vietsoul21

Archive for Tháng Bảy, 2011|Monthly archive page

Tạ Duy Anh – Nén nhang muộn cho Nguyễn Khải

In Liên Kết, Việt Nam, Văn Chương on 2011/07/15 at 11:54

Nhang Khói (Boxitvn.net)

Cho đến khi Nguyễn Khải từ giã cõi đời, tôi chỉ nhìn thấy ông một lần và gặp ông một lần nhưng chưa bao giờ quen ông. Lần nhìn thấy ông là khi tôi còn ở Trường Viết văn Nguyễn Du. Tôi nhớ trong đám quan khách đến dự cuộc hội thảo gì đó do nhà trường tổ chức, có một người từ đầu đến cuối hầu như không muốn nói, đến dự vì nể nang, bất đắc dĩ, không tiện từ chối. Ở chỗ nào ông cũng như muốn lẩn mình vào trong đám đông nhưng thỉnh thoảng cứ phải gượng gạo cười, gật đầu đáp lại lời chào, gượng gạo chìa tay với ai đó. Đến bữa trưa, mọi người tự phục vụ. Nhà văn Nguyễn Trí Huân bất ngờ vỗ vào vai tôi và chỉ về phía người mà tôi vừa kể, đang kẹp chiếc cặp trên nách nên phải nghiêng người xuống hứng cốc bia hơi cũng do ông tự vặn vòi, bảo: “Chú nên ra chào bác Nguyễn Khải một câu và lấy cho bác ấy cốc bia”. Đáp lại Nguyễn Trí Huân, tôi chỉ đứng im nhìn để tự nhủ lòng mình rằng, vậy ra đó chính là Nguyễn Khải. Tôi bỗng muốn bật cười, mặc dù nếu làm thế thì là bất nhã. Nhưng đúng là tôi không kìm được và không sao hiểu nổi phản ứng đó của mình. Tại sao tôi lại buồn cười khi nhìn thấy ông nhà văn nổi tiếng suốt mấy chục năm – từ khi tôi chưa đẻ, mà không lon ton chạy ra đỡ cốc xin được lấy bia rồi bưng cho ông ta bằng vẻ xuýt xoa cầu thân, bằng bộ mặt rạng rỡ hạnh phúc vì được làm quen với bậc trưởng lão trong làng văn, như đa số người cầm bút thế hệ tôi lúc bấy giờ sẽ làm thế? Đó chả là một vinh hạnh lớn lắm ư? Biết đâu ông ấy hạ cố ban cho lời khen rơi khen vãi, bằng độ bao diêm thôi trên báo Văn nghệ, là có thể thành danh như khối trường hợp đã xảy ra? Chính mắt tôi từng chứng kiến một ông nhà thơ, bất chấp mưa bão khiến toàn thân ướt như chuột lột, khom người móc từ trong bụng ra tập thơ bọc mấy lần ni lông run run dâng lên một nhà phê bình ngồi như con Linh Miêu trong bức tranh “Đám cưới chuột”, giọng nịnh bợ thảm hại: “Biếu anh và xin anh cho vài nhời”. Nhà phê bình kia so với Nguyễn Khải, chỉ là gã tiểu tốt vô danh, mà còn được trọng vọng đến vậy huống hồ Nguyễn Khải? Vài nhời của bậc “trưởng lão” đôi khi đủ là vốn liếng bằng vàng với người mới vào nghề để anh ta có cơ hội được ai đó nhắc tới ngay cả khi sau đó anh ta chết ngóm. Trong nghề viết lách, chưa có tí danh, dù là danh bèo danh bọt thì còn hận lắm. Lại có ông nhà thơ khác bỏ ra cả chục triệu đồng, móc của vợ, của bạn bè và của Nhà nước để thuê  người  mông má, quyết “hữu danh” bằng được. Đằng này chả mất gì cả, nếu có khom người tí chút, thì chỉ riêng chênh lệch về tuổi tác cũng không sợ bị ai đó xét nét. Mà cơ hội để được tiếp cận với các “đại bút” đâu phải lúc nào cũng sẵn! Vậy mà tôi nhớ lại lúc đó, sau khi nghe nhà văn Nguyễn Trí Huân nói vậy và sau khi biết đó là Nguyễn Khải, tôi đã nghĩ như thế này: “Việc quái gì mình phải làm quen với một kẻ cả đời xu nịnh, cả đời uốn lưng, uốn ngòi bút để đổi lấy chút danh vọng hão huyền và sự yên thân trong khi ông ta biết thừa điều đó là hèn mạt”. Tôi đã nghĩ như vậy, mọi người có thể cho tôi là ngạo mạn, thậm chí xấc láo nữa. Tôi không chối cãi. Nhưng thái độ đó của tôi là phản ứng giận dữ đối với một người tôi phải học ra rả suốt cả thời trẻ những điều ông ta viết, đã làm tổn thương niềm tin của tôi. Tôi càng không chấp nhận một người như ông mà luôn đem cái nhát, cái sợ của mình ra thanh minh cho việc phải viết những trang văn tô hồng hiện thực, minh họa chính sách một cách sống sượng. Khi ông tin vào điều mình viết thì thôi có thể bỏ qua. Nhưng khi ông cặm cụi nặn ra những lời ca ngợi cái thứ chính ông cũng ớn đến mang tai, thì không thể chấp nhận được. Rất nhiều lần ông nói xa xôi là ông phải viết vì sinh nhai, có ý thanh minh cho mình như vậy. Ai có thể tin và thông cảm, riêng tôi thì không tin lý do đó và cũng không chấp nhận lời thanh minh. Nếu không thích thì có ai bắt ông phải viết đâu. Không in được tác phẩm thì với lương bổng của ông đâu đã đến mức chết đói như nhiều nhà văn không may khác. Đã thế, bằng việc làm, ông lại chứng tỏ ngược lại, tức là ông cho mọi người thấy ông viết như chắt ra từ tim óc. Đó là khi tôi đọc được ở đâu đó bài bút ký ông kể rằng, chuyến đi Hưng Yên lần ấy, thắng lợi lớn nhất là ông tìm lại được cuốn truyện vừa có tên là Chủ tịch huyện trong một thư viện xã, cuốn truyện in cách nay đã mấy chục năm. Giá kể tôi chưa phải đọc cuốn truyện đó. Giá mà suốt thời học sinh tôi không phải ra rả học Hãy đi xa hơn nữa (ngay từ cái tên đã đầy tính xu thời chính trị) thì tôi quá lắm là thở dài theo nỗi buồn của người viết về thời thế. Nhưng trời ạ, đáng lẽ ông phải xé tan cái cuốn sách ấy đi mới phải chứ, coi nó như đứa con bị cưỡng hiếp mà có nên dị dạng cả về thân xác lần tinh thần, ông phải cảm thấy xấu hổ vì mình đã từng viết như vậy chứ. Ừ thì thời thế đôi khi cũng khó cưỡng. Nhưng ông thừa biết cuốn sách đó vô giá trị toàn diện, nói dối toàn diện chỉ để kiếm cơm và chứng tỏ lập trường thôi. Nó là bản minh họa khá thô thiển một chính sách hoang tưởng và bất nhân làm nông thôn bị bần cùng hóa. Nó tô son trát phấn cho những bộ mặt lem luốc, những nhân cách lem luốc, những cuộc đời lem luốc. Nó biến đen thành trắng, đánh lộn sòng giữa cái muôn đời và cái chốc lát… Ông thừa biết rằng, chỉ có thể chiêu tuyết những oan ức của người nông dân bằng cách treo cổ những điều sằng bậy do mình viết, những điều mà vì thế họ không ngóc đầu dậy được. Vậy mà ông lại vẫn lấy làm sung sướng, hãnh diện khi tìm lại được nó, cái thứ của tội nợ đó. Phản ứng thái quá của tôi còn do cả việc ông thay đổi quan điểm – một điều không thể hiểu nổi đối với một nhà văn như ông – trong một số sự kiện liên quan đến văn học, mà lý do chỉ vì ông là Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn. Không biết với một người như ông thì cái chức Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn quan trọng ở chỗ nào. Có thể với ai đó, thậm chí là đa số trường hợp, cần cái chức vụ bèo bọt đó để tiến thân và hữu danh, kiếm bổng lộc, chứ ông đâu có cần. Ông không cần phải là Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn mới được biết đến. Tạng như ông cũng chả kiếm chác được gì ở cái chức đó. Đành rằng tôi từng thấy cái chức đó ghê gớm với ngay cả một nhà văn đinh ninh rằng mình là cây đa, cây đề. Trước đại hội lần thứ V Hội Nhà văn ViệtNam, ông ta muốn được tiếp tục làm Ủy viên Ban chấp hành Hội thêm khóa nữa và vì thế ông viết một bài thống thiết kêu gọi Đảng ở đâu hãy nắm ngay lấy chúng tôi, đừng để các thế lực khác họ nhanh tay hơn. Ông muốn chứng tỏ, nếu có ông trong Ban chấp hành Hội Nhà văn thì Đảng cứ việc kê cao đầu mà ngủ kỹ, không phải bận tâm đến cái lũ văn nghệ sỹ nữa. Hạ mình đến thế cơ mà. Tự biến mình thành một thứ công cụ rẻ mạt, một kẻ gác cổng, hẳn cái mà ông ta muốn được bù trì phải hấp dẫn lắm. Sự thật thì khối kẻ, từ một hòn đất, chỉ cần là Ủy viên Ban chấp hành, lập tức thành bức tượng, có thể lăng xăng đi lại ở những hội nghị lớn, về các địa phương với tư cách người của Trung ương, lên tiếng dạy bảo người này người khác, là nơi cầu cạnh, xin xỏ của biết bao người thập thò muốn vào Hội, muốn được giải này giải nọ để làm vốn kiếm ăn với địa phương, tức là có thể ban cho người này người kia những thứ làm đổi đời họ… và dù thế nào, dù có là cục đất, thì Ủy viên Ban chấp hành cũng mặc nhiên thành người nổi tiếng trong giới, ít nhất cũng vài ba năm. Tôi cam đoan Nguyễn Khải biết điều đó, nhưng tuyệt không phải vì những thứ đó mà ông cứ phải là Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn. Vậy thì ông hành động không như ông nghĩ vì cái gì? Tôi thật sự không thể hiểu nổi và không chấp nhận.

Bây giờ tôi xin kể về lần thứ hai gặp ông. Đó là vào khoảng năm 2003, ông ra Hà Nội và ghé vào nhà xuất bản chơi với Nguyễn Khắc Trường. Khi đó cả ông và tôi đều đang là nạn nhân của một vụ cấm đoán miệng, khiến Thượng đế thì cười đắp chăn gần một năm và chỉ được phát hành sau khi nhà xuất bản xé đi đoạn ông kể về quá trình ông làm “nghị gật”, còn Đi tìm nhân vật trót phát hành rồi thì không được tái bản, không được bất cứ báo nào có lời giới thiệu, bất kể là khen hay chê… và tất cả đều do truyền đạt miệng, không chính thức! Chính nhờ đọc Thượng đế thì cười mà tôi đã bớt cay nghiệt hơn khi nghĩ về ông. Nói thật ra, nếu cuốn sách không bị cấm thì nó cũng sẽ bị quên lãng ngay. Bởi người đọc nó là những người hiếu kỳ, muốn thoả mãn nỗi ấm ức bị bưng bít thông tin hơn là nhu cầu thưởng thức nghệ thuật. Nhưng cái được lớn nhất là lần đầu tiên ông dám sòng phẳng với chính mình. Ông đã dám nói ra một số sự thật liên quan đến việc viết lách, đến những trang văn nhem nhuốc viết theo đơn đặt hàng, đến cái danh hão mình đang mang. Phải ở một tầm nào đó mới có đủ khả năng tự giễu cợt mình, giễu luôn cả cái thứ gọi là văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa chết đồng loạt trên toàn hệ thống; ông đã dám công khai xin lỗi nhà văn Vũ Bão – một việc tưởng đơn giản nhưng không phải ai cũng làm được như ông đã làm. Tuy vậy cái không được là ông vẫn ra sức thanh minh cho mình. Vì ông có tài nên cái sự thanh minh nhiều khi cũng rất tinh vi. Một cuốn hồi ký, tự truyện mà nhân vật xưng tôi chỉ tìm cách thanh minh thì chứng tỏ tầm cỡ của người viết chưa thật lớn, chưa thật sự bị thúc bách bởi lương tri mà ngồi xuống bàn viết, chẳng qua sám hối chỉ là miễn cưỡng hoặc làm phép. Mà điều đó thì tôi cũng không chấp nhận. Vì thế, khi ông sang phòng văn học trong nước, tôi vẫn cắm cúi làm việc mà không ngẩng lên. Không biết vô tình hay cố ý, ông ngồi đúng vào chiếc ghế đối diện với bàn làm việc của tôi. Trước đó tôi biết ông khen tôi trên tờ báo nào đó. Nhưng điều đó không thể khiến tôi động lòng. Vì thế tôi chỉ miễn cưỡng gật đầu chào ông như chào bất cứ ai bước vào phòng. Tuy vậy trong câu chuyện với một chị bạn đồng nghiệp, nhân chuyện gì đó, ông lại nhắc đến tên tôi. Tôi còn ghi dấu nụ cười của ông cùng với cái nhìn nhanh về phía tôi. Đó là một nụ cười đầy thiện tâm, nụ cười của người đã ngộ ra nhiều thứ, muốn dàn hoà với cả thế giới, nụ cười cầu mong sự tha thứ của người đời và mình cũng muốn tha thứ hết cho những gì người đời gây đau khổ cho mình. Tôi còn kịp quan sát đến thế đủ hiểu tôi đã đối diện với ông không chỉ trong chốc lát. Tôi biết rằng, chỉ cần tôi cất lời: “Cháu chào chú Nguyễn Khải” là ông sẽ quay hẳn sang nói chuyện với tôi. Nhưng vì tôi đã cố chấp, vì tôi còn thiếu từng trải, thiếu tài năng, tức là còn nhỏ bé… nên đáng lẽ làm vậy thì tôi lại lấy cớ có việc gì đó để đi ra ngoài. Ông là người nhạy cảm nên hiểu rõ hành động ấy của tôi là gì. Nhưng ông vẫn thản nhiên ngồi lại, như một người già không chấp thằng trẻ ranh trái tính thành ra hỗn. Tôi chả có việc gì cả nên đứng đọc báo ở bàn tiếp khách ngoài hành lang cho đến khi biết Nguyễn Khải đã ra khỏi phòng mới trở vào. Khi nghe Nguyễn Khải qua đời, quả thật có lúc tôi tự lấy làm tiếc cho mình đã thực sự bỏ lỡ một dịp quan trọng. Có thể không quan trọng với tôi nhưng quan trọng cho đời văn của tôi. Nhưng ý nghĩ đó cùng với sự hối tiếc chỉ thực sự khiến tôi day dứt khi đọc những dòng ông viết vào giây phút cuối đời. Mặc dù không định thanh minh cho Nguyễn Khải – vì tôi không có tư cách gì để làm điều đó và ông cũng không khiến – nhưng đã có ít nhất một đêm tôi mất ngủ, lòng tự trách mình cay nghiệt và để thương tiếc ông, cũng là thương cho kiếp trí thức ở cái đất nước này. Với đám trí thức nói chung thì vừa thương, vừa giận, vừa khinh. Thương vì suốt cả một lịch sử thăm thẳm kẻ sỹ luôn lép vế, khiêm nhường đứng ở một góc khuất, chờ được đem tâm và tài ra thi thố, nhưng đa số muốn mở mặt mở mày đều phải cúi rạp xuống đến mức thành kẻ vô lại. Có công thì bị kẻ kém cỏi hơn mình tranh mất, nhưng sự không thành thì tội giáng lên đầu mình đầu tiên. Ở một đất nước mà lũ chân yếu tay mềm, đầu chỉ có chữ từng là đối tượng đầu tiên phải tiêu diệt, thì biết nhiều đồng nghĩa với tai họa nhiều. Vì thế cứ mũ ni che tai, tự nhận mình dốt là cách an thân tốt nhất. Bởi vì có mấy người, mấy thời gặp được minh quân để dốc lòng phụng sự quốc gia đâu? Phần lớn là u vương, tự đồng nhất mình với đất nước, coi thiên hạ là giường chiếu để mình hành lạc. Gặp phải kẻ như vậy thì thay vì nói thật, phải uốn lưỡi nói những điều dối trá để giữ mạng sống và vinh thân phì gia. Thương vì nhiều tai họa giáng xuống đầu họ đôi khi chỉ vì họ hiểu biết hơn người, cả nghĩ hơn người, thương nòi giống và yêu tổ quốc hơn người. Họ luôn là đối tượng của nghi kỵ, đố kỵ, gièm pha. Kinh sợ nhất là bọn đố kỵ. Bất cứ ai có chút ít kiến thức về lịch sử cũng dễ dàng nhận ra bi kịch truyền kiếp của thân phận trí thức Việt luôn gắn với đám xu phụ quyền lực, bọn thầy dùi chính trị mà phần lớn số đó đều bất tài, vô hạnh, đểu cáng không có giới hạn. Không có gì đáng sợ hơn bọn này. Đáng sợ vì họ lại được (và thường được) giới cầm quyền trọng dụng. Nó, một mặt phải tìm cách tiêu diệt kẻ có tài do bản năng tồn tại, do đố kỵ, mặt khác, nó thèm khát được chứng tỏ mình, thèm khát được thấy một sự khiếp sợ nào đó từ người khác. Nhưng tự bản thân nó thì không thể làm những việc đó được. Vì vậy nó buộc phải dựa vào quyền lực. Muốn thế nó phải muối mặt nói những lời nịnh hót thường rất vừa tai kẻ cầm quyền. Một điều lạ là không phải kẻ có quyền lực nào cũng dốt đến mức không biết kẻ khác đang tâng bốc mình. Nhưng đáng lẽ phải cảm thấy xấu hổ – như bất cứ người có văn hóa nào – thì đa số họ, những kẻ sở hữu quyền lực, lại luôn vừa lòng về điều đó. Những kẻ xu thời dù chắc chắn là bất tài, thì họ cũng còn một sự tinh tường ấy là nhận ra rằng, loại người mà đám quyền lực tăm tối ghét nhất là bọn trí thức có chính kiến riêng. Xét đến cùng thì chỉ một người có học vấn, có chính kiến riêng, mới được coi là trí thức. Một dân tộc mà thiếu vắng những nhà phản biện, là một dân tộc vô phúc. Một chính thể luôn tuyệt đối hóa mình, đồng nghĩa mình với lẽ phải để từ đó coi mọi ý kiến không giống mình là sai trái, là một chính thể không có tương lai. (Chính thể Xô-viết và các chính thể Đông Âu trước năm 1990 là ví dụ hiển nhiên. Thực ra ở những chính thể ấy không thiếu những nhà phản biện lớn, như trường hợp nước Nga. Nhưng năm 1922 Lenin đã ký lệnh trục xuất hơn 200 trí thức hàng đầu của nước Nga (chứ không giết). Những trí thức này nói như Doxtoiepxki là hàng ngàn năm nước Nga tồn tại chỉ để có nhiệm vụ sinh ra họ. Lệnh trục xuất này thực chất là lệnh khai tử nhà nước Liên Bang gần 70 năm sau). Nó chỉ quan tâm đến cái trước mắt, tức là rất vô trách nhiệm với dân tộc. Và thế là, thay vì cần trí thức, cần những nhà phản biện với vai trò làm thức tỉnh chính nó, nó chỉ cần những kẻ học thuộc lòng. Mà chỉ học thuộc lòng, cho dù là thuộc những điều cao xa nhất, được coi là kinh điển và không phải ai cũng làm được, thì cũng vẫn chả hơn gì là một thứ nô bộc. Bởi vì kẻ học thuộc lòng, răm rắp làm theo, dù nhân danh bất cứ điều gì, kể cả tình yêu tổ quốc, cũng là kẻ trục lợi vì bản thân trước hết. Nó giống hệt với kẻ ngậm miệng ăn tiền về bản chất. Nhưng bất hạnh hay là nực cười thay, những kẻ như vậy, những kẻ học thuộc ăn tiền, nói theo ăn tiền… lại luôn là những kẻ có quyền định đoạt số phận không chỉ cho giới trí thức, mà đôi khi là số phận của cả một dân tộc. Bằng chứng cho điều này là thứ dễ tìm nhất, cả trong lịch sử nước nhà lẫn lịch sử thế giới. Còn nếu cần đơn cử một vài nạn nhân của cái thủ đoạn quen thuộc từ ngàn năm nay mà những kẻ xu thời áp dụng để hãm hại những trí thức hàng đầu là vu cáo chính trị, thì cũng không mất quá một phút để liệt kê ra, nào là Lê Văn Thịnh, Trần Trung Tá, Chu Văn An, rồi Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Trãi… cho đến sau này là Cao Bá Quát và gần đây hơn chính là nhóm Nhân Văn Giai Phẩm. Tuy chỉ cần chưa đầy một phút để nhắc đến ngần ấy cái tên, nhưng điều đáng buồn lại cũng ở đó. Cái bảng danh sách những kẻ sỹ dám từ bỏ lợi lộc, dám nói thật, dám bất chấp nguy hiểm để được sống như một kẻ sỹ hóa ra cũng vô cùng ngắn ngủi.

Nguyễn Khải, một người được theo nghiệp đèn sách từ bé, không thể không biết thực tế đó. Bài học về Cải cách ruộng đất, về nhóm Nhân Văn Giai Phẩm… buộc ông phải nhớ lại lịch sử. Và vì thế, giống như số đông những người được coi là trí thức cùng thời ông ở đất nước này (chỉ tính riêng miền Bắc, vì trí thức miền Nam có một số phận riêng), ông đã tìm thấy lý do vô cùng chính đáng để vờ quên bản thân mình, đó là lý tưởng vì tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Lý tưởng đó không hề xấu và không hề ít tính chất thiêng liêng, nếu người tin theo nó thật lòng. Nó chỉ đáng trách với những kẻ vờ vịt. Mà những kẻ đó phần lớn lại rơi vào thành phần trí thức. Bi kịch mang màu sắc hài kịch của trí thức Việt (tất nhiên không tính bọn giả danh trí thức), từ cổ chí kim, chính là luôn phải vờ vịt. Vờ vịt, tức là biết rõ nó không phải vậy, nhưng lại cứ phải làm ra rằng mình hiểu nó như vậy. Vờ trung thành, vờ kính trọng, vờ cúc cung tận tụy, vờ khép mình, vờ lắng nghe, vờ chăm chỉ, vờ ngoan ngoãn, vờ ca ngợi, vờ thán phục, vờ yêu… và những thứ vờ vĩnh ấy có thể làm bất cứ lúc nào, bất cứ chỗ nào, làm bao nhiêu cũng không sao ngoại trừ chỉ có lợi. Riêng một thứ không hề vờ, ấy là sự khinh ghét, thì phải nén lại, giấu thật kỹ kẻo hé ra có kẻ biết là tàn đời (mà kẻ rình rập để tố cáo, tâng công thì nhiều như ruồi, ngay trong giới trí thức); phải luôn tìm cách nhồi nó xuống, nuốt thật sâu, quên đi được thì càng phúc. Còn sống là còn phải quên. Chờ đến ngày sắp lìa đời, nếu còn lòng tự trọng, còn thấy hổ thẹn thì viết nó ra để thanh minh và sám hối. Như những câu thơ sau đây của Chế Lan Viên, tất nhiên là chưa có trong tuyển tập chính thức nào:

Sau này anh đọc thơ tôi nên nhớ

Có phải tôi viết đâu? Một nửa

Cái cần đưa vào thơ, tôi đã giết rồi

Giết một tiếng đau, giết một tiếng cười

Giết một kỷ niệm, giết một ước mơ

Tôi giết cái cánh sắp bay… trước khi tôi viết

Tôi giết bão táp ngoài khơi cho được yên ổn trên bờ

Và giết luôn Mặt trời lên trên biển

Giết mưa và giết cả cỏ mọc trong mưa luôn thể

Cho nên câu thơ tôi gầy còm như thế

Tôi viết bằng xương thôi, không có thịt của mình

Và thơ này rơi đến tay anh

Anh bảo đấy là tôi

Không phải!

Nhưng cũng chính là tôi – người có lỗi

Đã giết đi bao nhiêu cái

Có khi không có tội như mình.

Rồi như trường hợp Nguyễn Khải.

Và ngoài các ông ra, liệu còn ai nữa? Có thể là gần như tất cả đám văn nghệ sỹ, nếu họ cũng biết hổ thẹn như các ông ở những ngày tháng cuối đời. Nhiều người chưa kịp đọc Tôi đi tìm cái tôi đã mất, biết tôi đã đọc, nóng ruột muốn biết trước nó thế nào, tôi trả lời họ rằng: “Toàn bộ tác phẩm của Nguyễn Khải, nếu chưa đọc mà không có thời gian, thì chưa cần phải vội, nhưng riêng bài này thì nên đọc, phải đọc, đọc ngay”. Và tôi nói thêm: “Chỉ cần bài đó, thôi thì hơi muộn, Nguyễn Khải đã làm tròn sứ mệnh của một người cầm bút, một trí thức Việt”.

Đúng như dự đoán, người như ông sao lại không biết cái điều một nông dân hơi có học cũng biết. Nhưng vì ông là trí thức, lại là trí thức Việt nên đành phải sống hai mặt như vậy. Cái mặt đem đến cơ quan, ngồi trong hội nghị, trong các cuộc họp kín họp hở, những lần học nghị quyết, những lần đến nghe thỉnh giáo, thậm chí cả khi nằm bên người tình… là cái mặt nạ vô hồn, vô cảm một cách trơ lỳ, cái mặt dởm. Càng đắp sao cho nó không còn là mặt mình, tô vẽ cho nó nhoè nhoẹt, bóng mỡ… càng được tin cậy. Muốn sống yên thân thì cấm được để lộ ra cái mặt thật. Rồi phải bằng mọi cách, kể cả lừa thầy phản bạn cũng phải cố mà có lấy một tí danh. Đã mang thân phận trí thức Việt mà không có tí danh phận thì mọt đời không ngóc cổ lên được. Bởi nó biết nó quá yếm thế, quá nhỏ bé, quá thê thảm. Nó lại sống trong một cơ tầng xã hội mà chỉ cần đếm các mối dây nhằng nhịt vào nhau đã không đủ thời gian. Anh là ai, làm gì, sống thế nào thây mặc anh. Nhưng anh đừng bôi gio trát trấu vào mặt bố mẹ, dòng tộc, đừng làm vợ con phải khốn đốn. Mà anh là ai mới được chứ? Anh chỉ là một thứ vẹt, chủ ho thì ho theo, chủ khạc cũng phải cố mà khạc theo. Đời anh và nói chung đời người được bao lăm để anh cựa quậy? Anh cựa quậy để đem lại cho anh, cho vợ con anh được cái gì? Những câu hỏi như vậy ban đầu có thể là những lời van xin của người thân, nhưng dần dần nó là lời khuyên khôn ngoan mà một kẻ khoác áo trí thức quốc tịch Việt phải thuộc. Nó có bài học hẳn hoi. Hãy xem đấy. Khi nhóm Nhân Văn tưởng có thể làm mưa làm gió, họ là ai, hành xử thế nào? Như tôi thì tôi chỉ biết họ là những người hùng. Nhưng khi mỗi người trong số họ phải làm kiểm điểm, đối mặt với những án phạt khốc liệt, nghe nói họ cũng tìm cách đổ lỗi cho nhau để nhẹ tội cho mình. Nhưng cho dù thế thì ngần ấy năm vẫn đủ cho tôi kính trọng họ. Tôi chỉ chấm dứt thứ tình cảm quá xa xỉ ấy của mình khi mới đây tôi thấy các bậc trưởng lão của nhóm (chỉ tính những người còn sống) hớn hở nhận giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Chuyện đúng sai, lầm lỗi hay lầm lẫn của phía nào không còn là vấn đề, mà quan trọng hơn là cái mục đích thượng tôn nghệ thuật, thượng tôn công lý mà họ tin là rất cao cả (còn tôi thì tin vào họ), cuối cùng vỡ lẽ ra cũng chỉ vì một chút danh còm. Giả dụ những nhà lãnh đạo trước đây đủ cao tay, đủ thông minh để sớm ban cho họ cái giải thưởng ấy, thì mọi người trong đó có tôi đỡ đi bao nhiêu là giả định về một hiện tượng tưởng là bí ẩn nhất của lịch sử văn học nước nhà. Đã đỡ phải tốn bao nhiêu là tình cảm xa xỉ dành cho họ. Hóa ra Nguyễn Khải còn kịp nói được những điều mà đáng lẽ nhóm Nhân Văn phải thể hiện bằng hành động. Tôi chỉ vẫn không hiểu một điều: Tại sao lúc sống, biết rõ rằng đến giải thưởng Lenin, giải thưởng Stalin (từng được tuyên truyền là những giải thưởng lớn tầm thế giới?) còn chả ra gì, mà ông lại vẫn không thể từ chối nhận giải thưởng mà ông biết là bé hơn nhiều về tăm tiếng? Ông khiến tôi nhớ lại một đoạn hồi ký của Enxin, kể khi ông này ngồi phê chuẩn các quyết định do chính phủ Nga đệ trình. Ông phê duyệt gần như tức thời mọi thứ, kể cả những đệ trình liên quan đến vũ khí hạt nhân, đến sự an nguy của nước Nga trong chiến lược đối phó lại việc NATO mở rộng sang phía Đông. Ngay cả việc khôi phục lại danh dự dòng họ Romanov của các Sa Hoàng, một vấn đề đương nhiên là nhạy cảm đối với xã hội Nga hậu cộng sản vừa sợ, vừa coi khinh nhưng vẫn vừa luyến tiếc di sản quá khứ, mà ông đặt bút ký khá dễ dàng. Vậy mà ông đã mất mấy ngày trời cứ ngồi xuống, đứng lên trước quyết  định tặng thưởng giải thưởng Nhà nước Nga cho tác giả Quần đảo địa ngục [Quần đảo Goulag] mà không dám đặt bút ký, chỉ vì lo sợ ông nhà văn bị trục xuất oan uổng này sẽ không thèm nhận khiến có thể Tổng thống và sau đó là nước Nga bị bẽ mặt. Một sự lưỡng lự đi kèm lòng kính trọng. Mà là lòng kính trọng của Enxin! Cuối cùng, có lẽ phải đến ngày thứ ba Enxin mới ký khi tin rằng, bằng mọi cách, ông sẽ thuyết phục được Solzhenitsyn đồng ý nhận giải thưởng, không phải “vì danh dự của bản thân Solzhenitsyn, mà vì làm thế tức là thể tất cho nước Nga đã thật sự chân thành”. Sau khi ký xong, Tổng thống Liên bang Nga cảm thấy đó là dịp xứng đáng nhất để tự thưởng cho mình một ly vốt-ca vì chính ông vừa giải thoát cho lịch sử nước Nga bản án tồi tệ nhất! Lúc ấy tôi bỗng nghĩ, ví thử đặt vào vị trí Enxin là ông Chủ tịch nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, tên ông nhà văn Nga kia thay bằng cái bảng danh sách dài dằng dặc các nhà văn được đề nghị trao giải thưởng Nhà nước, giải thưởng Hồ Chí Minh, có lẽ vị Chủ tịch của Việt Nam chỉ do dự mỗi một điều, nếu phải bỏ bớt một số lại để phong tặng đợt sau (giả dụ chỉ là do vấn đề ngân sách thôi) thì biết bỏ ai ra bây giờ? Không thể bỏ ai cả. Họ sẽ lăn đùng ra ăn vạ. Ngay từ khi đề cử họ đã kiện tụng, bôi nhọ nhau ầm ỹ, sao cho tên mình được lọt vào danh sách cơ mà. Chỉ riêng chuyện đó thì ông Chủ tịch nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam sướng hơn ông Tổng thống Nga rất nhiều. Tất nhiên các nhà văn Việt Nam không thể so được với các nhà văn Nga, trí thức Việt càng không nên so sánh với trí thức bất cứ nước nào. Nhưng giá như Nguyễn Khải đủ bản lĩnh để từ chối cái giải thưởng mà chính ông ví nó như một tấm bia mộ sang trọng, hẳn ông đã mang xuống mồ (hay nói văn chương là về thế giới Vĩnh cửu, thế giới chỉ toàn Ánh sáng) một gương mặt khác! Ít nhất thì linh hồn ông cũng thanh thản hơn. Nhưng có lẽ là chỉ đáng tiếc cho mong ước của tôi thôi. Chưa kể ông không đủ tự tin rằng mình không cần bất cứ danh hiệu nào ngoài danh hiệu nhà văn để làm điều đó, thì vẫn còn lý do khác: ông vẫn cần bám vào một cái gì đó để sự vờ vịt trong ông sống nốt những năm tháng cuối cùng của nó. Nếu ngay cả điều đó ông cũng vượt qua được, thì vẫn còn cản trở cuối cùng, cửa ải cuối cùng mà cho đến nay chưa một nhà văn nào thế hệ ông thoát được là nỗi sợ bị chê là dại, từ chính những người thân. Bởi vì ông trước sau vẫn là trí thức Việt. Mà trí thức Việt thì chỉ thằng nào ngu mới không nhận – như tổng kết khôn ngoan của một nhà phê bình danh giá, đồng thời là lời biện hộ cho việc ngửa tay nhận tài trợ của ông ta. Vì thế trí thức Việt mà dám phủ nhận như ông rằng: “Tôi cũng được giải thưởng văn chương cao nhất cấp quốc gia, nhưng tôi biết chỉ mươi năm nữa, thời thế đổi thay chắc chả còn ai nhớ tới mình nữa. Tôi là nhà văn của một thời, thời hết thì văn phải chết, tuyển tập, toàn tập thành giấy lộn cho con cháu bán cân”, cho dù là lời nói trước khi chết, vẫn cứ là của hiếm cho đến nay. Phần lớn số họ, từ vờ vịt có chủ ý trở thành coi nó là thứ triết lý sống thức thời. Những trường hợp cả đời nặn óc tìm những câu nịnh nọt có cánh, nịnh một cách nghệ thuật nhiều không tính xuể. Sách của họ, hết cuốn này đến cuốn khác, toàn dày cộp luôn được Nhà nước in bằng thứ giấy tốt nhất, bày ở những nơi sang trọng nhất, được hệ thống tuyên truyền quảng cáo hùng mạnh PR hết cỡ. Điều kinh khủng nhất là những kẻ tạo ra nó cố vờ vịt đinh ninh cho đến lúc chết rằng họ sẽ bất tử cùng với cái mớ giấy lộn chỉ có giá trị đầu độc hiện tại và tương lai ấy. Trước thực tại ấy thì những hối lỗi muộn mằn của Nguyễn Khải thực sự là hành động phi thường và vì thế, sau bao nhiêu yêu thương và hờn giận cay đắng, ông vẫn xứng đáng nhận được một vị trí đẹp nhất, sang trọng nhất nơi ký ức độc giả, trong đó có tôi.

Hà Nội ngày 06-6-2008

(Sau khi đọc Đi tìm cái tôi đã mất, của Nguyễn Khải, rút trong tập Nghĩ mãi không ra, chưa xuất bản).

T.D.A.

Nguồn: Bauxite Việt Nam

Advertisements

Bút Gà (chấp bút Đinh Thế Huynh) gởi nhân sĩ trí thức ký kiến nghị

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2011/07/11 at 08:00

Tớ, Bút Gà, chấp bút cho (thủ) anh Đinh Thế Huynh của bộ hầu đồng (BCT) bình vôi[1] đảng CSVN, vừa được giao nhiệm vụ thay thế bộ ngoại giao (gian) khoáy hũ cáy viết vài dòng gởi đám “kiến nghị viên” các cậu.

Bao “kiến nghị”, “thư ngỏ”, “thỉnh nguyện thư” đủ dạng, đủ kiểu của bá tánh, thập phương từ “cựu”,  “nguyên”, “đương” đủ mọi thành phần đã lưu trong các sọt rác công văn. Tớ phải lần mò suốt cả ngày mới moi ra được bản kiến nghị “yêu cầu Bộ Ngoại Giao cung cấp thông tin liên quan đến Trung Quốc”[2] của các cậu.

Các cậu sống trong chế độ Đảng ta từ bé tới giờ mà lại giả vờ ngây thơ gởi kiến nghị cứ như là không biết các kiến nghị tới tay ai. Từ trước đến nay các kiến nghị chỉ là việc đánh tiếng của các cánh anh Ba, anh Năm, anh Sáu với nhau để sắp xếp, thương lượng, chia chác trong bộ sậu. Các cậu bộ rồ hay sao mà chơi trò này? Phỏng tay đấy!

Tớ nhẩn nha đọc thử dăm ba kiến nghị thì chung chung đối tượng là các cơ cấu nhà nước ở các ngành lập pháp, hành pháp, tư pháp. Đó là quốc hội, bộ, hội đồng nhân dân, toà án và các cơ quan của 3 ngành. Thế nhưng trong các kiến nghị cũng hiếm khi thấy thiếu mặt các nhân sự và tổ chức của Đảng CSVN.

Nhân dân ta biết rằng gì thì gì Đảng cũng là đầu mối quyết định. Khác hẳn với công dân ở các nước dân chủ tự do họ chỉ cần đối tác với cơ cấu nhà nước chứ chẳng phải lăng nhăng với các đảng phái chính trị. Chỉ có đảng viên mới thỉnh nguyện, kiến nghị trong các sinh hoạt nội bộ đảng của họ. Riêng nhân dân ta thì đã bị thấm nhuần cái (dở hơi) “đỉnh cao trí tuệ” Đảng (độc tài) cộng sản Việt Nam không hề thấy ở bất cứ quốc gia quân chủ lập hiến hoặc dân chủ nào.

Nhưng mà thôi, kiến nghị, kiến nghiệp hoặc kiến khoai cũng đều rách việc cả. Chúng tớ chả bao giờ phải giải bày, phúc đáp cho bất cứ kiến nghị nào từ trước tới nay. Động thái (chuyên) chính của Đảng ta đối với các kiến nghị này là đưa tên các người ký tên trong kiến nghị vào sổ đen “sổ phong thần” (black book) nằm trong tầm ngắm và sai (nha bộc) thủ trưởng làm công tác tư tưởng, sai an ninh theo dõi, sai bạn bè lánh xa, sai đồng nghiệp dè chừng. Áp lực tư tưởng, quan hệ, kinh tế không được thì khiến đám sai nha “làm luật”. Thế là xong chuyện.

Trong đám “Kiến nghị viên” các cậu lại có cả tay Lê Hiếu Đằng. Chả nhẽ tay ấy không cho các cậu biết là trong thư riêng Bút Gà (chấp bút Đinh Thế Huynh) trả lời ông Lê Hiếu Đằng hôm nọ “Chúng tớ đã nói trắng phớ với các cậu rồi đấy nhé. Đừng có mà ‘thư ngỏ’, ‘thỉnh nguyện thư’, ‘kiến nghị thư’ cái gì gì cho rách việc.

Được đấy, tay Đằng này thích đùa dai nhỉ. Cậu ấy hiện đang là Phó chủ nhiệm Hội đồng tư vấn về dân chủ và pháp luật thuộc Ủy ban T. Ư. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thế mà lại dây vào đám “kiến nghị viên” lăng nhăng này. Ối giời, tư vấn tư viếc gì về dân chủ và pháp luật cho mà muối mặt. Cậu ấy biết rõ là cái Mặt trận mặt mo đầy lũ ù lì thì chỉ chuối thôi.

Cậu ấy cũng biết rằng ở các nước dân chủ tự do thì những gì khuất tất hoặc bức xúc công dân thì Quốc hội gọi ra điều trình, trực tuyến truyền thanh truyền hình cho tất cả mọi người biết. Các bộ, các ngành cứ mà sắp hàng giải thích, giải trình cho mà bằng thích. Còn ở nước ta thì “huề” cho thiên hạ cười xuề.

Thế mà có tay lại đặt câu hỏi “kiến nghị của đại biểu quốc hội đi đâu?”[3]. Có đúng là vớ vẩn không! Cứ như là ở lỗ nẻ chui lên, ở trên trời rớt xuống ấy. Đảng và nhà nước ta đã hoàn thiện cơ chế tam quyền thâm (phân) nhập (lập), kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông, kiểu đèn cù nên cù ca cù cưa một lúc là hoá vàng cả.

Hành pháp, Lập pháp, Tư pháp cũng đều là chúng tớ thì các cậu có mà chết trố nhá. Chúng tớ cứ để các cậu chạy lòng vòng hết từ hội đồng nhân dân, sang mặt trận, qua bộ ngành, đến quốc hội, tới bộ chính trị, trở lại thanh tra là chóng mặt chả biết tự mình ở đâu nữa chứ lại hỏi đi đâu. Chúng tớ cho các cậu “đến hẹn nại nên” ngày này sang ngày nọ. Chúng tớ quay các cậu như dế. Vui thật!

Các cậu có ranh mãnh cách mấy thì cũng không qua mặt được đảng ta. Các cậu lại cứ hay trích dẫn lời “Bác Hồ” để lên lớp chúng anh. Có mà qua mắt thánh! Đảng ta là chúa chổm chuyên chôm chỉa mà lị. Lúc tiên đế lon ton lập nghiệp thì đã “sáu ngón” thuổm của người thành của mình, từ tên tuổi đến tác phẩm để giả tạo thanh danh. Nguyễn Ái Quốc[4], bút danh tập thể của ba người (Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền, và Phan Văn Trường) bị bác vơ vào rồi Ngục Trung Nhật Ký[5] cũng của Lý lão gia nào đó cũng bị thuổm. Bác đã có bao ranh ngôn từ nghề đạo trích/chích. Hồ (Cáo) Chí (Chích) Minh (Tinh) chẳng phải cáo già hơn tất cả bậc nhân sĩ quân tử cùng thời à.

Riêng tớ đây chấp bút cho anh Đinh Thế Huynh dùng bút danh Bút Gà thì chẳng phải sợ mất hỗn danh như bộ ba Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền và Phan Văn Trường bị phổng tay bởi Hồ (Cáo) cái bút danh ông “Nguyễn yêu nước” (Nguyễn Ái Quốc).

Đảng ta luôn noi gương Bác Hồ, triệt để độc quyền yêu nước, nhân dân ai muốn yêu nước cũng phải yêu nước “chui” hoặc xin-cho. Mọi công dân có lòng yêu nước tự phát là vi phạm “luật” Đảng và Nhà nước ta.

Các cậu có biết là “không thể phá gỡ lâu đài của người chủ bằng công cụ của người chủ” (“The master’s tool will never dismantle the master’s house”, Audre Lorde) chăng. Các cậu cứ tha hồ trích dẫn lời Bác Hồ để “dạy dỗ” chúng tớ thì chỉ tổ làm lợi cho các anh mày thôi.

Các cậu gián tiếp tạo chính danh cho Đảng ta mà chúng tớ là người cầm trịch. Hoan nghênh tinh thần củng cố lâu đài Bác-Đảng nơi các anh đang ngự trị. Đảng ta giờ chẳng cần phát động phong trào học tập “tư tưởng Hồ Chí Minh” làm gì vì các cậu đã giúp chúng tớ tuyên truyền tư tưởng trồng người thuộc giống nhai lại.

Này nhé tớ bảo cho các cậu biết để sau này chẳng còn vờ vịt “em chả” rồi ấm ớ (ức) với tớ. Cái cậu Nguyễn Tiến Trung gởi kiến nghị năm hai ngàn linh sáu về “Dân có quyền kiến nghị, Đảng và Nhà nước phải biết đáp ứng nguyện vọng của dân”[6]. Tay Cù Huy Hà Vũ gởi “Kiến nghị đại xá toàn bộ viên chức VNCH”[7]. Các cậu có biết là chúng tớ giải quyết ra sao chưa nhẩy? Chúng tớ cứ lẳng lặng để đấy rồi khi ra tay thì “giải quyết” chóng gọn. A lê hấp vào ngay hỏa lò.

Đúng là các cậu hâm thật. Kiến nghị cái gì, có mà (con) kiến (kiện củ) khoai.

Đang bận chấp bút cho (thủ) anh Đinh Thế Huynh gởi TBT TTXVN đây chưa xong mà cũng phải đành tạm dừng để sổ toẹt vài dòng cho các cậu đấy. Chán chửa!


[4] Văn bản Nguyễn Ái Quốc, diễn đàn thế kỷ


Chuỗi bài:


[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu – (8) Gió mưa là chuyện của trời … – (9) Vô liêm sỉ – man rợ – (10) Phế-anh-hùng – (11) Luật Lệ(nh) … (12) Nhà em có nuôi một con két … (13) Cái nhà là nhà của ta … (14) Mèo – thỏ]

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị: Cứ đổ cho thế lực thù địch xúi dục là OK!

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2011/07/09 at 10:07

Nhân dân Vệ ở kinh thành suốt tháng nay, cứ cách đúng 7 ngày lại đi biểu tình chống dã tâm của bọn cầm quyền nước Tề.

Nhà Tề lấy làm lo, mà oái ăm thay nhà Vệ cũng lấy làm lo.

Ấy là người ta mới nói.

– Chung một mối lo, thắm tình hữu nghị.

Nhà Tề lo, bọn dân Vệ cứ nhặng xị như thế, thì chuyện thôn tính biển Nam Hải bao giờ mới xong. Chiến lược toan tính mấy chục năm, giờ là lúc chín muồi, không gặt hái thành quả bây giờ đợi đến bao giờ có cơ hội.

Nhà Vệ lại lo rằng, cứ biểu tình như thế, thì thể thống triều đình, uy tín với dân chúng còn đâu nữa. Chuyện này quan trọng hơn chuyện mất biển đảo.

Thế nên nhà Tề ghét đám dân biểu tình nước Vệ một, thì nhà Sản nước Vệ lại ghét dân biểu tình ấy gấp hai.

Lúc khó khăn ấy, nhà Sản mới sai quan đối ngoại Hồ tư mã đi sứ sang Tề, bàn chuyện làm sao giải quyết êm đẹp, cốt sao ngăn được đám biểu tình giữ gìn hòa hiếu hai nước, chuyện biển đảo thì dù sao còn người đây, còn của đấy. Chỗ hữu nghị anh em, đi đâu mà chạy làng được.

Lúc thương thảo chuyện dẹp biểu tình, quan Tề hỏi.

– Thế đã giáo dục chúng chưa?

Quan Vệ nói

– Bọn chúng toàn nhân sĩ, trí thức, lý lẽ cứng rắn đâu ra đấy. Không thể nào bắt bẻ được, nước Vệ đã vời những bậc giám học hàm cao cấp ra thuyết giảng chúng ngừng. Nhưng lý lẽ của chúng còn hay hơn cả người thuyết giảng. Đấu lý với chúng mà sai, thì người ủng hộ chúng lại càng tăng. Nước bề tôi làm chuyện đó vài lần, thấy kết quả còn ngược lại, nên đã ngừng việc đó

Quan Tề hỏi.

– Thế đưa quân ra thị uy chưa?

Quan Vệ tâu.

– Dạ, đưa nhiều lắm, quân xanh, đỏ, tím, vàng, trắng, nâu có hết. Dàn ngang, dàn dọc nhưng chúng không khiếp.

Quan Tề trách

– Quân thị uy, mà nét mặt không tỏ uy phong, khó mà làm chúng sợ. Còn làm những gì nữa?

Quan Vệ.

– Dạ cho người nhập đoàn biểu tình dò la tung tích từng đứa, sau tính cách trị ngầm. Đồng thời ra lệnh ngăn cấm ở các trường học, chỗ làm, nơi ở…. nhưng cũng không hiệu quả lắm vì chưa tìm được lý do chính đáng.

Quan Tề bảo.

– Kể ra không có lý do, mà mạnh tay với bọn nó. Việc lại càng khó hơn. Nay chưa có kế gì, người cứ ở lại đây chơi vài bữa.

Quan Vệ lưu ở đất Tề, ăn chơi, hưởng lạc, của ngon vật lạ không thiếu thứ gì. Đến hôm thứ ba thì tin từ nước Vệ báo sang, lại biểu tình chống Tề lần thứ năm ở kinh thành. Nghe tin ấy Hồ Tư Mã rụng rời chân tay, vội vàng đến gặp quan thượng thư nhà Tề yết kiến xin chỉ đạo.

Quan nhà Tề nghe tin, cũng bồn chồn, ruột gan như lửa đốt, nghĩ mãi chưa ra kế sách gì. Lúc bí bách, bèn rủ Hồ Tư Mã nước Vệ đi dạo ở ngoài đường cho đỡ căng thẳng.

Hai quan đang đi đường, bỗng nghe có tiếng ầm ĩ. Ngó vào xem thì ra có đám cãi lộn giữa hai vợ chồng. Hỏi người dân mới biết thằng chồng lấy tiền của vợ đi đánh bạc, vợ nó không cho, kêu gào thảm thiết, níu tay níu áo lại. Giằng co gây ầm ĩ, hàng xóm có ý bênh con vợ. Thằng chồng đuối lý, con vợ được thể càng la to. Bỗng thằng chồng chỉ vào ông hàng xóm nói

– Mày bênh nó, đúng là mày cả nó có tình ý. Chính vì nó có tình ý với mày, tao phải lấy tiền của nó cất đi. Mày không có tình ý thì mày bênh nó làm gì.

Ông hàng xóm ngỡ ngàng không biết phân bua thế nào, tên chồng quay sang con vợ mắng.

– Bình thường mày có la lối thế này không, giờ mày phải lòng giai, nghe nó xúi dục, mày mới làm ầm ĩ thế này. Thưa bà con, rõ ràng con này là với thằng kia là gian phu, dâm phụ, chúng muốn làm to chuyện này để lấy cớ trình quan. Bà con chứng giám.

Bà con hàng xóm nghe xong, ngẩn người ra. Người thì bán tín, bán nghi, người thì cũng sợ nó vu lây sang mình. Ai nấy đều nín thinh. Thằng chồng nhân lúc đó đạp con vợ một đạp rồi ôm gói bạc lủi mất.

Đám đông tự giải tán, để lại con vợ gã cờ bạc khóc thút thít vì mất của.

Quan Tề kéo quan Vệ vào góc đường nói

– Mai ngươi về được rồi.

Quan Vệ sững sờ hỏi

– Về thì biết ăn nói sao?

Quan Tề thì thầm

– Về cứ vu cho đám biểu tình kia, là do thế lực thì địch xúi dục. Đám ấy đứa lo thanh minh, đứa sợ liên lụy, còn tinh thần đâu mà tụ tập.

Hồ Tư Ma nghe thế, vỗ tay cười.

– Quả là cao kiến, nước Vệ nhờ ơn phúc tổ tiên xui khiến dẫn đường mà biết hợp tác toàn diện với Tề, có gì bế tắc còn thỉnh giáo xin chỉ dẫn. Nước Tề còn nhiều anh tài như đại quan, nhất định mãi mãi hùng cường, nước Vệ theo đó mà được nhờ.

Hồ Tư Mã khẩn trương về nước, cả đoàn đi suốt ngày đêm không nghỉ. Về đến kinh thành yết kiến các quan đại thần chính sự. Hôm sau loa nước Vệ nói rằng.

– Chuyện nhóm dân biểu tình là do bọn bên ngoài xúi dục, nhà Sản với nước Tề tình hữu nghị, keo sơn không thể nào có bụng ấy.

Nguồn: blog Người buôn gió

Cùng tác giả:

Người Buôn Gió – Tái cơ cấu thần chưởng

Người Buôn Gió – Đêm dài biên ải

Người Buôn Gió: 18-3 trại Thanh Hà

Người Buôn Gió – Người Nông Dân Nổi Dậy

Người Buôn Gió – Hóa ra đều ăn cắp hết

Người Buôn Gió – Đi tù và đi cải tạo

Người Buôn Gió – Con trâu của ai?

Người Buôn Gió – Hà Nội trong mắt ai

Loạt bài Đại Vệ Chí Dị:

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió –  Đại Vệ Chí Dị – Mọi sự quái đản đều là do… thế lực thù địch

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị: Cứ đổ cho thế lực thù địch xúi dục là OK!

Xích Tử – Đành phải tin đảng thôi

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Việt Nam on 2011/07/08 at 09:43

Đảng có quân đội, công an nên đảng có quyền đưa đảng viên vào thành tuyệt đại đa số đại biểu Quốc hội và cũng có quyền làm ra Hiến pháp có lợi cho mình. Đó là chuyện của cả thời kỳ lịch sử rất dài có đảng.

Đến năm 1992, biến hoá kịp thời với những thay đổi lớn ở Liên Xô và Đông Âu, đảng sửa Hiến pháp với việc cưỡng chế vào đó Điều 4. Chủ nghĩa hợp hiến kiểu Việt Nam đã đóng cửa bộ luật mẹ mà qua bao nhiêu xương máu của nhân dân, ở tất cả các quốc gia, người ta mong đó là sự thể hiện nguyện vọng của toàn dân, là công cụ để nhân dân có cách uỷ quyền và kiểm soát nhà nước một cách tốt nhất, là bản hợp đồng để nhà nước thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ công dân mình.

Có bản hôn thú cưỡng ép như vậy, đảng cũng đồng thời có quyền tạo ra toàn bộ hệ giá trị, các chuẩn mực trong đời sống văn hoá, tinh thần của toàn dân tộc suốt mấy chục năm qua, kể cả niềm tin, tình cảm, chân lý, đạo đức, cái đẹp; đồng thời cũng nắm toàn bộ các thiết chế xã hội liên quan đến các giá trị, chuẩn mực đó cùng các nguồn lực phục vụ cho việc vận hành chúng và trực tiếp lãnh đạo, điều hành, đánh giá, thưởng phạt công cuộc vận hành đó.

Do vậy chỉ còn biết tin đảng thôi. Đảng bảo Trung Quốc là kẻ thù thì tin đó là kẻ thù; bảo là bạn thì là bạn. Đảng bảo những người vượt biên là phản quốc, rồi lại yêu nước, khúc ruột ngàn dặm thì chắc cũng đúng thôi. Đảng bảo tóc dài quần loe là đồi truỵ do Mỹ Nguỵ để lại thì phải xén tóc cắt quần; còn khi đảng cho lộ hàng bày nách phơi đùi khoe rốn qua hoa hậu, bước nhảy hoàn vũ … thì cũng chắc đó là cái đẹp thật.

Về thể chế kinh tế – chính trị, khi đảng bảo chế độ tư hữu, kinh tế thị trường, chủ nghĩa tư bản là xấu và giẫy chết thì tin thế; còn khi bảo kinh tế thị trường không đi ngược với chủ nghĩa xã hội, là một phần của chủ nghĩa xã hội, có thể xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thì cũng phải tin. Không tin sao được vì không có kinh tế thị trường thì lấy gì mà sống, mà tồn tại, mà làm giàu, tham nhũng, gửi tiền và con cái ra nước ngoài; kinh tế thị trường mà không định hướng xã hội chủ nghĩa thì đảng phải đổi tên sao, mà đổi tên thì làm sao còn giữa thế độc quyền được ? Rõ khổ.

Thế cho nên mấy ngày qua, các cơ quan thông tin có những ý kiến về cách giải thích việc không giảm giá xăng dầu của Petrolimex; theo đó, quan điểm cho rằng không giảm vì giá xăng dầu ở Việt Nam là do đã quá thấp so với các nước trong khu vực của doanh nghiệp này là không đúng. Qua phân tích, một số báo chí đã vạch ra sự lấp liếm của con buôn, vì giá mặt hàng đang nói ở Việt Nam đang hưởng thuế suất nhập khẩu 0%, trong khi ở tất cả các nước trong khu có thuế suất nhập khẩu rất cao. Do vậy, khi người tiêu thụ mua giá cao, họ đã gián tiếp đóng góp vào ngân sách quốc gia một khoản nghĩa vụ của mình, và doanh nghiệp góp phần vào đó qua việc nộp thuế nhập khẩu. Với Petrolimex thì không có giai đoạn tác nghiệp này, chỉ mua về, bán và hưởng chênh lệch ròng. Nhưng Petrolimex là của đảng, do đảng viên lãnh đạo quản lý, nên họ có quyền từ chối làm việc với nhà báo đến 2 lần; còn đài báo cũng là của đảng, họ có quyền đưa tin theo cách đó; nhân dân không biết thế nào mà lần, chỉ đành tin đảng thôi.

Niềm tin đó, cũng là cách thế hành xử mấy chục năm của công dân trong nhà nước cộng hoà dân chủ sớm nhất Đông Nam Á, và gần đây, bauxite, đường sắt cao tốc, phá Hội trường Ba Đình, sáp nhập Hà Tây vào Hà Nội, đến điện hạt nhân, biển Đông, yêu nước, cũng vậy. Đành lòng vậy, bằng lòng vậy.

Xích Tử

Nguồn: Dân Luận

Bút Gà (chấp bút Đinh Thế Huynh) gởi Tổng Biên Tập TTXVN và các báo

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2011/07/04 at 13:13

Việt Nam có trên 700 tờ báo (nguồn Danchimviet.info)

Tớ, Bút Gà, chấp bút cho (thủ) anh Đinh Thế Huynh của bộ hầu đồng (BCT) bình vôi[1]đảng CSVN, lại phải khoáy hũ cáy viết vài dòng gởi 4T(TT-TT), TTXVN, tổng biên tập và nhà báo các cậu.

Các cậu có mà báo cô (đầu) thì đúng hơn. Viết (chẳng) lách chẳng ra làm sao nên mới ra cớ sự này.  Giới về vườn, các tay trí thức và các báo ngoài lề và nước ngoài đang mắng sa sả thì nàm sao không đến tai thủ anh. Giận quá nên (thủ) anh Huynh bảo tớ viết lời huấn thị các cậu.

Các cậu là công bộc có quen hèn với bộ sậu (sâu bọ) thì đã đành. Ít gì các cậu cũng có tí ăn học lẫn học ăn thì phải phải biết chuyện “cửa trước, cửa sau”. Sờ sờ trước mắt như vậy mà các cậu lại nói “có một số ít người đã tự phát tụ tập”[2]. Thế nên chúng chửi các cậu hèn với “đôi lời về liêm sĩ của báo chí” thì tớ chẳng lấy gì ngạc nhiên. Đáng tội là các anh lại phải vạ lây. Thế mới khổ thân tớ lại phải chấp bút huấn dụ bọn cậu đây.

Giời ạ! Các cụ có nói là “làm đầy tớ thằng khôn còn hơn làm thầy thằng dại” quả chẳng sai tí tị nào. Các cậu dại quá làm mất mặt cả mấy anh. Ai lại cho bút sa “Đó là thông tin sai sự thật” thế có chết không hở.

Các anh ra lệnh miệng (cửa sau) là như vậy vậy.  Độ nhạy cảm của các cậu nằm ở xó nào? Các cậu phải biết triển khai tô son trét phấn trưng bày ra (cửa trước) để mà mắt quần chúng chứ. Thời buổi này là thời in-tờ-nét chứ đâu phải thời i-tờ-rít mà các cậu lấy thúng úp voi mãi.  Hay là các cậu ấm ức (phận ăn xin) nên “đểu” với chúng anh?

Chúng tớ biết tỏng là bọn cậu chỉ thói ranh mãnh xun xoe “đồng chí” với các anh ở cửa trước thế thôi. Các cậu nên biết phận đồng chí “đổ bô” mà hoàn tất nhiệm vụ của bộ sậu giao phó ngay thôi. Cái “lỗi anh đánh máy” đã quá cũ rồi đấy nhé, đừng có mà trêu ngươi.

Lại còn cả lũ thằng báo khác đăng lại y nguyên, chẳng thì nà mà tư duy động não gì tất. Thế thì cháo cơm được gì. Cái “tự do báo chí” của nhà nước ta chẳng phải tồ tồ lộ ra làm bẽ mặt à! Đúng là lũ nhà báo ăn hại, báo cơm.

Ngân sách nhà nước chi phí trong công tác phí, phong bì, liên hoan cho đảng bộ, cán bộ cơ quan nhà báo để cho các anh chỉ làm việc sao chép ấy à? Có đần lắm thì cứ làm thinh im ỉm như Thành Đoàn (Thanh Niên), Mặt Trận Tổ Quốc và Quốc Hội nhà ta mà lại đỡ hại. Ví bọn nhân dân phản động chúng có chê là hèn (vốn sẵn) cũng còn hơn bị chửi là vô liêm sỉ.

Lời xưa có câu là “mồm miệng đỡ tay chân” chắc quên bén rồi nhẩy? Nhiệm vụ của các cậu là phải lanh mồm, lẹ miệng nói năng che (bợ) chở (đỡ) cho các anh. Quên tiệt rồi à? Các cậu viết đếch gì để chúng chửi, chúng phẫn uất, chúng lại “túm năm tụ bẩy” (tớ nhắc cho các cậu là phải viết lại cho ra trò!) nhất là bọn thanh niên sinh viên đầy nhiệt huyết làm phiền các anh. Các anh lại phải điều động vô số công an, an ninh chìm nổi bám ráo riết đám thanh niên sinh viên hom hem thân cò ấy chứ.  Phải thượng cẳng chân, hạ cẳng tay với đám đấy cho dẫu chúng không một tấc sắt trong tay.

Chuyện uy hiếp tinh thần là mực thước mà đảng ta luôn tâm niệm đối với bất cứ xáo trộn hòa bình nào dù chỉ là mức độ pháo tẻ. Mà các cậu biết rồi đấy. Cứ cậy đến lũ “còn đảng còn mình” muốn chúng nó no thì cũng phải cúng kiến cho nó no. Chứ âm binh đâu phải muốn điều (động) lúc nào cũng được.

Này nhá, các cậu đã quá rõ chuyện mấy thằng hăng máu chửi Đảng và Nhà nước là hèn và vô liêm sỉ thì cũng chỉ vài cái Tết từ hai linh bảy. Chuyện quan trọng sâu xa hơn là người dân nằm vạ kêu ca khiếu kiện đủ mọi việc tất tật đến Đảng và Nhà nước, chuyện công nhân đình công bãi thị thời bão giá. Cái cảnh chúng nó ta thán rên xiết cho mình là nạn nhân của áp bức, bạo hành, lũng lạm bởi các đồng chí ta ở các địa phương xã, huyện, tỉnh, thành phố, công đoàn thì năm này qua năm khác chẳng còn nhớ là bắt đầu khi nào.

Chúng đã mở miệng kêu ca là nạn nhân thì việc đầu tiên là ta phải bịt miệng ngay. Chước kế tiếp là phải làm sao cho bọn chúng thành tòng phạm. Nếu chưa thấy hiệu quả mấy thì dùng chước hữu hiệu nhất sau cùng. Các cậu phải tập trung tư thế và áp chế tâm lý ngườibên lề của đám đông.

Bịt miệng là một việc rất dễ làm đối với các cậu đúng không nào? Thì cứ tiếp tục thế nhé. Các cậu còn lạ gì phận sự của mình là che mắt, bịt miệng đám dân đen, đưa tin từ lề (phải) này sang lề (trái) kia, đánh hỏa mù.

Các cậu cứ tiếp tục đẩy mạnh đăng tải nhồi nhét vào đầu chúng  những chuyện chó cán xe, chuyện hở rốn, hở mông, hở ngực, hở toà thiên nhiên, chuyện hoa hậu (lậu), ca sĩ, siêu sao (sạo), khủng (khùng) sao, chuyện giết người, cướp của, thanh toán, tự tử. Chúng nó đọc đó, biết đó, rồi có mà mở miệng cũng chỉ nói thế đó. Chẳng là hình thức bịt miệng thì là gì!

Quá dễ đấy thôi. Chỉ cần nhớ nằm lòng nghị quyết (của) 4T: Tình, Tiền, Tài, Tử. Các cậu phải vận động sáng tạo chứ đừng bôi bác kiểu mấy thằng cơ bắp áp giải bịt miệng cha Lý lúc ra toà. Hình ảnh ấy bị đem bêu rếu khắp hoàn cầu như thế đấy thì hơi bị tắc tị cho cái “dân chủ tự do” của nhà nước ta và xấu mặt cả các cậu lẫn chúng tớ đấy.

Xem gương các anh nhá. Mấy tay bờ-lóc-gờ trên mạng thì ta cứ “mời” uống trà cho té đái và ăn (còm) CAM thối bụng. Khoá trái cửa, chận đường, giam xe, mời vào nhà nghỉ thoải mái thì chúng khỏi mà mở miệng. “Mời” (mỏi) miệng ranh đe không được thì chúng tớ đã bịt miệng tay Điếu Cày bằng án trốn thuế, anhbaSG và mấy tay đấu tranh dân chủ bằng các án khác nhau.

Ngay cả tay cóc tía Cù Huy Hà Vũ dám kiện Thủ tướng, ủy viên BCT thì Đảng đã toan bịt miệng bằng hai bao cao su. Bàn quan thiên hạ chê là trò bẩn, bị thủng thùng thì cứ đem còng 88 ra là xong chuyện. Các cậu biết (điều) bưng bô thì chúng tớ cũng biết dùng bổng lộc dán mõm đúng không nào. Chứ không thì các cậu cũng sủa âu ấu (ẩu) thế thôi.

Đảng và nhà nước ta đã triển khai chước tòng phạm từ xã hội đen, ma-phi-a để đào tạo con người “xã hội chủ nghĩa”. Đảng ta guộc chặt cán bộ, dân quân, đoàn viên, phụ nữ, thiếu nhi thành tòng phạm cùng với Đảng và Nhà nước để chỉ điểm, tố cáo, vu khống, khủng bố, đàn áp, thanh trừng những người khác.

Trong cái thời “ngày long trời – đêm lở đất” ấy Đảng ta dẫn dắt (xỏ mũi) những con người “lý tưởng” thoát ly ra khỏi gia đình, ra khỏi vòng đạo lý, gia nhập vào đảng cộng sản để buộc phải nhúng tay (chàm) vào những tội phạm mà họ không thể gỡ ra được. Đảng (sai) khiến họ chối bỏ cha mẹ, anh em, bè bạn không dám nhìn mặt, ngay cả đến lúc lìa đời. Đối với đám trí thức, văn nghệ sĩ thì Đảng ta buộc họ nói, viết những lời “phê bình”, “kiểm điểm” uế danh thiên cổ để bịt miệng và bẻ bút chúng về sau.

Trong thời “kinh tế thị trường” này thì Đảng ta lại có nhiều phương tiện và lợi nhuận để câu gài họ thành tòng phạm. Chỉ cần bắt họ phải nhũn một tí, phải luồn cúi một tị trong cơ chế “xin cho” để họ biết phận tôi đòi thì cái liêm sĩ và lương tâm của chúng sẽ bị gọt dũa dần dần. Thế là chúng phải biện hộ, chạy chữa cho chính bản thân chúng và cho cả Đảng ta.

Ngày nay dẫu chúng đã được tiếp cận với những thông tin “Chủ nghĩa Cộng sản là tội ác chống nhân loại”[3] dưới các lãnh tụ Lenin, Stalin, Polpot, Mao Trạch Đông, Ceausescu, Hồ Chí Minh trong Quốc Tế Cộng Sản nhưng chúng vẫn phải tự lừa dối, bám víu, chữa chạy cho “lãnh tụ” vĩ đại đang được tôn thờ.

Đảng ta đã đưa cái cứu cánh “Thống nhất đất nước” để cho chúng bám víu vào và biện minh cho phương tiện “cuộc chiến tranh thần thánh” làm chết cả bao (triệu) thanh niên trai trẻ, dân lành trong cuộc chiến tương tàn. Đảng ta nắm tâm lý là chúng không thể chấp nhận sự thật phải (bị) làm “cháu ngoan” của một Bác Hồ hai mặt (hai mang). Chúng không thể nhìn nhận một Bác Hồ dối trá, chối (và giết) vợ, chối con, thủ tiêu đồng chí, bán bạn, và bán nước.

Khác với phần đông trí thức Việt Nam, thành phần giới trí thức cánh tả Tây Âu đã mở mắt thức tỉnh lương tâm trước thảm hoạ thuyền nhân (boat people). Bọn chúng không những phản tỉnh, đoạn tuyệt cộng sản, mà lại còn giúp đỡ bọn “phản động” vượt biên, vượt biển có được đời sống tự do. Thế nhưng cái rủi hoá thành cái may, nay Đảng và nhà nước ta tha hồ “vơ vét” qua cái vòi ngàn dặm để hút lấy cả chục tỷ đô-la của đám “bơ thừa sữa cặn”, tàn tích cặn bã “Mỹ-Ngụy”.

À, suýt tí nữa là tớ quên bẵng đi một công tác tâm lý cực kỳ quan trọng. Đảng ta đã “quàng khăn đỏ” (vấy máu) vào những tâm hồn non nớt, trinh nguyên của các thiếu nhi để “trồng người” tòng phạm. Một tiến trình Đội-Đoàn-Đảng “trồng người” tuân thủ: đội viên hát nói như vẹt, đoàn viên phấn đấu phục tùng câm như hến, và đảng viên với “bục công an giữa trái tim người”[4]. Đó là một sách lược vĩ đại của Đảng CSVN ta.

Chậc, đã quá giờ tớ phải đi hầu các cụ. Các cậu làm tớ trễ nải “công vụ”. Tớ phải chạy ngay tới “Phòng Vàng” (Golden Room) ở nhà hàng Long Đình[5] để tiếp các cụ bộ sậu đây.

Thôi nhá. Liệu cái đầu bã đậu của các cậu có tiếp thu được lời phán bịt miệngtòng phạm triệt để tớ nhắn nhủ đấy chưa nhẩy. Tớ sẽ khai triển chước (chiêu) người-bên-lề trong bài chấp bút tới.

Bút Gà


[4] “Nhân câu chuyện mấy người tự tử”, Lê Đạt


Chuỗi bài:


[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu – (8) Gió mưa là chuyện của trời … – (9) Vô liêm sỉ – man rợ – (10) Phế-anh-hùng – (11) Luật Lệ(nh) … (12) Nhà em có nuôi một con két … (13) Cái nhà là nhà của ta … (14) Mèo – thỏ]

Mr. Đỗ – Hậu Chí Phèo

In Cộng Đồng, Liên Kết, Việt Nam on 2011/07/03 at 07:30

Mr. Đỗ

Theo blog Mr. Đỗ

 

Sau khi đánh chết Bá Kiến trong một cuộc ẩu đả tưng bừng trước nhà Chị Dậu, Chí Phèo nghiễm nhiên trở thành chủ nhân ông của làng Vũ Đại, được đông đảo dân chúng ủng hộ hết mình. Kết thúc trận kịch chiến ấy, Phèo từ một tay bợm nhậu bỗng chốc biến thành người hùng. Trong mắt dân chúng, kể cả một số kẻ thù xưa của Phèo, hắn là một trang hảo hán, là người soi đường chỉ lối.

Trên cương vị mới, Phèo bắt đầu tận hưởng hương vị chiến thắng và thi hành chính sách chăn dân do người anh lớn cai quản làng bên là Lão Hạc tư vấn. Đối với đám bạn nhậu đầu trộm đuôi cướp thuở xưa, ai biết điều thì Phèo cất nhắc lên các vị trí như phụ trách phòng sưu thuế, chỉ huy đội trị an hoặc ít ra cũng cầm loa, gõ mõ. Ai bướng thì Phèo cho vào hợp tác xã, suốt ngày bán mông cho trời, bán mặt cho đất. Đám dân chúng ủng hộ Phèo cũng không khá hơn. Tất cả đều bị lùa vào hợp tác xã. Họ làm lụng quần quật suốt ngày, không còn thời gian để suy nghĩ, thành ra não bộ và lá gan họ teo tóp đến thảm hại.

Đối với tàn quân của Bá Kiến thì khỏi phải nói, Phèo triệt tận gốc. Sợ quá, lũ này di tản sang các làng lân cận. Kẻ không chạy được thì đành ở lại làng Vũ Đại, ngậm đắng nuốt cay như chú hổ bị gã thợ săn Thế Lữ nhốt trong cũi sắt chờ ngày lên bếp lò để hóa thân thành cao hổ cốt.

Chính sách của Phèo thế mà hay. Dân làng Vũ Đại nghe răm rắp. Vì sợ. Khi không đám cận thần của Phèo chỉ đánh rắm một phát cũng có khối người nôn mật xanh mật vàng, chết không kịp ngáp. Làng Vũ Đại tuyệt đối an bình là vì thế.

Nhưng cùng với thời gian, Phèo đối mặt với nhiều mối lo mới. Nhờ tiếp xúc với các làng xã văn minh hơn, đám dân đen Vũ Đại ngày càng khôn ra. Một bộ phận trong số họ vẫn tin Phèo vô điều kiện như con cái tin cha mẹ, nhưng không ít người bắt đầu nghi ngờ Phèo, họ mày mò tìm hiểu bản chất lưu manh trong con người hắn ta. Đám cháu chắt Bá Kiến trong và ngoài làng cũng dần dà tìm cách ngóc đầu dậy. Thậm chí đôi lúc chúng đi lại nghênh ngang, đánh rắm một cách công khai mà chẳng hề nể sợ ai hết. Phèo tức lắm, hắn tìm đủ mọi cách để lập lại trật tự. Hắn vận dụng mọi ngón nghề của một bợm nhậu: đập bàn, dằn ly, xô ghế, thậm chí thượng cẳng chân hạ cẳng tay. Phèo còn vận thêm mấy chiêu mà người anh lớn là Lão Hạc tư vấn như siết cổ, bịt mồm, bóp mũi. Nhưng chẳng ăn thua.

Giữa lúc tình hình làng Vũ Đại đang nước sôi lửa bỏng, Phèo đang nghiến răng trợn mắt thì Lão Hạc lại xuất hiện cùng mấy con vàng của lão. Lâu nay, cứ mỗi lúc Phèo gặp khó khăn là Hạc ta lại dẫn chó tới để tư vấn cho Phèo cách giải quyết, tất nhiên là có lệ phí hẳn hòi. Lúc thì lão mượn vài cô gái đẹp về đấm lưng, lúc khác lại xin dăm cặp gà tơ về nhắm rượu. Nhưng lần này khác, Hạc ta sấn tới và chẳng nói chẳng rằng lùa nguyên cả bầy trâu của làng Vũ Đại về. Phèo ức, nhưng nhìn lũ vàng nhe nanh trợn mắt của Lão Hạc, hắn ta hồn vía lên mây.

Phèo sợ, nhưng đám dân đen thì không. Họ kéo nhau ra cổng làng Vũ Đại, bắc loa mồm chửi Lão Hạc om sòm. Cả đám con cháu Bá Kiến trong và ngoài làng cũng nổi máu địa phương, đồng tâm hợp lực chửi rủa, rên xiết. Dàn đồng ca Vũ Đại càng hát càng khí thế. Phen này Lão Hạc già nua kia chỉ có đường thủng màng nhĩ mà thôi. Muốn yên thì hãy trả trâu.

Quả thực chưa bao giờ làng Vũ Đại chứng kiến một sự đoàn kết keo sơn đến thế. Khi máu địa phương, lòng tự tôn làng xã nổi dậy, lũ dân đen thật thà, đám bợm nhậu bị thất sủng, một vài kẻ có lương tâm trong số cận thần của Phèo cùng tàn quân Bá Kiến đã dẹp bỏ bất đồng để hướng mũi tấn công về kẻ thù chung có tên là Lão Hạc. Đây cũng là cơ hội vàng cho Phèo ta chấn hưng dân khí, củng cố sức mạnh địa phương, xây dựng tinh thần đoàn kết để đưa làng Vũ Đại tiến lên một tầm cao mới.

Thế nhưng, một mặt do quá khiếp nhược, sợ đám dân đen làm mếch lòng anh Hạc thì nguy to, mặt khác do sợ các thế lực Bá Kiến thuở xưa trỗi dậy và lo rằng dân chúng học được cách đứng lên tranh đấu thì sẽ gây nhiều nguy cơ cho chế độ cai trị gia trưởng của mình, nên Phèo ta quyết dẹp trò chửi rủa. Một mặt hắn bảo với dân làng: “Các con hãy về đi, chuyện anh Hạc đã có cha Chí đây lo. Các con cứ ăn no ngủ kỹ. Mai mốt trâu sẽ tự động về nhà. Đừng tụ tập chửi bới kẻo bị đám con cháu Bá Kiến lợi dụng, làm mất hòa khí giữa Vũ Đại ta và anh Hạc. Thằng Kiến thì các con biết rồi đấy. Nó ác, dâm, đểu. Nó là thằng khốn nạn. Các con phải nhớ điều ấy”.

Cùng với lời khuyên giải như cha răn con, Phèo còn cho tay chân ra cổng làng giải tán dân chúng. Sau đó đi điểm mặt các nhân vật chủ chốt để tẩm quất. Hắn còn ra lệnh cho đám lâu la làm nghề đánh kẻng, gõ mõ, vác loa không được chửi Lão Hạc, không hùa theo dân đen, không cho bọn tàn quân Bá Kiến cơ hội lợi dụng, hãy ca ngợi tình đoàn kết giữa Chí Phèo và Lão Hạc.

Biện pháp của Phèo lần này cũng phát huy tác dụng. Vào những ngày tiếp sau đó, chẳng còn mống dân đen nào tụ tập trước cổng làng. Trò chửi bới Lão Hạc tuyệt nhiên không. Một vài kẻ dám ho khan, đánh rắm thì bị tay chân của Phèo đánh đập tơi tả.

Nhưng có một điều Phèo không nhận ra. Đó là giờ đây đã có thêm nhiều người ghét hắn. Đám cháu chắt Bá Kiến đã đành, đám bợm nhậu bị thất sủng chẳng nói làm chi. Ngay trong số dân đen từng tin Phèo vô điều kiện giờ cũng có thêm nhiều người nghi ngờ hắn, thậm chí oán hắn. Phèo đã bỏ lỡ cơ hội ngàn vàng để tập hợp dân chúng xây dựng làng Vũ Đại giàu mạnh khiến Lão Hạc không còn dám làm càn.

Giờ đây Phèo đang rất cô độc. Hắn không còn tâm trí nghĩ đến chuyện đòi lại đàn trâu nữa.

* * *

Sau khi dẹp được đám dân làng chửi rủa Lão Hạc, Phèo ta rất khoái chí. Chưa bao giờ hắn thấy rõ được uy quyền của mình như thế này. Giữa lúc hắn đang giương giương tự đắc thì ái thiếp Thị Nở tâu lên:

“Bẩm quan lớn, quan lớn biết tại sao đám dân đen có thể làm loạn không?”

“Ơ, con này hỏi kỳ… Thế tại sao nào?”

“Bẩm, tại chúng biết nói.”

“Ơ, người thì phải biết nói chứ.”

“Dạ bẩm, tại chúng biết nói nên chúng mới liên hệ với nhau được. Tại chúng biết nói nên chúng mới chửi anh Hạc được. Tại…”

“Thôi…”, Phèo đập bàn quát lớn. Đây chính là điều Phèo hiểu rõ nhất. Ngày xưa nếu bị câm thì hắn đã không thể tru tréo trước cổng nhà Bá Kiến mỗi ngày được rồi. Phèo hiểu rõ rằng chính trò chửi bới liên hồi đó đã khiến lão Kiến hết chịu nổi mới dẫn đến trận thư hùng trước nhà Chị Dậu năm nào. Kết cục là Chí Phèo đả bại Bá Kiến để điều hành làng Vũ Đại. Nếu Phèo không biết nói, không thể chửi rủa thì hắn đã không có ngày hôm nay. Quả thực tiếng nói là một thứ vũ khí nguy hiểm.

“Hay!”, Phèo thét lên khiến Thị Nở giật nảy mình. “Giỏi, ngươi đúng là ái thiếp của ta. Ngươi đúng là con đàn bà tóc dài mà đầu cũng dài hiếm hoi trên thế gian này. Ngươi chẳng những biết nấu cháo hành mà còn biết trò chơi quyền lực”.

Thị Nở bẽn lẽn: “Hổng dám đâu.” Đoạn ả nói tiếp: “Thế quan lớn sẽ làm gì nào?”

“Ngươi không phải dạy khôn ta. Ta tự có cách.”

Ngay ngày hôm sau, Chí Phèo ra bố cáo bắt dân làng Vũ Đại không được nói, phải câm hoàn toàn. Ai vi phạm sẽ bị cắt lưỡi. Chỉ có Phèo và đám cận thần mới có đặc quyền nói.

Kể từ giờ phút đó làng Vũ Đại im ắng như bãi tha ma. Từ đầu đến cuối làng, người ta gặp nhau chỉ gật gật vài cái coi như “chào xã giao”. Lũ trẻ con có lỡ khóc ré lên thì bố mẹ chúng vội vàng dùng tay bịt miệng, lấy giẻ nhét vào hoặc, áp dụng công nghệ hóa màu, dùng băng keo dán miệng. Cũng có vài trường hợp bức bối quá chịu không nổi, ho khan vài tiếng, thế là bị đám thuộc hạ của Phèo cắt lưỡi ngay lập tức.

Tình hình trên kéo dài được một thời gian thì cậu Nam Cao ở cuối làng nghĩ ra một chiêu mới để lách luật: đánh rắm. Số là Chí Phèo chỉ ra lệnh cấm nói chuyện nên việc đánh rắm không bị coi là phạm pháp. Thế là dân Vũ Đại chuyển qua đánh rắm thay cho nói. Người ta quy ước đánh một phát có nghĩa là “hello”, đánh hai phát là “good bye”, ba phát là than vãn, bốn phát là chửi thề. Vân vân và vân vân.

Phong trào đánh rắm phát triển đến mức nhiều người luyện được các chiêu thức thượng thừa. Người ta chẳng những có thể đánh các câu đơn giản như “chào bác”, “chào cô” mà còn có thể đánh “tôi ghét lão Phèo”, “lão Phèo thật độc ác”. Có người đánh một lúc được vài trăm phát là chuyện thường, y như bắn súng liên thanh vậy. Lũ trẻ con mới mở mắt cũng học đánh rắm. Tình hình đánh rắm tại làng Vũ Đại phải nói là “trăm hoa đua nở”, đủ thứ âm thanh, mùi vị, thậm chí màu sắc nữa.

Chuyện này làm cho Phèo và đám thuộc hạ đau đầu nhức óc. Cấm đánh rắm chăng? Phèo phân vân không biết xử trí thế nào. Giữa lúc đó Thị Nở xuất hiện. Thị Nở lâu nay luôn hiện ra đúng lúc và mang theo nhiều phương án cứu rỗi đời Phèo, thuở cơ hàn thì bát cháo hành hoặc cái bánh bèo nhão nhoẹt của thị, còn lúc Phèo có quyền lực thì Nở tư vấn các giải pháp quản lý xã hội vĩ mô.

“Phải cấm dân làng đánh rắm thôi”, Phèo phán.

“Ấy chết, cấm nói thì được, cấm đánh rắm thì không. Không nói người ta vẫn có thể sống, còn không đánh rắm thì chỉ có nước vỡ bụng mà chết”, Nở phân tích. Thị còn nói với Phèo rằng nếu cấm dân đánh rắm thì làng Vũ Đại sẽ bị các làng bên, trừ làng Lão Hạc, phê phán là gia trưởng, độc tài. Lỡ có ai đó vỡ bụng chết vì ứ hơi thì Phèo sẽ bị phê phán là vi phạm nhân quyền. Thế nên tuyệt đối không được cấm đánh rắm.

“Thế phải làm thế nào?”, Phèo hỏi.

“Phải siết chặt quản lý hoạt động đánh rắm”, Nở thì thào vào tai Phèo. Sau đó Nở còn nói nhiều thứ nữa, nhưng chỉ cho một mình Phèo nghe thôi.

Ngay ngày hôm sau, Phèo ra bố cáo cho toàn dân làng Vũ Đại: Phàm là người thì ai cũng phải đánh rắm. Đó là quyền lợi thiêng liêng nhất. Làng không cấm. Nhưng do có nhiều kẻ lợi dụng việc đánh rắm để phá hoại trị an nên từ nay làng sẽ siết chặt quản lý hoạt động đánh rắm. Tất cả mọi người chỉ được đánh rắm ở mức độ vừa phải và rắm phải thơm. Ai đánh rắm to, thối sẽ bị phạt nặng. Ai vi phạm nhiều lần sẽ bị trát lỗ ~~~, khỏi đánh rắm luôn.

Để đảm bảo tính nghiêm minh của luật pháp, Phèo thành lập một nhóm đặc nhiệm với thành viên là các bợm nhậu biết điều từng vào sinh ra tử với hắn ở tất cả quán xá trong làng. Ngày ngày đám này đi khắp làng dỏng tai lên nghe xem có ai đánh rắm lớn, lâu lâu lại khịt khịt mũi xem kẻ nào đánh rắm thối để đem ra trừng trị.

Kể từ đó hoạt động đánh rắm ở làng Vũ Đại đi vào khuôn phép thấy rõ. Các cao thủ đánh rắm trong làng không còn đất dụng võ. Bí quyết đánh rắm từng chuỗi dài như bắn súng máy ngày càng mai một, đi dần đến chỗ thất truyền.

 

Người Buôn Gió – Đi biểu tình thì làm được gì và câu chuyện nước Vệ

In Cộng Đồng, Liên Kết, Việt Nam on 2011/07/02 at 16:31

Người Buôn Gió

Theo blog Người Buôn Gió

Nhà Sản từ khi nắm triều chính nước Vệ, chiến tranh liên miên với các cường quốc quân sự trên thế giới. Đánh nhau nhiều đến nỗi thành quen. Cứ mỗi lần đánh nước này, thì nước khác lại tiếp vũ khí, của cải cho người Vệ chiến đấu với nước kia. Mấy chục năm ròng người Vệ không cần lo làm ăn, buôn bán chỉ có mỗi việc nhận lương thực và vũ khí của bên ngoài mà đi chinh chiến. Do đó vào thời kỳ tạm gọi là thanh bình của nước Vệ, quan quân nhà Sản vốn quen chiến trường, giờ gặp thương trường thành ngớ ngẩn, không biết xoay sở. Rút cục là chỉ đi vay nợ và bán tài nguyên, ngân sách thâm thủng, tài nguyên cạn kiệt.

Nước Tề bấy lâu nay vẫn có bụng dòm ngó nước Vệ, thấy Vệ suy, bèn đóng hàng loạt chiến thuyền dong ra biển Vệ tung hoành thu thuế ngư dân, khai thác tài nguyên, khoáng sản ở vùng lãnh hải của Vệ. Một mặt Tề Bá Vương vẫn thắt chặt quan hệ với các quan lại nhà Sản, tạo cho họ những nguồn lợi và bảo đảm chức tước.

Tưởng thế là thâu tóm được nước Vệ, quân Tề ngày càng bạo ngược.

Mùa Hạ năm Tân Mão, triều nhà Sản thứ 66. Dân Vệ nổi lên biểu tình phản đối gay gắt hành vi bá đạo của Tề.

Nhà Tề mới họp lại bàn. Có quan nói:

– Một dúm người Vệ con con đó được cái chi, người của ta bên đó giữ chức vụ cao trong triều còn đầy. Nước Vệ không dám kháng cự đâu.

Quan khác tâu:

– Thưa đại vương, nước Vệ cạn kiện, vũ khí hoen rỉ, quân lính chểnh mạng, quan lại hoang đàng, dân tình bạc nhược. Dẫu đám phản đối đó có đông gấp mấy đi nữa cũng chả khiến Vệ khác đi được. Chúng ta cứ vậy mà tiến thôi.

Triều nhà Tề bàn đang bàn đến đó, bỗng có một vị quan già phụng sự mấy đời triều nhà Tề từ thời Tề Đặng Vương đến nay e hèm một cái. Mọi người ngoảnh lại, vị quan đó lên tiếng.

– Một nhúm người đó là mầm đại họa cho nhà Tề, không những có thể ngăn Tề ta chiếm được đất của Vệ, mà còn làm nước Tề suy sụp.

Vua quan nhà Tề ngạc nhiên nhìn lão tướng già, Tề Bá Vương hỏi.

– Khanh nói rõ xem nào.

Vị quan già bước ra giữa sân chầu, vái lạy Vương và các quần thần. Sau đó nói một hơi dài.

– Thưa đại vương, dưới triều nhà Sản, nước Vệ chỉ biết có nghề chinh chiến. Mỗi lần họ đánh trận như chúng ta biết thì họ được nước khác viện trợ đầy đủ từ cái kim sợi chỉ đến chiến xa, hạm thuyền. Ngay nước Tề ta cũng cung cấp cho họ để họ đánh Cờ Hoa. Phú Lãng Sa. Sau này họ lại được Bạch Mao tiếp viện để đánh nước Cam. Nói tóm lại một điều nước Vệ chính chiến với tất cả những cường quốc trên thiên hạ. Khi họ đánh trận thì yếu tố vũ khí, lương thực… họ không hoàn toàn phải lo, bởi cường quốc khác đứng đằng sau lo cho họ. Chuyện Tề và Vệ có chinh chiến so đo về tiềm lực không biết được ai hơn ai. Cho nên điều quan trọng nhất là phải ngăn người Vệ vốn là nước phên dậu che chắc cho ta đừng trở thành tiền đồn của kẻ khác.

Bấy lâu chúng ta vẫn dùng tiền bạc can thiệp để gây dựng những nhân tố của chúng ta trong triều Vệ. Những người này giúp chúng ta đưa Vệ đi đúng bổn phận là chư hầu, phên dậu cho nước Tề. Ngoài ra còn chăn dắt, định hướng cho dân Vệ thuần phục, mến yêu nước Tề qua những loại hình văn hóa Tề tràn ngập đời sống Vệ hàng ngày. Bộ phận chiến tranh tâm lý của Tề ta trong mấy chục năm qua cũng đạt nhiều thành công lớn, khiến cho bọn Vệ giờ trở nên ích kỷ, độc ác, trành giành, xâu xé nhau chỉ nghĩ đến sao cho hưởng thụ được cá nhân mình. Trong cuộc tấn công toàn diện núp dưới 16 chữ vàng, về kinh tế ta đã khống chế hoàn toàn nước Vệ, về nhân sự cũng có nhiều khả quan, về tinh thần văn hóa hầu như đã làm tê liệt ý chí người Vệ, thế nhưng dù quân sự ta mạnh hơn Vệ nhiều lần, chúng ta cũng cần phải đắn đo.

Như thần đã nói trên, người Vệ dưới sự chuyên chính của nhà Sản, nếu quyết chiến thì bất lợi cho Tề vô vùng. Nay nước Tề ta hùng mạnh, các nước trong thiên hạ ganh ghét. Nếu Tề, Vệ có giao tranh. Chắc hẳn các nước sẽ xúm vào viện trợ vũ khí tối tân cho Vệ, tiếp tế nguồn lương thảo. Nước Tề quen nghề xông pha tuyến đầu từ trước đến nay, giờ lúc tiền của ngân khố hết, nguy cơ mất lãnh thổ, như dồn đến đường cùng, lẽ nào họ không quay lại nghề cũ nhận của cải từ nước khác mà giao tranh với ta. Về địa lý Vệ gần với ta, đã giao tranh là phải kéo dài liên miên. Nước Tề tập trung đối phó với Vệ cũng thực ra là đối phó với nhiều nước thù ghét Tề hậu thuẫn đằng sau cho Vệ. Vô hình chung ta chiến đấu với Vệ, còn các nước khác rảnh rang phát triền. Sau chiến tranh thắng thua thế nào thì nước Tề cũng bị ảnh hưởng, không theo kịp các nước khác, chưa nói đến là sa lầy.

Nay nước Vệ đang bạc nhược về tinh thần, vua tôi mỗi người một ý, đó là công lớn của bộ tuyên huấn chúng ta trong suốt mấy chục năm hợp tác toàn diện với Vệ. Tiền của tiêu hao không biết bao nhiêu mới khiến người Vệ khiếp nhược chinh chiến như vậy. Bỗng dưng có đám Vệ nổi lên, dẫu chỉ vài trăm mống, nhưng cũng là cái họa, bởi nó là ngọn lửa khêu gợi tinh thần dân tộc, quyết chiến đến cùng. Nếu ảnh hưởng ngày càng to sẽ gây khó khăn cho những nhân sự mà chúng ta cấy trong triều Vệ khi can thiệp vào đường lối nước Vệ vào những quyết sách có lợi cho nước Tề ta. Nếu dẫn đến dân vua tôi nhà Vệ đồng lòng sát cánh chiến đấu với ta, thì bao nhiêu kế hoạch diễn biến trong lòng địch của chúng ta từ trước đến nay thành phá sản.

Mà nếu như xảy ra giao tranh Vệ và Tề, thì thần cũng đã nói rõ lúc trước. Mong đại vương và triều thần nghe cho vài lời.

Triều đình Tề xôn xao, ai cũng nhận thấy lời lão tướng già nói có lý. Thống nhất bàn bạc xong, Tề Bá Vương quyết sách rằng:

– Phải khai thác tối đa những thuận lợi mà chúng ta đang có. Triệt để những tư tưởng, mầm mống gay gắt với Tề đang diễn ra tại nước Vệ. Nay chỉ dụ gấp cho tay chân ta trong triều Vệ ngăn chặn các cuộc biểu tình, điều tra cô lập và làm vô hiệu hóa những đối tượng chủ chốt có ảnh hưởng trong đám tuần hành, hạn chế đưa tin hoạt động của Tề ngoài khơi nước Vệ. Mặt khác đưa đoàn phái bộ sang để ve vãn triều thần Tề, khi đoàn phái bộ sang, các tay trong phải phối hợp chặt chẽ với phái bộ, tuyên truyền rằng Tề ta không có bụng dạ nào ngoài ý tốt muốn giao hảo với Vệ chư hầu. Mặt khác phải tập chung tập luyện hải quân, nhân lúc Vệ chủ quan đánh một trận tiêu diệt nhanh gọn như hồi Mậu Thìn, chiếm gữ và xây dựng các căn cứ lâu dài kiên cố. Đưa chúng vào thế đã rồi, lúc đó ta phủ dụ vỗ về triều Tề rằng đằng nào cũng đã xong rồi, giờ chỉ còn hợp tác hữu hảo để cùng nhau phát triển. Vừa mua chuộc bọn quan lại, vừa ký kết vài hiệp định thương mại đầu tư tạo công ăn việc làm cho dân chúng. Đến lúc đó thì Vệ còn bụng đâu mà làm được điều gì nữa.

Tề Bá Vương bãi triều.

Mùa Hạ năm đó, phái bộ nhà Tề sang Vệ bàn chuyện hữu nghị, hòa bình, không gây căng thẳng.

Nước Vệ bớt đưa tin về biển khơi.

Các tỉnh thành công sai ra sức gắt gao trấn áp những người Vệ biểu tình phản đối Tề.

Duy ở kinh đô còn le lói mấy mống kiên trì khơi dậy tinh thần cảnh giác âm mưu của Tề.

Dân Vệ vẫn hỏi móc máy nhau rằng, việc lớn có triều đình lo, mắc mớ gì đi biểu tình như thế, thừa cơm để nhiễu sự à?

Than ôi, phải có nhiều kẻ hỏi dã tâm như vậy, mới sáng tỏ bản chất của người Vệ dưới triều nhà Sản là vậy.

Mỗ là phường lêu lổng, vô học, mạt hạng trong thiên hạ, sống bám vào gia đình, sinh ra nhàn rỗi chép lại những chuyện này cho đời Vệ sau nếu có, biết được đôi phần.