vietsoul21

Nô lệ – Chủ nô

In Cộng Đồng, Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Triết Học, Việt Nam on 2016/07/05 at 10:05

Slavesdreamof

“Người nô lệ không mơ tới tự do nhưng mộng thành người chủ nô” – “Slaves dream not of freedom but of becoming master.” (Cóp từ fb Quynh-Tram H. Nguyen)

Câu nói này có vẻ cay đắng trái sự thật nhưng đó lại là một thực tế khó chối cãi.

Tại sao?

Chẳng phải khi người nô lệ bị hành hạ thể xác và nhục mạ tinh thần họ không nghĩ đến tự do chăng. Họ chắc hẳn mơ đến cuộc sống tự do trước khi bị làm nô lệ và mong ước cho tương lai có được tự do. Họ phản kháng lại mối tương quan “chủ nô – nô lệ” và muốn phá vỡ nó để được tự do.

Thế nhưng tại sao họ lại không mơ đến tự do?.

Khi người nô lệ bị thuần hóa và không còn nghĩ đến tự do nữa đó là lúc nguời nô lệ chuyển từ nô lệ thể xác đến nô lệ tinh thần. Họ chấp nhận mối quan hệ “chủ – nô” và xem đó là điều hiển nhiên. Điều họ mộng mị là trở thành chủ nô.

Ai là kẻ nô lệ, ai là người tự do? Kẻ thống trị như thế nào?

Thế nào là nô lệ và tự do ra sao?

Những cái chuồng rộng lớn sơn son, treo đèn, sưởi ấm và máng luôn đầy thức ăn vỗ béo có phải là tự do? Khi con vật luôn chúi đầu vào máng thì nó đã chấp nhận là gia súc. Khi con vật tìm cách nhảy ra khỏi chuồng, không màng thức ăn thì nó là thú thiên nhiên mơ được tự do tìm nguồn sống. Khi con vật mong được ổn định trong chuồng thì nó sống “hạnh phúc” cho đến ngày vào lò mổ. Khi con vật nhảy ra khỏi chuồng thì chắc chắn nó phải tranh đấu từng ngày để sinh tồn và đó là sự lựa chọn của tự do.

Người tự do là người phản kháng lại áp bức của kẻ thống trị. Dù ở trong tù hoặc trong mọi tình cảnh nào họ vẫn luôn phản kháng để phá vỡ mối quan hệ “chủ – nô”.

Người ta đã đúc kết được 7 đặc tính chung về kẻ thống trị[1]. Nhà cầm quyền csvn có đầy đủ các đặc tính đó.

  1. Kẻ thống trị cung cấp và tận dụng các nguồn lực bạn tưởng rằng bạn cần để họ điều khiển được bạn. ( chế xin-cho. Chế độ hộ khẩu. Chế độ sở hữu nhà nước.)
  2. Kẻ thống trị tuyên truyền về cái vĩ đại, ưu việt, và luôn độc quyền. Không ai có thể toàn bích như kẻ thống trị. (Thiên đàng XHCN. CNXH siêu việt. Đảng csvn đỉnh cao trí tuệ loài người. Việt Nam anh hùng. Bác Hồ vĩ đại. Đại Bồ Tát HCM. Ông tiên Bác Hồ. Lương tri nhân loi.)
  3. Kẻ thống trị buộc bạn tuân thủ như con lừa và không chấp nhận bị thẩm tra hoặc đặt câu hỏi. (Luật là tao, tao là luật. Xã hội pháp trị. Tự do cái con c.)
  4. Kẻ thống trị dựa vào đường lối sinh hoạt bí mật, dối chối, và che đậy. Kẻ thống trị không bao giờ chịu nhận những sai phạm trước công chúng và không hề giảm các hành vi gây tổn thương. (Văn hóa không từ chức. Cơ cấu nhân sự. Đảng cử dân bầu.)
  5. Kẻ thống trị áp bức khiến bạn ngờ nghĩ rằng bạn sai trái. Bạn là người sai trái và kẻ áp bức không bao giờ nhận phần sai. (Thế lực thù địch.)
  6. Kẻ thống trị luôn phân tâm, chia trí bạn để không còn nghĩ gì về họ làm. (Truyền thông và báo chí chuyên đề hót gơ, chân dài, sao l hàng.)
  7. Kẻ thống trị bẫy mọi người chống đối với nhau. Chúng đánh lệch cái nhìn của bạn để bạn nghĩ chúng ta đang sống trong một thế giới thiếu thốn. Chúng làm cho bạn nghĩ những ai không giống bạn là một mối đe dọa đến sự an toàn và an sinh của bạn. (thượng đội hạ đạp, cơ cấu nhân sự, bình bầu tân tiến, đội ngũ dư luận viên, bồi bút bưng bô)

Nhìn lại Việt Nam dưới sự cai trị của nhà cầm quyền csvn nội-thực-dân thì chúng ta có thể thấy ngay được hiện tượng này một cách quá rõ ràng. Người dân làm nô lệ cho bọn vua quan dòng họ những tên chóp bu bct và trung ương đảng. Đứng đầu các bộ ngành và quốc hội là bọn cai thầu nô lệ thay mặt đảng để áp đặt (cơ chế và hệ thống) áp bức với người dân.

Qua việc ô nhiễm hủy hoại môi trường sống ở Vũng Áng và các tỉnh miền Trung gây ra bởi Formosa chúng ta thấy gì. Đảng và nhà nước csvn hành xử như một tập đoàn băng đảng. Chúng coi người dân như kẻ nô lệ không phải là chủ nhân của đất nước. Chúng bảo người dân tụi bay đừng có mà léng xéng bàn chuyện nội bộ băng đảng chúng tao vì mọi việc phải là chúng tao dàn xếp với đối tác làm ăn. Chúng bảo người dân đi ra chỗ khác chơi không được bàn chuyện rùm beng trong khi chúng chưa quyết định phương án giải quyết có lợi cho chúng (sống chết mặc bay tiền thầy bỏ túi). Chúng hành hung, trấn áp người dân biểu tình lên tiếng và khủng bố đe dọa họ.

Ai cũng đã biết tỏng thủ phạm là Formosa ngay khi tên giám đốc đối ngoại tuyên bố thẳng là “Phải lựa chọn, muốn bắt tôm cá hay là xây nhà máy thép hiện đại?” thế nhưng băng đảng csvn đã giở trò “cứt trâu để lâu hóa bùn” cho phép Formosa thời gian để phi tang và chuyển từ tội phạm cố tình thành lỗi sơ xuất qua “sự cố mất điện”.

Formosa chỉ là một hiện tượng ngay bây giờ trong mối tương quan “chủ – nô” giữa đảng csvn và người dân. Bô-xit Tây Nguyên, nhà máy giấy ở Hậu Giang, đập thủy điện, nhà máy hạt nhân v.v. là các hiện tượng hôm nay và ngày sau.

Những tay cai thầu nô lệ bắt đầu ong ỏng dàn đồng ca cho rằng nhà nước csvn đã truy tìm nguyên nhân và giải quyết được vấn đề cùng lúc đe dọa người dân lên tiếng như những “thế lực thù địch”.

Mũi dùi chỉa thẳng vào Formosa, thủ phạm trực tiếp tàn phá sinh thái Vũng Áng và biển miền Trung và họ đã cúi đầu nhận tội, dù đã cố tình lấp liếm bằng sơ suất “mất điện”. Nếu thực ra có sơ xuất mà họ thông báo và có biện pháp khắc phục thì chắc chắn ảnh hưởng và tác động đến môi trường chắc phải giảm nhẹ hơn nhiều. Nhưng khả năng họ xả thải vô tội vạ

Mũi dùi lại không trực diện với đảng và nhà cầm quyền csvn: (1) Cho phép xả thải hủy hoại môi trường (2) Không kiểm tra, thanh tra (3) Bao che làm đồng lõa với thủ phạm Formosa từ đầu tới đuôi đưa nguyên nhân cá chết “vì thủy triều đỏ”, “vì tảo nở hoa”, “vì biến đổi khí hậu”, “có thể là do sức ép của âm thanh, sóng, động đất…” và cuối cùng là vì sự cố “mất điện” (4) Lừa bịp người dân bằng những loạt phát ngôn “asen ko độc”, “cá nhiễm phenol vẫn ăn được”, “Hải sản tươi sống ở Hà Tĩnh, Quảng Bình đều an toàn”, “người dân cũng có thể yên tâm tắm biển ở khu vực Vũng Áng” qua tuyên truyền tổ chức tắm biển, ăn hải sản che đậy mối nguy ô nhiễm ảnh hưởng sức khỏe và đời sống (5) Khuất tất trong định đoạt bồi thường thiệt hại.

Sau hơn 67 năm thuần hóa bằng độc tài chuyên chính cùng với tuyên truyền tẩy não dường như đa số người dân không còn phản kháng lại mối tương quan “chủ – nô” (nô dịch đỏ) giữa đảng csvn và người dân nữa.

Cũng còn một số người với lương tâm và trách nhiệm công dân không chấp nhận mối quan hệ “chủ – nô” và phản kháng lại guồng máy thống trị đó.

“Nước Việt yêu quý của chúng ta rơi vào tình trạng ngày nay, tan hoang, mất độc lập như thế này, bởi vì đảng cầm quyền yếu kém và đầy tội lỗi nhưng lại không bị đào thải, bởi vì người dân vẫn chấp nhận nó, và bởi vì, đa số trí thức vẫn chấp nhận cái đảng ấy. Vì thế, chúng ta đã không thể hòa nhập vào dòng chảy lành mạnh của nhân loại. Và chúng ta đang mất hết mọi thứ, mất đến cả khả năng sinh tồn. Thật đau đớn cho dân tộc Việt. Và nếu nhìn nhận thẳng thắn, thì lỗi lớn thuộc về những người được gọi là trí thức, những người biết cái gì tốt, cái gì xấu, nhưng vẫn chấp nhận cái xấu, không bảo vệ và không ủng hộ và không xây dựng cái tốt.”[2] Nguyễn Thị Từ Huy.

Và còn bao nhiêu người Việt Nam vẫn mơ ước tự do?

© 2016 Vietsoul:21

[1] Letting Go The Language Of Your Oppressor, Angela Savitri

[2] Thư gửi Phạm Đình Trọng, Nguyễn Thị Từ Huy, RFAVietnam.

Bài liên h:

  1. Nô dịch đỏ
  2. Trí nô ký sinh
  3. Nội thực dân

Sức mạnh của chủ nghĩa ngu dân – Dương Thu Hương

In Cộng Đồng, Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2016/03/12 at 18:33

Vốn thích nhạc không lời nhưng đôi khi tôi vẫn nhớ về một câu hát cũ, “Anh ở đầu sông, em cuối sông. Chung nhau dòng nước Vàm Cỏ Đông…” Lãng mạn sao, những cặp tình nhân cùng uống chung một dòng nước. Và hạnh phúc thay những kẻ có thể sống cả đời bên một con sông êm đềm, qua những mùa lúa chín không tiếng súng, những trưa hè có thể nép mình dưới bóng các rặng cây. Nhưng đó là chuyện cổ tích.

Lịch sử cận đại của người Việt Nam đã diễn ra trong khói bom và tiếng nổ của đạn pháo. Cuộc chiến tranh Việt-Mỹ chia cắt đến tận lòng sâu của mỗi gia đình. Sự nhầm lẫn, cự bất khả tri không chỉ xẩy ra giữa hai nền văn hoá Đông-Tây mà còn xẩy ra ngay giữa lòng dân tộc Việt, giữa các thành viên trong một gia đình, một dòng họ, giữa miền Bắc và miền Nam, giữa bên thắng cuộc và bên thua cuộc, giữa người trong nước và những người sống ngoài biên giới… Tóm lại, những người Việt cũng bị chia cách bởi những con sông. Những con sông thiếu vắng những cây cầu.

Khoảng cách giữa người với người có thể còn dài rộng hơn sông, sâu hơn vực thẳm, thế nên, dù trên địa hạt văn chương, tôi coi Albert Camus cao hơn hẳn Jean Paul Sartre, tôi vẫn phải công nhận câu nói nổi tiếng của Sartre là một nghiệm sinh có tính nhân loại, “Tha nhân là địa ngục của ta.”

Đây là kinh nghiệm của chính tôi.

Năm 1994, tôi sang Pháp lần đầu, được một nhóm “Việt kiều yêu nước” đón tiếp. Có lẽ tên ấy được đặt ra khi nhóm này tham gia vào phong trào chống chiến tranh và người cầm đầu nhóm ấy đã từng là phiên dịch cho ông Lê Đức Thọ trong các hội nghị đàm phán hưu chiến ở Paris. Khoảng năm 1990, cũng nhóm này đứng lên lấy chữ ký của Việt kiều trí thức ở Mỹ, Đức, Úc và Pháp trong bản kiến nghị yêu cầu nhà nước và đảng cộng sản Việt Nam mở rộng dân chủ. Sau bản kiến nghị ấy, họ bị cấm về nước một thời gian khá dài, thậm chí còn bị gọi là “các phần tử phản động”.

Như thế, phải hiểu là giữa nhóm Việt kiều này với tôi có chung mục đích tranh đấu cho quyền sống của người dân Việt Nam. Có lẽ cũng vì lý do ấy, họ đón tôi, ít nhất đấy là điều tôi nghĩ. Cuộc đón tiếp diễn ra nồng nhiệt, dường như mang mầu sắc bạn hữu. Tuy nhiên, chỉ một thời gian sau, tôi nhận thấy giữa họ với tôi có rất nhiều điểm bất đồng, đặc biệt là sự nhìn nhận về cuộc chiến tranh Việt-Mỹ.

Tôi tự nhủ,
“Người ta sống trên đời, thường tụ thành bè, còn bạn là thứ quý hiếm, nó còn quý hiếm hơn tình yêu vì không có bệ đỡ tình dục. Tình bạn đòi hỏi một sự cảm thông sâu sắc, những phẩm chất tương đồng, và cơ duyên để có thể cùng nhìn về một hướng, cùng đi theo một ngả. Vì lẽ đó, tình bạn không thể có được một cách dễ dãi. Không có thứ tình cảm nào không cần thử thách, cho dù là tình yêu, tình bạn hay tình đồng đội, tất thảy đều cần phải nung qua lửa mới biết vàng thau”.

Nghĩ thế, tôi chọn thái độ im lặng, lảng tránh các cuộc tranh cãi, vì nếu không là bạn, hà tất phí nước bọt để đôi co?

Tôi biết rõ rằng, đối với nhóm Việt kiều này cuộc chiến tranh chống Mỹ là cần thiết, là niềm kiêu hãnh, là đài vinh quang của dân tộc Việt Nam. Đối với tôi, đó là sự nhầm lẫn lớn nhất trong lịch sử, là cuộc chiến tranh ngu xuẩn nhất, tàn khốc nhất đã xảy ra trong một tình thế đen trắng lẫn lộn, các khái niệm bị đánh tráo, kẻ tham gia cuộc chiến ở phía Bắc nhầm lẫn do trói buộc bởi ngôn từ, kẻ tham chiến ở phương Nam bị cuốn vào dòng chảy của cuộc Chiến tranh Lạnh, và cả hai bên đều bị đặt vào thế đã rồi.

Cuộc chiến tranh Việt-Mỹ là bài học đau đớn nhất, nhục nhã nhất cho dân tộc Việt Nam, mà kẻ chịu trách nhiệm không chỉ là người Mỹ mà còn là chính những người lãnh đạo cộng sản phía Bắc. Trong cuộc chiến tranh ấy, dân tộc Việt tự biến mình thành vật đệm giữa hai toa tầu, là đám lính đánh thuê cho hai hệ thống tư tưởng trái chiều đang tiến hành cuộc chiến tranh Lạnh. Trong suốt một thập kỷ, nước Việt Nam đã thực sự biến thành cái cối xay thịt khổng lồ nhất trong lịch sử của toàn thể loài người.
Năm 2005, tôi trở lại Pháp.

Nhóm “Việt kiều yêu nước” chủ động mời tôi đến ăn cơm tối với họ để trao đổi tình hình. Tôi nhận lời. Bữa cơm ấy diễn ra ở một quán ăn thuộc quận 13. Trước khi đến Paris, tôi đã ở Turin (Ý) một tuần. Trong tuần lễ đó, khá nhiều báo Ý đã phỏng vấn tôi và đã đăng bài tức khắc. Một trong số các bài báo ấy, có đề tựa “Mười triệu người chết trong cuộc chiến Việt Nam”.

Trong các cuộc phỏng vấn tại Turin, tôi đã kể lại hai điều:

– Thứ nhất, khi làm người viết thuê cho các ông tướng, tôi được nghe họ nói với nhau: Chúng ta chỉ công bố con số thật sự khi người Mỹ bồi thường chiến tranh. Như thế, con số phía Mỹ đưa ra (khoảng 5 triệu tử vong) lẫn con số chính quyền Việt Nam đưa ra (hai triệu rưỡi) đều là số sai sự thật.

– Thứ hai, chỉ khi đến Turin tôi mới biết lính các nước chết ra sao và nhờ có sự so sánh ấy, tôi mới biết thân phận người lính và người dân Việt Nam đau khổ đến mức nào. Năm 2005, cuộc chiến tranh đang xảy ra ở Iraq. Báo mỗi ngày đều đăng tin bao nhiêu lính Mỹ, bao nhiêu lính Iraq tử vong. Nếu con số đó chạm tới năm chục đã khiến các nhà báo làm rộn lên, chất vấn tổng thống. Khi số tử vong chạm đến số 100 thì sự căng thẳng trong chính trường đã khiến Nhà Trắng điên đầu. Trong chiến tranh Việt-Mỹ, mỗi lần B52 bay qua, chỉ hai ba phút, dân thường, thanh niên xung phong chết hai trăm, ba bốn trăm, thậm chí nơi đông hơn sáu trăm người nhưng không có một dòng trên báo, không một câu trên đài phát thanh. Không ai hay biết, kể cả người Việt lẫn người nước ngoài.

Tôi nói với các nhà báo Ý:

“Tới tận năm nay, gần sáu mươi tuổi tôi mới thấm thía sự khác biệt giữa kiếp người. Nhờ đọc báo phương Tây, tôi mới biết là người Mỹ và người Iraq chết như người, chết theo kiểu người. Chúng tôi, những người Việt Nam, chúng tôi chết như kiến, chúng tôi chết như ruồi, chúng tôi chết như lá khô rụng, cái chết của chúng tôi hoà lẫn bùn đen, và tan trong câm lặng.”

Vì ở Turin có những Việt kiều liên hệ chặt chẽ với nhóm “Việt kiều yêu nước” ở Paris và gửi báo cho họ nên trong bữa cơm tối hôm ấy, tôi bắt buộc phải bàn cãi với họ về chủ đề chiến tranh Việt-Mỹ. Tôi đã thuật lại cho họ nghe sự tổn thất to lớn của dân tộc khi những người lãnh đạo mắc chứng vĩ cuồng. Rất nhiều trận xảy ra khi lực lượng trinh sát thăm dò địa hình địa vật không kỹ, bộ phận hậu cần chuẩn bị khí tài chưa đủ nhưng cấp chỉ huy ham lập thành tích nên cứ đẩy lính ra chiến trường, kết quả là đại bại. Trong khi ở chiến trường xác lính chết ngập suối, nước không chảy được, chim cắt chim kền kền ăn thịt no đến mức không bay lên nổi, lệnh ở Hà Nội vẫn tiếp tục giục tấn công. May mắn là còn có những vị tướng biết thương dân, thương lính, khóc đỏ mắt, quyết định rút quân và làm báo cáo giả để gỡ tội.

Hồi ấy, tổng tư lệnh của cuộc chiến là Lê Duẩn, đã đưa ra khẩu hiệu:
“Dân tộc chúng ta là dân tộc anh hùng, chỉ có thắng không có thua.
Quân đội chúng ta là quân đội anh hùng, chỉ có tiến không có lùi.”
Điều đó có nghĩa: Chỉ tiến công, không phòng thủ!

Xưa nay, trong lịch sử ngàn năm chống ngoại xâm của dân tộc, bao giờ chúng ta cũng lùi về rừng núi để chờ thời gian mài mòn lòng kiêu ngạo lẫn ý chí quân địch, cũng là để khí hậu nhiệt đới khắc nghiệt quật ngã chúng, cũng là để củng cố quân đội rồi chờ thời cơ thuận lợi mới huy động binh lính và dân chúng tổng tấn công. Khẩu hiệu của ông Lê Duẩn đưa ra là một sự sáng tạo thuần tuý, một ý thơ bay bổng, xuất phát từ tham vọng và lòng kiêu mạn cộng sản. Nhưng thơ phú là thứ chỉ để ngâm ngợi khi gió mát trăng thanh, thơ mà trà trộn với chiến tranh nó biến thành núi xương sông máu.

Đám tướng lĩnh không dám tuyên bố thẳng thừng, nhưng đều hiểu ngầm rằng lãnh tụ của họ là một kẻ vĩ cuồng.

Nhóm “Việt kiều yêu nước” ở Paris nghe tôi nói xong thì hai nhân vật chủ chốt phản ứng dữ dội. Ông X bảo:

– Mục tiêu biện minh cho phương pháp. Muốn thắng cuộc trong chiến tranh thì phải chấp nhận tất cả.

Ông Y phản ứng với con số Mười triệu:
– Con số đó không thật. Ở nước Pháp chúng tôi có các biện pháp khoa học về dân số để chứng mình là con số ấy sai. Làm sao chị có thể nghe theo mấy thằng tướng ngu ấy được?

Tôi im lặng không đáp. Nhưng hôm sau, tôi có nhờ ông Phan Huy Đường, lúc đó còn dịch sách của tôi, nói lại với ông Y:

– Nhờ Đường nói với ông bạn của Đường là về Việt Nam chớ mở mồm mà bảo mấy ông tướng là ngu. Bởi vì, rất nhiều hạ sĩ quan thời đó (trung uý, đại uý, thiếu tá…) biết rõ rằng sinh mạng họ được bảo tồn là nhờ những ông tướng thực sự thương lính và không ham thành tích như tướng Vũ Lăng. Bây giờ, nếu không giải ngũ họ cũng đã leo lên đại tá hoặc thiếu tướng. Nếu ông Y mở mồm bảo tướng của họ là thằng ngu hẳn họ sẽ cho một báng súng vào đầu, hiền hoà nhất họ cũng khạc vào mặt.

Đấy là phản ứng duy nhất của tôi. Trong thâm tâm, tôi quyết định chia tay.

Tôi nghĩ, đám người này cần cuộc chiến tranh chống Mỹ như người đàn bà cần son phấn. Giữa họ với ta chẳng còn điều gì đáng nói. Một cuộc chia tay vĩnh viễn là điều hợp lý hơn cả. Không cần kiệt xuất thông minh, chỉ cần chịu khó quan sát sẽ thấy ngay rằng cộng đồng người Việt ở nước Pháp là một cộng đồng không bản sắc, sống co cụm, một bầy thỏ ngoan ngoãn đối với chính quyền. Họ không gây ra các vụ lộn xộn như người da đen và người Arab theo đạo Hồi, nhưng họ cũng chẳng có tiếng nói, chẳng có một gương mặt nào trên các diễn đàn quyền lực. Vì bản chất nhẫn nhịn, chịu thương chịu khó nên họ thành công ở mức trung bình, trở thành kỹ sư, bác sĩ, nha sĩ, giáo viên đã là giấc mơ tột đỉnh. Hội nhập vào xã hội Pháp chưa lâu, sự tự tin vào bản thân chưa đủ, họ lại bị ám ảnh bởi thân phận lớp người Việt Nam nhập cư trước họ, những người lính thợ bị thực dân cưỡng bức rời quê hương sang Pháp phục vụ tại một số nhà máy làm thuốc súng để thay thế cho các công nhân Pháp ra chiến trường.

Năm 1937, để dự phòng chiến tranh, bộ trưởng Bộ Thuộc Địa và Quân Đội (ministre de la Colonie et de la Défense) Georges Mandel dự tính tuyển 80.000 người Đông Dương. Tháng 6 năm 1940 đám thanh niên Việt Nam được dẫn đến hải cảng Pháp gồm: 10.750 người trung kỳ, 7.000 người miền Bắc, 2.000 người miền nam. Đám lính thợ này đã bị đối xử như những con vật, bị dồn vào sống trong những khu nhà tồi tàn, không điện và thiếu nước, không nơi vệ sinh, không lò sưởi và thức ăn không đủ nửa khẩu phần. Mùa đông, những kẻ khốn khổ ngủ trên sàn, đại tiểu tiện ngay bên ngoài cửa, người nọ dẫm vào phân người kia. Đói khát, họ phải đào rễ củ và hái rau dại về ăn. Cái sự thật tàn nhẫn này bị vùi trong câm lặng. Cho đến đầu thế kỷ XXI, mới có vài nhà báo Pháp lên tiếng. Sau đó, Bernard Kouchner, vốn là một ngôi sao cánh tả nhưng sau thất bại của Ségolen Royal trong cuộc tranh cử 2007, đã nhận lời làm bộ trưởng bộ ngoại giao cho chính phủ Sarkozy mới chính thức lên tiếng xin lỗi vì: “Nước Pháp đã đối xử với những người lính thợ Việt Nam như đối với súc vật.”

Trong thực tiễn, nước Pháp đã đối xử với đám lính thợ Việt Nam còn tệ hơn súc vật bởi khi cưỡng chế thanh niên Việt Nam sang Pháp, họ dồn đám người này xuống hầm tầu còn tầng trên, thoáng mát hơn thì để dành cho… những con bò. Cái kinh nghiệm tồi tệ ấy được cấy trong tim như một quá khứ sầu thảm, cộng đồng người Việt không thể tránh khỏi mặc cảm của những kẻ vừa là dân nhập cư, vừa mang nhãn hiệu “Được lôi ra từ vùng đất thuộc địa”. Thế nên, cuộc sống tinh thần của họ dường như đột ngột khởi sắc, bừng bừng ánh sáng khi cuộc chiến tranh Việt-Mỹ xẩy ra. Tại sao?

Dễ hiểu thôi, tinh thần “Bài Mỹ” là chất xi-măng gắn kết một số đông quốc gia trên thế giới, không chỉ các nước thuộc phe Xã hội chủ nghĩa nhưng ngay cả các nước phương Tây. Hành vi của nước Mỹ không chỉ gợi lên lòng căm thù nhưng kèm theo đó cả sự sợ hãi. Nếu có tiền lệ một nước nhược tiểu bị Mỹ chà nát thì sẽ đến lượt các nước khác theo thành ngữ, “Không bao giờ có lần thứ nhất, lần thứ hai mà lại không có lần thứ ba”.

Vả chăng, về mặt lý, cuộc chiến này không thể biện minh, “Không một người Việt Nam nào mang bom sang giết người Mỹ.”

Dù cộng sản hay không cộng sản thì sự thực là không có một người Việt Nam nào cầm dao hoặc cầm súng sang tận nước Mỹ để giết một người Mỹ, hoặc ngay đến một con bò trong trang trại Mỹ cũng không.

Vì thế, lương tâm nước Mỹ phải thức tỉnh. Các vụ biểu tình phản đối chiến tranh trước toà Nhà Trắng của Mỹ điệp với các cuộc biểu tình trước sứ quán Mỹ tại các nước khác. Tiếng hát và ngọn lửa tự thiêu của trí thức Mỹ đốt nóng cả châu Mỹ La-tinh và châu Âu.

Vào thời điểm ấy, người Việt Nam nhập cư chống chiến tranh được hưởng một sự ưu đãi vô tiền khoáng hậu. Đi đến đâu họ cũng được thăm hỏi, giúp đỡ, được coi là người của “một dân tộc anh hùng”. Và, trên các diễn đàn chống chiến tranh, đại diện của “tổ chức Việt kiều yêu nước” được xuất hiện bên cạnh những nhân vật quan trọng bản xứ mà nếu không nhờ ân sủng của cuộc chiến này, không bao giờ họ có cơ hội và có tư thế tiếp xúc. Để ví von, có thể nói rằng: Những con chim vốn nép mình trong bóng tối nhờ ánh đạn lửa mà được nhô đầu ra và há mỏ cất tiếng kêu.

Thế nên, họ cần cuộc chiến tranh Việt-Mỹ.

Lòng ích kỷ, cái kiêu ngã của con người quả là vô giới hạn. Những kẻ sống ở một phương trời, cần máu đồng bào phải đổ ở một phương trời khác để tô điểm cho cuộc sống tinh thần của chính mình.

Chiến tranh thật đẹp khi nó được tạo bằng máu xương kẻ khác!

Từ đây, tôi nghi ngờ hai từ “yêu nước”. Phía sau danh từ này có vô vàn tâm trạng, có vô số động cơ, hoặc xác thực, hoặc ngầm ẩn, hoặc có ý thức, hoặc vô thức.

Danh từ nào cũng lập lờ và cũng có khả năng phản lại nghĩa chính thống.

Như thế, giữa người Việt với người Việt cũng bị chia cách bởi những con sông vô hình. Chắc chắn cũng còn khá lâu mới bắc được cầu qua những con sông ấy.

Chiến tranh Việt-Mỹ đã qua, nhưng sau đó không lâu cái tên Việt Nam lại dội lên trên các kênh thông tin quốc tế. Lần này, là một thứ ồn ào dơ dáy. Chẳng còn là người anh hùng bé nhỏ dám đương đầu với đế quốc Mỹ mà là tác giả của Khổ nạn Thuyền nhân. Ở châu Âu, phái đoàn Việt Nam không còn được chào đón bằng cờ và hoa mà bằng cà chua và trứng thối. Tôi nhớ rằng lần đi châu Âu, ông Võ Văn Kiệt đã hứng trọn một quả trứng thối vào giữa mặt còn đến lượt ông Phan Văn Khải thì thoát nạn nhờ sự bố trí, dàn cảnh công phu của cảnh sát Pháp. Sự đời vốn đổi thay như các lớp tuồng. Điều khốn khổ cho người Việt Nam là dường như họ chỉ được biết đến trong các tình huống đau khổ. Kể từ khi làn sóng “Thuyền nhân” dịu đi, Việt Nam gần như chẳng còn gì để nhớ. Cứ nghe đài phương Tây thì biết, người ta chỉ nhắc tới hai từ Việt Nam khi nhắc tới cuộc chiến tranh Việt-Mỹ, bởi rất nhiều trí thức phương Tây, đặc biệt là các văn nghệ sĩ đã tham gia vào phong trào chống chiến tranh và tuổi trẻ của họ gắn bó với những kỷ niệm của một thời sôi động. Tuy nhiên, ngay cả những người kiên nhẫn nhất và hiểu biết Việt Nam nhiều nhất cũng chưa dám quả quyết rằng họ nắm được sự thực về cuộc chiến tranh này. Điều đó, quá khó khăn.

Một lần, một nhà văn Pháp hỏi tôi:
– Cái gì tạo nên sức mạnh của chúng mày trong cuộc chiến tranh Việt-Mỹ?
Tôi đáp:
– Một nửa là thói quen của hàng ngàn năm chống xâm lược. Nửa kia là sức mạnh của chủ nghĩa ngu dân.
Anh bạn chưng hửng:
– Mày không đùa đấy chứ? Ai có thể tin nổi một thứ lý thuyết quái gở như thế.
Tôi cười:
– Rất nhiều thứ quái gở ở phương Tây lại là sự thực đơn giản ở phương Đông. Và ngược lại.
Bây giờ, tôi xin giải thích “thứ lý thuyết quái gở” này.

Cuộc chiến tranh Việt-Mỹ được đảng cộng sản phát động với lời tuyên bố: Đánh đuổi quân xâm lược Mỹ.

Năm 1964, tôi mười bẩy tuổi. Vào tuổi ấy, tất thảy thanh niên ở miền Bắc không có quyền nghe đài nước ngoài, không có ti-vi, không có máy quay đĩa, không có bất cứ nguồn thông tin nào ngoài báo chí cộng sản và đài phát thanh trung ương. Lần đầu tiên, tôi được nghe những bài hát nước ngoài là năm tôi mười sáu tuổi. Mùa hè năm 1963, anh họ tôi là phiên dịch tiếng Nga dẫn tôi cùng đứa em trai đến nhà ông chuyên gia mỏ thiếc Tĩnh Túc ở Hà Nội. Ông bà ấy đón tiếp rất tử tế, ngoài việc chiêu đãi bánh ngọt và nước trà chanh, còn mở máy quay đĩa cho chúng tôi nghe. Cảm giác của tôi lúc đó là choáng váng, như muốn chết. Đó là cảm giác thật sự khi con người lạc vào một thế giới mà họ vừa cảm thấy ngây ngất vừa cảm thấy như ngạt thở. Đĩa nhạc đó là của Roberto… (không nhớ họ), một giọng ca Ý tuyệt diệu nhưng chết trẻ. Những bài hát tôi nghe là các bài nổi tiếng cổ truyền: Ave Maria, Santa Lucia, Paloma, Sérénade, Histoire d’amour, Besame Mucho…

Ra khỏi cửa nhà ông chuyên gia Nga nọ, tôi bước đi loạng choạng. Lần đầu tiên, tôi hiểu rằng cuộc sống của chúng tôi là cuộc sống của những kẻ bị nhốt dưới hầm. Những bài hát kia là một thứ ánh sáng mà lần đầu tiên tôi được thấy. Ánh sáng đó rọi từ một thế giới khác, hoàn toàn ở bên ngoài chúng tôi. Kể lại chuyện này, để hậu thế nhớ rằng, thời đại của chúng tôi là thời đại của một thứ chủ nghĩa ngu dân triệt để. Một thứ chủ nghĩa ngu dân tàn bạo, nó buộc con người sống như bầy súc vật trong một hàng rào được xây nên bằng đói khát, hà hiếp và tối tăm.

Khi con người bị điều khiển cùng một lần bằng tiếng gào réo của dạ dầy và cái bỏng rát của roi vọt thì họ không thể là người theo nghĩa thực sự. Chủ nghĩa ngu dân là thứ lá chắn mắt ngựa, để con vật chỉ được quyền chạy theo chiều mà ông chủ ra lệnh. Khi tất cả những con ngựa đều chạy theo một hướng, ắt chúng tạo ra sức mạnh của “bầy chiến mã”, nhất là khi, trong máu chúng đã cấy sẵn chất kích thích cổ truyền “chống xâm lăng”.

Với lũ trẻ là chúng tôi thời ấy, danh từ Xâm lăng dùng để chỉ: quân Nguyên, quân Minh, quân Thanh, và bây giờ là quân Mỹ. Danh từ ấy đồng nghĩa với Tô Định, Mã Viện, Thoát Hoan… Tóm lại, Mỹ là lũ giặc phương Bắc nhưng mũi lõ, mắt xanh, tóc vàng.

Ngôn ngữ vốn là một nhà tù, mà chúng tôi không có điều kiện để tiếp cận với các nguồn thông tin khác, các ngôn ngữ khác, nên hiển nhiên chúng tôi là đám tù binh ngoan ngoãn sống trong nhà tù ấy, đinh ninh rằng mình ra đi là để bảo vệ non sông.

Bởi vì, tổ tiên chúng tôi đã quen chết hàng ngàn năm để chống lại những kẻ thù mạnh hơn họ bội phần, chúng tôi cũng sẵn sàng ra chiến trường chống quân xâm lược Mỹ theo đúng cách thức ấy.

Đó là lý do tôi nói, “sức mạnh của chủ nghĩa ngu dân”.

© Dương Thu Hương

Bọn Côn Đồ Điều Hành Việt Nam Còn Khuya Mới Thử Nghiệm Dân Chủ

In Cộng Đồng, Chính trị (Politics), Liên Kết, Thế giới on 2016/01/25 at 22:28

LTS:

Thomas Bass là tác giả quyển “Người Điệp viên Yêu mến Chúng Ta” (Public Affairs, 2009), “Người dự báo” (Holt / Viking Penguin, 1999); “Vietnamerica: Cuộc chiến trở về nhà” (Soho, 1996, 1997); “Tái kiến tương lai” (Addison-Wesley, 1994, 1995); “Cắm trại với các hoàng tử và những truyện khoa học khác ở châu Phi” (Houghton Mifflin, 1990; Penguin 1991; Moyer Bell, 1998); và “The Eudaemonic Pie” (Houghton Mifflin, 1985; Vintage, 1986; Penguin 1991; Authors Guild eBook, 2014).

Quyển “Người Điệp viên Yêu mến Chúng ta” viết về thời gian chiến tranh của bối cảnh Việt Nam, kể lại câu chuyện Phạm Xuân Ẩn–nhân vật vừa là phóng viên báo Times vừa là điệp viên cộng sản. Cuốn sách đã đăng trên tạp chí “The New Yorker” và được phê bình là một “mạc khải” theo lời ông Morley Safer, “lạnh gáy” đối với ông Seymour Hersh, và “rực rỡ” theo Daniel Ellsberg. Ted Koppel thì gọi nó là “một câu chuyện hấp dẫn,” và tiểu thuyết gia trinh thám John le Carré đã viết, “Tôi có nhiều ấn tượng sâu sắc về cuốn sách này. Nó xác đáng, đầy hướng dẫn, và hài hước. Cú sốc của nhị trùng không bao giờ tan biến. Sự cả tin của những kẻ quấy rầy kiêu ngạo cũng không phai mờ.”

Bản quyền phim của sách ấy đã được bán cho Columbia Pictures, Focus Features, BBC, Channel 4, và các công ty khác. Sách của ông Thomas Bass đã đạt danh hiệu “Sách đáng chú ý trong năm” của báo The New York Times và được dịch ra hàng chục ngôn ngữ. Ông đã xuất hiện trên Good Morning America, CNN, NPR, BBC, và các chương trình khác với vai trò bình luận gia. Được ghi danh bởi Trung tâm Báo chí Hải ngoại cho các phóng sự ngoài nước, ông đóng góp thường xuyên cho tờ The New Yorker, Wired, The New York Times, Smithsonian, Discover, và các ấn phẩm khác.

Ông lấy bằng Cử nhân (Danh dự) từ Đại học Chicago và Tiến sĩ về Lịch sử của Ý thức ở  Đại học California tại Santa Cruz. Ông đã nhận được học bổng từ New York Foundation for the Arts, Trung tâm Blue Mountain, và Ford Foundation.

Ông từng giảng dạy văn học và lịch sử tại Hamilton College và Đại học California tại Santa Cruz, và là cựu giám đốc của Hamilton trong Chương trình Thành phố New York về “Truyền thông trong thời đại kỹ thuật số.” Gần đây ông là giáo sư thỉnh giảng tại L’Instituts d ‘Études Politiques (Sciences Po) tại Paris, và hiện là giáo sư tiếng Anh và Báo chí tại Đại học Bang New York, tại Albany, Nữu Ước. Ông Bass sống ở New York cùng vợ và ba con.

_______________________________

Bọn Côn Đồ Điều Hành Việt Nam Còn Khuya Mới Thử Nghiệm Dân Chủ

Việt Nam có thể trông giống như một tiền đồn của chủ nghĩa tư bản, nhưng thật ra bản chất đất nước này là một nhà nước công an trị.

Thomas A. Bass, Tạp chí Foreign Policy, ngày 22/1/2016

Việt Nam là một mô hình gợn sóng trùng chập (“moiré”): Nheo mắt nhìn đất nước này từ một góc nào đó thì bạn thấy một xã hội đầy khát vọng phóng tới tương lai. Nếu nheo mắt từ một góc khác, bạn sẽ thấy một viên cai ngục cổ lổ hủ giam cầm bất cứ ai không chịu phục tùng đường lối của đảng. Ở một góc nhìn thì thấy có nhóm vận động hành lang thiên chính sách ánh dương (sunshine policy) đang chỉa vào các bãi biển đáng yêu, ẩm thực đa dạng, và sức hấp dẫn của Việt Nam như một điểm đến du lịch. Còn tại góc nhìn khác thì lại là các ký giả phóng viên nhân quyền nhắm vào sự lạm quyền và ngược đãi.

Thế đấy! Việt Nam là cái đất nước đang mở rộng đón Tây phương và phát triển rất chóng. Nhưng dẫu Việt Nam có tất cả sự quyến rũ rạng rỡ của nó thì nền văn hóa của đất nước này đang điêu tàn đổ nát. Các tay kiểm duyệt đã bịt miệng và đẩy những nghệ sĩ tài hoa của đất nước này sống lưu vong. Những nhà văn và nhà thơ xuất chúng của Việt Nam không còn sáng tác nữa ngoại trừ những ai đang phát hành tác phẩm của mình dưới dạng tạp chí chui. Báo chí thì là loại doanh nghiệp đồi bại nằm trong tầm kiểm soát của chính phủ. Ngành xuất bản cũng chẳng khác gì. Nghiên cứu lịch sử thì quá nguy hiểm. Các ban bộ ngành tuyên truyền hạn chế tất cả loại tự do—tôn giáo, tư tưởng, ngôn luận.

Hiện nay từ ngày 20 đến 28 tháng 1, Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đang tổ chức lễ hội ngũ niên (heo quay) lần thứ 12 mà họ gọi là Đại hội Đảng. Khoảng 1.500 đảng viên sẽ tập trung tại Hà Nội để thông qua kế hoạch kinh tế năm năm và phê duyệt một loạt đề nghị các ứng cử viên cho Ủy ban Trung ương Đảng, 16 thành viên Bộ Chính trị, và tổng bí thư của đảng (tay ngồi đầu bàn). ĐCSVN—tham nhũng từ trên xuống dưới, ngày càng lan tràn bởi lũ bảo kê, và trung thành với các nhóm Tư bản Thân hữu/bè phái thao túng môi trường kinh tế và pháp lý—duy trì chính phủ Việt Nam, quân sự, phương tiện truyền thông, và 93 triệu người dân bằng gọng kìm. Nhà văn lưu vong Nga Vladimir Nabokov đã từng thốt lên “Mác-xít cần có nhà độc tài, và nhà độc tài thì cần công an mật vụ, và đó là tận thế.”

Các nhà quan sát quốc tế nghiên cứu đại hội Đảng soi tìm các tín hiệu xem phe này hay phe kia sẽ ra mặt. Trong vài tuần tới, các bài viết về phe thân Tây phương chế phục nhóm thân Trung Quốc, hoặc ngược lại, sẽ ra đời. Hiện tượng ái kỷ cho các khác biệt bé nhỏ này đã trượt hụt vấn đề chính. Gần 4 triệu rưỡi Đảng viên chỉ muốn nhặt tiền lẻ “ăn xâu” từ cái chiếu bạc đang cá cược đất nước này. “Xem cứ như là người ta đang đấu đá nhau dưới một tấm thảm,” nhà thơ Nguyễn Quốc Chánh đã nói thế về các cuộc họp kín để bầu ra những nhà cai trị Việt Nam.

Đúng là ĐCSVN đã chuyển đổi kể từ khi thống nhất đất nước sau chiến tranh Việt Nam vào năm 1975. Đối mặt với nạn đói ở nông thôn, Đại hội Đảng lần thứ sáu năm 1986 đã từ bỏ một nền kinh tế chủ đạo theo kiểu Liên Xô để chuyển sang trọng dụng chủ nghĩa xã hội thị trường. ĐCSVN cho phép thị trường tự do phát triển mạnh ở dưới đáy xã hội và khuyến khích “tư bản đỏ” nổi lên ở giữa, trong khi đảng viên dành cho mình phần công nghiệp đóng tàu, ngân hàng, khai thác quặng mỏ, và các loại doanh nghiệp nhà nước thuộc thượng từng xã hội.

Cùng với những cải cách kinh tế là một giai đoạn cải cách văn hóa ngắn. Mạng lưới giám sát nhà nước Việt Nam đã được vén lên đủ chỗ cho bốn tác giả lớn của đất nước xuất bản những tác phẩm hậu chiến nổi tiếng nhất của họ: nhà văn chuyên truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (“Tướng về hưu”) và các nhà văn tiểu thuyết Bảo Ninh (The Sorrow of War/Nỗi buồn chiến tranh), Dương Thu Hương (Novel Without a Name/Tiểu thuyết vô đề), và Phạm Thị Hoài (The Crystal Messenger/Thiên Sứ). Nhưng mạng lưới kiểm soát xám xịt ấy lại trùm chụp vào năm 1991, khi công an văn hóa khám xét nhà Thiệp và hủy bản thảo của ông. Kể từ đó, Nguyễn Huy Thiệp và Bảo Ninh đã sống lưu đày trên chính quê hương mình vì xuất bản truyện sau khi đã bị kiểm duyệt và chỉnh sửa lại bởi các tay viết mướn của đảng. Sau tám tháng tù giam năm 1991, Dương Thu Hương hiện đang sống ở Paris, còn Phạm Thị Hoài lưu vong ở Berlin.

Những cú bẻ lái của ĐCSVN khác xảy ra sau khi quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ vào năm 1995 được khôi phục, và khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2007. Sự kiện thứ hai đã mở vòi nước đầu tư nước ngoài và một năm sau đó đã hoàn toàn bốc hơi hết khi có cuộc Đại suy thoái. Bất chấp những gì đang xảy ra vào lúc ấy, ĐCSVN tiếp tục bơm tiền vào các doanh nghiệp nhà nước. Việc này làm cho lạm phát tăng vọt lên tới 60 phần trăm tỷ lệ hàng năm, khiến bong bóng thị trường địa ốc vỡ toang một cách nhanh chóng, làm cho các doanh nghiệp nhà nước và luôn cả công ty đóng tàu quốc gia Vinashin phá sản vì đắm chìm tận đáy theo cái khoản nợ $4,5 tỷ USD.

Vụ bê bối này gần như đủ lớn để lật đổ Nguyễn Tấn Dũng–thủ tướng của Việt Nam. Dũng đã được cứu bởi tay chân của ông trong Bộ Chính trị và bắt đầu vận động cho chức vụ hàng đầu là Tổng bí thư Đảng, nhưng dường như hiện nay Dũng đã thất bại trong nỗ lực này. Trong thực tế, Việt Nam dường như đang trải qua một kiểu đảo chính chậm trong đó Nguyễn Phú Trọng, người đứng đầu đã 71 tuổi hiện nay của ĐCSVN — mặc dù pháp lý yêu cầu phải về hưu — đang chạy đua để duy trì quyền lực, ít nhất là ở lại một vài năm.

Bên cạnh ĐCSVN, một hằng số khác ở Việt Nam là ảnh hưởng của Trung Quốc. Vào năm 2008, Tổng công ty Nhôm đầy túi vốn của Trung Quốc mua bản quyền khai thác mỏ bauxite ở Tây Nguyên Việt Nam. Bắc Kinh trong năm kế tiếp đã khôi phục bá quyền hầu hết các vùng trên Biển Đông. Đến năm 2014, Bắc Kinh đã di chuyển một giàn khoan dầu vào vùng biển xa bờ của Việt Nam và xây dựng sân bay phản lực trên các đảo nhân tạo được thiết kế từ san hô nghiền nhỏ. (Hà Nội vừa cáo buộc rằng Bắc Kinh đưa giàn khoan dầu trở lại vào vùng biển Việt Nam chỉ một vài ngày trước khi bắt đầu nhóm họp Quốc hội). Tinh thần bài Trung Quốc đã trở nên sôi sục và lan tràn vì lực lượng công an, cảnh sát của Việt Nam không ngăn chặn được nữa. Vào tháng 5 năm 2014, hàng trăm nhà máy được cho là do Trung Quốc làm chủ đều bị cướp phá hoặc bị đốt, và 21 người chết. Nên chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi phe Việt Nam thân Trung Quốc đang nằm ẩn che mình.

Tuy nhiên tinh thần bài Trung Quốc không đủ mạnh để làm suy giảm ảnh hưởng của Trung Quốc với Việt Nam. Trung Quốc tiếp tục xây dựng các hòn đảo, khai thác mỏ vùng cao nguyên, và làm bất cứ điều gì khi cần để giữ cho đàn em Việt Nam an toàn trong quỹ đạo của anh cả Trung Quốc. Cái liên minh ấy chặt chẽ đến độ làm cho một số lượng lớn đáng kinh ngạc của dân Việt–những người trích dẫn một thỏa ước được gọi là Hiệp định Thành Đô–tin rằng đất nước của họ giờ thực sự đã thuộc về Trung Quốc. (Dư luận lan rộng này cho rằng tại một cuộc họp bí mật năm 1990 tại tỉnh Thành Đô tại Trung Quốc, ĐCSVN đã bán thân cho Đảng Cộng sản Trung Quốc, để ăn tiền hối lộ kếch xù đổi chác cho việc Trung Quốc toàn quyền hút dầu ngoài khơi, khai thác bauxite, và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác.)

Hà Nội lèo lái mối quan hệ với Hoa Kỳ khá hơn mối quan hệ với người láng giềng khổng lồ của mình nơi phương Bắc. ĐCSVN chắc sẽ thi hành Hiệp định Xuyên Thái Bình Dương (TPP)–một Hiệp định thương mại mà 12 nước đã ký tắt vào tháng 11 vừa rồi. TPP được thiết kế bởi Washington như là một bức tường xanh thương mại ngăn chặn làn sóng đỏ của Trung Quốc. TPP đang cung ứng một cơ may bất ngờ đầy tiềm năng cho Việt Nam. Thỏa thuận này có một số quy định liên quan phiền hà đến các quyền lao động, nhưng Hà Nội có thể sẽ lờ bỏ các quy định đó giống như các giao kết quốc tế khác mà họ đã ký và vứt đi. Việt Nam đứng áp chót trong chỉ số về quyền con người. Họ có nhiều tù nhân chính trị theo tỷ lệ bình quân đầu người nhiều nhất so với bất kỳ quốc gia nào trong khu vực Đông Nam Á, nhưng họ vẫn như con công vênh váo an tọa trên ghế tại Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc. Có mấy ai quan tâm đến một vài tổ chức lao động đang bị giam giữ cùng với 300 tù nhân chính trị khác của Việt Nam?

Sau khi triển khai TPP, Việt Nam sẽ nhắm tới Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu để xóa bỏ cái mác bị định danh là một nền kinh tế “phi thị trường”. (Quốc gia với mác định danh “Nền kinh tế thị trường” được bảo vệ hữu hiệu hầu chống lại các vụ kiện chống bán phá giá). Đây là một vấn đề lớn đối với Việt Nam mà họ hy vọng rằng TPP sẽ mở ra thị trường Mỹ với các sản phẩm của Việt Nam, trong đó có một mục mà hai nước đã tranh chấp trong vài năm qua — cá basa. Trong tháng Bảy, khi tìm cách giúp phê chuẩn các hiệp định thương mại được bôi trơn trót lọt, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã mời Tổng Bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng tới Nhà Trắng nơi mà ông Trọng đã gọi là một “cuộc họp lịch sử.” Và tại sao chuyến thăm đầu tiên này của nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam tại Nhà Trắng được coi là “lịch sử”? Bởi vì “Nhà Trắng thừa nhận cấu trúc chính trị của Việt Nam và lãnh đạo của đảng” — do đó, theo Trọng, cuộc họp này đã hợp pháp hóa vai trò cầm quyền của ĐCSVN.

Nhưng hãy nhìn việc cầm quyền này hoạt động như thế nào: Vòi bạch tuộc của Ban Tuyên giáo Trung ương nắm chặt Bộ Thông tin và Truyền thông qua “cục an ninh” PA 25 — và từ đó ghì chặt mọi bộ phận của ĐCSVN nào đang nắm quyền điều khiển phương tiện truyền thông tại Việt Nam. Trong vai trò nhà kiểm duyệt tối cao của Việt Nam, Nguyễn Phú Trọng chịu trách nhiệm cho lối điều hành mà các giám sát viên của Tổ chức Phóng viên Không Biên Giới, trong một báo cáo tháng 9 năm 2013, đã gọi là cuộc điều hành một “nhà nước xã hội đen” đầy “những loạt bắt bớ, truy tố, đánh đập và hành hung.” “Riêng năm 2012, tổ chức này cho biết qua một bài báo tháng bảy 2015 của họ rằng tay chân của Nguyễn Phú Trọng trong ngành Tư pháp đã truy tố ít nhất 48 blogger và các nhà bảo vệ nhân quyền, kết án họ tổng cộng 166 năm tù giam và 63 năm quản chế.”

Nhóm vận động hành lang (của chính sách ánh dương) thì miệt thị cách nói của các phóng viên ấy là gieo hoang mang. Thật vậy, lối nói ấy có vẻ lỗi thời, bẻ ngoặc thời gian giống như chuyện từ thập niên 1950. Nhưng những tin tức loan từ Việt Nam quả là đáng báo động. Thực là nguy kịch khi Việt Nam phải đối phó với nền văn hóa đổ nát này. Nó cũng báo động cả chúng ta–những người đang phải đối mặt các áp lực của kiểm duyệt, sự gia tăng giám sát toàn bộ, và sự thống trị của lợi ích thương mại bất kể tất cả các giá trị khác trong xã hội (Hoa Kỳ của) mình. Thế thì từ quan điểm này, Việt Nam không phải là một cú bẻ ngoặc thời gian từ quá khứ nhưng là cánh cửa sổ phản chiếu tương lai của chúng ta. Liệu cái ngoại lệ bất thường này có thể sớm trở thành chuyện bình thường?

Một điều chúng ta biết về đại hội đảng lần thứ 12 của Việt Nam là họ sẽ không làm công an ngừng tàn bạo. Đầu tháng 12, công an thường phục đã dùng cùi sắt đánh đập nhà vận động nhân quyền/luật sư Nguyễn Văn Đài. Mười ngày sau đó, LS Đài đã bị bắt trên đường đến gặp đại biểu Liên minh châu Âu đang tham quan Hà Nội chuẩn bị cho các cuộc đối thoại nhân quyền EU-Việt Nam lần thứ năm. Nhà báo Nguyễn Hữu Vinh (aka Anh Ba Sàm)–một blogger nổi tiếng trong nước–hiện đang ở trong tù với tội danh “lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước.” Trước đây phiên tòa xét xử Nguyễn Hữu Vinh đã dự kiến ​​vào ngày 20 tháng 1 — cùng ngày với Đại hội Quốc hội — giờ đã hoãn lại vô thời hạn.

Việt Nam–một tâm điểm hủy diệt văn hóa thuộc một nhà nước công an trị chuyên hành hung đánh đập những người vận động dân chủ bằng cùi sắt–được thoát khỏi tai tiếng là thành phần bất hảo vì nhiều người muốn làm ăn với giới doanh nhân Việt, hay mê tận hưởng những thú vui của đất nước này. Việt Nam sẽ chào đón khách du lịch, và không trục trặc khi mặc cả về tài chính toàn cầu với giới tư bản xuyên quốc gia. Còn nếu bạn muốn dự lễ hội ngũ niên (heo quay) đó thì hãy quên phắt đi. Chỉ dành cho Đảng viên thôi.

© 2016 Vietsoul:21

Nguồn: Foreign Policy

Bài liên quan:
Nỗ lực giữ quyền kiểm soát về lịch sử quá khứ của Việt Nam
Trí trá loài nhai lại