vietsoul21

Bốn mươi năm: Chưa hết tháng Tư

In Cộng Đồng, Chính trị (Politics), Lịch Sử, Liên Kết, Tạp văn on 2015/04/26 at 21:34

Cái rìu thì quên nhưng thân cây luôn nhớ[1]

Ngạn ngữ Phi Châu

 

… những ý nghĩ vụn về bài viết “Bốn mươi năm: Vẫn một tháng Tư” [2]

image

Cách đây hai năm tụi tui có đọc bài “Tháng Tư, và bạn và tôi” của bà Nguyễn Thị Hậu viết cho “chúng tôi”, những người thuộc thế hệ “vùng biên” này. Chúng tôi đã viết bài “Tháng tư, nhớ và quên[3] để đáp lời.

Năm nay, 40 năm hậu chiến, lại một cột mốc thời gian để đánh dấu. Cột mốc càng ngày càng dài hơn thì lòng người càng ngày càng quằn quại hơn nữa. Và bốn mươi năm sau chưa hết tháng Tư cho người bên ni và người bên nớ.

Tác giả bài “Bốn mươi năm: Vẫn một tháng Tư” đã cá nhân hóa sự việc để giảm tầm quan trọng và đưa ra một so sánh khiên cưỡng trật đường rầy.

Nghe thì lọt tai nhưng hoàn toàn sai. Hãy đọc xem:

“Còn người bị phụ tình, dù biết chẳng thể trông đợi điều gì khi người kia đã dứt áo ra đi, vẫn không chịu chấp nhận rằng, mình đã “thua” trong một cuộc tình. Vì vậy cứ trách móc, cứ hận thù, cứ giữ mãi trong lòng những đau đớn và rồi nuôi dạy con cái bằng chính những căm hận đớn đau.[4]

Ngày “Thống Nhất” thì lẽ nào lại so sánh khiên cưỡng như một cuộc tình tan vỡ?

Ngày kết hợp hai miền Nam Bắc có thể so sánh như là một cuộc hôn nhân. Nhưng theo cung cách và phương tiện sử dụng để kết hợp hai miền thì có lẽ phải so sánh như là một cuộc cưỡng dâm rồi ép hôn.

Chẳng phải “Bên thắng cuộc” đã từng huyên hoang tuyên bố “Nhà Ngụy ta ở, vợ Ngụy ta lấy, con Ngụy ta sai[5] như thế sao?

Sau một cuộc cưỡng dâm thì thủ phạm có thể quên, nhưng nạn nhân thì bao giờ cũng nhớ. Nó đã ghi vào người trên từng thớ thịt và tế bào. Rồi mỗi khi có một hành vi hoặc ngoại cảnh nào đó tác động thì ký ức lại tràn ngập, chèn ngạt cuộc sống.

Ai thì sao chúng tôi không biết. Chứ riêng chúng tôi thì không có lòng thù hận cá nhân người lính bộ đội hoặc cá nhân những người miền Bắc vào miền Nam công tác. Chỉ đến khi những tên công an phường, công an khu vực, cán bộ phường xách nhiễu, áp đặt chính sách độc tài, áp bức, thù hằn, o ép, nhồi sọ thì họ tạo ra lòng oán hận. Những người này là bộ mặt đại diện cho đảng csvn. Và lòng thù hận đảng csvn được thể hiện trực tiếp qua những khuôn mặt này.

Chúng tôi không phải là nhà chuyên gia tâm lý để có một lời tư vấn cho nạn nhân rằng hãy quên đi, quên đi cái quá khứ chết tiệt ấy. Chắc chắn lời khuyên “quên đi” là câu nói mà nạn nhân không hề mong đợi để nghe.

“Một ông bác sĩ tâm thần người Do Thái nói với bà đồng nghiệp người Việt là ‘chiến tranh đã qua 35 năm rồi mà sao tụi bay vẫn còn nói tới nói lui hoài.’ Chị bạn tôi trả lời ‘chừng nào người Do Thái các ông không còn nhắc nhở đến Holocaust thì chúng tôi sẽ ngừng nói về cuộc chiến Việt Nam’ (when the Jews no longer talk about the Holocaust then we’ll stop talking about the Vietnam War). Một người Mễ đồng nghiệp khác cũng nói tương tự với chị và chị đã trả lời ‘khi nào ông nói với một thân chủ nạn nhân lạm dụng tình dục là hãy câm miệng và lo sống thì lúc đó chúng tôi sẽ không nói đến cộng sản đã đối xử với đồng bào chúng tôi như thế nào’ (until you tell your patient, a victim of sexual abuse, shut up, move on, then we will not talk about what they have done to our people.)”[6]

Khi nào thủ phạm vẫn thoái thác, lắc léo, và chối phăng thì nạn nhân vẫn ghi nhớ và đòi hỏi công lý nêu danh tội phạm. Người Armenia bị tàn sát bởi Đế chế Ottoman nước Thổ Nhĩ Kỳ một trăm năm sau vẫn nhớ và đòi hỏi đích danh.[7] Người Armenia không nề hà gánh nặng cả 100 năm để nêu tên tội phạm.

Nạn nhân không thể quên khi thủ phạm cưỡng dâm vẫn nhởn nhơ khoe khoang thành tích và cùng lúc lại chối phăng tội phạm.

Nạn nhân không thể quên khi thủ phạm vẫn sỉ nhục họ bằng cả lời nói và hành động.

Họ nói “Tôi nghĩ rằng sau chiến tranh, Việt Nam không có ngược đãi đối với mọi người. Bởi vì chính sách lúc ấy của nhà nước Việt Nam là chính sách hòa hợp dân tộc” , “Thế còn việc tập trung học tập hay cải tạo, tôi nghĩ đấy là để học cho nó rõ chính sách của nhà nước Việt Nam thời bấy giờ. Chứ không có nghĩa là một chế độ tù đầy.[8]

Còn nữa, chưa hết.

Chúng ta là người chủ đất nước, chúng ta đi lên thì không có lý gì bỏ rơi họ trong mặc cảm, tự ti. Họ đã ra đi trong suốt 40 năm qua và luôn mặc cảm, có những hận thù đối với đất nước.”, “Chúng ta đã tha thứ cho kẻ thù của chúng ta là đế quốc Mỹ, thực dân Pháp. Vậy tại sao họ dễ dàng tha thứ cho Mỹ, Pháp mà không nhìn nhận người anh em cùng một bào thai, cùng một dòng máu Lạc Hồng?[9]

Riêng lời khuyên “Nếu luôn chỉ nhìn thấy một phía của quá khứ thì đâu còn đủ bình tĩnh để nhìn thấy hiện tại và tương lai chung của đất nước này.” thì cũng đúng phần nào.

Lẽ thường thì không ai muốn ôm chặt một quá khứ, nhất là một quá khứ đen tối, đau thương để đắm chìm và chết ngộp vì phải chạm mặt phải sống lại nỗi niềm mất mát đau khổ cả. Tuy nhiên, quá khứ luôn được nhắc nhở tưởng niệm vì người Việt tị nạn hiểu thấm thía rằng nhớ, hận hay giận, tự nó, không phải là tâm lý bất thường bịnh hoạn cho dù xã hội và các luồng lực nỗ lực tuyên truyền, đặc biệt hướng về hòa hợp hòa giải kiểu bỏ rọ, muốn họ tự nghi ngờ và thấy kém kỏi để rồi tin vào như thế.

Hơn thế nữa, gần như đa số người Việt tị nạn lúc nào cũng hướng mắt về nước nhà để “nhìn thấy hiện tại”. Càng nhìn vào hiện tại thì họ lại thấy rõ hơn “tương lai chung của đất nước này”.

Ngoài cái vỏ bọc hào nhoáng, rỗng tuếch của công viên vui chơi, tượng đài hoành tráng, công thự nguy nga xây dựng từ tiền viện trợ, mượn nợ, kiều hối, tài nguyên thì bên trong mục rửa nền giáo dục, văn hóa, môi trường. Thời kỳ đồ đểu lên ngôi[10], thời kỳ con ông cháu cha, con cháu các cụ[11], công tử đảng sắp đặt độc quyền, độc đoán, độc hại làm chủ nhân đất nước.

Càng nhìn thì họ càng thấy không có một tương lai (sáng sủa) nào cho một đất nước trước họa tiêu vong.

Nạn nhân chỉ có thể quên đi và lo sống khi đã giải tỏa được tâm lý, tìm được niềm tin, và nhìn thấy tương lai. Nhưng người Việt luôn cảm thấy thế nào?

  • Không giải tỏa được tâm lý do một mặt nhà cầm quyền csvn tung hê những từ rụng rún “khúc ruột ngàn dặm” trong kiều vận, nhưng mặt khác đảng và nhà cầm quyền csvn vẫn ra rả “ngụy quân”, “ngụy quyền” trên báo chí, trong sách giáo khoa, trong bảo tàng lịch sử “tội ác Mỹ – Ngụy”.
  • Không tìm được niềm tin do những đối xử phân biệt theo chính sách lý lịch[12], hành hung, giam giữ tùy tiện những người hoạt động xã hội dân sự về dân quyền và nhân quyền[13], tiếp tục trù dập các tổ chức tôn giáo từ Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Phật Giáo Hòa Hảo[14] Nguyên thủy cho đến Hội Tin Lành Mennonite[15].
  • Không thấy được tương lai vì dân oan[16] mất đất mất nhà không phương tiện mưu sinh, công nhân bị o ép bóc lột[17], sinh viên học sinh thất nghiệp phải đi làm ô sin, cửu vạn nước ngoài, làm gái mại dâm[18], người dân hết đường sống vì chủ trương chính sách sai trái tùy tiện[19], đất đai tài nguyên khắp nơi đất nước bị thế chấp, cho thuê nhượng vô tội vạ[20].

Bà Nguyễn thị Hậu hỏi: “Còn việc hoà giải giữa những người cùng một nước sao lại không bắt đầu từ mỗi người chúng ta? Không lẽ chống lại người ngoài hay hoà giải với người ngoài dễ dàng hơn làm lành với đồng bào mình?

Câu hỏi này nó lại na ná với một câu phát biểu của ông Nguyễn Thanh Sơn, “Chúng ta đã tha thứ cho kẻ thù của chúng ta là đế quốc Mỹ, thực dân Pháp. Vậy tại sao họ dễ dàng tha thứ cho Mỹ, Pháp mà không nhìn nhận người anh em cùng một bào thai, cùng một dòng máu Lạc Hồng?

Phải nói đến bao nhiêu lần để nhà cầm quyền csvn hiểu rằng giữa người dân ba miền và người Việt hải ngoại không cần ai hô hào hòa giải với nhau.

Đã có hàng chục ngàn chuyến bay chở người Việt hải ngoại về Việt Nam hàng năm. Đã có hơn 12 tỷ đô la kiều hối chuyển về bà con quê nhà để giúp đỡ xây dựng cuộc sống của thân nhân. Đã có bao nhiêu tổ chức thiện nguyện vô vị lợi, tổ chức tôn giáo bỏ công bỏ của để xây trường học, thư viện, bệnh xá, cầu đường, chùa chiền, nhà thờ giúp đỡ đồng hương hoạn nạn.

Dù cho đảng csvn có bắt thân nhân của họ và đất nước Việt Nam làm con tin trong cái rọ “Tổ quốc Chủ nghĩa Xã hội” thì người Việt tị nạn hải ngoại vẫn thăm nuôi với tình tự đồng hương và họ hòa hợp với nhau trong tình cảm thiêng liêng đó.

Nhiều gia đình, dòng họ có ông bà, chú bác, con cháu bên hai chiến tuyến đã chia sẻ những mất mát trong cuộc chiến. Thằng Tí thằng Tèo, anh Tám anh Tư, bà Bốn bà Bẩy, chị Hai chị Ba nếu có xích mích thì hàng xóm họ đã tự giải hòa hoặc nhờ người thông giải. Cá nhân họ có xích mích nhau không hòa giải được thì cũng chẳng ảnh hưởng gì đến ai ngoại trừ đương sự. Chuyện có lớn hơn thì nhờ pháp luật (cái này thì chưa chắc ở VN có sự xét xử công bằng vì luật ngầm phân biệt người “thân nhân tốt”, gia đình cách mạng, quan chức với đám phó thường dân hoặc “Ngụy”).

Nếu muốn nói tới hòa giải dân tộc thì phải nói là hòa giải giữa nhà cầm quyền và khối người dân Việt Nam qua những đại diện của các tổ chức chính trị, xã hội, hiệp hội thông qua những cơ chế và chính sách.

Nhưng Việt Nam là một nước độc tài toàn trị do đảng cộng sản nắm giữ hết quyền lực, và mọi tổ chức hội đoàn đều nằm dưới cái ô dù Mặt Trận Tổ Quốc hoặc là một cơ cấu ngoại vi của đảng. Ngay cả các tổ chức đúng ra là phi chính phủ (Non-Government Organization) cũng do chính phủ thành lập (GONGO – Government organized Non-Government Organizations) [21].

Thế thì nói hòa giải dân tộc trong một chế độ độc tài cộng sản là nói chuyện với đầu gối.

Chỉ có những quyền lực tương xứng thì mới đủ sức đàm phán, thương lượng, để hòa giải với nhau. Chứ như đám dân quèn chúng tôi thì làm gì nói chuyện hòa giải với đảng, nhà nước csvn. Cá nhân chúng tôi có yêu sách thì cũng chỉ làm dân oan “con kiến mà kiện củ khoai” hay lại phải “xin-cho”, “ơn đảng ơn chính phủ”.

Hòa giải qua nghị quyết 36, qua chỉ thị, qua tuyên truyền làm sao bưng bít được bụng dạ một bồ dao găm.

Hòa giải bằng kiểu cả vú lấp miệng em, miệng quan gang thép, sỉ nhục đối tượng!

Nguyễn Thanh Sơn, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài phán: “Chúng ta là người chủ đất nước, chúng ta đi lên thì không có lý gì bỏ rơi họ trong mặc cảm, tự ti. Họ đã ra đi trong suốt 40 năm qua và luôn mặc cảm, có những hận thù đối với đất nước.”[22]

Không ai hận thù với đất nước cả ông ơi! Ông đừng đánh đồng “yêu tổ quốc (đất nước) là yêu chủ nghĩa xã hội (đảng cộng sản)” để ngụy biện và mạ lị người Việt hải ngoại.

Làm gì có ai mặc cảm hả ông? Ông chớ tự hào “đỉnh cao trí tuệ” với mặc cảm ếch ao làng để nói lời khinh thường một khối người dân Việt Nam lớn mạnh thành công ở hải ngoại.

Khi nào nhà cầm quyền csvn vẫn tiếp tục chính sách hòa giải hòa hợp kiểu con lợn bỏ vào rọ thì ngay cả những con heo ngu đần cũng phải eng éc bỏ chạy xa và “Nếu cái cột đèn biết đi nó cũng chạy”.

Muốn hòa giải với toàn dân trong và ngoài nước thì dễ ợt à. Vậy mà đảng ta “đỉnh cao trí tuệ” vẫn một kèn một trống hát khúc “tiến quân ca” trên con đường tới thiên đàng “xã hội chủ nghĩa”.

Thôi thì trên diễn đàn này tui mạo muội đề nghị các bước cụ thể và tích cực để hòa giải các khuynh hướng, nguyện vọng của toàn dân.

  1. Loại bỏ điều 4 hiến pháp dành độc quyền cho đảng csvn trong chính trường.
  2. Bãi bỏ chế độ đảng cử dân bầu. Tiến hành phổ thông bầu phiếu ở các cấp chính quyền. Bảo đảm cho người dân với mọi xu hướng chính trị thành lập đảng phái tham gia chính quyền.
  3. Chấm dứt chế độ hộ khẩu với kiểm tra hộ khẩu sách nhiễu người dân vi phạm quyền hiến định của công dân.
  4. Chấm dứt chính sách lý lịch đối xử phân biệt.
  5. Chấm dứt việc dùng ngôn từ xúc xiểm đến quân dân cán chính VNCH như “Ngụy”, “Ngụy Quân”, “Ngụy Quyền”.
  6. Phê chuẩn chính sách đối đãi thương phế binh VNCH tương tự thương binh QĐNDVN.
  7. Trùng tu các nghĩa trang quân đội VNCH, nghĩa trang QĐNDVN. Yêu cầu Trung Quốc cải táng tất cả mộ phần binh lính của họ về nước và tái quy hoạch Nghĩa trang Liệt sĩ Trung Quốc tại Việt Nam thành những công trình phục vụ lợi ích công cộng cho người dân địa phương.
  8. Loại bỏ hết những bài học giáo khoa các cấp từ phổ thông đến đại học xuyên tạc phỉ báng chế độ VNCH.
  9. Loại bỏ môn học chính trị Mác-Lê, Tư Tưởng HCM.
  10. Bảo đảm quân đội và các lực lượng vũ trang độc lập không đảng phái, không chính trị, không làm kinh tế.
  11. Giải thể tổ dân phố, công an khu vực, dân phòng, các hội đoàn phường. Những thành phần chuyên xách nhiễu cư dân.
  12. Giải tán các hội đoàn chuyên môn tổ chức bởi chính quyền, các Tổ chức phi chính phủ do chính quyền thành lập (Government organized Non-government Organization). Bảo đảm cho các hiệp hội thợ thuyền, chuyên môn, tương tế, tôn giáo, sở thích được thành lập và điều hành hoàn toàn độc lập và tự do.

Tụi tui ăn học ít nên chỉ biết vậy thôi. Mời bà con cô bác đề nghị những việc làm cụ thể để có được hòa giải hòa hợp dân tộc.

image

Vì sao đã bốn mươi năm vẫn một tháng Tư?

Chắc chắn không ai muốn vác trên vai một gánh nặng suốt cả trăm năm. Nhưng tại sao người Armenia vẫn sẵn lòng gánh nặng một sự kiện lịch sử 100 năm trước đây? Vì không ai gánh cho họ. Vì họ không muốn quên dù họ có thể quên.

Một khi ký ức mất đi thì dân tộc đó chết theo. Nếu như ký ức được ngụy tạo và bóp méo? Đó là điều tồi tệ nhất. Đó là thảm sát. (Silvanadan, “When memory dies”)

Riêng tụi tui không thể quẳng gánh (nặng) đi và lo sống (cho cá nhân) vì đây là một gánh nặng của dân tộc.

Nên bây giờ bốn mươi năm chưa hết tháng Tư.

© 2015 Vietsoul:21


[1] ‘The axe forgets; the tree remembers.’ – African Proverb

[2]Bốn mươi năm: Vẫn một tháng Tư”, Viet-Studies

[3]Tháng tư này, nhớ và quên”, Vietsoul:21

[4] Bài đã dẫn (2)

[5] Phát biểu của Nguyễn Hộ, Chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam TP HCM.

[6] Bịt miệng nạn nhân, talawas

[7] Armenian genocide survivors’ stories: ‘My dreams cannot mourn’, the Guardian

[8]Không có ngược đãi sau 30/4”, BBC

[9]Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn: Tư tưởng hận thù sẽ làm đất nước yếu kém”, Pháp Luật

[10]…ngai vàng cựu TBT Nông Đức Mạnh”, Nhật Báo Văn Hóa. Thăm nhà cựu Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, BBC

[11]Con Cháu Các Cụ Cả’, Người-Việt

[12] 40 năm hỗn danh “ngụy” và những trận đòn thù của ác quỷ!, Dân Làm Báo

[13] CA nện đá vỡ đầu anh Trịnh Anh Tuấn – admin nhóm Vì Một Hà Nội Xanh, Dân Làm Báo

[14] Tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo liên tiếp bị đàn áp, RFA
[15] Tín đồ Tin Lành tại Bình Dương tiếp tục bị sách nhiễu, RFA. Công an, côn đồ, du dãng khủng bố Hội Thánh Tin Lành Mennonite Bến Cát, Youtube
[16] FB Dân Oan Việt Nam

[17] Tại sao công nhân Pou Yuen đình công?, RFA.

Sài Gòn công nhân nhà máy PouYuen đình công ngày 1/4 /2015, Youtube

[18]Mỗi năm, gần 5000 phụ nữ Việt Nam bị đưa sang Malaysia, Singapore bán dâm”, Thanh Niên. 18.000 gái Việt ra nước ngoài hành nghề mại dâm mỗi năm, Đất Việt

[19] Bình Thuận: Dân chặn xe trên quốc lộ 1 và đụng độ với cảnh sát cơ động, Dân Luận. Người dân chặn đường phản đối ô nhiễm, RFA. Dân đổ cá chết phản đối xáng cạp, gây tắc quốc lộ, Tuổi trẻ. Tiểu thương Nha Trang biểu tình, Dân Làm Báo

[20] Vì sao lao động TQ ngang nhiên khai thác quặng trái phép? Vietnamnet. Chỉ 36% lao động Trung Quốc ở Vũng Áng có phép.

[21] Government Organized Non-government Organization (GONGO), wikipedia

[22] Bài đã dẫn (9)

Advertisements
  1. Về hình thức, bài viết giống như một “research paper” trong khung cảnh đại học. Tác giả đã đã có những footnotes ghi chú bằng chứng. It có bài viết về chính trị mà viết theo dạng này. một. Về nội dung, bài viết đã phản ánh trung thực tâm trạng của người Việt tị nạn chính trị, của những người đã chạy trốn Cộng Sản (CS) để đi tìm tự do. Không thể quên được ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi CS còn đó. Cũng không thể hoà hợp hoà giải với cường quyền CS đã “hiếp dâm chính trị” miền Nam Việt Nam, rồi ngược ngạo hỏi chúng ta là sao không quên đi ngày 30 tháng 4? Đúng là sau 40 năm, vẫn chưa hết tháng tư. Bài viết rất hay, rất “hàn lâm”.

  2. *BỐN MƯƠI NĂM TỘI ÁC CỘNG SẢN . Ở TRONG TRÁI TIM MỖI NGƯỜI VIỆT NAM CHÚNG TÔI,
    MỖI NGÀY LÀ NGÀY 30 CỦA THÁNG TƯ ĐEN *

    **********************************************

    Bản Tin Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ

    Bốn mươi năm Tội Ác cộng sản
    Ở trong trái tim mỗi người Việt Nam chúng tôi,
    mỗi ngày là Ngày 30 của Tháng Tư Đen*.

    Bốn mươi năm trước, ngày 17 tháng Tư năm 1975, Phnom Penh rơi vào tay cộng sản Khmers đỏ. Pol Pot và nhiều tên cầm đầu bọn sát nhân tập thể này vốn là đồng chí, đàn em và học trò của Hồ Chí Minh từ năm 1953. Hai nước trung lập Lào và Cam Bốt bị cộng sản Bắc Việt cài người, lấn chiếm, biến đường mòn thành xa lộ. Giao nửa phần đất nước cho Bắc Kinh ‘’bảo hộ’’ và ‘’kinh doanh’’, các lãnh tụ Việt cộng đưa hết lính chính quy chủ lực vào Nam, đóng dọc theo bên kia biên giới Lào-Cam Bốt. Được Trung cộng đào tạo và võ trang, được Liên Sô cung cấp chiến xa và hỏa tiễn, được chỉ huy bởi đông đảo cố vấn Trung-Sô. Đến ngày 30 Tháng Tư năm 1975, bộ đội cộng sản Bắc Việt xâm lăng miền Nam Việt Nam, tiến vào Sài Gòn. Báo cộng sản Pháp ngạc nhiên không thấy “nhân dân đồng khởi”. Và truy tìm không thấy một văn kiện nào của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa chuyển nhượng hay bán đứng một phần đất nước cho Hoa Kỳ hoặc bất cứ một nhà nước nào khác. Cộng sản rao truyền rằng chúng lấy được miền Nam Việt Nam không có ‘’biển máu’’. Nhưng chúng tôi biết có nhiều con ‘’suối máu’’. Lịch sử mai sau, những nhân chứng và chứng tích, tuyên thệ trước đất trời, sẽ nói lên sự thật đầy đủ hơn. Người dân miền Nam bị lưu đày ngay trên quê hương, trong nhà tù lớn nhứt thế giới. Chỉ vì yêu nước nhưng không theo cộng sản, nhiều trí thức, triết gia, tu sĩ và người cầm bút, nhiều tài năng quốc gia bị cộng sản sát hại, thủ tiêu. Hàng triệu người phải bỏ nước ra đi. Bị công an bắt lại, câu lưu để tống tiền. Bị hải tặc cưỡng hiếp và tàn sát. Bị xua đuổi, chết đuối, chết đói khát, chết vì kiệt sức. Hơn nửa triệu người tị nạn bằng thuyền mất tích trên các biển phía Nam, biển Đông và Thái bình dương. Thay vì ‘’biển máu’’, Việt cộng đã tạo nên ‘’biển xác’’, xác người và xác thuyền.

    PEN Suisse Romand – Salon International du Livre et de la Presse de Genève
    (pen.cevex.30.04.15)

    Việt Nam bị chia cắt hồi tháng Bảy năm 1954. Khác với Nam Hàn và Tây Đức, hòa bình và an ninh lâu dài không hề được quốc tế bảo đảm cho Việt Nam Cộng Hòa cần có để xây dựng miền Nam. Cộng sản Bắc Việt không ngừng phá hoại và khủng bố, chuẩn bị cuộc xâm lăng, từ Lào và Cam Bốt. Thủ phạm của tấn đại bi thảm kịch cho cả dân tộc, không phân biệt Nam Bắc, chính là Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Lê Duẫn và đám cận thần, thân tín cộng sản. Họ cầm đầu đạo quân bản xứ, thứ lính đánh thuê cho đế quốc cộng sản Trung Sô để thống trị bán đảo Đông Dương. Cần phải xác quyết rằng cuộc chiến tại miền Nam Việt Nam sau năm 1954 đến ngày 30 Tháng Tư năm 1975 không phải là một cuộc nội chiến. Lại càng không phải là cuộc chiến của Hoa Kỳ. Chúng tôi biết ơn hơn năm vạn thanh niên Hoa Kỳ và những chiến hữu đồng minh đã hy sinh để giúp đỡ nhân dân miền Nam Việt Nam chiến đấu tự vệ. Dân chúng Việt Nam Cộng Hòa không bị lừa dối như một số đồng bào bất hạnh miền Bắc. Vì vậy miền Nam mới có cuộc Kháng chiến chống cộng dù đơn độc nhưng dũng cảm, chịu nhiều tổn thất đau thương, trước biển người cuồng tín ‘’sinh Bắc tử Nam’’. Hàng chục triệu thanh thiếu niên của cái gọi là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã bị bọn lãnh tụ cộng sản lừa gạt, cưỡng bức, lùa vào cỏi chết thảm khốc.
    Sau khi miền Nam bị cộng sản cưỡng chiếm bất hợp pháp, tâm hồn và trí tuệ của một dân tộc hiếu hòa, cởi mở và chân thật bị quản chế, biệt giam, che mắt, bịt tai, bóp nghẹt tiếng nói. Nền văn hóa Việt Nam kết tinh từ mấy ngàn năm bị thui chột bởi một ý thức hệ ngoại lai, độc ác và không tưởng. Con người bị tẩy não, mất nhân tính, biến thành vong thân vong bản. Bọn vệ binh đỏ Việt cộng đã tàn phá nhiều thư viện lớn, nhiều tủ sách hiếm quý vô giá của miền Nam tự do. Vô số tác phẩm văn chương, biên khảo triết học và tôn giáo đã bị tịch thu, tiêu hủy hoặc cấm đoán. Hàng trăm tác giả văn học bị đấu tố, kết tội độc đoán. Hàng chục vạn tù chính trị, ngôn luận và lương tâm bị nhục hình trong hàng trăm trại tù tập trung.
    Lịch sử sẽ ghi đậm nét : ngụy quyền Việt cộng đóng đô ở Hà Nội đối xử cực kỳ tàn ác, bất nhân với đồng bào miền Nam sau ngày 30 Tháng Tư năm 1975. Tồi tệ, kinh khiếp hơn thời thực dân Pháp. Dân cả nước cũng phải gánh đại khổ nạn cộng sản. Nhưng dân miền Nam vì bất khuất, biết liêm sỉ và ngay thẳng, bị cộng sản hành hạ, làm nhục, giết hại nhiều hơn hết. Cả nước bị nghiền nát dưới sức nặng của quân đội, công an và mật vụ. Bạo hành và trấn áp, thay vì phục vụ nhân dân và bảo vệ tổ quốc, những lực lượng võ trang cộng sản bị sử dụng để duy trì một chế độ độc tài hung ác và tham nhũng nhứt thế giới. Kể sao cho hết những trường hợp người dân bị buộc tội là thù nghịch, phản động, thuộc đủ mọi giới tính, tuổi tác và giai từng xã hội. Bị tra tấn, biệt giam, bỏ đói và đau ốm nặng không thuốc men, đày xa gia đình, nhiều nạn nhân đã chết cô đơn trong địa ngục cộng sản. Làm sao quên được tình cảnh đồng bào bị chà đạp nhân phẩm, lao công là hàng xuất cảng rẻ tiền, trẻ con và phụ nữ bị rao bán ra ngoại quốc làm nô lệ, các bà mẹ dân oan bị chiếm nhà cướp đất. Làm sao không phẩn nộ, đau xót khi những người yêu nước, nam nữ thanh niên, sinh viên, văn nghệ sĩ, nhà báo, tu sĩ, luật sư bị công an đội lốt côn đồ hành hung, đánh đập tàn nhẫn giữa ban ngày. Tội của họ chỉ là đã dám tuần hành để bày tỏ sự bênh vực nhân quyền, tố cáo bất công, tham nhũng. Và phản kháng hành vi xâm lược của Trung cộng, cùng thái độ khiếp nhược, đầu hàng và đồng lõa của bạo quyền Việt cộng. Trong lúc đi triều cống mới đây, các lãnh tụ cộng sản Hà Nội cúi đầu nhìn xuống đất, không biết nhục nhã, hổ thẹn trước gót sắt của lãnh chúa đỏ Bắc Kinh kênh kiệu.
    Tạm thay lời kết :
    ‘’Chế độ thực dân đã là xấu xa nhứt, nhưng bạo quyền Cộng Sản còn tệ hại hơn nhiều’’.
    Đó là tựa đề lớn của một bài viết mà nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt đã phổ biến và được nhiều nhựt báo ở Thụy Sĩ cho đăng nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày ký Hiệp định Genève năm 1954. Biến cố lịch sử đó đã khiến cho hàng triệu đồng bào đã phải lìa bỏ miền Bắc, liều chết, tìm đường vào miền Nam Quốc Gia, và sau đó là Việt Nam Cộng Hòa. Nhà thơ Việt Nam lưu vong đã viết từ 10 năm trước :
    (…) Khi xưa, Hiệp định Munich cũng đem lại ‘’hòa bình’’ ! Thứ hòa bình của Thần Chết trong các trại diệt chủng Auschwitz. Và tiếp theo là ‘’trật tự và ổn định’’, thứ trật tự và ổn định kiểu cộng sản tại Varsovie, Bucarest, tại Sofia, tại Tirana và Belgrade. Rồi các cuộc ‘’tái lập trật tự và ổn định’’ đẫm máu của cộng sản tại Berlin 1953, Hà Nội 1954, Budapest 1956, Lhassa 1959, tại Prague và Huế 1968, rồi Vientiane, Phnom Penh và Sài Gòn 1975. Tiếp theo là cuộc diệt chủng Cam Bốt với Khmers Đỏ !
    (…) Theo Ân Xá Quốc tế, chế độ Việt cộng đứng hàng thứ hai tại Á Châu và hạng tư quốc tế về thành tích hành quyết các tử tội. Những trò hề luật pháp, các vụ bắt bớ bừa bãi và xử án nặng nề các văn thi sĩ, nhà báo, nhạc sĩ, các vị tu sĩ, tín hữu các Giáo hội thầm lặng, độc lập và các nhà tranh đấu cho Nhân Quyền được coi là vô địch trên diễn đàn thế giới.
    (…) Theo Ủy Ban Văn Bút Quốc Tế Bênh vực Nhà Văn bị Cầm Tù, nhiều nhà văn, nhà báo và trí thức đã bị giam cầm vì bị cáo buộc “tuyên truyền, làm gián điệp, gây phương hại cho an ninh quốc gia, lạm dụng các quyền dân chủ hoặc phá rối trật tự công cộng”. Rất quan tâm về tình trạng sức khoẻ suy yếu tồi tệ của nhiều tù nhân và đặc biệt là nhà luật học Lê Chí Quang 33 tuổi bị bệnh thận nặng…
    (…) Theo Tổ chức ‘’Minh Bạch Quốc tế ‘’ (Transparency International), Việt cộng là một chế độ ‘’tham nhũng nặng nề’’, đứng hàng thứ 85 trên 102 quốc gia trong bảng xếp hạng các nước’’. Tại Á Châu chỉ có hai nước Bangladesh và Nam Dương là tranh giành được thành tích này với Việt cộng ! Ít nhứt 35% tiền viện trợ giúp đỡ để phát triển của quốc tế rơi vào túi tham nhũng. Không thể biết bao nhiêu tỉ âu kim Euro hay mỹ kim USD thất thoát mỗi năm. Nhưng ‘’Quốc sách tham nhũng’’ của đảng Việt cộng là một tội ác kinh khiếp đối với nhân dân Việt Nam mà tỷ lệ đói nghèo chiếm từ 37 đến 50% trên tổng số dân. (…).
    Những biến động xảy ra năm 1989 và năm 1991 khai mở cho các dân tộc Đông Âu và Liên Sô cũ nhiều lộ trình để giành lại Tự do và Nhân phẩm. Đứng trước những biến cố lịch sử đó, cộng sản Hà Nội vẫn giữ nguyên chủ nghĩa cực đoan cuồng tín. Chúng tôn thờ Staline và Mao Trạch Đông làm kiểu mẫu. Việt cộng còn lên án gắt gao Công đoàn Solidarność ở Ba Lan. Cho nên, ông Raymond Aron đã lên tiếng tố cáo: “Việt Nam (cộng sản), là sự áp bức đẩm máu đó”. Phát biểu của triết gia Pháp nổi tiếng làm nhớ đến câu nói của cựu bí thư đảng Xã hội Pháp, ông Jacques Huntzinger, đặc trách Quan hệ Quốc tế: “Hà Nội là đảng khắc nghiệt nhứt và áp chế nhứt trong tất cả các đảng Cộng sản”. Và còn nữa, cựu tổng bí thư đảng Cộng sản Ý, ông Enrico Berlinguer đã phê phán (các cựu đồng chí đang thống trị bán đảo Đông dương): “Những người (lãnh đạo) cộng sản Việt Nam là những tên đế quốc bẩn thỉu nhứt trong lịch sử các đế quốc”. Nhân dân Lào và Cam Bốt sẽ làm chứng một ngày một tháng năm nào đó trước tòa án quốc tế xét xử những tội ác của những kẻ cầm đầu đảng Việt cộng, cùng với đàn em, đồng chí Pathet Lào và Khmers đỏ.(…).

    Miền Nam Việt Nam bị bạo quyền Cộng sản tạm chiếm từ bốn mươi năm qua. Gần hai mươi năm sau miền Bắc. Chúng tôi ra đi, biết chắc những người ở lại, và Sài Gòn dung nhan yêu dấu, ngàn năm còn đứng trông. Ra đi, không tìm quên hay bỏ trốn, Đi mở đường cứu lấy quê hương (NHBV). Chúng tôi sẽ trở về quê hương mà chân trời là biên giới mới, nơi chia tay giữa con người và bóng tối, giữa yêu thương và tội ác. Cho nên, ở trong trái tim mỗi người Việt Nam chúng tôi, mỗi ngày là Ngày 30 của Tháng Tư Đen.
    (* Ghi chép từ những cuộc nói chuyện của nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt với các văn thi hữu và bạn đọc tại Hội Chợ Quốc Tế Sách Báo Genève những ngày cuối tháng Tư năm 2015).

    Genève ngày 30 Tháng Tư năm 2015
    Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ
    Ligue vietnamienne des Droits de l’Homme en Suisse
    Vietnamese League for Human Rights in Switzerland
    ———————————————————————————————————–
    Thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt

    Con Đường Chúng Ta Đi

    Ta có ngàn năm xưa dựng nước
    Yêu Quê Hương và Quý Tự Do
    Ta có ngàn năm để đuổi giặc
    Nụ cười tiếng hát cho Tuổi Thơ

    Ra đi làm chứng cho lịch sử
    Ra đi làm chứng cho ngày mai
    Dân tộc hành trình tìm đất hứa
    Hơn bốn ngàn năm mới đến đây
    Đi vẫn còn đi tìm lẽ sống
    Tìm Tự do Nhân Ái Hòa bình
    Hạnh phúc Việt Nam thật giản dị
    Năm ngón tay trên một bàn tay
    Trong thoáng nhìn có chùm hoa nở
    Buồn vui phơi ra ánh mặt trời.
    Cộng sản làm sao mà đổ nát
    Đổ quê hương nát cả tình người
    Khủng bố khoác mỹ từ ‘Giải phóng’
    Tù tập trung hầm tối khổ sai
    Tuổi thơ bỏ học đi moi rác
    Bụi đời mù mịt bóng tương lai
    Đi vẫn còn đi tìm bằng hữu
    Người ác hơn thú gọi ‘quang vinh’
    Dắt dìu nhau băng rừng vượt biển
    Mang theo năm mươi triệu tâm hồn
    Đi vẫn còn đi qua cõi chết
    Bãi mìn giặc cướp đáy vực sâu
    Đi vẫn còn đi vì thế giới
    Nhìn Việt Nam nhớ thân phận mình
    Nhìn Lào Miên biết đâu địa ngục
    ‘Thiên đường đỏ’ đầy hố máu đen.

    Mẹ yêu thương ơi không khóc nữa
    Nước mắt dành cho mùa đoàn viên
    Đau khổ nẩy mầm thành cây lúa
    Các con về vàng chói cánh đồng
    Cờ lau sẽ thay cờ liềm búa
    Vươn lên từng mái ngói nóc tranh
    Vươn lên những phố phường yêu dấu
    Thăng Long Thần Kinh Gia Định Thành
    Vươn lên chóp đỉnh trời xanh biếc
    Niềm hân hoan tiếng chim sổ lồng
    Hoa lan mọc kín mồ tập thể
    Đàn trẻ thơ cười nói huyên thuyên
    Bé chăn trâu ơi ngày trở lại
    Đường quê không còn bóng hận thù.

    Nhớ gương mặt buồn khi Tổ quốc
    Nhìn vết thương trên trán đồng bào
    Chiếc khăn tang phủ từng mái tóc
    Vời trông tưởng chừng mây trắng bay
    Đen tối nào hơn màu tuyệt vọng
    Đêm tháng tư ác mộng kéo dài
    Bạn ngã xuống chờ ta nối tiếp
    Quang phục bình minh của đất trời.
    Đi không tìm quên hay bỏ trốn
    Đi mở đường cứu lấy quê hương
    Ta hẹn gặp nhau ngày lịch sử
    Sống một mùa Xuân, Xuân Việt Nam
    Khắp ba miền vòng tay thân ái
    Cao nguyên xuống đón ngàn khơi về…
    Vững tay lái giữa vùng bão tố
    Nhặt ánh sao để dệt niềm tin
    Tin ở con người và đất nước
    Biết xót thương cũng biết can trường
    Qua tiếng sóng oan hồn nhắc nhở
    Dân tộc hồi sinh có chúng tôi
    Sấm sét bạo tàn không tắt được
    Tiếng hát hò lơ trống ngũ liên

    Đêm đêm thấy tấm lòng kẻ ở
    Thắp sáng Trường Sơn soi biển Đông (1980)

    Nguyên Hoàng Bảo Việt
    Dấu Tích Phượng Hoàng
    L’Empreinte du Phénix
    (Bản tiếng Pháp của bà Hoàng Nguyên)
    Bạn Văn – Paris 2008

    Kính chuyển
    Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ

    Nhân NGÀY 30 CỦA THÁNG TƯ ĐEN NĂM 2015
    kính chuyển đến quý bạn đọc và quý diễn đàn

    Ca khúc Người Sống Sót Trở Về
    do nhạc sĩ Nguyễn Văn Thành, Dân Chủ Ca, phổ nhạc
    từ bài thơ Kẻ Sống Sót của thi hữu Nguyên Hoàng Bảo Việt.

    —————————————————————————————————————–

    [audio src="http://www.danchuca.org/128kbps/NguoiSongSotTroVe.mp3" /]
    http://www.danchuca.org/DanChuCaPhoTho.shtml
    ——————————————————————-

    DanChuCa.org kính mời quý vị vào links trên đây để nghe bài hát : Người Sống Sót Trở Về

    Kẻ Sống Sót

    Đêm đã xuống
    Trên đường trốn về Nam
    Tìm sao để định hướng
    Con chim Việt còn nhớ cành.

    Sau lưng tôi
    Bạn bè ở lại
    Giữa trại tù tập trung
    Nào ai biết
    Dù màn sắt hay màn tre
    Ngục hình của Cộng sản
    Ngàn lần hơn Lao Bảo
    Trăm lần hơn Côn Nôn
    Luật rừng thời trung cổ
    Khổ sai và tẩy não
    Chung thân
    Chết đói và tuyệt vọng
    Muôn năm
    Xích xiềng và liềm búa
    Khua vang
    Khua vang
    Khua vang trong trí nhớ.

    Mỗi hột cơm khô
    Là một giọt máu
    Anh em đã nhịn ăn
    Cho tôi mang theo
    Và nguyện cầu
    Cho tôi được sống
    Tự do
    Cho tôi được hát
    Tình ca
    Cho tôi được viết
    Bài thơ
    Gởi đi thế giới
    Nhân danh anh em.

    Rùa thần nào đã nâng đỡ
    Lúc tôi bơi qua Lô Giang
    Sao không nghe nữa
    Những tiếng hò khoan
    Những mái chèo trăng
    Đôi bờ im vắng
    Sương khuya
    Núi rừng Việt Bắc hoang vu
    Bâng khuâng nhìn tôi đi
    Trốn về Nam .

    Dọc theo dòng Bến Hải
    Phía bắc cầu Hiền Lương
    Tôi đi lẩn khuất
    Vũ Anh Khanh ơi!
    Giọt máu nào
    Trái tim Anh năm xưa
    Hóa thành viên hồng ngọc
    Dưới đáy nước cô đơn
    Cho tôi nhìn thấy
    Từ khi Cộng sản hạ sát Anh
    Đâu chỉ có ‘Nửa Bồ Xương Khô’
    Sọ người gom lại
    Cả đồi cả núi
    Máu nước mắt
    Như triều sông
    Dâng lên
    Dâng lên
    Dâng lên không ngớt.

    Tôi vẫn đi trong bóng tối
    Không nhìn thấy
    Một con người
    Đi trong mưa gió
    Với tiếng vọng về từ biển
    Xa xôi
    Trị Thiên Nam Ngãi Bình
    Lửa máu
    Năm nào miền Trung di tản
    Giặc pháo đuổi không nương tay
    Trẻ khóc thiếp ôm xác mẹ
    Chị cúi xuống hôn em lần cuối
    Bà lão lạc đàn cháu mồ côi
    Run rẩy hoảng hốt
    Trận cuồng phong
    Mao-ít Stalinít
    Đã thổi qua quê hương
    Nhổ bật rễ tình cảm truyền thống
    Vùi dập hoa thơm vườn văn hóa
    Kéo dân tộc giật lùi
    Về thời kỳ đồ đá
    Xô triệu người ra biển
    Bao nhiêu đến được bến bờ
    Trên những ghe thuyền mục nát
    Trôi giạt ngoài đại dương
    Quên sau được
    Việt Nam đau thương ơi!

    Cả nước bị chiếm đóng
    Máu dân tô màu cờ đảng
    Rũ xuống những đồn canh
    Lạng Sơn đến Cà Mau
    Quân phản trắc
    Rước giặc về
    Bao vây Tổ quốc
    Giày xéo mộ Quang Trung
    Đấu tố Mẹ Âu Cơ
    Theo sau quan thầy Sô-Viết
    Lính đánh thuê Cuba Đông Đức
    Làm nhục em gái chúng ta
    Giặc tưởng Kaboul khi đến Huế
    Cao nguyên Đà Lạt là rừng núi Angola
    Đi nghênh ngang giữa Sài Gòn
    Như lúc chúng tiến vào Prague
    Lúc chúng hỏa thiêu Budapest
    Lúc chúng đàn áp anh em ta
    Ở Đông Bá Linh và Poznan
    Bọn công an nhân dân
    Làm sấm làm sét
    Làm giông làm gió
    Làm vua
    Ở từng quận từng phường từng phố
    Tôi nhìn tận mặt quân phi nghĩa
    Tội ác ngàn năm cũng không quên.

    Con nai bình nguyên
    Bám sát chân tôi
    Người và thú
    Cùng bị săn đuổi
    Từ Vàm Cỏ Đông
    Nhìn về thành phố
    Sài Gòn đâu đã ngủ
    Tối tăm giờ giới nghiêm
    Tôi đếm
    Bấy nhiêu sao
    Bao nhiêu ánh mắt
    Bao nhiêu dòng lệ
    Mưa tuôn ướt xối
    U hoài
    Trên những pho tượng đá
    Vẫn đứng đợi
    Người sống sót trở về
    Từ Auschwitz hay Sibérie xa xăm
    Từ Vientiane hay Phnom Penh gần gũi
    Từ trại tù tập trung con tin
    Trên đất nước Việt Nam tan vỡ…

    Đằng sau những cánh cửa sổ
    Khép vội trước mũi súng sát nhân
    Sài Gòn đâu đã thất thủ
    Thầm thì những lời ru con
    Thay cho tiếng nói
    Giặc đã cưỡng đoạt
    Trên tháp chuông trơ vơ
    Thập tự giá phô tấm lòng nhân ái
    Dưới mái chùa hiu vắng
    Hạnh từ bi nở ngát tòa sen
    Bóng đen bầy quạ dữ
    Bay vây quanh.

    Tôi đếm
    Bấy nhiêu ngọn nến
    Bao nhiêu nhánh mặt trời Tự do
    Sẽ mọc lại.

    Tôi đếm
    Bấy nhiêu giọt sương long lanh
    Bao nhiêu chuỗi cười ròn rã
    Bao nhiêu lớp người nô lệ
    Sẽ đứng lên. (1978)

    Nguyên Hoàng Bảo Việt
    Trích tập thơ Dấu Tích Phượng Hoàng
    L’Empreinte du Phénix
    Le Rescapé, bản tiếng Pháp
    của bà Hoàng Nguyên
    Bạn Văn xuất bản – Paris 2008

    ————————————————————————————————————————————————————————–

    **********************************************************************************************************

  3. TIẾP THEO…*BỐN MƯƠI NĂM TỘI ÁC CỘNG SẢN . Ở TRONG TRÁI TIM MỖI NGƯỜI VIỆT NAM CHÚNG TÔI, MỖI NGÀY LÀ NGÀY 30 CỦA THÁNG TƯ ĐEN .

    QUYẾT NGHỊ VỀ VIỆT NAM CỦA ĐẠI HỘI THẾ GIỚI VĂN BÚT QUỐC TẾ TẠI QUÉBEC, CANADA THÁNG MƯỜI NĂM 2015.

    Bản Tin Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ

    Đại Hội Thế giới Văn Bút Quốc Tế tố cáo tội ác cộng sản Hà Nội
    đối với Văn nghệ sĩ, những người tranh đấu cho Nhân Quyền, Công Lý và Dân Chủ

    Trung tuần tháng Mười năm 2015, Đại hội Thế giới Văn Bút Quốc tế kỳ thứ 81 tại thành phố Québec, nước Gia Nã Đại (Canada) đã đồng thanh thông qua một bản Quyết Nghị về Việt Nam. Bản văn do Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại đề xướng, cùng với các Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Đức và Ý thoại, Rhéto-romanche và Việt Nam Hải ngoại.
    Bản Quyết Nghị cực lực tố cáo và lên án chế độ CS tiếp tục chà đạp quyền tự do phát biểu và thể hiện quan điểm. Bản chất hung bạo, bất bao dung được thể hiện rõ rệt qua cách ngược đãi, đối xử khắc nghiệt, tồi tệ và bất nhân đối với những người bất đồng chính kiến. Chân tay guồng máy thống trị, từ công an đến tòa án, chủ động và đồng lõa trong mọi hành vi tội ác. Hành hung, bắt giữ, tra tấn, phạt tù bất công, biệt giam, đày đọa nhiều nhà văn, nhà báo, tác giả nhựt ký điện tử, nhà luật học và các nhà tranh đấu cho Nhân Quyền, đòi phục hồi Công Lý và Dân Chủ. Bản Quyết Nghị đưa ra một danh sách gồm có nhiều tù nhân. Nạn nhân là những người đã từ chối im lặng, dũng cảm bày tỏ sự đối kháng, không chịu khuất phục trước bạo quyền. Họ không muốn bị lừa dối hay mua chuộc bởi tập đoàn áp bức đỏ, băng đảng xã hội đen, nổi tiếng tham ô nhũng lạm. Họ là những con tin, bị lưu đày ngay trên quê hương thân yêu của mình. Giang sơn gấm vóc, gia tài hàng ngàn năm của tiền nhân, đã và đang bị chuyển nhượng cho tân đế quốc độc tài cộng sản, từng mảng lớn hải phận, không phận và lãnh thổ. Danh sách tù nhân chưa chấm hết, theo nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt. Sau Hội Nghị Ủy Ban Văn Bút Quốc Tế Bênh vực Nhà Văn bị cầm tù tại Amsterdam hồi tháng Năm, dự thảo Quyết Nghị nêu lên ba trường hợp bị trấn áp tiêu biểu là bà Tạ Phong Tần, bà Hồ Thị Bích Khương và ông Trần Huỳnh Duy Thức. Cuối tháng Chín, phải tu chỉnh dự thảo Quyết Nghị vì cộng sản đã bắt bà Tạ Phong Tần ra khỏi trại tù rồi buộc bà đi lưu vong. Bà không có quyền lựa chọn. Bị hành hạ suốt 4 năm tù, bà từng tuyệt thực mấy tuần lễ để phản đối. Bà đau yếu, mắc nhiều chứng bệnh. Còn 6 năm tù giam và 5 năm tù quản chế nữa. Cộng sản lại chỉ cho người tù yêu nước Tạ Phong Tần tạm hoãn thi hành bản án bất công. Không quên rằng thân mẫu của bà đã tự thiêu để phản đối việc ái nữ bị bạo quyền giam cầm độc đoán. Chúng ta phải tiếp tục tố cáo hành vi bất nhân, vô liêm sĩ và vi luật trắng trợn của cộng sản. Cho nên bản Quyết Nghị nhấn mạnh rằng hầu hết số người cầm bút chỉ ra khỏi trại giam do mãn hạn tù mà thôi. Chúng ta còn nhớ ba tù nhân lương tâm Lê Văn Sơn, Thái Văn Dung và Trần Minh Nhật, kẻ trước người sau, chỉ được về với gia đình sau 4 năm tù bất công, trong tháng Tám năm nay. Cũng như nghệ sĩ yêu nước Việt Khang, tác giả ‘’Việt Nam Tôi Đâu’’ và ‘’Anh là Ai’’, phải đợi mãn hạn 4 năm tù mới được về thăm lại người Mẹ hiền, ‘’Bà Má Miền Tây’’ và người ‘’Bạn Thân’’. Nhưng Hòa bình và Tự do thật sự vẫn chưa đến với Việt Nam. Chưa bao giờ đến – từ khi bạo lực cuồng tín, lính đánh thuê cộng sản quốc tế, đã gây ra cuộc chiến tranh phi nhân nghĩa, chiếm đóng một đất nước bị chúng tàn phá, ám sát cả một dân tộc hiếu hòa nhưng bất khuất. Và đây, thêm một người nhiều lần bị đánh đập tàn nhẫn, vừa bị bắt, ném vào trại giam. Thế giới cần nhắc lại tên cựu tù nhân từng bị phạt 5 năm tù chỉ vì giải thích cho sinh viên, bạn trẻ Hà Nội, ‘’Thế nào là Nhân Quyền ?’’’. Đó là luật sư Nguyễn Văn Đài. Cùng phiên tòa với ông, bà luật sư đồng nghiệp Lê Thị Công Nhân lãnh án 4 năm tù. Trước đó, có bác sĩ Phạm Hồng Sơn lãnh bản án tù 13 năm vì ‘’Thế nào là Dân Chủ ?’’. Tuần này, Cao Ủy Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc nhận được khẩn báo về một biến cố mới. Đó là tin nhà luật học Nhân Quyền, người Anh em Dân chủ ở Hà Nội, cựu tù nhân Nguyễn Văn Đài, một lần nữa, bị hàng chục công an chận bắt trên đường phố Hà Nội. Theo bà Vũ Minh Khánh, phu nhân ông Nguyễn Văn Đài, công an đã bắt giam chồng bà về cái tội ‘’tuyên truyền chống nhà nước ChXhCnVn’’. Phải kể thêm bà Lê Thu Hà, một thành viên Anh em Dân chủ, cũng bị bắt giữ từ hôm 16 tháng Mười Hai.

    Dưới đây là toàn văn Quyết Nghị về Việt Nam. Dự thảo tiếng Pháp và tiếng Anh đã được tu chỉnh 48 giờ trước khi đại biểu Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại lên đường đi dự Đại hội. Bản tiếng Tây Ban Nha do Văn Bút Quốc Tế phiên dịch. Bản tiếng Việt do văn hữu Hà Tản Viên (Hà Nội) phiên dịch và nhà báo Nguyễn Ngọc (Thụy Sĩ), trợ bút. Tường trình về Đại hội sẽ được đăng trong một bản tin sau.
    (Nguồn tin: nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt, Ủy ban Nhà Văn bị cầm tù, Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp Thoại, Nhà Văn Việt Nam lưu vong, Hội Nhà Văn Liên Hiệp Quốc Genève. Tài liệu: LHNQVN-TS).

    Genève ngày 18 tháng Mười Hai năm 2015
    Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ
    Ligue Vietnamienne des Droits de l’Homme en Suisse
    Vietnamese League for Human Rights in Switzerland.
    *******************************************************************************

    QUYẾT NGHỊ về VIỆT NAM (ChXhCnVn)

    Quyết Nghị về Việt Nam (ChXhCnVn) do Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại soạn thảo cùng với các Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Đức thoại, Văn Bút Thụy Sĩ Ý thoại và Réto-romanche, và Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại.
    Hội Đồng Đại Biểu Văn Bút Quốc Tế họp Đại Hội Thế Giới kỳ thứ 81 tại Québec, nước Gia Nã Đại (Canada) từ ngày 13 đến ngày 16 tháng Mười năm 2015 :

    Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (ChXhCnVn) là một nhà nước độc tài độc đảng có tình trạng quyền tự do phát biểu và diễn đạt quan điểm bị trấn áp, hạn chế một cách phổ biến. Hội Đồng Đại Biểu Văn Bút Quốc Tế, đã nhiều lần, và lần họp gần nhất vào năm 2014, bày tỏ lo lắng về các trấn áp, hạn chế đó cùng tình trạng nhiều người cầm bút bị bỏ tù. Văn Bút Quốc Tế ghi nhận trong năm 2014 đã có 14 người cầm bút tại Việt Nam được ra tù với đa số là do mãn án nhưng hầu như chưa có tiến bộ để loại bỏ, chấm dứt các ngăn chặn, trấn áp như đã nêu trên. Gần đây nhất, ngày 19 tháng Chín năm 2015, nhà báo viết nhựt ký điện tử Tạ Phong Tần còn bị tống xuất ra nước ngoài lưu vong – một xu hướng đáng lo ngại: trả tự do nhưng buộc phải sống lưu vong, rời xa gia đình, bạn bè và đồng nghiệp.

    Nhà cầm quyền vẫn tiếp tục ngăn chặn quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và trấn áp các tiếng nói bất đồng. Mạng Internet bị kiểm soát, thường xuyên bị chặn và quyền tự do tôn giáo bị cấm cản. Nhà cầm quyền luôn dò xét, theo dõi các hoạt động ôn hòa của các nhà vận động cho nhân quyền, thường xuyên xâm phạm vào quyền riêng tư của công dân và tiếp tục ngăn cản quyền tự do hội họp, tự do lập hội, tự do đi lại bằng các lệnh cấm xuất cảnh và tịch thu hộ chiếu.

    Các hành động bách hại giới cầm bút được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau, kể cả tra tấn, sách nhiễu, bắt giữ và nhốt tù tùy tiện chỉ vì nạn nhân có các hoạt động cổ xúy cho nhân quyền. Các điều khoản mập mờ về an ninh quốc gia trong Luật Hình sự thường được viện dẫn để bắt giam, trấn áp người bày tỏ bất đồng. Nhiều người không được hưởng quyền xét xử kịp thời và công bằng vì hệ thống tư pháp bất minh, thiếu tính độc lập luôn bị các yếu tố kinh tế và chính trị tác động. Điều kiện giam cầm tồi tệ và số tù nhân quá đông, gây tổn hại nghiêm trọng cho sức khỏe người có án và người bị tạm giam, tạm giữ.

    Văn Bút Quốc Tế đặc biệt lo ngại cho tình trạng của ít nhất 20 người cầm bút đang phải chịu án tù hoặc đang bị giam giữ chỉ vì có những phát biểu và diễn đạt quan điểm ôn hòa. Đó là những con người đang ở tuyến đầu trong cuộc đấu tranh để gìn giữ nền văn hóa văn minh, đạo đức và nhân bản cho nước Việt Nam. Đồng thời bảo vệ các thành phần sắc tộc Việt Nam
    Sau đây là hai trong số những con người đáng kính trọng đó :

    1. Bà Hồ Thị Bích Khương, (sinh năm 1967), tác giả nhựt ký điện tử, hoạt động về nhân quyền và đã từng viết hồi ký về nhà tù, làm thơ trào phúng và viết báo trên mạng. Tháng Sáu 2006, chồng bà Hồ Thị Bích Khương bị sát hại một cách bí hiểm ở quê nhà trong khi bà đang tiến hành kiện tụng chống bất công tại Hà nội. Bà Hồ Thị Bích Khương nhiều lần bị công an bắt và giam giữ ngắn hạn và hai lần bị kết án tù vào các năm 2005, 2007. Tháng Giêng 2011, bà lại bị bắt và bị kết án 5 năm tù giam cùng 3 năm tù quản chế vào tháng Mười Hai 2011 với cáo buộc “tuyên truyền chống nhà nước ChXhCnVn”. Có nguồn tin cho biết bà Hồ Thị Bích Khương nhiều lần bị các tù thường phạm đánh đập trong tù và thường bị biệt giam vì bà tuyệt thực phản đối điều kiện giam cầm tồi tệ. Bà đang phải chịu đựng dị tật vì gãy xương vùng cổ nhưng không được chữa trị đầy đủ. Tháng Giêng 2015, bà Hồ Thị Bích Khương lại tuyệt thực trong đợt bà bị chuyển trại tù một cách bí mật ra miền Bắc.
    2. Ông Trần Huỳnh Duy Thức, sinh năm 1966, là nhà thơ, tác giả nhựt ký điện tử, sức sáng tạo phong phú và còn là một doanh nhân. Ông cũng là đồng tác giả của cuốn sách bị cấm Con đường Việt Nam. Ông thường viết thơ và các bài về chính trị và xã hội trên nhiều nhựt ký điện tử khác nhau. Ông Trần Huỳnh Duy Thức bị bắt vào tháng Năm 2009 vì những bài viết của ông, sau đó bị kết án 16 năm tù cộng 5 năm quản chế trong phiên tòa diễn ra chỉ có một ngày vào tháng Giêng 2010 với cáo buộc “tuyên truyền chống nhà nước ChXhCnVn” và “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Ông Trần Huỳnh Duy Thức đã bị giam trong nhiều trại lao động cưỡng bức với những điều kiện thiếu thốn tệ hại. Vì thế, sức khỏe của ông đang bị suy giảm.

    Hội Đồng Đại Biểu Văn Bút Quốc Tế thúc giục nhà nước ChXhCnVn phải :

    • Trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện cho tất cả những người cầm bút, nhà viết nhựt ký điện tử, nhà thơ, nhà báo và tất cả những người đang bị giam cầm chỉ vì đã thực hiện một cách ôn hòa quyền tự do bày tỏ của họ;
    • Dừng ngay chính sách tống xuất các cây bút bị giam cầm ra nước ngoài lưu vong.
    • Chấm dứt mọi sách nhiễu đối với các cá nhân có quan điểm đối lập với chính quyền hoặc những người đấu tranh đòi tôn trọng các quyền tự do căn bản;
    • Dừng ngay việc tịch thu hộ chiếu của những người bất đồng chính kiến và bãi bỏ các lệnh cấm xuất cảnh;
    • Đảm bảo cho người dân quyền được hưởng pháp luật thực thi đúng thủ tục và quyền được xét xử công bằng bởi các thẩm phán và luật sư độc lập;
    • Cải thiện điều kiện giam cầm trong nhà tù và các trại lao động cưỡng bức theo các tiêu chuẩn quốc tế và đảm bảo để tất cả những người bị giam giữ được chăm sóc y tế thích hợp ;
    • Tạo điều kiện tốt hơn cho gia đình thăm tù nhân, gồm cả việc đảm bảo để tất cả các tù nhân được giam giữ ở những địa điểm gần với nơi gia đình họ cư trú ;
    • Nghiêm cấm mọi hình thức tra tấn, hành hạ ngược đãi, kể cả biện pháp biệt giam kéo dài và phải tiến hành điều tra ngay lập tức một cách khách quan mọi báo cáo về các hành vi bất nhân để đưa thủ phạm ra xét xử công minh và bồi thường thiệt hại cho các nạn nhân;
    • Bãi bỏ hoặc tu chỉnh tất cả các điều luật của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đang nhằm kết tội các quan điểm bất đồng, các phát biểu tự do dựa trên những tội phạm được định nghĩa mập mờ như là xâm phạm hay chống lại “an ninh quốc gia” viện dẫn các Điều 79, 88, 258 Luật Hình sự;
    • Hủy bỏ tất cả mọi hình thức kiểm duyệt, theo dõi, kiểm soát dân chúng và các hình thức ngăn cản, trấn áp quyền tự do phát biểu và diễn đạt quan điểm, cũng như quyền tự do báo chí;
    • Đảm bảo để các quyền tự do phát biểu và diễn đạt quan điểm, quyền tự do hội họp ôn hòa và lập hội được bảo vệ đầy đủ, trong đó bao hàm cả quyền được thông tin bằng mọi phương tiện, cả trên mạng và ngoài mạng kỹ thuật số, sao cho phù hợp với các Điều 19, 21 và 22 của Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (PIDCP/ICCPR).

    Phụ lục: Danh sách chưa đầy đủ do Văn Bút Quốc Tế thu thập về các tù nhân tính đến ngày 30 tháng Sáu năm 2015.

    1. Những người đang thi hành án tù giam : bà Bùi Thị Minh Hằng, án 3 năm; ông Đặng Xuân Diệu, án 13 năm; ông Đinh Nguyên Kha, án 4 năm; ông Hồ Đức Hòa, án 13 năm; bà Hồ Thị Bích Khương, án 5 năm; ông Lê Văn Sơn, án 4 năm; ông Ngô Hào, án 15 năm; bà Nguyễn Đặng Minh Mẫn, án 9 năm; ông Nguyễn Đình Cương, án 4 năm; ông Nguyễn Kim Nhàn, án 5 năm 6 tháng; ông Nguyễn Thành Long (tức Mục sư Tin Lành Nguyễn Công Chính), án 11 năm; bà Nguyễn Thị Thúy Quỳnh, án 2 năm; linh mục Thadeus Nguyễn Văn Lý, án 8 năm; ông Phan Ngọc Tuấn, án 5 năm; ông Thái Văn Dung, án 4 năm; ông Trần Huỳnh Duy Thức, án 16 năm; ông Trần Vũ Anh Bình, án 6 năm; ông Trần Minh Nhật, án 4 năm; ông Võ Minh Trí (Nhạc sĩ Việt Khang), án 4 năm.
    2. Những người bị áp đặt án tù quản chế từ năm 2003 : Hòa thượng Thích Quảng Độ (thế danh Đặng Phúc Tuệ), 87 tuổi, Tu sĩ Phật giáo, nhà thơ.
    3. Những người đã bị bắt và đang bị giam cầm chưa xét xử : ông Nguyễn Hữu Vinh (bút hiệu Anh Ba Sàm) và bà Nguyễn Thị Minh Thúy cùng bị bắt vào ngày 5 tháng Năm 2014; ông Nguyễn Đình Ngọc (bút hiệu Nguyễn Ngọc Già) bị bắt ngày 27 tháng Mười Hai 2014.
    4. Những người đã bị bắt với cáo buộc và đã được trả tự do tạm dựa trên cam kết : ông Lê Hồng Thọ (chủ nhựt ký điện tử Người Lót Gạch) bị bắt ngày 20 tháng Mười Một 2014, được thả ngày 11 tháng Hai 2015; ông Nguyễn Quang Lập (chủ nhựt ký điện tử Quê Choa), bị bắt ngày 6 tháng Mười Hai 2014 và được thả ngày 10 tháng Hai 2015.
    ________________________________________________________________________________________________________________________________

    Đại biểu các Trung tâm Văn Bút hiện diện đồng thanh phê chuẫn Quyết Nghị về Việt Nam (ChXhCnVn) lúc họp Đại Hội Thế Giới Văn Bút Quốc Tế kỳ thứ 81 tại Québec, nước Gia Nã Đại (Canada) tháng Mười năm 2015* :

    Centre Afrikaans, Centre Afrique du Sud, Centre Egyptien, Centre Erytréen, Centre Ethiopien, Centre Guinéen, Centre Kényan, Centre Marocain, Centre Ghanéen, Centre Malawite, Centre Malien, Centre Mauritanien, Centre Nigérien, Centre Sierra Léonais, Centre Zambie ;
    Centre Jordanien, Centre Palestinien ;

    Centre Asie Centrale, Centre Bengalais, Centre Birman, Centre Cambodgien, Centre Chinois Taipei, Centre Coréen, Centre Delhi, Centre des Ecrivains Tibétains à l’étranger, Centre des Ecrivains Coréens du Nord en exil, Centre Indien, Centre Japonais, Centre Kazakh, Centre de Melbourne, Centre Népalais, Centre de Sydney ;

    Centre Allemand, Centre Anglais, Centre Autrichien, Centre Basque, Centre Belge d’expression flamande, Centre Biélorusse, Centre Bosnie-Herzégovine, Centre Catalan, Centre Croate, Centre Danois, Centre Ecossais, Centre des Ecrivains Iraniens en exil, Centre Espérantiste, Centre Estonien, Centre Finnois, Centre Français, Centre Galicien, Centre Hongrois, Centre Indépendant Chinois, Centre Islandais, Centre de la Langue d’Oc, Centre Lithuanien, Centre Macédonien, Centre Néerlandais, Centre Norvège, Centre Polonais, Centre Portugais, Centre Roumain, Centre Russe, Centre Serbe, Centre Slovaque, Centre Slovène, Centre Suédois, Centre Suisse Allemand, Centre Suisse Romand, Centre Tchèque, Centre de Trieste, Centre Turc, Centre Wales Cymru ;

    Centre Argentin, Centre Bolivien, Centre Chilien, Centre Haïti, Centre Hondurien, Centre Mexicain, Centre Nicaraguayen, Centre de San Miguel de Allende ;
    Centre Américain, Centre Canadien, Centre des Ecrivains Cubains en exil, Centre des Etats-Unis, Centre Québécois, Centre des Vietnamiens à l’étranger.
    ————————————————————————————————————————-
    Afrique : 15 Centres – Asie-Pacifique : 15 Centres – Europe : 39 Centres – Moyen-Orient : 2 Centres –
    Amérique latine et Caraïbes : 8 Centres – Amérique du Nord : 6 Centres.
    *Chưa kể số phiếu của những Trung tâm Văn Bút không đến được nhưng có gởi giấy ủy quyền.
    *********************************************************************************** .
    RESOLUTION sur la République Socialiste du Viet Nam

    Résolution soumise par le Centre PEN Suisse Romand et les Centres PEN Suisse Allemand, Suisse Italien et Rhéto-romanche, et Vietnamiens à l’étranger,

    L’Assemblée des délégués du PEN International se réunissant lors de son 81e Congrès mondial à Québec, au Canada, du 13 au 16 octobre 2015

    La République socialiste du Viêt Nam est un état autoritaire, qui ne tolère qu’un seul et unique parti et où les restrictions à la liberté d’expression sont omniprésentes. L’Assemblée générale des délégués de PEN International a exprimé à maintes reprises – et encore très récemment, en 2014 – ses inquiétudes quant à ces restrictions, et notamment quant au nombre important d’écrivains emprisonnés. En dépit de la libération de 14 écrivains en 2014, pour la plupart en fin de peine, et dont PEN a pris acte, l’exercice du droit à s’exprimer librement dans ce pays se heurte aujourd’hui encore à de nombreux obstacles dont l’élimination semble particulièrement incertaine. Plus récemment, le 19 septembre 2015, la blogueuse Ta Phong Tan a été relâchée et contrainte à l’exil, une tendance inquiétante où le prix de la liberté, c’est une vie à l’étranger éloignée de la famille, des amis et des collèagues.
    L’état viêtnamien poursuit sa politique restrictive à l’endroit de la liberté d’expression et de la liberté de la presse, entendant bien continuer à faire taire les voix dissidentes. L’Internet est contrôlé, de nombreux sites sont souvent bloqués, et la liberté de religion est limitée. Les autorités surveillent de près les activités pacifiques des militants de la cause des droits de l’Homme, enfreignant souvent le droit des personnes au respect de leur vie privée, et continuent de restreindre la liberté de réunion pacifique et d’association et la liberté de mouvement en interdisant les déplacements et en confisquant les passeports.

    Les écrivains particulièrement sont torturés et maltraités par la police, arrêtés et détenus arbitrairement pour leurs activités de défense et promotion des droits de l’Homme. Les sanctions prévues par le code pénal viêtnamien en cas d’agissements pouvant porter atteinte à la sécurité d’État, à la formulation on ne peut plus vague, permettent d’incarcérer et de faire taire les critiques. Nombreux sont ceux qui n’ont pas bénéficié d’un procès équitable et dans un délai raisonnable : le système judiciaire, aux rouages opaques, est loin d’être indépendant, et soumis dans une très grande mesure à des pressions économiques et politiques qui affectent la décision du juge. Dans des conditions d’incarcération particulièrement difficiles, il n’est pas rare de voir prisonniers et détenus souffrir de maladies graves.

    PEN International tient à exprimer sa plus vive inquiétude quant à la situation d’au moins 20 écrivains actuellement incarcérés ou détenus pour avoir exercé, pacifiquement, leur droit à la liberté d’expression. Il s’agit d’individus aux avant-postes de la lutte pour la défense de la culture du Viêt Nam, de son éthique et de son humanité. Ainsi :

    • Ho Thi Bich Khuong, blogueuse, défenseure des droits de l’Homme et auteure, en prison, de mémoires, de poèmes satiriques et d’articles en ligne. En juin 2006, son mari a été assassiné dans des conditions mystérieuses dans leur village, alors qu’Ho Thi Bich Khuong se trouvait à Hanoï pour déposer des plaintes de victimes d’injustice. Détenue brièvement à maintes reprises, ayant purgé deux peines de prison, en 2005 et en 2007, elle a été de nouveau arrêtée en janvier 2011 et condamnée en décembre 2011 à 5 ans de prison et 3 ans de détention probatoire pour « propagande contre la RSV». Elle aurait été attaquée par des prisonnières de droit commun et fréquemment mise à l’isolement pour avoir protesté contre ses conditions de détention en faisant la grève de la faim. Elle souffre d’une clavicule cassée, qui n’a jamais traitée en raison de l’absence de soins médicaux adéquats. En janvier dernier, elle a entamé une grève de la faim alors qu’elle était secrètement transférée dans un autre camp dans le nord du pays.
    • Tran Huynh Duy Thuc (né 1966), poète et blogueur prolifique et home d’affaires. Co-auteur du livre interdit Le Chemin pour Viet Nam, il a publié ses poèmes et articles sur la situation socio-économique dans ses divers blogues. En mai 2009 il était détenu et condamné à 16 ans d’emprisonnement et 5 ans de détention probatoire, après un procès d’un seul jour en janvier 2010. Il était imputé par “propagande contre la RSV” et “activités dissidentes contre de l’administration du peuple” en relation à ses écrits. Retenu dans des conditions déplorables en divers camps de travaux forcés, sa santé se dégrade.

    L’Assemblée générale des délégués de PEN International appelle la République socialiste du Viêt Nam à :
    • libérer immédiatement et inconditionnellement tous les écrivains, blogueurs, poètes et journalistes compris, et toute personne détenue uniquement pour avoir exercé, pacifiquement, son droit à s’exprimer librement ;
    • cesser la pratique qui consiste à relâcher écrivains prisonniers en exile forcé ;
    • cesser de harceler quiconque a des positions et avis différents de ceux de l’état et exige le respect des libertés humaines fondamentales ;
    • mettre un terme à la confiscation du passeport de dissidents et à l’interdiction qui les frappent de se rendre à l’étranger ;
    • garantir le droit à un procès équitable et dans un délai raisonnable, devant un ou des juges indépendants, et l’accès à un avocat indépendant ;
    • améliorer les conditions d’incarcération et les camps de travail de sorte à ce qu’elles répondent aux normes internationales, et à s’assurer que l’ensemble des détenus reçoivent des soins médicaux appropriés ;
    • faciliter la visite des familles des prisonniers, et notamment en veillant à ce que tous les prisonniers soient détenus dans des établissements situés à une distance raisonnable de chez eux ;
    • interdire toute forme de torture et de mauvais traitements, en ce inclus le maintien prolongé à l’isolement, et à enquêter, sans attendre et à titre impartial, sur tout rapport faisant état de faits de torture et de mauvais traitements, à traduire en justice les auteurs de tels faits et à accorder réparation aux victimes ;
    • abroger ou modifier les dispositions du droit qui visent à pénaliser les avis contraires à la ligne du parti d’état et la libre parole sur le fondement de sanctions à la formulation insuffisamment précise pour atteintes à la « sécurité nationale », et notamment les articles 79, 88 et 258 du code pénal ;
    • abolir toute forme de censure, de surveillance de masse et de restriction de la liberté d’expression et de la liberté de la presse ;
    • s’assurer que le droit à liberté d’expression et le droit de réunion pacifique et d’association soient pleinement protégés, et notamment le droit d’être informé par tous moyens, en ligne et hors ligne, conformément aux dispositions des Articles 19, 21 et 22 du PIDCP.

    *Annexe : liste non exhaustive des principaux cas au Viet Nam, renseignée par PEN International et mise à jour au 30 juin 2015

    1. Purgent actuellement des peines de prison : – Bui Thi Minh Hang (f) 3 ans, Dang Xuan Dieu 13 ans, Dinh Nguyen Kha 4 ans, Ho Duc Hoa 13 ans, Ho Thi Bich Khuong (f) 5 ans, Le Van Son 4 ans, Ngo Hao 15 ans, Nguyen Dang Minh Man (f) 9 ans, Nguyen Dinh Cuong 4 ans, Nguyen Kim Nhan 5 ½ ans, Nguyen Thanh Long (pasteur Nguyen Cong Chinh) 11 ans, Nguyen Thi Thuy Quynh (f) 2 ans, Nguyen Van Ly (Père Thadeus) 8 ans, Phan Ngoc Tuan 5 ans, Thai Van Dung 4 ans, Tran Huynh Duy Thuc 16 ans, Tran Vu Anh Binh 6 ans, Tran Minh Nhat 4 ans, Vo Minh Tri (nom de plume : Viet Khang) 4 ans ;
    2. Assignés à résidence depuis 2003 : Dang Phuc Tue (Vénérable Thich Quang Do), 87 ans, moine et poète boudhiste ;
    3. Arrêtés et maintenus en détention préventive : – Nguyen Huu Vinh (nom de plume : Anh Ba Sam) et Nguyen Thi Minh Thuy (f) depuis le 5 mai 2014, Nguyen Dinh Ngoc (nom de plume : Nguyen Ngoc Gia) depuis le 27 décembre 2014 ;
    4. Détenus sur chef(s) d’accusation et libérés sous conditions : – Le Hong Tho (nom de plume : Nguoi Lot Gach) arrêté le 20 novembre 2014 et remis en liberté conditionnelle le 11 février 2015, Nguyen Quang Lap (nom de plume : Que Choa) arrêté le 6 décembre 2014 et remis en liberté conditionnelle le 10 février 2015.

    ***************************************************************************
    RESOLUTION on the Socialist Republic of Viet Nam

    Resolution submitted by PEN Centre Suisse Romand and PEN Centres Swiss German and Swiss Italian and Reto-Romansch, and Vietnamese Abroad.

    The Assembly of Delegates of PEN International, meeting at its 81st World Congress in Quebec, Canada, 13th to 16th October 2015

    The Socialist Republic of Vietnam (SRV) is a one-party authoritarian state where pervasive restrictions on freedom of expression exist. The Assembly of Delegates of PEN International has repeatedly expressed concern about such restrictions, including the large number of writers in prison, most recently in 2014. Although PEN recorded the release of 14 writers in 2014, most on expiry of their sentences, there has been little other progress towards eliminating the obstacles identified. More recently, on 19 September 2015, blogger Ta Phong Tan was released into exile, a worrying trend where the price of freedom is a life abroad apart from family, friends and colleagues.
    Government authorities continue to restrict freedom of speech and freedom of the press and to suppress dissent. The Internet is controlled and often blocked and freedom of religion is restricted. The authorities closely track and monitor the peaceful activities of human rights activists, often violating the right to privacy, and continue to restrict freedom of assembly, freedom of association, and freedom of movement, through travel bans and passport confiscation.
    Specific violations against writers include torture and other ill-treatment by police; and arrest and arbitrary detention because of human rights activities. Vaguely worded national security charges in the Penal Code are often used to imprison and silence those who express dissent. Many are denied the right to fair and prompt trial as the judicial system is not transparent and lacks independence, with economic and political influence often affecting trial results. Prison conditions are dire, with many prisoners and detainees suffering severe ill-health as a consequence.

    PEN International is seriously concerned at the situation of at least 20 writers who are currently serving prison sentences or are detained for their peaceful free expression. These are the people on the front lines in the struggle for Vietnamese culture, its ethics and its humanity. They include:

    • Ho Thi Bich Khuong (born 1967), a blogger, human rights defender and author of a memoir in prison, satirical poems and online articles. In June 2006, her husband was mysteriously murdered in their village while she was in Hanoi to file complaints for victims of injustice. Detained briefly many times and having served two previous prison sentences in 2005 and 2007, she was arrested again in January 2011 and sentenced in December 2011 to 5 years in prison and 3 years in probationary detention, for “propaganda against the SRV”’. Reportedly beaten by other common-law prisoners, she has frequently been held in solitary confinement for protesting against detention conditions by hunger strikes. She suffers from a long-untreated broken collarbone due to lack of adequate medical care. In January 2015, she went on hunger strike when she was secretly transferred to another camp in the North.

    • Tran Huynh Duy Thuc (born 1966), a poet and prolific blogger, and businessman. Co-author of the banned book The Way for Viet Nam, he published his poems and articles on the socio-political situation on his various web blogs. Arrested in May 2009, he was sentenced to 16 years in prison and 3 years in probationary detention after a one-day trial in January 2010 for “propaganda against the SRV’’ and ‘’dissident activity against people’s administration” in connection with his writings. Held in poor conditions in several different forced labour camps, his health is worsening.

    The Assembly of Delegates of PEN International urges the Socialist Republic of Viet Nam to:

    • Release immediately and unconditionally all writers, including bloggers, poets and journalists, and anyone else held solely on account of their peaceful exercise of their right to freedom of expression;
    • Cease the practice of releasing imprisoned writers into enforced exile;
    • Cease all harassment of individuals with opposing views to the government or who demand respect for fundamental freedoms;
    • End the confiscation of passports of dissidents and bans on foreign travel;
    • Guarantee the right to due process of law, to a fair trial with independent judges and lawyers;
    • Improve conditions in prison and forced labour camps to meet internationally recognized standards for detention, ensuring that all detainees receive all necessary medical care;
    • Facilitate prisoner’s family visits, including by ensuring all detainees be held in facilities within a reasonable distance of their homes;
    • Prohibit all forms of torture and ill-treatment, including prolonged solitary confinement, and investigate all reports of such treatment immediately and impartially, bringing perpetrators to justice and granting compensation to victims;
    • Repeal or amend all provisions in Viet Nam (SRV) laws that criminalize dissenting views and free words on the basis of imprecisely defined ‘’national security’’ crimes, including Articles 79, 88 and 258 of the Penal Code;
    • Abolish all censorship, mass surveillance and restrictions on freedom of expression and freedom of the press;
    • Ensure the rights to freedom of expression, peaceful assembly and association are fully protected, including the right to be informed by all means, both online and offline, in compliance with the Articles 19, 21 and 22 of the ICCPR.

    *Annex: Non-exhaustive list of main cases in Viet Nam documented by PEN International as of 30 June 2015

    1. Currently serving prison sentences : – Bui Thi Minh Hang (f) 3 years, Dang Xuan Dieu 13 years, Dinh Nguyen Kha 4 years, Ho Duc Hoa 13 years, Ho Thi Bich Khuong (f) 5 years, Le Van Son 4 years, Ngo Hao 15 years, Nguyen Dang Minh Man (f) 9 years, Nguyen Dinh Cuong 4 years, Nguyen Kim Nhan 5 ½ years, Nguyen Thanh Long (pastor Nguyen Cong Chinh) 11 years, Nguyen Thi Thuy Quynh (f) 2 years, Nguyen Van Ly (Father Thadeus) 8 years, Phan Ngoc Tuan 5 years, Thai Van Dung 4 years, Tran Huynh Duy Thuc 16 years, Tran Vu Anh Binh 6 years, Tran Minh Nhat 4 years, Vo Minh Tri (pen-name Viet Khang) 4 years;
    2. Under house arrest since 2003: Dang Phuc Tue (Ven. Thich Quang Do), 87-year-old, Buddhist monk and poet;
    3. Arrested and held under prolonged pre-trial detention :- Nguyen Huu Vinh (pen-name Anh Ba Sam) and Nguyen Thi Minh Thuy (f) since 5 May 2014, Nguyen Dinh Ngoc (pen-name Nguyen Ngoc Gia) since 27 December 2014;
    4. Detained with charges and Released on bail :- Le Hong Tho (pen-name Nguoi Lot Gach) arrested on 20 November 2014 and released on bail on 11 February 2015, Nguyen Quang Lap (pen-name Que Choa) arrested on 6 December 2014 and released on bail on 10 February 2015.

    ****************************************************************************
    RESOLUCIÓN sobre República Socialista de Viet Nam

    Resolución sobre República Socialista de Viet Nam presentado por los Centros PEN Suisse Romand, Suizo Alemán, Suizo Italiano y Retorromanico, y el Vietnamitas en el exterior.

    La Asamblea de delegados de PEN Internacional, reunida en su 81º Congreso Internacional en Quebec, Canadá, del 13 al 16 de octubre de 2015.

    La República Socialista de Vietnam es un estado autoritario unipartidista en donde las restricciones a la libertad de expresión existen de manera generalizada. La Asamblea de delegados de PEN Internacional ha expresado repetidamente su preocupación sobre dichas restricciones, incluyendo el gran número de escritores encarcelados, más recientemente en 2014. Aunque PEN registró la liberación de 14 escritores en 2014, principalmente debido a la expiración de sus sentencias, ha habido muy poco progreso adicional en relación a la eliminación de los obstáculos anteriormente identificados. Recientemente, el 19 de Septiembre de 2015, el bloguero Ta Phong Tan fue llevado al exilio, una tendencia preocupante, dónde el coste de la libertad es una vida en el extranjero, lejos de la familia, amigos y compañeros.
    Las autoridades del gobierno continúan restringiendo las libertades de expresión y de prensa, y eliminando la oposición. El internet está controlado y, a menudo, bloqueado, y la libertad religiosa está restringida. Las autoridades rastrean y vigilan de cerca las actividades pacíficas de los activistas de derechos humanos, violando frecuentemente su derecho a la privacidad, y continúan restringiendo las libertades de reunión, asociación y movimiento a través de prohibiciones de viaje y la confiscación de pasaportes.

    Algunas violaciones específicas en contra de los escritores incluyen tortura y maltrato por parte de la policía, así como arrestos y detenciones arbitrarias debido a sus actividades en materia de derechos humanos. Crímenes contra el Código Penal, vagamente enunciados, son usados a menudo para encarcelar y silenciar a aquellos que expresan desconformidad. Se les es negado a muchos el derecho a un juicio justo y expedito, ya que el sistema judicial no es transparente y carece de independencia, y la influencia política y económica afecta continuamente los resultados de los juicios. Las condiciones penitenciarias son extremas, con muchos prisioneros y detenidos sufriendo como consecuencia complicaciones de salud.

    PEN Internacional está seriamente preocupado por la situación de al menos 20 escritores que están actualmente cumpliendo sentencias de prisión o que están detenidos por su expresión libre y pacífica. Estas son las personas en las líneas de batalla en la lucha por la cultura vietnamita, su ética y su humanidad. Ellos incluyen:

    • Ho Thi Bich Khuong, bloguera, defensora de derechos humanos y autora de un libro de memorias en prisión, poemas satíricos y artículos en línea. En junio de 2006, su esposo fue misteriosamente asesinado en su aldea mientras ella se encontraba en Hanói presentando quejas de víctimas de injusticia. Detenida brevemente varias veces y habiendo servidos dos sentencias de prisión previas en 2005 y 2007, fue arrestada de nuevo en Enero de 2011 y sentenciada en diciembre de 2011 a cinco años de prisión y tres años en detención probatoria por “propaganda contra la República Socialista de Vietnam”. Según se informa, golpeada por otros prisioneros de hecho, ha sido frecuentemente mantenida en aislamiento por protestar en contra de las condiciones de detención por medio de huelgas de hambre. Por un largo tiempo, ha sufrido de una fractura de la clavícula debido a la falta de atención médica adecuada. En enero de 2015, realizó una huelga de hambre cuando fue transferida secretamente a otro campo en el norte.
    • Tran Huynh Duy Thuc (nacido en 1966) poeta, bloguero y hombre de negocios. Co-autor del libro prohibido El camino para Viet Nam , publicó sus poemas y artículos sobre la situación socio-política en varios blog y sitios web. Arrestado en mayo de 2009, fue sentenciado a 16 años de cárcel y 5 en detención provisional después de un juicio que duró un día en Enero del 2010, por “propaganda en contra de SRV” y “actividad disidente contra la administración del pueblo”, en conexión con sus escritos. Detenido en diferentes campos de trabajo forzado, su salud está empeorando.

    La Asamblea de Delegados de PEN Internacional insta a la República Socialista de Vietnam a:

    • Liberar inmediatamente e incondicionalmente a todos los escritores, incluyendo blogueros, poetas y periodistas, y a cualquier detenido únicamente por el ejercicio pacífico de su derecho a la libertad de expresión;
    • Cesar la práctica de liberar escritores encarcelados mandándolos al exilio;
    • Cesar todo acoso a individuos con opiniones opuestas al gobierno o a quien exija respeto hacia sus libertades fundamentales;
    • Dar fin a la confiscación de pasaportes de los disidentes y a las prohibiciones de viajes al extranjero; • Garantizar el derecho a un debido proceso de ley, a un juicio justo con jueces independientes y abogados;
    • Mejorar las condiciones en las cárceles y campos de trabajos forzados para que cumplan con los estándares internacionales reconocidos para la detención, asegurando que todos los detenidos reciban el tratamiento médico necesario;
    • Facilitar las visitas a los familiares de los prisiones, al asegurarse que todos los detenidos sean mantenidos en instalaciones dentro de una distancia razonable de sus hogares;
    • Prohibir todas las formas de tortura y maltrato, incluyendo aislamiento prolongado e investigar todos los reportes de dicho trato inmediatamente e imparcialmente, llevando a los infractores ante la justicia y garantizando una compensación a las víctimas;
    • Revocar o enmendar todas las disposiciones en las leyes de Vietnam que criminalicen las opiniones disconformes y la libre expresión sobre la base de crímenes imprecisamente definidos como “seguridad nacional”, incluyendo los artículos 79, 88 y 258 del Código Penal;
    • Abolir toda censura, vigilancia en masa y las restricciones a las libertades de expresión y de prensa; • Asegurar que los derechos de libertad de expresión, asamblea pacífica y asociación estén completamente protegidos, incluyendo el derecho a ser informado por todos los medios, ya sea en línea o sin conexión, de acuerdo con los artículos 19, 21 y 22 del Pacto Internacional de Derechos Civiles y Políticos.

    *Anexo: Lista no exhaustiva de los principales casos en Vietnam documentados por PEN Internacional al 30 de junio de 2015
    1. Cumpliendo sentencias de prisión actualmente: Bui Thi Minh Hang (f), 3 años; Dang Xuan Dieu, 13 años; Dinh Nguyen Kha, 4 años; Ho Duc Hoa, 13 años; Ho Thi Bich Khuong (f), 5 años; Le Van Son, 4 años; Ngo Hao, 15 años; Nguyen Dang Minh Man (f), 9 años; Nguyen Dinh Cuong, 4 años; Nguyen Kim Nhan, 5 ½ años; Nguyen Thanh Long (pastor Nguyen Cong Chinh), 11 años; Nguyen Thi Thuy Quynh (f), 2 años; Nguyen Van Ly (padre Thadeus), 8 años; Phan Ngoc Tuan, 5 años; Thai Van Dung, 4 años; Tran Huynh Duy Thuc, 16 años; Tran Vu Anh Binh, 6 años; Tran Minh Nhat, 4 años; Vo Minh Tri (nombre de pluma: Viet Khang), 4 años;

    2. Bajo arresto domiciliario desde 2003: Dang Phuc Tue (Ven. Thich Quang Do), 87 años, monje budista y poeta;

    3. Bajo arresto y detención prolongada previo al juicio: Nguyen Huu Vinh (nombre de pluma: Anh Ba Sam) y Nguyen Thi Minh Thuy (f) desde el 5 de mayo de 2014, Nguyen Dinh Ngoc (nombre de pluma: Nguyen Ngoc Gia) desde el 27 de diciembre de 2014;

    4. Detención con cargos y puesto en libertad bajo fianza: Le Hong Tho (nombre de pluma: Nguoi Lot Gach) arrestado el 20 de noviembre de 2014 y liberado bajo fianza el 11 de febrero de 2015; Nguyen Quang Lap (nombre de pluma: Que Choa) arrestado el 6 de diciembre de 2014 y liberado bajo fianza el 10 de febrero de 2015.

    ——————————————————————————————————————————
    Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ . Ligue Vietnamienne des Droits de l’Homme en Suisse . Vietnamese League for Human Rights in Switzerland.

    **********************************************************************************************************

  4. TIẾP THEO…*BỐN MƯƠI NĂM TỘI ÁC CỘNG SẢN . Ở TRONG TRÁI TIM MỖI NGƯỜI VIỆT NAM CHÚNG TÔI, MỖI NGÀY LÀ NGÀY 30 CỦA THÁNG TƯ ĐEN .

    Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ

    Góp lời Tưởng niệm

    NGÀY 3 THÁNG GIÊNG NĂM 2016,
    HAI TRĂM NĂM MƯƠI NĂM NGÀY SINH NGUYỄN DU KHÓC TỐ NHƯ

    Thơ Nguyễn Du, truyện Kiều, lục bát bây giờ không còn là thơ nữa, mà là những dòng lệ :
    (…) Trải qua một cuộc bể dâu
    Những điều trông thấy mà đau đớn lòng (…)

    Đó là những giọt nước mắt nhân ái, bao dung trào lên từ một trái tim đau buồn, xót thương và phẫn nộ của một nhà thơ, Cụ Nguyễn Du. Trước thân phận dân tộc bị phản bội, ngược đãi, sát hại và làm nhục, thi hào Nguyễn Du không cầm được nước mắt. Đúng hai trăm năm mươi năm (3-1-1766/3-1-2016) sau ngày sinh, chính Tố Như cũng còn phải khóc. Một chế độ tàn bạo, vô văn hóa và phi nhân nghĩa đã dựng tượng và vinh danh ông để rao bán với thế giới. Trong lúc đó, chúng dùng bạo lực bịt mắt, bưng tai, giam tiếng nói, chúng uốn bút, đẽo lưỡi, tẩy não buộc con người Việt Nam vốn chân thật, hiền hòa, trở thành độc ác, gian dối.
    Và đảng xã hội đen đỏ cầm quyền ở Hà Nội đã ‘’lưu đày’’ tác giả Truyện Kiều ngay trên quê hương đang bị ngoại bang lấn tới, chiếm dần :

    (…) Nam Quan mất Chi Lăng bỏ ngỏ
    Bát men Ngọc Lý cống Bắc triều
    Hà Hồi im tiếng trống Ngọc Lũ
    Bản Giốc thác buồn nghe quốc kêu

    Lê Chiêu Thống thờ trong Văn Miếu
    Mưa Hồ Gươm mặn cát Hoàng Sa
    Sóng Bạch Đằng khóc voi Trưng Triệu
    Cao Nguyên rước Mã Viện vào nhà (…)
    (Ngàn Năm Thăng Long*)

    Chúng ta biết ‘’Vua thời Lý cũng đau lòng’’ qua những chuỗi dài những năm tháng bị chiếm đóng, bao vây, lùng bắt, ‘’Đêm đêm Hà Nội nhớ Thăng Long’’ .
    Nhà thơ và nhà văn hóa Nguyễn Du vẫn mơ tới thuở ‘’Rồng bay ngang Thành Cổ Loa’’. Nhưng ông cũng phải khóc khi nhìn thấy cái gọi là bản đồ ‘’Việt Nam (Vietnam) dưới đây được phổ biến trên Liên Mạng Internet mấy ngày cuối năm 2015. Bản đồ này là bản đồ một nước Việt Nam bị Việt cộng tạm chiếm, mới viết lại địa danh Plây Cu Hô Chi Minh Buon Me Thuot (sic) và bị Trung cộng bảo hộ, vẫn viết Biển Nam Trung Hoa – Mer de Chine méridionale (sic) thay vì Biển Đông, với sự đồng lõa của thực dân Pháp, Golfe du Tonkin, Cordillère Annamitique (sic).
    *Vietnam

    Cho nên, Thơ Nguyễn Du, truyện Kiều, lục bát bây giờ không còn là thơ nữa,
    mà là những dòng lệ :

    (…) Trải qua một cuộc bể dâu
    Những điều trông thấy mà đau đớn lòng (…).

    *********************************************************************

    *Thơ
    NGÀN NĂM THĂNG LONG

    Ta có ngàn năm xưa dựng nước
    Yêu Quê Hương và quý Tự Do
    Ta có ngàn năm để đuổi giặc
    Nụ cười tiếng hát cho trẻ thơ

    Đêm nay Hà Nội nhớ Thăng Long
    Nhớ thời Vua Lý thêm đau lòng
    Năm mươi tư Rồng rơi nước mắt
    Tiễn dân miền Bắc ra biển Đông

    Tết Mậu Thân đỉnh cao tội ác
    Gia Hội chôn sống Huế điêu tàn
    Khe Đá Mài Phú Thứ Đồi Cát
    Thương xót dân Rồng cũng chịu tang

    Sau Đà Nẵng Sài Gòn thất thủ
    Di tản vào châu thổ Cửu Long
    Bảy mươi lăm Rồng không về nữa
    Bay với thuyền nhân ra biển Đông

    Đại La thành dựng tượng Lê Ninh
    Bá Bạch Quân Thủ Đức hành hình
    Ven sông Hồng dân oan đói khổ
    Rời Hoa Lư về núi Chí Linh

    Nam Quan mất Chi Lăng bỏ ngỏ
    Bát men Ngọc Lý cống Bắc triều
    Hà Hồi im tiếng trống Ngọc Lũ
    Bản Giốc thác buồn nghe quốc kêu

    Lê Chiêu Thống thờ trong Văn Miếu
    Mưa Hồ Gươm mặn cát Hoàng Sa
    Sóng Bạch Đằng khóc voi Trưng Triệu
    Cao Nguyên rước Mã Viện vào nhà

    Bịt mắt bưng tai giam tiếng nói
    Uốn bút đẽo lưỡi giả bồ câu
    Tẩy não buộc con người gian dối
    Vệ binh Mao quý hơn đồng bào

    Ai rao bán trẻ con phụ nữ
    Thế giới nhìn Việt Nam hôm nay
    Xuất cảng lao nô đảng tỉ phú
    Quan tham ô bắt dân kéo cày

    Án tù chồng chất tội yêu nước
    Công lý phi nhân luật bạo quyền
    Phá nghĩa trang đấu tố liệt sĩ
    Địa ngục chết còn muốn dựng lên

    Gió đông buốt lạnh tù Thanh Cẩm
    Hỏa Lò nóng cháy rừng U Minh
    Long Khánh Hàm Tân qua Suối Máu
    Ba Sao Thanh Liệt tới Hoàng Liên

    Từ chốn lưu đày nhớ Thăng Long
    Bà Huyện Thanh Quan cũng đau lòng
    Nhớ bạn tù chết trong ngục tối
    Nhớ người thân mất tích biển Đông

    Từ Ngô Quyền tới Trần Hưng Đạo
    Bao thế hệ bồi đắp cõi bờ
    Có Lê Lợi Nguyễn Trải Nguyễn Huệ
    Và Nghĩa Sĩ Việt Nam Tự Do

    Trương Định Đề Thám Phạm Hồng Thái
    Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu
    Nguyễn Thái Học Cô Giang Cô Bắc
    Nguyễn An Ninh và Tạ Thu Thâu

    Nguyễn Trung Trực Kiên Giang Nhựt Tảo
    Ngụy Văn Thà chết cho quê hương
    Mơ Rồng về bay ngang quần đảo
    Mơ Gánh Hàng Hoa khắp nẽo đường

    Cảo thơm hương sắc vườn Văn Hiến
    Chu Văn An và Lê Quý Đôn
    Sương Nguyệt Ánh và Đoàn Thị Điểm
    Nguyễn Du Đồ Chiểu Hồ Xuân Hương

    Hà Nội không chỉ nhớ Thăng Long
    Nhớ Sài Gòn Huế nhớ Hải Phòng
    Nhớ Công Nhân Thanh Nghiên Thanh Thủy
    Anh chị em bạn tù bất công

    Bà Mẹ nói con tôi vô tội
    Khi điểm mặt đảng xã hội đen
    Uất ức biển ta ơi con viết
    Quân sát nhân thái thú ngụy quyền

    Nửa thế kỷ ngồi canh ngọn nến
    Dung nhan em có bớt hao gầy
    Từ buổi kinh đô bị giặc chiếm
    Cành Nam bốn mùa chẳng đổi thay

    Hà Nội con tin nhìn qua đêm
    Trăng xưa thôi chải tóc trước thềm
    Quanh Trụ Đồng công an tuần rảo
    Em ơi Chim Việt có bình yên

    Đêm nay Hà Nội nhớ Thăng Long
    Biết Vua thời Lý cũng đau lòng
    Người đi dưới ánh sao Khuê đó
    Vững tin nơi Hồn Thiêng Núi Sông.

    Nguyên Hoàng Bảo Việt (2010)
    hội viên Nhà Văn Việt Nam Lưu Vong,
    Trung Tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp Thoại
    và Hội Nhà Văn Liên Hiệp Quốc ở Genève (Thụy Sĩ).

    Genève tháng Giêng 2016 / Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ
    Ligue vietnamienne des Droits de l’Homme en Suisse
    Vietnamese League for Human Rights in Switzerland

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: