vietsoul21

Archive for Tháng Chín, 2011|Monthly archive page

Phó thường dân (13): Cái nhà là nhà của ta …

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2011/09/30 at 18:54

Bây giờ là sắp vào mùa thu thời tiết vùng Tây bắc Hoa-kỳ đã rục rịch thay đổi. Buổi sáng bắt đầu có sương mù và những ngày mưa tới thường kỳ hơn. Mái nhà lợp gỗ tuyết tùng (cedar shake), trông thì đẹp mà hổng có bền, của phó thường dân đã có dấu hiệu mục và cong chênh với những đường nứt dù chưa đến ngày quá đát (mới 15 năm). Hãng bảo hiểm nhà đi kiểm chứng đã gởi giấy cảnh báo phải thay mái thì họ mới tiếp tục nhận bảo hiểm.

Cái nhà là tổ ấm. Chính thị con nai vàng hổng trật đâu được. Ở vùng Tây bắc Hoa-kỳ tương đối lạnh và mưa khá nhiều này nếu nhà dột hoặc trống hở thì có mà chết cóng. Thế nên phó thường dân tui phải kêu thợ lợp mái lại, đúng là hao tại thiệt nhưng mà cho khỏi hao tâm.

Ai đã có một căn nhà thì biết, đủ thứ mọi chuyện phải lo, chăm chút từng chuyện một. Từ ngoài cổng cho đến sau vườn quanh năm suốt tháng có chuyện để làm. Cắt cỏ, tỉa cây, dọn vườn hàng tuần thì cũng mất tiêu gần hết hai ngày cuối tuần. Rồi thì sửa ống dẫn nước, nhà cầu, nhà bếp, lò sưởi, máy giặt, máy sấy, máy cắt cỏ, v.v… Túi bụi hổng rảnh rỗi chút nào.

Than thở dzậy thôi chứ nhà của ta thì ta là vua trong nhà. Muốn làm gì cũng được. Hổng ai được quyền nhóm ngó, quấy nhiễu. Ở bên này căn nhà là tòa lâu đài riêng của người chủ. Bất khả xâm phạm.

Gần như vậy. Suốt hơn 30 năm ở vài nơi khác nhau trên đất Hoa-kỳ này riêng cá nhân phó thường dân tôi chưa bị quấy rầy bởi một ai, từ hàng xóm cho đến chính quyền. Mạnh ai nấy ở, mạnh ai nấy làm, miễn là không phiền nhiễu đến người khác. Đôi lúc cũng có những người đi giảng đạo gõ cửa xin phép nói chuyện và tặng thánh kinh nhưng nếu muốn nghe hoặc nhận thì cầm lấy còn không thì lắc đầu từ chối. Cả hai bên dzui dzẻ cười chào là xong chiện. Nhà nào kín cổng, cao tường dán luôn bảng không tiếp người bán hàng tận nhà (door-to-door salesperson) hoặc người truyền đạo thì xong ngay, khỏi mắc công bị gõ cửa.

Ngay cả cảnh sát thi hành công vụ cũng chỉ được đứng trước cổng (nếu khoá cổng) hoặc cửa nhà hỏi chuyện chứ không được vào trong nhà nếu không có trát toà hoặc không được chủ mời. Có đâu như chuyện tổ trưởng dân phố, công an khu vực tự tiện xồng xộc vào nhà như nơi công cộng.

Nhớ lại mấy năm sống dưới chế độ CS sau 1975 trước khi liều mình vượt biển, buổi sáng người bán hàng rong chưa rao hàng thì đã nghe tiếng loa phường điếc con ráy đánh thức dậy, bất kể người lao động ban đêm hoặc người hay thức khuya cần vài giờ an giấc. Rồi thì buổi chiều đến đang ăn tối lại bị nghe thông tin, tuyên huấn, nghị quyết đến sình bụng. Tuần nào cũng bị kêu đi họp tổ dân phố, cả đám ngồi chồm hổm nghe cán bộ lải nhải hổng thua gì cái loa phường.

Còn bây giờ đã hơn 36 năm cái XHCN lại thòng thêm cái đuôi “định hướng kinh tế thị trường” cũng chẳng thay đổi gì. Loa phường vẫn ra rả, nhai nhải hết văn bản, thông báo, rồi nghị quyết của phường, xã, huyện, tỉnh, thành phố, nhà nước đúng là rác tai. Chưa hết các tổ trưởng dân phố và công an khu vực thì “rảnh” đến “thăm” bất kể ngày đêm viện cớ khám hộ khẩu, phổ biến công văn v.v… Lại còn bày trò nhân viên công ty kiểm tra công tơ điện, nước, v.v…

Cái nhà đâu còn là của ta khi có kẻ tự tiện vào bất kể gia chủ muốn hay không (cũng không được)[1]. Vì họ chỉ cần nhân danh cái tập đoàn tội phạm (đảng và nhà nước) với cơ bắp (an ninh, cảnh sát) là đủ để cưỡng chế dân lành. Rồi họ lại áp đặt các nghị định, nghị quyết, thông cáo để bắt bớ, giam cầm vô cớ và xét xử, kết án trái phép, vi phạm mọi quyền hiến định của người dân.

Phó thường dân chỉ được nghe tường thuật lại các cuộc xét xử ở toà án nhân dân. Nghe mà hãi hùng. Nhưng tui lại có cơ hội tham dự các phiên toà xử ở Hoa-kỳ này. Tui được thấy một phiên toà xét xử bởi bồi thẩm đoàn (trial by jury) mà họ theo tiến trình rất là nghiêm túc và chuẩn mực.

Hệ thống luật pháp dưới chế độ dân chủ ở Hoa-kỳ tôn trọng và thiên về việc xét xử bởi bồi thẩm đoàn, gồm 6 hoặc 12 công dân đồng bào (fellow citizens), cho đa số các vụ hình sự. Đây không phải là hội đồng xét xử chọn lựa bởi chính quyền (công tố viên) theo kiểu toà án nhân dân. Danh sách sơ khởi bồi thẩm đoàn được bốc thăm (random selection) ra từ danh bạ công dân đi bầu trong quận hạt. Cả hai phía luật sư bị cáo và công tố viên chỉ được quyền lựa chọn bồi thẩm đoàn chính thức từ danh sách này sau khi đã phỏng vấn và chất vấn. Tính không thiên vị của bồi thẩm đoàn được bảo toàn qua hình thức tuyển chọn này.

Trong các phiên đại hình thì bồi thẩm đoàn được cô lập không tiếp xúc với bên ngoài để tránh bị ảnh hưởng các ý kiến của báo chí và người ngoài. Phán quyết của bồi thẩm đoàn (jury verdict) phải hoàn toàn chỉ dựa trên cáo trạng, lời biện hộ, bằng chứng, lời chứng (testimonies), giải thích của nhân chứng chuyên gia (expert witness), các chất vấn (cross-examination) không bị áp lực từ cá nhân hoặc thế lực nào. Những ai cố tình ảnh hưởng, lung lạc, đe dọa bồi thẩm đoàn sẽ bị kết tội can thiệp bồi thẩm (jury tampering). Muốn có phán quyết trong các vụ hình sự thì phải đa số tuyệt đối (6/6 hoặc 12/12) để đảm bảo là toàn thể đồng tình kết tội một người.

Cũng xin nhắc là trong bổn phận và trách nhiệm của mọi công dân Hoa-kỳ thì hai bổn phận chính là đi bầu và tham gia bồi thẩm đoàn (jury) nếu được gọi. Việc tham gia bồi thẩm đoàn là điều bắt buộc khi được gọi (bốc thăm) và chỉ được miễn trừ nếu có lý do chính đáng.

Trở lại chuyện cái nhà của ta. Cái nhà riêng thì ai cũng chăm chút cho nó. Nhưng cái nhà chung thì sao? Cái nhà tổ tiên của vua Hùng để lại giờ như thế nào?

Theo bài Cơ chế phá và xây[2] thì có lẽ cái cơ chế của nhà nước XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN thì phá là chính vì “cái cơ chế ấy phá phách thì rất nhanh”.

Về văn hóa, cơ chế ấy với khẩu hiệu “bài trừ tàn dư phong kiến, thực dân” đã phá đình chùa, đốt sách, hạn chế thờ cúng tổ tiên (1). Sau đó, hô hào xây dựng “nền văn hóa mới” không rõ hình hài. Đất nước đã 36 năm thống nhất nhưng chưa có lấy một công trình văn hóa xứng với rất nhiều công trình để lại từ thời “thực dân pháp đô hộ”.

Những tàn phá gốc rễ xã hội dẫn tới rối loạn trầm trọng ở mọi lĩnh vực: giáo dục, y tế, nghiên cứu khoa học, thể dục thể thao, văn học nghệ thuật, quốc phòng, an ninh, chính trị, tư tưởng… Cái cơ chế tàn phá rất nhanh nhiều giá trị truyền thống, lại bế tắc trong xây dựng các giá trị mới, thì không có cơ sở tồn tại. Thực tiễn không tìm thấy lý do tồn tại thì tranh cãi lý thuyết chẳng còn ích gì.

Ví dụ cụ thể của cơ chế phá được dẫn ở chú thích trong cùng bài:

(1) Hiện tượng đáng đau tủi gần đây nhất là hầu hết lăng mộ thời Trần ở An Sinh (Đông Triều, Quảng Ninh) đã được chính quyền Nhà nước tùy tiện chia cho người dân để lấy đất làm chỗ ở (vì những chỗ béo bở thì các quan đã chia nhau hết rồi), và đương nhiên ai được chia thì việc đầu tiên là phá hủy lăng mộ các vua Trần để san lấp mặt bằng rồi sau đó xây dựng nhà cửa lên trên, thế là cả một cụm di tích vô giá bằng đá gồm 7 ngôi mộ các vua Trần giữa một vùng đồi rất đẹp bị san bằng. Nhưng không thể trách người dân, vì “dân ngu khu đen” bị dồn đến chỗ mất đất, mất nhà thì đâu có tội. Dầu là di tích lịch sử đi nữa họ cũng phải phá đi để kiếm chỗ cho con cháu có cái mà chui tạm chứ. Vậy thì trách ai đây nếu không là một cơ chế “óc rỗng” từ dưới lên trên, không cần biết đến lịch sử, không thèm hiểu về văn hóa, ấy trăm tội cứ đổ vào đầu cái thằng cơ chế là khỏe nhất – Chú thích của BVN.

Tây Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn là nóc của căn nhà Việt Nam. Thế nhưng nó đã bắt đầu rò rỉ, dột nát vì các kế hoạch và chính sách thiển cận trong tư lợi. Vấn đề nổi cộm bức xúc nhất mà các nhân sĩ và dân chúng quan tâm từ mấy năm vừa qua về khai thác bô xít vùng Tây Nguyên thì đã chóng thấy nhãn tiền. Tàn phá môi trường ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống người dân trong vùng ngay từ bây giờ và cho đến cả trăm, ngàn năm sau. Các cư dân trong vùng đã phản ảnh như sau:

Ông Nguyễn Quang Minh, ở khu 6A, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo Lâm, nói: “Người dân chúng tôi thấy vụ ô nhiễm này rất nghiêm trọng, bà con đang rất lo lắng, nhất là ô nhiễm môi trường về lâu dài. Hiện Nhà máy chuẩn bị đi vào hoạt động nhưng hồ chứa bùn đỏ mới chỉ làm được một phần nhỏ thì nguy hại không biết còn đến mức độ nào nữa”.

Anh Vũ Ngọc Long, ở khu 6, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo Lâm, nói: “Nhà tôi nằm cách Nhà máy 1km nhưng nói chuyện với nhau thì phải hét vào tai mới nghe được. Còn ở khu vực gần đó, bà con nói chuyện chẳng nghe được gì luôn”.[3]

Thế nên bọ Lập đã có lời ai điếu trong Lời cuối cho Bauxite[4]:

Làm  Bauxite Tây Nguyên chẳng được cái gì, thiệt hại về kinh tế, ô nhiễm về môi trường, nguy hiểm về quân sự, đến đứa con nít cũng biết. Vậy người ta có đóng cửa Bauxite Tây Nguyên không? Không, không bao giờ, không đời nào. Cũng như Vinashin, người ta sẽ chèo chống đến cùng giữ cho được Bauxite Tây Nguyên. Vì sao ư, quá dễ để có câu trả lời. Nhưng như một ông quan đã than thở với mình: nói ra dễ bị tù tội lắm em ạ, ai dại. Mình cũng chả dại, vì thế mình mới viết lời cuối cho Bauxite, coi như ai điếu cho cái thời mình đang sống vậy.

Còn tuyến đầu của tổ quốc thì đã bị tằm ăn rỗi, hết chuyện Hai bà Trưng đi chầu Mã Viện ở Đông Hưng, Trung Quốc năm trước giờ lại đến việc treo đèn lồng và đổi ngày kỷ niệm thành lập tỉnh Lào Cai trong Âm mưu Hán hóa[5]. Rồi biển đảo bỏ trống cho “tàu lạ” tung hoành để ngư dân bị săn đuổi trong khi đánh cá ở ngư trường cố hữu bao năm nay[6].

Thế thì có ai còn nhớ rằng:

Cái nhà là nhà của ta
Công khó ông cha lập ra
Cháu con phải gìn giữ lấy
Muôn năm với nước non nhà

Cõi đời là đời của ta
Nuôi dưỡng công lao mẹ cha
Lớn khôn để gìn giữ nước
Thay nhau xây đắp sơn hà

Đó là bài hát sinh hoạt học đường, hướng đạo nhắc nhở thanh thiếu niên trẻ nhớ công ơn tổ tiên, ông cha xây nhà dựng nước mà bây giờ phó thường dân vẫn còn nhớ tới. Không biết qua bao năm tuyên truyền nhồi sọ với ông Mác-Lê cũng như câu đầu môi “nhờ ơn Bác và Đảng” thì con dân nước Việt có còn nhớ đến “công khó ông cha lập ra” hay chỉ là “Trung với Đảng” và “còn Đảng còn mình” để rồi nước mất, nhà tan.

© 2011 Vietsoul:21

[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu  – (8) Gió mưa là chuyện của trời …  – (9) Vô liêm sỉ – man rợ – (10) Phế-anh-hùng – (11) Luật Lệ(nh) … (12) Nhà em có nuôi một con két – (14) Mèo – thỏ – (15) phố vẫy …(16) Mít tờ Đàm và Bác Hồ (17) Nín thở qua cầu]

Advertisements

Trần Trung Đạo: Những người đi tìm tổ quốc

In Liên Kết, Việt Nam, Văn Chương on 2011/09/28 at 08:20

Tuyển tập Khi bài hát trở về

Yêu nước. Tổ quốc. Dạo này, mỗi khi nghe ai nhắc hay tự mình nghĩ đến hai chữ này, tôi cảm thấy lo lắng hơn là rung động. Lý do cũng dễ hiểu. Mấy tháng qua tôi đọc khá nhiều nhật ký có kết cục quá buồn, nào là hai cái chết thảm thương của anh Nguyễn Văn Thạc, chị Đặng Thuỳ Trâm, nào là cảnh sống trong trù dập như anh Trần Vàng Sao, anh Tiêu Dao Bảo Cự. Tất cả cũng tại lòng yêu nước cuồng nhiệt mà ra.

Tôi đọc nhật ký của anh Nguyễn Văn Thạc trên chuyến bay từ California về lại Boston. Nhật ký dày 296 trang, tính cả phần giới thiệu, bắt đầu từ ngày 2 tháng 10 năm 1971, 28 ngày sau khi anh nhập ngũ, đến trang cuối cùng ở Ngã Ba Đồng Lộc ngày 3 tháng 6 năm 1972. Ngồi nhìn những cụm mây bay bên ngoài ô cửa nhỏ không thể không liên tưởng đến số phận của tuổi trẻ Việt Nam trong cuộc chiến. Quãng đời anh Thạc quá ngắn và chấm dứt một cách oan uổng. Anh đặt tên nhật ký là Chuyện đời nhưng được thay bằng Mãi mãi tuổi hai mươi.

Khi chết anh Nguyễn Văn Thạc chưa tròn hai mươi tuổi. Không giống như chị Thuỳ Trâm, anh Thạc viết nhật ký như anh thú nhận “ước mơ thầm kín” của anh là trở thành nhà văn. Cũng vì tập làm nhà văn nên văn trong nhật ký của anh không có được nét hồn nhiên như của chị Thuỳ Trâm. Anh tả cảnh hơi nhiều. Ví dụ, ngày 20 tháng 11 năm 1971 anh tả trong nhật ký: “Cơn gió thổi từ phía đồi mặt trời qua hồ cá. Sương mù thốc nhẹ lên rặng phi lao ven đường… Con trâu đi ngang, con cá trắng bơi dọc, và những vòng sóng hình tròn toả rộng chung quanh… Sự sống hiện ra ở khắp mọi chiều. Và chỗ nào mà chẳng có mầm xanh, chỗ nào mà chẳng có giọt nắng hình quả trứng lăn nghiêng”; hay ngày 4 tháng 2 năm 1972, thay vì ghi lại những gì xảy ra trong ngày, anh tả một cơn gió mùa: “Cả rừng bạch đàn vặn mình. Những cây bạch đàn thân nâu lốm đốm trắng nghiêng ngả. Những chiếc lá thon dài nằm ngang trong gió. Thấp thoáng trong rừng những mái nhà gianh và những lều bạt. Gió mạnh phần phật những tấm tăng đã cũ. Gió reo vù vù…” Đại loại là như thế.

Ngoại trừ tình yêu say đắm dành cho chị Như Anh, anh Thạc là sản phẩm kiểu mẫu của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Anh không có dịp đi Liên Xô, đi Tiệp. Anh chỉ nghe đài phát thanh Hà Nội, học tập lý luận chính trị từ các bài diễn văn của Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, đọc truyện dịch của các tác giả Liên Xô, đọc thơ Tố Hữu, Phạm Tiến Duật, ngoài ra không có một nguồn tư liệu nào khác. Anh tả nhiều hơn viết, một phần cũng vì ở tuổi của anh sự gần gũi và va chạm với xã hội còn khá ít.

Thần tượng tuổi trẻ của anh là Paven, tức Pavel Korchagin trong Thép đã tôi thế đấy của Nikolai Ostrovsky. Lại cũng Paven! Ngày 24 tháng 12 năm 1971 anh viết về thần tượng Paven của anh: “Dạo ấy Paven mới 24 tuổi. Ba năm của thời 20, anh đã sống say sưa, sống gấp gáp và mạnh mẽ. Cưỡi trên lưng con ngựa cụt hai tai trong lữ đoàn Buđionni anh đã đi khắp miền đất nước. Cuộc sống của anh là một dòng mùa xuân bất tận giữa cuộc đời. Đó là cuộc sống của người Đảng viên trẻ tuổi, cuộc sống của một chiến sỹ Hồng quân. Mình thèm khát được sống như thế. Sống trọn vẹn đời mình cho Đảng, cho giai cấp.”

Ước mơ của chàng thanh niên Việt Nam 20 tuổi Nguyễn Văn Thạc là được sống như Paven. Chẳng lẽ anh không biết một số rất lớn anh hùng dân tộc Việt Nam, đã sống, chiến đấu và hy sinh cho độc lập tự do của đất nước trong khi còn rất trẻ và đời họ là những bản hùng ca tuyệt vời gấp ngàn lần hơn anh chàng thanh niên Ukraine kia hay sao? Là sinh viên Đại học Tổng hợp Hà Nội và đã từng là học sinh giỏi văn nhất miền Bắc hẳn anh biết Trần Quốc Toản, Cao Thắng, Phạm Hồng Thái v.v… là ai, rất tiếc anh không được uốn nắn để sống theo những tấm gương trung liệt đó.

Trong mùa hè đỏ lửa năm 1972, hàng trăm ngàn đồng bào Quảng Trị phải bồng bế, gồng gánh nhau chạy vào Huế và Đà Nẵng, những quận Đông Hà, Gio Linh và các khu vực chung quanh Cổ thành Quảng Trị đã trở thành những bãi chiến kinh hồn, nhưng trong nhật ký ngày 4 tháng 4 năm 1972, anh hãnh diện chép lại bản tin của đài phát thanh Hà Nội: “Đài phát thanh truyền đi tin chiến thắng rực rỡ của tiền tuyến ở mặt trận Trị-Thiên-Huế ở đường 9, Cam Lộ, Gio Linh, đã diệt 5.500 tên địch; 10 vạn đồng bào nổi dậy – Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam đã phải mở thêm các buổi phát thanh để truyền tin chiến thắng của miền Nam anh hùng.” Anh tin một cách chân thành rằng những tin tức đó là thật. Nếu có một nhà sưu tầm nào thu thập các bản tin chiến sự của đài Hà Nội trong suốt cuộc chiến và cộng lại, tổng số tổn thất nhân mạng của quân đội miền Nam ít nhất cũng bằng nửa dân số miền Nam.

Lớn lên trong một gia đình nghèo khó, đông con và một xã hội cách ly về mặt thông tin với thế giới bên ngoài, những hiểu biết của anh vì thế không những chỉ là một chiều mà còn bị đóng khung trong những bức tường, những giới hạn và khái niệm anh phải thuộc nằm lòng khi cần thì đem ra áp dụng. Trong nhật ký ngày 12 tháng 1 năm 1972, khi nghĩ về tương lai mình, anh trích ngay câu nói của Lê Duẩn thay cho câu giải đáp: ”Thanh niên hãy lấy sự hy sinh phấn đấu cho cách mạng làm hạnh phúc cao cả nhất của đời mình, đừng để cho tình cảm cách mạng nguội lạnh vì những tính toán được mất cho cá nhân.” Và như thế anh yên tâm đi tiếp và không cần phải thắc mắc gì thêm.

Anh Thạc có yêu nước không? Tôi tin là có. Nhưng tình yêu nước của anh không phát xuất từ trái tim trong sáng của tuổi hai mươi mà được dạy để yêu nước theo quan điểm giai cấp. Anh viết trong bài thi học sinh giỏi văn miền Bắc, in trong phần cuối của nhật ký: “Được mang ngòi bút của mình phục vụ Tổ Quốc, nhằm giáo dục lập trường và nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa cho nhân dân ta, các nhà thơ ta, bằng nghệ thuật hiện thực xã hội chủ nghĩa, đã tái hiện cuộc sống muôn màu, muôn vẻ của dân tộc ta đang chiến đấu theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, và dưới ánh sáng đường lối văn nghệ, chính trị của Đảng”. Thật giống hệt như nội dung các đề cương văn hoá của Đảng. Anh Thạc không phân biệt được sự khác nhau, nói chi đến mâu thuẫn, giữa Tổ quốc và Đảng, giữa ý thức dân tộc nhân bản và chủ nghĩa Marx-Lenin độc tài toàn trị. Đọc bài văn đoạt giải nhất này để thấy bộ máy tuyên truyền của Đảng không những có khả năng điều khiển hành động mà còn có thể sai khiến cả nhận thức của anh. Trong nhật ký ngày 15 tháng 11 năm 1971 anh viết: “Thằng Mỹ, nó thế nào? Trời ơi, sao lâu quá. Bây giờ cái khao khát nhất của ta – cái day dứt nhất trong ta là khi nào được vào miền Nam, vào Huế, Sài Gòn – xọc lê vào thỏi tim đen thủi của quân thù”. Anh không biết “Thằng Mỹ, nó thế nào” và vẫn muốn “xọc lê vào thỏi tim đen thủi” của nó. Khủng khiếp thật.

Dù sao, với tuổi 19, 20, anh Thạc chẳng có lỗi gì. Tiếng hót của anh, dù hay dù dở, cũng chỉ là tiếng hót của một con chim công nghiệp như hàng ngàn, hàng vạn con chim công nghiệp được Đảng tập luyện từ khi vừa đạp vỏ trứng bước ra. Nền giáo dục Cộng sản ở xứ nào cũng vậy. Mức độ tuy có khác nhau đôi chút nhưng mục đích vẫn giống nhau. Đọc câu chuyện Bắc Hàn sau đây chúng ta sẽ thông cảm tại sao anh thích thành Paven hơn mơ làm Trần Quốc Toản. Tháng 4 năm 2003, một chiếc xe lửa ở Bắc Hàn không may chạy trật đường rầy và đụng vào một toà nhà lớn, cả xe lửa lẫn toà nhà đều bốc cháy, hàng trăm khách trong xe, người trong toà nhà vừa chết vừa bị thương, kêu la, rên rỉ. Thế nhưng khi những người dân Bắc Hàn ở chung quanh tới cứu, họ đã cố tìm cách dập tắt ngọn lửa đang đốt cháy tấm chân dung lớn của Kim Chính Nhật treo trên toà nhà trước khi cứu chữa những người bị thương đang thoi thóp trong xe hay sắp chết cháy trong nhà. Câu chuyện này cũng được bình luận trên tạp chí uy tín nhất nhì thế giới, The Economist số tháng Chạp năm 2004 chứ không phải là sản phẩm tưởng tượng của CIA hay một tổ chức chống Cộng nào.

Đọc câu chuyện trên hẳn chúng ta không khỏi tự hỏi nếu định nghĩa con người là sinh vật biết suy nghĩ, thì con người ở Bắc Hàn có còn nên gọi là người hay không? Họ có chút gì gọi là tư duy độc lập không? Độc giả miền Bắc đọc đoạn văn trên chắc không khỏi hú hồn. Hãy thử tưởng tượng, nếu không có ngày 30 tháng 4 năm 1975 và miền Bắc vẫn tiếp tục sống dưới chế độ vô sản chuyên chính thì đời sống và trình độ nhận thức của người dân miền Bắc ngày nay sẽ khác bao nhiêu so với những người dân Bắc Hàn đáng thương kia?

Trang nhật ký cuối cùng ghi ngày 25 tháng 5 năm 1972: ”Kẻ thù không cho tôi ở lại – Phải đi – Tôi sẽ gởi về cuốn Nhật ký này, khi nào trở lại, khi nào trở lại tôi sẽ viết nốt những gì lớn lao mà tôi đã trải qua từ khi xa nó, xa cuốn Nhật ký thân yêu đầu tiên của đời lính. Ừ, nếu như tôi không trở lại – Ai sẽ thay tôi viết tiếp những dòng này? Tôi chỉ ước ao rằng, ngày mai, những trang giấy còn lại đằng sau sẽ toàn là những dòng vui vẻ và đông đúc. Đừng để trống trải và bí ẩn như những trang giấy này.”

Anh đã không trở lại và những trang giấy còn lại của cuốn nhật ký cũng không phải là những dòng vui vẻ đông đúc như anh muốn. Anh ngã xuống dưới chân Cổ thành Quảng Trị. Cũng bên chân thành cổ đó, máu của nhiều thanh niên miền Nam cũng đã đổ xuống để giành lại Cổ thành Đinh Công Tráng. Tôi chợt nhớ đoạn thơ của nhà thơ quân đội miền Nam Tô Thuỳ Yên, tự đối đáp với người lính Cộng sản, có thể đang chĩa súng lên chiếc trực thăng của anh đang bay ngang khu vực Phá Tam Giang:

Vì sao ngươi tới đây?

Hỡi gã cộng quân sốt rét, đói

Xích lời nguyền sinh Bắc, tử Nam.

Vì sao ta tới đây?

Lòng xót xa, thân xác mỏi mòn,

Dưới mắt ngươi làm tên lính nguỵ.

Ví dầu ngươi bắn rụng ta

Như tiếng hét

Xé hư không bặt im

Chuyện cũng thành vô ích.

Ví dầu ngươi gục

Vì bom đạn bất dung

Thi thể chẳng ai thâu

Nào có chi đáng kể.

Nghĩ cho cùng, nghĩ cho cùng

Ví dầu các việc ngươi làm, các việc ta làm

Có cùng gom góp lại

Mặt đất này đổi khác được bao nhiêu?

Ngươi há chẳng thấy sao

Phá Tam Giang, Phá Tam Giang ngày rày đâu đã cạn?

Ta phá lên cười, ta phá lên cười

Khi tưởng tượng ngươi cùng ta gặp gỡ

Ở cõi âm nào ngươi vốn không tin

Hỏi nhau chơi thoả tính bông đùa:

Ngươi cùng ta ai thật sự hy sinh

Cho tổ quốc Việt Nam – một tổ quốc?

(“Chiều trên Phá Tam Giang”, Tô Thuỳ Yên)

Tôi đã viết một bài về nhật ký của chị Đặng Thuỳ Trâm và như đã hứa trong bài viết, tôi sẽ không phân tích gì thêm nhật ký của chị, hãy để chị ngủ yên với giấc mơ xanh và tình yêu nước đậm đà dù trên thế gian này con người đang lợi dụng cái chết của chị. Chỉ tội nghiệp mẹ của chị, cụ bà Doãn Ngọc Trâm. Ba mươi năm sau vẫn còn một bà mẹ Việt Nam sang tận nước Mỹ xa xôi để khóc cho đứa con gái thân yêu bỏ mình trong cuộc chiến. Phóng viên Betsy Blaney của hãng thông tấn Associated Press đã viết và được BBC trích dẫn: ”Bà Doãn Ngọc Trâm 82 tuổi quỳ xuống và khóc khi lần đầu tiên bà cầm những gì còn lại trong cuộc đời con bà: hai cuốn nhật ký viết trước khi cô bị giết trong chiến tranh Việt Nam. Với đôi tay run rẩy, mẹ của bác sỹ phẫu thuật Bắc Việt Đặng Thuỳ Trâm ấp một cuốn nhật ký lên trái tim bà.” Một bà cụ thuộc giai cấp tiểu tư sản, từng bị các nhà lý luận chủ nghĩa Marx-Lenin kết án như là thành phần nghiêng ngửa, gió chiều nào theo chiều ấy, bỗng dưng trở thành bà mẹ anh hùng. Giống như cụ bà Nguyễn Thị Thứ ở ngoài quê tôi, trong tháng ngày còn lại của đời mình, cụ bà Doãn Ngọc Trâm lại phải cười tươi, hãnh diện trước cái chết oan ức, thảm thương của con gái mình. Tuy nhiên, nếu ai tinh tế gắn một chiếc máy thu âm nhỏ dưới những bụi hoa trên mộ chị Đặng Thuỳ Trâm, sẽ nghe cụ bà nói gì với chị về Đảng Cộng sản Việt Nam.

Khác với hai cuốn nhật ký của anh Thạc và chị Thuỳ Trâm, nhật ký Tôi bị bắt của nhà thơ Trần Vàng Sao và nhật ký Tôi bày tỏ nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự là của hai người lớn lên ở miền Nam và đều còn sống.

Nhà thơ Trần Vàng Sao tên thật Nguyễn Đính, sinh năm 1941, đậu tú tài năm 1961 rồi vào Đại học Huế. Anh tham gia các hoạt động công khai trong thành phố dưới sự chỉ đạo của Thành uỷ Huế, tích cực trong phong trào sinh viên Huế như rải truyền đơn, vận động sinh viên xuống đường tranh đấu. Tháng 6 năm 1965, vì bị lộ nên tổ chức đưa anh lên rừng công tác tại Ban tuyên huấn Thành uỷ Huế. Năm 1970, anh bị thương và được đưa ra Bắc chữa trị. Sau thời gian ra Bắc không lâu, những suy nghĩ riêng tư của anh về Đảng đã bị các “đồng chí” của anh đọc được và báo cáo lên cấp trên. Từ đó, anh đã trải qua những ngày tháng trù dập vô cùng thê thảm. Từ một nhà thơ dùng tên lá cờ làm bút hiệu anh trở thành một kẻ bị mọi người khinh bỉ, xa lánh, tàn tệ đến mức, như anh kể, ai cũng gọi anh là “hắn” hay “thằng Đính”, chỉ có “một thằng bé bị thần kinh gọi tôi bằng chú”. Đọc cách giải thích văn thơ của những cán bộ hỏi cung anh để thấy mức độ cuồng tín của họ không thua gì người dân Bắc Hàn chữa lửa trong câu chuyện kể trên.

Ba của nhà thơ Trần Vàng Sao mất năm anh 7 tuổi, mẹ anh buôn thúng bán bưng nhiều khi phải đi xin tôm cá dọc bờ biển để nuôi 5 người con. Nhà thơ lớn lên trong tình thương và cả trong tiếng thở dài nửa khuya của mẹ, để rồi hai mươi năm sau anh mang thao thức đi vào cuộc chiến bằng tình yêu nước đậm đà như anh viết trong bài thơ “Bài thơ của một người yêu nước mình’’, ngày 19 tháng 12 năm 1967:

Tôi bước đi

Mưa mỗi lúc mỗi to,

Sao hôm nay lòng thấy chật

Như buổi sáng mùa đông chưa thấy mặt trời mọc

Con sông dài nằm nhớ những chặng rừng đi qua

Nỗi mệt mỏi, rưng rưng từng con nước

Chim đậu trên cành chim không hót

Khoảng vắng mùa thu ngủ trên cỏ may

Tôi yêu đất nước này những buổi mai

Không ai cười không tiếng hát trẻ con

Đất đá cỏ cây ơi

Lòng vẫn thương mẹ nhớ cha

Ăn quán nằm cầu

Hai hàng nước mắt chảy ra

Mỗi đêm cầu trời khấn Phật, tai qua nạn khỏi

Tôi yêu đất nước này áo rách

Căn nhà dột phên không ngăn nổi gió

Vẫn yêu nhau trong từng hơi thở

Lòng vẫn thương cây nhớ cội hoài

Thắp đèn đêm ngồi đợi mặt trời mai

Tôi yêu đất nước này như thế

(“Bài thơ của một người yêu nước mình”, Trần Vàng Sao)

Nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự tên thật là Bảo Cự, sinh năm 1945 tại Huế. Trong thời gian năm 1966, anh là một trong những người lãnh đạo hàng đầu của phong trào thanh niên sinh viên Huế. Anh được kết nạp vào Đảng năm 1974 và sau năm 1975 là Ủy viên thường trực của Hội Văn nghệ tỉnh Lâm Ðồng và là Phó Tổng Biên tập tạp chí Langbian. Nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự bị khai trừ ra khỏi Đảng sau chuyến đi vận động trí thức ký tên vào kiến nghị đòi Đảng Cộng sản Việt Nam phải thực thi dân chủ. Từ đó anh bị Đảng trù dập, bắt giam và quản chế như đã được anh ghi lại trong nhiều bài viết cũng như trong nhật ký Tôi bày tỏ.

Bốn mươi năm sau, từ những ngày sôi sục những năm 1965, 1966 ở Huế, nhìn lại quãng đường các anh đi qua và những chọn lựa mà các anh đã chọn. Kết quả đã được chứng nghiệm bằng thực tế của đất nước và bằng chịu đựng của bản thân các anh. Đúng hay sai, lý tưởng hay nông nổi, đối với các anh cũng đã qua rồi. Không ai có thể sống bằng quá khứ. Vâng, thế còn tương lai? Lịch sử có thể không tái diễn nhưng trong từng hoàn cảnh sự trùng hợp vẫn có thể xảy ra. Bài học các anh học sẽ còn được nhắc lại nhiều lần. Nhắc không phải để nguyền rủa, không phải để kết án mà để thế hệ mai sau biết sự quan trọng của những chọn lựa của một đời người.

Tôi đọc rất nhiều nhận xét, phê phán các anh và những người trí thức khác ở miền Nam đã bỏ vào bưng để trở thành đảng viên Cộng sản, tiếp tay mang đạn Liên Xô, mìn Trung Cộng, súng AK Tiệp Khắc về giày xéo mảnh đất miền Nam. Tôi nhớ trong tác phẩm Tù binh và hoà bình, xuất bản ở Sài Gòn khoảng năm 1974, nhà văn Phan Nhật Nam kể lại cảnh các “lãnh tụ sinh viên” Trịnh Đình Ban, Trần Thị Lan v.v. ngồi chờ bên gốc cao su ở phi trường Lộc Ninh để được trao trả về phía bên kia. Anh Phan Nhật Nam viết đoạn đó rất cảm động. Anh không giận hay trách móc những tù binh gốc sinh viên anh sắp sửa được trao trả mà cảm thông cho sự bồng bột tuổi trẻ của họ nhiều hơn. Thật vậy, thời sôi nổi trong giảng đường đại học, trên đường phố Sài Gòn đã là dĩ vãng, giữa rừng cao su Lộc Ninh họ là những thanh niên thành phố đang bước vào một cuộc đời mới ở một nơi hoàn toàn xa lạ. Như những con cá bị vớt khỏi sông và bỏ vào trong chậu, ngơ ngác, rụt rè, sợ hãi. Họ không còn là bè bạn của nhau, không còn gọi nhau bằng tên, bằng thứ mà sẽ là đồng chí. Đồng chí cũng đồng nghĩa với nghi ngờ, kiếm soát và dò xét lẫn nhau. Họ hối hận không? Họ thật sự có phải là Cộng sản không? Họ có phân biệt được, dù chỉ là căn bản, những điểm khác nhau giữa xã hội mà họ vừa bỏ lại và xã hội mà họ đang tìm đến không? Không ai hỏi và họ cũng sẽ không trả lời thật với lòng. Có những tâm sự, sống giữ kín chết mang theo, chứ không bao giờ chia sẻ với ai.

Hồi xưa tôi cũng có cái nhìn khắt khe về những người bỏ đi. Các anh có quyền biểu tình, có quyền chống độc tài, chống tham nhũng, chống độc diễn nhưng khi bỏ đi sang hàng ngũ của những người ném lựu đạn vào quán ăn, pháo kích vào trường học, đặt mìn trên quốc lộ, các anh đã phản bội quyền sống trong hoà bình của nhân dân miền Nam. Giống như những đứa con lớn lên trong một gia đình nghèo, có bà mẹ bịnh tật, có người cha say rượu hay đánh đập con cái và còn một bầy em nhỏ dại. Thay vì khuyên răn người cha, săn sóc người mẹ, che chở cho đám em khờ, các anh lại bỏ đi, và chẳng những đã bỏ đi mà còn dắt kẻ gian về đốt phá nhà mình. Một bài hát rất hay, Cơn mê chiều, Thái Thanh hát trước năm 1975, oán trách những đứa con được nuôi dưỡng từ khi mang nặng đẻ đau chỉ để lớn lên mang gươm đao vào xóm làng:

Chiều nay không có em, mưa non cao về dưới ngàn

Đàn con nay lớn khôn mang gươm đao vào xóm làng

Chiều nay không có em, xác phơi trên mái lầu

Một mình nghe buốt đau, xuôi Nam Giao tìm bóng mình

Đường nội thành đền xưa ai tàn phá?

Cầu Tràng Tiền bạc màu loang giòng máu

Hương Giang ơi thuyền neo bến không người qua đò

Một lần thôi nhưng còn mãi …

Vâng, một lần thôi nhưng còn mãi. Cầu Tràng Tiền có thể nối lại, đường thành nội có thể sửa sang nhưng vết thương Mậu Thân sẽ hằn sâu suốt nhiều ngàn năm sau lịch sử.

Giống như anh Trần Vàng Sao và anh Tiêu Dao Bảo Cự, tôi cũng yêu đất nước mình. Tình yêu nước là tình cảm tự nhiên chứ chẳng có gì để gọi là khoe khoang. Thế hệ chúng tôi bước vào cuộc đời sau Hiệp định Geneva. Giống như những kẻ bước vào rạp hát sau khi vở bi kịch đã mở màn, không còn chỗ ngồi và cũng không có ai dẫn dắt, chúng tôi phải tự mò mẫm mà đi. Nhìn lên sân khấu chỉ thấy toàn máu chảy thịt rơi, đồng ruộng hoang vu, nhà tan cửa nát. Chúng tôi đi tìm tổ quốc mình trong bóng đêm dày đặc của chiến tranh và thù hận. Chung quanh chúng tôi có kẻ khóc than nhưng cũng có kẻ cười thoả mãn. Và như thế, chúng tôi lớn lên với rất nhiều câu hỏi.

Một trong những câu hỏi là tại sao có khá nhiều trí thức bỏ miền Nam theo Cộng sản. Chẳng lẽ họ không biết những gì đã xảy ra ở Tiệp Khắc, ở Hungary? Chẳng lẽ họ chưa đọc diễn văn của Nikita Khrushchev tại Đại hội Đảng Cộng sản Liên-xô lần thứ 20 mà bản tiếng Anh, trước năm 1975 đã để ngay trên giá của Thư viện Quốc gia? Chẳng lẽ họ không biết chế độ Cộng sản là chế độc độc tài, độc đảng, kiểm soát con người từ đồng lương, chén gạo cho đến từng cây kim sợi chỉ? Người ta thường nói chọn lựa nào cũng kèm theo đó một sự hy sinh. Nhiều trí thức già, trẻ ở miền Nam hy sinh cả cuộc đời còn lại, bỏ trường học, gia đình, cha mẹ, bà con ruột thịt để ra đi. Ngày xưa tôi thường tự hỏi, chọn lựa mà họ theo đuổi chắc hẳn phải vô cùng cao cả và xứng đáng để hy sinh như thế. Nếu họ bỏ đi chỉ vì những người lãnh đạo miền Nam tham nhũng, bất tài thì không đủ lý do. Một bụi mía hư mà đốt bỏ cả vườn thì quá đáng. Phải có một lý do nào đó sâu xa và cao siêu mà với kiến thức học trò tôi không hiểu được.

Trong một buổi thuyết trình ở Sài Gòn trước năm 1975, tiến sĩ Châu Tâm Luân nói: “Chế độ Sài Gòn như một chiếc áo rách nát đến nỗi không còn có thể vá, cách duy nhất là xé bỏ và may một chiếc áo mới”. Ông không giải thích chiếc áo ông muốn may màu gì.  Sau 30 tháng 4 năm 1975, khi thấy ông xuất hiện trên báo chí bên cạnh các cấp lãnh đạo nhà nước và tham dự các hội nghị khoa học kỹ thuật quốc tế trong tư cách uỷ viên đoàn chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Viêt Nam, tôi nghĩ, thì ra chiếc áo ông muốn may là màu đỏ, dù sao đó cũng là lý tưởng Cộng sản mà ông theo đuổi. Bỗng dưng thời gian ngắn sau đó tôi lại nghe ông vượt biên thành công và đã định cư ở nước ngoài. Tôi thở dài thất vọng, không phải vì ông bỏ nước ra đi mà vì tôi không ngờ những trí thức rất được chúng tôi kính trọng, cuối cùng, cũng chỉ hiểu chủ nghĩa Cộng sản một cách ngây thơ và đơn giản như thế.

Một sự thật không thể chối cãi, xã hội miền Nam trước năm 1975 là một căn nhà đang được xây. Từ lãnh đạo cho đến người dân tập sống trong một thể chế chính trị mà họ chưa từng kinh nghiệm. Những người đặt nền móng cho căn nhà dân chủ tại miền Nam cũng không phải là những thiên thần từ trời sai xuống mà là những người mang cả quá khứ nặng nề đi vào tương lai trên con đường dân chủ khúc khuỷu, quanh co và còn đầy bất định. Những bất trắc của dân chủ trong một xã hội vừa thoát ra khỏi phong kiến và thực dân dĩ nhiên nhiều hơn so với đời sống dân chủ tại các quốc gia tiên tiến. Các nhà lãnh đạo miền Nam vừa không có nhiều thời gian và cũng vừa không có khả năng làm sáng lên chính nghĩa quốc gia mà nhân dân miền Nam đang chiến đấu. Với chính sách giáo dục tuổi trẻ vụng về, các nhà lãnh đạo miền Nam đã để không ít thanh niên miền Nam có nhiệt tình yêu nước nhưng không biết Cộng sản là gì, về phía bên kia. Một nhạc phẩm được viết ra chưa hẳn có một dụng ý chính trị gì nhưng bên nào hát trước thì tự nhiên bản nhạc, nhiều khi cả nhạc sĩ, như thuộc về bên đó.

Phê bình bao giờ cũng dễ hơn cảm thông, tha thứ và xây dựng. Tôi chỉ muốn thưa, mặc dù không ai có thể thay đổi quá khứ nhưng vẫn có thể thay đổi cách nhìn của chúng ta về quá khứ, từ đó can đảm thay đổi cách nhìn về tương lai.

Nhà thơ Tiêu Dao Bảo Cự trong bài viết “Ðọc thơ Ðông Trình, suy nghĩ về văn nghệ, chính trị và sám hối” nhấn mạnh đến sám hối. Tôi đồng ý với điều anh viết: “Sám hối phải có cắn rứt lương tâm, phải đau đớn, tiếp đến có ý thức và hành động chuộc lỗi. Sám hối đó mới có giá trị tích cực. Sám hối không phải chỉ tự đấm ngực và cầu xin tha tội. Sám hối là dấn thân vào cuộc đấu tranh chống lại sự hèn nhát, yếu đuối, sai lầm của bản thân, chống lại thế lực của sự ngu si, cuồng tín, tàn bạo đã tạo ra tội ác.”

Cũng trong bài viết, anh trách những nhà thơ, nhà văn cùng thời của anh “Có bao giờ còn thao thức như những “đêm không ngủ” năm nào, dù tình hình hiện nay có nhiều chuyện không khác xưa bao nhiêu và những bài hát cũ của các anh hát lên bây giờ cũng hoàn toàn phù hợp.” Thưa anh, tình hình không khác nhưng lòng người đã đổi khác rồi. Đừng kỳ vọng gì nơi họ. Nhiệt tình của tuổi hai mươi trước những bất công của xã hội thường đến nhanh và ra đi cũng nhanh như khi đến. Bầu máu nóng thanh niên nguội dần theo hoàn cảnh, thời gian và tuổi tác, chỉ có trong những người có lý tưởng nhiệt huyết mới không lạnh, tuổi trẻ mới không tàn. Khác với anh Trần Vàng Sao, anh không bị lộ, không bị ai tố cáo, anh có thể tiếp tục sống một cuộc sống thảnh thơi, an nhàn của một cán bộ văn hoá, nhưng anh không thể tự lừa dối chính mình, anh đã từ chối cái thảnh thơi giả tạo để tiếp tục cuộc hành trình được hun đúc từ thời tuổi trẻ. Hoàn cảnh ngày nay có khác, đối tượng cũng khác nhưng mục đích tự do, dân chủ, ấm no cho dân tộc vẫn giống như xưa. Tôi kính trọng anh vì anh là người có lý tưởng, đã vượt qua những tự ái, mặc cảm riêng tư để sống cho cái chung của đất nước. Sau 30 năm, trong lúc hầu hết bạn bè cùng đi với anh, dù biết mình sai, vẫn chọn đứng về phía chế độ để được vinh thân hay cắn răng chịu đựng để được sống bình an, anh đã cất lên tiếng nói. Tiếng nói của anh vô cùng cần thiết cho đất nước và nhất là cho các thế hệ trẻ hôm nay.

Chị Đặng Thuỳ Trâm chết, anh Nguyễn Văn Thạc cũng đã chết, anh Trần Vàng Sao bị khinh khi hành hạ như một tên tử tù thời phong kiến, anh Tiêu Dao Bảo Cự sống trong đày ải, trù dập triền miên hơn chục năm qua. Tất cả đều từ lòng yêu nước và nghĩ vì mình đã phục vụ, đã hy sinh cho tổ quốc.

Chúng ta nghe quá nhiều người nói về tổ quốc và lòng yêu nước, nhưng nếu hỏi họ một định nghĩa về tổ quốc và tổ quốc sẽ về đâu, tôi tin câu trả lời có thể không giống nhau và thậm chí mỗi người còn chỉ về mỗi hướng. Với anh Thạc, chị Thuỳ Trâm, đã quá trễ cho câu trả lời nhưng qua nhật ký của họ tổ quốc đích thực vẫn là nơi mà họ chưa được may mắn thấy. Tổ quốc của nhà thơ Trần Vàng Sao mà anh viết trong thơ là nơi:

Bữa ăn nào cũng phải được no

Mùa lạnh phải có áo ấm

Được nói cười hát ca yêu đương không ai cấm

Được thờ cúng những người mình tôn kính

Hai mươi năm cuộc đời chưa khi nào định.

(“Bài thơ của một người yêu nước mình”, Trần Vàng Sao)

Rõ ràng, tổ quốc, nơi con người có quyền được ăn no, mặc ấm, hát bài ca họ thích, thờ cúng những người họ tôn kinh mà anh mơ 40 năm trước không phải là nơi anh đang sống.

Và vì thế, sau bao nhiêu năm, trên con đường Nam Bắc hôm nay nhiều người Việt yêu nước vẫn còn đang đi tìm tổ quốc, một tổ quốc.

Trần Trung Đạo

trích trong tuyển tập Khi Bài Hát Trở Về

Nguồn: Facebook Trần Trung Đạo

Nhà ảo thuật biến Có Thành Không và câu chuyện nước Vệ

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2011/09/27 at 07:48


Nhà ảo thuật gia lừng danh thế giới trình diễn một màn đặc sắc, có một không hai. Đó là bên xứ  Cờ Hoa có một bức tượng nữ thần Tư Do rất lớn. Trước mắt bao nhiêu khán giả, nhà ảo thuật làm tượng Nữ Thần cao hàng trượng, nặng hàng vạn vạn cân ấy biến mất.

Thiên hạ ai cũng lè lưỡi,lắc đầu khen là kỳ tài trong thiên hạ. Nhưng riêng có một người nhỏ bé, tóc đen, mắt đen xem cảnh ấy chỉ cười nhếch mép. Người bên cạnh mới hỏi.

– Ông xem mà không thấy tài giỏi đến lạ lùng sao ?

Người nhỏ bé, tóc đen nói.

– Chuyện thường, đây là phép Biến Có Thành Không, những việc như thế quan lại nước tôi từ hàm lý trưởng trở nên cũng dễ dàng làm được. Từ một miếng đất, ngồi chùa chỉ nhoáng cái là không còn nữa , các loại tài sản chung như bức tượng này ở nước tôi biến mất hàng ngày. Mà chúng đã biến là không bao giờ trở lại.

Người kia phục lắm, mới vái dài.

– Thật là xứ sở lắm anh tài phép thuật cao siêu, ở đây chỉ tài sản chung như bức tượng kia chỉ biến đi vài giây là thiên hạ nể vì lắm rồi.

Người tóc đen khoa tay cắt ngang.

– Thế có gì là ghê gớm , còn phép Biến Không Thành Có nữa cơ.

Người nghe kinh hãi, thán phục đến muôn phần bèn hỏi.

– Có biến thành không đã là ghê, không có tí gì mà biến thành có thì dân chúng tôi chưa nghe thấy bao giờ.

Người tóc đen nhìn quanh, kẻ kia biết ý vội kéo cái ghế cho hắn ngồi, đoạn đưa trầu thuốc ra mời. Bấy giờ an tọa vững vàng, người nhỏ bé tóc đen đằng hắng chậm rãi nói.

– Phép biến không thành có thì nhiều,để cai trị đất nước  chúng tôi thường dùng phép ấy. Tức là biến kẻ không có tội thành có tội, khiến kẻ ấy điêu đứng ,phải làm tấm gương cho những đứa khác nhìn mà phải e sợ. Ví dụ nước tôi người ta thường hay mang chiếc áo có hàng chữ ủng hộ ngư dân. Triều đình chúng tôi kết tội chúng là bọn phản loạn.

Người kia ú ớ.

– Sao mà kết tội được.

Người tóc đen nói.

– Thế mới cần đến phép biến không thành có, này nhé đầu tiên chúng tôi phái công sai cứ đi theo kẻ mặc áo đó. Ba hoặc bốn công sai ngày đêm quan sát kẻ mặc áo đi đâu, làm gì. Đi nửa kín, nửa hở, ra vẻ theo dõi bí mật nhưng lại đôi lúc làm bộ vô tình cho kẻ ấy thấy công sai đang theo sát. Kẻ ấy trong lòng lúc đầu còn vững vàng nghĩ mình không làm gì sai trái, nhưng lâu ngày bị  theo dõi, tâm thần bắt đầu bấn loạn, tự nghi hoặc là chắc cái áo này có vấn đề gì mới gây chú ý của triều đình. Trong khi các công sai theo dõi, đứng rình rập quanh nhà thỉnh thoảng lộ cho hàng xóm chung quanh nhà kẻ ấy là công sai triều đình đang dò la. Rồi cứ theo phép ấy hàng xóm bạn bè kẻ ấy thế nào cũng phải nghĩ, chắc tên ấy phạm tội gì chứ đó. Khi thiên hạ bắt đầu hoài nghi tên ấy có tội, lúc này chúng tôi sẽ cho người mang giấy triệu áp tải tên ấy lên phủ quan. Ở phủ quan công sao hỏi tên ấy về những ngày mặc áo thì đi những đâu, làm những gì. Nếu tên ấy phản ứng thì công sai sẽ từ tốn giải thích- Chúng tôi không nói anh có tội, mà mời anh lên để làm rõ sự việc, anh phải có trách nhiệm hợp tác giúp đỡ triều đình. Cứ thế công sai nước chúng tôi cứ theo dõi, chốc lại triệu lên hỏi, rồi đến chỗ làm của hắn hỏi chủ hắn, đồng nghiệp hắn là hắn mặc áo để làm gì, đành rằng ủng hộ ngư dân, nhưng cần phải làm rõ hắn đi đâu, mặc áo vào ngày nào, đến chỗ làm nói gì… cứ kiên trì gây dư luận về chiếc áo như thế. Rồi một ngày chúng tôi cho người đóng giả làm bọn phiến loạn tung hô cái áo ấy là biểu tượng chống sự hèn nhát của chính quyền, không bảo vệ ngư dân, hãy đứng lên lật đổ chế độ.

Người nghe rụng rời thốt.

– Nếu thế kẻ mặc áo là tay trong , là nội gián à ?

Người tóc đen gật đầu

– Chính thế, liệu kẻ ấy cãi thì ai tin là hắn không có tội.

Người nghe hỏi.

– Anh ở xứ nào mà lắm chuyện quái dị như vậy.

Người kia nói

– Tôi ở nước Vệ, vì nước tôi lắm chuyện kỳ dị như vậy, nên dân gian mới có tập Đại Vệ Chí Dị để chép lại những chuyện kỳ quái mà ít nơi nào có được.

Nguồn: Facebook Người Buôn Gió

Ai trả học phí cho các con ông Dũng?

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2011/09/23 at 23:28

Theo tin từ nước Anh, vụ án liên quan tới việc trả học phí cho Lê Đức Minh, con trai ông Lê Đức Thúy đã được đưa ra xét xử. Doanh nhân người Anh, Bill Lowther, 71 tuổi, cựu giám đốc của một công ty có trụ sở tại London, liên doanh với công ty Úc châu Securency, đã bị cơ quan chống hối lộ của Anh buộc tội. Trong phiên tòa dự diễn ra hôm 20 tháng Chín, doanh nhân này được nộp tiền thế chân để tại ngoại trong khi quá trình điều tra vẫn tiếp tục.

Cơ quan chống tham nhũng của Anh xác nhận rằng, Bill Lowther đã đứng ra dàn xếp một chỗ học cao học cho con ông Thúy ở Đại học Durham và sau đó trả học phí cho anh ta trong thời gian học, tức 2 năm 2003 và 2004.

Đó cũng là thời gian mà cha của Minh là ông Lê Đức Thúy giữ chức vụ Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Trên cương vị này, năm 2003, ông Thúy đã dành hợp đồng tin tiền Polymer cho công ty Úc có tên là Securency. Cuộc điều tra của cảnh sát Úc cũng cho biết, Securency thông qua công ty trung gian do Lương Ngọc Anh -một đại tá tình báo công an, có quan hệ thân thiết với 2 ông Lê Đức Thúy và Nguyễn Tấn Dũng – làm giám đốc, chi trả khoảng 12 triêu Úc Kim cho việc chạy hợp đồng.

Năm 2007, thủ tướng Dũng đã ký quyết định bổ nhiệm ông Thúy vào chức vụ Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia và ông Thúy ở cương vị này cho tới khi về hưu vào tháng Tư vừa rồi.

Tính đến nay, phía Úc đã bắt giữ 7 viên chức liên quan và nhiều lần nêu đích danh một số quan chức Việt Nam dính líu trong vụ việc này.

Vụ án đã được báo chí hải ngoại đăng tải nhiều lần, với các tình tiết liên tục cập nhật, nên xin không đề cập sâu thêm nữa.

Chuyện con cái quan chức cỡ bự đi du học, có người khác trả tiền đã được xì xầm lâu nay trong xã hội Việt Nam, tuy báo chí trong nước không dám đề cập tới. Câu hỏi được đặt ra là, ai đã trả học phí cho các con ông Dũng?

Thủ tướng Dũng có 3 con.

Nguyễn Thanh Nghị. Ảnh On the net

Nguyễn Thanh Nghị sinh năm 1976, hiện là Ủy viên Dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh.

Tốt nghiệp đại học kiến trúc Tp. HCM, ít năm sau, Nghị sang Mỹ học tiến sĩ. Năm 2006 Nghị bảo vệ xong tiến sĩ ngành Kỹ sư công chính tại Đại học George Washington, Hoa Kỳ.

Như vậy Nguyễn Thanh Nghị cũng theo học tiến sĩ ở Mỹ vào khoảng thời gian cùng với Minh, tức 2003- 2006.

Con thứ hai của thủ tướng Dũng là Nguyễn Thanh Phượng, hiện là chủ tịch Hội đồng quản trị một quỹ đầu tư VietCapital với số vốn khoảng trăm triệu đô la. Nguyễn Thanh Phượng sinh năm 1981, tốt nghiệp đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội năm 2002, sau đó học thạc sĩ Quản trị Kinh doanh (MBA) tại Đại học quốc tế tại Geneva, Thụy Sĩ. Tra cứu cả 2 tên  “International University in Geneva” và “University of Geneva” đều không thấy tên cô, nên không rõ cô đã theo học trong thời gian cụ thể nào và ở trường nào.

Nguyễn Thanh Phượng và Nguyễn Bảo Hoàng. Ảnh On the net

Có thể tính như sau, vào năm 2006 Phượng làm cho tập đoàn Holcim của Thụy Sĩ và sau đó là phó giám đốc tài chính của công ty liên doanh giữa Holcim và một doanh nghiệp ở Kiên Giang mà gia đình cô có ‘mối liên hệ mật thiết’. Khi đi làm, Phượng đã tốt nghiệp MBA rồi. Như vậy Thanh Phượng đi học cao học cùng thời gian với Lê Đức Minh và Nguyễn Thanh Nghị, khoảng năm 2003-2005, 2006 gì đó. Năm 2008, Phượng  lấy Nguyễn Bảo Hoàng, một Việt kiều Mỹ, con của cựu quan chức Việt Nam Cộng Hòa.

Người con thứ ba của ông Dũng là Nguyễn Minh Triết. Trước khi đi chi tiết về Triết, xin lòng vòng một chút.

Cách đây chừng vài năm, một sinh viên Việt Nam theo học ở Anh quả quyết rằng, anh ta học cùng với con trai thứ 3 của thủ tướng Dũng là Nguyễn Minh Triết. Lúc đó người viết  đã nhất định không tin và cho rằng cậu ấy nhầm, Nguyễn Tấn Dũng chỉ có 2 con thôi. Nhưng những tra cứu trên Internet sau đó đã cho thấy, đương kim thủ tướng Dũng có cậu út tên Nguyễn Minh Triết.

Chuyện ông Dũng có đứa con thứ ba là không bình thường với một nước áp dụng rất ngặt nghèo việc sinh đẻ có kế hoạch, nhất là với cán bộ trong bộ máy nhà nước. Những người vì lý do gì đó, sinh con thứ 3 đều bị kỷ luật từ khiển trách, hạ bậc lương cho tới khai trừ đảng và đều gặp trở ngại trên con đường thăng tiến.

Người anh họ của tôi ở Hà Nội, có 2 con gái, chỉ vì sức ép của gia tộc, muốn có thằng cu ‘chống gậy’ đã lặng lẽ sinh thêm con thứ 3. Anh phải bày mưu tính kế, khi bụng vợ lùm lùm liền đưa về quê sinh nở, gần năm sau mới lên. Đứa con trai mới sinh anh cũng không dám hé răng kể với ai. Vậy mà vài năm sau, lúc ngấp nghé ghế viện trưởng thì chuyện của anh bị bại lộ. Vậy là ‘xôi hỏng bỏng không’, anh phải xin ra khỏi đảng và từ trưởng phòng bị giáng xuống phó phòng. Tất nhiên, cái ghế viện trưởng đã có kẻ khác ngồi thay.

Không biết thủ Dũng đã ‘lách luật’ kiểu gì, để nếp tẻ đề huề mà vẫn có cậu thứ 3 và còn ngồi ở vị trí đỉnh cao quyền lực ở Việt Nam tới 2 nhiệm kỳ?

Theo bạn sinh viên nọ, Triết sang Anh học từ bậc phổ thông, sau đó học tiếp lên đại học tại Anh. Một nguồn tin khá tin cậy cho hay, năm ngoái Triết đã về bộ Quốc Phòng, được bổ nhiệm vào một vị trí rất ‘thơm tho’.

Như vậy, trong cùng một thời gian, ông Dũng nuôi 3 đứa con ăn học ở nước ngoài, một ở Mỹ, một ở Thụy Sĩ và con thứ 3 học phổ thông và đại học tại Anh.

Lương của thủ tướng Việt Nam là bao nhiêu?

Ở một nước dân chủ, lương tổng thống, thủ tướng hay các vị bộ trưởng đều được công khai. Nhưng ở nước ta, đó là ‘bí mật quốc gia’. Léng phéng làm lộ ‘bí mật quốc gia’ có thể đi tù như chơi.

Thử tìm hiểu qua Google cho kết quả như sau:

Phó thủ tướng Vũ Khoan khi tới thăm Công ty sữa Việt Nam đã phát biểu, lương thủ tướng Việt Nam thua lương công nhân. Nguyên văn: “Các bạn nghĩ rằng lương của tôi đuợc bao nhiêu? Mới đây, tôi có đi thăm Cty sữa Việt Nam, hỏi chuyện anh em công nhân mới hay là lương của mình còn thua lương anh em. Dẫu sao, tôi cũng thấy mừng vì chuyện này...”

Ông Vũ Khoan cũng nói thêm: “Tôi biết lương của các nguyên thủ nước ngoài rất cao, như lương của Thủ tướng Singapore cao hơn mấy lần so với lương Tổng thống Hoa Kỳ. Thế nhưng quan điểm của Chính phủ chúng tôi là một viên chức Nhà nước không thể hưởng lương quá cao so với những người đã hy sinh xương máu của mình vì sự độc lập và thống nhất của tổ quốc”.

Cách đây vài năm, cộng đồng mạng có cuộc tranh luận xung quanh mức lương của thủ tướng Việt Nam, nhưng không ai có câu trả lời cụ thể. Mức lương nguyên thủ quốc gia ở Việt Nam vào khoảng 3,8 triệu đồng, ở thời điểm năm 2005. Từ đó tới nay, lương cơ bản đã được điều chỉnh vài lần nhưng có lẽ không thể quá 10 triệu. Chắc chắn, không ai có thể ăn học nổi ở nước ngoài với khoản tiền ấy.

Vậy ông Dũng đã dùng tiền ở đâu để cùng lúc chi trả cho 3 con ăn học ở nước ngoài. Nếu không phải là ông, thì ai, công ty nào, doanh nghiệp nào đã trả những khoản tiền này?

Khi nhậm chức năm 2006, ông Dũng cũng đồng thời giữ chức vụ Trưởng ban chỉ đạo Trung ương Chống tham nhũng.

Trong 5 năm qua, dưới sự chỉ đạo của ông, không có một vụ tham nhũng lớn nào được phát hiện. Những vụ như PCI hay in tiền polymer đều do các nước có liên quan điều tra ra và Việt Nam hết sức lừng khừng trong việc hợp tác.

Chỉ số tham nhũng ở Việt Nam, theo đánh giá của Tổ chức Minh bạch Quốc tế vào tháng 10 năm ngoái, ở mức 2,7 trên thang điểm 10 và Việt Nam là một trong số những nước xếp hạng chót.

Có lẽ không quá khó hiểu, tại sao việc chống tham nhũng của Việt Nam lại lẹt đẹt như vậy. Thử điểm qua tài sản của gia đình ông Trưởng ban qua từ khóa “tài sản Nguyễn Tấn Dũng“, cũng có thể thấy ti tỉ thứ; từ nhà thờ họ to như cái đình, hãng taxi, bệnh viện, ngân hàng, dự án đất đai, cho tới cây xăng.v.v. Trưởng ban TW chống tham nhũng nuôi 3 con ăn học nước ngoài và sở hữu khối tài sản lớn như vậy, thì liệu ông có thể chống ai, chống cái gì, chống ra sao?

Tất nhiên, chẳng có gì để kiếm chứng những thông tin này, trừ khi một cuộc cách mạng hoa Nhài, hoa Sen nào đó xảy ra thì người ta mới có thể biết được tương đối chính xác  con số đó. Nó là bao nhiêu triệu/ tỉ đô- la?

Nhưng có điều chắc chắn là, ở một nước nghèo, thu nhập bình quân đầu người xấp xỉ mức 1000 đô-la/năm, thì sự giầu có bất thường của giới quan chức không phải là một dấu hiệu lành mạnh.

Và, dù ông Dũng tự trả tiền ăn học cho 3 con, hay ai đó đã ‘giúp’ ông thì đó đều là những đồng tiền bất minh.

© Đàn Chim Việt

Tưởng Năng Tiến – Hiến pháp & đồng hồ

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2011/09/22 at 14:59

Cứ mỗi lần sửa Hiến Pháp là người dân lại thêm một lần hi vọng.
Nguyễn Hà

Nguồn: Đàn Chim Việt

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, tôi bỗng trở thành một thằng vô cùng rảnh rỗi. Rảnh, tôi hay đi lang thang cho nó qua ngày. Có chiều, tôi thấy một anh bộ đội vội vã buớc vào một tiệm sửa đồng hồ, với vẻ khẩn trương:

– Cái này tôi vừa mua hôm qua, còn mới nguyên, vậy mà hôm nay đã… hỏng. Mà loại không nguời lái đấy nhá. Cứ phải lắc lắc, đến mỏi cả tay, cái kim giây cũng chỉ nhúc nhích vài nấc rồi đứng.

Ông thợ chỉ mới nghe chứ chưa nhìn, đã lắc lắc đầu quầy quậy:

– Chịu thôi!

– Cố giúp cho đi, bao nhiêu là năm lương của tôi đấy, không phải ít đâu. Đây là món quà mà bố tôi vẫn ao uớc mãi…

Sự chân thật và vẻ khẩn khoản của ông khách khiến người thợ mủi lòng:

– Anh mua nhằm đồ rởm rồi.

– Giả à?

– Tui ngó qua là biết liền đồng hồ giả mà.

– Thôi chết! Thế bây giờ phải làm sao?

– Dục bà nó đi chớ đồ giả mà làm sao sửa đuợc, cha nội?

Anh lính trẻ ngớ ra một chút, rồi thẫn thờ quay buớc, mặt buồn thiu. Nguời thợ sửa đồng hồ (ái ngại) nhìn theo, trông cũng buồn không kém. Còn tôi, tôi cũng… buồn luôn!

Rõ ràng, tôi thuộc diện… buồn theo. Không những chỉ buồn theo mà (không chừng) tôi dám còn là nguời buồn nhất – dù ngay lúc đó tôi chưa biết vì sao mà khi khổng khi không mình lại buồn quá mạng, và buồn thảm thiết!

Rất lâu sau, có hôm, tôi đuợc nghe ông Phùng Quán kể chuyện “Đầu Năm Xông Đất Nhà Thơ Tố Hữu.” Trong buổi tương phùng (muộn màng) này, Tố Hữu cao hứng đọc một bài thơ tứ tuyệt mới nhất của ông:

Có anh bộ đội mua đồng hồ
Thiệt giả không rành anh cứ lo
Đanh hỏi cô nàng, cô tủm tỉm:
“Giả mà như thiệt khó chi mô!”

Theo nguyên văn lời của Phùng Quán: “Nhà thơ đọc lại lần thứ hai, nhấn mạnh từng từ một. Khách khứa nghe cung đều cuời tủm tỉm, nhưng không ai bình luận gì hết. Tôi thì đoán họ đều như bị hẫng.”

Tôi cũng bị “hẫng” luôn. Vẫn nói theo ngôn ngữ đương đại thì tôi thuộc diện… hẫng theo. Và nói tình ngay thì tôi hẫng lắm. Không chừng, tôi lại (dám) là nguời… hẫng nhất!

Tôi bỗng nhớ đến cái cảm giác hụt hẫng mà mình đa trải qua – khi nhìn nét mặt buồn ruời ruợi của anh lính trẻ, thất thểu buớc ra khỏi tiệm sửa đồng hồ – vào một buổi chiều buồn, hơn hai mươi năm truớc.

Lúc ấy, tôi mới chỉ mơ hồ cảm nhận đuợc là có cái gì không ổn trong cuộc chiến khốc liệt (vừa tàn) trên đất nuớc mình. Sao chung cuộc, kẻ chiến thắng (nếu còn sống sót) chỉ nhận đuợc những chiến lợi phẩm, nhỏ bé và thảm hại – chỉ là một cái đồng hồ – đến thế? Đã thế, dân chúng ở vùng địch tạm chiếm lại còn “trao tặng” cho những chiến sĩ giải phóng quân toàn là… của giả!

Sau khi nghe chuyện Tố Hữu đọc thơ, và hình dung ra nụ cuời “tủm tỉm” của cô hàng (cùng nét mặt láu cá của tác giả) tôi chợt nghĩ thêm rằng: chả riêng gì cuộc chiến “giải phóng” miền Nam, tất cả những gì thuộc về (cái được mệnh là) “cách mạng” ở Việt Nam –  vào thế kỷ qua – đều có cái gì đó rất là không ổn, hay nói chính xác hơn là… không thật!

Và sự thật (nghĩa là sự giả trá) đuợc phơi bầy rõ nhất qua Hiến Pháp của đất nước này. Ngày 7 tháng 9 năm 2011, ông tân Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng – kiêm Chủ Tịch Ủy Ban Sửa Đổi Hiến Pháp 1992 – long trọng tuyên bố:

“Việc nghiên cứu, sửa đổi Hiến pháp 1992 phải trên cơ sở kế thừa và tổng kết cả quá trình thực hiện Hiến pháp 1946 kết hợp với các bản Hiến pháp qua các thời kỳ; phù hợp với tình hình đất nước trong giai đoạn cách mạng mới trên tinh thần tất cả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh.”

Nguồn: Đàn Chim Việt

Tôi đã có lần nghe ông Vi Đức Hồi buột miệng khen:”Đảng nói nghe cứ như hát vậy.” Ông Nguyễn Sinh Hùng quả đã không làm hổ danh của đảng (mình) trong chuyện hát ca. Năm trước, vào ngày 12 tháng 6, trong tuồng “Dự Án Đường Sắt Cao Tốc,” ông hát tỉnh queo:

“Với đà tăng trưởng hiện nay, đến 2020, GDP sẽ đạt gần 300 tỷ USD; 2030 là 700 tỷ USD; 2040 đạt 1.200-1.400 tỷ USD và đến 2050 sẽ gấp đôi số đó. GDP bình quân đầu người đến 2050 dự kiến lên 20.000 USD, thay vì mức hơn 1.000 USD hiện nay. Nếu cứ lấy ngưỡng an toàn vay nợ là 50% GDP, đến 2020, Việt Nam có thể vay 150 tỷ mà vẫn an toàn… Với mức vay nợ như vậy, chúng ta có thể làm được… Tôi yên tâm. Yên tâm rằng phải làm…”

Gần hai tháng sau, vào ngày 4 tháng 8, qua một vở tuồng khác (“Vinashin Vỡ Nợ”)  ông ca nghe cũng mùi không kém:

“Tình hình (của Tập đoàn Vinashin) hiện nay vẫn trong tầm giải quyết và năng lực của ta, chưa tuột khỏi tay ta, nên nếu để Vinashin phá sản thì ta lại phải dựng lên một ngành công nghiệp tàu thuỷ mới. Vì thế Chính phủ xác định rõ chủ trương phải quyết tâm xây dựng lại …năm 2015 sẽ có một Vinashin mới.”

Người Việt có câu “một tấc đến Giời.” Riêng với những người cộng sản, kiểu như ông Nguyễn Sinh Hùng, thì Giời chưa chắc đã cao đến … một tấc. Bởi vậy, việc sửa đổi hiến pháp trên “trên tinh thần tất cả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh”– do ông lãnh đạo – kể như chỉ là chuyện nhỏ!

Chỉ có điều đáng tiếc là cái mịêng leo lẻo (thiếu tâm và thiếu tầm)  của ông Hùng không thuyết phục được ai. Trước khi Ủy Ban Dự Thảo Sửa Đổi Hiến Pháp 1992 mở phiên họp đầu tiên, ông Huy Đức đã có lời dự báo không được lạc quan cho lắm:

“Quyền sửa đổi Hiến pháp 1992 chưa thuộc về nhân dân mà đang ở trong tay Đảng Cộng sản Việt Nam, thay vì kiến tạo một nhà nước pháp quyền (rule of law), bản Hiến pháp mới chỉ có thể là bộ luật cơ bản để tiện bề “quản lý” (rule by law).”

….

“Cho dù tiếp tục giữ quyền viết Hiến pháp thì Đảng cũng hãy vì sự thịnh vượng của quốc gia mà chia sẻ bớt quyền lực cho nhân dân. Đừng nghĩ là tình hình chưa đủ xấu… Nên nhớ là những cuộc nổi dậy thường bắt đầu từ những uất ức của người dân trước những bất công chứ không phải từ những trí thức đang lên tiếng nhằm thức tỉnh chính quyền. Thay vì đào những đường hầm để thoát thân khi có biến như Gaddafi, ngay bây giờ hãy khai thông các lối ra cho toàn dân tộc.”

Và ngay sau phiên họp này, ông Nguyễn Hà đã đưa ra nhận xét rất bi quan:

“Nhìn sơ qua Ủy ban sửa đổi Hiến pháp lần này, có thể thấy rằng đa số – nếu không muốn nói là tất cả – đều là viên chức nhà nước, không có đại diện của các đoàn thể hay đảng chính trị, mà nếu có cũng là viên chức của nhà nước. Có thể thấy, giới luật gia, luật sư, và thành phần trí thức ngoài xã hội – những nhân tố cực kì quan trọng, để góp ý kiến cho việc sửa đổi Hiến pháp đều không hiện diện trong Ủy ban này…”

“Dân chỉ có thể tin khi dân được biết và được hỏi ý kiến về những chuyện liên quan mật thiết đến cuộc sống hằng ngày của họ: từ chuyện chống tham nhũng đến chuyện quản lý các doanh nghiệp nhà nước, cho nước ngoài thuê đất, thuê rừng, đến chuyện ngoài hải đảo xa xôi… Dân khó tin khi quan chức nói một đằng làm một nẻo, rất khó tin khi tham nhũng vẫn tràn lan…”

Từ thành phố Tam Kỳ, Quảng Nam, bà Huỳnh Thục Vy cũng có “Vài Suy Nghĩ Về Việc Sửa Đổi Hiến Pháp” bi quan không kém:

“Sự thay đổi, sửa đổi chóng vánh và chắp vá chỉ thể hiện một điều là người ta muốn đối phó tình thế, thiện chí giả tạo và xoa dịu những căng thẳng bề nổi hơn là thực tâm thúc đẩy tiến bộ. Hơn nữa, việc thay đổi tùy tiện đối với một văn bản có tầm quan trọng như thế của những người cộng sản trong bao nhiêu năm qua  làm cho ta thấy thái độ coi thường Hiến pháp của họ. Đối với họ, Hiến pháp không phải là  bản cam kết, mà chỉ là cái công cụ trong tay, muốn định đoạt thế nào tùy nghi. Và sự thiếu vắng tiếng nói đóng góp của các tầng lớp dân chúng cũng nói lên rất nhiều cái vai trò mờ nhạt, mang tính danh nghĩa của định chế quan trọng này ở Việt Nam.”

“Thật buồn cười khi một việc tốn nhiều thời gian, tâm sức chuyên gia và công quỹ quốc gia, chẳng mang lại sự thay đổi và hiệu quả cụ thể nào lại cứ được truyên truyền và liên tục thực hiện. Tiền thuế của dân đâu phải được nộp để các nhà lãnh đạo thỉnh thoảng mang Hiến pháp ra đổi Hiến pháp mới, hay sửa lại cho có công có việc mà làm!”

Tui thì còn bi quan hơn nữa, và không chừng tui dám là người bi quan nhứt đám. Cứ mỗi lần nghe đến nhà đương cuộc Hà Nội rục rịch chuyện sửa đổi hiến pháp là tôi lại nhớ đến mẩu đối thoại mà mình nghe được ở tiệm sửa đồng hồ, vào ngày 30 tháng 4, hơn 30 năm trước:

– Dục bà nó đi chớ đồ giả mà làm sao sửa đuợc, mấy cha!

© Tưởng Năng Tiến – RFA’s blog

15 Ngự Lâm Pháo Thủ Sài Gòn

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Việt Nam on 2011/09/19 at 14:35

Thanh niên yêu nước Sài Gòn sáng tạo biểu tình thầm lặng trong mưa (Nguồn: Dân làm báo)

Nguyễn Nghĩa650 (danlambao) – Đây là 15 chữ mang tinh thần “Sát Thát”, mà hơn 700 năm trước hàng triệu người dân Việt thích lên cánh tay mình, 15 chữ của bản hùng ca “Hịch chống bành trướng Trung Quốc”, “Hịch đòi Hoàng Sa, Trường Sa”.

Đây là 15 ngọn lửa của một rừng lửa Việt Nam, ngày mai sẽ đốt cháy lũ cướp Biển, cướp Đảo Việt Nam .
Đây là 15 bó đuốc đốt sẽ đốt lên 90 triệu bó đuốc của lòng yêu nước Việt Nam.
Đây là 15 bông hoa thơm ngát của rừng hoa tuổi trẻ Việt Nam.

Tuổi trẻ là sáng tạo. Tuổi trẻ là thông minh.
Truyền đạt tia lửa yêu nước trước hiểm họa bành trướng Biển Đông của Trung Quốc, mà bảo vệ được mình là thông minh tuyệt vời của tuổi trẻ Việt Nam.Hình thức thật sáng tạo. Trời mưa, dùng áo mưa làm băng khẩu hiệu “NO China”.

Công an mật vụ đang dăng hàng chờ người đi bộ xuống đường biểu tình để ra tay, thì ta đi xe máy biểu tình.

Công an mật vụ chờ đợi từ sáng sớm, chiều đến là mệt mỏi, thì chúng ta biểu tình lúc chiều buông.

Ai kiên trì hơn ai?

Xuống đường biểu tình chống bành trướng Trung Quốc thời sau 1975 này, cũng giống như ra trận đánh giặc.

Giặc này là lãnh đạo của nước mình.
Giặc này là nội gián trung hoa.
Giặc này là hảo hảo XHCN.
Giặc này là giai cấp tiên phong.
Giặc này là 16 chữ và 4 tốt.
Giặc này, tên nó là chóp bu cộng sản Việt Nam.

Chúng điều công an mật vụ dầy đặc thì ta chọn chỗ chúng có lực lượng mỏng.
Chúng chờ chúng ta buổi sáng thì ta biểu tình lúc chiều buông.
Chúng cấm ta ra đường thì ta gõ bàn phím dân chủ.
Chúng chờ chúng ta ở Đại sứ quán TQ thì ta ra Hồ Gươm…
Chúng ta không cho họ thóa mạ lòng yêu nước Việt Nam.
Chúng ta quyết lên án bành trướng Trung Quốc đang ngang ngược quyết chiếm Biển Đông.
Chúng ta sẽ nhân rộng các hình thức biểu tình như 15 chàng trai Sài Gòn hôm nay.

HS-TS-VN.

Phó thường dân (12): Nhà em có nuôi một con két …

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Thế giới, Việt Nam on 2011/09/16 at 19:55


Hổm rày đọc mấy bài viết của các blogger tự do trên mạng thì tui thiệt là rầu hết biết. Hổng hiểu sao cho thấu được cái chế độ và luật pháp ở đất nước quê nhà. Mà thôi để tui kể chuyện bên quê người.

Phó thường dân tui ở đây có ông hàng xóm làm nghề thợ điện. Ngày mới dọn vô nhà thì buổi chiều đã nghe có tiếng bấm chuông. Mở cửa ra thì thấy hai vợ chồng ông bà người Mỹ đứng trước cửa ôm cái bánh táo (apple pie) và tấm thiệp trao tặng. Ông bà nói lời chào mừng chúng tôi, người hàng xóm mới. Dần dà cũng gặp nhau đôi lúc khi ra lấy thư ở đầu ngõ. Hai vợ chồng và ba đứa con nói chuyện đàng hoàng, hiền lành, và vui vẻ. Ông ta trông vẻ bình thường cũng như mọi người dân ở đây.

Một hai năm sau đó trong những lần thăm hỏi nhau thì ông ấy đề cập đến việc bản thân ông đi kiện Căn Cứ Tàu Ngầm Hải Quân[1] vì họ không đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin về kế hoạch và phương án phòng ngừa với các rủi ro với đầu đạn nguyên tử trang bị cho tàu ngầm. Cách đây hơn một tháng thì ông thợ điện hàng xóm của tui cho biết là đã sang thủ đô Washington dự phiên xử ở Tối Cao Pháp Viện (Supreme Court) và kết quả là ông ta thắng kiện với tỉ số 8 thuận 1 chống. Đây là một quá trình kiện tụng khá dài của ông từ tiểu bang (state), tới khu vùng (circuit court), và cuối cùng là Tối Cao Pháp Viện.

Tưởng cũng nên nhắc lại ở đây một chút là có chín vị thẩm phán được bổ nhiệm bởi Tổng thống với phê chuẩn từ Quốc hội vào Tối Cao Pháp Viện Hoa-kỳ. Nhiệm kỳ của họ là suốt đời trừ khi họ từ chức vì lý do sức khoẻ hoặc qua đời thì Tổng thống mới bổ nhiệm người thay thế. Với tư thế hoàn toàn độc lập họ tuân thủ bảo vệ hiến pháp tối thượng, giải thích luật theo hiến pháp, và bảo vệ quyền hiến định của người dân. Họ không thiên vị cho bất cứ đảng phái hoặc phe nhóm nào, cho kẻ giàu có hay người nghèo khó.

Quyền hiến định và vốn có (constitutional and inherent rights) của mỗi công dân Hoa-kỳ phải được tôn trọng, đáp ứng. Một trong những quyền này là quyền được biết việc làm của các tổ chức nhà nước vì vai trò của chính quyền là phục vụ người dân. Để công dân biết tất cả các việc làm của chính quyền thì Hoa-kỳ có Đạo luật Tự do Thông tin (Freedom of Information Act) nhằm ngăn ngừa việc các cơ quan hành chánh, tư pháp, lập pháp lạm quyền che dấu thông tin.

Chỉ riêng Nhà Trắng, Bộ Ngoại Giao, Cơ Quan Tình Báo FBI, CIA, và Quốc Phòng có hồ sơ mật (secret) vì lý do an ninh quốc gia (national security) thì rơi vào trường hợp ngoại lệ. Tất cả các cơ quan khác thì không được quyền bảo mật hồ sơ hay tài liệu của mình mặc dù có những văn kiện được xếp hạng là kín (confidential). Ngoại trừ quyền bảo mật các tài liệu kỹ thuật (trade secrets), các công ty tư nhân phải cung cấp các hồ sơ hành chánh nếu có án lệnh của cơ quan nhà nước trong việc điều tra trong các vụ kiện tư nhân hoặc khởi tố.

Nói chung, chỉ các hồ sơ trong dạng dự thảo (draft) có thể phân loại là kín nhưng khi đã hoàn chỉnh và lưu hành (ngay cả khi chỉ trong nội bộ) thì các tài liệu này đều phải được cung ứng nếu có yêu cầu.

Các yêu cầu về thông tin phải được đáp ứng trong khoảng thời gian quy định (không quá 20 ngày). Nếu chậm trễ quá thời hạn thì sẽ bị phạt hành chánh. Người dân chỉ cần trả chi phí bản sao (photocopy) tương đương với giá trên thị trường.

Chuyện đáng nói nữa là không phải bất cứ hồ sơ nào cứ được đóng dấu “Mật”là trở thành tài liệu bí mật. Các hồ sơ đóng dấu mật nhưng không đúng tiêu chuẩn thì cũng phải bị bật mí.

Không phải như ở Việt Nam cứ tự do vô tội vạ đóng dấu mật thì được bảo vệ là mật. Từ phường, xã, huyện, tỉnh, thành phố mạnh anh nào anh đó “ịn” dấu mật để che dấu các quyết định bất hợp pháp. Các hồ sơ, tài liệu, công văn về Vinashin, Bô-xit Tây Nguyên, tiền Polymer đã chôn trong hũ mắm dán giấy mật thì có ai mà khui ra được.

Riêng phó thường dân tui đã từng yêu cầu các các tài liệu liệt vào loại công cộng (public record request) như thế từ Thành phố Seattle. Dĩ nhiên tui đã được cung cấp đầy đủ không rắc rối, phiền hà. Sau khi nhận giấy yêu cầu của dân như tui chẳng hạn thì họ xin thời gian để thu thập và hẹn ngày thuận tiện đến xem xét.

Tụi tui được họ cung cấp tất cả công văn, điện thư, tài liệu liên quan đến đề mục đòi hỏi. Họ cho sử dụng một phòng nhỏ riêng để chúng tôi có thể duyệt qua các hồ sơ và đánh dấu những tài liệu nào cần bản sao. Nếu số lượng bản sao ít hay/và quan trọng thì nhân viên sẽ cung cấp bản sao ngay tại chỗ, còn nếu số lượng lớn thì họ yêu cầu cho thời gian sao chép và gởi bằng bưu điện đến tận nhà hoặc đến lấy sau.

Về vấn đề cư trú, cảnh sát Hoa-kỳ không được quyền vào nhà người dân để khám xét trừ khi có lệnh của toà án. Muốn được lệnh của quan toà, cơ quan cảnh sát phải có bằng chứng rất rõ để thuyết phục ông quan toà viết lệnh khám xét. Không phải cái kiểu nghi ngờ khơi khơi rồi khám xét, dựng chuyện, tạo bằng chứng để kết tội.

Ông quan tòa nào viết lệnh hớ không có bằng chứng thuyết phục sẽ bị báo chí bêu xấu và dân cư tẩy chay không tín nhiệm và không bầu cho nữa, hoặc có thể kiện luôn sở cảnh sát và quan toà. Không có chuyện mời “làm việc” vì người dân chẳng có mắc mớ gì phải làm việc với cảnh sát khi chưa bị truy tố về một tội phạm nào. Cảnh sát nào cứ lảng vảng liên tục theo dõi thì sẽ bị kiện là quấy nhiễu (harassment).

Như thế mới gọi là nhà nước pháp quyền. Mọi người phải tuân thủ luật pháp và mọi người bình đẳng trước pháp luật.

Đó là chuyện quê người. Nhìn lại cái Toà án tối cao của Việt Nam thì ra sao? Theo như lời trong bài “Toà Án (mạo danh) Nhân Dân”[2] thì công lý của TAND thiệt là quá ớn:

Ông Chánh án TATC Trịnh Hồng Dương để lại câu nói lịch sử. “Luật ở Việt Nam xử sao cũng được” và ông chánh án TATC kế tiếp là ông Nguyễn Văn Hiện cũng đi vào lịch sử với câu nói bất hủ: “ngành tòa án thiếu cán bộ trầm trọng phải vơ vét cả lái xe, nhân viên vệ sinh, cán bộ phòng tiếp dân của tòa án đi học nghiệp vụ về để làm thẩm phán”.

Tưởng như nói cà rỡn kiểu “Nhỏ không học lớn làm thẩm phán” nhưng thiệt là trúng phóc.

  • Trong xã hội ở chế độ dân chủ thì Toà Án Tối Cao bảo vệ hiến pháp và quyền lợi của người dân.
  • Trong chế độ độc tài cộng sản Việt Nam thì Toà Án (mạo danh) Nhân Dân Tối Cao bảo vệ đảng ma-phia và bè lũ tội phạm.

Cái nhà nước Việt Nam dưới quyền cai trị của băng đảng tội phạm CSVN lấy luật lệ(nh)[3] đè người vi phạm quyền hiến định của người dân. Dzậy mà lúc nào cũng ra rả cái “nhà nước pháp quyền”. Họ sử dụng công an[4] làm sức mạnh bạo lực trấn áp và dùng luật lệ(nh) với toà án[5] làm công cụ kềm kẹp và trừng trị người phản kháng. Họ dung túng và kết nối với xã hội đen[6] để khủng bố, đe dọa giới bất đồng.

Phó thường dân tui nói tới đây lại nhớ đến chuyện học chính tả ở cấp tiểu học. Học tả cảnh, tả người, tả thú vật v.v… Dzui nhất là bài tả thú vật nuôi trong nhà. Học trò làm biếng nhớt thây như tui thì cứ điền tên con thú nuôi theo sườn bài có sẳn bắt đầu bằng câu “Nhà em có nuôi một con chó/mèo, tên nó là vá/lulu/kiki, lông nó đen/vàng, có đốm/khoanh v.v…” Từ đó đám học trò tiểu học tui đặt ra câu hát vè “Nhà em có nuôi một con chó, sáng nó kêu gấu gấu gấu, trưa nó kêu gầu gầu gầu, tối nó kêu gậu gậu gậu.”

Cứ theo bài viết của cô Tạ Phong Tần[7] và tin tức ở các báo nhà nước thì em Phương Nga[8], phát ngôn viên bộ ngoại giao sẽ được phó thường dân miêu tả bằng câu hát vè “Nhà nước ta có nuôi một con két, sáng nó kêu pháp pháp pháp, trưa nó kêu quyền quyền quyền, tối nó kêu pháp quyền pháp quyền pháp quyền” thì cũng đặng dzậy.

© 2011 Vietsoul:21

[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu – (8) Gió mưa là chuyện của trời … – (9) Vô liêm sỉ – man rợ – (10) Phế-anh-hùng – (11) Luật Lệ(nh) … – (12) Nhà em có nuôi một con két – (13) Cái nhà là nhà của ta – (14) Mèo – thỏ  – (15) phố vẫy … (16) Mít tờ Đàm và Bác Hồ (17) Nín thở qua cầu]


[1] Does Navy depot pose a danger to public?, Seattle Times

[2] Toà Án (mạo danh) Nhân Dân, Dân Luận
Tòa án nhân dân: hoàn thành nhiệm vụ của đảng và các nhiệm vụ chính trị, Dân Làm Báo

[3] Luật Lệ(nh), Vietsoul:21

[4] Sự đê hèn của công an Việt Nam & Tố cáo nhà cầm quyền CSVN vẫn duy trì việc đàn áp, khủng bố tinh thần các con của Lư Thị Thu Trang, Dân Làm Báo

[8] Mới được tin em Phương Nga hót hay, chịu tiếng đời vài năm muối mặt giờ đã thoát kiếp con két/vẹt, lên chức Thứ trưởng Bộ Ngoại Giao