Posts Tagged ‘Cộng Đồng’

The ghosts in the room & skeletons in the closet

In Cộng Đồng on 2009/06/08 at 05:20

Note: This essay was written as a response to a call for dialogue from Da Màu (Colored Skin)–an online Vietnamese Literature Magazine. As some of you might recall, the Multi-Art Show “F.O.B. II: Art Speaks / F.O.B. II: Nghệ Thuật Lên Tiếng” organized by the Vietnamese American Arts & Letters Association (VAALA) became too controversial with many public protests to remain open for the weekend of January 17, 2009 in Santa Ana (Orange County, California). Da Màu Magazine then invited people participate in a writing dialogue on January 30, 2009. So we engaged via the below essay from the lens on race, class, privilege, generational gap, oppression, and memory.

the dead haunt the living…

Michel de Certeau

There are many comments about the protestors. But it’s rather cavalier to conclude that “… angry protesters unwilling and incapable of dialogue” because that assumption is completely missing the point. The protesters do not care about arts. The protestors do not seek dialogue with VALAA. Their aim and motivation are purely political as has been in many protests in the past and would be in the future. Generally speaking, each dialogue has a purpose and invited participants. In this case, it turned out that the would-be participants didn’t agree with the agenda or format, so came the boycott and protest. For the protester’s purpose, the dialogue between Vietnamese Americans do not further any changes in Vietnam, nor address the wound of the past, or create any progress in the transnational political field. If there is any dialogue it should then come directly from the in-power who needs to willingly disavow their power and come to the table.

The protesters want the in-power to acknowledge the ghosts in the room and skeletons in the closet. [The ghosts in the room are dictatorship and oppression. The skeletons are crimes committed before, during, and after the war: from political assassination to mass civilian killing, from land reform executions to re-education camps]. Only then there would be productive results and things could move forward. Any other ways are merely promoted illusions of dialogue and reconciliation.

One often evokes the silent majority to be on their side. In the context of the Vietnamese American community, what silent majority one refers to? Who are they? The middle-class, the upper-class, the educated elites, the technocrats, the acculturated, or rather, assimilated. Most (almost all) of my friends belong to that group, including me. But definitely we’re not such a majority. There are “others”, invisible, marginalized, and not counted. They would never amount to a majority since they are invisible, no matter how many they are. The “so-called” silent majority chose not speak up and purportedly felt intolerable for being silenced by a vocal minority. But, it’s not so “intolerable” as one so thought. That intolerable is the bourgeois histrionic malaise. That silence is so tolerable as much as a comfort of a lie — an assuagement of self-deceit — in order to be safe in the middle of the herd, letting others on the margin vulnerable.

Such silence is not only tolerable but also justifiable. There is nothing to gain but much to lose so silence is the best prescription for the “so-called” majority. There is also an advantage for being in this “so-called” silent majority in order to judge the protests as “reactive”, “illogical”, “un-democratic”, and “uncivilized”, as well as the protesters fanatics and extremists. Being considered as losers and spoilers, the protesters are presumptuously viewed as the hindrance to a “normalized” situation, an unwelcome third party in a dialogue between the (self-)anointed. These protesters are not regarded as engaging participants, and at most, merely spectators. So then comes a view of a silent majority who supposedly support peaceful dialogue and participate in the discussion. Together with a mix of naivete and ignorance this “so-called” majority forgets the invisible majority who neither has the means to participate nor the language to speak. Who sets the agenda, who frames the question? Who decides what and how to participate? Who speaks? Why would the protesters have to be “peaceful” and “orderly” in their objection? The “progressive” intellectuals who were sitting-in, demonstrating, burning flags, blocking roads, defacing public properties once touted their acts as “civil disobedience”, but ironically now labeled the recent Vietnamese American protests as “fanatic” and “barbaric”!?

There are ghosts (the invisible ominous presence) which possessed objects, symbols, space, and place. The red flag with yellow star and statue of Ho Chi Minh are such symbols/objects. Their presence evokes the invisible manifestation of ghostly horror of deaths and sufferings. More than the swastika which represents the Nazi party, a forgone regime no longer exists, the red flag with yellow star represents the continuing suffering, humiliation, and oppression, then, now, and ongoing. Regardless how those symbols and objects morphed or disguised into educational tools, communicative art or commercial items, they remain possessed. The protesters screamed out to the ghosts at which others turn a blind eye and ignore. Such disregard is often achieved by forgetting, by excluding, and by craftily framing. In contrast, the protesters want to dig out the skeletons in the closet, hidden and buried for many years without acknowledgment.

Very often people curse the hungry ghosts who possessed an area and demanded payment. Metaphorically and materially. In Vietnam, they are the local gangsters, often supplanted by local police, traffic police, and special police. People give bribes so the hungry ghosts don’t raise hell. People avoid them at all cost in order to keep on living but ultimately one wants to rid them permanently. There is an aura of ominous and imminent danger in their ghostly presence that evokes fear and abhorrence in the living regardless of how well the hungry ghosts are dressed and sophistically presented. The evil spirits in disguise as “reform” and “progress” have offered pacts to global hungry bidders. Who could take advantage but the privileges’, many are self-claimed “liberal progressive”. One could be very progressive in the mainstream framework but exploitative and internalized neo-colonialist in the faraway third world countries—those political identities are not mutually exclusive. Many have unwittingly (or rather strategically) abetted in making blood pacts, facilitating the red capital mixed with new found capital abroad in order to wash out the blood stains. Old money, new money. Old elites, new elites. Blood are also mixed to create an elixir for eternal power and privileges. One doesn’t have to look far to see. The daughter of current PM Nguyen Tan Dung married the son of an ex-RVN deputy minister. America, the land of opportunity no longer offers quick rich whereas the ancestral homeland bestows a much fertile ground for wealthy repatriates to exploit. They hid under the façade of heart-tugging call to rebuild Vietnam.

The privileged Vietnamese Americans have power of language, media, access, security, and capital accumulation on their side for expressing their thoughts and feelings, even if only in the confine of an ethnic enclave. Moreover, they set the agenda, frame the discussion, speaking on other behalf while the wounded just react based on their feelings in deep-seated experiences. Even in this “open” forum in the public space, I still doubt that any of the invisibles (even if not surreal or imagined) have a voice. Who speaks then?

Vi Nhân

Vietnamese Translated Version: Hồn ma và xương khô

Đề án xây cất 300 triệu tại Goodwill đã bị hủy bỏ

In Cộng Đồng, LittleSaigon - Seattle on 2009/05/12 at 14:12

Lời bàn:

Đây là một tin vui lớn xin được chia xẻ đến tất cả đồng hương, nhất là các quý vị đã thực hiện quyền công dân của mình, can đảm không sợ hù dọa, theo dõi cập nhật tin tức xác đáng, và tự động hợp lực tham gia góp chữ ký của mình từ tháng 5/2008 cho đến nay để chống đối dự án siêu thị khổng lồ Dearborn tại khu Goodwill.

Tin đề án hủy bỏ này đã xảy ra lập tức sau một số cuộc gặp gỡ quan trọng trong ba ngày từ đầu tuần từ ngày 21 đến 23-4-2009, giữa thành viên Nhóm Hoạt Động Xã Hội Dân Chủ vùng Tây Bắc Hoa-Kỳ cùng một vài cá nhân năng nỗ của cộng đồng VN với các vị nghị viên thành phố. Đây là một số cuộc nói chuyện quan trọng mà chúng ta đã xúc tiến cùng họp lực ủng hộ nhóm CARD–Community Alliance for Responsible Development –để tiếp xúc với đa số các nghị viên thành phố Seattle.

Sự kiện quan trọng đã tạo được áp lực chính trị để chuẩn bị cho các cuộc gặp gỡ với các nghị viên này là buổi hội thoại mà Báo Bia Miệng tổ chức vào ngày 4-4-2009 từ 1 đến 5 giờ chiều tại thư viện Columbia. Cuộc hội thoại tự phát vì nhiều người trong đám đông thầm lặng chúng ta đã bất bình chuyện các hội đoàn mang danh quốc gia nhưng thật ra đã đồng lõa và tự mãn nhiều tháng ngày, thêm nữa chúng ta cũng không chấp nhận việc làm tiếm danh của Phòng Thương Mại. Đây cũng là một cuộc hội thoại dân chủ lần đầu tiên với sự tham gia tích cực của các nhà hoạt động xã hội Hoa Kỳ và thuộc cộng đồng thiểu số bạn cũng như thành phần sinh viên. Cả hai sự kiện này cho chúng ta thấy sức mạnh cộng đồng, sự thật chính nghĩa và lẽ phải đã thắng.

Một trong những điều chính được đề cập trong các cuộc tiếp xúc này là chuyện Quang Nguyễn/Phòng Thương Mại và các phe phái cũng như cố vấn của họ đã tiếm danh cộng đồng Việt Nam ở Seattle. Hơn thế nữa, như bài báo đã viết dưới đây, ông Darrell Vange của tập đoàn xây cất Ravenhurst cũng nhận ra các áp lực chính trị từ đám đông thầm lặng của chúng ta và nhóm CARD để “dự đoán là sẽ có một cuộc đấu ‘khó khăn và tranh chấp’ để được nhượng quyền bán thí đường phố.” Không những ông Vange mà cả Quang Nguyễn /Phòng Thương Mại và các cá nhân, nhóm, tổ chức, hội đoàn sau lưng đã thất bại nặng nề trong việc làm không minh bạch của họ.

Quang Nguyễn, Trang Từ (tư vấn cho Thành Phố và cố vấn cho Quang Nguyễn), cùng nhân viên cơ quan Sage đã vận động hành lang gặp gỡ hai nghị viên thành phố vào ngày 29-5-2008. Mục đích cuộc gặp gỡ là để thuyết phục nghị viên phê chuẩn và chi một phần tiền của tổng số tiền bán thí đường phố trên 10 triệu cho “cộng đồng” VN ở Seattle. Họ đã tự động quyết định, không tham khảo mà cũng không cần biết cộng đồng VN thật sự muốn gì, và đã đánh bóng Little Saigòn thành một món hàng để thương lượng. Do đó, họ lấy cớ cộng đồng người Việt cần một “nhà văn hóa” khi xin tiền này. Họ có thể đã nghĩ là sẽ thành công do bắt chước công thức mà Thảo Trần và Trang Từ đã thực hiện với đề án xe điện ở khu Martin Luther King trong quá khứ!

Vào ngày 20-9-2008, ông Tăng Phước Trọng đã cùng Phạm Huy Sảnh, Lê Thiện Ngọ lập ra một ủy ban với tên gọi là “Hội Bảo vệ Little Saigon” tại thư viện Columbia để cùng làm việc với Quang Nguyễn. Hai ngày sau đó, vào sáng 22-9-2008 ông Trọng đã xử dụng danh nghĩa hội tư của mình dưới tên gọi CĐNVQG/TBWA của mình ra thề trong buổi điều trần tại tòa thị sảnh thành phố là ủng hộ Phòng Thương Mại. Ông thề không chống đề án Dearborn của tập đoàn xây cất. Một tuần sau đó, vào ngày 30 tháng 9, 2008, ông Trọng đã được “dự phần” chè chén với ba nghị viên thành phố vì đã chuyển hướng đứng về phía Phòng Thương Mại tự tiếm danh cộng đồng tại buổi điều trần. Ông đã hân hoan đến dự tiệc khoản đãi cho bà nghị viên Jean Godden, ông Tim BurgessBruce Harrell tại nhà hàng Saigon Bistro.

Điều ngồ ngộ là bà nghị viên Jan Drago và ông Tim Burgess–hai người nghị viên còn lại trong tổng số chín–đã lần lữa và cho tới nay vẫn chưa cho hẹn tiếp xúc. Họ đã thối thoác cuộc tiếp xúc với cộng đồng VN và nhóm CARD trong thời gian vừa qua. Tưởng cũng nên nhắc lại bà nghị viên Jan Drago là thành viên cố vấn cho hội “hữu nghị” Greater Seattle VN Association của Michael Sơn Phạm . Cộng đồng người Việt Seattle cũng không còn xa lạ gì mấy nữa về Michael Sơn Phạm, một thành viên trong Hội đồng quản trị của Phòng Thương Mại, và là đầu mối trung gian giữa Seattle và VN trong (1) vấn đề giao thương với CSVN qua công ty tư vấn riêng là US-Asia Gateway ; và (2) các đề án “từ thiện”, “nhân đạo” như Kids Without Borders, Humanitours , v.v…

Xin lưu ý về đoạn cuối cùng của bài viết tường thuật do phóng viên Emily Heffter thuộc tờ báo Seattle Times này. Khi họ đề cập đến “một nhóm chống đối khác” là một dẫn nhập bóng gió về cơ quan Sage liên hệ đến nghiệp đoàn lao động và Phòng Thương Mại người Mỹ gốc Việt tiểu bang Washington (WaVA) của Quang Nguyễn. Họ đã qua mặt tiểu thương sinh hoạt trong khu Little Saigon, tiếm danh cộng đồng Việt Seattle, và coi thường nhiều cộng đồng hội đoàn chung quanh khu vực. Điều tệ nữa là họ đã thông đồng với báo chí—Hoa Kỳ, Á và cả Việt Nam—để cố tình đưa tin thất thiệt là mọi chuyện đã xong, nghị viên đã chấp thuận, và không gì thay đổi được. Dù đã thất bại trong mưu lợi riêng, họ vẫn không biết hổ thẹn tiếp tục tự vỗ ngực xưng danh là đã cố thực hiện “một khuôn mẫu sáng tạo để đảm bảo phát triển có trách nhiệm với những người đại diện cộng đồng.” “Trách nhiệm hay tiếm danh cộng đồng?” là câu hỏi cần đặt ra để tất cả đồng hương tự tìm câu trả lời và các hành động thỏa đáng sắp tới.

Đọc tiếp »

Những cái nhập nhằng không tên

In Cộng Đồng, Chính trị (Politics), LittleSaigon - Seattle, talawas, Việt Nam on 2009/05/10 at 05:03

Vi Nhân

(bài đăng ngày 10/5/2009 trên diễn đàn Talawas,

BBT: Đây là một bài viết tập hợp các suy nghĩ trăn trở về cộng đồng Việt hải ngoại. Bài viết này chúng tôi–anh em Nhóm Hoạt Động Dân Chủ Xã Hội vùng Tây Bắc–trao đổi đàm đạo với nhau sau khi đã hợp lực tranh đấu giúp Little Saigon Seattle không bị xóa tên trên bản đồ thành phố trong vòng ba năm từ 2007-2009. Xin xem thêm một số chi tiết dữ liệu quan trọng về công cuộc đấu tranh ngăn cản dự án xây dựng trung tâm siêu thương mại (Dearborn Mall) tại khu phố International District trong khu downtown Seattle tại

Chúng ta kinh hoàng nhận thấy rằng–kể từ khi người anh em của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa xã hội bị chính thức khai tử–thì chủ nghĩa tư bản bắt đầu hoành hành vô độ do chứng vĩ cuồng thúc đẩy nên lập diễn những lầm lạc của người anh em tưởng đã tuyệt giống ấy. 

(Günter Grass – Diễn từ Nobel Văn chương 1999)

Capitalism-Socialism_Günter Grass_E_1

Kể từ ngày quốc nạn 30 tháng 4 đến nay là đã hơn ba mươi năm. Lớp người chạy trốn CS bỏ nước ra đi đợt đầu tiên (1975) và làn sóng vượt biên, vượt biển đợt hai (1979-1980s) cho đến nay thì đã già/non suýt soát một thế hệ. Gần nhất nữa là đợt tỵ nạn nhân đạo của các nhóm HO, con lai, cũng như đoàn tụ gia đình vào thập niên 90 cho đến hiện tại. Hơn 30 năm đủ để thế hệ con cháu của những người ra đi đầu tiên và đợt vượt biên trưởng thành và bắt đầu sự nghiệp.

Các em thuộc thế hệ thứ nhì nay bắt đầu hội nhập vào cuộc sống. Việc con em người Việt tỵ nạn hoà đồng sinh hoạt rộng hơn trong các hội sinh viên Việt Nam và tổ chức thiện nguyện tùy thuộc vào hai nguyên nhân chính: (1) không tham gia nếu bị cô lập do không quen thuộc với ngôn ngữ mẹ đẻ và đã quen lối sống riêng trong dòng chính trọng cá nhân chủ nghĩa và mãi băn khoăn đi tìm cái tôi; hoặc (2) có tham gia vì đã từng sinh sống ở môi trường đa sắc dân hay do cơ hội đưa đẩy trong lúc cảm thấy trống vắng.

Trong môi trường đại học, một đội ngũ giới hàn lâm thiên tả với nhãn quan da trắng sinh sôi lớn mạnh và tiếp tục sứ mệnh lên lớp bài học lịch sử lệch lạc về cuộc chiến Việt Nam. Ngoài đời thường, hàng ngày, hàng giờ các em học hỏi giao tiếp và đi cùng nhịp với mạch điệu thiên vị chính thống đầy thiên lệch. Dĩ nhiên, khi cách thức sinh hoạt này trở thành cơm bữa thì việc cư xử đi ngược với văn hóa và cách sinh hoạt của cộng đồng người Việt tỵ nạn là chuyện tất nhiên. Kết quả là từ đó mầm mặc cảm tự ti vô thức gieo trồng lần lần vào đầu óc các em. Đến khi bị đồng hóa và tiếp thu tiềm ẩn phân biệt chủng tộc mà cũng không biết. Cụ thể nhất là cái vô thức đen tối thăm thẳm này đã ảnh hưởng đến cách ứng xử và hành động khi liên hệ với cộng đồng và Việt Nam.

Các em dấn thân làm việc cho các tổ chức, cơ quan phục vụ xã hội bất vụ lợi (non-profit) vì mang ước vọng phục vụ xã hội nhất là đóng góp cho “cộng đồng”. Oái ăm thay, các tổ chức này vì cần ngân quỹ để hoạt động và để bảo tồn sự sống còn của riêng mình nên họ làm việc cầm chừng và phục vụ quyền lợi riêng (self-interest) nhưng luôn nghĩ vị trí “ban ơn” của mình to tác. Họ nhất định không đi xa hơn giới hạn của công việc và từ khước các phản kháng chống lại áp bức bất công. Hậu quả là các cơ quan này, dù biết hay không, trở thành một công cụ trong một guồng máy tiếp tục duy trì hệ thống cấu trúc không công bằng nằm sẵn trong các chính sách công cộng và phúc lợi xã hội (public and welfare policies). Mọi hoạt động của các tổ chức này không khác gì hơn là dán băng tạm vào vết thương sâu. Tuy nhiên họ không (muốn) tìm hiểu vì sao và ai gây ra các vết thương sâu hay tấy đau đó. Đây là cái nhập nhằng thứ nhất: cơ quan bất vụ lợi và duy trì cơ cấu bất công.

Đi xa hơn nữa là công tác từ thiện và gây quỹ giúp đồng bào khốn khổ Việt Nam không chỉ với lớp trẻ thế hệ thứ hai. Bao nhiêu câu ca dao tục ngữ của truyền thống nhân hậu “máu đổ ruột mềm”, “lá lành đùm lá rách” đã ăn sâu vào tâm khảm người Việt. Thêm vào đó là việc làm công quả, làm phước mong được hưởng ân phước kiếp sau, hoặc hứa hẹn thiên đàng ở nước trời. Vừa có tiếng thơm, lại vừa có phước thì ai lại chẳng muốn làm! Nhưng đặc biệt hơn, không ít người đứng ra lập hội từ thiện cốt để dựng lên cột tín chỉ đạo đức, và tạo gạch nối cho những công việc liên quan đến nghề nghiệp riêng tư. Một hình thức mua tín chỉ cho người có khả năng tài chánh mộng làm “trùm”. Dường như lại có khá nhiều người trong đám đông bị ám ảnh từ nhu cầu cần cả hai tín chỉ, một là học vị và hai là đạo đức, để hãnh tiến. Đó là cái nhập nhằng thứ hai: tổ chức từ thiện và tín chỉ đạo đức.

Người ta dễ dàng núp sau tấm khiên “từ thiện” và chiếc áo giáp “văn hóa” để không dính dáng gì cả về mặt “chính trị” và giúp cho họ được an toàn địa vị. Nhưng nói thế mà không phải vậy. Những việc làm từ thiện và văn hoá luôn chứa đựng một hàm ý chính trị thực tiễn. Chúng ta có thể không tham gia chính trị “đảng phái” nhưng tất cả mọi hành vi–dù ít dù nhiều và thậm chí ngay cả nếu “bình chân như vại”–của mình cũng đều mang tính chính trị liên hệ đến quyền công dân và xã hội dân sự. Đó là quyền và trách nhiệm của một công dân trong một nước và là con người sống trên trái đất.

Yêu đất nước không đồng nghĩa với yêu chính quyền hoặc mến mộ chính sách của nước đó. Yêu nước là phải biết phản kháng lại khi chứng kiến khổ đau ngày càng tích tụ không đếm kể do các chính sách bất công, chính sách độc tài, chính sách nước lớn, chính sách kỳ thị — dù ở nội địa hay đối với nước ngoài. Yêu nước là năng nổ xốc vác để tranh thủ và cổ súy cho phong trào tự do, dân chủ, dân quyền, nhân quyền cho mọi người. Yêu nước là không mù quáng theo tiếng gọi cảm tính mang màu sắc phe phái, cục bộ, địa phương, dân tộc hẹp hòi. Đây là cái nhập nhằng thứ ba: “phi chính trị” và yêu tổ quốc chung chung (lung tung).

Thử đọc một bài báo của Tuổi Trẻ Online tại Việt Nam tường thuật về buổi trại hè với một nhóm thanh niên Việt hải ngoại được gọi là “trại sinh” tham dự chương trình “Hành trình di sản quê hương”:

Cũng tại buổi chia tay, Bí thư thường trực Trung ương Đoàn Lâm Phương Thanh khẳng định: “Công tác thanh niên ở nước ngoài là một trong những nội dung được Trung ương Đoàn đặc biệt quan tâm. Trung ương Đoàn sẽ tiếp tục phối hợp với các đơn vị, Đài truyền hình Việt Nam thực hiện các chương trình dành cho bạn trẻ Việt Nam ở nước ngoài…”. Chia sẻ thêm với các bạn trẻ kiều bào có mặt hôm nay, Bí thư Thành đoàn TP.HCM Tất Thành Cang gửi gắm thông điệp: “Quê hương Việt Nam chúng ta rất đỗi yêu thương, dung dị, nghĩa tình và sẵn sàng đón nhận các bạn trở về đất mẹ”.

“Suốt hành trình 15 ngày dọc chiều dài đất nước, các trại sinh đã được tham quan những danh lam thắng cảnh của quê hương. Hơn thế nữa, các bạn còn bày tỏ niềm xúc động khi được tham gia các hoạt động truyền thống như hành hương về đất tổ Vua Hùng, viếng nghĩa trang Trường Sơn, giao lưu “Những đóa hoa bất tử” về 10 cô gái đã hi sinh trên tuyến lửa tại ngã ba Đồng Lộc. Nhưng có lẽ nhiều bạn cũng sẽ in sâu dấu ấn về tinh thần anh dũng, mưu trí của người dân đất thép Củ Chi khi tham quan đền Bến Dược, chui địa đạo Củ Chi…”

Chỉ qua hai đoạn trên thì ta cũng thấy rõ hoạt động chính trị vận, kiều bào vận, sinh viên vận luôn sát kèm vào tất cả sinh hoạt để họ có thể lấp liếm vàng thau lẫn lộn: đem những cái của đảng và “chính trị bộ” ráp gắn với văn hóa và truyền thống dân tộc. Di sản quê hương bị tiếm đoạt làm món hàng đánh bóng cho truyền thống “đánh giặc cứu nước” của “đảng ta”. Những kẻ chóp bu ấy luôn chỉ đạo các nhóm cấp dưới làm nhiệm vụ tuyên truyền vẽ vời không ngừng một đất mẹ huyền thoại bên kia bờ đại dương với chiêu bài “xây dựng đất nước” để dụ dỗ kích thích các em bằng các hình ảnh đói khổ nghèo nàn do hậu quả chiến tranh. Lời mời chào “yêu tổ quốc và yêu quê hương” lẫn lộn với yêu xã hội chủ nghĩa, yêu chính quyền và chính sách cai trị của đảng Cộng Sản Việt Nam hiện hành. Một nhập nhằng yêu nước của kẻ bịp bợm.

Sau ba mươi năm một thế hệ người Việt hải ngoại đã thành đạt trong khoa cử, thương mại, và chính trường. Vì tâm thức “tước hữu ngũ, sĩ cư kỳ liệt – dân hữu tứ, sĩ vi chi tiên” [1] tạo nhu cầu tiến thân vượt trội, nên “cờ mũ cân đai” gây ảnh hưởng hay đạt vị thế xã hội cũng tăng dần. Nhu cầu này đi song song với một đòi hỏi bất khả thi trong khá nhiều đổi chác. Cái giá phải trả cho các đổi chác này là sự “im lặng”. Im lặng dù biết mình đồng lõa với bất công, che mắt với dối trá, làm ngơ với áp bức bóc lột. Sự đổi chác này không chỉ qua các thoả ước bằng lời mà còn từ những “luật chơi” ngầm được tự động thi hành. Các luật chơi này hoàn toàn có tính cách “tự hiểu” do đã ăn sâu trong suy nghĩ và không cần bị mua chuộc, áp lực hay bắt buộc. Do đó các luật chơi này được tuân thủ răm rắp. Những người “thức thời” luôn là kẻ cặp kè với người quyền thế, để được bao chống, nâng đỡ, vừa có ô che lại được bệ đỡ không sợ mưa nắng, không sợ té ngã. Đây không phải chỉ là những người hay cơ sở sợ “bể nồi cơm”. Đây còn là giới trí thức “thức thời” luôn nhìn xuống đám dân đen, người lao động, người phục vụ như là công cụ để lèo lái, để ban phát ân huệ và tự cảm là người tốt bụng rộng rãi.

“Há miệng mắc quai” và “Ngậm miệng ăn tiền”, hai câu tục ngữ tuy hai là một. Há miệng để ăn nên không ngậm miệng thì cũng đành ú ớ. Chúng ta đã thấy lắm “chuyện dài cộng đồng tỵ nạn” nhan nhãn ở địa phương mình và thở dài thất vọng. “Phân” [2] xanh “phân” tươi, vừa thấy là tranh giành chụp giựt. Thực ra cũng không đáng phải quá thất vọng khi thấy hiện tượng này xảy ra trong một xã hội xô bồ. Nhưng nó xảy ra như cơm bữa thành ra có người phải lên tiếng là “cái cộng đồng mình nó là như thế đấy!” Và kẻ “thức thời” hăm hở vin vào mà thốt lên rằng, “thế thời thời phải thế!”. Phải chăng đám đông thầm lặng đều thức thời, theo mô hình cho một cộng đồng “gương mẫu” (model minority) là chăm chỉ hạt bột, tuân thủ, tòng phục, cúi mặt làm ngơ? Đó là cái nhập nhằng thứ tư: sự “thức thời” của giới trí thức và đám đông thầm lặng.

Những năm gần đây ta thấy có một làn sóng ngầm của người di dân từ Việt Nam sang hải ngoại, từ du học sinh đến tạm thời ngắn hạn hoặc ở dài hạn với giao kèo việc làm, đến lao động xuất khẩu trá hình dưới các hình thức khác nhau. Đã thấy các cơ sở thương mại dần dần đổi chủ sang tên không liên hệ gì đến cộng đồng người Việt tỵ nạn.

Bắt đầu đã có người đứng đầu hay mang nhiệm vụ liên hệ cho hội “đồng hương” không còn là người Việt tỵ nạn. Rõ hơn hết trong đợt “di dân” này là số du học sinh các trường đại học cộng đồng và hậu đại học. Nhờ làn sóng này không ít người Việt hải ngoại được thăng quan tiến chức do nhu cầu phục vụ hay xử dụng du học sinh. Và cũng không thiếu người đã thấy được thành phần này sẽ trở thành nguồn lợi nhuận lớn từ khâu A đến khâu Z cho đến khi họ đạt được mảnh bằng “con” (và có thể kéo dài nếu họ quyết định không về nước).

Ngoài việc trở thành nguồn lao động nghiên cứu rẻ cho các học giả “hàn lâm” (để thâu thập tin tức dữ kiện từ các chốn sinh hoạt cộng đồng Việt hải ngoại như chùa chiền nhà thờ), du học sinh còn trở thành món hàng công khai bán chạy. Vì họ có nhiều chất xám (chẳng hạn sinh ngữ và kiến thức) hơn diện lao động ở chui hay bán thân. Món hàng hấp dẫn mới nhất này được rao mời, và đưa vào một mạng lưới dây chuyền lao động trong nhà hàng ăn tiền mặt, qua nơi thuê trọ. Dịch vụ cũng có thể bao gồm cả hệ thống hút sách tiêu pha đàn đúm nếu là con cán bộ giàu có. Đàn đúm không chỉ trong vòng nội bộ du học sinh. Họ đang dần dần bành trướng trong phương sách “sinh viên vận” để tạo sinh hoạt thân thiện gần gũi trong khi xâm nhập vào các hội sinh viên người Việt hải ngoại thuộc thế hệ thứ hai.[3].

Trong khi đó, thị trường Hoa-kỳ không còn hấp dẫn cho đầu tư. Chất xám thì không được trưng dụng hay mua rẻ mạt. Lý do là kỳ thị chủng tộc vẫn còn nằm sâu gốc rễ trong xã hội. Số lượng tư bản và trí tuệ Việt hải ngoại do đó chuyển hướng quay đầu trở về quê cha đất tổ. Họ xăng xái đầu tư, “xây dựng” đất nước. Họ viện cớ không mắc cở câu “đất nước mình đã thay đổi nhiều”. Có thay đổi chăng chỉ là cái bộ mã tự do thương mại để đầu sỏ đảng bộ tự tung, tự tác lạm quyền đổi chác, bán đổ, bắt tay với kẻ cơ hội làm giàu riêng. Cái bình phong quái thai “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” do thiểu số chóp bu Đảng Cộng Sản Việt Nam dựng lên để che đậy lấp liếm cho chính sách độc tài, bán nước, hại dân, tiêu tan đạo đức, phá hủy môi trường, vét sạch tài nguyên.

Thế nhưng đau đớn thay vẫn có hết loạt này đến loạt khác về Việt Nam không những cố quên lịch sử mà còn nhắm mắt trước những đàn áp bất công trước mắt. Họ lao vào vầng hào quang cá nhân thành “người đương thời” để ăn trên, ngồi trốc. Họ cứ sống chết mặc bay và tiếp tay với quan quyền bản xứ như kẻ thực dân mới. Nếu người “đương thời” có được đưa lên tận mây xanh qua truyền thông báo chí mà lại bị vừa đập vừa xoa trước mặt khán thính giả để chửi khéo và làm nhục rằng “anh đã mất gốc” thì cũng vẫn làm. [4]

Tư bản xanh chạy vào, tư bản đỏ chạy ra. Tiền máu, tiền mồ hôi lẫn lộn ai nào biết được! Bóc lột thực dân mới, bóc lột giai cấp với đảng trị được vận chuyển xoay vần trên danh nghĩa thị trường mở cửa. Một môi trường cho người bóc lột người trong hổ lốn của chế độ đảng quyền, tư bản rừng rú, và tri thức vô tâm. Lần là, những liên hệ tình cảm, đối tác thương mại, và hoạt động trong mạng lưới tổ chức phi-chính-phủ (NGO hay Non-Government Organizations) tạo ra các ràng buộc khiến các cá nhân hay nhóm này (dù vô thức hay có ý thức) xuôi lòng thoả hiệp—dưới danh nghĩa hoà giải—với chính sách độc tài, hại dân, bán nước.

Mới đây, vào ngày 14 tháng 10 năm 2008 tổ chức từ thiện phi-chính-phủ PeaceTrees Vietnam đã khoản đãi Đại Sứ CS Lê Công Phụng tại Câu Lạc Bộ Thể Thao Washington (Washington Athletic Club hay WAC) thuộc thành phố Seattle. Bốn tổ chức bảo trợ chính cho buổi khoản đãi này là tập đoàn luật gia DuBois Law Firm, hãng máy bay Boeing, công ty đầu tư Russell Investments, và WAC. Tổ chức phi-chính-phủ nhưng lại có các hoạt động hoàn toàn không phi chính trị, phi vụ lợi. Một cuộc giao hữu thuần túy hay để đánh bóng phô trương bề ngoài cho chính quyền CS, và cò mồi cho các đối tác thương mại (tư vấn luật pháp, máy bay, và đầu tư) gặp nhau? Tiền máu cũng dễ dàng tẩy rửa và trao tay để sạch và mới như toanh.

Hai tuần sau đó, Bà Jerilyn Brusseau, đồng sáng lập viên và chủ tịch tổ chức PeaceTrees Vietnam, lại được trân trọng mời làm diễn giả chính trong buổi dạ tiệc hàng năm của Hội Luật Gia Người Mỹ Gốc Việt TB Washington (VABAW) tổ chức ngày 28 tháng 10 năm 2008.[5] Đây là cái nhập nhằng đa tầng trong/ngoài, tư/công rối rắm: phát triển và xây dựng hay là bóc lột thực dân mới và bóc lột giai cấp đảng trị?.

Những nhập nhằng không tên với biên giới mỏng manh giữa cái thiện và cái ác nên dễ lầm lẫn hoặc lấp liếm. Cái ác bao giờ cũng được tô điểm mỹ miều và bọc đường ngọt ngào; con quỷ đỏ luôn mặc áo choàng lấp lánh chói lòa. Sau khi chiêm nghiệm về những nhập nhằng đã điểm mặt nêu tên, thiển nghĩ rằng chúng ta sẽ phân biệt được thực được hư để khỏi vướng vào thoả hiệp với cái ác mà hành động theo tình người và lẽ phải.

© 2010 Vietsoul:21


[1] “Trong năm chức tước làm quan thì kẻ Sĩ là oanh liệt, trong bốn nghề nghiệp thì kẻ Sĩ cũng là trên hết.” Trích thơ “Kẻ sĩ” và “Tiến sĩ giấy” của Nguyễn Công Trứ (1778-1858).

[2] “Fund” là nguồn ngân quỹ–công hoặc tư–xuất ra để trợ cấp cho các hoạt động an sinh xã hội, văn hoá, nghệ thuật, v.v…

[3] Mới đây nhất là sự kiện mừng xuân Kỷ Sửu 2009 tại hội Tết in Seattle (mà BS Kiet Ly hay Lý Anh Kiệt là giám đốc điều hành) tại Seattle Center. Thành phần du học sinh Việt Nam từ trường Seattle Central Community College và một số trường cộng đồng khác đã tham gia đề án “Tuổi trẻ và Ước mơ” do bà Judith Henchy, nhân viên thư viện của Trung Tâm Đông Nam Á tại trường đại học UW, cùng phối hợp với nhân viên Seattle Public Library phụ trách. Vì “nhầm lẫn” nên cờ đỏ CSVN đã chễm chệ đính lên trên bản đồ nước Việt treo trong phòng triễn lãm. Chỉ đến khi các vị HO đến xem chợ Tết thấy và phản đối thì cờ này mới được gỡ xuống.

Một vài sự kiện khác không kém quan trọng về hiện tượng du học sinh trà trộn vào hội sinh viên người Việt hải ngoại thuộc thế hệ thứ hai:

(1) tại khuôn viên trường đại học UW này, du học sinh Việt Nam khắp Seattle thường hội tụ họp hành để tham gia tích cực vào đề án Kids Without Borders;

(2) năm nay hội sinh viên UW (VSAUW) thuộc thế hệ thứ hai người Việt hải ngoại cũng đã nối tiếp bước đường “thành công” qua cuộc thi hoa hậu “Miss Vietnam Washington” tại hội Tết in Seattle. Họ đã gây quỹ cho một bệnh xá “lưu động” Việt Nam và đang muốn đạt chỉ tiêu 20.000 USD. Họ sẽ cử sinh viên trong hội về cùng với cơ quan thiện nguyện trung gian Wellness Global Foundation ( của một bà “Việt Kiều Yêu Nước” và “công dân danh dự” của VN nhiều năm bị chống đối ở Bỉ. Hai thành viên hội đồng quản trị ở Hoa Kỳ giúp đỡ là bà con của bà ở tiểu bang Colorado, và ông BS Giáo sư Y Khoa của đại học UW, Khu Tiêu Hóa tại nhà thương VA Puget Sound, Seattle. Hội sinh viên UW đã gây quỹ hai kỳ:

(2a) ngày 28-2-2009 tại nhà hàng Tea Palace được 10.000 USD; và

(2b) cuộc thi Hoa Khôi Liên Trường ngày 18-4-2009 tại trường UW. Trong khi đó, không biết lý do gì mà các tin tức điện thư nhờ chuyển gởi cho các thành viên của hội sinh viên UW để các em có cơ hội am tường về các vấn nạn thiết kế đô thị tại Little Saigon Seattle đã bị ngăn cản, bưng bít gần một năm nay. Các sinh viên UW đã vướng vào các hoạt động nhập nhằng này.

[4] Henry (Hoang) Nguyen hay Nguyễn Bảo Hoàng–con trai út của Nguyễn Bang, một cựu phụ tá thứ trưởng chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, đã được Tạ Bích Loan–¬người điều khiển chương trình–cho ăn “củ chuối” vào phần mở đầu của cuộc phỏng vấn trong chương trình “Người đương thời” trên đài VTV1 phát hình ngày 07-05-2006 tại VN.

(Trích: hay tại YouTube: )

Trái chuối là một ẩn dụ ám chỉ người Mỹ gốc Á châu bên ngoài thì vẫn da vàng nhưng trong ruột thì trắng tượng trưng việc chọn lối sống suy nghĩ coi trọng văn hóa người Anglo Saxon. Đây là những người, vì đã bị hay muốn được đồng hóa, không gìn giữ văn hóa của các thế hệ đầu tiên của họ mang theo khi mới di dân đến Mỹ.

Tuy nhiên, chương trình “Người đương thời” này vẫn mệnh đề cho Nguyễn Bảo Hoàng là “Ẩn số đến từ Harvard”, và là “thế hệ Việt kiều thứ 2 về đóng góp, làm giàu cho quê hương.” Trong khi đa số tất cả các đóng góp ý kiến sau khi xem chương trình TV đông nhất người biết đến này đều cho anh Henry (Hoang) Nguyen là thần tượng, một quý khán thính giả với bút danh “Con Quốc Quốc” đã phát biểu như sau:

“Ẩn số đến từ Harvard Nguyễn Bảo Hoàng có lẽ là một trong những đáp số chính xác nhất cho nghị quyết 36 về người VN ở nước ngoài của ban BTTƯ đảng CSVN.”


[5] VABAW’s Fourth Annual Banquet ( was held on October 28, 2008 at the Triple Door. The theme for the evening was “Ambassadors to Our Communities.” (Xin tạm dịch: Đêm dạ tiệc lần thứ tư của Hội Luật Sư Người Mỹ Gốc Việt tiểu bang Washington đã được tổ chức vào ngày 28 tháng 10, 2008 tại nhà hàng Triple Door. Chủ đề của đêm ấy là “Những sứ giả của cộng đồng chúng ta.”)

Bản tiếng Anh: The Unspoken Ambiguities


Capitalism-Socialism_Günter Grass

Mời xem thêm các bài viết sau đây:

Phần 1: Chuyến viếng thăm riêng của Đại sứ Hoa Kỳ Michalak [Nhập nhằng sinh hoạt cộng đồng Việt TB WA]

Phần 2: Thị trưởng Seattle tiếp xúc với những ai trong Cộng Đồng người Việt [Nhập nhằng sinh hoạt cộng đồng Việt TB WA (2)]

Tham khảo: Chỉnh trang đô thị–một dạng phân biệt chủng tộc mới.

Bài viết mới trong tháng 9/2009:

Bài phản biện (The Rebuttal in Vietnamese): “Thư gởi chủ bút báo International Examiner vì bài viết không trung thực của Quang Nguyễn (Phòng Thương Mại)”

Bài phản biện Anh ngữ (The Rebuttal) vì bài viết không trung thực của Quang Nguyễn (Phòng Thương Mại): “Letter to the International Examiner Editor in Chief regarding Quang Nguyen’s article”

Thư ngỏ Anh ngữ cho giới trẻ (A letter to the second-generation Vietnamese Americans): “Critical Reflection with Vietnamese Young Readers re: an International Examiner article by Quang Nguyen (Vietnamese Chamber of Commerce)”

Các bài liên hệ khác đã đăng trên talawas:

Chứng quên tập thể

Bịt miệng nạn nhân

Chúng tôi (Tự trào – Trí Thức – Tâm Tài)

Tôi là người Việt Nam

Thời cửu vạn, ôsinThe Age of Day Laborer and Housemaid

Lết tới “thiên đường”

Phản bội hay trung thành với lý tưởng?

Các bài trên Tạp chí Da Màu:

Tháng Tư Câm

Hồn ma và xương khô

Dialogue: “Where Strengths & Truths of Little Saigon Seattle Come From?”

In Cộng Đồng, LittleSaigon - Seattle on 2009/05/07 at 16:16

Letter to Supporters of April 4, 2009 Dialogue: “Where Strengths and Truths of Little Saigon Seattle Come From?”

April 4th, 2009 Dialogue - Little Saigon Seattle

April 4th, 2009 Dialogue - Little Saigon Seattle

Tue, 05 May 2009


Panelists of April 4, 2009 Dialogue: “Where Strengths and Truths of Little Saigon Seattle Come From?”

Vietnamese Americans of Seattle and vicinities

Supporters of Northwest Neighborhood Activists for Democracy & Social Justice

Hi all,

First of all, on behalf of the Little Saigon activists, we deeply appreciate your continuous support and action. As promised, here are the latest info about Little Saigon Seattle in the International District.

The huge-scaled and out-of-charactered Dearborn Mall Project (at Goodwill site) were CANCELLED officially last Friday, April 24th, 2009, resulting after the three-day intense discussions with many City Council members from April 21st to 23rd. Below is the Seattle Times article.

These discussions with City Council were initiated by the Neighborhood Activist for Democracy & Social Justice – Northwest Region together with CARD – Community Alliance for Responsible Development [right after the April 4th grassroots dialogue conducted with the Vietnamese community at Columbia Library, and its news & video have been posted on You-Tube and many internet links].

To be exact, our discussions with the City Council were about:

(1) our firm commitment to preserve the cultural characteristics and political identity of Little Saigon;

(2) our concerns of the lack of civic participation of Vietnamese merchants and the majority during the planning process; and

(3) our critical feedback on urban development issues which were related to Sage and WaVA (Vietnamese Chamber of Commerce) non-transparent conducts.

This project failure proved the community strength–when we collectively believe in unity and integrity AND not allowing any paralysis due to indifference, ignorance and fear.

Again, thank you very much for your effort!


quynh-tram & hieu nguyen


(1) As mentioned in previous correspondences, the mantra that “this project was a done deal” was the attempt to mislead the intelligent mass! Also, the news (in Vietnamese) and some You-Tube videos regarding the April 4 grassroots dialogue have been posted at the below–among so many Internet links:

ALL the video segments of the April 4 Dialogue are at the below link:ệng,+Little+Saigon+Seattle&aq=f

(2) In the last paragraph of the below Seattle Times article, “another group of opponents” was addressed without mentioning names. As you already knew, the two well-known groups who secretively signed the deal with the developers are Sage and WaVA. Although their attempt to mislead/misrepresent the community without consent was failed, the two groups still insisted that they created “a groundbreaking model for making development accountable to community stakeholders”! What kind of “accountability” would you think in this case?

$300M project at Seattle Goodwill site canceled

By Emily Heffter – Seattle Times staff reporter”

Personal testimony at the Hearing on Rezoning

In Cộng Đồng, LittleSaigon - Seattle on 2008/09/22 at 17:08

September 22, 2008

Hearing Examiner

700 5th Ave, Suite 4000

PO Box 94729

Seattle, WA 98124-4729


Public Testimony on the Dearborn Project—a proposal for 1400 South Dearborn Street by Darell Vange, Ravenhurst Development, Application Number 3001242

Madam Examiner and Council Members:

My name is Quynh-Tram H. Nguyen, and beside me is my husband, Hieu Nguyen. We are currently residents of Seattle. We have been the engaged community members and organizers in different residences from Orange County, California, to Olympia and Seattle. Since 1982, my husband had served on the board of the Vietnamese Mutual Association of Olympia, the Thurston County Refugee Center, and as the school principal of the Hung Vuong—a Vietnamese Language School in Olympia. I myself had worked as licensed family psychotherapist for 6 years serving a diverse population of Caucasian, Vietnamese, Latino, and other South East Asian origins. Before becoming a Seattle resident, I also served as the Co-Chair of a non-profit organization named Vietnamese American Human Services Association (VAHSA). In addition, since 1994 I have been a grassroots activist within the Asian community where I has followed my passion for empowering and advocating for women and children. I am currently pursuing my doctoral study at the University of Washington. My teaching/research focuses on the intersection of Performance Studies and Community Development of the Vietnamese diaspora. Finally yet importantly, we are both currently peace activist and regular volunteers at the Vietnamese Senior Association of Seattle.

Today, we are making a public statement regarding the Dearborn Project. We have been interested in the development of its proposal since 2006. Eventually, we have intensively engaged with other Vietnamese Americans and neighborhood activists about this “so-called development” project since the beginning of this year. We are concerning about the Vietnamese Americans’—especially the impacted merchants’—lack of thorough understanding of this Dearborn project with complex procedures and processes. We also believe that they did not have enough opportunities to understand and provide their own input about the negative impacts of the Dearborn project. Certainly, there is little decent public engagement for the Vietnamese community regarding an extensive review process about the project. Therefore, we urge you to (1) consider the serious impacts of the project and to ensure it is adequately conditioned in your recommendation to the City Council; (2) not to approve the rezone because of impacts due to the inconsistency with the City Comprehensive plan; and (3) ensure the rezone recommendation be brought back to Department of Planning and Development (DPD) so that more adequate and complete analyses and recommendations could be made before it goes to the City Council.

We are very concerned about the causes and psychological consequences of gentrification due to this huge mall project scale and scope. We examine through different means on how this rezoning project would affect the Vietnamese merchants as well as residents in and beyond Little Saigon area. Attached is a copy of our research with all the highlighted media pieces of a three-year period. These articles demonstrated the majority of legitimate opinions and concerns against gentrification until very recently. In spite of lack of public assistance, we have worked constantly to educate ourselves and then attempted to inform the Vietnamese about these urban development issues. Why do we care, you would ask? We care because displacement is a serious phenomenon that we never desire for anyone to experience again. In fact, both I and my husband (as the majority of Vietnamese Americans) were displaced within our own country due to the war impacts and before the Vietnam War was over, and subsequently displaced from Vietnam to stay in the limbo state within Southeast Asia refugee camps prior to our migration to the United States. We were called the “boat people” finally coming to America with our empty hand and yet enormous hope for freedom of expression and better livelihood.

As the US citizens, we are eager in contributing to our new homeland while sustaining and nurturing our four-thousand-year cultural roots. Wherever we resettle, we consciously seek Little Saigon to come and connect with others in various ways. There is no doubt that Little Saigon made us feel home. We cultivate this symbolic home through everyday memories and collective engagement in our new adaptation. Overall, Little Saigon demonstrates how its unique life benefits diverse groups of individuals: refugees with limited English gain employment, Vietnamese elders find comfort, and “Americanized” immigrants and their children connect with ancestral culture. The non-Vietnamese neighborhood residents also expressed to us their appreciation toward Little Saigon of Seattle for having their basic needs (i.e. groceries) met at modest prices. Furthermore, in Little Saigon visitors are welcomed as customers to encounter qualities formerly experienced only through travel to other countries.

Our sense of belonging is often strengthened through Little Saigon’s tangible senses of taste, smell, sound, and sight not readily available anywhere else. It is a place where we can interact as a visible majority and openly practice cultural activities. Little Saigon is often regarded as a new form of urban village that offers an extended family where the lonely refugees, even if briefly, can be accepted. It allows all the engaged (regardless of social sector and ethnicity) to perceive the unique cultural character that the Vietnamese, as the minority group members, contribute to the US and provide the City of Seattle with substantial tax revenues. In other words, this area adjacent to the Seattle Chinatown affords us and many other Vietnamese a well recognized public identity and a sense of “being in the right place”—in spite of the perpetuation of stereotypes, erosion of ethnic boundaries and persistent forms of specialized crime that threaten the areas’ success and yield negative perceptions of the areas’ ethnic groups.

Due to such attachment to the Little Saigon of Seattle, we have made effort to organize public awareness gatherings regarding its current predicament. In addition, we utilized a street theater event on June 13, 2008, to raise communal attention on the impacts of the Dearborn project. As the result, attached to this public testimony is our postcard sample that we used to collect more than 500 signatures mostly signed by the Vietnamese Americans. The number of signatures is not a huge but significant one. It does strongly indicate that these signers are courageous. If you understand the impacts of their historical trauma, you would understand the weight of each signature. One signature could represent hundred of signatures. Because of many political upheavals and abusive governments in Vietnam as well as their subsequent displacement trauma, the Vietnamese Americans have become very cautious in providing any signatures. The signatures on these postcard show the acts of concerned citizens who care very much about Little Saigon. They took risks to confirm their opposition of not having a voice in the process. All of these postcard signatures will be forwarding to the Seattle Department of Transportation within a couple of weeks as our recommendation for better and thorough analyses prior to any City action.

To obtain a basic understanding of the merchants’ needs and wants, we ourselves conducted a preliminary survey with them in the Little Saigon of Seattle. Almost all the merchants are renters. They shared that they are not aware, being informed, or even mis-informed about the impacts and/or the remedial benefits declared in the Dearborn Agreement with the developers. Being caught with daily survival and deal with many barriers (such as language, class, technological skill, waves of migration, etc.) have prevented them to involve in this public review process in order to advocate for themselves and protect their rights. The expressions were often conveyed to us are the following: many fears of intimidation, lots of confusion and apathy, and/or being very skeptical toward the offering benefits as the developer’s true concerns about their possible plight of displacement. They could not imagine how life would become if the project is approved without any consideration for justice. Attached to our public testimony is the list of the merchants we have talked to during this preliminary survey.

In fact, the merchants’ real concerns are increasing rent, loss of customers due to congested traffic , and erasing their cultural space . Moreover, many Vietnamese in Seattle and surrounding cities (from Everett, Bellevue, Kent, Tacoma, Olympia, …) who converge to the Little Saigon as their public space have grave concern on loss of cultural history and identity . The out-of-scale, out-of-character shopping mall will overwhelm the “little” Saigon, squeeze the neighborhood, and displace them. This encroachment and resulting displacement will not have just the negative economic impact. The displacement would cause a psychological health impact , particularly to the seniors, who grounded in Little Saigon as their home away from homeland. The area already is sufficiently zoned for retail. Those shopping districts should be allowed to develop organically and not induced to face an intervened competition due to this newly created super-size commercial district.

The DPD did not outreach sufficiently to a wide Vietnamese community on the negative impacts. The outreach has been oriented to elite group participation. In other words, the elaborate hierarchical representative structures have not achieved a sense of empowering or inclusion for less involved residents and ethnic communities. Moreover, the PDP did not have a systematic analysis of health consequences from effects on multi-layered factors such as displacement; land use density, design, and diversity; and public infrastructure.

In sum, we urge the Hearing Examiner not approve the rezone because of the serious impacts to the neighborhoods, and they are inconsistent with the City Comprehensive plan for the following reasons:

(1) Incompatibility with Neighborhood Character. This out-of-scale and out-of-character urban super-regional mall with major national retail chains as the major commercial mix right next to a tiny Little Saigon will overwhelm the Vietnamese cultural and public space. We therefore believe that this project is incompatible in scope, scale and nature with the existing fabric of the Little Saigon/International District, which is composed of small ethnically owned businesses. Moreover, the project is incompatible with the future vision for the ID community, as expressed through the ID’s participation in the Livable South Downtown planning process.

(2) Traffic Impacts. Increased congestion to the area will add to the existing problems of traffic and parking, especially in the Little Saigon area, which could result in a loss of local and regional patronage to the area’s businesses. Majority of Little Saigon patrons are out-of-area Vietnamese residents yet converge to the Little Saigon area to do shopping and business and attending cultural events. They will not bother to come when traffic getting worse.

(3) Overflow Parking. The overflow parking will influence tremendously the already crowded Little Saigon. The city paid research already indicated that business in Little Saigon has been negatively impacted since the implementation of Safeco Field and the Quest Field. Business is down during game days, particularly on weekend.

(4) Insufficient Outreach. There is not sufficient outreach to the Vietnamese merchants and other engaged citizens in the Little Saigon area. They are either completely not informed or mis-informed on the impacts and remedial benefits. (please see the attached survey and relevant testimonies)

We are submitting signatures of all individuals and organization representatives who agreed with our above reasons—explained in previous public meeting and now in this public testimony. Thank you for your consideration.

Respectfully yours,

Quynh-Tram H. Nguyen & Hieu Nguyen


Public Testimony re Dearborn Project by Prof. Lynne Manzo

In Cộng Đồng, LittleSaigon - Seattle on 2008/09/22 at 11:00

Public Testimony

on the

Dearborn Project

provided by

Lynne C. Manzo, PhD

Environmental Psychologist

September 22, 2008

My name is Dr. Lynne Manzo. I am a resident of Seattle and I am an Environmental Psychologist. While I am also a professor at the University of Washington, I am testifying today in my capacity as an environmental psychologist and a private citizen.  My particular area of expertise is in the lived experience of place – this includes the study of place identity, sense of place and sense of community, and those dimensions of the physical environment that make a place more desirable and livable.

Today, I am making a statement in response to the City of Seattle Analysis and Recommendation of the Director of the Department of Planning and Development” on Application Number 3001242, a proposal for 1400 South Dearborn Street by Darell Vange, Ravenhurst Development. My comments also refer to the project designs for “Dearborn Street,” “Design Review Board #8” dated July 24, 2007.

In its recommendation, the Dept of Planning and Development has not fully defined or explored the project impacts nor has it completely conditioned the project to address impacts as they are required to do by the Municipal Code.  A project of this magnitude should be carefully and fully examined. I therefore respectfully urge the Hearing Examiner and the City Council not to approve the proposed Dearborn Project until further investigation is made into the following areas and steps are taken to better address these issues in the design:

I. Impact on Cultural Vitality of Surrounding Communities

  • Greater consideration of the neighborhood context, and the impact of the development on the community from a socio-cultural perspective and on its cultural vitality is essential. This includes examining the effects of the development on the place identity, and sense of place of the adjacent communities as cultural landscapes.
  • Census data and other research show that the surrounding communities, composed mainly of immigrants and ethnic minorities (see Figures 1-5), have unique needs and concerns, including the need for culturally-specific and appropriate goods and services and there is no evidence for the adequate consideration or provision of this in the current proposal.
  • The site of the proposed development lies immediately south of “Little Saigon” or the western portion of the Chinatown-International District.  This district is a critical ethnic enclave which has historically served to mitigate negative psychological impacts of the displacement of refugees and immigrants, has provided alternative and culturally appropriate economic structures for immigrants and has facilitated the preservation of cultural traditions (Mazumdar et al, 2000).  Research other Little Saigons in California shows that a culturally-sensitive built architectural environment is critical for fostering community identity and immigrant adaptation (Mazumdar et al, 2000).
  • Figure * shows the percentage of foreign-born residents in the area surrounding the site, and Figure * shows the . The above-mentioned findings on immigrant adaptation, certainly apply to Seattle’s Chinatown-International District and Jackson Place neighborhoods, both of which are occupied by foreign born residents. The development as proposed does not take this reality into account in any demonstrable way.
  • Research also demonstrates particularly strong concerns among local residents, business owners and community leaders that neighborhood revitalization efforts reflect the fabric of the area as a cultural landscape.  (see especially Abramson, Manzo and Hou, 2006). This development does not reflect the local cultural landscape in any measurable way.
  • The proposal states that provisions would be made for “neighborhood-oriented shops” (Analysis & Recommendation of the Director of DPD for APPLICATION NO. MUP 3001242 p 3) yet what this means exactly is not made clear. There is no provision or mechanism in place that would ensure that local small-business owners would gain these smaller retail spaces, rather than other generic chain stores.  A Sunglass Hut is rather different from, and serves a different clientele than, a Vietnamese resident-owned small appliance shop, for example.
  • Census data and the site’s proximity to the Yesler Terrace public housing development demonstrate a need for affordable goods and services. Research shows that the poor fare badly in the big-box economy (Mitchell, 2006). In contrast to the popular idea that such stores offer more affordable products, a 2005 Consumer Reports study indicates that independent shops can offer better prices than their large chain counterparts. This supports findings from a 2003 Consumer Reports study that independent pharmacists provided a higher level of health care and personal attention than that offered by chain drugstores.
  • Impact on low-income immigrant communities – Research reveals that small business owners can thrive in ethnic enclaves which offer mini-economies that facilitate economic integration into the host country (Portes & Manning, 1986). The introduction of chain superstores may threaten these local mini-economies.
  • Based on the research data cited above, it is evident that culturally considerate and economically appropriate neighborhood developments are a matter of social and environmental justice.

II. Impact on Community Identity and Sense of Community

  • Put info from Hummon here:  Research on Community Identity indicates that it is `grounded in both social integration and environmental experience’ and “appears to build particularly on the personal meanings of life experiences and the public images of local culture” (Hummon, 1992, p. 262). The current proposal
  • The City of Seattle’s Comprehensive Plan for Managing Growth 2004-2024 states the following goals:

“Create strong and successful commercial and mixed-use areas that encourage business creation, expansion and vitality by allowing for a mix of business activities, while maintaining compatibility with the neighborhood-serving character of business districts, and the character of surrounding areas.”  (p 62 – LUG17)

“Prioritize the preservation, improvement and expansion of existing commercial areas over the creation of new business districts.” (p 62 – LU103).

The scale of the proposed project, particularly its reliance on national and international retain chains, currently stands in contrast to these stated goals (See Section III below for details of research demonstrating this)

III.  Impact of the Scale of the Project – Human Experience of the Streetscape

  • Further examination of the appropriateness of the scale of the project for the surrounding community, based on empirical evidence (research) on environmental perception and the need for human-scale streetscapes.
  • The project contains 696,000 square feet of retail.  The majority of that retail space is dedicated to stores that are 17,000 square feet or larger. The Target store alone is almost 170,000 square feet – a size close to all the existing retail in Little Saigon combined.  A project of this scale is completely out of character and scale for this neighborhood.
  • Scientific evidence on environmental perception and the pedestrian experience of the streetscape indicates that large, monolithic projects are more readily perceived as insular and disconnected to the larger community (Gratz & Mintz, 1998; Jacobs, 1995; Project for Public Spaces; 2000)
  • The proposed project includes 72,000 sq. ft. of structured plazas, private sidewalks, and private streets, and while it is stated that these are both internal to the site and open to the public, the design plans show that many more are internally oriented to the site.  For example, elevated walkways and seating areas that do not connect well to the street and consequently a smooth flow of pedestrian movement. Moreover, those spaces that are open to the public are either not well placed or do not include the valuable amenities that decades of environmental psychology research on public spaces suggests is needed for successful urban public space (Whyte, 1980; Project for Public Spaces, 2000; Carr et al, 1992).
  • Plop n’ Drop – Research indicates that larger-scale development projects such as the proposed Dearborn project that are built all at once, face greater challenges in fitting into the neighborhood context than the more organic development of Main Streets that evolve over time and are revitalized, and that reflect a strategy that some scholars have  called “urban husbandry.”  (Gratz & Mintz, 1998).
  • Human Activity – Formal, written Design Review Board priorities include a concern that “New Development should be sited and designed to encourage human activity on the street.” (Analysis & Recommendation of the Director of DPD for APPLICATION NO. MUP 3001242 p 5).  More can be done in the current proposal to ensure that human activity on the street is encouraged, not the least of which involves curtailing the further accommodation of vehicular traffic. As the Design Commission has previously noted, it is important for the proposed project not to “degrade the pedestrian experience.”
  • Design in Relation to Human Activity on the Street – On the one hand, the Review Board approved transparency requirements along Rainier Avenue, recommending that there be “an accompanying condition that the areas lacking transparency be treated with high quality architectural materials.” On the other hand, the Board also approved the “departure from the prohibition against placing a loading dock along the Rainier Ave.” These recommendations seem somewhat contradictory; increased vehicular traffic at the loading docks will diminish transparency, even if below grade. Moreover, it is not clear how green walls and different façade textures will facilitate transparency.
  • Human Scale – The Design Review Board also states that “The design of new buildings should incorporate architectural features, elements and details to achieve a good human scale.”  (Analysis & Recommendation of the Director of DPD for APPLICATION NO. MUP 3001242 p 5).  However, the current proposal allows for design elements that are decidedly not to human scale. For example, signs for the anchor superstores are allowed to be720 square feet and 250 square feet, a scale that is clearly not pedestrian or human oriented but geared to vehicular traffic, particularly on nearby highways.  Not only is this not to human scale it is evident that such signs and stores are clearly not catering to the local neighborhood market.
  • People-Oriented Open Space Guidelines – Research based open space guidelines call for sittable space, (Whyte, 1980; Marcus and Francis, 1990) openness to the surrounding context MORE HERE…. [check the ped walkway mentioned in Analysis & Recommendation of the Director of DPD for APPLICATION NO. MUP 3001242 p 9]

Based on the above data, I remand the recommendation back to the Department of Planning and Development so that a more adequate and complete analysis and recommendation can be made before this proposal goes to Council.


Literature for the Public Hearing

on the

Dearborn Project


Provided by

Lynne C. Manzo, PhD

Environmental Psychologist

September 22, 2008



List of Figures

Figure 1

Racial breakdown in the Chinatown-International District as compared to the remainder of Washington State reflecting the majority presence of ethnic minorities in the area near the Dearborn site

Figure 2

Map of foreign-born Asians in and around the Dearborn site, including Chinatown-International District and Jackson Place

Figure 3

Percent Asian Population in and around Dearborn site, including Chinatown-International District and Jackson Place neighborhoods

Figure 4.

Ancestry of Asian Population in and around the Dearborn Site

Figure 5

Years of Entry for the Foreign-born Population of the International District

Illustrating that many residents are recent immigrants.

Figure 6

Percent of Households with No Earnings in 1999

Demonstrating Extent of Low Income Households in Vicinity of Dearborn Project Site

Figure 7

Percentage of Families Below the Poverty Level

Public Testimony of Huỳnh Kim Anh – Báo Bia Miệng

In Cộng Đồng, LittleSaigon - Seattle on 2008/09/22 at 10:15

Anh K. Huynh

22505 56th Ave. W

Mountlake Terrace, WA 98043

September 21, 2008

Hearing Examiner

700 5th Ave

Suite 4000

PO Box 94729

Seattle WA 98124-4729

Re:         The Dearborn Project, 1400 South Dearborn Street, proposed by Darell Vange, Ravenhurst Development

Dear Madam Examiner and City Council Members:

My name is Anh Huynh. I am a resident of Mountlake Terrace and a Seventh Day Adventist.  I do bible teaching to the Vietnamese-Americans in the Seattle area. I have many conversations with them and understand their deep concerns and cultivated interests in the matter related to the Dearborn/Goodwill project.  We share the same feelings and awareness in maintaining and promoting the vital cultural characteristics of Little Saigon. It appears meager but gradually blossoming in contribution to the diversity of the City of Seattle.

In its recommendation DPD has not fully defined the project impacts nor clearly or completely conditioned the project to address impacts as they are required to do by the Municipal Code.  A project–as large and complicated as this one–should be carefully and fully examined.  Here are just the three impacts that come to my minds:

o   Significant traffic will be added into already congested arterials. Heavy traffic discourages the Vietnamese Americans from coming to Little Saigon for shopping, attending cultural and religious activities.

o   Bus service in the area are not capable to handle the demands of such an immense project. A large part of Vietnamese elders are currently using bus to attend churches and temples right in the Little Saigon and Jackson Place.

o   Introduction of formula retail and big box into an area that is primarily ethnic and small business. This will efface the unique characters of an organically growing commercial district where small merchants provide cultural-specific and appropriate goods and services.

We urge that the Hearing Examiner and Council members consider the impacts of the project and to ensure that they are fully addressed before approval.

Sincerely yours,

Anh K. Huynh