vietsoul21

Posts Tagged ‘Dân chủ’

Phạm Thị Hoài – Đọ sức

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Thế giới, Việt Nam on 2012/05/24 at 12:57

Phạm Thị Hoài

Viết cho Người Buôn Gió

Đó là một cuộc đọ sức giữa hai đối thủ hoàn toàn không cân xứng: bên này là một nhà nước đầy quyền lực, sức mạnh và sẵn sàng nghiền nát bất kể ai và bất kể điều gì nó không ưng ý; bên kia là một con người bình thường, một cá nhân vô danh nhỏ bé.

Cuộc đọ sức không diễn ra ở lĩnh vực thường được gọi là chính trị. Bạn, cá nhân nhỏ bé kia chưa bao giờ là một nhà chính trị, lại càng không là một kẻ âm mưu, một kẻ chống phá nhà nước. Suốt cuộc đọ sức, bạn ở vị trí phòng thủ, không muốn gì hơn là được giữ những gì mà bạn coi là tính cách của mình, cuộc đời của mình và danh dự cá nhân của mình, dù hay hay dở.

Những thứ ấy đều bị nhà nước thường xuyên xâm phạm, bằng những phương tiện thừa thô thiển và lố bịch, nhưng không bao giờ thiếu dã man. Trấn áp và đe dọa, để buộc bạn phải từ bỏ bạn bè cùng chí hướng, phải gột rửa quan điểm riêng để tiếp thu những quan điểm theo chỉ đạo, phải xưng hô không như bạn thuận miệng, phải sinh hoạt trái với sở thích, phải dành thời gian cho những hoạt động mà bạn ghê tởm, phải tham gia những phong trào mà bạn dị ứng, phải học tập những tấm gương mà bạn chán ghét, phải tuân thủ những quy định mà bạn thấy phi lí, phải tán thành những điều mà bạn cho là ngu xuẩn… Và nhất là phải đầy biết ơn và hân hoan khi được nhà nước cho phép làm tất cả những điều phải làm đó.

Nhưng bạn không chịu. Bạn chẳng tha thiết với vai nạn nhân và không sắm sửa gì cho nó. Không bẩm sinh là một người hùng, lại càng không bẩm sinh là một kẻ tuẫn nạn, bạn thuần túy là một con người bình thường, với nhiều nhược điểm, đã thế lại còn là sản phẩm của một thời bạc nhược. Nhưng đơn giản là bạn không chịu. Và thế là bạn chấp nhận đọ sức. Chẳng sung sướng gì, đúng ra là phải tặc lưỡi mà chấp nhận, nhưng với một quyết tâm thầm lặng là không đầu hàng. Bạn yếu hơn đối thủ rất nhiều, đương nhiên, nhưng bạn lại linh hoạt hơn. Trong khi cái nhà nước đồ sộ cồng kềnh kia cần kha khá thao tác để có thể vặn cổ bạn thì bạn đã thụp xuống rồi lại vọt lên nhiều lần. Bạn biết né đòn và đánh lạc hướng. Bạn biết giữ thăng bằng và thoát hiểm trong gang tấc. Và ở bước đường cùng bạn cũng biết đem những phần thân thể đã trơ đòn ra chịu trận để che chở cái lõi nhạy cảm nhất, trong tận cùng tâm hồn bạn, cái làm nên con người cá nhân của bạn và bạn quyết giữ không cho nhà nước xâm phạm.

Cuộc đọ sức của bạn với cái nhà nước đó không phải là trường hợp cá biệt. Từ hơn nửa thế kỉ nay tại Việt Nam, hàng ngàn hay hàng trăm ngàn những cuộc đọ sức như thế đã diễn ra ở nhiều phạm vi và cấp độ; mỗi cuộc là một cá nhân đơn lẻ chỉ tìm cách bảo vệ danh dự riêng và con người cá nhân của mình, chống lại sự xâm phạm của một nhà nước hằn thù và siêu quyền lực; mỗi cuộc đều tuyệt đối cô lập và đóng kín trước công luận. Một số người, có thể nhiều khí chất anh hùng hơn hay quyết tuẫn nạn hơn, đã đi xa hơn bạn: họ đã vào đến trại cải tạo và nhà tù, đã đứng trong danh sách dự bị cho những tượng đài tương lai. Những người khác thì bỏ cuộc sớm hơn. Từ lâu họ đã trở thành những đảng viên cáu kỉnh hay các cán bộ tuyên truyền trệu trạo nhai sống khẩu hiệu và phàn nàn về rối loạn tiêu hóa.

*

Phần lớn đoạn văn trên đây không phải của tôi. Tôi chỉ diễn đạt lại và đặt vào khung cảnh Việt Nam lời mở đầu cuốn tự truyện của một người Đức thời Quốc xã[1]. Khi Hitler lên cầm quyền, tác giả là một sinh viên luật mới ra trường và đang thực tập tại Kammergericht, Tòa Thượng thẩm Berlin, biểu tượng kiêu hãnh của nền luật pháp Đức trước khi cuộc cách mạng màu nâu đồng hóa mọi lãnh vực xã hội vào ý hệ và tổ chức Nazi. Những tháng chứng kiến sự tàn phá thiết chế luật pháp tối cao, đầy uy tín và truyền thống này là trải nghiệm then chốt, khiến chàng thanh niên 25 tuổi Sebastian Haffner, con nhà lành, ít quan tâm đến chính trị hơn văn chương nghệ thuật, quyết định đọ sức với cái nhà nước tử thần đó. Tòa thượng thẩm ấy nổi tiếng vì 150 năm trước đó, hội đồng thẩm phán của nó đã thà vào nhà đá chứ quyết không vì lệnh vua mà sửa một bản án mà họ tin là đúng đắn. Huyền thoại kể rằng, khi xây dựng cung điện mùa hè nổi tiếng Sans Soucis ở Potsdam, vị vua Phổ cũng đầy huyền thoại là Friedrich Đại Đế muốn phá chiếc cối xay gió ở gần lâu đài để giải phóng mặt bằng. Vua ngỏ ý muốn mua lại. Chủ cối xay gió không muốn bán. Vua dọa, ngươi không bán thì ta tịch thu. Chủ cối xay gió đáp: Vâng, nhưng xin bệ hạ đừng quên rằng còn có Tòa Thượng thẩm Berlin. Đến hôm nay chiếc cối xay gió ấy vẫn còn nguyên, ngay cạnh lâu đài vua Phổ. Vài tháng sau khi thay máu Quốc xã, cũng Tòa Thượng thẩm ấy chỉ còn là sân khấu cho những phiên tòa phô diễn của Tòa án Nhân dân (Volksgerichtshof).

Sebastian Haffner lưu vong năm 1938, khi nước Đức Quốc xã ở đỉnh cao quyền lực. Ông đã không thắng trong cuộc đọ sức. Bảy năm sau, đối thủ của ông đầu hàng.

© 2012 pro&contra


[1] Sebastian Haffner, Geschichte eines Deutschen. Die Erinnerungen 1914-1933, dtv, München 2002

 

 

Người Buôn Gió – Đêm dài biên ải

In Cộng Đồng on 2012/05/07 at 09:41

 
Câu chuyện này được viết bằng ngôn ngữ Việt, nhưng không nhất thiết độc giả  đủ cơ sở kết luận rằng nó xảy ra ở nước CHXHCN Việt Nam

4 giờ 30 chiều ngày 4 tháng 5 năm 2012 hắn đến trước ô cửa phòng xuất nhập cảnh đồn biên phòng chìa giấy thông hành. Lúc này không có khách qua, bốn cán bộ trong phòng đang nói chuyện, một người uể oải cầm giấy thông hành của hắn, chả buồn nhìn, anh ta quay sang nói chuyện tiếp. Lúc sau anh ta mới giở cuốn sổ thông hành gõ tên vào máy tính. Mặt anh ta biến sắc, nhưng anh cố gắng lấy lại vẻ tự nhiên rất nhanh. Giả vờ gọi một người đến xem hộ, anh ta đi vào trong. Người đến trông hộ nhìn máy tính rồi nhìn hắn một giây rất lạ. Rồi bảo hắn ngồi chờ.

Hắn ngồi ung dung chờ, nét mặt thản nhiên, nhìn một tốp người đến làm thủ tục che kín khuất tầm nhìn giữa hắn và cơ quan xuất nhập cảnh. Hắn thầm nghĩ, giờ chỉ tích tắc là hắn biến mất, không biết đám biên phòng ấy sẽ nghĩ gì khi không thấy hắn nữa. Chắc họ nghĩ hắn không biết gì.

Nhưng hắn đến đây, làm giấy thông hành, rồi đến cửa xuất nhập cảnh chìa giấy, không phải để thấy khó khăn là trốn về, dẫu biết tí nữa thôi mọi chuyện sẽ trở nên khó lường.

Hắn nhớ về ánh mắt, những ánh mắt chỉ bừng lên một giây rồi trở lại bình thường để che giấu ý nghĩ bên trong.

Cách đây gần 20 năm trong một trại tù, khi hắn đi qua hàng tù đang ngồi bó gối, chợt hắn lăn tăn gợn điều gì, hắn nghĩ đến một ánh mắt lạ trong hàng tù nhìn hắn rất nhanh rồi cụp xuống, ánh mắt của kẻ sắp liều lĩnh. Hắn chột dạ quay người thật nhanh lại và may mắn tránh được cú đâm bằng bàn chải nhựa mài nhọn. Đó là ánh mắt mà hắn không lường trước được.

Còn hôm nay, khi đưa giấy thông hành qua ô cửa, hắn chờ đợi ánh mắt lóe lên bất ngờ của người hải quan biên phòng. Đoàn người đi qua, đám hải quan nhìn vẫn thấy hắn ngồi nhàn nhã, không có vẻ sốt ruột, không thắc mắc, cứ như hắn có thể ngồi chờ như vậy đến bất tận.

Những người hải quan đi lại, gọi điện liên tục, một vị thiếu tá xuất hiện, họ hội ý với nhau rồi lại điện đi , điện lại. Hai người đi ra đứng quanh hắn, hút thuốc lá nhưng hắn biết đó là canh chừng. Họ có vẻ thiếu mất sự bình tĩnh khi rít thuốc lá và cách thay đổi vị trí đứng.

Hắn đến gần, xin một ngụm nước. Viên đại úy vào phòng lấy ngay ra cốc nước lạnh ân cần đưa cho hắn. Chả có ai ở chỗ này xin nước của cán bộ hải quan vốn rất quyền lực và bận rộn, đáng lẽ anh ta phải chỉ ra hàng quán đằng kia, nhưng anh ta đi lấy nước ngay. Có lẽ viên đại úy không nghĩ mình đang làm một điều bất thường. Nhưng việc chỉ mình ra quán nước khuất tầm nhìn là điều chắc chắn anh ta không muốn.

Viên thiếu tá cầm hồ sơ, bảo hắn đưa chứng minh thư và nói

– Mời anh lên gác.

Hắn đi lên theo, vào phòng anh ta bật máy lạnh, mời ngồi và hỏi.

– Anh có phạm tội gì không?

Câu hỏi y hệt ở sân bay. Hắn nói.

– Tôi không phạm tội với nhân dân, đất nước này, còn với ai đó thì tôi không thể biết, nhất là con mụ hàng xóm và lão chồng nó.

Viên thiếu tá thông báo hắn bị cấm xuất cảnh dưới mọi hình thức và nói sẽ tiến hành lập biên bản. Anh ta nhìn thái độ hắn, thấy hắn vẫn cười. Hắn nói nhẹ nhàng vâng anh cứ lập biên bản và nói rõ lý do, cho tôi xin một bản. Cứ đúng luật anh làm.

Anh ta hỏi định sang TQ làm gì, hắn nói có lẽ tôi không cần trả lời anh, vì việc đó chưa xảy ra, nhưng anh hỏi tôi xin nói. Vợ chồng lão hàng xóm chỗ nhà tôi hơn 70 tuổi rồi, suốt ngày chỉ nhòm ngó nhà người khác, tôi sang TQ mua bao cao su các loại hấp dẫn về vất vào nhà vợ chồng đó. Để họ có việc mà làm, đỡ đi nhòm ngó nhà khác.

Anh ta lắc đầu, thở dài rồi bảo.

– Thôi đó không phải việc tôi, hỏi anh thế thôi, anh có lệnh cấm xuất nhập cảnh của…

Tôi làm thủ tục thôi.

Hắn hỏi.

– Tôi có được nhìn lệnh không, có được biết cấm từ ngày nào đến ngày nào không.

Anh ta nói thác.

– Tí nữa tôi cho anh biết.

Hắn mỉm cười, sẽ chẳng bao giờ, tí nữa anh ta sẽ kiếm cớ khác. Lệnh cấm xuất cảnh với hắn sẽ là điều bí mật, không bao giờ hắn được biết ngày nào hết hạn. Ở sân bay người ta cũng không nói, chỉ nói là ngắn thôi không dài đâu, mấy bữa ý mà. Nhưng ở đây sẽ không chặt chẽ bằng sân bay, ở đó người ta quen thuộc và rành nghiệp vụ vì làm việc với quốc tế, và tầng lớp khác. Còn ở cái cửa khẩu rặt con buôn qua lại hàng ngày này, thảng có vài đối tượng hình sự trốn truy nã, hoặc vài tên TQ lưu manh, chuyện giấy tờ không kín kẽ được. Chính vì thế hắn chọn nơi đây để đưa giấy thông hành. Viên thiếu tá giơ tờ giấy cấm để nhìn, dưới ánh sáng bóng đèn ne-ong mờ xuyên qua giấy, với kỹ năng đọc sách nhiều, hắn đọc ngược và thấy được điều cần biết.

… cấm xuất cảnh đến ngày 22/07/2014….

Một nhiệm kỳ của ai đó kết thúc thì lệnh cấm cũng kết thúc, hắn buồn và vui lẫn lộn. Buồn vì lệnh cấm lâu quá, nhưng vui là đã không phí công sức để biết được. Nhiều người như hắn bị cấm mà không biết đến bao giờ. Còn hắn thì đã biết, thậm chí hắn còn biết được cả cơ quan nào đã bảo cục xuất nhập cảnh đứng ra phát lệnh cấm nữa. Khỏi phải mất tiền mua vé máy bay đi đâu khi chẳng may vợ con nổi hứng đi du lịch sang Phi, Mã, Cam …

Khi viên thiếu tá biên phòng ghi chép vào biên bản cấm xuất nhập cảnh, có 2 người đàn ông mặc thường phục lặng lẽ ngồi bên. Hắn đang nhắn tin điện thoại thì một người trẻ giơ tay gạt điện thoại nói.

– Anh không được dùng điện thoại.

Hắn quay sang thấy một cái nhìn uy hiếp dọi thẳng vào tam tinh của mình. Cái nhìn của một người qua trường lớp chính quy, thường những người ra trường chưa lâu, chưa có độ từng trải mới áp dụng bài học là cái nhìn để uy hiếp đối tượng. Những lão làng trong nghề an ninh họ thường có thái độ nhẩn nha, lợt phợt như đôi bóng Ý rồi bất ngờ đưa ra đòn hiểm. Hắn nhìn lại và nói rành rọt.

– Anh không biết em là ai, vì ở đây ai cũng mặc sắc phục, nhưng anh nói thế này, anh không bị bắt quả tang khi phạm tội, không có lệnh khởi tố, truy nã. Em động vào người anh hay tài sản của anh đều là vi phạm pháp luật. Anh dùng điện thoại đến khi nào những cán bộ biên phòng phụ trách ở đây ra lệnh cấm.

Hắn nhìn sang viên thiếu tá biên phòng, anh ta dường như không muốn phiền phức vì việc của anh ta sắp xong. Nên anh ta không nói gì, hắn tiếp tục nhắn tin dòng cuối cùng cho vợ.

Viên thiếu tá biên phòng đọc biên bản, hắn ký và hỏi xin một bản, anh ta nói sẽ đưa cho công an tỉnh sau khi bàn giao hắn sang bên đó. Thì ra những người mặc thường phục đó là an ninh tỉnh, tất nhiên thì hắn biết khi họ đi vào.

Biên phòng và an ninh làm giấy bàn giao người. Công nhận là chặt chẽ, ở đây tính mạng công dân được coi trọng, cho nên bên nào bên đó làm rất chi li về thủ tục.

Những người an ninh tỉnh đưa hắn ra sân, có hai chiếc ô tô con 4 chỗ loại đẹp đậu sẵn. Hắn được mời ngồi vào xe sau, ghế sau có hai người ngồi bên. Hắn cũng quen với kiểu ngồi này nhiều lần. Lên xe hắn chỉ nói.

– Lúc nào gần đến chỗ bán thuốc lá, các anh mua hộ tôi bao thuốc Vi Na, tôi vẫn có quyền, nhưng nếu tôi đi ra mua cũng phiền cho các anh.

Người bên trái gật đầu, nói với người bên phải.

– Tí nữa gần đoạn rẽ vào, nhớ mua cho anh ý bao thuốc.

Chiếc xe đi trước mở đường, và hai chiếc xe chui vào một căn nhà khuất sau đường ở thị xã biên ải. Căn nhà không có biển hiệu gì, không có vẻ gì là một cơ quan nào hết. Hắn xuống xe nhìn căn nhà, người chỉ huy đoán được hắn nhìn gì nên nói.

– Anh chắc không lạ gì những căn nhà kiểu này.?

Hắn gật đầu nói

– Cơ sở của an ninh.

Người chỉ huy nói.

– Anh biết thế, mình dễ làm việc hơn.

Trong căn nhà hai tầng, tầng dưới chỉ có một bộ bàn ghế và một chiếc giường cá nhân, một ti vi và nhiều báo công an nhân dân. Người ta hỏi hắn uống gì, hắn xin uống trà, lập tức trà pha xong thì thuốc lá cũng đem về.

Chỉ hỏi chuyện gia đình, xem phim, đọc báo… những người an ninh tỉnh này chu đáo và lịch sự. Có cậu trẻ hỏi anh làm gì mà phải bị cấm. Hắn nói anh không biết, nhưng mới rồi anh biết có người dùng tên anh viết bài gì trên mạng, chắc làm cơ quan an ninh phiền lòng. Cậu ta hỏi tên hắn rồi tra ở điện thoại. Lát sau lắc đầu nói.

– Thì ra là một người viết khá nổi tiếng, là anh sao anh không nhận.?

Hắn lắc đầu nói.

– Anh trình độ 10/12, năm nào sức học cũng trung bình. Tiền án, tiền sự toàn lưu manh vặt vãnh, em bảo anh ăn cắp anh biết, chứ viết lách thì anh cũng không tưởng tượng được. Chắc ai đó lấy tên anh thôi.

Một cậu trẻ nói hằn học, cách nói theo hắn nghĩ trình độ cậu ta chỉ là đi lính nghĩa vụ hết hạn được đôn lên qua lớp trung cấp nào đó. Cậu ta nói.

– Mình muốn góp ý gì, trước nhất mình phải tốt cái đã đúng không, rồi mới đi góp ý người khác.

Hắn phân tích nhẹ nhàng.

– Em nói đúng một phần, nhưng giờ anh xấu, em xấu. Anh nói em, và em nói anh. Thế mới đúng là phê bình và tự phê bình. Chứ anh đợi anh tốt, em đợi em tốt thì hóa ra chúng ta ngầm bao che cho nhau cái xấu cho nhau sao. Có khi mình xấu mình không nhận thức được, mà mình chỉ nhìn thấy ở người khác, mình phê phán họ và họ cũng phê phán mình. Như thế có phải là giúp nhau sửa chữa, tiến bộ không tốt hơn sao.?

Cậu trẻ không nói gì nữa, còn những người lớn thì họ không quan tâm lắm. Họ chỉ hỏi chuyện mình về đường phố Hà Nội, chỗ mua bán, giải trí. Đến bữa cơm mình cùng ngồi bàn ăn với họ, có bia, thịt gà, lòng xào, thit bê xào… Người chỉ huy nói:

– Thôi anh em tỉnh lẻ chỉ có thế này, giờ bất ngờ cũng không chuẩn bị được, anh ăn tạm cùng anh em, có nào dùng vậy.

Cơm xong lại ra bàn uống trà, họ mời nước ân cần rồi nói.

– Chúng tôi đợi dưới kia lên đây để bàn giao anh, họ đi từ 5 giờ chiều, chắc sắp lên đến đây rồi. Giờ anh lên gác có điều hòa, làm việc với chúng tôi một ít để có bút tích của anh nhé. Biết đâu sau này gặp lại.

Hai người an ninh dẫn hắn lên gác, một người bật điều hòa rồi ngồi xem phim. Một người hỏi cung. Người hỏi cung là cậu trẻ lúc đầu ngăn hắn hút thuốc, cậu ta đẹp trai, cười rõ tươi nói.

– Thế này anh nhé, anh chắc chả lạ gì làm việc rồi, có khi để anh tự hỏi tự trả lời còn nhanh hơn. Thôi tôi chỉ hỏi quá trình anh lên đây thế nào, đi xe nào ở dưới kia lên, lên đây mấy giờ, gặp ai, rồi đến đoạn qua cửa khẩu mấy giờ, định sang bên kia làm gì.?

Hắn trả lời, đây là việc đơn giản, vì hắn từ nhà đi đã biết sẽ phải trả lời những câu hỏi này. Cho nên hắn đi một mình, không gặp người quen nào ở xứ này, chỉ gặp xe ôm, cò làm giấy thông hành, quán cà fe. Hắn chìa số điện thoại của lái xe, cò, địa chỉ quán và nói họ có thể xác minh.

Cậu trẻ ghi đủ và cười hoài nghi.

– Không thể tin được là anh đi lên đây chỉ đơn giản thế này. Chả lẽ vì mấy bao cao su anh không mua dưới đó lại lên đây sang kia mua.?

Hắn trả lời.

– Mua dưới kia ngại người quen thấy, sang bên này lắm mẫu mã cho cả người cao tuổi dùng nữa.

Lấy lời khai chữ ký xong, anh ta nói tiếp.

– Giờ làm biên bản xác nhận là anh ở đây từ 5 giờ chiều đến 10 giờ đêm được đối xử tốt, không có đánh đập, xúc phạm danh dự nhé, thì cứ thật thế nào thì anh nói thế.

Hắn đồng ý, chỉ ghi trong biên bản là tôi phàn nàn về việc bị giữ chân (không phải bắt) 5 tiếng đồng hồ rất vô lý, ngoài ra tôi được đối xử tốt về tinh thần cũng như vật chất.

An ninh tỉnh hài lòng, họ nói.

– Thật ra chúng tôi không có việc gì với anh, anh lên đây đi biên giới, không gặp thành phần, đối tượng nào có vấn đề ở địa bàn. Chúng tôi chỉ đợi dưới kia lên bàn giao anh theo đề nghị của họ.

Hắn nói

– Sao các anh phải mất công thế?

An ninh tỉnh nói

– Thì họ nhờ mình lúc này, mình lúc khác lại nhờ họ. Thôi anh thông cảm cứ ngồi đây chờ.

Hắn nhìn đồng hồ nói.

– Thế này nhé, anh không phải là tội phạm hay chưa xác định là tội phạm. Giờ này con anh chờ anh về, em nên để anh gọi điện bảo vợ anh cho con ngủ.

Cậu an ninh gật đầu, nói.

– Anh nói vừa phải thôi nhé.

Hắn gọi về, nói bị cấm xuất cảnh, giờ đang làm tường trình và tắt máy.

Anh ta đi xuống, người còn lại đang xem phim quay ra gọi hắn.

– Anh ra giường mà nằm xem phim.

Hắn nằm trên giường xem phim, người an ninh còn lại xoay cái điều hòa cây đứng về phía hắn rồi nói.

– May là có một cái này ông ạ, chúng tôi ở đây cũng thiếu thốn đủ thứ, phó phòng mà xin mua điều hòa còn chưa được duyệt đấy ông ạ, ai biết cho chúng tôi đâu….

Có nhiều tiếng xe ô tô ồn ào, người an ninh xem phim đứng cửa sổ nhìn xuống rồi quay vào nói.

– Mình ông mà dưới kia lên cả chục người đấy, chắc toàn người quen của ông thôi. Tí gặp là biết.

Hắn điểm mặt người quen ở các cơ quan từ cục, phòng các bộ phận. Cuối cùng thì hắn chọn khuôn mặt sáng sủa, khá phúc hậu của một người và đoán sẽ gặp hắn.

Tiếng cửa mở, hắn không quay ra cũng biết là anh ta. Khi nghe tiếng gọi, hắn quay lại thấy anh ta đang cáu kỉnh, cái cáu không phải của kẻ quyền uy mà cái cáu của người bị làm phiền bởi một người quen. Anh ta gắt.

– Ông biết ông đang là loại gì, mà ông mò đi lung tung, đêm hôm không cho người ta nghỉ, đang ở nhà ôm vợ con phải đi lên đây gặp ông.

Giấy tờ lại được giở ra, vẫn những câu hỏi đi làm gì, đi thế nào, gặp ai…

Trả lời hết xong, anh ta gắt.

– Ông … đi gì nói thật đi, ông có gì trong người bỏ ra, mang theo bao nhiêu tiền, đưa ví đây, còn giấy tờ gì, hộ chiếu có không đưa nốt đây.

Hắn đưa hết, kính, đồng hồ, 2 điện thoại, chứng minh thư, giấy thông hành, ví, máy ảnh.

Anh ta xem xét kỹ chiếc ví, rồi bực bội.

– Ông làm đéo gì mà chỉ có mấy cái đồng bọ này thì đi đâu, ông sang đó mua gì mà chỉ có ngần ấy tiền. Còn tiền giấu đâu không?

Hắn đứng dậy cũng bực nói.

– Tôi cả ông làm việc với nhau nhiều, chuyện có gì trong người chưa bao giờ tôi nói dối, ông không tin tôi cởi quần áo.

Hắn định lột quần áo thì người khác ngăn lại, anh ta gắt.

– Ông… manh động thế, chúng tôi hỏi thế chứ ai bắt ông cởi quần áo, ai khám người ông, không có thì thôi chứ sao lại làm thế.

Hắn ngồi xuống, an ninh lại hỏi sao chỉ có mấy trăm ngàn. Hắn bảo thì mục đích chỉ mua mấy cái bao cao su rồi đi về. Có định đi đâu hay mua gì nữa mà mang nhiều, và hắn cũng chỉ có ngần ấy tiền thôi, làm gì có nhiều mà mang theo.

Họ bảo tạm thu hết tất cả đồ, giấy tờ, chỉ để lại cho hắn tiền để đi về, không thì lại lang thang ở đây có chứng minh thư lại làm thông hành rồi lại đi. Hắn hỏi luật nào thu đồ. An ninh nói.

– Luật gì ở đây mà ông hỏi, tôi thu làm gì, giữ để ông phải đi về thôi. Ông làm cái giấy tự nguyện giao nộp đồ cho tôi giữ hộ.

Hắn lắc đầu.

– Đây là danh dự, không viết được. Ông thu giữ thì ông cứ thu, tôi không làm.

Họ thu máy ảnh, điện thoại và giấy tờ. Làm biên bản, hắn nói.

– Luật thì ông giữ đồ tôi, thì tôi phải có biên bản, đàng này biên bản ông cầm nốt thì tôi lấy chứng cứ gì kêu ông trả đồ.

An ninh gắt gỏng.

– Ông làm việc với tôi, lạ gì nhau, tôi lấy của ông làm gì, ông về thủ đô gặp tôi thì tôi trả. Ông cứ vớ vẩn luật liếc lằng nhằng.

Lúc này một người đàn ông trung niên khoảng 56, 57 tuổi đi lên. Khuôn mặt lầm lì, hắn cảm giác được vầng sát khí tỏa trên mặt con người ấy, mặc dù không phải là dễ nhận. Như trong truyện kiếm hiệp một thanh đao từng qua trận chiến nhiều, sát khí tụ lại trên thanh đao lạnh rợn người. Gương mặt, dáng đi của con người đó làm hắn cảm giác đọc thấy nhiều thân phận, nhiều cuộc đời, nhiều án tù đã đọng lại trên con người đó.

Có lẽ tới đây hắn cũng chỉ là một số phận nhỏ nhoi,một thân phận, một cuộc đời và một án tù phảng phất trên gương mặt con người ấy.

Không phải là đơn giản mà cả chục người dưới xuôi đêm hôm lên đây. Hắn biết thêm điều nữa về số phận mình, như một con chim nhìn thấy những cánh cung của các tay thiện xạ lão làng.

Biết trước vẫn là điều tốt hơn, dù đó là điều xấu.

Đám dưới xuôi kéo thẳng về, để lại những người an ninh tỉnh ngỡ ngàng. Khi những người kia đi hết, họ gọi mình uống chén nước chia tay, rồi bảo hắn đi đi.

Hắn đi ra không nhìn lại, đường tối om. Trời đã quá 12 giờ đêm, không còn nóng nực, mát mẻ dễ chịu. Không điện thoại, không giấy tờ tùy thân, hắn đi bộ một mạch dài trên con đường quốc lộ vắng vẻ thênh thang từ thị trấn vào thành phố, đi mãi mới gặp môt xe taixi chạy trên đường. Hắn đứng vẫy, người ta xi dừng lại mở hé tí cửa kính hỏi đi đâu.

Hắn bịa ra câu chuyện vừa cãi nhau với con bồ, giận quá bỏ về thành phố. Người lái xe cho lên, hắn ý tứ ngồi ghế trước, cởi áo để anh ta thấy hắn không có gì.

1 giờ đêm vào thành phố, hắn ngồi dựa lưng vào hành lang cây cầu sắt và nhắm mắt ngủ, đợi chuyến xe sáng về dưới xuôi.

Một ngày mệt nhọc, nhưng xứng đáng vì biết được những điều muốn biết. Cho dù đó là những điều xấu, như đã nói một lần, dù là điều xấu nhưng biết được vẫn tốt hơn.

Nguồn: Blog Người Buôn Gió
Cùng tác giả:

Người Buôn Gió – Tái cơ cấu thần chưởng

Người Buôn Gió – Đêm dài biên ải

Người Buôn Gió: 18-3 trại Thanh Hà

Người Buôn Gió – Người Nông Dân Nổi Dậy

Người Buôn Gió – Hóa ra đều ăn cắp hết

Người Buôn Gió – Đi tù và đi cải tạo

Người Buôn Gió – Con trâu của ai?

Người Buôn Gió – Hà Nội trong mắt ai

Loạt bài Đại Vệ Chí Dị:

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị – Mọi sự quái đản đều là do… thế lực thù địch

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị: Cứ đổ cho thế lực thù địch xúi dục là OK!

Người Buôn Gió: 18-3 trại Thanh Hà

In Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2012/03/18 at 09:11

 

Đi cùng Bùi Nhân đến thăm Bùi Minh Hằng hôm nay không nhiều người lắm, có bé Cải , anh Tường Thụy, Dũng Aduka, chị  Phương Bích, chị Hiền Giang, Lê Dũng và bác Lê Hiền Đức.

Hà Nội mịt mù sương, đi mãi đến đoạn rẽ vào Tây Thiên thì trời quang, nắng ấm. Con đường vào trại Thanh Hà mới được đổ bê tông, người dân nói vừa mới làm xong. Con đường này còn chạy xa nữa vào thôn xóm bên trong, nhưng đoạn đổ bê tông thì chỉ đổ từ đường nhựa vào đến cổng trại là dừng hẳn.

Dễ nhận ra trại Thanh Hà vì những tấm biển nền đỏ chữ vàng ghi dòng chữ

– khu vực cấm tụ tập
– khu vực cấm quay phim, chụp ảnh

Liên tiếp những biển cấm như thế dọc hàng rào, những tấm biển cấm này thậm chí khiến cái biển tên trại lọt thỏm, khiêm tốn vì nhỏ bé và cũ mờ. Sau dãy hàng rào sắt, người ta giăng lưới đen che kín không cho người bên ngoài nhìn vào bên trong. Sao thiết kế mà chả nghĩ gì cả, không xây luôn tường cao, có rào thép gai như nhà tù cho đỡ mất công, giờ lại phải rào lưới che mắt thiên hạ như vậy.

Mình và Bùi Nhân đến cửa phòng trực, hỏi về chuyện giấy ủy quyền của Nhân cho mình thăm nuôi chị Hằng trại giải quyết sao,trực ban trại tên Hiệu nói quy định của cục quản lý trại giam là mình không phải thân nhân ruột thịt nên không ủy quyền được. Mình hỏi xin lại cái giấy ủy quyền thì anh ta kêu nộp ban giám đốc. Mình nói theo nguyên tắc không chấp nhận đơn thì trả lại đơn và phê lý do. Anh Hiệu nói là công an phải thu thập tài liệu. Mình nói chả lẽ giờ tôi nộp sổ đỏ cho ông thì ông cũng bảo đó là tài liệu để ông thu à. Ông không chấp nhận đơn thì giả lại đơn cho tôi và ghi lý do vì sao vào đó, thế mới đúng luật. Sao lại tính chuyện thu luôn là thế nào. Hiệu bảo cái này giám đốc trại giữ, hôm nay chủ nhật nên không giải quyết được.

Mình Bùi Nhân xách đồ vào thăm mẹ, mọi người đang đứng bên ngoài thì một người mặc áo cảnh sát đứng bên trong hàng rào đứng sau cái biển cấm quay phim, chụp ảnh dùng máy quay phim chĩa vào mọi người, cũng trong hàng rào góc khác một người mặc đồ an ninh cũng dùng máy quay để ghi lại hình những người đến trại. Mặc dù không hề tụ tập, mấy người đi đã ít lại chia thành mấy tốp hai hoặc ba người đứng các điểm khác nhau nhưng vẫn bị quay phim. Lát sau công an xã đến rầm rập bằng xe máy và ô tô. Tổng cộng khoảng 17 người, trong đó có một nữ số này đứng hết bên ngoài, họ tự giới thiệu họ là công an xã. Một công an xã hỏi mọi người đứng đây làm gì, trả lời đường thì đứng chứ sao, anh ta nói anh ta đến đây để bảo vệ đất và chìa thẻ công an xã ra. Mọi người nói ông cứ đứng đấy bảo vệ đất, chúng tôi bê đi miếng nào hẵng hay. Một người trung niên dáng cấp trên nói đây là chủ quyền của chúng tôi. Mình mới hỏi chủ quyền là gì, là ông sở hữu đất này của ông à. Ông ý bảo ông ý là quản lý, mình hỏi thế ông tên gì, cấp gì quản lý đất gì, ranh giới đến đâu. Ông nói chức vụ và giới hạn đất chủ quyền của ông đến đâu thì tôi xin đứng ra ngay vạch đó. Mình lấy giấy bút ra thì ông ý đi thẳng.

Mình quay qua nhìn qua trong trại lớp lưới, nhìn đoạn hở dưới chân lưới đếm được 16 cái gầu quần màu xanh tức là 8 đôi giày, 8 đôi tất xanh. Có tốp nữa đi xe máy đến vào trại, họ mang theo máy quay phim, nâng tổng số máy quay lên 3 chiếc, tương đương với đúng 3 tấm biển cấm quay phim chụp ảnh treo ở hàng rào.

Một tốp người gồm em chị Hằng, con gái, con rể đi ta xi, họ trình chứng minh thư và được vào ngay. Tốp này gần trưa mới đến, lúc đi có vẻ vội vàng nên chỉ có đúng một túi quà nhỏ. Họ là những người mà trại gọi là thân nhân của chị Hằng được phép gặp. Tốp này ở Sơn Tây đến vào thăm chị Hằng một lúc thì ra ngay.

Cánh cổng trại khóa kín, ai vào trực ban mới ra mở cửa cho người lách vào rồi đóng lại. Lúc này bên trong khoảng gần 20 cảnh sát, bên ngoài cũng tầm 20 người gồm công an xã, một nhóm mặc thường phục chỉ đạo, một nhóm thì riêng rẽ mặc quần an ninh nhưng áo thường dân.

Bà Lê Hiền Đức xin vào trại tham quan trường giáo dục, nhưng người trực ban bảo đây là khu vực an ninh quốc phòng không có phận sự không vào được. Bà thở dài và than, tám mươi tuổi đầu rồi giờ mới biết trường giáo dục là cơ sở an ninh quốc phòng. Bà Hiền Đức rời cổng trại đến chỗ nhà dân, nơi có tốp người đang ngồi trong. Bà hỏi mượn cái ghế, họ bảo chủ nhà đi vắng không lấy ghế cho bà được. Bà bảo sao chúng mày ác thế, tao già thế này mà chúng mày để tao đứng khi chúng mày con trẻ, nhà người ta đi vắng sao mày lại lấy ghế của nhà người ta ra cửa ngồi. Bọn kia bảo nếu là bà thì bà cũng thế thôi. Trong bọn đó có tay trung niên ban nãy kêu chủ quyền, quản lý đất cát gì đó. Em bé Cải chạy ra quán mượn ghế cho bà ngồi. Bà Hiền Đức ngồi yên vị thì trong tốp đó có một tay mặc quần công an, áo sơ mi ra hỏi bà làm gì. Bà bảo tao chống tham nhũng, tay đó nói, bà chống tham nhũng mà bà không sợ pháp luật sao. Mọi người ồ lên cười vì câu nói quá hay của hắn. Mọi người chất vấn sao hắn lại hỏi thế, làm hắn bối rối bỏ đi. Mình ngồi cách đó một đoạn chợt nghĩ, biết đâu hắn là cao nhân. Đúng là thời nay chống tham nhũng là phải biết sợ pháp luật. Tại vì sao thì cứ nhìn công cuộc chống tham nhũng là rõ.

Đến trưa Bùi Nhân ra, hình như việc đơn từ gì đó của chị Hằng chưa xong. Mang máng nghe thấy là trại không chấp nhận đơn đánh máy, mà phải viết bằng tay thì mới được. Mà viết tới tận 5 trang nên chắc chiều mới xong. Mọi người kéo ra quán ăn mỳ tôm, vừa ngồi xuống thì quán mất điện. Chạy đi các nhà hàng xóm xung quanh nhà nào cũng có điện.

Đến 2 giờ Nhân gọi điện hỏi cán bộ trại mẹ viết xong chưa, cán bộ bảo chưa biết bao giờ mới xong. Mọi người ra cổng trại chờ, nói với nhau là nếu khó dễ thời gian chuyện làm đơn thì chúng ta trong lúc chờ đợi vào hỏi chuyện hoa hôm 8-3. Chị Phương Bích hỏi trực ban anh Trần Thái Hòa đâu, vì hôm mùng 8-3 chị gửi hoa cho Bùi Hằng nhờ anh Hòa đưa mà chị Hằng không nhận được. Trực ban nói là anh Hòa có lòng tốt muốn đưa hoa giúp cho chị Hằng, nhưng lãnh đạo trại không cho phép anh thực hiện điều đó. Trực ban còn chạy đi vào trong lấy xấp ảnh ngày 8-3 ở trại có tổ chức cho chị em phụ nữ, và ảnh anh Hòa cầm bó hoa đứng cạnh chị Hằng dưới sân khấu có chữ 8-3. Ý trực ban nói là anh Hòa cũng đã tặng hoa của trại cho chị Hằng, thôi thì ngày 8-3 có hoa là được rồi. Có người nói là các anh làm thế cũng tốt, nhưng không phải các anh mang tình cảm của các anh ra thay thế tình cảm của người khác được.

Đang lằng nhằng chuyện hoa thì cán bộ cầm đơn chị Hằng viết ra đưa cho Nhân Bùi, kèm với mẩu giấy gửi cho Nhân Bùi mà chị Hằng phải hai lần lặp lại nội dung nhấn mạnh là mẹ viết đến 3 giờ chiều mới xong. Chị Phương Bích lên xe thắc mắc, quái sao mình đưa chứng minh thư tên mình là Bích Phượng, cái tên Phương Bích là tên trên blog, thế mà công an trại cầm chứng minh thư xem mà cứ gọi mình là Phương Bích. Xe đang đi trên đường be tông thì em bé Cải cất máy ảnh vào túi. Mình bảo em cất vội thế, biết đâu tí nữa ra kia có xe cảnh sát giao thông chặn xe mình thì sao. Lấy máy ảnh ra đi được ra đến đoạn đường nhựa chừng 10 phút y rằng có tốp cảnh sát giao thông chặn lại, mấy xe sau đi, đến xe nữa của đoàn thì lại bị chặn lại nốt để kiểm tra giấy tờ. Bà Hiền Đức xuống xe hỏi tại sao bao nhiêu xe đi qua không chặn, lại chặn riêng hai xe này. Tốp công an nói kiểm tra không có gì thì đi, giấy tờ đầy đủ thì được phép đi. Tất nhiên hai xe giấy tờ đều đầy đủ, họ cho đi chóng vánh, thậm chí hối thúc đi, nhưng bà Hiền Đức bực chuyện bao nhiêu xe nườm nượp đi qua họ không kiểm tra cái nào mà chỉ kiểm tra hai xe này. Sau thì bà cũng lên xe đi, mình lại nói cái trạm cảnh sát giao thông cơ động ấy mình đi qua rồi thì họ cũng giải tán, vì đây là đường liên xã chứ đường huyện hay tỉnh gì đâu mà đến 5 cảnh sát giao thông lập trạm. Mình nói xong quay sang cửa kính nhìn thấy mấy xe máy người điều khiển không đội mũ bảo hiểm phi dưới qua vèo vèo, thế chắc là trạm giao thông ấy giải tán ngay sau đó thật rồi.

Về đến nhà đã 5 giờ chiều, mất trọn 12 tiếng từ lúc đi đến lúc về.

Nguồn: Người Buôn Gió

Cùng tác giả:

Người Buôn Gió – Tái cơ cấu thần chưởng

Người Buôn Gió – Đêm dài biên ải

Người Buôn Gió: 18-3 trại Thanh Hà

Người Buôn Gió – Người Nông Dân Nổi Dậy

Người Buôn Gió – Hóa ra đều ăn cắp hết

Người Buôn Gió – Đi tù và đi cải tạo

Người Buôn Gió – Con trâu của ai?

Người Buôn Gió – Hà Nội trong mắt ai

Loạt bài Đại Vệ Chí Dị:

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị – Mọi sự quái đản đều là do… thế lực thù địch

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị: Cứ đổ cho thế lực thù địch xúi dục là OK!

Phong Trần – Trí thức luận

In Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2012/03/11 at 09:57

Nhà báo Tam Dương sau một thời gian vắng mặt khá dài đã trở lại Việt Nam để làm phóng (không đại) sự. Trước hết xin nhắc lại vài hàng về “nhân thân” của tay phóng viên Lề Trái này. Tại sao anh ta lại có tên là Tam Dương. Thực ra tên tiếng Nôm của anh là Ba Dê vì anh ta học đòi thói phong lưu của các bậc tiền bối mà mê “ba cái lăng nhăng một trà, một rượu, một đàn bà”. Vì nghèo mà ham nên Tam Dương ăn chơi tòan đồ dởm: trà thì uống ở quán cơm lao động, rượu thì rượu dởm do Trung Quốc nó đổ tháo vào nước ta như đồ phế thải, còn tình thì trong cái xã hội Tiền mệnh lệnh của thời đại kiếm đâu ra người đàn bà nào dám nâng khăn sửa túi cho một anh nhà báo nghèo như Tarzan. Tuy nhiên lâu lâu cũng có một vài em ca sĩ Ka-Rao Ô-Kià về chiều đột xuất nổi hứng, trước là mua vui sau là làm nghĩa ban cho anh một chút “tình vặt”.

Tam Dương về nước đúng lúc phong trào “Trí Thức Luận” nổi lên như Sóng Thần Tiên Lãng, bèn tìm nhà phản biện Ba Đê (tức cụ Ba Đéo: Đéo theo Đảng, Đéo Tin Đảng và Đéo Sợ Đảng) để tìm hiểu sự việc trong lúc đó thì Tể Tướng Ba Dũng đi thực thi luật pháp Xã Nghĩa cho vụ án Tiên Lãng. Một già một xồn xồn gặp nhau trong một quán cóc bên Hồ Hoàn Kiếm, tay bắt mặt mừng, chẳng khác gì cảnh “Bác Hồ” gặp “Cụ Mao”.

Ba Đê: Chú mày kiếm tao gấp gáp hẳn có chuyện gì ghê gớm lắm phải không?

Tam Dương: Ghê thì chả ghê nhưng gớm lắm cụ ạ. Số là nhà cháu đi chỗ nào cũng thấy thiên hạ bàn ra tán vào về trí thức, làm như nước ta mới nẩy sinh ra trí thức vậy. Thế nhà cháu hỏi cụ trí thức là gì mà thiên hạ làm toáng lên vậy?

Ba Đê: Chú mày phải phân biệt giai cấp trí thức với người trí thức thì mới rốt ráo được. Ai có kiến thức thì thuộc giai cấp trí thức như bác sĩ, kỹ sư, giáo sư, chuyên viên… Nhưng tách riêng ra khỏi tập thể này thì người ta chỉ gọi người trí thức là người có học thức và có tâm huyết với nhân quần xã hội. Sự khác nhau giữa người trong giai cấp trí thức với người trí thức nói riêng giống như sự khác nhau giữa xã hội tư bản với người tư bản vậy. Chú mày thuộc xã hội tư bản nhưng có dám vỗ ngực mình là người tư bản không.

Tam Dương: Nhưng có ông tiến sĩ lại nói rằng ai kiếm cơm bằng trí óc là người trí thức.

Ba Đê: À, cái ông Lưỡng Quốc Trạng Nguyên phải không. Người ta ăn lương đế quốc tư bản, hưởng lộc XHCN nên phải nói nước đôi chứ. Câu nịnh phải kèm câu chê. Nói rằng cứ làm việc trí óc mà thành người trí thức thì nước ta ra ngõ gặp trí thức đấy. Thế thằng xã ũy Tiên Lãng nó có làm việc bằng trí óc không? Tần Thủy Hòang, Xít-ta-lin, Mubarack, Gadhafi, có cai trị dân bằng trí óc không? Ăn trộm, ăn cắp , tham nhũng, cướp đất, cướp ruộng… mà trí óc không làm việc thì đói rã họng ra.

Tam Dương: Thế nhà phản biện có phải là người trí thức không?

Ba Đê: Có người phản biện nào vỗ ngực tự nhận mình là người trí thức đâu. Có ai phản biện để được gọi là trí thức đâu.

Tam Dương: Thế tại sao có người chê người phản biện là phản biện để được phong hàm trí thức?

Ba Đê: Thế Mao Trạch Đông nói “Trí thức không bằng cục phân” thì trí thức là cục phân hay sao. Ta hỏi chú mày nhé, có ai muốn vào tù, muốn bị công an đạp vào mặt để được cái tiếng hão trí thức không. Nếu nhận định rằng không có phản biện thì xã hội chết ngay khi lâm sàng thì tại sao lại biếm nhẽ phản biện. Ta hỏi chú mày chứ duy vật biện chứng pháp dựa vào cái gì? Có phải dựa vào hai mặt đối lập của mọi sự vật không? Chỉ có dốt như anh Tô Huy Rứa mới đòi xã hội chỉ có lề phải.

Tam Dương: Thế cụ có phải là người trí thức không?

Ba Đê: Tao đã làm được đéo gì mà nhận mình là trí thức.

Tam Dương: Thế theo cụ trong những người phản biện ai là người trí thức?

Ba Đê: Coi ai là trí thức thì tùy theo cách nhìn của mỗi người, chả ai phong hàm trí thức cho ai được. Chỉ có triều đình XHCN mới có cái trò phong hàm trí thức cho cán bộ tuyên giáo của nó thôi.

Tam Dương: Thế bác Hồ có phải là người trí thức không?

Ba Đê: Có, ông ấy là nhà trí thức XHCN đấy. Con cháu của ông ta như Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nguyễn Tấn Dũng, kể cả bí thư huyện Tiên Lãng …đều là những trí thức XHCN cả.

Hai người nâng ly rượu Mao Tải (phế thải) nhìn trời nhìn đất, rồi thở dài sườn sượt:

Trí thức đâu rồi?

Phong Trần
Quán chủ phong trần quán

Nguồn: Thông Luận

BS Hồ Hải – Sự Chuyển Hướng Của Miến Điện

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Thế giới on 2012/03/09 at 09:15

Bài viết gc: Burma’sTurn

Joseph E. Stiglitz là giáo sư tại Đại học Columbia University, một người đoạt giải Nobel kinh tế, và là tác giả của cuốn Rơi tự do: Thị trường tự do sự sa lầy của nền kinh tế toàn cầu (Freefall: Free Markets and the Sinking of the Global Economy).

YANGON – Myanmar (Miến Điện), nơi mà sự thay đổi chính trị đã bị trầm buồn lặng lẽ trong nửa thế kỷ qua, một nhà lãnh đạo mới đang cố gắng nắm lấy quá trình chuyển đổi nhanh chóng từ bên trong. Chính phủ đã giải phóng tù nhân chính trị, đã tổ chức các cuộc bầu cử (bằng đa nguyên trong cách thực hiện), đã bắt đầu cải cách kinh tế, và mạnh mẽ tán tỉnh đầu tư nước ngoài.

Dễ hiểu thôi, cộng đồng quốc tế, từ lâu đã trừng phạt chế độ độc đoán của Myanmar, nên vẫn còn thận trọng. Cải cách đang được đưa đến quá nhanh mà ngay cả các chuyên gia nổi tiếng trên cả đất nước Miến Điện cũng không chắc chắn về những gì họ đang làm.

Nhưng nó quá rõ ràng với tôi rằng thời điểm này trong lịch sử Miến Điện là một cơ hội thực sự cho sự thay đổi vĩnh viễn – một cơ hội mà cộng đồng quốc tế không được bỏ lỡ. Đó là thời khắc cho thế giới chuyển động các chương trình nghị sự cho Miến Điện tiến về phía trước, không chỉ bằng cách cung cấp hỗ trợ, mà còn phải loại bỏ các hình thức xử phạt đã trở thành một trở ngại cho sự chuyển đổi của Miến Điện.

Cho đến nay, chuyển đổi đó, đã bắt đầu sau cuộc bầu cử lập pháp vào tháng Mười Một năm 2010, rất ngoạn mục. Với quân đội, họ đã độc nắm quyền lực từ năm 1962, hiện còn giữ lại khoảng 25% số ghế, có lo ngại rằng cuộc bầu cử sẽ là trò diễn tuồng. Nhưng chính phủ mới lên đã cố gắng hết sức mình để đáp lại những mối quan tâm cơ bản của công dân Miến Điện tốt hơn nhiều lần so với những gì đã được tiên liệu.

Dưới sự lãnh đạo của Tổng thống mới, Thein Sein, các cơ quan chức năng đã đáp ứng những lời kêu gọi cho một cỡi mở chính trị và kinh tế. Tiến bộ đã được thực hiện trên thỏa thuận hòa bình với quân nổi dậy của dân tộc thiểu số – những cuộc xung đột bắt nguồn từ trong chiến lược chia đề trị và nắm quyền lực của chủ nghĩa thực dân, cái mà những nhà cầm quyền sau khi được trả độc lập vẫn duy trì trong hơn sáu thập kỷ qua. Người đoạt giải Nobel Bà Aung San Suu Kyi đã không chỉ được trả tự do từ việc bị quản thúc tại gia, mà hiện đang còn ráo riết vận động cho một ghế quốc hội trong cuộc bầu cử tháng tư.

Trên mặt trận kinh tế, minh bạch chưa từng thấy đã được trình bày trong tiến trình chi tiêu ngân sách. Chi phí chăm sóc y tế và giáo dục đã được tăng gấp đôi, mặc dù trên một mặt bằng thấp. Sự hạn chế cấp phép trong một số lĩnh vực quan trọng đã được nới lỏng. Chính phủ đã cam kết chuyển động theo hướng thống nhất hệ thống tỷ giá hối đoái phức tạp.

Tinh thần của hy vọng trong nước có thể sờ thấy được, mặc dù một số người lớn tuổi vẫn còn thận trọng, vì họ đã từng nhìn thấy những khoảnh khắc nới lỏng rõ ràng đến và đi trước đó của chế độ độc tài. Có lẽ đó là lý do tại sao một số cộng đồng quốc tế còn do dự về việc giảm bớt sự cô lập đối với Miến Điện. Tuy nhiên, hầu hết nhận thức rằng, Miến Điện nếu những thay đổi được kiểm soát tốt, đất nước này sẽ hội nhập vào một tiến trình không thể đảo ngược.

Trong tháng Hai, tôi tham gia một hội thảo tại Yangon (Rangoon) và ở thủ đô mới được xây dựng gần đây – Naypyidaw(1) – được tổ chức bởi một trong những nhà kinh tế hàng đầu của Miến Điện – U Myint(2). Các sự kiện là trọng yếu, do nhờ vào ở cả hai yếu tố số lượng cử tọa lớn và tích cực tham gia (hơn một ngàn ở Yangon), với các bài thuyết trình đầy chu đáo và cảm động bỡi 2 nhà kinh tế nổi tiếng thế giới của Miến Điện, những người đã rời bỏ đất nước trong những năm 1960s và đã trở lại đầu tiên sau hơn bốn thập kỷ tha hương.

Đồng nghiệp của tôi ở Đại học Columbia – Ronald Findlay – đã giới thiệu cho tôi lưu ý đến một trong hai người này, Hla Myint 91 tuổi(3), người đã giữ vị trí một giáo sư tại Trường Kinh tế London, là cha đẻ của phát minh ra chiến lược phát triển thành công nhất của một nền kinh tế mở và tăng trưởng xuất khẩu. Một chiến lược mà đã được thực hiện chi tiết trên toàn châu Á trong những thập kỷ gần đây, đáng chú ý nhất là ở Trung Quốc. Có lẽ bây giờ, cuối cùng nó cũng đã trở lại quê nhà.

Tôi đã có một bài thuyết trình tại Miến Điện vào tháng Mười Hai năm 2009. Vào thời điểm đó, họ phải cẩn thận, vì những nhạy cảm của chính phủ, ngay cả về phương cách để điều chỉnh những vấn đề của quốc gia nghèo đói, kém năng suất ở nông thôn, và lực lượng lao động không có tay nghề. Bây giờ thận trọng đã được thay thế bởi một nhận thức cấp bách trong việc đối phó với những thách thức khác, và những ý thức về sự cần thiết cho các dạng hỗ trợ khác và kỹ thuật. (So với dân số và thu nhập của mình, Miến Điện là một trong những nước nhận hỗ trợ quốc tế nhỏ nhất thế giới.)

Có nhiều cuộc tranh luận về cái mà giải thích được tốc độ thay đổi nhanh chóng hiện nay của Miến Điện. Có lẽ các nhà lãnh đạo nhận ra rằng đất nước này, đã có một thời là nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, và đã và đang tụt hậu xa so với các nước láng giềng. Có lẽ họ đã nghe thông điệp của mùa xuân Ả Rập, hoặc chỉ đơn giản hiểu rằng, với hơn ba triệu người Miến Điện sống ở nước ngoài, là cái mà không thể cô lập được quốc gia với phần còn lại của thế giới hoặc ngăn chặn những ý tưởng đang rò rỉ sang từ các nước láng giềng. Dù là lý do gì thì, thay đổi đang xảy ra, và cơ hội mà Miến Điện thể hiện là không thể phủ nhận.

Tuy nhiên, nhiều lệnh trừng phạt quốc tế, bất cứ vai trò gì của những lệnh trừng phạt này trong quá khứ, bây giờ dường như phản tác dụng. Ví dụ, biện pháp trừng phạt tài chính đối với Miến Điện, nó ngăn cản sự phát triển một hệ thống tài chính hiện đại và minh bạch, để hòa nhập với phần còn lại của thế giới. Nền kinh tế dựa trên sử dụng tiền mặt sẽ đem đến hậu quả như là một lời mời mọc đối với tham nhũng.

Tương tự như vậy, những hạn chế mà nó ngăn chặn các công ty có trách nhiệm xã hội ở các nước công nghiệp tiên tiến đến kinh doanh tại Miến Điện, khiến những công ty thận trọng đã rời bỏ thị trường mở cửa. Chúng ta nên hoan nghênh mong muốn Miến Điện để họ được hướng dẫn và tư vấn từ các tổ chức đa phương và Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc; thay vì, chúng ta cứ tiếp tục hạn chế vai trò của các tổ chức này có thể tham gia trong quá trình chuyển đổi của đất nước này.

Bất cứ khi nào chúng ta từ chối hỗ trợ hoặc trừng phạt, chúng ta cần phải suy nghĩ cẩn thận về những người mang gánh nặng trong việc mang lại những thay đổi mà chúng ta tìm kiếm ở Miến Điện. Mở cửa thương mại trong nông nghiệp và dệt may – và thậm chí cung cấp các loại ưu đãi đã từng giúp đỡ cho các nước nghèo khác – có khả năng sẽ mang lại lợi ích trực tiếp cho 70% dân số Miến Điện là nông dân nghèo, cũng như tạo công ăn việc làm mới cho họ. Giàu có và hùng cường có thể phá vỡ các biện pháp trừng phạt tài chính, mặc dù phải trả giá; thường dân không thể dễ dàng thoát khỏi sự ảnh hưởng của tình trạng hạ đẳng của quốc tế(international-pariah status).

Chúng ta đã nhìn thấy mùa xuân Ả Rập trổ hoa ngập ngừng ở một vài quốc gia; ở những quốc gia khác, Mùa Xuân Ả Rập vẫn còn chưa chắc chắn liệu nó có sẽ mang lại quả ngọt. Quá trình chuyển đổi của Miến Điện là trong một số cách bình yên hơn, mà không có sự phô trương của Twitter và Facebook, nhưng nó rất hiện thực – và không kém phần xứng đáng để hỗ trợ.

Bản quyền: Project Syndicate, 2012.
http://www.project-syndicate.org

Ghi chú của người dịch:

1. Naypyidaw: còn được viết là Nay Pyi Taw. Là thủ đô mới được xây dựng của Miến Điện được chính quyền quân sự Miến Điện công nhận từ ngày 06 tháng Một năm 2006, và đưa vào sử dụng từ ngày 26 tháng ba năm 2006. Theo tiếng Miến Điện nó có nghĩa là “Thành phố Hoàng gia”. Trước đây thủ đô Miến Điện ở thành phố cảng Yangon, là thành phố đông dân và lớn nhất ở Miến Điện.

2. U Myint: là một nhà kinh tế nổi tiếng ở trong nước của Miến Điện. Ông được xem là kiến trúc sư cho sự nghiệp đổi mới hiện nay của Miến Điện. Ông hiện là cố vấn kinh tế cao cấp cho tổng thống Thein Sein, người chủ trương cải cách. Trong khi Ông U Myint là cầu nối cho trí thức Miến Điện trong nước và toàn cầu chung tay xây dựng lại đất nước Miến Điện, thì tổng thống Thein Sein là con người làm công việc hòa giải dân tộc sau bao nhiêu năm bị chế độ độc tài quân sự làm dân tộc Miến Điện bị chia rẻ.

 

3. Hla Myint: như bài viết đã giới thiệu, Ông Hla Myint và bà Aung San Suu Kyi là 2 trong những niềm tự hào của Miến Điện trên trường thế giới mà ở khối Asean chưa nước nào có được. Ông Hla Myint bảo vệ đề tài tiến sĩ về lý thuyết kinh tế thịnh vượng (Theories of Welfare Economics) năm 1948. Năm 1971 Ông đưa ra Lý thuyết kinh tế và các nước kém phát triển (Economic Theory and the Underdeveloped Countries). Và cũng trong năm sau đó ông cho ra đời lý thuyết Kinh tế của khu vực Đông Nam Á: Chính sách phát triển trong những năm 1970s (Southeast Asia’s Economy: Development Policies in the 1970s). Lý thuyết này trở thành giáo khoa kinh điển trong giảng dạy đại học với cuốn: Penguin Modern Economics Texts do Penguin Books xuất bản năm 1972. Ông đã từng là giáo sự của University of Rangoon và là cố vấn kinh tế cho chính phủ sau khi được trao trả độc lập 1948 cho đến năm 1962 chính phủ dân sự bị quân đội lật đổ. Ông Hla Myint bỏ đất nước ra đi và làm giáo sự tại London School of Economics, nơi mà ông Lý Quang Diệu đã từng học nửa chừng thì chuyển sang học luật. Dù bỏ đất nước ra đi, nhưng Ông Hla Myint luôn giữ quốc tịch của mình là quốc tịch Miến Điện mà không nhập quốc tịch Anh. Điều này thể hiện tấm lòng yêu nước của một trí thức chân chính hiếm có.

Cũng cần nhắc lại thời kỳ hoàng kim của Miến Điện là từ sau trao trả độc lập từ tay thực dân Anh vào ngày 04/01/1948, với tên gọi là Liên Bang Myanmar, và trở thành thành viên của Liên Hiệp Anh. Thời kỳ này Miến Điện có tổng thống là Sao Shwe Thaik và thủ tướng U Nu. Ông cựu thư ký thủ tướng U Nu là U Thant trở thành là Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc. Ông U Thant là người đầu tiên không phải là người phương Tây nắm một tổ chức quốc tế. Ông làm chức vụ này trong 10 năm cũng là những năm tháng dân chủ và cường thịnh của Miến Điện.

Năm 1962 chế độ dân chủ bị quân đội lật đổ và áp đặt Miến Điện đi theo con đường quân phiệt. Sau Thông Cáo Thượng Hải giữa Mỹ và Trung Hoa, Mỹ bán lại Đông Dương cho Trung Hoa, chính quyền quân phiệt Miến Điện bẻ lái theo Trung Hoa, nên đến năm 1974 cái tên Cộng hòa Xã hộ Chủ nghĩa Liên bang Myamar được đặt cho Miến Điện suốt 26 năm. Sau khi dời đô năm 2006, với Mùa Xuân Ả Rập và cách mạng Hoa Nhài, nên đến năm 2010 thì hội đồng quân đội Miến Điện quyết định đổi mới dưới áp lực thời đại, họ đổi tên nước thành Cộng hòa Liên bang Myanmar (Republic of the Union of Myanmar). Và với cuộc bầu cử ngày 04/02/2011 ông đương kim thủ tướng Thein Sein thắng cử. Và đến ngày 03/3/2011 ông Thein Sein nắm cả 2 chức vụ tổng thống kiêm thủ tướng Miến Điện. Ông đã mang lại những thay đổi thần kỳ về chính trị cho Miến Điện.

Có một điều khác biệt giữa nước XHCN Miến Điện với các nước theo XHCN khác là, dù Miến Điện trải qua 26 năm theo Trung Hoa với cái gọi là XHCN độc tài, nhưng họ vẫn giữ hình thái chính trị đa nguyên. Nên sự thay đổi theo đúng quy luật chỉ trong 1 năm qua của Miến Điện đã đi nhanh làm ngỡ ngàng các nước Phương Tây. Song đối với các doanh gia gốc Do Thái thì chiếc mũi rất thính. Nên mấy tháng nay các doanh nhân Do Thái từ Israel là những nhà đầu tư lớn nhất đến Miến Điện, vì họ tin rằng với một nền chính trị đa nguyên đáng để tin cậy hơn các nền chính trị đơn nguyên.

 

Nguồn: Blog BS Hồ Hải

Nguyễn Thị Từ Huy – Muốn hay không muốn

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Việt Nam on 2012/02/09 at 22:50

Nguyễn Thị Từ Huy

Theo Văn Hóa Nghệ An

Ở Việt Nam hiện nay, ta thấy không chỉ có nông dân bị bần cùng hóa bởi chính sách ruộng đất bất hợp lý và bởi chế độ cưỡng chế đất đai bất công mà vụ Đoàn Văn Vươn là một ví dụ nổi bật, đang là mối quan tâm chung của dư luận ở thời điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới này. Cũng không chỉ có công nhân bị bần cùng hóa. Mà cả giới lao động trí óc cũng bị bần cùng hóa.

Trong khi mà trong xã hội hiện thời có những nghề cho phép một số người lao động hưởng lương lên đến cả trăm triệu đồng một tháng, thì lương khởi điểm của giáo viên nói chung chưa đến hai triệu, lương khởi điểm của giảng viên đại học trên hai triệu một chút. Lương của các nghiên cứu viên ở các viện nghiên cứu còn thấp hơn, vì dù sao ngạch giảng dạy còn được cộng thêm một số phần trăm đứng lớp. Với giá cả hiện tại, mức lương đó không thể đảm bảo cho các sinh hoạt tối thiểu hàng ngày của những người lao động trí óc, nhất là ở các thành phố lớn. Một chế độ lương như vậy là một chế độ lương mang tính chất bần cùng hóa. Người lao động trí óc bị bần cùng hóa và bị đẩy đến chỗ không còn có thể nghĩ gì khác ngoài việc làm sao kiếm cho đủ tiền để sống. Nghịch lý ở đại học (và các trường học nói chung) là sau khi mất nhiều năm học hành, cố gắng để đạt kết quả xuất sắc, người giảng viên được giữ lại trường giảng dạy, thì nỗi lo lắng bận tâm của họ không phải là trau dồi kiến thức, phát triển năng lực chuyên môn, mà là làm gì để sống. Vậy đấy, đi làm rồi, có được một nghề rồi, một nghề được xem là cao quý hẳn hoi, nhưng lại phải khốn khổ loay hoay tìm cách trả lời câu hỏi: « làm gì để sống ? »[1]

Điều nguy hại đáng nói ở đây là: người lao động trí óc bị bần cùng hóa bởi chế độ lương phải lao vào các hoạt động kiếm sống, và sau một thời gian thì họ khó có thể giữ được các hoạt động trí óc, mặc dù lao động của họ vẫn được xếp vào loại lao động trí óc, ví dụ như nghề nghiên cứu hay đi dạy. Thực tế cho thấy là có một số giảng viên ở bậc đại học đi dạy rất nhiều nhưng để nói là họ có hoạt động trí óc thì rất khó, bằng chứng là họ không có công bố hoặc nếu có thì đó là những bài viết mà chất lượng khoa học thấp, ít hàm lượng tri thức và phát kiến, ít hàm lượng tư duy. Bài giảng của họ chỉ là tổng hợp lại kiến thức của người khác, đã thế nhưng kiến thức cũng không được thường xuyên cập nhật, bài giảng của họ có thể được soạn một lần để giảng trong nhiều năm và giảng ở nhiều nơi.

Một nghịch lý khác mà giới trí thức ở các nước phát triển rất khó có thể hình dung, nhưng đang là thực tế của xã hội chúng ta: giới lao động trí óc ở Việt Nam không những bị bần cùng hóa về đời sống vật chất, mà còn bị / tự bần cùng hóa cả về đời sống tinh thần. Hiện tượng này đang thành ra phổ biến: những người, về nguyên tắc, phải làm việc với sách vở lại rất ít đọc sách, không quan tâm đến các vấn đề xã hội. Họ tự phủ nhận vai trò và trách nhiệm xã hội của họ. Không hiếm những lời phàn nàn kiểu như: giới văn chương gặp nhau không nói chuyện văn chương, mà nói chuyện bất động sản, đất đai, nhà cửa, ô tô.

Mặt khác đa số tự nguyện tuân theo những quy định thành văn và bất thành văn về cách thức tư duy, đường hướng tư duy, hệ quả tất yếu là sự nghèo nàn trong nội dung tư duy, và hệ lụy thê thảm nhất là không ít người có nguy cơ đánh mất khả năng tư duy và thói quen tư duy, dẫn đến việc mất khả năng phân tích, mất khả năng tự quyết định, chỉ còn biết chấp nhận và chờ đợi những quyết định từ trên xuống, dù những quyết định đó sai hay đúng, dù chúng có tác hại như thế nào chăng nữa. Thậm chí có những người còn rất trẻ cũng đã tỏ ra không biết làm gì nếu không được định hướng. Trong khi đó, hoạt động trí óc, về thực chất, là một hoạt động mang tính tự do; và không có gì có thể tước đoạt được thứ tự do đó. Đối với tư duy tất cả đều được phép. Người ta có thể bị tước đoạt tự do công bố, tự do phát ngôn và trình bày công khai; nhưng tự do tư duy thì không gì có thể động đến được. Do đó có thể nói rằng đa số thuộc giới lao động trí óc ở ta tự nguyện tuân theo các định hướng suy nghĩ từ bên ngoài, hoặc khép mình vào những giới hạn do tự mình đặt ra, và hình dung rằng giới hạn đó trùng với những gì được phép, không lấn sang khu vực của những gì không được phép. Tuy nhiên thực tế cho thấy, sự tự giới hạn này phản ánh một nỗi lo sợ nhiều khi thiếu căn cứ, bởi vì những gì « không được phép » đối với người này lại là « được phép » (đúng hơn là « tự cho phép ») đối với người kia. Cái vòng kim cô, do vậy, không phải chỉ là sự áp đặt từ bên ngoài, mà nó còn có tính nội sinh. Giới lao động trí óc tự tạo ra cái vòng đó và để nó xiết chặt từ bên trong vỏ não. Sự tự nguyện này, xét kỹ, không gì khác hơn là hệ quả của sự bần cùng hóa tinh thần. Nếu như một bộ phận lớn thuộc giới lao động trí óc Việt Nam được gọi là « trí thức trùm chăn » thì đó chính là hậu quả của sự (tự) bần cùng hóa về phương diện tinh thần này. Bởi lẽ giờ đây, khi các thói quen và quán tính đã được thiết lập một cách vững chắc, nếu họ có hất cái chăn đi, thì việc trình bày ý kiến cũng hoàn toàn không đơn giản và không dễ dàng. Thử giả định rằng họ được chuyển sang sống ở các nước dân chủ và họ có toàn quyền phát ngôn về mọi chuyện mà không có bất kỳ một đe dọa nào hay một áp lực nào, thì liệu họ có thể tham gia phản biện như các trí thức ở các nước sở tại không?

Sự bần cùng hóa tinh thần là một trong những nguyên nhân khiến giới lao động trí óc ở đây đánh mất sức mạnh, đánh mất khả năng phân biệt đúng sai, phải trái, và khiến họ có thể vi phạm các chuẩn mực đạo đức mà vẫn cảm thấy yên ổn lương tâm. Họ tìm sự yên ổn bằng cách sử dụng các lý lẽ mang tính ngụy biện để bào chữa hoặc hợp pháp hóa cho sự vi phạm đạo đức hay sự vi phạm pháp luật. Chẳng hạn giới giáo viên có thể tự cho là chính đáng khi nhận phong bì của học sinh và phụ huynh. Họ lập luận rằng đấy là để bù lại sự bất công trong chế độ thù lao của nhà nước. Họ đã dùng cái sai này để sửa cái sai khác, trong khi những giải pháp đúng đắn đã không được lựa chọn. (Chúng tôi sẽ còn trở lại bàn sâu hơn về điều này). Họ thấy hay không thấy rằng, giữa cái phong bì và sự suy đồi đạo đức, sự suy thoái trầm trọng của nền giáo dục, có mối quan hệ khăng khít? Họ thấy hay không thấy mối liên hệ nhân quả giữa cái phong bì và tệ nạn bằng cấp dởm, chức danh dởm, những thứ đã và đang đẩy chất lượng giáo dục xuống bờ vực thẳm? Đơn giản là một khi đã nhận tiền của sinh viên thì họ không thể đánh trượt hay dành điểm kém cho luận văn hay luận án của sinh viên, dù cái luận văn hay luận án ấy có kém cỏi đến mức độ nào chăng nữa. Họ thấy hay không thấy rằng khi quyết định trao bằng thạc sĩ hay tiến sĩ cho một người không có năng lực tương xứng với học vị đó, thì họ đã gián tiếp đẩy bao nhiêu thế hệ học sinh vào nguy cơ bị ngu hóa, bị bần cùng hóa về mặt trí tuệ ? Vấn đề không chỉ là việc cho ra đời một tiến sĩ dỏm, mà cùng với tiến sĩ dỏm đó là hàng loạt thế hệ thanh thiếu niên phải gánh chịu hậu quả. Rồi những người thầy kém sẽ tạo ra các thế hệ những người thầy kém tiếp theo, cứ như vậy mà kéo dài tình trạng suy thoái.[2] Vậy những người làm giáo dục muốn đẩy trách nhiệm ấy cho ai?

Vấn đề đối với giới lao động trí óc không hẳn chỉ là hợp tác hay bất hợp tác. Voltaire từng bị triều đình bỏ tù vài lần, nhưng rồi sau đó cũng có lúc ông hợp tác với triều đình Versailles và triều đình của Friedrich II, rồi lại bất hợp tác. Goethe từng giữ nhiều chức vụ trong các triều đình của Đức thời bấy giờ. Hugo từng thực sự mong muốn tham gia triều chính, muốn có ảnh hưởng để thực hiện các ý tưởng của mình. Ông trở thành người tin cẩn của Louis-Philippe năm 1844, và sau đó làm Nguyên lão nghị viên. Rồi tự lưu đày, từ chối trở về nước Pháp khi mà ông chưa thấy đất nước này có tự do. Dù ở thời kỳ nào trong đời họ, dù họ lựa chọn thái độ nào, hợp tác hay bất hợp tác, thì đó cũng là những nhân cách lớn, những trí tuệ lớn và những bản lĩnh văn hóa đáng nể trọng. Họ biết rõ họ làm việc vì ai, vì cái gì. Nhân loại đã được hưởng lợi rất nhiều từ sản phẩm của lao động trí óc của họ.

Sự (tự) bần cùng hóa về tinh thần, về đời sống trí tuệ đã khiến cho đa phần giới lao động trí óc Việt Nam hiện nay mất dần các phẩm chất tư duy, mất cả năng lực làm việc trong lĩnh vực chuyên môn hẹp của mình, mất luôn cả bản lĩnh văn hóa, cả ý thức về sự đúng sai, cả phẩm chất đạo đức công dân. Tự giữ cho mình trong sạch, chuẩn mực còn khó, nói chi đến chuyện dám đứng lên bảo vệ công lý, bảo vệ nhân tính! Do vậy mà thuật ngữ « trí thức trùm chăn » cũng chưa hẳn đã xác đáng. Bởi lẽ trí thức trùm chăn dù thơ ơ với thế sự thì ít ra cũng còn giữ được căn cốt của người trí thức.

Vấn đề quan trọng đặt ra cho giới lao động trí óc Việt Nam hiện nay là làm thế nào để thoát ra khỏi tình trạng bần cùng hóa cả về vật chất lẫn tinh thần. (Nếu nhìn vào các dấu hiệu của tài sản thì có vẻ như một số người thuộc giới lao động trí óc đã thoát khỏi sự bần cùng hóa về vật chất, nhưng nghịch lý là ở chỗ: phương thức mà phần lớn trong số đó sử dụng để thoát nghèo lại góp phần thúc đẩy quá trình bần cùng hóa về tinh thần ở họ. Điều này sẽ được đề cập vào một dịp khác.)

Nhưng có lẽ vấn đề còn quan trọng hơn là làm thế nào để, nếu không phải toàn bộ thì cũng là phần lớn, giới lao động trí óc của chúng ta mong muốn thoát khỏi tình trạng bần cùng hóa ấy, nhất là thoát khỏi sự bần cùng hóa về tinh thần. Để tránh sa vào duy ý chí, cần nói rõ hơn rằng, dù « Muốn » chưa phải là điều kiện đủ, thì đó cũng là điều kiện cần. Hiện nay còn quá ít những người có mong muốn này. Một khi còn chưa có sự mong muốn, khi mà tình trạng chung là chấp nhận, chịu đựng và thỏa hiệp, thì việc đặt câu hỏi « làm thế nào » chỉ là một thứ xa xỉ phẩm mà thôi. Mong muốn là điểm khởi đầu giúp ta nhận ra rằng thực ra trong mỗi người đều có một nguồn năng lượng rất lớn. Cần phải để cho nguồn năng lượng đó được giải phóng để biến thành sức mạnh; giải phóng khỏi nỗi sợ hãi, khỏi những định kiến, khỏi sự ràng buộc và hạn hẹp trong nhận thức. Mong muốn là điểm khởi đầu giúp ta có thể đi tới chỗ đồng ý với John Stuart Mill rằng: « …nguồn gốc của mọi thứ đáng trọng trong con người như một thực thể có trí tuệ cũng như một thực thể có đạo đức, đó là phẩm chất sửa lại sai lầm của mình »[3], và càng đồng ý với ông hơn về nhận định: « Con người có khả năng sửa chữa sai lầm của mình bằng thảo luận và trải nghiệm. Không phải chỉ có bằng trải nghiệm không thôi. Phải có thảo luận để biết trải nghiệm cần được suy đoán ra sao. »[4]

Chỉ khi nào giới lao động trí óc có mong muốn thoát khỏi tình trạng bần cùng hóa này thì lúc đó họ mới nghĩ đến việc tìm giải pháp, tìm cách làm thế nào, khi đó họ mới có cơ may tìm lại được các giá trị của lao động trí óc. Bởi vì sự mong muốn sẽ kích hoạt trí não, sẽ khiến cho trí óc hoạt động, và sự hoạt động của trí óc là cách duy nhất giúp người ta tìm ra giải pháp tích cực nhất trong hoàn cảnh của mình. Như câu ngạn ngữ của người Pháp: « vouloir c’est pouvoir »[5], hoặc như Đam San của Tây Nguyên: « Ta sẽ đi tới nơi ta muốn ».

Vinh, ngày 24/1/2012

________________

[1] Vì muốn tập trung vào chủ đề chính của bài viết, chúng tôi sẽ không đề cập đến một hiện tượng, đó là một số người thuộc giới lao động trí óc ở Việt Nam, bất chấp sự khắc nghiệt của hoàn cảnh, đã không ngừng nỗ lực làm việc. Đến mức mà, có lẽ các đồng nghiệp nước ngoài của họ cũng khó có thể hiểu được họ lấy đâu ra sức lực để có thể làm việc như thế trong một điều kiện tồi tệ như thế.

[2] Xin kể ra đây một câu chuyện nhỏ mà người viết bài này từng chứng kiến khi còn ở Pháp : một sinh viên bậc master (tương đương với thạc sĩ ở Việt Nam) có cơ hội nhận học bổng làm tiến sĩ, nhưng cô ấy không nhận, và giải thích rằng, cô ấy tự thấy không có thiên hướng và không đủ khả năng làm nghiên cứu, vì thế cô ấy nghĩ rằng nên để suất học bổng đó cho người nào thực sự có năng lực và say mê nghiên cứu. Cô ấy sẽ tìm một việc phù hợp với trình độ và sở thích của mình. Trong ví dụ này ta thấy rõ những gì mà nền giáo dục Pháp đã đạt tới trong việc giáo dục con người. Những gì được Rousseau nói tới từ thế kỷ XVIII : « Con người thực sự tự do chỉ muốn điều gì anh ta có thể, và làm điều gì anh ta thích » (Emille hay là về giáo dục, bản dịch tiếng Việt của Lê Hồng Sâm và Trần Quốc Dương, NXB Tri Thức, 2008, tr. 95)

[3] John Stuart Mill, Bàn về tự do, bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Văn Trọng, NXB Tri Thức, 2005, tr. 56 .

[4] Như trên, tr. 56

[5] Muốn là có thể thực hiện được.

Diên An – BỨC XÚC CẢM

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Việt Nam on 2011/12/28 at 08:55
 

Là một ca sĩ tự do,  từ ngày tôi chập chững bước vào nghề (với nghệ danh Thu An, giờ là Diên An) cho đến nay đã gần 10 năm, vẫn mãi thế.. một con đường mà tôi đã lựa chọn và cũng là ước mơ duy nhất từ khi còn bé. Quay nhìn lại quãng đường khá dài mà ngượng ngùng, giật mình khi tôi đã trải qua và vẫn bước đi trên con đường chông chênh, đầy cạm bẫy nhưng chưa bao giờ tôi có ý nghĩ bỏ cuộc.  Bằng chính “đôi chân” của mình, tôi đã bước đi thật chậm nhưng chắc chắn là sẽ chắc hơn, tự rèn luyện là nhiều cho giọng hát của bản thân, xây dựng từng xúc cảm riêng cho từng tác phẩm.

Điều mà tôi sợ hãi nhất là: mất hết cảm xúc dù chỉ trong một ngày!

Có lẽ do tôi sống và làm việc nhiều bằng cảm xúc, nên khi bao diễn cảnh trái quá, trải ra trước mặt tôi: người giàu quá, kẻ nghèo xác xơ, người đầy uy quyền, kẻ bị đày vì yếu thế,…Và cay đắng hơn khi nạn bạo lực học đường đang hoành hành, nó đã thôi thúc tôi phải làm điều gì đó để ngăn lại những cảnh tượng thật dã man… Nhưng tôi phải làm gì đây!? Rồi một ngày lang thang internet bắt gặp bài báo viết về ngư dân Việt Nam đã và đang bị tấn công giết hại bởi tàu Trung Quốc, nghĩ đến cảnh tượng con dân đất Việt bị tra tấn, giết chóc thật man rợ dưới tay lũ ác ôn.. tôi đã lần đến các cuộc biểu tình chống Trung Quốc. Và cũng từ đây, cuộc đời tôi bất ngờ biến đổi!

Bị bắt trong cuộc biểu tình chống Trung Quốc ngày 17/07/2011, khi tôi vẫn ngớ người chẳng hiểu vì sao?!? Rồi tôi cũng đã hiểu ra trong ngày gần nhất, rằng hãy kìm nén cảm xúc của mình vì đã được các đồng chí công an giải dạy “chuyện này không cần đến tôi hay bất kỳ người dân nào phải lên tiếng”. Tôi quá nhỏ bé, tôi biết! Tôi lại càng lặng lẽ và thấy trống trải hơn trước, cảm thấy như đã đánh mất một thứ gì quan trọng vô cùng trong cuộc sống ngắn ngủi này, nhưng vẫn phải sống và cười nhạt.

Và cũng từ đây, tôi có thêm những người bạn, fans  ít nhiều hiểu được tôi. Và cũng từ đây, cho đến bây giờ và có lẽ sau này tôi ngày càng được các anh chiến sĩ công an đánh thức giấc ngủ ngoan, trò chuyện huyên thuyên về các cuộc biểu tình chống Trung Quốc. Và ngày hôm nay, tôi đã được gán cho là kẻ có tội trong tư tưởng “chống đối”. Các hình ảnh vui chơi của tôi trên mạng cùng các fan, các bạn đã từng có mặt trong các cuộc biểu tình chống Trung Quốc, và chỉ thế là tôi đã có cái tư tưởng “chống đối”.

Họ: Sao lại chơi với những con người có tư tưởng lệch lạc, mà không phải là những người bạn khác.

Tôi: Em là ca sĩ, ngoài việc ca hát.. em cần giao tiếp, vui chơi. Hơn nữa, em cần được sự yêu mến của càng nhiều số đông các fan càng tốt.

Em không cần biết và không quan tâm họ đã làm gì, với các anh cũng thế, cả những người lao động cho đến những người trí thức.

Họ: Nói thẳng với em, khi em đi cùng những con người có tư tưởng “chống đối”, thì chính em cũng phải có cùng tư tưởng mới đi cùng nhau được.

Tôi: Anh này! Tư tưởng của em nằm ở trong đầu em, anh đọc được những gì em đang suy nghĩ? Sao anh lại vô cớ gán cho em cái tội “chống đối”??

Anh có biết đêm qua em đã thức trắng vì bị cơn sốt hành không? Đêm trước thì đến 7h sáng em mới ngủ được và 9h sáng anh khu vực đến nhà em đập cửa ầm ầm.. để gửi tờ giấy mời làm việc với lý do “Làm rõ hoạt động của bản thân” mà em không thể hiểu được cái nội dung ấy là như thế nào!? Và em đã tròn xoe mắt khi em thật sự không thể hiểu được đây là cái gì??? Đây! Anh cầm tay của em đi (…) Anh có hiểu cảm xúc của em không? (mém khóc)

Họ: Ờ.. thì là người mà..

Tôi: Đúng! Là người thì phải có cảm xúc, tức giận cũng là một cảm xúc (giận các anh vô cùng).

Họ: Nhưng em tụ tập với đám người này đi biểu tình.

Tôi:  Ok, em sẽ hiểu mập mờ về cái lý do của giấy mời là.. em sẽ phải thuật lại là em đã đi đâu và làm những gì trong những ngày gần đây. Và đến đây em đã quá hợp tác với các anh rồi, thậm chí đã đi xa hơn cái nội dung của tờ giấy mời, cả cảm xúc của em mà em cũng bộc bạch luôn.

Còn cuộc biểu tình em đã tham gia và bị bắt vào ngày 17/07 thì em đã làm việc với các anh 3 ngày liền rồi và đã xong, em cũng đã đi biểu tình sau đó đâu!?? Em mất quá nhiều thời gian để hợp tác với các anh về cái lý do mà em không hiểu hết được trong giấy mời, trong  khi công việc của em còn rất nhiều và sức khỏe nữa.

Họ: Anh biết là em hợp tác tốt, anh cũng không muốn làm mất thời gian và ảnh hưởng sức khỏe của em. Thôi! Buổi làm việc đến đây được rồi, hôm nào em khỏe.. lên làm việc tiếp.

Tôi: Em đã trình bày quá đầy đủ nội dung trong buổi làm việc hôm nay. Nếu mời em lần sau nữa, em mong các anh sẽ có cái lý do chính đáng em sẽ sẵn sàng đến làm việc. Không ai muốn bị làm phiền kiểu này đâu anh à!

Họ: Tôi sẽ mời em lên làm việc lần nữa hoặc nhiều lần nữa với lý do gì cũng được.

Tôi: ^^

PS: Tôi vẫn ấn tượng nhất là các anh đã mời tôi đi ăn sáng sang trọng tại lầu 3 nhà hàng Nhơn Hòa với bánh canh tôm cua và soda chanh đường. Ấn tượng hơn là anh ấy thật ga lăng với tôi và rất sành điệu! (✿◠‿◠)

Nguồn: FB Diên An