vietsoul21

Archive for the ‘Văn Chương’ Category

Văn tế biểu tình

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Việt Nam, Văn Chương on 2011/07/21 at 15:59

Hỡi ôi!

Hải đảo- Biển Đông; lòng dân trời tỏ.

Mười năm công đèn sách, chưa chắc còn danh nổi tợ phao; một trận chống Tàu, tuy là mất tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa:

Nhà báo nhà văn; giáo sư tiến sĩ.

Chưa quen tụ tập, đâu biết biểu tình; chỉ nghiên cứu sinh, ở trong trường bộ.

Cầm bút nghiên, cầm đèn sách, tay vốn quen làm; tập phản đối, tập đấu tranh, mắt chưa từng ngó.

Tiếng hải tặc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa; mùi bốn tốt vấy vá đã ba năm, ghét nhu nhược như nhà nông ghét cỏ.

Bữa thấy ngư dân bị chấn lột, muốn tới ăn gan; ngày xem tàu Hải giám chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

Biển Đông chủ quyền sáng rõ, há để ai bịa đặt lưỡi bò; hai quần đảo lớn của ta, đâu dung lũ cướp ngày chiếm chỗ.

Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen này xin ra sức biểu tình; chẳng thèm đắp tai cài trốc, chuyến này quyết giương cao cờ, biểu ngữ.

Khá thương thay:

Vốn chẳng phải thanh niên trai trẻ, theo dòng phản đối đấu tranh; chẳng qua là tiến sĩ, giáo sư, mến nghĩa xuống đường đi bộ.

Mấy chục ông nhân sĩ, nào đợi tập rèn; vài trăm chú sinh viên, không chờ bày bố.

Ngoài cật có một manh cờ đỏ, nào đợi mang học vị học hàm; trong tay cầm biểu ngữ, băng rôn, chi nài sắm huân chương, giải thưởng.

Biểu ngữ viết bằng than đen mực đỏ, vạch mặt chỉ tên bọn hải tặc kia; băng rôn dùng bằng tấm vải thô, phản đối lũ bá quyền nọ.

Chi nhọc quan quản gióng trống kì, trống giục, cùng nhau lướt tới, cảnh sát cũng như không; nào sợ lính cơ động đám nhỏ, đám to, dấn bước xông lên, liều mình như chẳng có.

Kẻ hô vang, người hét ngược, làm cho Khương Du, Chiêu Húc hồn kinh; bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ em Phương Nga líu lưỡi.

Ôi !

Những lăm Nhà nước đồng thanh; đâu biết biểu tình vội bỏ.

Một chắc chủ quyền rằng chữ quyết, nào hay bốn tốt bọc chữ vàng; trăm năm xã tắc ấy chữ thiêng, đâu ngờ chẳng thiêng bằng chế độ.

Đoái đường Điện Biên Phủ cỏ cây mấy dặm sầu giăng; nhìn chốn Bờ Hồ, già trẻ hai hàng lụy nhỏ.

Chẳng phải án cướp, án gian đày tới, mà công an vây bắt cho cam tâm; vốn không ai xúi giục đấu tranh, bị đánh đập rủa nguyền cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng:

Tấc đất biên cương ơn Tiên tổ, tài bồi cho nước nhà ta; Hải đảo- Biển Đông Tổ quốc, mắc mớ chi ông cha nó.

Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương; vì ai xui đồn lũy tan tành, xiêu mưa ngã gió.

Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương xô bàn độc, thấy lại thêm buồn; sống làm chi ở chốn quan trường, chia dự án, gặm biên cương, nghe càng thêm hổ.

Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh; hơn còn mà chịu chữ đầu Tàu, ở với lưu manh rất khổ.

Ôi thôi thôi !

Phạm Duy Hiển đau chân dân dìu cõng, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm; Nguyễn Quang A bền bỉ giấu hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ.

Đau đớn bấy, Hồng Kiên lên xe bus, bọn nít ranh gọi ông lão bằng thằng; não nùng thay, Xuân Diện chạy tìm đoàn, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Ôi !

Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ.

Binh tướng nó hãy đóng ở đảo Hoàng Sa, ai làm nên bốn phía mây đen; ông cha ta còn ở Bản Giốc, Biển Đông, ai cứu đặng một phường con đỏ.

Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen; thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia; sống vì dân, thác cũng vì dân, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

Nước mắt biểu tình lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân; cây hương nhân sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.

Hỡi ôi thương thay !

Có linh xin hưởng.

(Nhại theo Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu)

Nguồn: Nguyễn Quang Lập – Quechoa.info

Võ Thị Hảo – Cho ta cúi đầu tôn vinh những bàn chân

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Việt Nam, Văn Chương on 2011/07/19 at 08:00

Đng bào mình

Tới bữa nghẹn ngào

Đêm đêm khó ngủ

Trên rừng trông biên giới bị xâm lấn mà đau

Dưới biển nhìn ngư dân bị hành hung mà uất

Đã thế,

Trong nước, lũ cướp ngày hoành hành bốn phương trời mười phương đất

Đàn sâu tham nhũng nhung nhúc thế gian

Bọn côn đồ giết hiếp được bảo kê thỏa sức xuống tay

Đâm chém người lành hãm hại người ngay

Băng đảng ngập tràn hành hung phố trên xóm dưới.

Than ôi!

Công nhân viên chức ngắc ngoải đồng lương khốn đói

Nông dân mất đất, thủy điện phá rừng

Lạm phát, thất nghiệp, tai nạn giao thông đã làm dân đớn đau

Lãi suất ngân hàng được thể thít dây thắt cổ

Thế cho nên

Doanh nghiệp tư nhân, sản xuất kinh doanh chết như ngả ra.

Người ốm không tiền chữa bệnh hấp hối xó nhà

Đồng bào nhiều người tuyệt vọng chẳng biết bám víu vào đâu

Thắt cổ, nhảy cầu, xác trôi sông hồ lềnh bềnh tìm phương trốn nợ.

Thê thảm quá

Mê tín dị đoan tha hồ tác hại

Lũ giả dối điếm đàng được phen thống soái.

Báo chí bị bịt miệng lặng câm kiếm sống đưa tin lá cải

Giả điếc giả mù trước vận nước nguy nan

Bởi vậy

Đất mẹ đau đứt ruột

Giữa tanh tưởi trầm luân

Hơi thở bán nước phun độc đâu đó sau khung cửa

Kẻ cưỡng đoạt nấp trong những lô cốt máy lạnh

Thọc dao vào lưng những đứa con yêu nước

Nhưng Mẹ ơi hãy nhìn

Đường phố

Rầm rập bước chân những người đi người đi!

Cho ta cúi chào bước chân gầy

Những nhân sĩ trí thức trung liệt tìm phương cứu nước

Những mặt trẻ rạng ngời quấn quốc kỳ vào ngực!

Đồng bàoĐồng bào!  Đồng bào!

Con mẹ Việt

Dẫu lưu lạc trên thế gian

Vẫn nắm tay nhau giữa những nguy nan

Hát vang bài ca yêu nước

Những mắt tràn nước mắt

Những trái tim không sợ chết vì quyền tự do và tổ quốc

Kìa thấy không

Đường phố

Có nơi đâu như nơi này

Đất Mẹ tủi hổ

Quặn ruột

Ôi! Có đau không?

Các con ưu tú của Mẹ

Những đứa con không chịu dối trá không chịu cúi đầu

Mẹ Việt rỏ máu khóc thương con

Những trí thức,  lương dân

Chỉ bởi dám chân thành yêu nước

Bị đấm, đạp,

Bị vây bắt, bị săn đuổi, bị lôi xềnh xệch như súc vật!

Có nghe không?

Mẹ Việt nói,

Hỡi những bàn tay cầm súng cầm dùi cui

Hãy dừng bàn tay độc ác

Đừng thọc dao vào lưng tổ quốc

Trái tim trong ngực các con xưa từng biết khóc

Nhớ chăng máu đỏ da vàng

Chung bào thai mẹ Việt?

2011

Người đi người đi người đi

Cho một ngày Quyền làm Người trở về xác tín,

Ta tôn vinh những đứa con mẹ Việt

Bước chân gầy đường phố

Mắt tràn nước mắt

Những trái tim không sợ chết cho tự do và tổ quốc

Nguồn: Võ Thị Hảo (danlambao)

Tạ Duy Anh – Nén nhang muộn cho Nguyễn Khải

In Liên Kết, Việt Nam, Văn Chương on 2011/07/15 at 11:54

Nhang Khói (Boxitvn.net)

Cho đến khi Nguyễn Khải từ giã cõi đời, tôi chỉ nhìn thấy ông một lần và gặp ông một lần nhưng chưa bao giờ quen ông. Lần nhìn thấy ông là khi tôi còn ở Trường Viết văn Nguyễn Du. Tôi nhớ trong đám quan khách đến dự cuộc hội thảo gì đó do nhà trường tổ chức, có một người từ đầu đến cuối hầu như không muốn nói, đến dự vì nể nang, bất đắc dĩ, không tiện từ chối. Ở chỗ nào ông cũng như muốn lẩn mình vào trong đám đông nhưng thỉnh thoảng cứ phải gượng gạo cười, gật đầu đáp lại lời chào, gượng gạo chìa tay với ai đó. Đến bữa trưa, mọi người tự phục vụ. Nhà văn Nguyễn Trí Huân bất ngờ vỗ vào vai tôi và chỉ về phía người mà tôi vừa kể, đang kẹp chiếc cặp trên nách nên phải nghiêng người xuống hứng cốc bia hơi cũng do ông tự vặn vòi, bảo: “Chú nên ra chào bác Nguyễn Khải một câu và lấy cho bác ấy cốc bia”. Đáp lại Nguyễn Trí Huân, tôi chỉ đứng im nhìn để tự nhủ lòng mình rằng, vậy ra đó chính là Nguyễn Khải. Tôi bỗng muốn bật cười, mặc dù nếu làm thế thì là bất nhã. Nhưng đúng là tôi không kìm được và không sao hiểu nổi phản ứng đó của mình. Tại sao tôi lại buồn cười khi nhìn thấy ông nhà văn nổi tiếng suốt mấy chục năm – từ khi tôi chưa đẻ, mà không lon ton chạy ra đỡ cốc xin được lấy bia rồi bưng cho ông ta bằng vẻ xuýt xoa cầu thân, bằng bộ mặt rạng rỡ hạnh phúc vì được làm quen với bậc trưởng lão trong làng văn, như đa số người cầm bút thế hệ tôi lúc bấy giờ sẽ làm thế? Đó chả là một vinh hạnh lớn lắm ư? Biết đâu ông ấy hạ cố ban cho lời khen rơi khen vãi, bằng độ bao diêm thôi trên báo Văn nghệ, là có thể thành danh như khối trường hợp đã xảy ra? Chính mắt tôi từng chứng kiến một ông nhà thơ, bất chấp mưa bão khiến toàn thân ướt như chuột lột, khom người móc từ trong bụng ra tập thơ bọc mấy lần ni lông run run dâng lên một nhà phê bình ngồi như con Linh Miêu trong bức tranh “Đám cưới chuột”, giọng nịnh bợ thảm hại: “Biếu anh và xin anh cho vài nhời”. Nhà phê bình kia so với Nguyễn Khải, chỉ là gã tiểu tốt vô danh, mà còn được trọng vọng đến vậy huống hồ Nguyễn Khải? Vài nhời của bậc “trưởng lão” đôi khi đủ là vốn liếng bằng vàng với người mới vào nghề để anh ta có cơ hội được ai đó nhắc tới ngay cả khi sau đó anh ta chết ngóm. Trong nghề viết lách, chưa có tí danh, dù là danh bèo danh bọt thì còn hận lắm. Lại có ông nhà thơ khác bỏ ra cả chục triệu đồng, móc của vợ, của bạn bè và của Nhà nước để thuê  người  mông má, quyết “hữu danh” bằng được. Đằng này chả mất gì cả, nếu có khom người tí chút, thì chỉ riêng chênh lệch về tuổi tác cũng không sợ bị ai đó xét nét. Mà cơ hội để được tiếp cận với các “đại bút” đâu phải lúc nào cũng sẵn! Vậy mà tôi nhớ lại lúc đó, sau khi nghe nhà văn Nguyễn Trí Huân nói vậy và sau khi biết đó là Nguyễn Khải, tôi đã nghĩ như thế này: “Việc quái gì mình phải làm quen với một kẻ cả đời xu nịnh, cả đời uốn lưng, uốn ngòi bút để đổi lấy chút danh vọng hão huyền và sự yên thân trong khi ông ta biết thừa điều đó là hèn mạt”. Tôi đã nghĩ như vậy, mọi người có thể cho tôi là ngạo mạn, thậm chí xấc láo nữa. Tôi không chối cãi. Nhưng thái độ đó của tôi là phản ứng giận dữ đối với một người tôi phải học ra rả suốt cả thời trẻ những điều ông ta viết, đã làm tổn thương niềm tin của tôi. Tôi càng không chấp nhận một người như ông mà luôn đem cái nhát, cái sợ của mình ra thanh minh cho việc phải viết những trang văn tô hồng hiện thực, minh họa chính sách một cách sống sượng. Khi ông tin vào điều mình viết thì thôi có thể bỏ qua. Nhưng khi ông cặm cụi nặn ra những lời ca ngợi cái thứ chính ông cũng ớn đến mang tai, thì không thể chấp nhận được. Rất nhiều lần ông nói xa xôi là ông phải viết vì sinh nhai, có ý thanh minh cho mình như vậy. Ai có thể tin và thông cảm, riêng tôi thì không tin lý do đó và cũng không chấp nhận lời thanh minh. Nếu không thích thì có ai bắt ông phải viết đâu. Không in được tác phẩm thì với lương bổng của ông đâu đã đến mức chết đói như nhiều nhà văn không may khác. Đã thế, bằng việc làm, ông lại chứng tỏ ngược lại, tức là ông cho mọi người thấy ông viết như chắt ra từ tim óc. Đó là khi tôi đọc được ở đâu đó bài bút ký ông kể rằng, chuyến đi Hưng Yên lần ấy, thắng lợi lớn nhất là ông tìm lại được cuốn truyện vừa có tên là Chủ tịch huyện trong một thư viện xã, cuốn truyện in cách nay đã mấy chục năm. Giá kể tôi chưa phải đọc cuốn truyện đó. Giá mà suốt thời học sinh tôi không phải ra rả học Hãy đi xa hơn nữa (ngay từ cái tên đã đầy tính xu thời chính trị) thì tôi quá lắm là thở dài theo nỗi buồn của người viết về thời thế. Nhưng trời ạ, đáng lẽ ông phải xé tan cái cuốn sách ấy đi mới phải chứ, coi nó như đứa con bị cưỡng hiếp mà có nên dị dạng cả về thân xác lần tinh thần, ông phải cảm thấy xấu hổ vì mình đã từng viết như vậy chứ. Ừ thì thời thế đôi khi cũng khó cưỡng. Nhưng ông thừa biết cuốn sách đó vô giá trị toàn diện, nói dối toàn diện chỉ để kiếm cơm và chứng tỏ lập trường thôi. Nó là bản minh họa khá thô thiển một chính sách hoang tưởng và bất nhân làm nông thôn bị bần cùng hóa. Nó tô son trát phấn cho những bộ mặt lem luốc, những nhân cách lem luốc, những cuộc đời lem luốc. Nó biến đen thành trắng, đánh lộn sòng giữa cái muôn đời và cái chốc lát… Ông thừa biết rằng, chỉ có thể chiêu tuyết những oan ức của người nông dân bằng cách treo cổ những điều sằng bậy do mình viết, những điều mà vì thế họ không ngóc đầu dậy được. Vậy mà ông lại vẫn lấy làm sung sướng, hãnh diện khi tìm lại được nó, cái thứ của tội nợ đó. Phản ứng thái quá của tôi còn do cả việc ông thay đổi quan điểm – một điều không thể hiểu nổi đối với một nhà văn như ông – trong một số sự kiện liên quan đến văn học, mà lý do chỉ vì ông là Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn. Không biết với một người như ông thì cái chức Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn quan trọng ở chỗ nào. Có thể với ai đó, thậm chí là đa số trường hợp, cần cái chức vụ bèo bọt đó để tiến thân và hữu danh, kiếm bổng lộc, chứ ông đâu có cần. Ông không cần phải là Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn mới được biết đến. Tạng như ông cũng chả kiếm chác được gì ở cái chức đó. Đành rằng tôi từng thấy cái chức đó ghê gớm với ngay cả một nhà văn đinh ninh rằng mình là cây đa, cây đề. Trước đại hội lần thứ V Hội Nhà văn ViệtNam, ông ta muốn được tiếp tục làm Ủy viên Ban chấp hành Hội thêm khóa nữa và vì thế ông viết một bài thống thiết kêu gọi Đảng ở đâu hãy nắm ngay lấy chúng tôi, đừng để các thế lực khác họ nhanh tay hơn. Ông muốn chứng tỏ, nếu có ông trong Ban chấp hành Hội Nhà văn thì Đảng cứ việc kê cao đầu mà ngủ kỹ, không phải bận tâm đến cái lũ văn nghệ sỹ nữa. Hạ mình đến thế cơ mà. Tự biến mình thành một thứ công cụ rẻ mạt, một kẻ gác cổng, hẳn cái mà ông ta muốn được bù trì phải hấp dẫn lắm. Sự thật thì khối kẻ, từ một hòn đất, chỉ cần là Ủy viên Ban chấp hành, lập tức thành bức tượng, có thể lăng xăng đi lại ở những hội nghị lớn, về các địa phương với tư cách người của Trung ương, lên tiếng dạy bảo người này người khác, là nơi cầu cạnh, xin xỏ của biết bao người thập thò muốn vào Hội, muốn được giải này giải nọ để làm vốn kiếm ăn với địa phương, tức là có thể ban cho người này người kia những thứ làm đổi đời họ… và dù thế nào, dù có là cục đất, thì Ủy viên Ban chấp hành cũng mặc nhiên thành người nổi tiếng trong giới, ít nhất cũng vài ba năm. Tôi cam đoan Nguyễn Khải biết điều đó, nhưng tuyệt không phải vì những thứ đó mà ông cứ phải là Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn. Vậy thì ông hành động không như ông nghĩ vì cái gì? Tôi thật sự không thể hiểu nổi và không chấp nhận.

Bây giờ tôi xin kể về lần thứ hai gặp ông. Đó là vào khoảng năm 2003, ông ra Hà Nội và ghé vào nhà xuất bản chơi với Nguyễn Khắc Trường. Khi đó cả ông và tôi đều đang là nạn nhân của một vụ cấm đoán miệng, khiến Thượng đế thì cười đắp chăn gần một năm và chỉ được phát hành sau khi nhà xuất bản xé đi đoạn ông kể về quá trình ông làm “nghị gật”, còn Đi tìm nhân vật trót phát hành rồi thì không được tái bản, không được bất cứ báo nào có lời giới thiệu, bất kể là khen hay chê… và tất cả đều do truyền đạt miệng, không chính thức! Chính nhờ đọc Thượng đế thì cười mà tôi đã bớt cay nghiệt hơn khi nghĩ về ông. Nói thật ra, nếu cuốn sách không bị cấm thì nó cũng sẽ bị quên lãng ngay. Bởi người đọc nó là những người hiếu kỳ, muốn thoả mãn nỗi ấm ức bị bưng bít thông tin hơn là nhu cầu thưởng thức nghệ thuật. Nhưng cái được lớn nhất là lần đầu tiên ông dám sòng phẳng với chính mình. Ông đã dám nói ra một số sự thật liên quan đến việc viết lách, đến những trang văn nhem nhuốc viết theo đơn đặt hàng, đến cái danh hão mình đang mang. Phải ở một tầm nào đó mới có đủ khả năng tự giễu cợt mình, giễu luôn cả cái thứ gọi là văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa chết đồng loạt trên toàn hệ thống; ông đã dám công khai xin lỗi nhà văn Vũ Bão – một việc tưởng đơn giản nhưng không phải ai cũng làm được như ông đã làm. Tuy vậy cái không được là ông vẫn ra sức thanh minh cho mình. Vì ông có tài nên cái sự thanh minh nhiều khi cũng rất tinh vi. Một cuốn hồi ký, tự truyện mà nhân vật xưng tôi chỉ tìm cách thanh minh thì chứng tỏ tầm cỡ của người viết chưa thật lớn, chưa thật sự bị thúc bách bởi lương tri mà ngồi xuống bàn viết, chẳng qua sám hối chỉ là miễn cưỡng hoặc làm phép. Mà điều đó thì tôi cũng không chấp nhận. Vì thế, khi ông sang phòng văn học trong nước, tôi vẫn cắm cúi làm việc mà không ngẩng lên. Không biết vô tình hay cố ý, ông ngồi đúng vào chiếc ghế đối diện với bàn làm việc của tôi. Trước đó tôi biết ông khen tôi trên tờ báo nào đó. Nhưng điều đó không thể khiến tôi động lòng. Vì thế tôi chỉ miễn cưỡng gật đầu chào ông như chào bất cứ ai bước vào phòng. Tuy vậy trong câu chuyện với một chị bạn đồng nghiệp, nhân chuyện gì đó, ông lại nhắc đến tên tôi. Tôi còn ghi dấu nụ cười của ông cùng với cái nhìn nhanh về phía tôi. Đó là một nụ cười đầy thiện tâm, nụ cười của người đã ngộ ra nhiều thứ, muốn dàn hoà với cả thế giới, nụ cười cầu mong sự tha thứ của người đời và mình cũng muốn tha thứ hết cho những gì người đời gây đau khổ cho mình. Tôi còn kịp quan sát đến thế đủ hiểu tôi đã đối diện với ông không chỉ trong chốc lát. Tôi biết rằng, chỉ cần tôi cất lời: “Cháu chào chú Nguyễn Khải” là ông sẽ quay hẳn sang nói chuyện với tôi. Nhưng vì tôi đã cố chấp, vì tôi còn thiếu từng trải, thiếu tài năng, tức là còn nhỏ bé… nên đáng lẽ làm vậy thì tôi lại lấy cớ có việc gì đó để đi ra ngoài. Ông là người nhạy cảm nên hiểu rõ hành động ấy của tôi là gì. Nhưng ông vẫn thản nhiên ngồi lại, như một người già không chấp thằng trẻ ranh trái tính thành ra hỗn. Tôi chả có việc gì cả nên đứng đọc báo ở bàn tiếp khách ngoài hành lang cho đến khi biết Nguyễn Khải đã ra khỏi phòng mới trở vào. Khi nghe Nguyễn Khải qua đời, quả thật có lúc tôi tự lấy làm tiếc cho mình đã thực sự bỏ lỡ một dịp quan trọng. Có thể không quan trọng với tôi nhưng quan trọng cho đời văn của tôi. Nhưng ý nghĩ đó cùng với sự hối tiếc chỉ thực sự khiến tôi day dứt khi đọc những dòng ông viết vào giây phút cuối đời. Mặc dù không định thanh minh cho Nguyễn Khải – vì tôi không có tư cách gì để làm điều đó và ông cũng không khiến – nhưng đã có ít nhất một đêm tôi mất ngủ, lòng tự trách mình cay nghiệt và để thương tiếc ông, cũng là thương cho kiếp trí thức ở cái đất nước này. Với đám trí thức nói chung thì vừa thương, vừa giận, vừa khinh. Thương vì suốt cả một lịch sử thăm thẳm kẻ sỹ luôn lép vế, khiêm nhường đứng ở một góc khuất, chờ được đem tâm và tài ra thi thố, nhưng đa số muốn mở mặt mở mày đều phải cúi rạp xuống đến mức thành kẻ vô lại. Có công thì bị kẻ kém cỏi hơn mình tranh mất, nhưng sự không thành thì tội giáng lên đầu mình đầu tiên. Ở một đất nước mà lũ chân yếu tay mềm, đầu chỉ có chữ từng là đối tượng đầu tiên phải tiêu diệt, thì biết nhiều đồng nghĩa với tai họa nhiều. Vì thế cứ mũ ni che tai, tự nhận mình dốt là cách an thân tốt nhất. Bởi vì có mấy người, mấy thời gặp được minh quân để dốc lòng phụng sự quốc gia đâu? Phần lớn là u vương, tự đồng nhất mình với đất nước, coi thiên hạ là giường chiếu để mình hành lạc. Gặp phải kẻ như vậy thì thay vì nói thật, phải uốn lưỡi nói những điều dối trá để giữ mạng sống và vinh thân phì gia. Thương vì nhiều tai họa giáng xuống đầu họ đôi khi chỉ vì họ hiểu biết hơn người, cả nghĩ hơn người, thương nòi giống và yêu tổ quốc hơn người. Họ luôn là đối tượng của nghi kỵ, đố kỵ, gièm pha. Kinh sợ nhất là bọn đố kỵ. Bất cứ ai có chút ít kiến thức về lịch sử cũng dễ dàng nhận ra bi kịch truyền kiếp của thân phận trí thức Việt luôn gắn với đám xu phụ quyền lực, bọn thầy dùi chính trị mà phần lớn số đó đều bất tài, vô hạnh, đểu cáng không có giới hạn. Không có gì đáng sợ hơn bọn này. Đáng sợ vì họ lại được (và thường được) giới cầm quyền trọng dụng. Nó, một mặt phải tìm cách tiêu diệt kẻ có tài do bản năng tồn tại, do đố kỵ, mặt khác, nó thèm khát được chứng tỏ mình, thèm khát được thấy một sự khiếp sợ nào đó từ người khác. Nhưng tự bản thân nó thì không thể làm những việc đó được. Vì vậy nó buộc phải dựa vào quyền lực. Muốn thế nó phải muối mặt nói những lời nịnh hót thường rất vừa tai kẻ cầm quyền. Một điều lạ là không phải kẻ có quyền lực nào cũng dốt đến mức không biết kẻ khác đang tâng bốc mình. Nhưng đáng lẽ phải cảm thấy xấu hổ – như bất cứ người có văn hóa nào – thì đa số họ, những kẻ sở hữu quyền lực, lại luôn vừa lòng về điều đó. Những kẻ xu thời dù chắc chắn là bất tài, thì họ cũng còn một sự tinh tường ấy là nhận ra rằng, loại người mà đám quyền lực tăm tối ghét nhất là bọn trí thức có chính kiến riêng. Xét đến cùng thì chỉ một người có học vấn, có chính kiến riêng, mới được coi là trí thức. Một dân tộc mà thiếu vắng những nhà phản biện, là một dân tộc vô phúc. Một chính thể luôn tuyệt đối hóa mình, đồng nghĩa mình với lẽ phải để từ đó coi mọi ý kiến không giống mình là sai trái, là một chính thể không có tương lai. (Chính thể Xô-viết và các chính thể Đông Âu trước năm 1990 là ví dụ hiển nhiên. Thực ra ở những chính thể ấy không thiếu những nhà phản biện lớn, như trường hợp nước Nga. Nhưng năm 1922 Lenin đã ký lệnh trục xuất hơn 200 trí thức hàng đầu của nước Nga (chứ không giết). Những trí thức này nói như Doxtoiepxki là hàng ngàn năm nước Nga tồn tại chỉ để có nhiệm vụ sinh ra họ. Lệnh trục xuất này thực chất là lệnh khai tử nhà nước Liên Bang gần 70 năm sau). Nó chỉ quan tâm đến cái trước mắt, tức là rất vô trách nhiệm với dân tộc. Và thế là, thay vì cần trí thức, cần những nhà phản biện với vai trò làm thức tỉnh chính nó, nó chỉ cần những kẻ học thuộc lòng. Mà chỉ học thuộc lòng, cho dù là thuộc những điều cao xa nhất, được coi là kinh điển và không phải ai cũng làm được, thì cũng vẫn chả hơn gì là một thứ nô bộc. Bởi vì kẻ học thuộc lòng, răm rắp làm theo, dù nhân danh bất cứ điều gì, kể cả tình yêu tổ quốc, cũng là kẻ trục lợi vì bản thân trước hết. Nó giống hệt với kẻ ngậm miệng ăn tiền về bản chất. Nhưng bất hạnh hay là nực cười thay, những kẻ như vậy, những kẻ học thuộc ăn tiền, nói theo ăn tiền… lại luôn là những kẻ có quyền định đoạt số phận không chỉ cho giới trí thức, mà đôi khi là số phận của cả một dân tộc. Bằng chứng cho điều này là thứ dễ tìm nhất, cả trong lịch sử nước nhà lẫn lịch sử thế giới. Còn nếu cần đơn cử một vài nạn nhân của cái thủ đoạn quen thuộc từ ngàn năm nay mà những kẻ xu thời áp dụng để hãm hại những trí thức hàng đầu là vu cáo chính trị, thì cũng không mất quá một phút để liệt kê ra, nào là Lê Văn Thịnh, Trần Trung Tá, Chu Văn An, rồi Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Trãi… cho đến sau này là Cao Bá Quát và gần đây hơn chính là nhóm Nhân Văn Giai Phẩm. Tuy chỉ cần chưa đầy một phút để nhắc đến ngần ấy cái tên, nhưng điều đáng buồn lại cũng ở đó. Cái bảng danh sách những kẻ sỹ dám từ bỏ lợi lộc, dám nói thật, dám bất chấp nguy hiểm để được sống như một kẻ sỹ hóa ra cũng vô cùng ngắn ngủi.

Nguyễn Khải, một người được theo nghiệp đèn sách từ bé, không thể không biết thực tế đó. Bài học về Cải cách ruộng đất, về nhóm Nhân Văn Giai Phẩm… buộc ông phải nhớ lại lịch sử. Và vì thế, giống như số đông những người được coi là trí thức cùng thời ông ở đất nước này (chỉ tính riêng miền Bắc, vì trí thức miền Nam có một số phận riêng), ông đã tìm thấy lý do vô cùng chính đáng để vờ quên bản thân mình, đó là lý tưởng vì tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Lý tưởng đó không hề xấu và không hề ít tính chất thiêng liêng, nếu người tin theo nó thật lòng. Nó chỉ đáng trách với những kẻ vờ vịt. Mà những kẻ đó phần lớn lại rơi vào thành phần trí thức. Bi kịch mang màu sắc hài kịch của trí thức Việt (tất nhiên không tính bọn giả danh trí thức), từ cổ chí kim, chính là luôn phải vờ vịt. Vờ vịt, tức là biết rõ nó không phải vậy, nhưng lại cứ phải làm ra rằng mình hiểu nó như vậy. Vờ trung thành, vờ kính trọng, vờ cúc cung tận tụy, vờ khép mình, vờ lắng nghe, vờ chăm chỉ, vờ ngoan ngoãn, vờ ca ngợi, vờ thán phục, vờ yêu… và những thứ vờ vĩnh ấy có thể làm bất cứ lúc nào, bất cứ chỗ nào, làm bao nhiêu cũng không sao ngoại trừ chỉ có lợi. Riêng một thứ không hề vờ, ấy là sự khinh ghét, thì phải nén lại, giấu thật kỹ kẻo hé ra có kẻ biết là tàn đời (mà kẻ rình rập để tố cáo, tâng công thì nhiều như ruồi, ngay trong giới trí thức); phải luôn tìm cách nhồi nó xuống, nuốt thật sâu, quên đi được thì càng phúc. Còn sống là còn phải quên. Chờ đến ngày sắp lìa đời, nếu còn lòng tự trọng, còn thấy hổ thẹn thì viết nó ra để thanh minh và sám hối. Như những câu thơ sau đây của Chế Lan Viên, tất nhiên là chưa có trong tuyển tập chính thức nào:

Sau này anh đọc thơ tôi nên nhớ

Có phải tôi viết đâu? Một nửa

Cái cần đưa vào thơ, tôi đã giết rồi

Giết một tiếng đau, giết một tiếng cười

Giết một kỷ niệm, giết một ước mơ

Tôi giết cái cánh sắp bay… trước khi tôi viết

Tôi giết bão táp ngoài khơi cho được yên ổn trên bờ

Và giết luôn Mặt trời lên trên biển

Giết mưa và giết cả cỏ mọc trong mưa luôn thể

Cho nên câu thơ tôi gầy còm như thế

Tôi viết bằng xương thôi, không có thịt của mình

Và thơ này rơi đến tay anh

Anh bảo đấy là tôi

Không phải!

Nhưng cũng chính là tôi – người có lỗi

Đã giết đi bao nhiêu cái

Có khi không có tội như mình.

Rồi như trường hợp Nguyễn Khải.

Và ngoài các ông ra, liệu còn ai nữa? Có thể là gần như tất cả đám văn nghệ sỹ, nếu họ cũng biết hổ thẹn như các ông ở những ngày tháng cuối đời. Nhiều người chưa kịp đọc Tôi đi tìm cái tôi đã mất, biết tôi đã đọc, nóng ruột muốn biết trước nó thế nào, tôi trả lời họ rằng: “Toàn bộ tác phẩm của Nguyễn Khải, nếu chưa đọc mà không có thời gian, thì chưa cần phải vội, nhưng riêng bài này thì nên đọc, phải đọc, đọc ngay”. Và tôi nói thêm: “Chỉ cần bài đó, thôi thì hơi muộn, Nguyễn Khải đã làm tròn sứ mệnh của một người cầm bút, một trí thức Việt”.

Đúng như dự đoán, người như ông sao lại không biết cái điều một nông dân hơi có học cũng biết. Nhưng vì ông là trí thức, lại là trí thức Việt nên đành phải sống hai mặt như vậy. Cái mặt đem đến cơ quan, ngồi trong hội nghị, trong các cuộc họp kín họp hở, những lần học nghị quyết, những lần đến nghe thỉnh giáo, thậm chí cả khi nằm bên người tình… là cái mặt nạ vô hồn, vô cảm một cách trơ lỳ, cái mặt dởm. Càng đắp sao cho nó không còn là mặt mình, tô vẽ cho nó nhoè nhoẹt, bóng mỡ… càng được tin cậy. Muốn sống yên thân thì cấm được để lộ ra cái mặt thật. Rồi phải bằng mọi cách, kể cả lừa thầy phản bạn cũng phải cố mà có lấy một tí danh. Đã mang thân phận trí thức Việt mà không có tí danh phận thì mọt đời không ngóc cổ lên được. Bởi nó biết nó quá yếm thế, quá nhỏ bé, quá thê thảm. Nó lại sống trong một cơ tầng xã hội mà chỉ cần đếm các mối dây nhằng nhịt vào nhau đã không đủ thời gian. Anh là ai, làm gì, sống thế nào thây mặc anh. Nhưng anh đừng bôi gio trát trấu vào mặt bố mẹ, dòng tộc, đừng làm vợ con phải khốn đốn. Mà anh là ai mới được chứ? Anh chỉ là một thứ vẹt, chủ ho thì ho theo, chủ khạc cũng phải cố mà khạc theo. Đời anh và nói chung đời người được bao lăm để anh cựa quậy? Anh cựa quậy để đem lại cho anh, cho vợ con anh được cái gì? Những câu hỏi như vậy ban đầu có thể là những lời van xin của người thân, nhưng dần dần nó là lời khuyên khôn ngoan mà một kẻ khoác áo trí thức quốc tịch Việt phải thuộc. Nó có bài học hẳn hoi. Hãy xem đấy. Khi nhóm Nhân Văn tưởng có thể làm mưa làm gió, họ là ai, hành xử thế nào? Như tôi thì tôi chỉ biết họ là những người hùng. Nhưng khi mỗi người trong số họ phải làm kiểm điểm, đối mặt với những án phạt khốc liệt, nghe nói họ cũng tìm cách đổ lỗi cho nhau để nhẹ tội cho mình. Nhưng cho dù thế thì ngần ấy năm vẫn đủ cho tôi kính trọng họ. Tôi chỉ chấm dứt thứ tình cảm quá xa xỉ ấy của mình khi mới đây tôi thấy các bậc trưởng lão của nhóm (chỉ tính những người còn sống) hớn hở nhận giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Chuyện đúng sai, lầm lỗi hay lầm lẫn của phía nào không còn là vấn đề, mà quan trọng hơn là cái mục đích thượng tôn nghệ thuật, thượng tôn công lý mà họ tin là rất cao cả (còn tôi thì tin vào họ), cuối cùng vỡ lẽ ra cũng chỉ vì một chút danh còm. Giả dụ những nhà lãnh đạo trước đây đủ cao tay, đủ thông minh để sớm ban cho họ cái giải thưởng ấy, thì mọi người trong đó có tôi đỡ đi bao nhiêu là giả định về một hiện tượng tưởng là bí ẩn nhất của lịch sử văn học nước nhà. Đã đỡ phải tốn bao nhiêu là tình cảm xa xỉ dành cho họ. Hóa ra Nguyễn Khải còn kịp nói được những điều mà đáng lẽ nhóm Nhân Văn phải thể hiện bằng hành động. Tôi chỉ vẫn không hiểu một điều: Tại sao lúc sống, biết rõ rằng đến giải thưởng Lenin, giải thưởng Stalin (từng được tuyên truyền là những giải thưởng lớn tầm thế giới?) còn chả ra gì, mà ông lại vẫn không thể từ chối nhận giải thưởng mà ông biết là bé hơn nhiều về tăm tiếng? Ông khiến tôi nhớ lại một đoạn hồi ký của Enxin, kể khi ông này ngồi phê chuẩn các quyết định do chính phủ Nga đệ trình. Ông phê duyệt gần như tức thời mọi thứ, kể cả những đệ trình liên quan đến vũ khí hạt nhân, đến sự an nguy của nước Nga trong chiến lược đối phó lại việc NATO mở rộng sang phía Đông. Ngay cả việc khôi phục lại danh dự dòng họ Romanov của các Sa Hoàng, một vấn đề đương nhiên là nhạy cảm đối với xã hội Nga hậu cộng sản vừa sợ, vừa coi khinh nhưng vẫn vừa luyến tiếc di sản quá khứ, mà ông đặt bút ký khá dễ dàng. Vậy mà ông đã mất mấy ngày trời cứ ngồi xuống, đứng lên trước quyết  định tặng thưởng giải thưởng Nhà nước Nga cho tác giả Quần đảo địa ngục [Quần đảo Goulag] mà không dám đặt bút ký, chỉ vì lo sợ ông nhà văn bị trục xuất oan uổng này sẽ không thèm nhận khiến có thể Tổng thống và sau đó là nước Nga bị bẽ mặt. Một sự lưỡng lự đi kèm lòng kính trọng. Mà là lòng kính trọng của Enxin! Cuối cùng, có lẽ phải đến ngày thứ ba Enxin mới ký khi tin rằng, bằng mọi cách, ông sẽ thuyết phục được Solzhenitsyn đồng ý nhận giải thưởng, không phải “vì danh dự của bản thân Solzhenitsyn, mà vì làm thế tức là thể tất cho nước Nga đã thật sự chân thành”. Sau khi ký xong, Tổng thống Liên bang Nga cảm thấy đó là dịp xứng đáng nhất để tự thưởng cho mình một ly vốt-ca vì chính ông vừa giải thoát cho lịch sử nước Nga bản án tồi tệ nhất! Lúc ấy tôi bỗng nghĩ, ví thử đặt vào vị trí Enxin là ông Chủ tịch nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, tên ông nhà văn Nga kia thay bằng cái bảng danh sách dài dằng dặc các nhà văn được đề nghị trao giải thưởng Nhà nước, giải thưởng Hồ Chí Minh, có lẽ vị Chủ tịch của Việt Nam chỉ do dự mỗi một điều, nếu phải bỏ bớt một số lại để phong tặng đợt sau (giả dụ chỉ là do vấn đề ngân sách thôi) thì biết bỏ ai ra bây giờ? Không thể bỏ ai cả. Họ sẽ lăn đùng ra ăn vạ. Ngay từ khi đề cử họ đã kiện tụng, bôi nhọ nhau ầm ỹ, sao cho tên mình được lọt vào danh sách cơ mà. Chỉ riêng chuyện đó thì ông Chủ tịch nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam sướng hơn ông Tổng thống Nga rất nhiều. Tất nhiên các nhà văn Việt Nam không thể so được với các nhà văn Nga, trí thức Việt càng không nên so sánh với trí thức bất cứ nước nào. Nhưng giá như Nguyễn Khải đủ bản lĩnh để từ chối cái giải thưởng mà chính ông ví nó như một tấm bia mộ sang trọng, hẳn ông đã mang xuống mồ (hay nói văn chương là về thế giới Vĩnh cửu, thế giới chỉ toàn Ánh sáng) một gương mặt khác! Ít nhất thì linh hồn ông cũng thanh thản hơn. Nhưng có lẽ là chỉ đáng tiếc cho mong ước của tôi thôi. Chưa kể ông không đủ tự tin rằng mình không cần bất cứ danh hiệu nào ngoài danh hiệu nhà văn để làm điều đó, thì vẫn còn lý do khác: ông vẫn cần bám vào một cái gì đó để sự vờ vịt trong ông sống nốt những năm tháng cuối cùng của nó. Nếu ngay cả điều đó ông cũng vượt qua được, thì vẫn còn cản trở cuối cùng, cửa ải cuối cùng mà cho đến nay chưa một nhà văn nào thế hệ ông thoát được là nỗi sợ bị chê là dại, từ chính những người thân. Bởi vì ông trước sau vẫn là trí thức Việt. Mà trí thức Việt thì chỉ thằng nào ngu mới không nhận – như tổng kết khôn ngoan của một nhà phê bình danh giá, đồng thời là lời biện hộ cho việc ngửa tay nhận tài trợ của ông ta. Vì thế trí thức Việt mà dám phủ nhận như ông rằng: “Tôi cũng được giải thưởng văn chương cao nhất cấp quốc gia, nhưng tôi biết chỉ mươi năm nữa, thời thế đổi thay chắc chả còn ai nhớ tới mình nữa. Tôi là nhà văn của một thời, thời hết thì văn phải chết, tuyển tập, toàn tập thành giấy lộn cho con cháu bán cân”, cho dù là lời nói trước khi chết, vẫn cứ là của hiếm cho đến nay. Phần lớn số họ, từ vờ vịt có chủ ý trở thành coi nó là thứ triết lý sống thức thời. Những trường hợp cả đời nặn óc tìm những câu nịnh nọt có cánh, nịnh một cách nghệ thuật nhiều không tính xuể. Sách của họ, hết cuốn này đến cuốn khác, toàn dày cộp luôn được Nhà nước in bằng thứ giấy tốt nhất, bày ở những nơi sang trọng nhất, được hệ thống tuyên truyền quảng cáo hùng mạnh PR hết cỡ. Điều kinh khủng nhất là những kẻ tạo ra nó cố vờ vịt đinh ninh cho đến lúc chết rằng họ sẽ bất tử cùng với cái mớ giấy lộn chỉ có giá trị đầu độc hiện tại và tương lai ấy. Trước thực tại ấy thì những hối lỗi muộn mằn của Nguyễn Khải thực sự là hành động phi thường và vì thế, sau bao nhiêu yêu thương và hờn giận cay đắng, ông vẫn xứng đáng nhận được một vị trí đẹp nhất, sang trọng nhất nơi ký ức độc giả, trong đó có tôi.

Hà Nội ngày 06-6-2008

(Sau khi đọc Đi tìm cái tôi đã mất, của Nguyễn Khải, rút trong tập Nghĩ mãi không ra, chưa xuất bản).

T.D.A.

Nguồn: Bauxite Việt Nam

PHÙNG GIA LỘC – Cái đêm hôm ấy… đêm gì?

In Văn Chương on 2011/05/21 at 08:29
BBT: Năm 1993 chúng tôi về Việt Nam và được một người bạn tặng quyển truyện “Cái đêm hôm ấy… đêm gì?” của Phùng Gia Lộc. Anh ấy kể rằng tác phẩm này tạo nhiều dư luận trong xã hội. Đói không phải là một điều lạ nhưng cách hành xử của cán bộ, kẻ cầm quyền trong chính sách thô bạo dã man mới là một cú choáng với mọi người. Bao nhiêu năm đã qua và dân Thanh Hóa vẫn đói … đói … và đói …

 

Cuối năm 1983, tôi được ở nhà chờ quyết định về nghỉ chế độ. Chiều chủ nhật, thằng Học con tôi rủ rỉ nói:

– Con bắt được bác Quang ăn bánh cuốn ở hàng anh Minh. Bác đi thồ sắn ở chợ Phúc Địa về. Bác cho mấy bó nhưng con không lấy. Bác dặn con về đừng nói với bố mẹ là đã gặp bác. Nói, hôm nào sang bác đánh chết.

– Hừ! Lại thế nữa…

Tôi buột miệng bảo với con thế, rồi thừ ra. Bạn bè anh em cùng một phòng với nhau mà đi qua không vào. Có điều gì nhỉ?

Sáng thứ hai tôi sang cơ quan ứng mấy cân gạo và định bụng sẽ gặp, trút sấm sét lên đầu anh ấy. Nghe tôi trách, Lê Trung Quang, trưởng phòng tổ chức Ủy ban huyện Thọ Xuân, cười hà hà làm lành thật đôn hậu, dễ yêu:

– Giá có một mình thì tôi vào. Đằng này những bốn binh, khao được, anh cũng liệt. Vả lại, bốn cái xe nặng è, sợ tối.

Là trưởng phòng tổ chức ủy ban huyện, anh cũng để gia đình vợ con đói thiếu. Ra anh còn kém cỏi hơn cả tôi, một kẻ chân chim trần trụi, một tay sắp trở thành “phó thường dân”. “Nhà mình cũng bí. Nộp sản đi rồi, lúa đã cạn. Khó mà ăn thấu tết được”. Quang lắc đầu bảo thế.

Anh gạn tôi:

– Ông ở đây với tôi đêm nay cho vui. Tôi buồn quá.

Tôi chỉ vào mấy cân gạo đã bó buộc sau xe, bảo anh Quang:

– Phải mang “hàng chiến lược” này về chứ.

Nếu nghe lời Lê Quang Trung nằm lại với anh một đêm, thì tôi đã không thể nào hình dung nổi ở Phú Yên xã tôi Cái đêm hôm ấy là đêm gì…

Có cái “các” quá giang của Lê Trung Quang cho mượn, tôi không phải mất ba đồng tiền đò. Qua sông Chu gió vù vù bên tai, tôi phải kéo vành mũ len, trùm thấp cho đỡ run. Tôi về đến nhà, trời đã sẩm tối, con mực xông ra í a í ẳng vờn chân lên hông. Vợ tôi bế thằng Văn ngủ khì trong lòng, ngồi bên bếp than vỏ cao su um khói. Bên cạnh, thằng cu Thức bốn tuổi đang liến láu. Còn Học – thằng con nhớn đang học bài ở nhà trên.

Thấy tôi về thằng Thức reo lên:

– A bố! Bố về là bố về! Có chi không bố?

– Có cái rét cóng đây này!

Tôi nói rồi dắt xe vào nhà, mở túi gạo, vác xuống bếp khoe:

– Ứng được năm cân gạo.

Bà cụ thân sinh ra tôi mệt đã lâu, thấy tôi về, cũng gượng chống gậy xuống bếp sưởi. Cụ bảo:

– Mẹ Học đi nấu cơm cho bố va ăn!

Tôi hỏi:

– Nhà ăn rồi hả mẹ?

Cái thằng Thức đến là hở miệng, cấm có giấu nó được tí gì. Nó nói:

– Chỉ nấu cơm cho bà với em thôi! Mẹ với anh Học, với con ăn cháo rau má rồi. Bữa nay mẹ luộc rõ nhiều rau cải.

Tôi thấy cay sè trong mắt.

– Thế thì nấu thêm vào. Hết thì tao đi bới đất, nhặt cỏ, van ông vái bà. Làm con người mà miếng cơm chín vào bụng vẫn không đủ thì sống thế nào?

Vợ tôi định cãi câu gì đó, nhưng lại thôi, vội trao thằng Văn cho bà rồi lại mở túi gạo đi vo. Bà cụ nói:

– Rau cải ế nhăn! Đói, chả mấy người mua. Hôm nay mẹ va không đong được gạo. May lấy được đấy, không thì mai gác con lên…

Ngoài cửa gió ào ào, tiếng chó sủa ổng oảng ở đầu ngõ. Có tiếng ai hỏi mua rau cải nhà tôi. Cô Hoa vợ chú Được. Hoa cũng người họ Phùng, gọi tôi bằng bác. Chồng cô ấy là đội trưởng đội sản xuất cũ, nay vừa được rút lên làm trưởng ban định mức, rồi phó chủ nhiệm. Cô vào bếp vừa nói, vừa run:

– Sao năm nay rét sớm thế này? Bác bán cho cháu mấy bó rau cải xào.

Vợ tôi bắc nồi cơm lên bếp, mấy bà cháu phải dồn chỗ cho hai người đàn bà tê cóng này ngồi cạnh bếp hơ tay, ngó chẳng khác những viên đạn bị nén trong cái băng lò xo tròn. Tuy gần bằng tuổi vợ tôi, nhưng là hàng cháu họ, nên Hoa vẫn bác bác, cháu cháu ngon ơ.

– Bác có ngan, gà gì để cho cháu vài cân. Giá mấy cũng được, cháu không quản.

– Còn có vài ba con, phải để hôm sau bà…

Tôi lừ mắt chặn lại câu nói hớ, khiến vợ tôi im bặt. Chả là vì mẹ đẻ ra tôi yếu lắm rồi. Cụ đã bảy mươi lăm tuổi, lại phù nề mặt mũi vàng ủng như quả thị rụng. Ai cũng bảo khó qua cái đầu mùa Đông này. Vì vậy gia đình tôi đã lo chuẩn bị ngầm, phòng sau khi cụ về cõi. Cái gì vợ tôi cũng bảo dành để hôm sau bà… thành quen miệng. Cau cũng phơi kỹ bỏ be để hôm sau, thậm chí bọt bẹt được đồng rau nào cũng dồn mua ván đóng sẵn áo quan để hôm sau… Ấy nhưng nói đến cái chết, cụ lại giận và làm nau: Bay trông tao chết à? Tao phải sống để nhìn con cháu được đến lúc sung sướng chứ. Khổ mãi rồi.

Tôi hỏi Hoa để lấp láp câu hớ rồi cho bà cụ khỏi giận:

– Mua đồ nhậu làm gì tối thế này?

– À… mua cho mấy thằng về đội ta thu sản, khuya các hắn đớp. Đội và quản trị thuê khoán cháu nấu.

Vì có chồng ở ban quản trị, cô ấy cũng là loại biết nhiều chuyện “bí mật nội bộ”. Hoa thì thò cho vợ tôi biết đêm nay là đêm “đồng khởi” thu sản, tổng vét cả xã. Họ sẽ đổi chéo, công an và dân quân đội này về đội kia, vét bằng hết. Vì đội 12 này là nặng gánh nhất, nên họ sẽ điều về đây những tay cứng cựa. Hoa khuyên:

– Bác có thiếu sản, thì liệu mà xoay đi

– Thế thì tao đét bán rau cho mi nữa.

Vợ tôi toan từ chối, nhưng Hoa nài mãi và có tôi nói vào nên chị chàng mới chịu nghe. Hoa cầm đèn ra vườn soi cho vợ tôi hái. Cô ấy cầm rau, rồi còn đi các nhà bên cạnh hỏi mua gà. Cơm cạn, tôi vần cạnh bếp. Vì không phải ghế độn khoai độn sắn gì nên chín rất mau. Thấy chỉ nấu mình cơm tôi, lòng tôi lại buồn nổi gai. Vợ tôi bế thằng út vào lót cho nó ngủ trong buồng, rồi lấy cho tôi cái bát, đôi đũa. Cuộc chào mời đùn đẩy, nhường nhịn nhau rõ bực.

Tôi lùa hai bát cơm với nước dưa chua, rồi bỏ đấy. Bà cụ nài, rồi tôi dỗ thằng Thức cũng lắc đầu không dám ăn chỗ cơm còn lại. Hắn sợ mẹ. Nhà này, mẹ chúng nó có quyền uy tối thượng. Biết vậy, nhưng tôi cũng sắp trở thành kẻ sống nhờ…

Ngồi ở bếp, tôi hỏi vợ:

– Nhà mình còn thiếu của hợp tác xã bao nhiêu thóc nữa em?

Cô ấy không trả lời tôi mà nói rất vô lễ:

– Có biết thế này, đái tòe tòe vào, chứ tội gì lôi về. Cha đời! Bữa trước thì tuyên bố vớt được nấy ăn nấy, người ta mới hụp lặn xuống nước lụt mà khở (gở) từng bông lúa. Nay lại giở trò giảm tỷ lệ!

Tôi vỗ về:

– Thôi! Lụt thì lụt cả làng, em ạ! Em nói xem, so với tổng sản phải nộp, nhà ta thiếu bao nhiêu?

– Một tạ mười hai cân, em đã trình bày với anh Nhà đội trưởng rồi. Thực tế mò được hạt nào đã ăn hết hạt nấy. Mấy lâu nay bán được đồng rau nào mua ăn, không bán được thì nhịn. Đã nói khất rồi. Không cho khất, thì nhà đấy có dỡ được, đến mà dỡ.

– Phải mềm mỏng, em ạ! Khéo bán khéo mua thua người khéo nói! Gia đình mình, con cái mình còn ăn đời ở kiếp nơi đây.

Vợ tôi rền rĩ như sắp khóc:

– Chả nhẽ kiếm liều thuốc chuột, cho vào nồi cháo, ăn hết cả nhà cho sướng cái đời…

Ngồi sưởi ở bếp rất lâu, vỏ cao su cháy tàn, đã vạc hai ba đống than, mà chẳng ai muốn nói với ai câu nào nữa. Bà cụ ngồi lâu, mỏi và chán chuyện bỏ đi nằm. Thằng Học làm toán xong, lấy cho bà nồi than, rồi cũng rúc xuống bếp. Hắn đi bốc rơm lót ổ ngay cạnh bếp, lấy ván chắn rồi trải chiếu, ôm chăn ra nằm.

– Ngủ đây mà ấm, bố ạ!

Trong giường thằng Út Văn khóc í óe. Hắn lại đái lạnh đít rồi. Mẹ nó vào quả không sai. Nó được ôm ra bếp sưởi, nằm gọn trong lòng mẹ. Gần một tuổi mà nó còn bắt nhá cơm bón và bú thì hơn con bê non. Lại nhai tòm tọp thế đó! Tôi đùa với con để nó cười sằng sặc cho dịu cơn lo buồn.

Gần mười hai giờ khuya, cả nhà đi nằm. Tôi ngủ với hai thằng oắt trong ổ rơm dưới bếp.

Có điều gì đó bồn chồn và nơm nớp…

Bỗng tiếng kẻng gõ giục giã liên hồi. Kẻng khắp xã: từ đội 1 đến đội 15, như một sự bùng nổ dây chuyền. Tiếng loa phóng thanh mở hết cỡ đọc bản tin, kế hoạch huy động lương thực của tỉnh và chỉ thị của tỉnh ủy về công tác lương thực.

Hoàng Văn Nhân, đội trưởng đội 12, đọc trên loa danh sách những nhà thiếu thóc chưa giao nộp cho hợp tác xã. Đèn đóm soi rừng rực ở các ngã đường. Chó sủa ơi là chó sủa. Cũng cái loa phóng thanh ấy, có tiếng ông chủ tịch xã gọi cán bộ về đội 12 hội ý.

Ông trưởng công an xã Nguyễn Đình Định gào rát cổ trên loa, giọng giật giội gọi lực lượng dân quân, công an tăng cường về chi viện cho đội 12, tạo đà cho đội hoàn thành chỉ tiêu huy động. Tôi rùng mình nghĩ đội tôi là đội trọng điểm, nên cán bộ xã, hợp tác xã, vón cục cả về đây. Họ sẽ gõ cho ra chục tấn thóc còn tồn sổ.

Gần một giờ sáng, công an, dân quân đã ập đến các nhà nợ thóc. Tiếng chó sủa vang, tiếng lợn kêu èng ẹch như bị chọc tiết ở các nhà gần quanh, làm thằng Út Văn khóc thét lên, ôm riết lấy mẹ. Thằng Thức cũng im thin thít, nằm co trong lòng tôi không dám cựa. Bên nhà ông Ái, láng giềng cách vườn nhà tôi một hàng rào, công an và dân quân đang lùng sục. Tiếng ông bà Ái kêu xin và tiếng quát lác, tôi nghe rõ mồn một.

– Cứ bắt lấy cái xe đạp! Phích, xô, bắt ráo!

Ở cổng nhà tôi đã có bước chân rình rịch, con chó mực đang có chửa bị quất, kêu ử ử.

Cạch cạch cạch.

– Chị cò Lộc, mở cửa ra!

Tiếng thằng bé trong buồng khóc thét. Thằng Thức đang ôm tôi, nghe em khóc cũng òa khóc toáng lên. Thằng Học mười hai tuổi đã học lớp tám rồi, mà cũng níu lưng tôi run bắn. Nghe tiếng quát lần thứ hai, từ nhà bếp, tôi chạy lên. Một luồng đèn pin soi giữa mặt làm tôi lóa mắt, phải lấy tay che.

– Có chuyện gì đấy, các bạn trẻ ơi?

– Thu thóc, thu thóc chứ còn gì, ông đừng hỏi vờ.

Vợ tôi đã mở toang cửa, tay ôm thằng bé ngất lịm. Một anh, hai anh… bốn anh bạn trẻ ùa vào nhà. Anh đi đầu cao to, tóc cắt tăng gô, mặc áo bông thùng thình, soi đèn pin rồi đánh diêm châm cái đèn hoa kỳ ở bàn thờ. Có lẽ Tâm “hộ pháp” là người này. Phải, tôi đã thấy anh ta đứng chân hộ vệ giữa, trong một cuộc đá bóng với xã khác. Tay anh cầm cái choòng sắt cỡ ngón tay cái. Vợ tôi mời họ ngồi ghế. Bà cụ đang ốm ở giường bên cũng cố ngóc dậy, run rẩy chào.

Theo danh sách đội báo, chị còn thiếu hơn tạ thóc. Yêu cầu chị đem nộp ngay!

Bà cụ tôi đáp thay con dâu:

– Các bác các anh ơi! Có còn cái gì mà nộp. Các anh và các bác không thấy đàn con hắn đói xanh đói trong đi à? Các bác không thấy tôi cũng phát phù phát nề, vàng cây úa lá đây à?

– Chúng tôi không hỏi mụ nghe chưa?

Cả bốn người cùng soi đèn pin khắp nhà trong, nhà ngoài, dưới bếp, bên chái. Hai người tuông soi cả trong vườn rau. Vợ tôi mếu máo:

– Làm gì có lúa để ngoài ấy. Các anh xéo nát cả rau.

Tôi chạy ra trụ sở đội, định tìm cán bộ trình bày. Chủ tịch Phê, bạn dạy học với tôi ngày trước, đi bộ đội về giải nghệ, vào cấp ủy, đang đứng đấy. Thấy thế tôi mừng quýnh. Lại thấy cả Phùng Gia Miện anh họ tôi, làm bí thư đảng ủy cũng có mặt, tôi càng yên trí. Nhưng thấy tôi họ quay đi lảng tránh.

Anh Miện bảo nhỏ tôi:

– Chú về động viên gia đình thanh toán bằng đủ, nhà mình là cán bộ. Không có thóc thì nộp bằng tiền. Lãnh đạo đã nhất trí cho nộp cả bằng tiền rồi đó.

Tôi đang định nói: “Đã không có thóc thì làm cóc gì có tiền”, nhưng anh họ tôi đã dịu giọng:

– Ở đội trên, hắn bắt cả anh Thiện, anh ruột tôi, mà tôi cũng phải điếc đi… “Mất mùa màng, lợi ích thứ ba của người lao động phải hy sinh cho lợi ích của nhà nước”. Đồng chí bí thư tỉnh ủy đã chỉ thị thế, chú biết rồi đó.

Lúc ấy ở trụ sở, công an, dân quân đã khuân về nào xe đạp, bàn ghế, tủ, chum vại, thùng tôn, lợn gà… để ngổn ngang ra tận ngõ. Tên chủ nhà thiếu thóc đề chữ bằng phấn trắng vào các đồ vật: Ông Ất, ông Do Khả, ông Hưng, ông Hồng, ông Khính (mẹ đẻ cô Hoa, mẹ vợ chú Được phó chủ nhiệm)… Mấy con bò bị bắt cột gần đó sợ đèn, sợ đám đông cứ lồng lên, chực bút mũi. Chúng xoay vòng quanh, mgửa lên mặt kêu “hấp bồ”, “hấp bồ”…

Tôi loạng choạng đi về nhà, thấy người ta đang còn soi đèn tìm rất kỹ. Tôi nói:

– Các người anh em soi tìm gì cho mất công. Nhà tôi xin khất đến mai, tìm cái bán chác, nộp tiền bằng đủ.

Anh đầu tốp nháy nháy mắt ra hiệu.

– Đêm nay là đêm nay! Mai chúng tôi mất thưởng ai chịu cho?

– Bắt cái xe đạp ni, bay!

Hai ba anh chạy lại. Tôi từ tốn ngăn họ:

– Các đàn anh ơi! Tôi không làm ruộng sản mà. Đây là xe đạp nhà nước cấp cho tôi để tôi đi công tác. Các vị bắt cái này không được đâu.

– Nếu chúng tôi cứ bắt thì sao?

Tôi loáng nghĩ được một mẹo. Rút cái “thẻ hội viên Hội văn nghệ tỉnh” ra, tôi nói:

– Tôi phản đối! Tôi là “nhà báo”! Tôi sẽ kiện lên tận ông Đồng.

Nước cờ của tôi không ngờ lại có hiệu quả. Họ im lặng. Hẳn họ đã biết tên tôi dưới những bài đăng nào chăng.

Chợt vị “hộ pháp” nhìn chằm chằm vào cỗ quan tài để dưới gầm bàn thờ, rồi đi lại, vừa gõ vừa hỏi:

– Cái gì trong này, chị Lộc?

Im lặng…

– Cái gì trong này, chị nói mau?

Vợ tôi ấp úng. Tôi muốn tắc thở.

– Có cái gì đâu…

Mấy vị hăm hở lại, đạp lật nghiêng một cái. Nắp văn thiên bung ra, lúa chảy rào rào. Cả toán reo lên như một hiệp đào vàng trúng vỉa:

– A! Lúa! A lúa! Lúa! Anh em ơi. Ghê thật! Thế mà giả nghèo giả khổ.

Mẹ tôi chống gậy vái dài:

– Van các anh! Cắn rơm cắn cỏ tôi lạy các anh! Lúa của tôi. Đó là tạ lúa hai đứa con gái hắn mua góp lại cho, để hôm sau tôi chết, bà con thương mà chạy đến để ăn lưng cơm sốt.

Thực ra là của hai bà chị trong đó mỗi người có mười cân thôi. Ba mươi chín cân tiêu chuẩn hai tháng vừa qua tôi lấy về, còn lại là hơn bốn mươi cân, vợ tôi đong để dành “hôm sau” cho bà.

Bà cụ nói như rên rẩm:

– Đã bảo xay phứa đi cho con nó ăn không nghe. Cứ bóp mồm bóp miệng, để dành làm chi. Sống chả thấy đâu nữa là!

Một tay râu tóc lồm xồm hỏi:

– Chị có gánh đi hay không thì bảo?

Một tay khác tôi hơi quen mặt, đến trước vợ tôi lạy lia lịa:

– Thôi em xin bà chị. Em đi làm ở đây thế này, nhưng lại có bọn khác đến chỗ em làm ác y hệt. Nhà em cũng thiếu mà. Chị không gánh, để cánh này bê cả hòm ra, chị phải chịu hai chục công là ít, chưa nói phạt tiền.

Họ xúm vào khiêng bàn thờ ra, để lôi hòm lúa. Bất đồ hai thằng Học và Thức từ bếp tuôn lên, ôm lấy tay chân chư vị, van rối rít.

– Cháu van các chú! Các chú đừng lấy lúa này đi. Lâu nay các cháu phải nhịn để dành bữa sau cúng cỗ bà, làm ma bà!

– Buông ra đi! Ô hay, đồ con nít!

Bà cụ loạng choạng đi lại, giơ gậy cản:

– Các ông không thương trẻ, thì các ông thương lấy thân già, để lấy phúc đức cho con cháu.

Vì họ đá vấp gậy, lại yếu như con căng cắc lột, bà cụ ngã chỏng queo như chiếc ghế đổ.

– Ối Đảng ôi là Đảng ôi! Chính phủ ôi… Trông xuống mà coi…

Tôi xốc mẹ lên giường, bịt mồm cụ lại:

– Mẹ! Mẹ không được la như thế! Đây không phải Đảng! Đảng ta không làm thế. Đảng không chủ trương thế này!

Tôi nói vậy và ngoặp hai hàm răng vào cổ tay mình để kìm giữ cái gì cứ chực tung ra. Hai vợ chồng xúc hết lúa ra thúng bì. Dặn thằng Học trông em, ngó bà, tôi cùng vợ hì hục gánh thóc ra trụ sở nộp…

Đoạn cuối này tôi dành cho anh Quang.

Lê Trung Quang ơi! Anh có thể giấu cái bi kịch của gia đình anh, nhưng tôi không còn có thể che giấu nỗi đau của nhân dân bất hạnh. Dù sự tiết lộ này có làm mất cái chức huyện ủy viên của anh, thì tôi cũng thấy cứ phải nói ra.

Chuyện thật của nhà anh đây: lúa vay ăn còn nợ bảy tạ, con Lâm, thằng Sơn phải đi mò hến từng bữa, chị ấy nấu bánh đúc đi các làng đổi lúa. Anh mà nói ra, người ta cho là anh bêu riếu. Việc thật ở nhà tôi đêm 26 tháng 11 năm 1983, người ngoài cuộc hẳn cho là mình bịa. Cho đến nay, mỗi khi nghĩ đến, tôi cứ thảng thốt hỏi mình: “Cái đêm hôm ấy… đêm gì?”.

PHÙNG GIA LỘC – Cuối năm 1987

Theo Báo Văn Nghệ

Nguồn: Blog DCNQCVN

FRAMED

In Văn Chương on 2011/05/10 at 16:42

Framed,

no longer free.

You don’t have to think. I’m told.

 

You’re a consumer

Eat, Drink, Play and pursue of happiness. I’m told

 

The reality is here, on flat screen TV or in youtube

An American idol in one episode

You can have a makeover – thin, sexy, glitz

and have fame, in fifteen minutes. I’m told

 

Have a work ethics [drop other ethics], compete

Don’t be left behind [no child left behind], survivor as an alpha dog

Learn the “rules” [myriad hidden rules]! Climb the ladder [hit class ceiling]!

But, you’re too dumb to learn … I’m told

 

Savage inequalities[1], salvage unrealities[2]

Don’t be such a moralist

be practical, make money, support the war. I’m told

 

Have common sense [by consent] as a patriot

Wave the flag and support the war, a ‘terror’ [terrible] war. I’m told

 

Listen, look, on alert … open eyes, ears [and armory]

Terror, terror, terror plots in the homeland

Secure our borders, barbarians at the gate … I’m told

 

In a land blinded by flashing images:

flesh tones, bling-bling, dreamy looks

death, pain, sufferings buried under, barbarians outside the fence

a failure, uncivilized, unpatriotic. I’m told

 

Flogged, fenced, framed.

Strange fruit[3] hanging from the American dream.

 

Vi Nhân

8-8-2007


[1] Jonathan Kozol, 1992, Savage Inequalities: Children in America Schools, (Harper Perennial, 1992)

[3] A poem was originally written in 1939 by a poet by the name of Lewis Allan (real name Abel Meeropol). A frightening metaphor of how the African Americans were lynched (hanging off trees like fruits) by the whites due to racism and discrimination.

Tất cả đều nằm ở chữ “Lòng” của Nguyễn Du – Phạm Công Thiện

In Việt Nam, Văn Chương on 2011/03/27 at 13:53

Tất cả Nguyễn Du đều bắt đầu và chấm dứt bằng một chữ “lòng”. Có thể đúc kết tất cả Thi Nghiệp và tất cả Tư Tưởng Triết Lý của Nguyễn Du vào trong một chữ duy nhất ấy. Chữ nôm “Lòng” bao trùm cả chữ hán việt “tâm”. Chữ “tâm” chỉ có được thực nghĩa dồi dào trọn vẹn trong chữ “lòng” của Nguyễn Du. Chính chữ “lòng” đã xuất hiện mấy ngàn năm trước trong tiếng nói quê hương và đã ngự trị điều động tất cả lộ trình của Tính Mệnh, Sinh Mệnh và Sử Mệnh Việt Nam.

Ngày nào nữa trong hiện nay và tương lai, ngày nào nữa sau bao cuộc bể dâu đoạn trường mà mỗi người trong chúng ta, dù sống đau đớn trong những hoàn cảnh mê man đứt ruột đi nữa, lúc nào mỗi người vẫn còn giữ được lòng mình, vẫn còn “có lòng”, có được “tấm lòng”, không hề đánh mất “lòng quê”, không hề quên “ơn lòng”, mỗi giây phút đều sống dậy “lòng son” và sống trào “lòng thơ” thì cái tấc lòng lai láng ấy vẫn còn tiềm lực phong phú vĩ đại nhất để hứng khởi phấn chấn sức mạnh vỡ bờ của tinh thần dân Việt, khả dĩ giúp cho chúng ta thấy được những gì đã được nhìn thấy, và trông thấy giữa những hỗn loạn, tao loạn, biến loạn và đại loạn của đất nước. Nguyễn Du đã trông thấy những điều khó lòng trông thấy được; chính lòng thơ lai láng của Nguyễn Du đã chảy trong veo dào dạt trong tư tưởng và cảm thức bồi hồi của thi nhân, và đã tuôn chảy lặng lẽ thâm sâu dằng dặc muôn đời vào tận đáy lòng trầm bình của Việt tộc.

(Nguyễn Du Đại Thi Hào Dân Tộc, Phạm Công Thiện, trích chương 23 – Tất cả đều nằm ở chữ “Lòng” của Nguyễn Du, trang 113-114)

Thơ Trang Y Hạ Gởi Trạch Gầm

In Liên Kết, Văn Chương on 2011/01/11 at 08:46

Mày biết không,

Tao tìm đường về quê nhìn không thấy ánh bình minh.

Tiền lính… tính liền! Làm sao có tiền mua đất.

Nhà-Ruộng-Vườn của ông bà, cha mẹ ư?

“Tập Đoàn – Tập Thể” nó lấy mất…!

“Kinh-Tế-Mới” là chốn nương thân.

Thời buổi đổi đời-khỉ nó xuống đồng bằng.

Ao cá tao nuôi là… hố bom: Muỗi-Mòng-Đỉa-Vắt…

Nhìn đêm trăng núi rừng vằng vặc,

Tao với mày từng nằm “Chiến trường xưa”

Cả Miền nam lũ và mưa…

Máu, nước mắt chảy theo hồn sông núi.

Cụt hai chân nhưng tao là thương binh của “Ngụy”!

Đâu phải là: Cùi, hủi.

Tao không ăn xin là để giữ thể diện lính Quốc gia.

Bắp tao trồng đã trổ hoa,

Trên chiến địa – tao với mày một thời chiến đấu.

Sự “Hoán đổi” chỉ có trời mới thấu.

Còn tao với máy tay trắng có còn chi mà dấu?

Tao không trách hay giận hờn gì mày đâu

Đêm nằm mơ nghe pháo kích nện trên đầu…

Mồ hôi vã-giật mình… ra vườn dạo:

Thương cho mày đi cải tạo ở rừng

Xót cho tao ở núi. Nghĩ mà đau!

Đất tao cày nhưng không phải của tao

Của “Toàn dân…”! Mày có biết?

Bị “Giải tỏa”! Tao lại vô rừng có cần chi đâu mà tiếc.

Như con tằm,cái kén,nghĩ tương lai.

Cuộc đời tao với mày dù có ngắn,

Nhưng đời con, cháu còn dài…

Mày không về, những lúc ngồi sau hè tao… nhớ:

Khí phách hiên ngang

Của ngưới lính Việt Nam Cộng Hòa muôn thuở;

Giữ mãi trong tim.

Tao với mày là những cánh chim

“Bị thương” trên chiến trường ngày ấy…

Buông súng trên đồi!

Vết thương dù còn sưng tấy,

Vẫn giữ nét oai phong.

Đời chiến binh – tao và mày không làm điều gì thẹn với lòng.

Với non sông Tổ quốc.

Tình đồng đội năm xưa rất thực:

Bi đông nước còn vài ngụm cũng xẻ chia.

Dưới giao thông hào khát khô, cay đắng.

Đạn thù trên đầu đang bắn…

Đời chiến binh mạng sống có nghĩa gì đâu.

Mày tha hương ôm nặng nỗi sầu;

Tao ở lại mang niềm đau thân tàn nhưng không phế!

Cảnh đời dâu bể…

Mong một ngày được thấy ánh bình minh.

Cảm ơn mày “Thiên thần” tao vẫn… xinh!

Hoa bắp nở… trắng trời xanh thẳm.

Tao biết mày thèm lắm…

Rượu đế tao nấu-cá chốt chưng tương,

Không có mày, tao uống một mình… đắng nghét;

Hàng cây so đũa trước nhà rớt mấy giọt sương!

Trang Y Hạ