vietsoul21

Archive for the ‘Tạp văn’ Category

Phó thường dân (4): Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2011/01/14 at 20:09

Vietsoul:21

Thời gian trôi qua hơn 35 năm tôi mới dám nghĩ lại đến phận đời phó thường dân của mình. Chuyện cũ, chuyện mới, chuyện ngắn, chuyện dài, chuyện bên ni, bên nớ.

(tiếp theo kỳ trước: (1) Anh tám hồ hởi(2) Nôị-thực-dân(3) Sợ)

Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông

Kỳ đà là cha cắc ké
Cắc ké là mẹ kỳ nhông
Kỳ nhông là ông kỳ đà…

Lúc còn nhỏ phó thường dân tôi hay cặp kè lũ con nít trong xóm hát ba câu trên, lập đi lập lại cho đến khi mỏi miệng thì … nghỉ. Chẳng biết ai đặt ra mà đám con nít chúng tôi cũng không thắc mắc bài này mang ý nghĩa gì. Nghe dzui dzui mắc cười dzậy thôi khi tưởng tượng cái vòng vo rối rắm giữa thằng cha kỳ đà cản mũi, lũ cắc ké xạo ke, và con mẹ kỳ nhông lật lọng đổi màu. Dzậy chứ ba câu này khi chợt nghĩ lại hổm rày thấy mua vui cũng được vạn ngàn trống canh.

Thiên hạ đang lao nhao bàn tán chuyện Đại hội đảng CSVN XI. Phó thường dân tôi mới lướt qua vài bài báo, dăm phát biểu mở đường thì thấy sao mà nó giống y chang như hiện tượng nhập nhằng kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông mà lũ con nít trong xóm hát chơi vui ngày xưa.

Lẽ ra thì chuyện đại hội đảng CSVN có mắc mớ gì đến người dân—những mặt thầm lặng quanh năm chẳng ai thèm để ý tới, nhất là những phó thường dân như tui. Đúng vậy, đại hội một đảng phái thì chỉ dành riêng cho đảng viên của họ. Bầu bán ai ai, cương lĩnh gì gì cũng mặc kệ người ta. Chẳng có gì thay đổi hay ảnh hưởng tích cực cho ai từ bao năm nay rồi.

Trên nguyên tắc quân bằng và đối trọng trong quyền lực và tác nhiệm, ba ngành tư pháp, lập pháp, hành pháp của một quốc gia phải độc lập không lệ thuộc nhau. Điều quan trọng nhất là không bị một đảng phái nào ảnh hưởng trụ trì cả. Các đảng phái có thể nắm quyền chấp chính sau khi được người dân tín nhiệm bầu vào thành phần đa số. Tuy nhiên, họ vẫn phải luôn đối tác, thương lượng, liên hiệp với các đảng phái thiểu số khác để đề xướng, thông qua, và thi hành các chính sách của quốc gia.

Thế nhưng cái Đảng CSVN chơi trò lắc léo! Chúng ôm trọn quyền, tự biên tự diễn, tự bầu bán cho nhau vào những chức vụ trong cả ba ngành của nhà nước. Đó là hiện tượng khác biệt cơ bản nhất của một chế độ độc tài, khác hẳn với tinh thần của những đảng phái chính trị thuộc các nước tự do dân chủ trên thế giới. Vì dzậy nên bàn dân thiên hạ, và ngay cả những phó thường dân như tui, mới phải chộn rộn bàn tán xôn xao.

Phó thường dân tui chữ nghĩa không đầy cái lá mít, nên tui chỉ hiểu đơn giản theo kinh nghiệm sống của mình mà thôi. Do đó tui thấy cái đảng CSVN này xem ra chính thị là lũ kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông. Còn cái Đại hội đảng XI đang diễn ra thì không khác gì hơn là đại hội đèn cù.[1]

Để phó thường dân tôi giải thích cái nhận xét của tui là tại sao đảng CSVN là kỳ đà cản mũi nghe. Chủ nghĩa cộng sản thì đã bị diệt vong, và rơi vào thùng rác của lịch sử từ hơn ba thập niên. Thế mà tập đoàn bộ chính trị cực đoan đáng là tội phạm vì lạm dụng quyền lực tối đa để khăng khăng kiên định lập trường chủ nghĩa Mác-Lê, và để tiếp tục chuyên chính độc quyền cai trị. Trong khi các quốc gia trên thế giới tiến bộ chọn lựa chiều hướng chính quyền dân chủ tự do thì CSVN cố khư khư ôm bám định chế “xã hội chủ nghĩa” (theo nghĩa hẹp của độc tài chuyên chính và thời kỳ quá độ).

Đảng CSVN ngày càng đi ngược lại cao trào tiến bộ của nhân loại, tiêu diệt hủy hoại tiềm năng dân tộc, và nhận chìm ước vọng mòn mỏi của toàn dân: muốn có những quyền làm người cá nhân căn bản và được tự do dân chủ trong xã hội. Như vậy thì không thể biện hộ hay chối cãi gì được nữa. Đảng CSVN là một đảng cực kỳ phản động[2], là kỳ đà cản mũi cản trở tiến trình phát triển xã hội của đất nước VN, và tự tách biệt mình ra khỏi cộng đồng thế giới.

Thứ hai, tui thấy Đảng CSVN là đám cắc ké xạo ke. Tập đoàn quyền lợi thiểu số đảng CSVN đã dùng hình thức lừa đảo kiểu “sở hữu toàn dân” để bán đất, bán rừng, bỏ biển thu lợi cho riêng mình, và bành trướng của cải quyền lực cho gia tộc đàn em của mình (nhưng vênh vang tuyên bố tài sản là “cộng”, là của chung!). Bộ phận giàu có nhất trong xã hội là các phần tử liên kết với quân đội, công an phục vụ cho đảng cho bè lũ chức quyền ma-phi-a.

Đây là bè lũ bất nhân. Chúng bất kể tai hại, hiểm nguy đến đời sống người dân, đến an ninh quốc gia. Chúng tẩu tán tài sản quốc gia qua “cổ phần hoá” (chia chác riêng), tẩu tán những tài sản công cộng, và biển thủ vốn đầu tư doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hằng loạt y như kiểu Vinashin—chỉ khác mức độ cường độ mà thôi.

Chúng nói là đầy tớ nhân dân nhưng hành hạ nhân dân vô kể như “chuyện dài ở huyện”. Chúng hứa lèo bằng cách nói nho nhỏ là nhận trách nhiệm sai trái đã xảy ra, nhưng rồi lại chẳng khi nào chịu trách nhiệm bằng bất cứ một hành động cụ thể nào. Chúng báo cáo công việc theo kiểu “báo cáo vị báo cáo”[3]. Nói suông, nói cho có cho được, nói xạo.

Hãy nghe cắc ké Đinh Thế Huynh—Chủ tịch Hội nhà báo Việt Nam—vừa mới tuyên bố (xạo ke):

“Ở Việt Nam không có nhu cầu đa nguyên, đa đảng và dứt khoát không đa nguyên đa đảng. Bởi một lẽ đơn giản, chúng tôi đã từng thử nghiệm đa nguyên đa đảng thông qua cuộc tổng tuyển cử năm 46, với nhiều đảng tham gia Quốc hội[4]. Nhưng đến khi thực dân Pháp quay lại xâm lược nước tôi thì chỉ có Đảng Cộng sản cùng với nhân dân Việt Nam chiến đấu chống lại và giành thắng lợi trước thực dân Pháp. Và nay, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn đang tiếp tục lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Sự thật ra sao? Việt Minh đã kêu gọi các đảng phái và thành phần không đảng phái đứng vào liên hiệp cứu quốc chống thực dân. Sau khi đánh bóng được nội các chính phủ trước toàn dân và thế giới thì họ đã mưu chước để lập tức loại bỏ, thủ tiêu, ám sát các thành viên Việt Cách, Quốc Dân Đảng, Đại Việt, v.v…[5]

Những ai may mắn “bỏ chạy lấy thân” thì còn sống sót. Ngay cả các người trí thức không đảng phái tham gia kháng chiến rồi cũng phải trốn hàng ngũ về thành vì nhiều nguyên nhân: bị chính ủy áp đặt chủ thuyết cộng sản ép buộc tham gia, bị đấu tranh tư tưởng, bị cưỡng bức làm chuyện trái đạo lý, tình người. Một số người trí thức sẵn sàng quên quyền lợi cá nhân và cố hy sinh chịu đựng trong thời chiến tranh để rồi bị trù dập, đày đọa, đấu tố sau khi cách mạng thành công chỉ vì đòi hỏi tí quyền tự do và nhân phẩm không chỉ cho bản thân mình.

Nhóm Nhân Văn Giai Phẩm là một thí dụ điển hình nổi bật. Còn biết bao người không tên tuổi khác đành âm thầm cam chịu trong bóng tối. Ngoài việc đảng CSVN chủ trương “cải cách ruộng đất” tiêu diệt “trí, phú, địa, hào”, họ còn dùng “chấn chỉnh tổ chức” để loại trừ tất cả thành phần không cộng sản đang nằm trong các tổ chức chính quyền, bất kể những người đó đã hy sinh và có công lao hy sinh vì chuyện chung đất nước.

Dzậy thì mấy anh cắc kè văn nô này nói giỡn hay nói chơi dzậy cha nội! Các anh nói “dân chủ”, “tự do” theo kiểu “các bạn được quyền thích và tự do lựa chọn bất cứ màu gì, đây là màu đỏ duy nhất, mời các bạn tự do chọn (nhận).”

Kiểu tự do lựa chọn này làm phó thường dân tôi liên tưởng lại thời thơ ấu. Xã của tôi rất nhỏ nằm dọc quốc lộ chỉ có vài trăm gia đình. Trong xóm có một tiệm cắt tóc duy nhất. Cả đám con nít tui ai cũng được dẫn đi hớt tóc ở tiệm đó. Nhìn qua nhìn lại cái đầu đứa nào cũng giống nhau như ở trong cô nhi viện. Đầu đứa nào đứa nấy y chang một kiểu, kiểu nồi đất. Anh thợ hớt tóc cắt sao thì chịu vậy. Hên thì anh cắt đều tay, xui gặp bữa anh xỉn hoặc mới gây cấn với vợ thì cái đầu lởm chởm. Có phàn nàn thì anh sửa, sửa hổng xong thì anh xởn trọc đầu là xong chuyện. Khi tui bắt đầu lên trung học, đi học ở thị xã, nơi có nhiều tiệm hớt tóc thì mới thoát khỏi kiểu đầu nồi đất ấy. Đảng CSVN muốn vĩnh viễn đè đầu, cưỡi cổ, bịt miệng, trói tay nhân dân hoài vậy sao?

Chưa hết. Đảng CSVN là con kỳ nhông. Chúng thay da, đổi màu tùy lúc, tùy thời. Chúng mị dân để đạt được âm mưu sâu độc cai trị độc tài, áp bức nhân dân. Chúng treo đầu dê, bán thị chó. Chúng trưng bảng chủ nghĩa dân tộc để kêu gọi toàn dân đồng lòng chống thực dân, trong khi che dấu kỹ lưỡng cái nghĩa vụ quốc tế cộng sản.

Việc thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa với hiến pháp dân chủ để chiêu dụ các đảng phái tham gia hầu được công luận quốc tế công nhận. Nhưng ngay sau đó, đảng CSVN cho cán bộ và đặc công ám sát, thủ tiêu, hay chỉ điểm cho mật thám Pháp bắt họ hòng bẻ gãy sức mạnh tập hợp và loại trừ các nhân sĩ yêu nước không cộng sản này. Đảng CSVN có thời lấy tên đảng Lao Động để che dấu cái đuôi chồn cộng sản, để lừa đảo và mị dân nhưng bản chất nó là một đảng độc tài. Bây giờ thì CSVN lại trương bảng “kinh tế thị trường” và thòng thêm cái đuôi (kỳ nhông) “định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Đảng CSVN rêu rao dân chủ qua chủ trương “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, dân làm chủ”. Mèn đét ơi sao mà giống y chang mấy câu ca cẩm “kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông” nghe nực cười ngứa lỗ tai phó thường dân tui quá. Đảng lãnh đạo (độc quyền, độc đoán, độc tài), nhà nước quản lý (theo chủ trương-đường lối-nghị quyết của Đảng), dân làm chủ (nhưng để Đảng “no” dùm bằng cách đứng tên sổ đỏ) thì không phải kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông là gì?

Lúc còn nhỏ thì nghe thấy dzui dzui nhưng tui nói thiệt nè. Dân ta, ngay cả phó thường dân tui, đâu phải là con nít mà Đảng và nhà nước cứ xài cái điệp khúc “kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông” đó mãi. Thôi bỏ đi tám. Đừng chơi kiểu “tao là tớ, tớ là mình, mình là tao” độc tài, độc diễn mãi như dzậy.

© 2011 VietSoul:21

[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu – (8) Gió mưa là chuyện của trời … – (9) Vô liêm sỉ – man rợ – (10) Phế-anh-hùng – (11) Luật Lệ(nh) … – (12) Nhà em có nuôi một con két … – (13) Cái nhà là nhà của ta … – (14) Mèo – thỏ  – (15) phố vẫy …]


Chú Thích:

[1] Đại hội đèn cù lần thứ XI, danchimviet.info

Đại hội đèn cù lần thứ XI © Đàn Chim Việt

[2] Bàn về phản động, Nguyễn Bặc

[3] Báo cáo vị báo cáo

[4] Cách đây 65 năm, chính tớ đã đi bầu! blog Tô Hải

[5] Đại hội ù lì trâng tráo, Ngô Nhân Dụng

Các bài liên hệ:

Chứng quên tập thểCollective Amnesia and Rhetoric of Mobilized Participation

Tôi là người Việt Nam

Chúng tôi (Tự trào – Trí Thức – Tâm Tài)

Những cái nhập nhằng không tênThe Unspoken Ambiguities

Thời cửu vạn, ôsinThe Age of Day Laborer and Housemaid

Lết tới “thiên đường”

Bịt miệng nạn nhân

Tháng Tư Câm

Phản bội hay trung thành với lý tưởng?

Phó thường dân (3): Sợ

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2010/12/25 at 00:30

Vietsoul:21

Thời gian trôi qua hơn 35 năm tôi mới dám nghĩ lại đến phận đời phó thường dân của mình. Chuyện cũ, chuyện mới, chuyện ngắn, chuyện dài, chuyện bên ni, bên nớ.

Tiến trình giải thực tâm thức nô lệ không phải một sớm một chiều. Cái vòng kim cô nô dịch vô hình trên đầu thì khó gỡ hơn là cái xiềng xích nô lệ chân tay.

(tiếp theo kỳ trước: (1) Anh tám hồ hởi(2) Nội-thực-dân)

Sợ

For we have been socialized to respect fear more than our own needs for language and definition, and while we wait in silence for that final luxury of fearlessness, the weight of that silence will choke us.

Vì chúng ta bị điều kiện hóa để coi trọng nỗi sợ hãi hơn nhu cầu cất tiếng nói và khẳng định cho chính mình do đã sống quá quen thuộc với nó (một nền văn hóa sợ hãi), nên trong khi câm lặng chờ đợi lòng dũng cảm đầy xa xỉ cuối cùng ấy đến thì sức nặng của nỗi câm lặng ấy sẽ xiết ngạt chúng ta.

Audre Lorde, “The Transformation of Silence into Language and Action”, Sister Outsider (40-44)

Gần đây có nhiều bài viết bàn về cái sợ. Giới phó thường dân như tôi thì quá quen thuộc với nó. Sợ đủ mọi chuyện, mọi chỗ, mọi ngày.

Ai ai cũng nghĩ sợ là bản năng sinh tồn (survival instinct) của mọi sinh vật. Charles Robert Darwin thì đã từng cho rằng sự sinh tồn thuộc về con thú mạnh với thể chất tối ưu (survival of the fittest) là một luật tiến hóa của tự nhiên. Để sinh tồn thì ai cũng cần phải biết thích nghi với luật tự nhiên này. Trong cùng một loài thì con bé bao giờ cũng sợ con lớn. Cá bé hay sợ cá lớn vì vốn dĩ “cá lớn nuốt cá bé”. Không mạnh đủ thì sẽ sợ mà chạy trốn trước. Con thú bé (yếu) dĩ nhiên co giò chạy trước so với con thú lớn (mạnh) hơn, ngoại trừ khi con thú nhỏ này qua quá trình tiến hóa đã phát triển được các khả năng tấn công lại hoặc kỹ năng phòng vệ khác.

Sợ trong bản năng sinh tồn là yếu tố thuận lợi.

Thứ đến, sợ là một phản ứng có điều kiện mang yếu tố tâm lý. Nỗi sợ trở thành một phản xạ tự nhiên không riêng xảy đến với cá nhân mà còn ở tầng lớp tập thể, cộng đồng, và dân tộc. Ở mỗi cá nhân, sợ trở thành quen thuộc được coi như hơi thở trong cuộc sống do học hỏi từ xã hội nhiều hơn kinh nghiệm bản thân. Ở tầng lớp tập thể và cộng đồng, sợ trở thành quen thuộc qua học hỏi trao đổi ở sinh hoạt địa phương. Ở tầm vóc quốc gia, sợ trở thành quen thuộc như cơm bữa sau nhiều năm tiếp cận với các vận động tuyên truyền trong các lãnh vực văn hoá, chính trị, và lịch sử mang vẻ trau chuốt mỹ miều và tính lô-gíc bề ngoài. Cái sợ của mỗi cá nhân do đó thành kết quả tích tụ của ba tầng sợ hãi: cá nhân, cộng đồng, và quốc gia.

Sợ trong phản ứng có điều kiện là yếu tố bất lợi.

Không có ai mà không sợ gì cả. Khi người ta nói “có những người không biết sợ” thì thực ra người ta ám chỉ rằng những người đó đã vượt qua nỗi sợ trên một lãnh vực nào đó. Vì những anh hùng không sợ chết thật ra là những người vẫn biết sợ cái chết, nhưng chấp nhận chuyện trao đổi mạng sống mình cho một điều gì đó lớn hơn (cho chân lý, vì tổ quốc), hoặc trao đổi mạng sống mình thay vì phải sống mãi với một nỗi sợ lớn hơn (sợ sống nhục, sống hèn).

Phó thường dân là những người sống lẩn quẩn trong ba tầng sợ hãi. Họ có thể vượt qua được những sợ hãi riêng cá nhân hoặc tập thể cục bộ nhưng thật khó thoát khỏi cái sợ lớn xuất phát từ và của cả một dân tộc.

Chẳng hạn bản thân cá nhân phó thường dân trong phạm vi gia đình có thể sợ vợ, tuy nhiên sống với sợ (vợ) lâu ngày cũng dần dà trong sáng tạo tự trọng để biết cách uyển chuyển đối phó và vượt qua nỗi sợ “bà”. Phó thường dân sống nhiều năm ở tỉnh lẻ dạt lên thị thành có thể cũng có nhiều nỗi sợ (vô lối): sợ lạc đường, sợ bị gạt, sợ bị dụ dỗ, sợ bị chê cười kiểu “le nhaque”. Ngay ở quê thì đã phải sống trong nhan nhãn sợ hãi vì “chuyện thường ngày ở huyện”. Điển hình nhất là sợ công an, sợ quan quyền, sợ đảng bộ, và sợ hơn cả là cái thằng “cơ chế”. Công an, quan quyền, đảng thì còn có mặt có tên có thực thể chứ cái thằng cơ chế thì chẳng biết hình dạng mặt mũi nó ra sao, hay ở đâu. Vô hình, vô dạng nhưng lúc nào nó cũng lù lù bất thần làm kỳ đà cản mũi “làm việc” và “làm luật” ở khắp mọi nơi.

Dân tộc Việt Nam vừa thoát ra khỏi gông cùm nô lệ thực dân chưa đủ thời gian và cơ hội giúp cho tâm thức được giải thực thì lại vướng vào còng nô lệ “chuyên chính vô sản” của Đảng toàn trị CSVN. Từ chỗ sợ ông Tây thực dân chuyển sang sợ “ông” cán bộ. Qua cải cách ruộng đất hằng hà sa số các địa chủ, tiểu nông, tư sản, thương gia, trí thức tất tật trở thành phó thường dân. Chỉ còn mỗi giai cấp nông dân được đi tàu bay giấy phong cho làm chủ tập thể các hợp tác xã, gõ kẻng đi làm công nhật. Riêng cán bộ là đầy tớ nhân dân nên đi đến đâu cũng phải được cung phụng. Một giai cấp “đầy tớ nhân dân” được sinh sản bỏi Đảng chuyên chính vô sản để thừa hưởng bổng lộc thống trị.

Đảng buộc mọi người dân tuân thủ “xếp hàng cả ngày” để tiến lên (xếp hàng cả ngày thì có nhúc nhích được bao nhiêu mà tiến lên?) thiên đường cộng sản. Mọi thứ đều được phân phối qua tem phiếu theo “tiêu chuẩn”. Phó thường dân, thành phần “có vấn đề”, thì sẽ được gạn lọc cho hoặc ở ngoài biên chế, hoặc nằm ở tiêu chuẩn đầu cá, đuôi tôm. Sự gạn lọc dựa tiêu chuẩn tạo nên nỗi sợ ĐÓI. Mà đã đói thì cái đầu lú la, lú lẫn, chẳng suy nghĩ được điều gì khác ngoài việc hướng tới làm thế nào để kiếm ra miếng ăn.

Tiến đến thời kỳ “đổi mới” và “kinh tế thị trường” thì có đúng là người dân hẵn đã thoát ra nỗi sợ đói? Họ được “cởi trói” không lệ thuộc vào hợp tác xã, vào chế độ biên chế nhưng phải chăng họ đã thoát hẳn ra cái cơ chế “định hướng xã hội chủ nghĩa” lăng quăng luồn mình vào tư bản đỏ hoang dã? Nỗi sợ ĐÓI được thay thế bằng nỗi sợ bất an về VIỆC LÀM. Những người cửu vạn, ô sin, những người làm cơ xưởng luôn luôn chịu áp lực bị mất việc (unemployment) và thiếu việc (under-employment). Những nô-lệ-thời-hiện-đại (modern-day slaves) này không được bảo vệ qua cơ chế công đoàn độc lập/tự do hoặc chính sách bảo hiểm lao động. Thu nhập lương bổng giới hạn của họ không chạy theo kịp lạm phát phi mã, giá cả hàng tiêu thụ tăng chóng mặt, cũng như các phí tổn giáo dục, y tế, và nhà cửa căn bản.

Đảng đòi hỏi cá nhân phải “đấu tranh tư tưởng” (tự tẩy não), tự kiểm điểm (tự dối trá, tự nhục hình)1 , tự động khai báo lí lịch (phân biệt giai cấp). Cùng lúc thì Đảng xây dựng tổ chức cơ quan công an, an ninh mật vụ làm tay sai và công cụ để Đảng tiện áp chế người dân và nhất là lớp phó thường dân. Đảng sử dụng những hình thức nô dịch hoá con người này để tạo nên những nô lệ biết sợ và biết phục tùng. Đảng o ép những phó thường dân đã nhỏ bé này ngày càng teo lại đến độ họ không còn ứng xử bình thường với chút tự trọng bình thường. Dần dà lâu ngày tâm thức những con người này trở thành dị dạng. Họ không thể làm người tử tế trong một xã hội vô nhân đạo, xã hội của những tên đạo đức giả (đạo đức nô lệ tinh thần HCM), của những con ông cháu cha ăn trên ngồi trốc.

Đảng đặt các cơ cấu nhà nước dưới sự “chỉ đạo” của bộ chính trị và trung ương Đảng. Tất cả mọi cơ cấu ở trong tình trạng án binh bất động nếu chưa có sự “chỉ đạo”, và ngược lại họ có thể làm tất cả mọi điều bất kể luật lệ khi đã được lệnh “miệng”. Họ chỉ sợ bị mất “ghế” chứ không hề sợ luật pháp. Câu nói đầu môi “Luật là tao” và đám phó thường dân mày thì phải sợ tao. Thế nên cả nước đều sợ bị “làm luật” trong khi thiểu số con ông cháu cha thì luôn bất chấp luật pháp. Những người “làm luật” là những người vi phạm và chà đạp luật pháp hơn ai hết.

Tất cả những móc xích nỗi sợ này sau khi thuần quen với chuyển động cơ của chính sách nô dịch đặt để lên người dân đã tạo vết ấn tâm thức nô lệ, ăn mày. Người dân trở thành người nô lệ cho đám nội-thực-dân Đảng CSVN.

Có những người sợ để sống. Có những người sống biết sợ.

Ai mà chẳng sợ. Phải chăng điều khác biệt là sợ để mà sống (hèn/nô lệ) hay sợ nhưng sống (thật/tự do). Nhà văn Trần Dần đã nói rằng vì biết sợ nên mới sống. Nhà văn Dương Thu Hương và nhà văn Võ Thị Hảo đã nói nhiều về những nỗi sợ này. Họ đã nhắn nhủ rằng thật ra không nên sợ quá đáng và hãy sống thật tự nhiên như hơi thở. Hơi thở thì không bao giờ là một phản ứng có điều kiện.

Hãy thử nhìn một người gần gũi có thể tiếp cận được như Mẹ Nấm và không ít những người khác biết sợ nhưng vẫn sống thật. Tôi đồng cảm với hoàn cảnh của mẹ Nấm lúc cô ấy phải viết lời khai từ bỏ việc viết lách của mình vì sợ cho con và cho bản thân. Mẹ Nấm biết sợ nhưng mẹ Nấm phải sống thật với chính mình. Cô ấy vẫn đang viết đang nói dù vẫn có nỗi sợ bị bắt bớ. Nhà thơ Hữu Loan sợ những đồng chí phản thùng của mình và sợ cả cái đảng vô nhân nên bỏ về quê thồ đá tự mưu sinh để không dây vào với đám hủi. Ngay cả nhà đấu tranh dân chủ Lưu Hiểu Ba cũng sợ vì cảm thấy tội lỗi khi để những người thân thuộc bị quấy nhiễu, đàn áp bởi nhà nước độc tài TQ. Nhưng những người nêu trên không thể làm điều khác hơn là sống thật. Họ nhắc nhở chúng ta nên giữ lại chút tự trọng của con người để sống thật và không nên sợ quá đáng.

Bộ Chính Trị, Trung Ương Đảng, nhà nước CSVN ứng xử như những kẻ sợ để sống (với nước láng giềng lớn Trung Quốc). Nỗi sợ vượt tầm quốc gia này thẩm thấu vào xã hội, ăn sâu vào mọi cơ cấu truyền thông, phân bộ ngoại giao, guồng máy quân đội, công an. Cơ cấu truyền thông không dám thông tin sự thật, và tự kiểm duyệt hoặc nói theo mệnh lệnh từ trên đưa xuống. Bộ máy công an bạo lực tha hồ đàn áp người dân thì tự bảo họ rằng “còn Đảng còn mình”. Bộ ngoại giao thì phát biểu lấy lệ cho có, chỉ phát biểu nội bộ với dân mình, nói kiểu huề vốn, chứ không dám đứng thẳng cột xương sống lên tiếng đáp lại người láng giềng ngang ngược. Người dân bị cấm đoán, không được phép có phản ứng nào trước nỗi sợ vượt tầm quốc gia này—một nỗi sợ tạo tâm lý trầm uất da diết với nỗi buồn nhược tiểu. Người dân dù phẫn uất vẫn không được phép tỏ lộ phản kháng.

Phó thường dân chúng ta cần một cuộc giải phóng—một phong trào giải thực tâm thức vượt thoát nô lệ sợ hãi nô lệ tư tưởng để sống như một con người có quyền làm người, có quyền công dân trong tự do, dân chủ.

Làm thế nào?

Ý thức là chìa khóa.

Ta phải phản kháng dù sợ, dù tiếng nói mình vẫn còn run rẩy vì “khi ta câm lặng ta vẫn ôm nỗi sợ”.2

Phản kháng những việc nhỏ nhất trong tầm tay, trong khả năng. Mở miệng. Động não. Khởi tâm. Chúng ta phải tự chuyển biến mình từ những người đứng bên lề thành những nhân chứng trong cuộc. Chúng ta phản kháng bằng cách trở thành nhân chứng khi mục kích những ai bị áp bức, bất công. Không dửng dưng, không đứng bên đường mặc kệ những sai trái trước mắt. Thấy người ngã, nâng đỡ và vực họ dậy. Thấy người bị bịt miệng, lắng nghe với tấm lòng và lên tiếng cùng với họ.

Những ai không thực hiện những hành động phản kháng, dù có vẻ nhỏ bé tới đâu hay xem chừng không đáng kể gì, là người đồng lõa mang tội dung dưỡng để cho những tội lỗi này tiếp tục diễn ra. Những ai tự lừa dối bằng cách không hành động gì cả để tin mình là kẻ ngây thơ vô trách nhiệm. Họ thật ra không phải vô tội.3

© 2010 VietSoul:21

[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu – (8) Gió mưa là chuyện của trời … – (9) Vô liêm sỉ – man rợ – (10) Phế-anh-hùng – (11) Luật Lệ(nh) … – (12) Nhà em có nuôi một con két … – (13) Cái nhà là nhà của ta … – (14) Mèo – thỏ – (15) phố vẫy …]


Chú Thích:

[1] Một người Việt Nam cả đời kiểm điểm, Yên Ninh, danlambao.com

[2] Kinh cầu cho sự sống còn (Litany for survial), Audre Lorde, trong tuyển tập thơ “the black unicorn”

[3] “Happy as a hangman” (Hạnh phúc như tên đao phủ), Chris Hedges, Truthdig Op-ed, Dec 06, 2010

“Those who do not carry out acts of rebellion, no matter how small or seemingly insignificant, are guilty of solidifying and perpetuating these crimes. Those who do not act delude themselves into believing they are innocent. They are not.”

Các bài liên hệ:

Chứng quên tập thểCollective Amnesia and Rhetoric of Mobilized Participation

Tôi là người Việt Nam

Chúng tôi (Tự trào – Trí Thức – Tâm Tài)

Những cái nhập nhằng không tênThe Unspoken Ambiguities

Thời cửu vạn, ôsinThe Age of Day Laborer and Housemaid

Lết tới “thiên đường”

Chúng tôi (Tự trào – Trí Thức – Tâm Tài)

Tôi là người Việt Nam

Bịt miệng nạn nhân

Tháng Tư Câm

Phản bội hay trung thành với lý tưởng?

phó thường dân (2): nội-thực-dân

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2010/11/24 at 10:56

Vietsoul:21

Thời gian trôi qua hơn 35 năm tôi mới dám nghĩ lại đến phận đời phó thường dân của mình. Chuyện cũ, chuyện mới, chuyện ngắn, chuyện dài, chuyện bên ni, bên nớ.

Tiến trình giải thực tâm thức nô lệ không phải một sớm một chiều. Cái vòng kim cô nô dịch vô hình trên đầu thì khó gỡ hơn là cái xiềng xích nô lệ chân tay.

(tiếp theo kỳ trước: (1) Anh tám hồ hởi)

Thực dân, nô lệ, ăn mày (tựa đề một bài viết của Nguyễn Hoàng Văn)

Qua đến thời “kinh tế thị trường” và “định hướng xã hội chủ nghĩa” này thì số phó thường dân không giảm đi nhưng ngược lại nó tăng vụt một cách chóng mặt.

Ở bên nớ, nông dân không chuyên nghề ở nhà gặp nhiều “sự cố ở huyện” quá đỗi nên rủ nhau biệt xứ. Họ thế chấp nhà cửa mua vé đi lậu, đi chui làm người rơm, người rừng cho bọn tư bản đế quốc dẫu viễn xứ gian truân, khó khăn trăm bề nhưng có lẽ còn có thể kiếm ăn hơn là chịu nhục chịu đói làm phó thường dân ở làng xã.

Dân có học thì cũng chẳng khấm khá gì. Chỉ cần tư duy độc lập không chịu làm con cừu đi theo lề phải là bị đạp xuống thành phó thường dân ngay. Ngó qua ngó lại thì cả nước chứ chẳng phải nông dân, công nhân, trí thức gì gì đều là phó thường dân[1] dưới cái chính quyền nô dịch này.

Đảng CSVN cầm quyền (cầm tiền) ở Việt Nam càng ngày càng lộ cái dị dạng hai đầu: vừa mang dấu ấn nội-thực-dân trong cơ chế độc tài đảng trị, vừa trao thân cho tân-thực-dân (neocolonialist) dưới chiêu bài “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.”

Các điều khoản trong Hiếp Pháp nhà nước XHCN Việt Nam như “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai” (Điều 18 Hiến Pháp 1992), “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” (Khoản 1 Điều 5 Luật Đất Đai) là hình thức che đậy cho quyền xử dụng trong tay thiểu số tập đoàn cai trị tung hoành cướp đất đồng bào[2].

Qua cơ chế độc tài đảng trị, bọn nội-thực-dân khai thác tài nguyên quốc gia, bán tháo bán đổ, sang nhượng cho thuê bất kể tác hại đến an ninh và môi sinh, ảnh hưởng nghiêm trọng công ăn việc làm, và tước đoạt phương tiện sinh hoạt kinh tế của người dân.

Dưới chiêu bài “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” thì ngân sách quốc gia được đút vào các tập đoàn, tổng công ty doanh nghiệp nhà nước (DNNN), điển hình là Vinashin. Từ đó những “ông chủ trá hình” tha hồ tùy tiện xử dụng và biển thủ nguồn tài chánh này (thuế từ dân chúng, tài nguyên quốc gia, kiều hối, vay mượn nợ ngân hàng quốc tế). Với phương thức văn vẻ “cổ phần hoá” (equitization), tài sản công cộng bỗng dưng biến mất dưới bàn tay phù phép và lọt vào túi những tên tư bản đỏ nằm trong tập đoàn chính trị đầu sỏ (oliarchy)[3].

Mặt khác, cái tập đoàn chính trị đầu sỏ đấy lại hành xử như những người nô dịch thời thuộc địa. Họ chưa (muốn) biết làm thế nào để thoát ra được cái tâm thức nô dịch dù đã đánh đuổi được thực dân Pháp ra khỏi nước. Vì thế các ông “đầy tớ nhân dân” với quyền lực tuyệt đối nhưng sống trong trạng thái tâm lý của kẻ vừa là nội-thực-dân vừa là tên nô dịch cho tân-thực-dân.

Họ vừa ở trong trạng thái trầm uất (depression) tự ti ngu dốt, thiếu khả năng hơn các chủ nhân ông tân-thực-dân, vừa huyên hoang trong chứng bệnh vĩ cuồng vị kỷ (narcicisstic grandiosity)[4]. Vĩ cuồng trong những đề án hoang tưởng Vinashin, dự án đường sắt cao tốc, và công trình lễ hội Ngàn Năm Thăng Long.

Họ hăm hở nhại lại những gì các nước Âu Mỹ thành công để tưởng rằng mình “Cũng ngang hàng với người ta, cũng nói năng đúng mức đàng hoàng …”[5] Họ biển thủ, trộn cắp muốn mua lấy phú quý, vinh quang nhưng vẫn chung quy phường mèo mả, gà đồng.[6]

Hoang tưởng vĩ cuồng cho mình chỉ cần (ăn ba đấu gạo) đổ bao nhiêu công phiếu, nợ nần vào Vinashin là vươn vai Phù Đổng trong khi trình độ kỹ thuật chưa làm được một con ốc đủ tiêu chuẩn công nghệ cao.

Hoang tưởng vĩ cuồng khi nghĩ rằng chỉ cần vay nợ (đời con đời cháu cũng chưa trả hết) làm đường sắt cao tốc là trở thành tân tiến trong khi hệ thống đường sắt cổ lỗ sỉ xuống cấp, vẫn còn lưới sắt chống đá, vẫn còn đổ phân xuống đường rày, và vẫn còn những đàn bò đi trên/ngang qua quốc lộ cao tốc.

Hoang tưởng vĩ cuồng trong khi người dân thiếu đất trồng trọt, không đủ nhà ở thì lại quy hoạch (đầu cơ địa ốc) xây dựng các sân golf, casino, và resort phục vụ những con ông cháu cha, những tân-thực-dân ngoại kiều và Việt kiều.

Mọi thứ đều hoành tráng bên ngoài và tạm bợ nhưng rỗng tuếch bên trong. Họ không hiểu rằng những phương tiện hào nhoáng bên ngoài này không mua được bản chất và cốt cách bền vững lâu dài.

Điều căn bản đáng cần làm là xây dựng hạ tầng cơ sở từng bước một vững chắc (không theo kiểu đầu voi đít chuột, nay làm mai sửa, càng sai càng sửa, càng sửa càng sai) cụ thể như nâng cao mức sống người dân (không theo kiểu từ cao nhỏ giọt xuống – “trickle-down”, làm đầy tớ cho người); nâng cao dân trí (giáo dục miễn phí, tự do ngôn luận và phản biệt) thì không thấy quan tâm.

Không một mảy may đầu tư vun xén cho hạ tầng cơ sở được vững chải mang tính sách lược và hệ thống hóa. Chỉ thấy “phát triển” ngoài da như đi trên mây chẳng bao giờ chạm chân chấm đất.

Nào là xây nhà quốc hội hoành tráng cho đa số nghị ông, nghị bà bù nhìn, gật gù cho đúng khuôn mẫu “dân chủ” kiểu “Đảng ta”. Không thấy xây nhà xí[7], xây thư viện hay lắp cầu[8] qua sông cho người nghèo đi lại, hay học sinh có phương tiện đến trường sinh hoạt căn bản. Chỉ thấy thụ động chờ xem những ai không thể bịt mắt trước đau khổ nhọc nhằn của đời phó thường dân, góp công góp của, và xắn tay vào thực hiện thì “thiên tài” Đảng ta cướp công lấy điểm là nhà nước rất “no”. Nếu không phải là một hình thức nội-thực-dân chỉ cốt phục vụ cho tập đoàn chính trị đầu sỏ và đám ăn theo thì gọi là gì?

Theo ông Memmi[9] thì tâm lý của kẻ thực dân là luôn coi mình có văn minh, tiến bộ, bậc thầy của người bị trị.

Phong tác thực dân luôn nhập vai vào người đô thị, thời thượng. Kiểu cách thực dân thì đương nhiên được nâng cao và phục vụ bởi người nghèo khó túi vá áo ôm. Những người bị cho là “thiếu văn hoá, văn minh” này đa phần xuất thân từ vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Họ bị bần cùng hoá và phải đổ ra đô thị làm cửu vạn, ôsin.

Họ sa vào đường cùng khi phương tiện sinh hoạt kinh tế nông thôn thì đã dần co hẹp do mất đất mất nhà, chi phí sản suất thì vụt cao, giá cả nông sản thì bị dìm ẻm, và thu nhuận của họ không đủ sống qua ngày trong khi lạm phát càng lúc càng gia tăng.

Một số khác đành phải gia nhập đội ngũ công nhân hạng bét cho các cơ xưởng sản xuất xuyên quốc gia (transnational). Họ được gián tiếp huấn luyện trở thành nô-lệ-thời-hiện-đại phục vụ cho giới thống trị toàn cầu.

Đám tân-thực-dân thông đồng với giới thống trị toàn cầu này rất thính hơi với lợi nhuận. Họ nhanh chóng và thường xuyên di dịch từ đô thị này sang đô thị khác tìm mồi. Họ hớt nước cốt trong nồi súp, rồi ra vẻ tử tế thương hại để lại phần xương xẩu sót dưới đáy nồi cho người địa phương. Việt Kiều, Ngoại Kiều thì có khác gì. Cả hai đều hối hả chung tay vào khai thác và nô lệ hoá giới lao động bần cùng.

Ở bên ni, người có học được tiếp xúc với nền văn hóa Âu Mỹ thì đã không ít kẻ bị mờ mắt với nền khoa học, kỹ thuật tân tiến. Trí thức hải ngoại dù cánh tả hay cánh hữu cũng đều dễ bị lôi cuốn vào diễn luận trọng Âu (eurocentrism). Con đường này không chóng thì chày cũng dẫn đến góc tối thực-dân-mới.

Giới có học biết đòi hỏi quyền lợi cho bản thân nhưng lại rụt rè trong việc đòi dân quyền và công bằng cho tha nhân. Họ tậu công ăn việc làm, đạt an sinh cá nhân trong môi trường tự do tương đối và an thân trong vị trí đó.

Họ tự viện cớ ứng xử nhiều kiểu khác nhau để âm thầm trương bảng “không tham gia chính trị” như thể đó là một phạm trù có thể khoanh vùng và cô lập ra khỏi cuộc sống. Họ là những người tự nguyện làm công dân hạng hai, sẵn lòng làm phó thường dân, và chưa dám làm một công dân thực thụ trong xã hội dân chủ phương Tây.

Họ giữ im lặng, chẳng hề lên tiếng hoặc xác định vị thế chính trị nào trước các chính sách kỳ thị về di trú hay bất công trong vấn đề dân quyền, nhất là khi cân nhắc và biết tác động của các chính sách này không ảnh hưởng trực tiếp tới mình. Họ giữ im lặng dù biết các chính sách này vi phạm nhân quyền gây nhiều thương tổn cho các sắc dân hoặc tôn giáo thiểu số mà mình cùng sống chung.

Sự im lặng đáng ngạc nhiên. Vì chính mình tự kiểm duyệt mình trong một hoang tưởng an toàn như con cừu đang đứng giữa được bao bọc bởi bầy đàn và để mặc cho đồng loại bị cắn xé ngoài rìa. Họ muốn lặng lẽ quên gốc gác màu da của mình. May thay cũng có những người không im lặng (Đừng bảo tôi im vì bạn im).

Cũng có người ngụy biện theo chước khác. Họ dùng cái “thinh lặng của thiền định nhà Phật” để lẫn tránh vào nơi an trú. Cái thinh lặng sấm sét truớc kêu gào, rên siết. Họ không thèm hiểu hay quên hẳn rằng một số quyền và tự do tương đối họ đang hưởng là kết quả từ những đấu tranh và hy sinh của nhiều công dân đi trước – những người đã can đảm thực hiện quyền công dân thực thụ. Họ sống ẩn với triết lý và học đường tại vị, che mắt bịt tai để không phải mục kích thảm kịch dành cho giới lao động chân tay và phục dịch – một khối tuy rất đông nhưng sống trong sợ hãi chỉ lo đến miếng cơm manh áo.

Trong khi đó, bộ máy truyền thông bảo thủ được tài trợ bởi giới tài phiệt tư bản xuyên quốc gia biết cách chế ngự đám đông làm nỗi sợ này ngày càng gia tăng. Guồng máy này tiếp tục ra rả đem ông ngáo ộp thất nghiệp dọa dẫm giới lao động.

Tập đoàn tư bản nắm cái cán dao việc làm vung qua vung lại rêu rao đe dọa đóng cửa cơ xưởng, xuất khẩu việc làm, và cắt giảm lương bổng. Chúng đòi được lợi tức tối đa, miễn thuế dài hạn, và giảm bỏ các luật lệ kiểm soát an toàn để tự do tung hoành trong sản xuất.

Giới lao động và công đoàn thất thế, chịu bị ép buộc vào những điều kiện bất lợi. Chỉ vì mong có được việc làm trước mắt nên họ dễ dàng thuần phục theo diễn luận tân-tự-do (neo-liberalism) đánh vào nhược điểm tâm lý mình. Họ hiểu mơ hồ nghe theo ủng hộ các biện pháp có điều kiện bất lợi về lâu dài cho chính họ mà lại vô cùng thuận lợi cho giới chủ nhân ông.

Cả hai giới lao động tri thức và chân tay đều ít lên tiếng phản kháng chống cự vì thói quen cố hữu với phận tôi đòi, hay tránh né sợ sệt ảnh hưởng đến việc làm hay quyền lợi riêng (dù là ảo tưởng và chẳng là bao).

Người ta có thể đưa quốc gia ra khỏi vòng thuộc địa nhưng chưa hẳn là đã đem tâm thức thuộc địa ra khỏi quốc gia.

Những người sinh ra và lớn lên ở VN thời thuộc địa và hậu thuộc địa dù không ít thì nhiều vẫn giữ lại tâm thức người thuộc địa. Một số người ham muốn tranh giành quyền lợi vẫn tiếp tục ôm lấy lề thói xin-cho trong tương tác với quyền lực chính thống cho dù đã rời VN trước đây rất lâu.

Họ xun xoe xin xỏ, chọn lựa bon chen tâng bốc chức sắc chính quyền các cấp. Họ không dám đòi hỏi quyền được tôn trọng và công nhận chính danh sự hiện hữu của cộng đồng. Họ phò tá thay vì chỉ xem những viên chức chính quyền là người phục vụ[10] dân và đáp ứng nhu cầu của người công dân. Rốt cuộc, những người đồng hương lờ mờ của họ chỉ được ăn cái bánh vẽ.

Giới thanh thiếu niên Mỹ gốc Việt sinh ra hoặc lớn lên (lúc còn bé) tại hải ngoại thì lại là một hiện tượng khác. Mặc dù họ không bị vướng tâm thức nô lệ thuộc địa nhưng lại kẹt mắc vào ứng xử suy nghĩ thông đồng với diễn luận Trắng (Whiteness)[11]. Một diễn luận tạo tầng lớp nô lệ khác, đặc thù là nô lệ văn hoá.

Thực dân thì lắm dạng và nô lệ có nhiều kiểu.

Bản tuyên ngôn nô lệ ra đời (phê chuẩn và phổ biến) ngày 1 tháng 1 năm 1863. Nhưng 100 năm sau người Mỹ da đen qua phong trào dân quyền (civil rights movement) vẫn còn phải tranh đấu không ngừng để đòi hỏi những quyền tự do căn bản cho mình. Họ cũng chưa hẳn đã đạt được trọn vẹn quyền làm người bình đẳng bất khả xâm phạm này.

Mục sư Martin Luther King, Jr. từng kêu gọi người Mỹ da đen phải can đảm phải quyết tâm vực dậy tự thảo cho chính mình bản tuyên ngôn giải phóng nô lệ bản thân[12]. Ông nhắc họ – những tâm hồn nô dịch và tư tưởng bị thống trị không cần gươm đao – rằng không một bản tuyên ngôn giải phóng nào có thể cắt đứt, xóa bỏ những móc xích nô lệ ngoại trừ ý thức và ý chí từ mỗi người.

Chúng ta, những người Việt trong và ngoài nước, cũng nên suy gẫm về điều nhắn nhủ ấy. Thay vì sống chia rẽ, kèn cựa, phân hóa, và tự cô lập thụ động – những hành động suy nghĩ chỉ có lợi cho thế thực dân thống trị mới – chúng ta nên chọn đồng lòng hợp sức thoát khỏi cơn mê chiều[12]. Chúng ta cần tự vực mình dậy mà đi, và tự viết bản tuyên ngôn nhân quyền cho chính cá nhân thì mới mong thoát khỏi cái kiếp lê thê, ê chề của nô lệ ăn mày.

© 2010 VietSoul:21

[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu – (8) Gió mưa là chuyện của trời … – (9) Vô liêm sỉ – man rợ – (10) Phế-anh-hùng – (11) Luật Lệ(nh) … – (12) Nhà em có nuôi một con két … – (13) Cái nhà là nhà của ta … – (14) Mèo – thỏ  – (15) phố vẫy …]


Chú Thích:

[1] Hà Văn Thịnh, Tôi sai.

[2] RFA, Khiếu kiện đất đai gia tăng tại Việt Nam. (Video)

[3] RFA, Đằng sau những tập đoàn kinh tế

[4] Alschuler, L. R. (2006). “The psychopolitics of liberation”, Chapter 3 – Decolonization and Narcissism, p.43

[5] Nguyễn Minh Triết “Lòe” Việt Kiều.

[6] danlambao.com, Bí thư Tỉnh ủy Đinh Văn Hùng lấy đâu tiền mua trống 1,2 triệu USD?

[7] Nhà quốc hội hay nhà xí?

[8] VnExpress (2010, August 29). Người lái đò bỏ tiền xây cầu cho dân nghèo. Dân Trí (2010, June 13). Xác định vị trí xây cầu Khuyến học & Dân trí vượt sông Pô Kô.
Tin 180.com (2010, February 14). Nhóm Việt kiều xây hơn 100 chiếc cầu cho quê hương.

[9] Memmi, A. (1957). “The colonizer and the colonized”.

[10] Tiểu Sài-gòn (Seattle) yêu cầu Thị trưởng: lời nói đi đôi với việc làm, (Little Saigon asks the Mayor to walk the talk), International Examiner, 2009

[11] Cooks, L. (2003). Pedagogy, Performance, and Positionality: Teaching about Whiteness in Interracial Communication. Communication Education, 52(3), 245-257.

Cooks defines whiteness as “a set of rhetorical strategies employed to construct and maintain a dominant White culture and identities” (p. 246). In addition, McLaren defines in his article, Decentering Whiteness: In Search of a Revolutionary Multiculturalism whiteness as “a refusal to acknowledge how white people are implicated in certain social relations of privilege and relations of domination and subordination” (p. 9) [See McLaren, P. (1997). Decentering Whiteness: In Search of a Revolutionary Multiculturalism. Multicultural Education, 5(1), 4-11.]

[12] Martin Luther King, Jr. Speech “Sign your own emancipation” (Ký bản tuyên ngôn giải phóng của bạn)

[13] Hoàng Hạc (2010, February 5). Cơn Mê Chiều, nhạc phẩm thống thiết viết từ bối cảnh Mậu Thân. Trong bài hát “Cơn mê chiều” sáng tác bởi Nguyễn Minh Khôi có đoạn mở đầu sau đây: “Chiều nay không có em, mưa non cao về dưới ngàn. Đàn con nay lớn khôn, mang gươm đao vào xóm làng”.

Các bài liên hệ:

Thời cửu vạn, ôsinThe Age of Day Laborer and Housemaid

Những cái nhập nhằng không tênThe Unspoken Ambiguities

Lết tới “thiên đường”

Chúng tôi (Tự trào – Trí Thức – Tâm Tài)

Tôi là người Việt Nam

Bịt miệng nạn nhân

Tháng Tư Câm

Phản bội hay trung thành với lý tưởng?

phó thường dân (1): Anh Tám hồ hởi

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2010/11/20 at 22:02

Vietsoul:21

Thời gian trôi qua hơn 35 năm tôi mới dám nghĩ lại đến phận đời phó thường dân của mình. Chuyện cũ, chuyện mới, chuyện ngắn, chuyện dài, chuyện bên ni, bên nớ.

Anh Tám hồ hởi

Nhớ lại, sau 30 tháng 4 mấy anh Tám hồ hởi ló mặt, lên dây thiều cùng các anh nón cối nhận “làm đầy tớ nhân dân” trong chế độ mới. Tuyệt đại đa số người miền Nam đùng một cái từ công dân một quốc gia tự do trở thành phó thường dân trong đất nước thống nhất “anh em một nhà”.

Mấy anh Tám làm “đầy tớ” này thì lên tiếng tớ đây có quyền quyết định tất cả: đầy ải các phó thường dân ra vùng kinh tế mới và bọn “tay sai Mỹ Ngụy” vào các trại tập trung cải tạo. Đã là anh em một nhà thì nhà của em cũng là nhà của anh. Anh Tám bảo mấy em giao nhà, hiến đất, cơ xưởng để phục vụ nhân dân. Hơn nữa các anh đã dựng chòi tạo điều kiện cho các em “lao động vinh quang” còn các anh phải ở lại tiếp quản tài sản và ở trong (lòng) quần chúng nhân dân. Cách mạng là đổi đời mà.

Vì được gọi là cặn bã xã hội và được cách mạng tái sinh vào phận phó thường dân nên đa số đám trẻ miền Nam cỡ tuổi tôi được đưa vào ngọn cờ đầu “thanh niên xung phong”. Có chăng còn vài đứa như tôi sót lại trên sàng vào được Đại Học thì lụi cụi mới hai ba năm trên ghế học đường lại được tuyển đi “nghĩa vụ quân sự” trên chiến trường ở tuyến đầu tổ quốc. Phó thường dân chúng tôi bao giờ cũng được nhà nước xã hội chủ nghĩa ưu đãi tạo cho cơ hội phấn đấu thành anh hùng kiểu liệt sĩ.

Tôi nói thôi bỏ qua đi tám, nhưng anh Tám hồ hởi không chịu bỏ qua nên đám phó thường dân đành liều bỏ chạy tứ phương, tám hướng.

Bác-Tôi

Đúng ra thì tôi phải gọi ông ngang cỡ “ông cố nội” nhưng vì ông thích được gọi bằng Bác thành ra Bác (bác) Tôi (tôi) chắc cũng không mích lòng gì và chẳng bị mắng là (hỗn) láo.

Nói thì không ai tin chứ thực ra số phận của tôi và Bác có vẻ gắn bó với nhau lắm. Bác mà không đem thiên đường cộng sản về Việt Nam thì chắc tôi và Bác chẳng mắc mớ gì đến nhau. Nếu Bác cứ xây dựng thiên đường cộng sản ngoài ấy ấy đi thì cũng chẳng đến nông nỗi nào với tôi. Nhưng mà Bác lại cứ “toàn thắng lại về ta” nên chơi luôn thằng em đàng trong.

Vốn dĩ được xem là “thành phần có vấn đề” nên tôi có tư tưởng phản động theo gương Bác liều mình tìm đường cứu thân (thật) thay vì cứu nước (láo) như Bác.

Thời đó các chiến sĩ giải phóng ta đã quét sạch tàu Mỹ, tàu Tây mất tuyệt chẳng còn đâu ở bến Nhà Rồng để tôi lon ton lên làm bồi như Bác nên tôi phải vượt biển đi chui từ kênh rạch rặc mùi bùn. Cái mạng phó thường dân thời thuộc địa Pháp của Bác trông ngon lành hơn kiểu phó thường dân thời xã hội chủ nghĩa của tôi nhiều. Làm bồi như Bác sang hơn tôi một cái rụp. Bác sang Tây (do Bác chọn nó) còn tôi sang Mỹ (vì nó chọn tôi) nhưng mà kiểu nào thì cũng là người lưu vong cả thôi.

Cuộc đời của Bác thì đã được ngàn vạn đầu sách nói đến, kể cả sách của Bác (Trần Dân Tiên, T. Lan) tự họa nữa chứ chẳng phải chơi. Của đáng tội, chẳng cần Bác tự họa thì cũng đã có ngàn vạn văn nô bồi bút thổi phồng rồi, làm chi cho má nó khi (xin phép bác Tưởng Năng Tiến).

Đời phó thường dân lang thang như tôi thì có cặm cụi viết lắm cũng chưa đủ dăm trang. Ấy thế mà nó lại cứ hao hao giông giống như thế nào mới chết chứ.

Bác viết báo, tôi viết blog. Bác phó nhòm, tôi phó tiến sĩ (“mát” in VN kiểu cử nhân Luật anh ba Nguyễn Tấn Dũng). Bác học Lê-nin, tôi học Lin-cơn (Abraham Lincoln). Bác là cộng sản, tôi gốc cộng hòa.

Nói giông giống như vậy thôi chứ tôi thì tiền hậu bất nhất không như Bác trước sau như một. Tôi với Bác vốn trước đây cùng ở một đất nước chuyển tiếp từ thuộc địa sang hậu thuộc địa mà không có một thời gian thực sự độc lập để thoát ra khỏi cái tâm thức nô dịch.

Bác một dạ một lòng với ông Mác, ông Nin cung nghinh chủ thuyết cộng sản về nô dịch hóa đồng bào mình, hết cải tạo lao động, cải cách ruộng đất đến chỉnh huấn, thanh trừng theo rập khung anh cả. Bác luôn dùng bạo lực cách mạng độc tài đảng trị theo huấn thị của Quốc Tế Cộng Sản. Ngay cả cuối đời thì Bác cũng cà cuống (chết đến đít còn cay) đi gặp ông Mác ông Nin, nghe bài ca mẫu quốc Mao lần cuối. Bác hành xử “hân hoan, hồn nhiên” (à la Nguyễn Hữu Liêm trong bài “Nơi giữa Đại hội Việt kiều: Một nỗi bình an”) với tâm thức của một người thuộc địa. Hóa ra Bác, chủ tịch nước, cũng không hơn gì một phó thường dân.

Tôi sang đây ở xứ đế quốc Mỹ nhưng quyết học cách làm người công dân và kháng cự để không bị nô dịch hoá: tham gia biểu tình phản đối những chính sách quân phiệt, đế chế hoặc chính sách bất công thiên vị; phát biểu ý kiến đả phá chủ trương Tư Bản thống trị toàn cầu dù theo kiểu Đế quốc Mỹ hay Đại Hán Trung Hoa; cổ xuý cho việc giải thực tâm thức thuộc địa cho đồng bào bên ni và bên nớ.

Tiến trình giải thực tâm thức nô lệ không phải một sớm một chiều. Cái vòng kim cô nô dịch vô hình trên đầu thì khó gỡ hơn là cái xiềng xích nô lệ chân tay.

© 2010 VietSoul:21

[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu – (8) Gió mưa là chuyện của trời … – (9) Vô liêm sỉ – man rợ – (10) Phế-anh-hùng – (11) Luật Lệ(nh) … – (12) Nhà em có nuôi một con két … – (13) Cái nhà là nhà của ta … – (14) Mèo – thỏ  – (15) phố vẫy …]


Các bài liên hệ:

Thời cửu vạn, ôsinThe Age of Day Laborer and Housemaid

Những cái nhập nhằng không tênThe Unspoken Ambiguities

Lết tới “thiên đường”

Chúng tôi (Tự trào – Trí Thức – Tâm Tài)

Tôi là người Việt Nam

Bịt miệng nạn nhân

Tháng Tư Câm

Phản bội hay trung thành với lý tưởng?

Trang Hạ – Tôi không yêu nước!

In Tạp văn, Việt Nam on 2010/11/02 at 16:13

BBT: Trích dẫn giải mã cái nhập nhằng về Từ Thiện, Bố Thí, việc Cho và Nhận trong bài Tôi không yêu nước! của Trang Hạ.

Nguồn Video: Bauxite Việt Nam

Bạn tưởng thế nào là Từ Thiện? Bạn có bao giờ nghĩ rằng những việc mà bạn quen coi đó là từ thiện, nó thực ra chỉ làm bạn vênh vang, và những đồng tiền bạn Cho trở thành một gánh Nặng cho xã hội Việt Nam không? Và bạn trở nên quen dùng đồng tiền để làm thước đo cho mọi giá trị trong xã hội hiện nay? Và bạn đang Bố Thí chứ bạn không hề Từ Thiện.

Hay bạn tưởng cứ có tiền thì tiêu kiểu gì cũng được? Và vênh lên nói tôi rằng hàng chục nghìn cuốn sách tờ báo tờ tạp chí ròng rã mang sang cho cô dâu Việt của tôi năm nay không bằng một cái tin nhắn 15 nghìn đồng Ủng hộ vì người nghèo cho VTV của bạn. Hoặc hàng trăm trợ giúp cô dâu lao động Việt của tôi năm ngoái không bằng bạn bố thí cho nhà nghèo thỉnh thoảng. Bởi những gì tôi có thể góp cho cuộc đời hoàn toàn không phải là tiền hoặc tính được bằng tiền (ví dụ như cái blog này). Ví dụ như tôi ngăn bao nhiêu nước mắt người khác đáng lẽ chảy. Và bạn vênh vang vì tiền của bạn đã giúp được đến người mù mắt, chứ không như tôi, dành tiền cho một ông sinh viên mắt đã không mù người lại còn mạnh khoẻ.

Vì sao tôi dùng từ Bố Thí?

Vì tiền của bạn khi Cho đã tạo nên một gánh nặng cho toàn xã hội, thậm chí tạo nên sự đau đớn. Cho cả những người nghèo, ăn xin, nạn nhân mà bạn tưởng bạn đã giúp họ. Những đồng tiền bạn bố thí cho người ăn mày, khi họ đến nhà bạn xin, khi họ xông ra giữa ngã tư, khi họ đứng rình ở cây xăng, khi họ nằm vật giữa đường vào lễ hội, khi họ lết đi giữa chợ… thực ra chỉ là tiền Bố Thí bạn mua lấy sự hảo tâm AQ cho mình, mua lấy sự rảnh nợ, mua lấy sự an toàn tránh khỏi bị phiền nhiễu cho mình. Tiền bạn góp với những phong trào rầm rộ quyên góp liệu có đến đúng tay người nghèo, hay đã bị ăn chặn từ Thành Đoàn, ăn bớt tiếp tại các chính quyền địa phương nghèo và thậm chí còn bị những ông trưởng phó tổ dân phố ăn cắp. Tiền đó chỉ tạo cớ thêm cho xã hội ta những vệt đen tối.

Không giúp xã hội có thêm những người tưởng cứ có tiền là tiêu kiểu gì cũng được. Như bạn đó, bạn đang lớn tiếng chửi bới tôi không yêu nước trên blog tôi ạ!

Nguyên bài

Tôi không yêu nước!

Bài liên hệ

Những cái nhập nhằng không tênThe Unspoken Ambiguities

ngụ ngôn về người ở cuối nguồn

Tưởng Năng Tiến – Buộc cẳng chim trời

In Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2010/10/22 at 19:55

BBT: Trong tinh thần ủng hộ Ngày blogger Việt Nam và phản kháng lại những đàn áp thô bạo của công an csvn với giới blogger tự do chúng tôi trích dẫn lại bài Buộc cẳng chim trời của Tưởng Năng Tiến.

 

… Nhà Nước Việt Nam còn phải bận tâm về nhiều “đám” khác (xem chừng) cấp thiết hơn nhiều: xây dựng lại đội ngũ trí thức, chấn chỉnh lại đội ngũ báo chí, củng cố lại đội ngũ công nhân… Và quan trọng hơn hết là tìm cách quản lý cái đám blogger, một giới người vừa mới xuất hiện – hết sức đột ngột và lộn xộn – ở xứ sở này.

Blog có thể được mô tả như là một hình thức “dân báo”, và blogger là một nhà báo tự do – theo như quan niệm của bà Tạ Phong Tần, một trong những blogger đang được công luận chú ý, ở Việt Nam:

“Đã qua rồi cái thời người dân chỉ được biết những gì nhà cầm quyền muốn cho họ biết, và không được biết những gì nhà cầm quyền muốn bưng bít, giấu nhẹm bằng cách quản lý chặt chẽ toàn bộ hệ thống báo chí trong nước…”

“Khi bạn đưa thông tin lên blog của bạn, tức bạn đã đem sự hiểu biết của bạn truyền tải cho người khác để mọi người cùng được biết, qua đó, mọi người cùng bàn luận, cùng kiểm tra xem, dùng quyền công dân của mình đòi hỏi công chức Nhà nước phải thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà luật pháp quy định.”

“Có thể sự hiểu biết của bạn chỉ là một phần nhỏ nào đó trong đời sống xã hội, nhưng nhiều người góp lại sẽ tạo nên một bức tranh hiện thực xã hội hoàn chỉnh. Khi tự mình làm một nhà báo công dân, chính bạn đã góp phần công khai, minh bạch hóa xã hội, cùng chung sức xây dựng một xã hội dân sự cho đất nước chúng ta.”

Quan niệm tích cực vừa nêu, tiếc thay, đã không được chia sẻ bởi những kẻ đang nắm quyền lực ở Việt Nam. Vốn đa nghi, giới người này có khuynh hướng xem blog (nói riêng) và web (nói chung) chỉ là “âm mưu của những con nhện” – những kẻ đang âm mưu “diễn biến hoà bình” – cần phải được theo dõi và kiểm soát, nếu được.

Mà tui thì sợ còn lâu mới được. Tầu còn bó tay thì nói chi ta. Chuyện quản lý Internet ở nước láng giềng, được giáo sư giáo sư Cao Huy Thuần tóm gọn, như sau: “80 muơi triệu con chuột thì mèo đâu ra mà bắt cho hết.”

Nhà nước Trung Hoa vĩ đại đã từng thành công mỹ mãn trong việc huy động dân chúng tóm gọn vài tỉ con chim (sẻ) mà nay đang loay hoay không biết đối phó ra sao với mấy triệu con chuột (điện). Quyết tâm của họ, xem chừng, hơi thấp. Quyết tâm của ta, xem ra, cũng… không cao!

Công cụ truyền thông “gang thép” nhất của nuớc Việt Nam, Công an Nhân dân Online (Cơ quan Ngôn luận của Bộ Công an), đọc được hôm 5 tháng 10 năm 2007, đã mô tả blog như là một thứ “hệ lụy” và “quản lý blog” là… “Chuyện buộc cẳng chim trời”. Thiệt, nghe mà muốn ứa nước mắt:

“Theo ước tính từ Bộ Thông tin và Truyền thông, có khoảng 3 triệu blog tại Việt Nam. Và mỗi ngày có hàng chục ngàn blog mới được khai sinh và việc một người sử dụng nhiều blog với những mục đích khác nhau là hoàn toàn có thể. Đã có những phát sinh và hệ lụy từ blog…

Khi khổng khi không, nhà đương cuộc Hà Nội mất (độc) quyền thông tin (mà họ đã từng nắm chặt được) từ hơn nửa thế kỷ nay. Bằng nỗ lực tuyệt vọng – để… hòng “cứu vãn tình thế” – Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký ban hành Nghị định liên quan đến việc quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet ở Việt Nam, theo như tường thuật của phóng viên Thiện Giao (nghe được qua RFA) hôm 5 tháng 9 năm 2008 vừa qua.

Ta không có tới tám mươi triệu con chuột như Tầu nhưng tính rẻ cũng (đâu chừng)… bốn triệu! Mèo đâu ra mà bắt cho kịp chớ?

Công an mạng và cảnh sát mạng lại không thể đào tạo dễ dàng như mấy ông bạn đồng nghiệp, bên ngành giao thông. Loại sau, khỏi cần huấn luyện, cứ quăng ra đường là tụi nó xông xáo đi ghi giấy phạt để… kiếm thêm chút cháo. Chớ còn rình bắt chuột (điện) thì đòi hỏi cần phải có nghiệp vụ cao mà lại chả được ăn cái… giải (rút) gì, ngoài số tiền lương… chết đói.

Buộc cẳng chim trời hay buộc chỉ chân voi đều là những chưyện (rất) khó thành công.

– Ủa, không thành công thì thành nhân chớ có mất mát gì đâu mà sợ?

– Sợ chớ, theo luật tiến hoá thì đi tới mới có hy vọng thành nhân. Còn cố kìm giữ cả một dân tộc trong tăm tối, dốt nát và nghèo đói… là đi giật lùi. Bước lui thì chỉ có thể thành dã nhân mà thôi!

Tưởng Năng Tiến

6/2009

 

Nguyên bài

Buộc cẳng chim trời

Bài liên hệ

Điếu Cày giữa buổi giao thời



Nghẽn đường và nghẽn mạch – Tưởng Năng Tiến

In Liên Kết, talawas, Tạp văn, Việt Nam on 2010/09/08 at 16:25

BBT: Trong suốt mấy tuần qua “tin tặc” đã tiếp tục tấn công các mạng và blog báo chí tự do, độc lập trên toàn cầu từ talawas, Tiền Vệ, Dân Luận, X-cafe, Đàn Chim Việt (danchimviet.com), Thông Luận, Trắng Đen, Free Lê Công Định, TTX Vàng Anh, Đối Thoại, blog Anhbasg, Lê Diễn Đức. Chúng tôi hoan nghênh bài viết “Nghẽn đường và nghẽn mạch” của Tưởng Năng Tiến và gởi lời chào đoàn kết đến các nhà báo tự do.

___________

Trong thời chiến, mọi chiến thuật đã được nhà đương cuộc Hà Nội tận dụng để đạt được chiến thắng. Cứu cánh có thể biện minh cho phương tiện, cho dù là… hạ tiện!

Đợt tổng công kích vào những trang mạng vừa qua, xem ra, không đạt được những thành tích vẻ vang gì cho lắm. Gài mìn, phá sập cầu, làm nghẽn đường… có thể làm xáo trộn sinh hoạt xã hội, gây thiệt hại về kinh tế, và khiến cho dân chúng sống trong vùng địch tạm chiếm phải sống trong tình trạng hoang mang hay lo sợ. Còn cài mã độc, chiếm tên miền, hay gây ra cảnh nghẽn mạch… thì không thể tạo ra sự bất ổn hay thiệt hại gì đáng kể, và cũng không gây hoang mang hay lo sợ gì hết trơn hết trọi – cho bất cứ ai!

Đánh lén hay khủng bố, nghĩ cho cùng, là chiến thuật và vũ khí của kẻ yếu, ở thế hạ phong. Khi quyết định tuyên chiến, đối đầu, và gây hấn với cả một dân tộc – bất kể thành phần xã hội, tín ngưỡng, hay nguồn gốc sắc tộc… – nhà đương cuộc Hà Nội đã lựa (hay lọt) vào cái thế hạ phong, do chính họ tạo ra.

Đọc nguyên bài Nghẽn đường và nghẽn mạch trên talawas.