vietsoul21

Archive for the ‘Liên Kết’ Category

Ai trả học phí cho các con ông Dũng?

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2011/09/23 at 23:28

Theo tin từ nước Anh, vụ án liên quan tới việc trả học phí cho Lê Đức Minh, con trai ông Lê Đức Thúy đã được đưa ra xét xử. Doanh nhân người Anh, Bill Lowther, 71 tuổi, cựu giám đốc của một công ty có trụ sở tại London, liên doanh với công ty Úc châu Securency, đã bị cơ quan chống hối lộ của Anh buộc tội. Trong phiên tòa dự diễn ra hôm 20 tháng Chín, doanh nhân này được nộp tiền thế chân để tại ngoại trong khi quá trình điều tra vẫn tiếp tục.

Cơ quan chống tham nhũng của Anh xác nhận rằng, Bill Lowther đã đứng ra dàn xếp một chỗ học cao học cho con ông Thúy ở Đại học Durham và sau đó trả học phí cho anh ta trong thời gian học, tức 2 năm 2003 và 2004.

Đó cũng là thời gian mà cha của Minh là ông Lê Đức Thúy giữ chức vụ Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Trên cương vị này, năm 2003, ông Thúy đã dành hợp đồng tin tiền Polymer cho công ty Úc có tên là Securency. Cuộc điều tra của cảnh sát Úc cũng cho biết, Securency thông qua công ty trung gian do Lương Ngọc Anh -một đại tá tình báo công an, có quan hệ thân thiết với 2 ông Lê Đức Thúy và Nguyễn Tấn Dũng – làm giám đốc, chi trả khoảng 12 triêu Úc Kim cho việc chạy hợp đồng.

Năm 2007, thủ tướng Dũng đã ký quyết định bổ nhiệm ông Thúy vào chức vụ Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia và ông Thúy ở cương vị này cho tới khi về hưu vào tháng Tư vừa rồi.

Tính đến nay, phía Úc đã bắt giữ 7 viên chức liên quan và nhiều lần nêu đích danh một số quan chức Việt Nam dính líu trong vụ việc này.

Vụ án đã được báo chí hải ngoại đăng tải nhiều lần, với các tình tiết liên tục cập nhật, nên xin không đề cập sâu thêm nữa.

Chuyện con cái quan chức cỡ bự đi du học, có người khác trả tiền đã được xì xầm lâu nay trong xã hội Việt Nam, tuy báo chí trong nước không dám đề cập tới. Câu hỏi được đặt ra là, ai đã trả học phí cho các con ông Dũng?

Thủ tướng Dũng có 3 con.

Nguyễn Thanh Nghị. Ảnh On the net

Nguyễn Thanh Nghị sinh năm 1976, hiện là Ủy viên Dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh.

Tốt nghiệp đại học kiến trúc Tp. HCM, ít năm sau, Nghị sang Mỹ học tiến sĩ. Năm 2006 Nghị bảo vệ xong tiến sĩ ngành Kỹ sư công chính tại Đại học George Washington, Hoa Kỳ.

Như vậy Nguyễn Thanh Nghị cũng theo học tiến sĩ ở Mỹ vào khoảng thời gian cùng với Minh, tức 2003- 2006.

Con thứ hai của thủ tướng Dũng là Nguyễn Thanh Phượng, hiện là chủ tịch Hội đồng quản trị một quỹ đầu tư VietCapital với số vốn khoảng trăm triệu đô la. Nguyễn Thanh Phượng sinh năm 1981, tốt nghiệp đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội năm 2002, sau đó học thạc sĩ Quản trị Kinh doanh (MBA) tại Đại học quốc tế tại Geneva, Thụy Sĩ. Tra cứu cả 2 tên  “International University in Geneva” và “University of Geneva” đều không thấy tên cô, nên không rõ cô đã theo học trong thời gian cụ thể nào và ở trường nào.

Nguyễn Thanh Phượng và Nguyễn Bảo Hoàng. Ảnh On the net

Có thể tính như sau, vào năm 2006 Phượng làm cho tập đoàn Holcim của Thụy Sĩ và sau đó là phó giám đốc tài chính của công ty liên doanh giữa Holcim và một doanh nghiệp ở Kiên Giang mà gia đình cô có ‘mối liên hệ mật thiết’. Khi đi làm, Phượng đã tốt nghiệp MBA rồi. Như vậy Thanh Phượng đi học cao học cùng thời gian với Lê Đức Minh và Nguyễn Thanh Nghị, khoảng năm 2003-2005, 2006 gì đó. Năm 2008, Phượng  lấy Nguyễn Bảo Hoàng, một Việt kiều Mỹ, con của cựu quan chức Việt Nam Cộng Hòa.

Người con thứ ba của ông Dũng là Nguyễn Minh Triết. Trước khi đi chi tiết về Triết, xin lòng vòng một chút.

Cách đây chừng vài năm, một sinh viên Việt Nam theo học ở Anh quả quyết rằng, anh ta học cùng với con trai thứ 3 của thủ tướng Dũng là Nguyễn Minh Triết. Lúc đó người viết  đã nhất định không tin và cho rằng cậu ấy nhầm, Nguyễn Tấn Dũng chỉ có 2 con thôi. Nhưng những tra cứu trên Internet sau đó đã cho thấy, đương kim thủ tướng Dũng có cậu út tên Nguyễn Minh Triết.

Chuyện ông Dũng có đứa con thứ ba là không bình thường với một nước áp dụng rất ngặt nghèo việc sinh đẻ có kế hoạch, nhất là với cán bộ trong bộ máy nhà nước. Những người vì lý do gì đó, sinh con thứ 3 đều bị kỷ luật từ khiển trách, hạ bậc lương cho tới khai trừ đảng và đều gặp trở ngại trên con đường thăng tiến.

Người anh họ của tôi ở Hà Nội, có 2 con gái, chỉ vì sức ép của gia tộc, muốn có thằng cu ‘chống gậy’ đã lặng lẽ sinh thêm con thứ 3. Anh phải bày mưu tính kế, khi bụng vợ lùm lùm liền đưa về quê sinh nở, gần năm sau mới lên. Đứa con trai mới sinh anh cũng không dám hé răng kể với ai. Vậy mà vài năm sau, lúc ngấp nghé ghế viện trưởng thì chuyện của anh bị bại lộ. Vậy là ‘xôi hỏng bỏng không’, anh phải xin ra khỏi đảng và từ trưởng phòng bị giáng xuống phó phòng. Tất nhiên, cái ghế viện trưởng đã có kẻ khác ngồi thay.

Không biết thủ Dũng đã ‘lách luật’ kiểu gì, để nếp tẻ đề huề mà vẫn có cậu thứ 3 và còn ngồi ở vị trí đỉnh cao quyền lực ở Việt Nam tới 2 nhiệm kỳ?

Theo bạn sinh viên nọ, Triết sang Anh học từ bậc phổ thông, sau đó học tiếp lên đại học tại Anh. Một nguồn tin khá tin cậy cho hay, năm ngoái Triết đã về bộ Quốc Phòng, được bổ nhiệm vào một vị trí rất ‘thơm tho’.

Như vậy, trong cùng một thời gian, ông Dũng nuôi 3 đứa con ăn học ở nước ngoài, một ở Mỹ, một ở Thụy Sĩ và con thứ 3 học phổ thông và đại học tại Anh.

Lương của thủ tướng Việt Nam là bao nhiêu?

Ở một nước dân chủ, lương tổng thống, thủ tướng hay các vị bộ trưởng đều được công khai. Nhưng ở nước ta, đó là ‘bí mật quốc gia’. Léng phéng làm lộ ‘bí mật quốc gia’ có thể đi tù như chơi.

Thử tìm hiểu qua Google cho kết quả như sau:

Phó thủ tướng Vũ Khoan khi tới thăm Công ty sữa Việt Nam đã phát biểu, lương thủ tướng Việt Nam thua lương công nhân. Nguyên văn: “Các bạn nghĩ rằng lương của tôi đuợc bao nhiêu? Mới đây, tôi có đi thăm Cty sữa Việt Nam, hỏi chuyện anh em công nhân mới hay là lương của mình còn thua lương anh em. Dẫu sao, tôi cũng thấy mừng vì chuyện này...”

Ông Vũ Khoan cũng nói thêm: “Tôi biết lương của các nguyên thủ nước ngoài rất cao, như lương của Thủ tướng Singapore cao hơn mấy lần so với lương Tổng thống Hoa Kỳ. Thế nhưng quan điểm của Chính phủ chúng tôi là một viên chức Nhà nước không thể hưởng lương quá cao so với những người đã hy sinh xương máu của mình vì sự độc lập và thống nhất của tổ quốc”.

Cách đây vài năm, cộng đồng mạng có cuộc tranh luận xung quanh mức lương của thủ tướng Việt Nam, nhưng không ai có câu trả lời cụ thể. Mức lương nguyên thủ quốc gia ở Việt Nam vào khoảng 3,8 triệu đồng, ở thời điểm năm 2005. Từ đó tới nay, lương cơ bản đã được điều chỉnh vài lần nhưng có lẽ không thể quá 10 triệu. Chắc chắn, không ai có thể ăn học nổi ở nước ngoài với khoản tiền ấy.

Vậy ông Dũng đã dùng tiền ở đâu để cùng lúc chi trả cho 3 con ăn học ở nước ngoài. Nếu không phải là ông, thì ai, công ty nào, doanh nghiệp nào đã trả những khoản tiền này?

Khi nhậm chức năm 2006, ông Dũng cũng đồng thời giữ chức vụ Trưởng ban chỉ đạo Trung ương Chống tham nhũng.

Trong 5 năm qua, dưới sự chỉ đạo của ông, không có một vụ tham nhũng lớn nào được phát hiện. Những vụ như PCI hay in tiền polymer đều do các nước có liên quan điều tra ra và Việt Nam hết sức lừng khừng trong việc hợp tác.

Chỉ số tham nhũng ở Việt Nam, theo đánh giá của Tổ chức Minh bạch Quốc tế vào tháng 10 năm ngoái, ở mức 2,7 trên thang điểm 10 và Việt Nam là một trong số những nước xếp hạng chót.

Có lẽ không quá khó hiểu, tại sao việc chống tham nhũng của Việt Nam lại lẹt đẹt như vậy. Thử điểm qua tài sản của gia đình ông Trưởng ban qua từ khóa “tài sản Nguyễn Tấn Dũng“, cũng có thể thấy ti tỉ thứ; từ nhà thờ họ to như cái đình, hãng taxi, bệnh viện, ngân hàng, dự án đất đai, cho tới cây xăng.v.v. Trưởng ban TW chống tham nhũng nuôi 3 con ăn học nước ngoài và sở hữu khối tài sản lớn như vậy, thì liệu ông có thể chống ai, chống cái gì, chống ra sao?

Tất nhiên, chẳng có gì để kiếm chứng những thông tin này, trừ khi một cuộc cách mạng hoa Nhài, hoa Sen nào đó xảy ra thì người ta mới có thể biết được tương đối chính xác  con số đó. Nó là bao nhiêu triệu/ tỉ đô- la?

Nhưng có điều chắc chắn là, ở một nước nghèo, thu nhập bình quân đầu người xấp xỉ mức 1000 đô-la/năm, thì sự giầu có bất thường của giới quan chức không phải là một dấu hiệu lành mạnh.

Và, dù ông Dũng tự trả tiền ăn học cho 3 con, hay ai đó đã ‘giúp’ ông thì đó đều là những đồng tiền bất minh.

© Đàn Chim Việt

Tưởng Năng Tiến – Hiến pháp & đồng hồ

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2011/09/22 at 14:59

Cứ mỗi lần sửa Hiến Pháp là người dân lại thêm một lần hi vọng.
Nguyễn Hà

Nguồn: Đàn Chim Việt

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, tôi bỗng trở thành một thằng vô cùng rảnh rỗi. Rảnh, tôi hay đi lang thang cho nó qua ngày. Có chiều, tôi thấy một anh bộ đội vội vã buớc vào một tiệm sửa đồng hồ, với vẻ khẩn trương:

– Cái này tôi vừa mua hôm qua, còn mới nguyên, vậy mà hôm nay đã… hỏng. Mà loại không nguời lái đấy nhá. Cứ phải lắc lắc, đến mỏi cả tay, cái kim giây cũng chỉ nhúc nhích vài nấc rồi đứng.

Ông thợ chỉ mới nghe chứ chưa nhìn, đã lắc lắc đầu quầy quậy:

– Chịu thôi!

– Cố giúp cho đi, bao nhiêu là năm lương của tôi đấy, không phải ít đâu. Đây là món quà mà bố tôi vẫn ao uớc mãi…

Sự chân thật và vẻ khẩn khoản của ông khách khiến người thợ mủi lòng:

– Anh mua nhằm đồ rởm rồi.

– Giả à?

– Tui ngó qua là biết liền đồng hồ giả mà.

– Thôi chết! Thế bây giờ phải làm sao?

– Dục bà nó đi chớ đồ giả mà làm sao sửa đuợc, cha nội?

Anh lính trẻ ngớ ra một chút, rồi thẫn thờ quay buớc, mặt buồn thiu. Nguời thợ sửa đồng hồ (ái ngại) nhìn theo, trông cũng buồn không kém. Còn tôi, tôi cũng… buồn luôn!

Rõ ràng, tôi thuộc diện… buồn theo. Không những chỉ buồn theo mà (không chừng) tôi dám còn là nguời buồn nhất – dù ngay lúc đó tôi chưa biết vì sao mà khi khổng khi không mình lại buồn quá mạng, và buồn thảm thiết!

Rất lâu sau, có hôm, tôi đuợc nghe ông Phùng Quán kể chuyện “Đầu Năm Xông Đất Nhà Thơ Tố Hữu.” Trong buổi tương phùng (muộn màng) này, Tố Hữu cao hứng đọc một bài thơ tứ tuyệt mới nhất của ông:

Có anh bộ đội mua đồng hồ
Thiệt giả không rành anh cứ lo
Đanh hỏi cô nàng, cô tủm tỉm:
“Giả mà như thiệt khó chi mô!”

Theo nguyên văn lời của Phùng Quán: “Nhà thơ đọc lại lần thứ hai, nhấn mạnh từng từ một. Khách khứa nghe cung đều cuời tủm tỉm, nhưng không ai bình luận gì hết. Tôi thì đoán họ đều như bị hẫng.”

Tôi cũng bị “hẫng” luôn. Vẫn nói theo ngôn ngữ đương đại thì tôi thuộc diện… hẫng theo. Và nói tình ngay thì tôi hẫng lắm. Không chừng, tôi lại (dám) là nguời… hẫng nhất!

Tôi bỗng nhớ đến cái cảm giác hụt hẫng mà mình đa trải qua – khi nhìn nét mặt buồn ruời ruợi của anh lính trẻ, thất thểu buớc ra khỏi tiệm sửa đồng hồ – vào một buổi chiều buồn, hơn hai mươi năm truớc.

Lúc ấy, tôi mới chỉ mơ hồ cảm nhận đuợc là có cái gì không ổn trong cuộc chiến khốc liệt (vừa tàn) trên đất nuớc mình. Sao chung cuộc, kẻ chiến thắng (nếu còn sống sót) chỉ nhận đuợc những chiến lợi phẩm, nhỏ bé và thảm hại – chỉ là một cái đồng hồ – đến thế? Đã thế, dân chúng ở vùng địch tạm chiếm lại còn “trao tặng” cho những chiến sĩ giải phóng quân toàn là… của giả!

Sau khi nghe chuyện Tố Hữu đọc thơ, và hình dung ra nụ cuời “tủm tỉm” của cô hàng (cùng nét mặt láu cá của tác giả) tôi chợt nghĩ thêm rằng: chả riêng gì cuộc chiến “giải phóng” miền Nam, tất cả những gì thuộc về (cái được mệnh là) “cách mạng” ở Việt Nam –  vào thế kỷ qua – đều có cái gì đó rất là không ổn, hay nói chính xác hơn là… không thật!

Và sự thật (nghĩa là sự giả trá) đuợc phơi bầy rõ nhất qua Hiến Pháp của đất nước này. Ngày 7 tháng 9 năm 2011, ông tân Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng – kiêm Chủ Tịch Ủy Ban Sửa Đổi Hiến Pháp 1992 – long trọng tuyên bố:

“Việc nghiên cứu, sửa đổi Hiến pháp 1992 phải trên cơ sở kế thừa và tổng kết cả quá trình thực hiện Hiến pháp 1946 kết hợp với các bản Hiến pháp qua các thời kỳ; phù hợp với tình hình đất nước trong giai đoạn cách mạng mới trên tinh thần tất cả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh.”

Nguồn: Đàn Chim Việt

Tôi đã có lần nghe ông Vi Đức Hồi buột miệng khen:”Đảng nói nghe cứ như hát vậy.” Ông Nguyễn Sinh Hùng quả đã không làm hổ danh của đảng (mình) trong chuyện hát ca. Năm trước, vào ngày 12 tháng 6, trong tuồng “Dự Án Đường Sắt Cao Tốc,” ông hát tỉnh queo:

“Với đà tăng trưởng hiện nay, đến 2020, GDP sẽ đạt gần 300 tỷ USD; 2030 là 700 tỷ USD; 2040 đạt 1.200-1.400 tỷ USD và đến 2050 sẽ gấp đôi số đó. GDP bình quân đầu người đến 2050 dự kiến lên 20.000 USD, thay vì mức hơn 1.000 USD hiện nay. Nếu cứ lấy ngưỡng an toàn vay nợ là 50% GDP, đến 2020, Việt Nam có thể vay 150 tỷ mà vẫn an toàn… Với mức vay nợ như vậy, chúng ta có thể làm được… Tôi yên tâm. Yên tâm rằng phải làm…”

Gần hai tháng sau, vào ngày 4 tháng 8, qua một vở tuồng khác (“Vinashin Vỡ Nợ”)  ông ca nghe cũng mùi không kém:

“Tình hình (của Tập đoàn Vinashin) hiện nay vẫn trong tầm giải quyết và năng lực của ta, chưa tuột khỏi tay ta, nên nếu để Vinashin phá sản thì ta lại phải dựng lên một ngành công nghiệp tàu thuỷ mới. Vì thế Chính phủ xác định rõ chủ trương phải quyết tâm xây dựng lại …năm 2015 sẽ có một Vinashin mới.”

Người Việt có câu “một tấc đến Giời.” Riêng với những người cộng sản, kiểu như ông Nguyễn Sinh Hùng, thì Giời chưa chắc đã cao đến … một tấc. Bởi vậy, việc sửa đổi hiến pháp trên “trên tinh thần tất cả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh”– do ông lãnh đạo – kể như chỉ là chuyện nhỏ!

Chỉ có điều đáng tiếc là cái mịêng leo lẻo (thiếu tâm và thiếu tầm)  của ông Hùng không thuyết phục được ai. Trước khi Ủy Ban Dự Thảo Sửa Đổi Hiến Pháp 1992 mở phiên họp đầu tiên, ông Huy Đức đã có lời dự báo không được lạc quan cho lắm:

“Quyền sửa đổi Hiến pháp 1992 chưa thuộc về nhân dân mà đang ở trong tay Đảng Cộng sản Việt Nam, thay vì kiến tạo một nhà nước pháp quyền (rule of law), bản Hiến pháp mới chỉ có thể là bộ luật cơ bản để tiện bề “quản lý” (rule by law).”

….

“Cho dù tiếp tục giữ quyền viết Hiến pháp thì Đảng cũng hãy vì sự thịnh vượng của quốc gia mà chia sẻ bớt quyền lực cho nhân dân. Đừng nghĩ là tình hình chưa đủ xấu… Nên nhớ là những cuộc nổi dậy thường bắt đầu từ những uất ức của người dân trước những bất công chứ không phải từ những trí thức đang lên tiếng nhằm thức tỉnh chính quyền. Thay vì đào những đường hầm để thoát thân khi có biến như Gaddafi, ngay bây giờ hãy khai thông các lối ra cho toàn dân tộc.”

Và ngay sau phiên họp này, ông Nguyễn Hà đã đưa ra nhận xét rất bi quan:

“Nhìn sơ qua Ủy ban sửa đổi Hiến pháp lần này, có thể thấy rằng đa số – nếu không muốn nói là tất cả – đều là viên chức nhà nước, không có đại diện của các đoàn thể hay đảng chính trị, mà nếu có cũng là viên chức của nhà nước. Có thể thấy, giới luật gia, luật sư, và thành phần trí thức ngoài xã hội – những nhân tố cực kì quan trọng, để góp ý kiến cho việc sửa đổi Hiến pháp đều không hiện diện trong Ủy ban này…”

“Dân chỉ có thể tin khi dân được biết và được hỏi ý kiến về những chuyện liên quan mật thiết đến cuộc sống hằng ngày của họ: từ chuyện chống tham nhũng đến chuyện quản lý các doanh nghiệp nhà nước, cho nước ngoài thuê đất, thuê rừng, đến chuyện ngoài hải đảo xa xôi… Dân khó tin khi quan chức nói một đằng làm một nẻo, rất khó tin khi tham nhũng vẫn tràn lan…”

Từ thành phố Tam Kỳ, Quảng Nam, bà Huỳnh Thục Vy cũng có “Vài Suy Nghĩ Về Việc Sửa Đổi Hiến Pháp” bi quan không kém:

“Sự thay đổi, sửa đổi chóng vánh và chắp vá chỉ thể hiện một điều là người ta muốn đối phó tình thế, thiện chí giả tạo và xoa dịu những căng thẳng bề nổi hơn là thực tâm thúc đẩy tiến bộ. Hơn nữa, việc thay đổi tùy tiện đối với một văn bản có tầm quan trọng như thế của những người cộng sản trong bao nhiêu năm qua  làm cho ta thấy thái độ coi thường Hiến pháp của họ. Đối với họ, Hiến pháp không phải là  bản cam kết, mà chỉ là cái công cụ trong tay, muốn định đoạt thế nào tùy nghi. Và sự thiếu vắng tiếng nói đóng góp của các tầng lớp dân chúng cũng nói lên rất nhiều cái vai trò mờ nhạt, mang tính danh nghĩa của định chế quan trọng này ở Việt Nam.”

“Thật buồn cười khi một việc tốn nhiều thời gian, tâm sức chuyên gia và công quỹ quốc gia, chẳng mang lại sự thay đổi và hiệu quả cụ thể nào lại cứ được truyên truyền và liên tục thực hiện. Tiền thuế của dân đâu phải được nộp để các nhà lãnh đạo thỉnh thoảng mang Hiến pháp ra đổi Hiến pháp mới, hay sửa lại cho có công có việc mà làm!”

Tui thì còn bi quan hơn nữa, và không chừng tui dám là người bi quan nhứt đám. Cứ mỗi lần nghe đến nhà đương cuộc Hà Nội rục rịch chuyện sửa đổi hiến pháp là tôi lại nhớ đến mẩu đối thoại mà mình nghe được ở tiệm sửa đồng hồ, vào ngày 30 tháng 4, hơn 30 năm trước:

– Dục bà nó đi chớ đồ giả mà làm sao sửa đuợc, mấy cha!

© Tưởng Năng Tiến – RFA’s blog

15 Ngự Lâm Pháo Thủ Sài Gòn

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Việt Nam on 2011/09/19 at 14:35

Thanh niên yêu nước Sài Gòn sáng tạo biểu tình thầm lặng trong mưa (Nguồn: Dân làm báo)

Nguyễn Nghĩa650 (danlambao) – Đây là 15 chữ mang tinh thần “Sát Thát”, mà hơn 700 năm trước hàng triệu người dân Việt thích lên cánh tay mình, 15 chữ của bản hùng ca “Hịch chống bành trướng Trung Quốc”, “Hịch đòi Hoàng Sa, Trường Sa”.

Đây là 15 ngọn lửa của một rừng lửa Việt Nam, ngày mai sẽ đốt cháy lũ cướp Biển, cướp Đảo Việt Nam .
Đây là 15 bó đuốc đốt sẽ đốt lên 90 triệu bó đuốc của lòng yêu nước Việt Nam.
Đây là 15 bông hoa thơm ngát của rừng hoa tuổi trẻ Việt Nam.

Tuổi trẻ là sáng tạo. Tuổi trẻ là thông minh.
Truyền đạt tia lửa yêu nước trước hiểm họa bành trướng Biển Đông của Trung Quốc, mà bảo vệ được mình là thông minh tuyệt vời của tuổi trẻ Việt Nam.Hình thức thật sáng tạo. Trời mưa, dùng áo mưa làm băng khẩu hiệu “NO China”.

Công an mật vụ đang dăng hàng chờ người đi bộ xuống đường biểu tình để ra tay, thì ta đi xe máy biểu tình.

Công an mật vụ chờ đợi từ sáng sớm, chiều đến là mệt mỏi, thì chúng ta biểu tình lúc chiều buông.

Ai kiên trì hơn ai?

Xuống đường biểu tình chống bành trướng Trung Quốc thời sau 1975 này, cũng giống như ra trận đánh giặc.

Giặc này là lãnh đạo của nước mình.
Giặc này là nội gián trung hoa.
Giặc này là hảo hảo XHCN.
Giặc này là giai cấp tiên phong.
Giặc này là 16 chữ và 4 tốt.
Giặc này, tên nó là chóp bu cộng sản Việt Nam.

Chúng điều công an mật vụ dầy đặc thì ta chọn chỗ chúng có lực lượng mỏng.
Chúng chờ chúng ta buổi sáng thì ta biểu tình lúc chiều buông.
Chúng cấm ta ra đường thì ta gõ bàn phím dân chủ.
Chúng chờ chúng ta ở Đại sứ quán TQ thì ta ra Hồ Gươm…
Chúng ta không cho họ thóa mạ lòng yêu nước Việt Nam.
Chúng ta quyết lên án bành trướng Trung Quốc đang ngang ngược quyết chiếm Biển Đông.
Chúng ta sẽ nhân rộng các hình thức biểu tình như 15 chàng trai Sài Gòn hôm nay.

HS-TS-VN.

Phó thường dân (12): Nhà em có nuôi một con két …

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Thế giới, Việt Nam on 2011/09/16 at 19:55


Hổm rày đọc mấy bài viết của các blogger tự do trên mạng thì tui thiệt là rầu hết biết. Hổng hiểu sao cho thấu được cái chế độ và luật pháp ở đất nước quê nhà. Mà thôi để tui kể chuyện bên quê người.

Phó thường dân tui ở đây có ông hàng xóm làm nghề thợ điện. Ngày mới dọn vô nhà thì buổi chiều đã nghe có tiếng bấm chuông. Mở cửa ra thì thấy hai vợ chồng ông bà người Mỹ đứng trước cửa ôm cái bánh táo (apple pie) và tấm thiệp trao tặng. Ông bà nói lời chào mừng chúng tôi, người hàng xóm mới. Dần dà cũng gặp nhau đôi lúc khi ra lấy thư ở đầu ngõ. Hai vợ chồng và ba đứa con nói chuyện đàng hoàng, hiền lành, và vui vẻ. Ông ta trông vẻ bình thường cũng như mọi người dân ở đây.

Một hai năm sau đó trong những lần thăm hỏi nhau thì ông ấy đề cập đến việc bản thân ông đi kiện Căn Cứ Tàu Ngầm Hải Quân[1] vì họ không đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin về kế hoạch và phương án phòng ngừa với các rủi ro với đầu đạn nguyên tử trang bị cho tàu ngầm. Cách đây hơn một tháng thì ông thợ điện hàng xóm của tui cho biết là đã sang thủ đô Washington dự phiên xử ở Tối Cao Pháp Viện (Supreme Court) và kết quả là ông ta thắng kiện với tỉ số 8 thuận 1 chống. Đây là một quá trình kiện tụng khá dài của ông từ tiểu bang (state), tới khu vùng (circuit court), và cuối cùng là Tối Cao Pháp Viện.

Tưởng cũng nên nhắc lại ở đây một chút là có chín vị thẩm phán được bổ nhiệm bởi Tổng thống với phê chuẩn từ Quốc hội vào Tối Cao Pháp Viện Hoa-kỳ. Nhiệm kỳ của họ là suốt đời trừ khi họ từ chức vì lý do sức khoẻ hoặc qua đời thì Tổng thống mới bổ nhiệm người thay thế. Với tư thế hoàn toàn độc lập họ tuân thủ bảo vệ hiến pháp tối thượng, giải thích luật theo hiến pháp, và bảo vệ quyền hiến định của người dân. Họ không thiên vị cho bất cứ đảng phái hoặc phe nhóm nào, cho kẻ giàu có hay người nghèo khó.

Quyền hiến định và vốn có (constitutional and inherent rights) của mỗi công dân Hoa-kỳ phải được tôn trọng, đáp ứng. Một trong những quyền này là quyền được biết việc làm của các tổ chức nhà nước vì vai trò của chính quyền là phục vụ người dân. Để công dân biết tất cả các việc làm của chính quyền thì Hoa-kỳ có Đạo luật Tự do Thông tin (Freedom of Information Act) nhằm ngăn ngừa việc các cơ quan hành chánh, tư pháp, lập pháp lạm quyền che dấu thông tin.

Chỉ riêng Nhà Trắng, Bộ Ngoại Giao, Cơ Quan Tình Báo FBI, CIA, và Quốc Phòng có hồ sơ mật (secret) vì lý do an ninh quốc gia (national security) thì rơi vào trường hợp ngoại lệ. Tất cả các cơ quan khác thì không được quyền bảo mật hồ sơ hay tài liệu của mình mặc dù có những văn kiện được xếp hạng là kín (confidential). Ngoại trừ quyền bảo mật các tài liệu kỹ thuật (trade secrets), các công ty tư nhân phải cung cấp các hồ sơ hành chánh nếu có án lệnh của cơ quan nhà nước trong việc điều tra trong các vụ kiện tư nhân hoặc khởi tố.

Nói chung, chỉ các hồ sơ trong dạng dự thảo (draft) có thể phân loại là kín nhưng khi đã hoàn chỉnh và lưu hành (ngay cả khi chỉ trong nội bộ) thì các tài liệu này đều phải được cung ứng nếu có yêu cầu.

Các yêu cầu về thông tin phải được đáp ứng trong khoảng thời gian quy định (không quá 20 ngày). Nếu chậm trễ quá thời hạn thì sẽ bị phạt hành chánh. Người dân chỉ cần trả chi phí bản sao (photocopy) tương đương với giá trên thị trường.

Chuyện đáng nói nữa là không phải bất cứ hồ sơ nào cứ được đóng dấu “Mật”là trở thành tài liệu bí mật. Các hồ sơ đóng dấu mật nhưng không đúng tiêu chuẩn thì cũng phải bị bật mí.

Không phải như ở Việt Nam cứ tự do vô tội vạ đóng dấu mật thì được bảo vệ là mật. Từ phường, xã, huyện, tỉnh, thành phố mạnh anh nào anh đó “ịn” dấu mật để che dấu các quyết định bất hợp pháp. Các hồ sơ, tài liệu, công văn về Vinashin, Bô-xit Tây Nguyên, tiền Polymer đã chôn trong hũ mắm dán giấy mật thì có ai mà khui ra được.

Riêng phó thường dân tui đã từng yêu cầu các các tài liệu liệt vào loại công cộng (public record request) như thế từ Thành phố Seattle. Dĩ nhiên tui đã được cung cấp đầy đủ không rắc rối, phiền hà. Sau khi nhận giấy yêu cầu của dân như tui chẳng hạn thì họ xin thời gian để thu thập và hẹn ngày thuận tiện đến xem xét.

Tụi tui được họ cung cấp tất cả công văn, điện thư, tài liệu liên quan đến đề mục đòi hỏi. Họ cho sử dụng một phòng nhỏ riêng để chúng tôi có thể duyệt qua các hồ sơ và đánh dấu những tài liệu nào cần bản sao. Nếu số lượng bản sao ít hay/và quan trọng thì nhân viên sẽ cung cấp bản sao ngay tại chỗ, còn nếu số lượng lớn thì họ yêu cầu cho thời gian sao chép và gởi bằng bưu điện đến tận nhà hoặc đến lấy sau.

Về vấn đề cư trú, cảnh sát Hoa-kỳ không được quyền vào nhà người dân để khám xét trừ khi có lệnh của toà án. Muốn được lệnh của quan toà, cơ quan cảnh sát phải có bằng chứng rất rõ để thuyết phục ông quan toà viết lệnh khám xét. Không phải cái kiểu nghi ngờ khơi khơi rồi khám xét, dựng chuyện, tạo bằng chứng để kết tội.

Ông quan tòa nào viết lệnh hớ không có bằng chứng thuyết phục sẽ bị báo chí bêu xấu và dân cư tẩy chay không tín nhiệm và không bầu cho nữa, hoặc có thể kiện luôn sở cảnh sát và quan toà. Không có chuyện mời “làm việc” vì người dân chẳng có mắc mớ gì phải làm việc với cảnh sát khi chưa bị truy tố về một tội phạm nào. Cảnh sát nào cứ lảng vảng liên tục theo dõi thì sẽ bị kiện là quấy nhiễu (harassment).

Như thế mới gọi là nhà nước pháp quyền. Mọi người phải tuân thủ luật pháp và mọi người bình đẳng trước pháp luật.

Đó là chuyện quê người. Nhìn lại cái Toà án tối cao của Việt Nam thì ra sao? Theo như lời trong bài “Toà Án (mạo danh) Nhân Dân”[2] thì công lý của TAND thiệt là quá ớn:

Ông Chánh án TATC Trịnh Hồng Dương để lại câu nói lịch sử. “Luật ở Việt Nam xử sao cũng được” và ông chánh án TATC kế tiếp là ông Nguyễn Văn Hiện cũng đi vào lịch sử với câu nói bất hủ: “ngành tòa án thiếu cán bộ trầm trọng phải vơ vét cả lái xe, nhân viên vệ sinh, cán bộ phòng tiếp dân của tòa án đi học nghiệp vụ về để làm thẩm phán”.

Tưởng như nói cà rỡn kiểu “Nhỏ không học lớn làm thẩm phán” nhưng thiệt là trúng phóc.

  • Trong xã hội ở chế độ dân chủ thì Toà Án Tối Cao bảo vệ hiến pháp và quyền lợi của người dân.
  • Trong chế độ độc tài cộng sản Việt Nam thì Toà Án (mạo danh) Nhân Dân Tối Cao bảo vệ đảng ma-phia và bè lũ tội phạm.

Cái nhà nước Việt Nam dưới quyền cai trị của băng đảng tội phạm CSVN lấy luật lệ(nh)[3] đè người vi phạm quyền hiến định của người dân. Dzậy mà lúc nào cũng ra rả cái “nhà nước pháp quyền”. Họ sử dụng công an[4] làm sức mạnh bạo lực trấn áp và dùng luật lệ(nh) với toà án[5] làm công cụ kềm kẹp và trừng trị người phản kháng. Họ dung túng và kết nối với xã hội đen[6] để khủng bố, đe dọa giới bất đồng.

Phó thường dân tui nói tới đây lại nhớ đến chuyện học chính tả ở cấp tiểu học. Học tả cảnh, tả người, tả thú vật v.v… Dzui nhất là bài tả thú vật nuôi trong nhà. Học trò làm biếng nhớt thây như tui thì cứ điền tên con thú nuôi theo sườn bài có sẳn bắt đầu bằng câu “Nhà em có nuôi một con chó/mèo, tên nó là vá/lulu/kiki, lông nó đen/vàng, có đốm/khoanh v.v…” Từ đó đám học trò tiểu học tui đặt ra câu hát vè “Nhà em có nuôi một con chó, sáng nó kêu gấu gấu gấu, trưa nó kêu gầu gầu gầu, tối nó kêu gậu gậu gậu.”

Cứ theo bài viết của cô Tạ Phong Tần[7] và tin tức ở các báo nhà nước thì em Phương Nga[8], phát ngôn viên bộ ngoại giao sẽ được phó thường dân miêu tả bằng câu hát vè “Nhà nước ta có nuôi một con két, sáng nó kêu pháp pháp pháp, trưa nó kêu quyền quyền quyền, tối nó kêu pháp quyền pháp quyền pháp quyền” thì cũng đặng dzậy.

© 2011 Vietsoul:21

[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu – (8) Gió mưa là chuyện của trời … – (9) Vô liêm sỉ – man rợ – (10) Phế-anh-hùng – (11) Luật Lệ(nh) … – (12) Nhà em có nuôi một con két – (13) Cái nhà là nhà của ta – (14) Mèo – thỏ  – (15) phố vẫy … (16) Mít tờ Đàm và Bác Hồ (17) Nín thở qua cầu]


[1] Does Navy depot pose a danger to public?, Seattle Times

[2] Toà Án (mạo danh) Nhân Dân, Dân Luận
Tòa án nhân dân: hoàn thành nhiệm vụ của đảng và các nhiệm vụ chính trị, Dân Làm Báo

[3] Luật Lệ(nh), Vietsoul:21

[4] Sự đê hèn của công an Việt Nam & Tố cáo nhà cầm quyền CSVN vẫn duy trì việc đàn áp, khủng bố tinh thần các con của Lư Thị Thu Trang, Dân Làm Báo

[8] Mới được tin em Phương Nga hót hay, chịu tiếng đời vài năm muối mặt giờ đã thoát kiếp con két/vẹt, lên chức Thứ trưởng Bộ Ngoại Giao

Lãnh đạo: nghề làm thuê

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Thế giới, Việt Nam on 2011/09/14 at 09:32

Nguyễn Hưng Quốc

Hình: AP

Trong bài diễn văn của Tổng thống Barack Obama tại Quốc Hội Hoa Kỳ vào ngày 8 tháng 9 vừa rồi, có một hai câu nói tôi rất thích. Ông nhắc đến dân chúng như “những người đã cử chúng ta đến đây; những người đã thuê chúng ta làm việc cho họ” (the people who sent us here – the people who hired us to work for them). Rồi ông tự hỏi và hỏi các nghị sĩ và dân biểu: Mỹ “Dân chúng ở đất nước này làm việc vất vả để hoàn tất trách nhiệm của họ. Câu hỏi tối nay là: liệu chúng ta có hoàn tất trách nhiệm của chúng ta hay không?” (The people of this country work hard to meet their responsibilities. The question tonight is whether we’ll meet ours.)

Thực tình, tôi không quan tâm mấy đến các chính sách Obama đã đưa ra nhằm giải quyết tình trạng thất nghiệp trầm trọng cũng như cuộc khủng hoảng kinh tế kéo dài tại Mỹ. Đã đành kinh tế Mỹ có quan hệ mật thiết đến kinh tế toàn cầu, trong đó có Úc; tuy nhiên, từ Úc, nhìn sang Mỹ, thấy chuyện của họ xa vời quá. Tôi nghe bài diễn văn của Obama một cách khá ơ hờ. Nhưng đến mấy câu nói trích ở trên, tôi bỗng thấy thích hẳn.

Thích chủ yếu vì thấy chúng khác hẳn với những gì chúng ta thường nghe ở Việt Nam. Có lẽ ở Việt Nam chưa có lãnh tụ nào đặt vấn đề trách nhiệm với dân chúng một cách cụ thể đến như vậy. Càng chưa có ai nhìn nhận một thực tế: Họ là những người làm thuê của dân chúng. Mà không phải là những người làm thuê vĩnh viễn. Họ chỉ là những người làm thuê theo hợp đồng. Cứ bốn năm, dân chúng lại xét lại hợp đồng ấy một lần. Làm giỏi, người ta thuê tiếp. Làm kém thì xin vui lòng về… hưu.

Giới lãnh đạo Việt Nam bao giờ cũng cho những chức vụ mình đang nắm giữ như những sứ mệnh vĩ đại từ trên trời rơi xuống. Một thứ thiên mệnh. Ngay cả khi họ giả vờ nói khiêm và nói nịnh họ là “đầy tớ” của dân chúng thì người ta, tự trong vô thức, vẫn xem cái chức “đầy tớ” ấy là một thiên mệnh. Là thiên mệnh vì, thật ra, không có ai thực sự bầu cho họ cả (hiểu bầu theo nghĩa tổng tuyển cử chứ không phải bầu bán trong nội bộ đảng với nhau). Là thiên mệnh vì họ không thực sự chịu trách nhiệm trước ai cả. Đất nước lạc hậu, dân chúng nghèo khổ ư? Đó là trách nhiệm của “thằng” lịch sử hay “thằng” khách quan nào đó. Đất nước phát triển ư? Thì đó là công của họ, bất kể mồ hôi và nước mắt của mấy chục triệu người lao động quần quật trong cả nước.

Quan niệm chức vụ lãnh đạo như là thiên mệnh nên các “đầy tớ” bất cần các ông bà “chủ” có đồng ý cho họ làm việc tiếp hay không. Và cũng không cần nhớ, thậm chí, biết tất cả bổng lộc của họ là đến từ dân chúng.

Không biết như thế nên thay vì “biết ơn” những người đã hùng hục làm việc và đóng thuế để nuôi mình, người ta lại làm một chuyện oái oăm: bắt dân chúng phải biết ơn và nhớ ơn mình!

Có lẽ một trong những chiến lược tuyên truyền lớn nhất của chính quyền Việt Nam, từ khi lên nắm quyền vào năm 1945 đến nay, là nhấn mạnh vào chuyện ơn nghĩa. Hầu như toàn bộ guồng máy tuyên truyền đều tập trung vào vấn đề công ơn của đảng và của lãnh tụ. Người ta tổ chức các đợt sáng tác rầm rộ để giới cầm bút kể lể công ơn “tái sinh” của cách mạng. Ăn một bát cơm ngon cũng nhớ ơn cách mạng. Mặc bộ quần áo mới cũng nhớ ơn cách mạng.

 

Thời kháng chiến, trong bài “Thơ dâng Bác Hồ” sáng tác ngày 19.5.1953, Xuân Diệu viết:

Chúng con dưới vực sai lầm
Đang vươn mình được Bác cầm tay lên.

Cũng ngày 19.5.1953, Nguyễn Bính từ Nam bộ, làm bài Thư gửi về Cha:

Trước con cơ cực nhọc nhằn
Nhờ Cha nay mới nên thân nên người..

Sau năm 1954, ở miền Bắc, Xuân Diệu lại viết:

Hãy cảm ơn đảng Cộng sản, lòng ta ơi!
Hãy cảm ơn những người dựng con người,
Hãy cảm ơn Hồ Chí Minh đồng chí

Đã rèn luyện một nửa già thế kỷ

Xưa lệ sa, ta oán hận đất trời
Nay lệ hoà, ta lại thấy đời tươi!

Chế Lan Viên cũng có rất nhiều những bài thơ tương tự như thế. Lại Nguyên Ân có lần nhận xét về thơ Chế Lan Viên: “Thơ Chế Lan Viên có cả một loạt những bài thơ ăn năn sám hối cho sự lỡ lầm thuở trước, bày tỏ lòng biết ơn vô hạn của nhà thơ với chế độ mới, lý tưởng mới – cái lý tưởng mà nhà thơ có lúc như muốn quỳ xuống bái lạy cho tỏ sự biết ơn của một tín đồ đã bỏ “đạo” cũ để từ đây theo nó đến cuối đời.” (Một thời đại văn học mới, Hà Nội, 1987, tr. 106).

Sau này, hầu như không có nhà văn hay nhà thơ nào đủ vô liêm sỉ để nịnh bợ như vậy nữa. Và nhà cầm quyền cũng không đủ vô liêm sỉ để lớn tiếng tuyên truyền như vậy nữa. Nhưng đây đó, dưới những hình thức diễn tả khác nhau, chúng ta vẫn nghe thấp thoáng những giọng kể công và đòi hỏi sự biết ơn của dân chúng đối với những người đã suốt đời hy sinh gánh chịu…bổng lộc đến hầu như vô tận!

Đương quyền, người ta muốn dân chúng biết ơn. Về hưu, người ta cũng muốn dân chúng biết ơn. Với từng cá nhân, người ta đòi hỏi sự biết ơn. Với cả đảng và chế độ, người ta cũng đòi sự biết ơn.

Người ta cố tình ngoảnh lưng lại sự thật này: Làm lãnh đạo, thực ra, là làm thuê. Lương bổng của họ là do dân chúng trả. Tất cả tiện nghi và quyền lợi mà họ có là do dân chúng cung cấp. Ở đây không có chuyện ân nghĩa. Mà chỉ có vấn đề là: làm việc có hiệu quả hay không.

Làm được việc: Xin tiếp tục.

Làm không được việc: Xin mời xuống!

Nguồn: VOA

Huỳnh Ngọc Tuấn – Nhà nước bất hảo

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Thế giới, Việt Nam on 2011/09/13 at 06:00

Nguồn: Đàn Chim Việt

Không còn cách nói nào khác hơn được để nói về chế độ CS Trung Hoa hiện nay.

Nói điều này hơi thừa, nhưng cũng phải  nói, như một cách để hành xử quyền tự do ngôn luận vì ở VN ít có người dân nào dám nói lên sự thật này cho dù ở VN giờ đây có đến 700 tờ báo, hàng trăm đài phát thanh và truyền hình với hàng chục ngàn phóng viên và  hàng trăm nhà bình luận thời cuộc, nhưng họ đều im re vì không được phép .

Theo BBC – RFI trích thuật lại một tờ bài báo của tờ Financial Times: “Hải quân Trung Quốc cản đường chiến hạm Ấn Độ tại Biển Đông”

Sự cố xẩy ra vào hạ tuần tháng Bảy, nhưng đến hôm nay, 01/09/2011 mới được tiết lộ. Chiến hạm Ấn Độ INS Airavat, trên đường đi nhân chuyến ghé thăm hữu nghị Việt Nam, đã bị tàu chiến Trung Quốc xét hỏi ngoài khơi bờ biển Việt Nam. Đây là hành động mới nhất của Bắc Kinh nhằm buộc các nước công nhận chủ quyền Trung Quốc trên Biển Đông.”

Đây là một việc vô cùng nghiêm trọng nhưng Bộ ngoại giao VN – chính phủ VN vẫn lặng im như không có gì xảy ra, và người dân VN sẽ chẳng biết được điều gì nếu tờ báo trên không tiết lộ thông tin.

Tiếp theo đó báo chí và chính phủ Ấn Độ đã công khai về thông tin này  nhưng nói thêm là không hề có sự hiện diện của tàu Trung quốc gần đó:

Theo nguồn tin này, hôm 22 tháng 7, khi ở ngoài khơi cách Nha Trang 45 hải lý, chiếc INS Airavat đã nhận được qua hệ thống radio của tàu thông điệp của một người tự nhận là “Hải quân Trung Quốc”, nói rằng “Quý vị đang tiến vào hải phận Trung Quốc”.

Đối với hải quân và chính phủ Ấn Độ đây là một hành động khiêu khích gây hấn, nhưng đối với nhân dân VN thì đây là một hành động xâm lược vì hải quân Trung cộng tự cho mình cái quyền làm chủ nhân ông trên lãnh hải VN.

Sau việc này không biết nhân dân và chính phủ Ấn Độ nghĩ gì về đất nước và dân tộc chúng ta? Nghĩ gì về chế độ CS hiện nay khi những người cộng sản đã từng tự hào rằng họ đã đánh bại hai đế quốc lớn là Pháp- Mỹ và nước CHXHXN Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, được “cộng đồng quốc tế đánh giá cao”.?!

Việc làm này của hải quân Trung Cộng (TC) biến những lời tuyên bố hùng hồn về chủ quyền và thành tựu của CSVN thành một trò khôi hài lố bịch. Chúng ta còn nhớ cách đây không lâu, ông Nguyễn Minh Triết trong chuyến thăm hữu nghị Cuba, ông đã tuyên bố rằng: “VN và Cuba cùng gìn giữ hòa bình của thế giới” vậy còn hòa bình và an ninh của VN thì để cho ai giữ đây khi TC ngang nhiên sách nhiễu những vị khách của chúng ta ngay trong hải phận của mình?

Mới đây, RFI, BBC, VOA đều đưa tin rằng: Tháng 7 năm 2011 khi chế độ Gaddafi đang trên bờ sụp đổ, vậy mà những công ty sản xuất vũ khí của Trung Cộng đã mật đàm để bán cho quân đội Gaddaffi một số lượng vũ khí như: Phi đạn chống tăng và bệ phóng phi đạn trị giá 200 triệu USD. Mục đích thực của phi vụ bán vũ khí này là TC muốn bằng mọi giá giúp đỡ cho quân đội Gaddafi đánh bại quân nỗi dậy để ngăn chặn làn sóng Cách mạng đang lan truyền từ Bắc Phi và Trung đông,đây là cách TC cứu nguy cho chính bản thân mình và nhất là các chế độ độc tài đàn em của TC. Người ta tìm thấy tài liệu này trong một cơ quan nhà nước của Gaddafi bỏ lại. Khi mọi việc đổ bể thì nhà cầm quyền Trung Cộng nói là: Họ không hề hay biết gì về vụ mua bán này. Thật khôi hài và vô liêm sỉ hết chỗ nói… Thế giới sẽ tôn trọng Trung Cộng hơn nếu họ công nhiên nhìn nhận trách nhiệm về vụ việc trên. Còn hậu quả của việc này thì xấu như nhau.

Đây không phải là lần đầu tiên Trung Cộng vi phạm lệnh cấm vận vũ khí của Liên Hiệp quốc. Họ vẫn lén lút bán vũ khí cho Iran và các chế độ bất hảo bị Liên Hiệp quốc cấm vận.

Mỹ và Thế giới đã nhiều lần than phiền, cảnh cáo, nhưng mỗi lần như vậy Trung Cộng đều phủi tay một cách trơ trẽn…Còn trong lĩnh vực kinh tế, những gì Trung Cộng đang thực hiện tại Châu Phi làm cả Thế giới quan ngại vì chính sách thực dân tàn bạo của nó.
Nhưng một vấn đề có liên quan đến an ninh và sinh mệnh của đất nước ta là việc TC cho công bố bản đồ hình chữ U xác nhận chủ quyền của họ trên 80% biển Đông,thôn tính Hoàng sa và một phần Trường sa, sách nhiễu, bắn giết ngư dân VN đang hành nghề trên vùng biển truyền thống của mình. Trên đất liền họ chiếm của chúng ta hàng trăm cây số và những vị trí chiến lược, theo một số nguồn tin thì Ải Nam quan và một phần thác Bản Giốc nay thuộc về TC.

Mưu đồ xâm lược VN là dã tâm hiển nhiên của Trung Cộng, nhưng vấn đề làm chúng ta xấu hổ và bị sỉ nhục là những lời tuyên bố của ông Nguyễn Chí Vịnh như sau:

“Trung Quốc cam kết không lấy đất, lấy biển của Việt Nam”.

Tướng Vịnh cũng nói sau chuyến thăm tới Bắc Kinh mới đây:

Nếu Việt Nam cần sự ủng hộ, đồng cảm, hợp tác và phát triển thì còn có ai hơn một nước Trung Quốc xã hội chủ nghĩa láng giềng một khi các đồng chí tôn trọng độc lập chủ quyền của Việt Nam và mong muốn Việt Nam cùng phát triển”.

Nhà nước Trung Cộng là nhà nước bất hảo thì ai cũng biết rồi. Nhưng công khai ca ngợi và kết thân với một nhà nước bất hảo thì hành động này gọi là gì? Ca ngợi kẻ xâm lược đất nước mình, bắn giết nhân dân mình CSVN có còn xứng đáng để lãnh đạo đất nước này không?

Xin được nhắc lại lời cảnh báo nghiêm khắc của vua Trần nhân Tông “Một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không được để lọt vào tay kẻ khác. Ta cũng để lời nhắn đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu’..

Cộng sản VN vẫn tiếp tục tư duy theo cái kiểu mà  tôi xin mượn lời của ông Stora (một nhà phân tích chính trị) đã nói để áp dụng trong trường hợp này ”hình như là CSVN chưa cập nhật được tình hình địa chính trị ở thời đại mới, thời đại mà bức tường Berlin đã bị hủy, chiến tranh lạnh đã kết thúc…(và thời đại của Cách mạng Hoa lài bùng nổ) Bởi thế họ phân tích các mối quan hệ quốc tế hiện tại bằng những tiêu chuẩn lỗi thời, họ muốn trung thành với một thế giới đã đi vào dĩ vãng, vì thế họ đã tỏ ra thiển cận.”

© Huỳnh Ngọc Tuấn (Quangda1959@gmail.com)

© Đàn Chim Việt

Tưởng Năng Tiến – Giải thưởng Hồ Chí Minh

In Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam, Văn Chương on 2011/09/12 at 10:02

Nguồn: Đàn Chim Việt

Có lần, tôi nghe ông Phùng Quán thở ra:

Có nơi nào trên trái đất này,

Mật độ đắng cay như ở đây?

Thì quả là đúng vậy nhưng chỉ nói vậy thôi (e) không hết lẽ. Tưởng cũng nên thêm đôi dòng … bồi dưỡng:

Có nơi nào trên trái đất này

Huy chương, huy hiệu, bằng khen, giấy thưởng nhiều như ở đây?

Rẻ ra thì cũng được danh hiệu gia đình cách mạng, gia đình chính sách hay (giá chót) cũng cỡ gia đình văn hoá. Chỉ có điều đáng phàn nàn là giá trị của sự khen/thưởng ở Việt Nam thường rất tượng trưng, và cũng rất mơ hồ. Còn chuyện trao/nhận giải thì không những đã lùm xùm, mà còn nhếch nhác, và điều tiếng thì (kể như) hết biết luôn!

Mới tuần trước, vào ngày 28 tháng 8 năm 2011, nhật báo Người Việt đi tin:

Bốn nhà văn lớn từ chối giải thưởng Nhà Nước, giải thưởng Hồ Chí Minh.”
Trước sự kiện này, nhà báo Trương Duy Nhất đã có lời bàn hơi gay gắt:

”Chưa bao giờ việc xét tặng giải thưởng Nhà nước và giải thưởng Hồ Chí Minh lại bốc mùi đến thế. Mùa giải đang vào lúc gay cấn, cãi tranh ỏm tỏi thì xuất hiện 5 trường hợp ‘lạ’: 4 xin rút tên khỏi danh sách ứng cử và 1 không chịu viết đơn.”

Biên tập viên Mặc Lâm của RFA thì nói năng (nghe) nhẹ nhàng hơn, chút đỉnh:

Việc hai giải thưởng được xem là quan trọng bậc nhất của quốc gia cũng bị lũng đoạn bởi sự lạm dụng quyền thế của người chấm giải, cộng với cách công khai thao túng quyền đề cử bất kể dư luận đã nói lên sự thật về tất cả các giải thưởng lớn nhỏ của Việt Nam ngày nay. Bốn người trong cuộc lên tiếng một lúc đã trở thành chuyện không lạ, khi tính khách quan của giải thưởng bị ông Hữu Thỉnh lợi dụng vị trí của mình để làm xấu đi nét đẹp của hai giải thưởng này.”

Nhà thơ Trần Mạnh Hảo cũng nêu ý kiến gần tương tự: ”Hai tác phẩm rất dở của ông Hữu Thỉnh mà được Giải thưởng Văn học Hồ Chí Minh của nhà nước thì chứng tỏ cái giải thưởng đó không có giá trị.”

Tôi thề có trời đất (cũng như qủi thần) chứng giám là mình hoàn toàn và tuyệt đối không có thù oán, thành kiến hay ác cảm gì với quí ông Mặc Lâm, và Trần Mạnh Hảo. Tôi cũng không quen biết gì (hết trơn hết trọi) với ông Hữu Thỉnh.

Tôi chưa gặp ông Chủ Tịch Hội Nhà Văn (đương đại) này lần nào cả, điện thoại, email, tếch – tiếc (qua lại) hoặc kết bạn tâm thư cũng không luôn. Chả qua là vì “lộ kiến bất bình” (thấy có kẻ bị hàm oan) nên xin có đôi lời “phải quấy” để rộng đường dư luận.

Cứ theo lời ông Mặc Lâm thì ông Hữu Thỉnh đã “lợi dụng vị trí của mình để làm xấu đi nét đẹp của hai giải thưởng này.” Giời ạ, cả hai giải thưởng (thổ tả) vừa nêu có “nét đẹp” nào đâu mà có thể làm cho chúng … “xấu đi” được chứ? Tương tự, theo tôi, ”hai tác phẩm rất dở của ông Hữu Thỉnh” dù có được giải hay không thì cũng không thay đổi được gì (ráo trọi) cái được gọi là “giá trị” của Giải thưởng Văn học Hồ Chí Minh.

Cứ từ tốn xem từng giải một. Muốn biết tại sao cái gọi là Giải Thưởng Nhà Nước lại bốc mùi, xin hãy nghe lời của một công dân Việt Nam nói (qua) về đất nước/tổ quốc của mình:

“Tổ quốc đã trở thành đao phủ.  Những người địa chủ và tư sản không những bị ruồng bỏ mà còn bị coi là thù địch và bị tàn sát. Rồi cũng nhân danh tổ quốc họ phát động chiến tranh thôn tính miền Nam làm hàng triệu người chết và đất nước kiệt quệ. Tổ quốc đồng nghĩa với chiến tranh và chết chóc. Toàn thắng rồi, tổ quốc xã hội chủ nghĩa quên phắt cam kết thực hiện hoà giải và hoà hợp dân tộc. Tổ quốc bỏ tù và hạ nhục hàng triệu người. Tổ quốc đánh tư sản, tống cổ con cái ‘ngụy quân, ngụy quyền’ ra khỏi trường học và lùa đi vùng kinh tế mới. Tổ quốc khống chế và hăm dọa bằng công an thành, công an tỉnh, công an huyện, công an phường. Biết dân chúng không còn chịu đựng được nữa và muốn bỏ nước ra đi, tổ quốc đứng ra tổ chức vượt biên bán chính thức để lấy tiền chuộc mạng của những người muốn chạy trốn nanh vuốt của mình. Tổ quốc hành động như bọn giặc cướp. Đến khi bị dư luận thế giới lên án dữ dội vì hành động bỉ ổi này, tổ quốc dẹp luôn đợt vượt biên bán chính thức và dĩ nhiên không trả lại tiền. Tổ quốc đểu cáng và lật lọng.”

Đối với những người ra đi, tổ quốc là sóng gió, hải tặc, là cái chết trong bụng cá, may mắn hơn là những ngày ê chề trong những trại tập trung trước khi tìm được một quê hương mới. Tổ quốc là một dĩ vãng cần quên đi. Đối với những người ở lại, tổ quốc đổi tiền mấy lần để cướp giật, tổ quốc sách nhiễu từng ngày. Tổ quốc nói trắng cũng được, nói đen cũng xong, cấm rồi lại cho phép, cho phép rồi lại cấm, muốn bắt hay tha tùy ý, người dân chịu đựng hết. Vì tổ quốc có súng.” (Nguyễn Gia Kiểng. Tổ Quốc Ăn Năn. Không có tên NXB. Paris 2001, 570 – 571).

Gần hơn, vào ngày 6 tháng 9 năm 2011, tôi vừa nghe một công dân khác – nhà giáo kiêm nhà báo Phạm Toàn – nói trong tiếng nấc: “Nước mà Dân bị nhũng nhiễu công nhiên như thế thì chắc chắn sẽ mất thôi – làm sao Dân lại chịu giữ cái Nước nơi họ bị đối xử như quân thù, cái đất nước không mang lại hạnh phúc cho họ?” Có vinh dự gì để nhận bất cứ một loại giải thưởng (tào lao) nào từ thứ Nhà Nước “đểu cáng và lật lọng” như thế chứ ?

Còn Giải Thưởng Hồ Chí Minh?

Trước hết, hãy nghe đôi lời (hết sức nhã nhặn) về nhân vật lịch sử này – qua ngòi bút của nhà văn Phạm Đình Trọng:

Hồ Chí Minh có những phẩm chất đáng quí của thời nghèo khổ thắt lưng buộc bụng đánh giặc. Chiếc chiếu cói trải giường ngủ của Hồ Chí Minh trên nhà sàn đã cũ rách nhưng Hồ Chí Minh không cho thay. Nó mới rách một chỗ mà bỏ cả chiếc chiếu thì phí quá!

Nói vậy và Hồ Chí Minh lấy kim chỉ tự khâu chỗ rách lại! Nhưng ngày nay ngân sách nhà nước vừa phải đổ ra hàng ngàn tỉ đồng để kích cầu, kích thích tiêu dùng để phát triển sản xuất. Cái chiếu cói cũng như mọi hàng hóa khác đều có giới hạn sử dụng.

Giới hạn sử dụng ấy được ngôn ngữ quốc tế hóa là ‘đát’. Hết đát thì phải bỏ, thay cái khác. Hàng hóa có tiêu thụ được, sản xuất mới phát triển. Một thí dụ để thấy một phẩm chất rất đáng quí của Hồ Chí Minh ngày nào nay cũng không thể ‘học tập’ được nữa! Nhân vật lịch sử dù vĩ đại đến đâu cũng đều có đát.”

Nói thế (tất) không sai nhưng sợ chưa hết lẽ. Những danh nhân khác, cùng thời với Hồ Chí Minh (Huỳnh Phú Sổ, Nguyễn Thái Học, Trương Tử Anh, Lý Đông A, Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu …) đâu có ai … hết đát. Không những thế, với thời gian, dấu ấn của những nhân vật lịch sử này lại càng đậm nét hơn trong lòng dân tộc.

Trường hợp của Hồ Chí Minh thì hoàn toàn khác. Sau cái thế kỷ mây mù vừa qua thì tăm tiếng của ông mỗi lúc một mất dần, và thay vào đó toàn là những điều … tai tiếng:

“Những ngày tháng tám này, biểu tượng Hồ Chí Minh đã bị chính ĐCSVN biến thành mất thiêng thông qua cuộc biểu tình của người dân Hà Nội và miền Bắc nói chung. Dù muốn dù không, hình tượng Hồ Chí Minh đã mai một, mờ nhạt và không còn đất sống, trước hết và quan trọng nhất, ông không còn giá trị cho ĐCSVN ngày nay lợi dụng thêm nữa. Dù cho những ai cố trốn chạy hoặc chối bỏ, cũng đã đến lúc nhìn thẳng vào sự thật đó. Chính ĐCSVN đã làm cho hình tượng Hồ Chí Minh tàn lụi mau chóng hơn qua ‘cuộc vận động học tập và làm theo…’ và qua việc đối phó côn đồ của lực lượng an ninh đối với người biểu tình, đã là câu trả lời lạnh lùng, ráo hoảnh cho những ai vẫn hằng tin và khắc sâu trong tâm trí về tính chân lý của Hồ Chí Minh.” (Nguyễn Ngọc Già – Từ thông báo cấm biểu tình nghĩ đến những điều… khác!).

Riêng ở miền Nam thì hình ảnh Hồ Chí Minh đã trở thành giễu cợt từ lâu, chứ chả cần phải đợi (mãi) đến “tháng tám này.” Ngay khi Sài Gòn vừa bị mất tên, trẻ con nơi đây đã nghêu ngao những lời đồng dao (nghe) cười ra nước mắt:

Ðêm qua em mơ gặp Bác Hồ.
Chân Bác dài Bác đạp xích-lô.
Trông thấy Bác em kêu xe khác!

Đã đến lúc Hội Nhà Văn Việt Nam cũng (đành) phải “kêu xe khác” thôi. Hãy thay Giải Thưởng Hồ Chí Minh bằng những tên gọi khác – những tên tuổi không vĩ đại gì cho lắm nhưng (chắc chắn) sẽ không bị bốc mùi – như Giải Bích Khê, Giải Hàn Mặc Tử, Giải Bùi Giáng, Giải Văn Cao, Giải Phùng Cung, Giải Phùng Quán, Giải Hữu Loan, Giải Nguyễn Hữu Đang … chả hạn.

Thì tôi cũng vì quá rảnh, và quá lo xa, nên bàn (ra) như thế. Chớ còn lâu lắm, mãi chờ đến năm 2016,  mới đến lúc phát Giải Thưởng Hồ Chí Minh kế tiếp. Cái Nhà Nước này (chắc) không thể tồn tại tới lúc đó đâu.

© Tưởng Năng Tiến

© Đàn Chim Việt