, cũng Tòa Thượng thẩm ấy chỉ còn là sân khấu cho những phiên tòa phô diễn của Tòa án Nhân dân (Volksgerichtshof).

Sebastian Haffner lưu vong năm 1938, khi nước Đức Quốc xã ở đỉnh cao quyền lực. Ông đã không thắng trong cuộc đọ sức. Bảy năm sau, đối thủ của ông đầu hàng.

© 2012 pro&contra


[1] Sebastian Haffner, Geschichte eines Deutschen. Die Erinnerungen 1914-1933, dtv, München 2002

 

 

BS Hồ Hải – Sự Chuyển Hướng Của Miến Điện

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Thế giới on 2012/03/09 at 09:15

Bài viết gc: Burma’sTurn

Joseph E. Stiglitz là giáo sư tại Đại học Columbia University, một người đoạt giải Nobel kinh tế, và là tác giả của cuốn Rơi tự do: Thị trường tự do sự sa lầy của nền kinh tế toàn cầu (Freefall: Free Markets and the Sinking of the Global Economy).

YANGON – Myanmar (Miến Điện), nơi mà sự thay đổi chính trị đã bị trầm buồn lặng lẽ trong nửa thế kỷ qua, một nhà lãnh đạo mới đang cố gắng nắm lấy quá trình chuyển đổi nhanh chóng từ bên trong. Chính phủ đã giải phóng tù nhân chính trị, đã tổ chức các cuộc bầu cử (bằng đa nguyên trong cách thực hiện), đã bắt đầu cải cách kinh tế, và mạnh mẽ tán tỉnh đầu tư nước ngoài.

Dễ hiểu thôi, cộng đồng quốc tế, từ lâu đã trừng phạt chế độ độc đoán của Myanmar, nên vẫn còn thận trọng. Cải cách đang được đưa đến quá nhanh mà ngay cả các chuyên gia nổi tiếng trên cả đất nước Miến Điện cũng không chắc chắn về những gì họ đang làm.

Nhưng nó quá rõ ràng với tôi rằng thời điểm này trong lịch sử Miến Điện là một cơ hội thực sự cho sự thay đổi vĩnh viễn – một cơ hội mà cộng đồng quốc tế không được bỏ lỡ. Đó là thời khắc cho thế giới chuyển động các chương trình nghị sự cho Miến Điện tiến về phía trước, không chỉ bằng cách cung cấp hỗ trợ, mà còn phải loại bỏ các hình thức xử phạt đã trở thành một trở ngại cho sự chuyển đổi của Miến Điện.

Cho đến nay, chuyển đổi đó, đã bắt đầu sau cuộc bầu cử lập pháp vào tháng Mười Một năm 2010, rất ngoạn mục. Với quân đội, họ đã độc nắm quyền lực từ năm 1962, hiện còn giữ lại khoảng 25% số ghế, có lo ngại rằng cuộc bầu cử sẽ là trò diễn tuồng. Nhưng chính phủ mới lên đã cố gắng hết sức mình để đáp lại những mối quan tâm cơ bản của công dân Miến Điện tốt hơn nhiều lần so với những gì đã được tiên liệu.

Dưới sự lãnh đạo của Tổng thống mới, Thein Sein, các cơ quan chức năng đã đáp ứng những lời kêu gọi cho một cỡi mở chính trị và kinh tế. Tiến bộ đã được thực hiện trên thỏa thuận hòa bình với quân nổi dậy của dân tộc thiểu số – những cuộc xung đột bắt nguồn từ trong chiến lược chia đề trị và nắm quyền lực của chủ nghĩa thực dân, cái mà những nhà cầm quyền sau khi được trả độc lập vẫn duy trì trong hơn sáu thập kỷ qua. Người đoạt giải Nobel Bà Aung San Suu Kyi đã không chỉ được trả tự do từ việc bị quản thúc tại gia, mà hiện đang còn ráo riết vận động cho một ghế quốc hội trong cuộc bầu cử tháng tư.

Trên mặt trận kinh tế, minh bạch chưa từng thấy đã được trình bày trong tiến trình chi tiêu ngân sách. Chi phí chăm sóc y tế và giáo dục đã được tăng gấp đôi, mặc dù trên một mặt bằng thấp. Sự hạn chế cấp phép trong một số lĩnh vực quan trọng đã được nới lỏng. Chính phủ đã cam kết chuyển động theo hướng thống nhất hệ thống tỷ giá hối đoái phức tạp.

Tinh thần của hy vọng trong nước có thể sờ thấy được, mặc dù một số người lớn tuổi vẫn còn thận trọng, vì họ đã từng nhìn thấy những khoảnh khắc nới lỏng rõ ràng đến và đi trước đó của chế độ độc tài. Có lẽ đó là lý do tại sao một số cộng đồng quốc tế còn do dự về việc giảm bớt sự cô lập đối với Miến Điện. Tuy nhiên, hầu hết nhận thức rằng, Miến Điện nếu những thay đổi được kiểm soát tốt, đất nước này sẽ hội nhập vào một tiến trình không thể đảo ngược.

Trong tháng Hai, tôi tham gia một hội thảo tại Yangon (Rangoon) và ở thủ đô mới được xây dựng gần đây – Naypyidaw(1) – được tổ chức bởi một trong những nhà kinh tế hàng đầu của Miến Điện – U Myint(2). Các sự kiện là trọng yếu, do nhờ vào ở cả hai yếu tố số lượng cử tọa lớn và tích cực tham gia (hơn một ngàn ở Yangon), với các bài thuyết trình đầy chu đáo và cảm động bỡi 2 nhà kinh tế nổi tiếng thế giới của Miến Điện, những người đã rời bỏ đất nước trong những năm 1960s và đã trở lại đầu tiên sau hơn bốn thập kỷ tha hương.

Đồng nghiệp của tôi ở Đại học Columbia – Ronald Findlay – đã giới thiệu cho tôi lưu ý đến một trong hai người này, Hla Myint 91 tuổi(3), người đã giữ vị trí một giáo sư tại Trường Kinh tế London, là cha đẻ của phát minh ra chiến lược phát triển thành công nhất của một nền kinh tế mở và tăng trưởng xuất khẩu. Một chiến lược mà đã được thực hiện chi tiết trên toàn châu Á trong những thập kỷ gần đây, đáng chú ý nhất là ở Trung Quốc. Có lẽ bây giờ, cuối cùng nó cũng đã trở lại quê nhà.

Tôi đã có một bài thuyết trình tại Miến Điện vào tháng Mười Hai năm 2009. Vào thời điểm đó, họ phải cẩn thận, vì những nhạy cảm của chính phủ, ngay cả về phương cách để điều chỉnh những vấn đề của quốc gia nghèo đói, kém năng suất ở nông thôn, và lực lượng lao động không có tay nghề. Bây giờ thận trọng đã được thay thế bởi một nhận thức cấp bách trong việc đối phó với những thách thức khác, và những ý thức về sự cần thiết cho các dạng hỗ trợ khác và kỹ thuật. (So với dân số và thu nhập của mình, Miến Điện là một trong những nước nhận hỗ trợ quốc tế nhỏ nhất thế giới.)

Có nhiều cuộc tranh luận về cái mà giải thích được tốc độ thay đổi nhanh chóng hiện nay của Miến Điện. Có lẽ các nhà lãnh đạo nhận ra rằng đất nước này, đã có một thời là nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, và đã và đang tụt hậu xa so với các nước láng giềng. Có lẽ họ đã nghe thông điệp của mùa xuân Ả Rập, hoặc chỉ đơn giản hiểu rằng, với hơn ba triệu người Miến Điện sống ở nước ngoài, là cái mà không thể cô lập được quốc gia với phần còn lại của thế giới hoặc ngăn chặn những ý tưởng đang rò rỉ sang từ các nước láng giềng. Dù là lý do gì thì, thay đổi đang xảy ra, và cơ hội mà Miến Điện thể hiện là không thể phủ nhận.

Tuy nhiên, nhiều lệnh trừng phạt quốc tế, bất cứ vai trò gì của những lệnh trừng phạt này trong quá khứ, bây giờ dường như phản tác dụng. Ví dụ, biện pháp trừng phạt tài chính đối với Miến Điện, nó ngăn cản sự phát triển một hệ thống tài chính hiện đại và minh bạch, để hòa nhập với phần còn lại của thế giới. Nền kinh tế dựa trên sử dụng tiền mặt sẽ đem đến hậu quả như là một lời mời mọc đối với tham nhũng.

Tương tự như vậy, những hạn chế mà nó ngăn chặn các công ty có trách nhiệm xã hội ở các nước công nghiệp tiên tiến đến kinh doanh tại Miến Điện, khiến những công ty thận trọng đã rời bỏ thị trường mở cửa. Chúng ta nên hoan nghênh mong muốn Miến Điện để họ được hướng dẫn và tư vấn từ các tổ chức đa phương và Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc; thay vì, chúng ta cứ tiếp tục hạn chế vai trò của các tổ chức này có thể tham gia trong quá trình chuyển đổi của đất nước này.

Bất cứ khi nào chúng ta từ chối hỗ trợ hoặc trừng phạt, chúng ta cần phải suy nghĩ cẩn thận về những người mang gánh nặng trong việc mang lại những thay đổi mà chúng ta tìm kiếm ở Miến Điện. Mở cửa thương mại trong nông nghiệp và dệt may – và thậm chí cung cấp các loại ưu đãi đã từng giúp đỡ cho các nước nghèo khác – có khả năng sẽ mang lại lợi ích trực tiếp cho 70% dân số Miến Điện là nông dân nghèo, cũng như tạo công ăn việc làm mới cho họ. Giàu có và hùng cường có thể phá vỡ các biện pháp trừng phạt tài chính, mặc dù phải trả giá; thường dân không thể dễ dàng thoát khỏi sự ảnh hưởng của tình trạng hạ đẳng của quốc tế(international-pariah status).

Chúng ta đã nhìn thấy mùa xuân Ả Rập trổ hoa ngập ngừng ở một vài quốc gia; ở những quốc gia khác, Mùa Xuân Ả Rập vẫn còn chưa chắc chắn liệu nó có sẽ mang lại quả ngọt. Quá trình chuyển đổi của Miến Điện là trong một số cách bình yên hơn, mà không có sự phô trương của Twitter và Facebook, nhưng nó rất hiện thực – và không kém phần xứng đáng để hỗ trợ.

Bản quyền: Project Syndicate, 2012.
http://www.project-syndicate.org

Ghi chú của người dịch:

1. Naypyidaw: còn được viết là Nay Pyi Taw. Là thủ đô mới được xây dựng của Miến Điện được chính quyền quân sự Miến Điện công nhận từ ngày 06 tháng Một năm 2006, và đưa vào sử dụng từ ngày 26 tháng ba năm 2006. Theo tiếng Miến Điện nó có nghĩa là “Thành phố Hoàng gia”. Trước đây thủ đô Miến Điện ở thành phố cảng Yangon, là thành phố đông dân và lớn nhất ở Miến Điện.

2. U Myint: là một nhà kinh tế nổi tiếng ở trong nước của Miến Điện. Ông được xem là kiến trúc sư cho sự nghiệp đổi mới hiện nay của Miến Điện. Ông hiện là cố vấn kinh tế cao cấp cho tổng thống Thein Sein, người chủ trương cải cách. Trong khi Ông U Myint là cầu nối cho trí thức Miến Điện trong nước và toàn cầu chung tay xây dựng lại đất nước Miến Điện, thì tổng thống Thein Sein là con người làm công việc hòa giải dân tộc sau bao nhiêu năm bị chế độ độc tài quân sự làm dân tộc Miến Điện bị chia rẻ.

 

3. Hla Myint: như bài viết đã giới thiệu, Ông Hla Myint và bà Aung San Suu Kyi là 2 trong những niềm tự hào của Miến Điện trên trường thế giới mà ở khối Asean chưa nước nào có được. Ông Hla Myint bảo vệ đề tài tiến sĩ về lý thuyết kinh tế thịnh vượng (Theories of Welfare Economics) năm 1948. Năm 1971 Ông đưa ra Lý thuyết kinh tế và các nước kém phát triển (Economic Theory and the Underdeveloped Countries). Và cũng trong năm sau đó ông cho ra đời lý thuyết Kinh tế của khu vực Đông Nam Á: Chính sách phát triển trong những năm 1970s (Southeast Asia’s Economy: Development Policies in the 1970s). Lý thuyết này trở thành giáo khoa kinh điển trong giảng dạy đại học với cuốn: Penguin Modern Economics Texts do Penguin Books xuất bản năm 1972. Ông đã từng là giáo sự của University of Rangoon và là cố vấn kinh tế cho chính phủ sau khi được trao trả độc lập 1948 cho đến năm 1962 chính phủ dân sự bị quân đội lật đổ. Ông Hla Myint bỏ đất nước ra đi và làm giáo sự tại London School of Economics, nơi mà ông Lý Quang Diệu đã từng học nửa chừng thì chuyển sang học luật. Dù bỏ đất nước ra đi, nhưng Ông Hla Myint luôn giữ quốc tịch của mình là quốc tịch Miến Điện mà không nhập quốc tịch Anh. Điều này thể hiện tấm lòng yêu nước của một trí thức chân chính hiếm có.

Cũng cần nhắc lại thời kỳ hoàng kim của Miến Điện là từ sau trao trả độc lập từ tay thực dân Anh vào ngày 04/01/1948, với tên gọi là Liên Bang Myanmar, và trở thành thành viên của Liên Hiệp Anh. Thời kỳ này Miến Điện có tổng thống là Sao Shwe Thaik và thủ tướng U Nu. Ông cựu thư ký thủ tướng U Nu là U Thant trở thành là Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc. Ông U Thant là người đầu tiên không phải là người phương Tây nắm một tổ chức quốc tế. Ông làm chức vụ này trong 10 năm cũng là những năm tháng dân chủ và cường thịnh của Miến Điện.

Năm 1962 chế độ dân chủ bị quân đội lật đổ và áp đặt Miến Điện đi theo con đường quân phiệt. Sau Thông Cáo Thượng Hải giữa Mỹ và Trung Hoa, Mỹ bán lại Đông Dương cho Trung Hoa, chính quyền quân phiệt Miến Điện bẻ lái theo Trung Hoa, nên đến năm 1974 cái tên Cộng hòa Xã hộ Chủ nghĩa Liên bang Myamar được đặt cho Miến Điện suốt 26 năm. Sau khi dời đô năm 2006, với Mùa Xuân Ả Rập và cách mạng Hoa Nhài, nên đến năm 2010 thì hội đồng quân đội Miến Điện quyết định đổi mới dưới áp lực thời đại, họ đổi tên nước thành Cộng hòa Liên bang Myanmar (Republic of the Union of Myanmar). Và với cuộc bầu cử ngày 04/02/2011 ông đương kim thủ tướng Thein Sein thắng cử. Và đến ngày 03/3/2011 ông Thein Sein nắm cả 2 chức vụ tổng thống kiêm thủ tướng Miến Điện. Ông đã mang lại những thay đổi thần kỳ về chính trị cho Miến Điện.

Có một điều khác biệt giữa nước XHCN Miến Điện với các nước theo XHCN khác là, dù Miến Điện trải qua 26 năm theo Trung Hoa với cái gọi là XHCN độc tài, nhưng họ vẫn giữ hình thái chính trị đa nguyên. Nên sự thay đổi theo đúng quy luật chỉ trong 1 năm qua của Miến Điện đã đi nhanh làm ngỡ ngàng các nước Phương Tây. Song đối với các doanh gia gốc Do Thái thì chiếc mũi rất thính. Nên mấy tháng nay các doanh nhân Do Thái từ Israel là những nhà đầu tư lớn nhất đến Miến Điện, vì họ tin rằng với một nền chính trị đa nguyên đáng để tin cậy hơn các nền chính trị đơn nguyên.

 

Nguồn: Blog BS Hồ Hải

Phó thường dân (14): Mèo – thỏ

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Thế giới, Việt Nam on 2012/01/20 at 11:36

 
Còn hai ngày nữa là tới Tết nhưng chẳng thấy hơi hướng mùa Xuân đâu ở cao nguyên tình xanh vùng Tây bắc Hoa-kỳ này. Dự báo thời tiết cho mùa đông lạnh cóng (hiệu ứng niña) năm nay làm ai cũng phải cười khỉnh vì qua lễ Tạ ơn và Noel nhưng chẳng thấy tuyết đâu. Đùng một cái. Trời đổ tuyết liên tục không dứt vào mấy ngày cận Tết. Trường học, công sở thì đóng cửa. Chẳng ma nào dám lái xe trên đường phố đang đóng băng dầy trơn trợt. Phó thường dân cũng đành ru rú ở trong nhà. Muốn phát sốt (cabin fever)!

Thấy tuyết đổ nhiều chẳng ưa gì nhưng trong lòng phó thường dân tui cũng một phát thở phào mừng thầm. Chỉ gần hai tháng trước phó thường dân đã thay cái mái nhà lợp gỗ tuyết tùng (cedar shake) đã cũ kỷ, cong chênh và chớm mục bằng lớp mái loại tổng hợp (composite shake). Bây giờ thì yên tâm ăn Tết chẳng phải âu lo thấp thỏm nơm nớp sợ nhà bị dột.

“Vô tư” nên phó thường dân tui ngô nghê ngoảnh lại năm mèo đang đỏng đảnh bước qua trước mặt. Chợt nhận ra con mèo (Việt Nam) thì khác xa với con thỏ (Trung Quốc) trong số 12 con giáp à nha.

Theo sinh vật học và chủng loại thì mèo, cọp (tiger, cougar), beo, báo, sơn miêu (lynx) và cả sư tử cũng đều nằm trong họ nhà mèo (cat). Hóa ra chú mèo ta tuy nhỏ nhưng được lấy tên làm cả họ mèo. Tuy ở ta thì mèo được gọi là tiểu hổ (theo TQ?) nhưng ở Tây thì cọp, beo, và ngay cả sư tử lại được ví chung/gọn là mèo lớn (big cat).

Thỏ thì chắc ai cũng biết rồi, nhát như thỏ. Thỏ được mỗi biệt tài là chạy nhanh nhưng vốn ỷ y, nhởn nhơ nên tới đích còn sau cả con rùa. Còn mèo thì có tính độc lập, tự chủ, không dễ bị sai khiến, không theo bầy đàn. Nói theo người Mỹ, trong thành ngữ “việc khó như chăn mèo” (It’s like herding cats) là đủ phô trương trích dụng bản tính độc lập của loài mèo.

Những ngày cuối năm Mão này khi phó thường dân ngó lại cũng thấy y chang nhiều sự kiện biến chuyển dạng theo tính khí của con mèo hơn là con thỏ.

Trước hết phải kể đến những biến động lịch sử trên thế giới vào đầu năm như Cách mạng hoa nhài, mùa Xuân Ả-rập ở Tunisia, Ai-cập, Libya, và láng giềng Miến Điện. Các diễn biến này hiện lộ mồn một đầy tính “mèo”: độc lập, tự chủ. Người dân ở các nước độc tài kể trên không còn chịu sống trong áp bức, thiếu tự do mãi. Họ quyết định vùng lên để giành sống đời tự chủ bất chấp hiểm nguy chưa đo lường trước được.

Riêng tại Việt Nam ta thì người dân dù biết mình thấp cổ bé miệng chỉ là con giun, cái kiến trong một thể chế độc tài nhưng cũng đã mức mực thể hiện lòng dạ can đảm. Họ quá bức xúc trước các hành vi bá quyền Trung Quốc xâm lấm biển Đông, bách hại ngư dân đã xuống đường hàng loạt vào mùa hè để biểu tình phản đối chính quyền TQ. Khẩu hiệu Hoàng Sa-Trường Sa-Việt Nam đã được trương cao và tung hô công khai trên đường phố Sài Gòn và Hà Nội. Người biểu tình kiên quyết lên tiếng hơn 11 lần bất chấp đàn áp, cưỡng chế, hành hung, giam cầm của nhà cầm quyền đảng CSVN. Họ phản kháng dù biết mối đe dọa tù đày[1]. Vì chỉ có những con bò thì mới chịu bị “chăn dắt” chứ mèo cũng không chịu, nói chi là con người[2].

Đảo mắt dần tới cái tháng cuối năm con mèo này thì có ai không biết tới biến cố sôi sục Đoàn văn Vươn[3] chống trả lực lượng cưỡng chế của quan/quân huyện Tiến Lãng. Những người dân lành chỉ biết cặm cụi lo làm lụng kiếm ăn một khi bị dồn vào chốn đường cùng cũng không thể làm gì khác hơn là vùng dậy dù rằng họ đã bị “tuyên huấn”, “định hướng”, “chỉ đạo” khá thuần (Đỗ Hữu Ca, Giám đốc Công an Hải Phòng trong khẩu khí khinh bôi “Từ sau hòa bình đến nay, người dân Tiên Lãng khá thuần nên huyện nghĩ rằng không có việc chống đối như thế[4]). Họ vươn lên như “những con giun xéo mãi cũng quằn” kháng cự lại một thể chế với guồng máy và hệ thống đầy tính bạo động. Làm sao mà buông xuôi, không chống trả cái tập đoàn tội phạm cơ “cấu” trong đảng CSVN nối kết, giật dây xã hội đen cướp của, cướp đất mà họ đã gầy dựng bằng mồ hôi và máu thịt cho được?  Những chuyện động trời ở Tiên Lãng[5] bị lộ hàng này phải chăng chỉ là mảng băng nổi của bao chuyện thường ngày ở huyện.

À mà chút xíu nữa là quên vì bực giận. Phó thường dân nãy giờ chỉ nói về mèo mà hổng nhắc gì tới thỏ thì thiệt là không công bằng. Các chuyển động rần rần hàng ngày ở bộ sậu (BCT) đảng CSVN có khác gì hiện tượng “thỏ” với hành xử nhút nhát, luồn cúi, khiếp nhược với Trung Quốc. Những thỏ thò thụt, thin thít với “tàu lạ” mà người dân nhận rõ bản chất của họ là “Hèn với giặc ác với dân”[6]. Những kẻ mà Hoàng Sa-Trường Sa, bô-xít Tây nguyên, khoán hộ trăm năm rừng đầu nguồn, tham nhũng PMU, Vinashin, chứng khoán đứt phanh[7], doanh nghiệp phá sản cùng với lạm phát[8] và giá cả tăng phi mã tất tật đều là “chuyện nhỏ như con thỏ”.

Phó thường dân nói đến đây chợt nhớ một chuyện nhỏ như con thỏ khác ở nước Mẽo này xin kể bà con nghe chơi nha. Đó là chuyện triệu hồi chức vụ (recall election) các viên chức nhà nước dù được dân cử trước đó nhưng nay cử tri không còn tín nhiệm mặc dù nhiệm kỳ chưa quá đát. Điều kiện thực hiện tiến trình triệu hồi này khác nhau tùy theo địa phương nhưng thể thức chung tương đối đơn giản. Chỉ cần thu thập đủ mức số chữ ký của cử tri trong địa hạt bầu cử (Thống đốc và dân biểu tiểu bang, Thị trưởng và Nghị viên thành phố, v.v…) là có được sự thay đổi. Nghĩa là chuyện nhỏ như con thỏ.

Một ví dụ điển hình nhất là vụ triệu hồi chức vụ Thống đốc Tiểu bang Wisconsin, ông Scott Walker. Nguyên nhân chỉ vì ông ta thông qua đạo luật hủy bỏ quyền thương lượng tập thể (collective bargaining rights) của nhân viên nhà nước (public employees). Các hiệp hội lao động cùng với dân chúng, cử tri ở Wisconsin kết hợp tổ chức cuộc triệu hồi. Họ vận động qua truyền thanh, truyền hình, các trang mạng và facebook[9] với kết quả là đã thu thập trên 1 triệu chữ ký, gần gấp đôi con số đòi hỏi cần thiết. (Nghĩ tới đây lại nhớ và thương ba em Đỗ thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương, và Nguyễn Hoàng Quốc Hùng tranh đấu cho người lao động mà phải bị tù đày khổ sai đang bị hành hạ từng ngày.)

Riêng trong năm 2011 đã có 150 cuộc triệu hồi chức vụ ở Hoa-kỳ, kết quả là một nửa số 75 dân cử bị truất chức và 9 vị khác từ chức (cho đỡ mất mặt) trước mối đe dọa bị triệu hồi[10]. Cơ chế bầu cử dân chủ và pháp luật ở xứ tự do thì như thế chứ còn ở đất nước độc tài, độc đảng của Đảng CSVN thì dù dân chúng có chán ngán, bất tín nhiệm muốn truất phế thì cũng đành bótay.com. Chỉ có những quả bom Đoàn Văn Vươn[11] đầu ngọn sóng nổ tung mới đổ sập được bức tường nhà tù nô lệ.

Hồn thiêng ngàn năm Thăng Long vẫn còn trên đất Việt. Lòng dân Việt Nam đang trong vận hội mới muốn khai phóng vươn dậy tháo gỡ gông cùm độc tài chuyên chế.
 
© 2012 Vietsoul:21
 
[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi (2) Nôị-thực-dân (3) Sợ (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông (5) Con dân – con cá – cò mồi (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng (7) (Vô) Hậu  (8) Gió mưa là chuyện của trời …  (9) Vô liêm sỉ – man rợ (10) Phế-anh-hùng (11) Luật Lệ(nh) … (12) Nhà em có nuôi một con két … (13) Cái nhà là nhà của ta …  (15) phố vẫy (16) Mít tờ Đàm và Bác Hồ (17) Nín thở qua cầu (18) Bán Thân – Bán Thận – Bán Thần (19) Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm]


[10] Recall Election, wikipedia

Tưởng Năng Tiến – Nhìn Bẩy Tưởng Ba

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Thế giới, Việt Nam on 2011/12/23 at 19:36

Đến Bắc Hàn, du khách đều bàng hoàng vì cảnh tượng “nhìn bẩy tưởng ba.” Con nít ở xứ sở này, tuy đã 7 tuổi nhưng phần lớn trông cứ nhỏ tí như những đứa bé vừa mới … vừa lên ba!

Nhân loại, nói chung, ở đâu cũng vậy. Khi gặp phải nạn đói thì trẻ thơ bao giờ cũng là những nạn nhân đầu tiên. Tuy nhiên, đói tới cỡ “nhìn bẩy tưởng ba” thì trong lịch sử loài người (có lẽ) là một kinh nghiệm hoàn toàn mới, chỉ mới có ở Bắc Hàn, vào thời đại… văn minh đến độ tột cùng của chúng ta!

Đến Bắc Hàn, du khách đều bàng hoàng vì cảnh tượng “nhìn bẩy tưởng ba.” Con nít ở xứ sở này, tuy đã 7 tuổi nhưng phần lớn trông cứ nhỏ tí như những đứa bé vừa mới … vừa lên ba!

Nhân loại, nói chung, ở đâu cũng vậy. Khi gặp phải nạn đói thì trẻ thơ bao giờ cũng là những nạn nhân đầu tiên. Tuy nhiên, đói tới cỡ “nhìn bẩy tưởng ba” thì trong lịch sử loài người (có lẽ) là một kinh nghiệm hoàn toàn mới, chỉ mới có ở Bắc Hàn, vào thời đại… văn minh đến độ tột cùng của chúng ta!

Trẻ con Bắc Hàn. Nguồn ảnh: VOA

Đây là hậu quả của sự đói góp, trải dài qua đôi ba thế hệ liên tiếp, mới tạo ra hậu quả thảm thương (nhìn bẩy tưởng ba)như thế. Bất cứ ai, còn có chút từ tâm – chắc chắn – đều phải cảm thấy bất an (và hổ thẹn) vì một phần nhân loại phải chịu đói khát đến như vậy mà mình hoàn toàn dửng dưng, hay đành bất lực!

Tuy ở mức độ ít trầm trọng hơn nhưng nạn suy dinh dưỡng trầm trọng cũng đang xẩy ra tại Việt Nam mà nạn nhân đầu tiên, hiển nhiên,  cũng là những đứa bé thơ – ở rải rác nhiều nơi –  trên xứ sở này. Sau một chuyến đi thăm những trẻ em ở vùng cao, bà Phạm Thái Hà(Tổng Giám đốc Hệ thống lập trình viên Quốc tế Bachkhoa-Aptech) đã nói với phóng viên báo Giáo Dục Việt Nam rằng: “Nhìn cảnh một học sinh chẳng khác nào những đứa trẻ lớp 1 ở vùng quê nhưng hỏi ra mới biết em đã 11 – 12 tuổi mà lòng tôi quặn thắt.”

Nước mình nghèo nhưng có đến mức này không?

Người đặt câu hỏi thượng dẫn là tiến sĩ Trần Đăng Tuấn. Ông cũng là người tìm ra câu trả lời – không bằng thống kê, hay công trình nghiên cứu gì ráo trọi – qua một chuyến đi, vào hôm 23  tháng 9 vừa năm 2011vừa qua:

“Sáng nay, lần đầu tiên lên Suối Giàng (Yên Bái), xe lên đến trung tâm xã Suối Giàng, thế nào lại đỗ ngay trước cửa trường học. Mấy trăm đứa trẻ con đang tập thể dục. Ngay cạnh đó là mấy dãy nhà nội trú. Không hiểu sao, cứ nhìn thấy trẻ con miền núi là mình mê…

“ Cậu chủ  quán trước cửa trường, có vợ là giáo viên, cho biết: Trường tiểu học có 80 đứa nội trú. Phải có từ 100 đứa nội trú trở lên mới có chế độ hỗ trợ của nhà nước. Khu nội trú này dân nuôi hoàn toàn. Cha mẹ góp 2kg gạo/tuần, 5.000 đồng tiền thức ăn/tuần.”

Tuổi thơ trong lòng cách mạng. Ảnh: blog Trần Đăng Tuấn

“ Bọn mình không tin, cứ  lục vấn mãi: Sao lại 5.000đ thì chúng nó ăn uống kiểu gì?. Cậu ta cứ khăng khăng đúng thế, đúng thế. Vừa lúc có một bác H.Mông xách xô nước đi ngang, cậu chủ quán bảo: Đấy, ông này nấu cơm cho chúng nó đó.” 

“Thế là bọn mình đi theo luôn. Trèo tắt qua mấy dãy nhà trên đồi, đi thẳng vào cổng Ủy ban Xã Suối Giàng, rồi vòng ra sau nhà Ủy ban, thì có cái lều tường che gỗ ván, giữa có cái bếp đang đỏ lửa, ngoài cửa có cái chậu tắm lớn đầy những cái bát to bẩn chưa rửa. Trong bếp ngoài nồi cơm đang nấu, một nồi nữa chắc để nấu canh, còn thì chẳng có đồ đạc gì cả.” 

– 80 đứa chỉ ăn cái nồi cơm này đủ à?

 Bác H Mông: Nồi to lắm đấy, 13 – 14 cân gạo mới đầy đấy. 

– Thế ăn cơm với cái gì?

Bác H Mông: Với canh rau…  

Bây giờ mới nhìn ra chỗ tối tối, có mấy bó rau cải bé tẹo, mà lại đã úa vàng một nửa. Không hiểu canh nấu với gì, vì mắm muối giấu ở đâu, chứ không có trong bếp. 

 – Sao ít rau thế ? 

Bác H Mông: Ừ, không đủ đâu, phải mua thêm nữa đấy. 

– Thế có thịt cá ăn bao giờ không ?

 Bác H Mông: Không có đâu, bao giờ bố mẹ đóng thêm tiền thì mua cho ăn một bữa có thịt. 

Một nồi cơm (hy vọng là đủ) và một nồi canh rau cải (gồm xô nước vừa được xách lên, mấy bó rau, chắc ít muối, mắm, dầu mỡ cho vào nữa- nhưng quả thật bọn mình không thấy chúng được cất chỗ nào, chắc không có trong bếp vì sợ chó mèo hay ăn trộm chăng?) – Đó là bữa ăn trưa cho 80 mầm non của đất nước vào ngày 22 tháng 9 năm 2011, tức là khi đất nước đã bước vào thập kỷ thứ hai của thế kỷ 21, là sau một năm tưng bừng kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, là năm đầu của nhiệm kỳ Đại Hội 11…

“ Bọn mình nói: Trưa nay bác mua thịt cho chúng nó ăn được không? Bạn mình đưa ít tiền. Mình đưa thêm nữa. Sống thì chắc được thôi, nhưng mình nghĩ học khó vào lắm. Hồi đi học, lúc nào mình cũng muốn ăn, dù bố mẹ nuôi nấng đầy đủ hơn bọn trẻ con hàng xóm nhiều. Khi đi bắt đầu đi học đại học ở Thanh xuân, cả ngày thấy đói. Ăn tập thể, xong bữa, rửa bát cầm về, dọc đường từ nhà ăn đến phòng ở đã thấy thèm ăn nữa. Ngồi trên lớp ,lúc nào cũng nghĩ đến ăn…

Cái đói của thế hệ Trần Đăng Tuấn ai cũng có thể chỉ ra được nguyên nhân là vì đất nước đang ở vào thời chiến. Còn cái đói của người Việt hôm nay thì nguyên do, ngó bộ, hơi khó hiểu hơn. Mà nạn nhân cũng không nhất thiết chỉ là những trẻ thơ ở miền núi, theo như phản hồi của ông Nguyễn Khiêm Ý, bên dưới bài viết thượng dẫn:

“Tỉnh Quảng Nam cũng còn nghèo, nghèo lắm bạn ơi. Tuy không đến nỗi 5k một tuần nhưng những vùng miền núi vẫn có lắm lắm học sinh phải chịu cảnh ‘bụng đói đến lớp’. Nói chi xa, ngay cả trong các giáo viên ở TP Đà Nẵng vẫn có cảnh 3 người một quả trứng gà cơ.”

Trong lúc tiến sĩ Trần Đăng Tuấn ghé thăm Suối Giàng, ca sĩ Thái Thùy Linh cũng thực hiện một chuyến đi (khó quên) khác đến Nậm Mười:

“… chuyến đi đó đã thay đổi đáng kể cuộc sống của tôi.Những con số tôi biết được sau chuyến đi ngắn ngủi đã ám ảnh tôi từng giờ sau khi về Hà Nội. Tôi không phải là người dễ bày tỏ sự mềm yếu cho người khác biết. Nhưng sự thật là ngay đêm đầu tiên về nhà và nằm ôm con gái, tôi đã khóc. Nghẹn lòng khi nghĩ tới thằng cu Mấy hai tuổi rưỡi ở Nậm Mười, còn chưa bằng tuổi con gái tôi, ngày qua ngày ăn cơm độn sắn và một mình đi bộ 03 km đến trường. ..Tôi đã quay trở lại Nậm Mười sau chưa đầy hai tuần. Không phải với tư cách một người nổi tiếng.”

“Cùng với bốn người em, người bạn là dân nhiếp ảnh, chúng tôi đã có 03 ngày làm việc quần quật theo đúng nghĩa, lấy số liệu, chụp ảnh, ghi hình một cách chân thực nhất thực trạng cuộc sống, sự ĂN và HỌC của các em học sinh bán trú ở Nậm Mười, từ mầm non, tiểu học đến THCS, làm tư liệu chuẩn bị cho một chiến dịch vận động lâu dài mà tôi sẽ trình bày trong ít ngày tới đây.”

“Nhưng, ngay lúc này, có một sự thật, có một việc cần có phương án giải quyết ngay: 100% học sinh dân tộc tại xã Nậm Mười đang thiếu áo rét…

Các bạn mến,

Chỉ chưa đầy hai tuần nữa thôi, Nậm Mười sẽ rét. Và 561 học sinh nơi đây đang cần những áo ấm, những quần dài, những tất, những khăn, những mũ, những thứ đồ cũ trong tủ mà mỗi mùa đông các bạn chưa kịp ‘giải tán’, hoặc không mặc nữa nhưng vì thấy còn lành lặn nên chưa nỡ vứt đi.”

3 hay 7 ? Ảnh: Đỗ Doãn Hoàng

Người Việt đói rách cùng quẫn đến thế mà theo nhà văn Ngô Minh thì “chúng ta đang xẻ thịt tổ quốc của mình để sống”:

 “ 20 năm qua có rất nhiều ‘phong trào’ bán tài nguyên để ‘làm ngân sách’ xảy ra rầm rộ. Như khai thác gỗ rừng để xuất khẩu ồ ạt. Quốc doanh khai thác xuất khẩu, ‘hợp tác xã’ khác thác xuất khẩu, tư nhân núp bóng nhà nước khai thác, xuất khẩu…Gỗ cứ kìn kìn từ rừng miền Trung, rừng Tây Nguyên đổ về  các cảng biển. Các đầu nậu gỗ, những người cấp phép khai thác gỗ, cấp quota xuất khẩu gỗ giàu lên  từng ngày một. Đến khi ‘ngộ ra’, ban hành lệnh cấm, thì rừng đã bị ‘bán ăn’ gần hết. Thế là lại phải ‘làm dự án’ trồng 5 triệu hec-ta rừng gần chục năm nay vẫn không thành .”

Nguồn ảnh: ngominhblog

Nguồn ảnh: ngominhblog

“ Hết rừng rồi thì bán đất rừng. Hơn 300.000 héc ta rừng đầu nguồn đã bị các tỉnh bán cho doanh nhân Trung Quốc khai thác 50 năm. Nghĩa là  50 năm năm , chúng muốn biến  mảnh đất rừng đó thành căn cứ quân sự, lô cốt, hầm ngầm.v.v… là quyền của họ…”

“Người bán gỗ, bán than, thì  có kẻ lại bán núi, bán  đất ruộng làm giàu. Xem ra bán núi bán đất dễ giàu có hơn. Trong những chuyến đi thực tế ở vùng Đông Bác hay Thanh Hóa, Ninh Bình…, tôi thấy nhiều ngọn núi bị san bằng trơ trọi, để khai thác đá sản xuất xi măng, đá xây dựng. Bây gìờ tỉnh nào cũng hai ba nhà máy xi măng, hàng chục công trường  khái thác đá hàng ngày ra sức san phá núi. Có tỉnh bán luôn cả ngọn núi cho nước ngoài làm xi măng, không chỉ bán phần dương mà còn bán cả phần âm tới 30 mét sâu, nghĩa là 50 năm sau, núi thành hồ ! Hình sông thế núi Việt Nam ngàn đời hũng vĩ , bây giờ đang  bị xẻ thịt nham nhở.  Liệu con cháu  tương lai sẽ sống như thế nào, có còn hình dung ra nước non Việt tươi đẹp xưa nữa không, khi mà quanh chúng núi non bị  gậm nhấm, thân thể Tổ Quốc ghẻ lở, xác xơ ? Tài nguyên của mình, nước ngoài đến khai thác rồi chế biến thành sản phẩm xuất khẩu của họ, trong lúc hình hài non sông bị xâm hại. ‘Bán núi’ để ăn như thế có đau núi quá không? “ 

Trẻ em Bắc Triều Tiên. Ảnh chụp tháng 3/2011: RFI

Trẻ em Bắc Triều Tiên. Ảnh chụp tháng 3/2011: RFI

Sông núiđau đớn quá không ? Câu hỏi đớn đau này, một kẻ tha phương cầu thực (như tôi) không dám lạm bàn nhưng cứ theo những tường thuật nêu trên thì e rằng viễn ảnh nhìn bẩy tưởng ba (rồi ra) cũng sẽ xẩy ra ở Việt Nam –  trong tương lai gần, bất kể là vùng cao hay vùng thấp – nếu  Đảng (cướp) hiện nay vẫn tiếp tục “độc quyền lãnh đạo” ở đất nước này.

Chúng ta chỉ có thể tiếp tay làm chậm lại hiện tượng này bằng cách đáp ứng lời kêu gọi khẩn thiết cứu đói (và cứu rét)của nhà báo Dương Minh Phong, tiến sĩ Trần Đăng Tuấn, hay ca sĩ Thái Thùy Linh… để mua thêm (chút) thời gian – ở một vài nơi – thôi!

Tưởng Năng Tiến- RFA

Phó thường dân (12): Nhà em có nuôi một con két …

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Thế giới, Việt Nam on 2011/09/16 at 19:55


Hổm rày đọc mấy bài viết của các blogger tự do trên mạng thì tui thiệt là rầu hết biết. Hổng hiểu sao cho thấu được cái chế độ và luật pháp ở đất nước quê nhà. Mà thôi để tui kể chuyện bên quê người.

Phó thường dân tui ở đây có ông hàng xóm làm nghề thợ điện. Ngày mới dọn vô nhà thì buổi chiều đã nghe có tiếng bấm chuông. Mở cửa ra thì thấy hai vợ chồng ông bà người Mỹ đứng trước cửa ôm cái bánh táo (apple pie) và tấm thiệp trao tặng. Ông bà nói lời chào mừng chúng tôi, người hàng xóm mới. Dần dà cũng gặp nhau đôi lúc khi ra lấy thư ở đầu ngõ. Hai vợ chồng và ba đứa con nói chuyện đàng hoàng, hiền lành, và vui vẻ. Ông ta trông vẻ bình thường cũng như mọi người dân ở đây.

Một hai năm sau đó trong những lần thăm hỏi nhau thì ông ấy đề cập đến việc bản thân ông đi kiện Căn Cứ Tàu Ngầm Hải Quân[1] vì họ không đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin về kế hoạch và phương án phòng ngừa với các rủi ro với đầu đạn nguyên tử trang bị cho tàu ngầm. Cách đây hơn một tháng thì ông thợ điện hàng xóm của tui cho biết là đã sang thủ đô Washington dự phiên xử ở Tối Cao Pháp Viện (Supreme Court) và kết quả là ông ta thắng kiện với tỉ số 8 thuận 1 chống. Đây là một quá trình kiện tụng khá dài của ông từ tiểu bang (state), tới khu vùng (circuit court), và cuối cùng là Tối Cao Pháp Viện.

Tưởng cũng nên nhắc lại ở đây một chút là có chín vị thẩm phán được bổ nhiệm bởi Tổng thống với phê chuẩn từ Quốc hội vào Tối Cao Pháp Viện Hoa-kỳ. Nhiệm kỳ của họ là suốt đời trừ khi họ từ chức vì lý do sức khoẻ hoặc qua đời thì Tổng thống mới bổ nhiệm người thay thế. Với tư thế hoàn toàn độc lập họ tuân thủ bảo vệ hiến pháp tối thượng, giải thích luật theo hiến pháp, và bảo vệ quyền hiến định của người dân. Họ không thiên vị cho bất cứ đảng phái hoặc phe nhóm nào, cho kẻ giàu có hay người nghèo khó.

Quyền hiến định và vốn có (constitutional and inherent rights) của mỗi công dân Hoa-kỳ phải được tôn trọng, đáp ứng. Một trong những quyền này là quyền được biết việc làm của các tổ chức nhà nước vì vai trò của chính quyền là phục vụ người dân. Để công dân biết tất cả các việc làm của chính quyền thì Hoa-kỳ có Đạo luật Tự do Thông tin (Freedom of Information Act) nhằm ngăn ngừa việc các cơ quan hành chánh, tư pháp, lập pháp lạm quyền che dấu thông tin.

Chỉ riêng Nhà Trắng, Bộ Ngoại Giao, Cơ Quan Tình Báo FBI, CIA, và Quốc Phòng có hồ sơ mật (secret) vì lý do an ninh quốc gia (national security) thì rơi vào trường hợp ngoại lệ. Tất cả các cơ quan khác thì không được quyền bảo mật hồ sơ hay tài liệu của mình mặc dù có những văn kiện được xếp hạng là kín (confidential). Ngoại trừ quyền bảo mật các tài liệu kỹ thuật (trade secrets), các công ty tư nhân phải cung cấp các hồ sơ hành chánh nếu có án lệnh của cơ quan nhà nước trong việc điều tra trong các vụ kiện tư nhân hoặc khởi tố.

Nói chung, chỉ các hồ sơ trong dạng dự thảo (draft) có thể phân loại là kín nhưng khi đã hoàn chỉnh và lưu hành (ngay cả khi chỉ trong nội bộ) thì các tài liệu này đều phải được cung ứng nếu có yêu cầu.

Các yêu cầu về thông tin phải được đáp ứng trong khoảng thời gian quy định (không quá 20 ngày). Nếu chậm trễ quá thời hạn thì sẽ bị phạt hành chánh. Người dân chỉ cần trả chi phí bản sao (photocopy) tương đương với giá trên thị trường.

Chuyện đáng nói nữa là không phải bất cứ hồ sơ nào cứ được đóng dấu “Mật”là trở thành tài liệu bí mật. Các hồ sơ đóng dấu mật nhưng không đúng tiêu chuẩn thì cũng phải bị bật mí.

Không phải như ở Việt Nam cứ tự do vô tội vạ đóng dấu mật thì được bảo vệ là mật. Từ phường, xã, huyện, tỉnh, thành phố mạnh anh nào anh đó “ịn” dấu mật để che dấu các quyết định bất hợp pháp. Các hồ sơ, tài liệu, công văn về Vinashin, Bô-xit Tây Nguyên, tiền Polymer đã chôn trong hũ mắm dán giấy mật thì có ai mà khui ra được.

Riêng phó thường dân tui đã từng yêu cầu các các tài liệu liệt vào loại công cộng (public record request) như thế từ Thành phố Seattle. Dĩ nhiên tui đã được cung cấp đầy đủ không rắc rối, phiền hà. Sau khi nhận giấy yêu cầu của dân như tui chẳng hạn thì họ xin thời gian để thu thập và hẹn ngày thuận tiện đến xem xét.

Tụi tui được họ cung cấp tất cả công văn, điện thư, tài liệu liên quan đến đề mục đòi hỏi. Họ cho sử dụng một phòng nhỏ riêng để chúng tôi có thể duyệt qua các hồ sơ và đánh dấu những tài liệu nào cần bản sao. Nếu số lượng bản sao ít hay/và quan trọng thì nhân viên sẽ cung cấp bản sao ngay tại chỗ, còn nếu số lượng lớn thì họ yêu cầu cho thời gian sao chép và gởi bằng bưu điện đến tận nhà hoặc đến lấy sau.

Về vấn đề cư trú, cảnh sát Hoa-kỳ không được quyền vào nhà người dân để khám xét trừ khi có lệnh của toà án. Muốn được lệnh của quan toà, cơ quan cảnh sát phải có bằng chứng rất rõ để thuyết phục ông quan toà viết lệnh khám xét. Không phải cái kiểu nghi ngờ khơi khơi rồi khám xét, dựng chuyện, tạo bằng chứng để kết tội.

Ông quan tòa nào viết lệnh hớ không có bằng chứng thuyết phục sẽ bị báo chí bêu xấu và dân cư tẩy chay không tín nhiệm và không bầu cho nữa, hoặc có thể kiện luôn sở cảnh sát và quan toà. Không có chuyện mời “làm việc” vì người dân chẳng có mắc mớ gì phải làm việc với cảnh sát khi chưa bị truy tố về một tội phạm nào. Cảnh sát nào cứ lảng vảng liên tục theo dõi thì sẽ bị kiện là quấy nhiễu (harassment).

Như thế mới gọi là nhà nước pháp quyền. Mọi người phải tuân thủ luật pháp và mọi người bình đẳng trước pháp luật.

Đó là chuyện quê người. Nhìn lại cái Toà án tối cao của Việt Nam thì ra sao? Theo như lời trong bài “Toà Án (mạo danh) Nhân Dân”[2] thì công lý của TAND thiệt là quá ớn:

Ông Chánh án TATC Trịnh Hồng Dương để lại câu nói lịch sử. “Luật ở Việt Nam xử sao cũng được” và ông chánh án TATC kế tiếp là ông Nguyễn Văn Hiện cũng đi vào lịch sử với câu nói bất hủ: “ngành tòa án thiếu cán bộ trầm trọng phải vơ vét cả lái xe, nhân viên vệ sinh, cán bộ phòng tiếp dân của tòa án đi học nghiệp vụ về để làm thẩm phán”.

Tưởng như nói cà rỡn kiểu “Nhỏ không học lớn làm thẩm phán” nhưng thiệt là trúng phóc.

  • Trong xã hội ở chế độ dân chủ thì Toà Án Tối Cao bảo vệ hiến pháp và quyền lợi của người dân.
  • Trong chế độ độc tài cộng sản Việt Nam thì Toà Án (mạo danh) Nhân Dân Tối Cao bảo vệ đảng ma-phia và bè lũ tội phạm.

Cái nhà nước Việt Nam dưới quyền cai trị của băng đảng tội phạm CSVN lấy luật lệ(nh)[3] đè người vi phạm quyền hiến định của người dân. Dzậy mà lúc nào cũng ra rả cái “nhà nước pháp quyền”. Họ sử dụng công an[4] làm sức mạnh bạo lực trấn áp và dùng luật lệ(nh) với toà án[5] làm công cụ kềm kẹp và trừng trị người phản kháng. Họ dung túng và kết nối với xã hội đen[6] để khủng bố, đe dọa giới bất đồng.

Phó thường dân tui nói tới đây lại nhớ đến chuyện học chính tả ở cấp tiểu học. Học tả cảnh, tả người, tả thú vật v.v… Dzui nhất là bài tả thú vật nuôi trong nhà. Học trò làm biếng nhớt thây như tui thì cứ điền tên con thú nuôi theo sườn bài có sẳn bắt đầu bằng câu “Nhà em có nuôi một con chó/mèo, tên nó là vá/lulu/kiki, lông nó đen/vàng, có đốm/khoanh v.v…” Từ đó đám học trò tiểu học tui đặt ra câu hát vè “Nhà em có nuôi một con chó, sáng nó kêu gấu gấu gấu, trưa nó kêu gầu gầu gầu, tối nó kêu gậu gậu gậu.”

Cứ theo bài viết của cô Tạ Phong Tần[7] và tin tức ở các báo nhà nước thì em Phương Nga[8], phát ngôn viên bộ ngoại giao sẽ được phó thường dân miêu tả bằng câu hát vè “Nhà nước ta có nuôi một con két, sáng nó kêu pháp pháp pháp, trưa nó kêu quyền quyền quyền, tối nó kêu pháp quyền pháp quyền pháp quyền” thì cũng đặng dzậy.

© 2011 Vietsoul:21

[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu – (8) Gió mưa là chuyện của trời … – (9) Vô liêm sỉ – man rợ – (10) Phế-anh-hùng – (11) Luật Lệ(nh) … – (12) Nhà em có nuôi một con két – (13) Cái nhà là nhà của ta – (14) Mèo – thỏ  – (15) phố vẫy … (16) Mít tờ Đàm và Bác Hồ (17) Nín thở qua cầu]


[1] Does Navy depot pose a danger to public?, Seattle Times

[2] Toà Án (mạo danh) Nhân Dân, Dân Luận
Tòa án nhân dân: hoàn thành nhiệm vụ của đảng và các nhiệm vụ chính trị, Dân Làm Báo

[3] Luật Lệ(nh), Vietsoul:21

[4] Sự đê hèn của công an Việt Nam & Tố cáo nhà cầm quyền CSVN vẫn duy trì việc đàn áp, khủng bố tinh thần các con của Lư Thị Thu Trang, Dân Làm Báo

[8] Mới được tin em Phương Nga hót hay, chịu tiếng đời vài năm muối mặt giờ đã thoát kiếp con két/vẹt, lên chức Thứ trưởng Bộ Ngoại Giao

Lãnh đạo: nghề làm thuê

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Thế giới, Việt Nam on 2011/09/14 at 09:32

Nguyễn Hưng Quốc

Hình: AP

Trong bài diễn văn của Tổng thống Barack Obama tại Quốc Hội Hoa Kỳ vào ngày 8 tháng 9 vừa rồi, có một hai câu nói tôi rất thích. Ông nhắc đến dân chúng như “những người đã cử chúng ta đến đây; những người đã thuê chúng ta làm việc cho họ” (the people who sent us here – the people who hired us to work for them). Rồi ông tự hỏi và hỏi các nghị sĩ và dân biểu: Mỹ “Dân chúng ở đất nước này làm việc vất vả để hoàn tất trách nhiệm của họ. Câu hỏi tối nay là: liệu chúng ta có hoàn tất trách nhiệm của chúng ta hay không?” (The people of this country work hard to meet their responsibilities. The question tonight is whether we’ll meet ours.)

Thực tình, tôi không quan tâm mấy đến các chính sách Obama đã đưa ra nhằm giải quyết tình trạng thất nghiệp trầm trọng cũng như cuộc khủng hoảng kinh tế kéo dài tại Mỹ. Đã đành kinh tế Mỹ có quan hệ mật thiết đến kinh tế toàn cầu, trong đó có Úc; tuy nhiên, từ Úc, nhìn sang Mỹ, thấy chuyện của họ xa vời quá. Tôi nghe bài diễn văn của Obama một cách khá ơ hờ. Nhưng đến mấy câu nói trích ở trên, tôi bỗng thấy thích hẳn.

Thích chủ yếu vì thấy chúng khác hẳn với những gì chúng ta thường nghe ở Việt Nam. Có lẽ ở Việt Nam chưa có lãnh tụ nào đặt vấn đề trách nhiệm với dân chúng một cách cụ thể đến như vậy. Càng chưa có ai nhìn nhận một thực tế: Họ là những người làm thuê của dân chúng. Mà không phải là những người làm thuê vĩnh viễn. Họ chỉ là những người làm thuê theo hợp đồng. Cứ bốn năm, dân chúng lại xét lại hợp đồng ấy một lần. Làm giỏi, người ta thuê tiếp. Làm kém thì xin vui lòng về… hưu.

Giới lãnh đạo Việt Nam bao giờ cũng cho những chức vụ mình đang nắm giữ như những sứ mệnh vĩ đại từ trên trời rơi xuống. Một thứ thiên mệnh. Ngay cả khi họ giả vờ nói khiêm và nói nịnh họ là “đầy tớ” của dân chúng thì người ta, tự trong vô thức, vẫn xem cái chức “đầy tớ” ấy là một thiên mệnh. Là thiên mệnh vì, thật ra, không có ai thực sự bầu cho họ cả (hiểu bầu theo nghĩa tổng tuyển cử chứ không phải bầu bán trong nội bộ đảng với nhau). Là thiên mệnh vì họ không thực sự chịu trách nhiệm trước ai cả. Đất nước lạc hậu, dân chúng nghèo khổ ư? Đó là trách nhiệm của “thằng” lịch sử hay “thằng” khách quan nào đó. Đất nước phát triển ư? Thì đó là công của họ, bất kể mồ hôi và nước mắt của mấy chục triệu người lao động quần quật trong cả nước.

Quan niệm chức vụ lãnh đạo như là thiên mệnh nên các “đầy tớ” bất cần các ông bà “chủ” có đồng ý cho họ làm việc tiếp hay không. Và cũng không cần nhớ, thậm chí, biết tất cả bổng lộc của họ là đến từ dân chúng.

Không biết như thế nên thay vì “biết ơn” những người đã hùng hục làm việc và đóng thuế để nuôi mình, người ta lại làm một chuyện oái oăm: bắt dân chúng phải biết ơn và nhớ ơn mình!

Có lẽ một trong những chiến lược tuyên truyền lớn nhất của chính quyền Việt Nam, từ khi lên nắm quyền vào năm 1945 đến nay, là nhấn mạnh vào chuyện ơn nghĩa. Hầu như toàn bộ guồng máy tuyên truyền đều tập trung vào vấn đề công ơn của đảng và của lãnh tụ. Người ta tổ chức các đợt sáng tác rầm rộ để giới cầm bút kể lể công ơn “tái sinh” của cách mạng. Ăn một bát cơm ngon cũng nhớ ơn cách mạng. Mặc bộ quần áo mới cũng nhớ ơn cách mạng.

 

Thời kháng chiến, trong bài “Thơ dâng Bác Hồ” sáng tác ngày 19.5.1953, Xuân Diệu viết:

Chúng con dưới vực sai lầm
Đang vươn mình được Bác cầm tay lên.

Cũng ngày 19.5.1953, Nguyễn Bính từ Nam bộ, làm bài Thư gửi về Cha:

Trước con cơ cực nhọc nhằn
Nhờ Cha nay mới nên thân nên người..

Sau năm 1954, ở miền Bắc, Xuân Diệu lại viết:

Hãy cảm ơn đảng Cộng sản, lòng ta ơi!
Hãy cảm ơn những người dựng con người,
Hãy cảm ơn Hồ Chí Minh đồng chí

Đã rèn luyện một nửa già thế kỷ

Xưa lệ sa, ta oán hận đất trời
Nay lệ hoà, ta lại thấy đời tươi!

Chế Lan Viên cũng có rất nhiều những bài thơ tương tự như thế. Lại Nguyên Ân có lần nhận xét về thơ Chế Lan Viên: “Thơ Chế Lan Viên có cả một loạt những bài thơ ăn năn sám hối cho sự lỡ lầm thuở trước, bày tỏ lòng biết ơn vô hạn của nhà thơ với chế độ mới, lý tưởng mới – cái lý tưởng mà nhà thơ có lúc như muốn quỳ xuống bái lạy cho tỏ sự biết ơn của một tín đồ đã bỏ “đạo” cũ để từ đây theo nó đến cuối đời.” (Một thời đại văn học mới, Hà Nội, 1987, tr. 106).

Sau này, hầu như không có nhà văn hay nhà thơ nào đủ vô liêm sỉ để nịnh bợ như vậy nữa. Và nhà cầm quyền cũng không đủ vô liêm sỉ để lớn tiếng tuyên truyền như vậy nữa. Nhưng đây đó, dưới những hình thức diễn tả khác nhau, chúng ta vẫn nghe thấp thoáng những giọng kể công và đòi hỏi sự biết ơn của dân chúng đối với những người đã suốt đời hy sinh gánh chịu…bổng lộc đến hầu như vô tận!

Đương quyền, người ta muốn dân chúng biết ơn. Về hưu, người ta cũng muốn dân chúng biết ơn. Với từng cá nhân, người ta đòi hỏi sự biết ơn. Với cả đảng và chế độ, người ta cũng đòi sự biết ơn.

Người ta cố tình ngoảnh lưng lại sự thật này: Làm lãnh đạo, thực ra, là làm thuê. Lương bổng của họ là do dân chúng trả. Tất cả tiện nghi và quyền lợi mà họ có là do dân chúng cung cấp. Ở đây không có chuyện ân nghĩa. Mà chỉ có vấn đề là: làm việc có hiệu quả hay không.

Làm được việc: Xin tiếp tục.

Làm không được việc: Xin mời xuống!

Nguồn: VOA