vietsoul21

Archive for the ‘Việt Nam’ Category

Thái Hữu Tình – Nghìn tay Điếu Cày!

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Việt Nam, Văn Chương on 2011/07/23 at 14:31

Nghe tin anh mất tay
Lòng già đau như cắt
Trời có còn nước mắt
Cùng ta thương Điếu Cày?

Bàn tay vàng ghi hình Bản Giốc
Cánh tay vàng ôm dọc giang sơn
Lũ bán nước chặt bàn tay ấy
Giọt máu loang nuôi lớn căm hờn.

Cánh tay Anh rụng nơi đâu
Dân tộc hồi sinh từ nơi đó
Tổ quốc bị cụt dần lãnh thổ
Cũng “Xót xa như rụng bàn tay” (*)

Những cuộc biểu tình tới đây
Ngàn cánh tay
đấm lên trời khẳng định
Máu Hồng Lạc
không nuôi phường khuyển nịnh!
Nuôi những cánh tay
bất tử Điếu Cày!
Sống muôn đời
Như Đức Phật nghìn tay!

20-7-2011

Thái Hữu Tình

_____________________

(*) Thơ Hoàng Cầm (Bên kia sông Đuống)

Bút Gà (chấp bút) Đinh Thế Huynh gởi Nguyễn Đức Nhanh giám đốc Công an T/p Hà Nội

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2011/07/23 at 10:00
Nguyễn Đức Nhanh (Nguồn: Dân Làm Báo)

Nguyễn Đức Nhanh (Nguồn: Dân Làm Báo)

Tớ, Bút Gà, chấp bút cho (thủ) anh Đinh Thế Huynh của bộ hầu đồng (BCT) bình vôi đảng CSVN, chuyển lời khen thưởng của các anh mày đến các cậu đã kiên quyết giải quyết dứt điểm, xé lẻ đám cờ lau thanh thiếu niên và phong tỏa, cô lập được nhóm nhân sĩ, trí thức. Cậu đúng không hổ danh (mậu hẩu dành[1]) là anh Nhanh.

Các anh mày biết đám nhân sĩ, trí thức ấy đã viết thư cho cậu[2]. Các cậu cứ phang vào cho tụi nó nhận được tiền từ các “thế lực thù địch” để rảnh rỗi thời gian và thừa giấy bút, nặn hết kiến nghị này đến ra tuyên cáo nọ rồi thảo thư vặn hỏi. Lại còn bày trò đòi chứng nhận tới tay nữa chứ lỵ.

Cậu Nhanh đã đỡ đòn cho các anh mày thộp trọn bọn chúng. Vậy mà chưa nhanh chóng bắt quả tang chúng nhận tiền ở đâu. Sao mà chểnh mảng đến thế! Bọn cảnh sát Úc lơ tơ mơ ở tận đâu đâu ấy mà còn điều tra biết được chú Lương Ngọc Anh, Lê Đức Thúy nhà mình cầm nhẹ 12 triệu đô-la Úc trong vụ in tiền polymer[3]. Ngành công an ta mà lại chịu thua bọn tình báo tư bản à?

Các anh mày cũng khen cậu đã tận dụng được dân phòng địa phương, các tay đầu gấu cải trang, thanh niên xung phong, và an ninh chìm. Đây là một kế sách độc (hại): thanh thiếu niên trong lực lượng dân phòng lo đối trọng với giới trẻ xuống đường, các tay đầu gấu dùng bạo lực và nhục hình lên các tên nào cứng đầu, còn an ninh chìm luôn mò tìm bám sát lưng quần.

Các cậu đã chấp hành tốt biết chia cắt phân tán mỏng nhóm bọn chúng, nhất là không để những người bên lề tự động gia nhập vào. Càng cô lập chúng và tạo ra thêm nhiều người ngoài cuộc nữa thì chúng chỉ chống mắt xem chứ không thấy chịu phần trách nhiệm giúp đỡ kẻ bị ta bịt (đạp) miệng bằng dép bằng giầy.

Các cậu tách được đám cờ lau không để chúng quay quần dưới các cây đa, cây cổ thụ nên đành tan hàng giải tán. Hiệu quả cho công tác đối xử phân biệt để chia rẽ, cách biệt chúng thì tuyệt vời. Phước cho các anh và cả các cậu là những cây thông chẳng bám sát đám cờ lau để thành một khối bất phân ly. Ví như chúng vờ tự nguyện “bị bắt” đi theo giới trẻ thì đã sinh chuyện và chúng ta chả biết giải quyết thế nào!

Tớ cho các cậu biết. Các anh mày xưa nay tự hào là đã “trồng người” theo khuôn mẫu thuộc giống nhai lại. Làm sao chúng nó không mắc vào chước của ta. Chúng tưởng cách “gậy ông đập lưng ông” khi dụng lời Bác Hồ, xổ thơ kháng chiến ra để lên lớp giảng mô-ran hòng làm bọn tớ câm họng. Ối giời ôi tưởng trương cờ, khiêng hình tướng Giáp ra làm bửu bối, làm tấm khiên chống đỡ mà nên à. Đấy chỉ là bái vật treo trên cửa trước để mà mắt bọn chúng chứ có thiêng gì. Ta chẳng mảy may kiêng dè. Ta xé rách hình. Ta vò nát vất cờ. Hình Bác thì các anh mày đã “đăng ký thương hiệu” và “cầu chứng tại toà” thì độc quyền sử dụng thế nào cũng được. Cách (các) anh mày (ăn mày) dĩ vãng cái “quang vinh” đẫm máu đang thâu được khối lợi. Chúng càng tung hô thì chỉ riêng ta càng thêm trục lợi. Bái vật đương đại các anh mày tôn thờ là vàng, địa ốc, đô-la đấy nhé!

Này nhé, thưở Ga-li-lê-ô (Galileo) quan sát và khám phá là quả đất vận hành quanh mặt trời thì cả hệ thống quyền lực chóp bu và giáo hội khư khư quả quyết nó là trung tâm của vũ trụ. Tay này bị nhà cầm quyền với giáo hội kết tội là người dị giáo và bị quản thúc cho đến chết. Nhà thông thái Xô-cờ-rát (Socrates) trước đó cũng cùng chung số phận. Gã ấy lên tiếng phê phán những lời “sấm” độc đoán của hệ thống nắm giữ quyền lực đương thời nên mắc tội “đầu độc thanh thiếu niên”.

Vào thời kỳ (đồ đểu) này thì Đảng CSVN ta quyết đoán là trọng tâm của đất nước và toàn dân được (bị) gạt ra rìa tha hồ mỏi mệt vận hành “hết ngày dài lại đêm thâu” quanh cái đèn cù. Chỉ còn lại một số ít các nhà nhân sĩ, trí thức ngoài luồng chưa bị chúng ta chèo kéo, mua chuộc, vấy mực không xu phụ theo hệ thống quyền lực. Nếu chúng to gan dám lên tiếng thì ta cứ đổ cho là “phát tán luồng gió độc”[4] đến bọn thanh thiếu niên rồi thì “tuyên truyền chống chế độ”.

Các anh mày đã đem cái bình vôi chủ nghĩa cộng sản tự lập “phủ”  để trọn quyền sanh sát độc tài độc đoán. Hơn sáu mươi nhăm năm đảng ta đặt mình vào trung tâm quyền lực rồi gán gép điều 4 hiến pháp thì đếch thằng nào nào có thể chen chân.

Tuy thế các cậu vẫn phải luôn cảnh giác với đám trí thức tạch-tạch-sè. Không ít chúng nó rất khôn (lõi) trong cái trò vờ vịt, vờ vĩnh hèn, nhũn[5]. Thế cho nên ta cần nắm biết tâm lý đi guốc trong bụng chúng khi một tên vờ vịt đóng vai trò hèn thì chắc chắn cái (nuốt) nhục dễ trở thành bóng đen ám ảnh hắn và không chóng thì chầy nhận hắn chìm sâu trong hố thẳm tiềm thức. Chỉ có một cú sốc cuộc đời (như đối diện với cái chết chẳng hạn) thì hắn mới dám gỡ cái mặt nạ để sống đời khai phóng tự do. Cái chết lâm sàng rồi sẽ đến nhưng chẳng qua là cái chết muộn màng, vì tâm linh hắn đã chết từ mưởi mươi nào. Riêng phần các anh cũng đã ban phát cho chúng chút danh để chúng hãnh tiến một tí và chút phận để an toàn một tị. Phải làm cho bọn này luôn cảm thấy cái danh phận chênh vênh có thể bị mất đi bất cứ lúc nào nếu chúng lệch hướng, chệch đường (lề) ta vẽ.

Những cuộc biểu tình vừa qua là cái gai đối với các anh mày biết chửa. Chúng tớ khó có cớ ngăn cản người dân tỏ lộ lòng yêu nước xử dụng quyền công dân để biểu tình chống bá quyền Trung Quốc xâm lược biển Đông. Các cuộc biểu tình tiếp diễn hàng tuần thế này thì hơi bị khó cho anh mày đấy. Ai chẳng biết bản chất việc biểu tình mang nội hàm tính tự do, dân chủ và là một vấn đề “nhạy cảm” không thể bàn tới. Dân chủ buộc đòi hỏi tất yếu là đa nguyên, đa đảng nên đối nghịch với độc quyền (độc tài) và lợi ích của đảng ta. Các cậu biết là làm sao chúng tớ có thể lấy thúng úp voi mãi. Con voi tự do-dân chủ nằm vạ ngay trong phòng (elephant in the room[6]) thì sao mà tránh được.

Tóm gọn, tớ có lời khen các cậu đã thi hành tốt việc trấn áp dẹp bọn (phản) phản động biểu tình trong những tuần vừa qua. Các anh đang gật gù nhất trí (đắc chí). Sẽ cất nhắc cậu vào chung đèn đóm nên cứ thế nhé.


[1] Tiếng Quảng Đông. Hán Việt: bất hảo nhơn

[2] Thư gởi ông Nguyễn Đức Nhanh, blog Nguyễn Xuân Diện

[6] Wikipedia: “Con voi ở trong phòng” là một thành ngữ tiếng Anh ẩn dụ cho một sự thật hiển nhiên đang bị bỏ lờ qua hoặc không được nhắc đến. Thành ngữ này cũng áp dụng đối với một vấn đề hoặc một nguy cơ quá rõ ràng nhưng không ai muốn bàn luận hay đề cập.

Câu thành ngữ dựa trên ý tưởng rằng một con voi ở ngay giữa căn phòng thì không thể lờ như là không thấy; do đó mọi người trong phòng, những người tảng lờ như thể con voi không đứng ở đó là vì họ cố tình tránh đối phó trực diện với vấn đề lớn hệ trong lồ lộ trước mắt.


Chuỗi bài:


[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu – (8) Gió mưa là chuyện của trời … – (9) Vô liêm sỉ – man rợ – (10) Phế-anh-hùng – (11) Luật Lệ(nh) … (12) Nhà em có nuôi một con két … (13) Cái nhà là nhà của ta … (14) Mèo – thỏ]

Văn tế biểu tình

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Việt Nam, Văn Chương on 2011/07/21 at 15:59

Hỡi ôi!

Hải đảo- Biển Đông; lòng dân trời tỏ.

Mười năm công đèn sách, chưa chắc còn danh nổi tợ phao; một trận chống Tàu, tuy là mất tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa:

Nhà báo nhà văn; giáo sư tiến sĩ.

Chưa quen tụ tập, đâu biết biểu tình; chỉ nghiên cứu sinh, ở trong trường bộ.

Cầm bút nghiên, cầm đèn sách, tay vốn quen làm; tập phản đối, tập đấu tranh, mắt chưa từng ngó.

Tiếng hải tặc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa; mùi bốn tốt vấy vá đã ba năm, ghét nhu nhược như nhà nông ghét cỏ.

Bữa thấy ngư dân bị chấn lột, muốn tới ăn gan; ngày xem tàu Hải giám chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

Biển Đông chủ quyền sáng rõ, há để ai bịa đặt lưỡi bò; hai quần đảo lớn của ta, đâu dung lũ cướp ngày chiếm chỗ.

Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen này xin ra sức biểu tình; chẳng thèm đắp tai cài trốc, chuyến này quyết giương cao cờ, biểu ngữ.

Khá thương thay:

Vốn chẳng phải thanh niên trai trẻ, theo dòng phản đối đấu tranh; chẳng qua là tiến sĩ, giáo sư, mến nghĩa xuống đường đi bộ.

Mấy chục ông nhân sĩ, nào đợi tập rèn; vài trăm chú sinh viên, không chờ bày bố.

Ngoài cật có một manh cờ đỏ, nào đợi mang học vị học hàm; trong tay cầm biểu ngữ, băng rôn, chi nài sắm huân chương, giải thưởng.

Biểu ngữ viết bằng than đen mực đỏ, vạch mặt chỉ tên bọn hải tặc kia; băng rôn dùng bằng tấm vải thô, phản đối lũ bá quyền nọ.

Chi nhọc quan quản gióng trống kì, trống giục, cùng nhau lướt tới, cảnh sát cũng như không; nào sợ lính cơ động đám nhỏ, đám to, dấn bước xông lên, liều mình như chẳng có.

Kẻ hô vang, người hét ngược, làm cho Khương Du, Chiêu Húc hồn kinh; bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ em Phương Nga líu lưỡi.

Ôi !

Những lăm Nhà nước đồng thanh; đâu biết biểu tình vội bỏ.

Một chắc chủ quyền rằng chữ quyết, nào hay bốn tốt bọc chữ vàng; trăm năm xã tắc ấy chữ thiêng, đâu ngờ chẳng thiêng bằng chế độ.

Đoái đường Điện Biên Phủ cỏ cây mấy dặm sầu giăng; nhìn chốn Bờ Hồ, già trẻ hai hàng lụy nhỏ.

Chẳng phải án cướp, án gian đày tới, mà công an vây bắt cho cam tâm; vốn không ai xúi giục đấu tranh, bị đánh đập rủa nguyền cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng:

Tấc đất biên cương ơn Tiên tổ, tài bồi cho nước nhà ta; Hải đảo- Biển Đông Tổ quốc, mắc mớ chi ông cha nó.

Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương; vì ai xui đồn lũy tan tành, xiêu mưa ngã gió.

Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương xô bàn độc, thấy lại thêm buồn; sống làm chi ở chốn quan trường, chia dự án, gặm biên cương, nghe càng thêm hổ.

Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh; hơn còn mà chịu chữ đầu Tàu, ở với lưu manh rất khổ.

Ôi thôi thôi !

Phạm Duy Hiển đau chân dân dìu cõng, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm; Nguyễn Quang A bền bỉ giấu hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ.

Đau đớn bấy, Hồng Kiên lên xe bus, bọn nít ranh gọi ông lão bằng thằng; não nùng thay, Xuân Diện chạy tìm đoàn, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Ôi !

Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ.

Binh tướng nó hãy đóng ở đảo Hoàng Sa, ai làm nên bốn phía mây đen; ông cha ta còn ở Bản Giốc, Biển Đông, ai cứu đặng một phường con đỏ.

Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen; thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia; sống vì dân, thác cũng vì dân, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

Nước mắt biểu tình lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân; cây hương nhân sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.

Hỡi ôi thương thay !

Có linh xin hưởng.

(Nhại theo Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu)

Nguồn: Nguyễn Quang Lập – Quechoa.info

Võ Thị Hảo – Cho ta cúi đầu tôn vinh những bàn chân

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Việt Nam, Văn Chương on 2011/07/19 at 08:00

Đng bào mình

Tới bữa nghẹn ngào

Đêm đêm khó ngủ

Trên rừng trông biên giới bị xâm lấn mà đau

Dưới biển nhìn ngư dân bị hành hung mà uất

Đã thế,

Trong nước, lũ cướp ngày hoành hành bốn phương trời mười phương đất

Đàn sâu tham nhũng nhung nhúc thế gian

Bọn côn đồ giết hiếp được bảo kê thỏa sức xuống tay

Đâm chém người lành hãm hại người ngay

Băng đảng ngập tràn hành hung phố trên xóm dưới.

Than ôi!

Công nhân viên chức ngắc ngoải đồng lương khốn đói

Nông dân mất đất, thủy điện phá rừng

Lạm phát, thất nghiệp, tai nạn giao thông đã làm dân đớn đau

Lãi suất ngân hàng được thể thít dây thắt cổ

Thế cho nên

Doanh nghiệp tư nhân, sản xuất kinh doanh chết như ngả ra.

Người ốm không tiền chữa bệnh hấp hối xó nhà

Đồng bào nhiều người tuyệt vọng chẳng biết bám víu vào đâu

Thắt cổ, nhảy cầu, xác trôi sông hồ lềnh bềnh tìm phương trốn nợ.

Thê thảm quá

Mê tín dị đoan tha hồ tác hại

Lũ giả dối điếm đàng được phen thống soái.

Báo chí bị bịt miệng lặng câm kiếm sống đưa tin lá cải

Giả điếc giả mù trước vận nước nguy nan

Bởi vậy

Đất mẹ đau đứt ruột

Giữa tanh tưởi trầm luân

Hơi thở bán nước phun độc đâu đó sau khung cửa

Kẻ cưỡng đoạt nấp trong những lô cốt máy lạnh

Thọc dao vào lưng những đứa con yêu nước

Nhưng Mẹ ơi hãy nhìn

Đường phố

Rầm rập bước chân những người đi người đi!

Cho ta cúi chào bước chân gầy

Những nhân sĩ trí thức trung liệt tìm phương cứu nước

Những mặt trẻ rạng ngời quấn quốc kỳ vào ngực!

Đồng bàoĐồng bào!  Đồng bào!

Con mẹ Việt

Dẫu lưu lạc trên thế gian

Vẫn nắm tay nhau giữa những nguy nan

Hát vang bài ca yêu nước

Những mắt tràn nước mắt

Những trái tim không sợ chết vì quyền tự do và tổ quốc

Kìa thấy không

Đường phố

Có nơi đâu như nơi này

Đất Mẹ tủi hổ

Quặn ruột

Ôi! Có đau không?

Các con ưu tú của Mẹ

Những đứa con không chịu dối trá không chịu cúi đầu

Mẹ Việt rỏ máu khóc thương con

Những trí thức,  lương dân

Chỉ bởi dám chân thành yêu nước

Bị đấm, đạp,

Bị vây bắt, bị săn đuổi, bị lôi xềnh xệch như súc vật!

Có nghe không?

Mẹ Việt nói,

Hỡi những bàn tay cầm súng cầm dùi cui

Hãy dừng bàn tay độc ác

Đừng thọc dao vào lưng tổ quốc

Trái tim trong ngực các con xưa từng biết khóc

Nhớ chăng máu đỏ da vàng

Chung bào thai mẹ Việt?

2011

Người đi người đi người đi

Cho một ngày Quyền làm Người trở về xác tín,

Ta tôn vinh những đứa con mẹ Việt

Bước chân gầy đường phố

Mắt tràn nước mắt

Những trái tim không sợ chết cho tự do và tổ quốc

Nguồn: Võ Thị Hảo (danlambao)

Chuyện treo cờ và bầu cử ở Việt Nam

In Chính trị (Politics), Việt Nam on 2011/07/17 at 08:57

Trước mỗi dịp lễ, tổ trưởng dân phố thường đi từng nhà nhắc treo cờ

 

Ngày 30 tháng 4 năm 2011 vừa qua là một ngày “rất lạ” .”Lạ”vì từ trước đến nay mỗi lần sắp tới những ngày “lễ lớn” tại Việt Nam như ngày 30-4, ngày 2-9, ngày chiến thắng Điện Biên Phủ, ngày cách mạng tháng 8, hay những ngày không nằm trong “típ lễ lớn” như ngày sinh “chủ tịch HCM” hay ngày “Bác Hồ” về thăm làng cá, thì tất cả mọi nhà đều phải treo cờ “tổ quốc” 100%,nhưng ngày 30/4 vừa qua tỷ lệ hộ dân  treo cờ chỉ có khoảng 30%…Lý do của “sự cố” đó là ở quê tôi chính quyền thiếu sự “đôn đốc”,”nhắc nhở’?!

Theo thông lệ, chính quyền CS Việt Nam thường có chỉ thị cho người dân treo cờ “tổ quốc” để biểu thị sự “đoàn kết” sự “ủng hộ” và cả sự “hồ hởi” “phấn khởi” của người dân cả nước đón chào những ngày “lễ lớn” “của dân tộc”, sự tôn kính đối với lãnh tụ và sự tri ân với cách mạng “giải phóng” dân tộc, thôi thì có quá nhiều lý do để người dân Việt Nam phải ghi nhớ tri ân, ngưỡng mộ. Cách 2-3 ngày trước “lễ lớn” hoặc “lễ nhỏ” guồng máy chính quyền địa phương làm việc hết công suất để giữ gìn “an ninh trật tự”. Người ta thấy trên đường phố, khu dân cư hoặc tận cùng thôn bản xuất hiện những toán công an, dân phòng với dùi cui trong tay đi thị uy từ phố này sang phố khác, từ xóm này đến xóm kia để “phát hiện kịp thời những thế lực thù địch” hay biểu hiện của “Diễn biến Hòa bình”chống Đảng, chống chế độ,hoặc những  điệu tuyên truyền chống phá tình “hữu nghị như môi với răng “ giữa hai đảng ,hai dân tộc anh em Việt nam –Trung Hoa!

Trước ngày “lễ lớn” một hôm những đoàn xe cổ động với lực lượng hùng hậu nào công an, bộ đội, dân phòng với vẻ mặt trang trọng thậm chí “đằng đằng sát khí” như muốn ăn tươi nuốt sống người ta. Những người thuộc mấy cái hội đoàn “ăn theo”như Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên CS HCM, hội cựu chiến binh thì vênh váo kênh kiệu để chứng tỏ mình là một bộ phận của Đảng CSVN, của nhà nước CHXHCN Việt Nam quyền uy vô hạn, sinh sát vô bờ bến. Còn mấy ông trưởng thôn, công an thôn thì “đi sâu đi sát” vào “quần” chúng nhân dân, họ đi từng nhà “nhắc nhở”  với cái giọng của bọn thực dân phong kiến hay giọng của quan lại nhà Minh thời Minh thuộc.

– Ngày mai nhớ treo cờ tổ quốc nghe, ba ngày đấy.

Một giọng Tô Định khác “nhắc nhở” sâu sát hơn:

-Nếu cờ cũ thì thay cờ mới, treo cờ cao một chút ra ngoài một chút nghe.

Ở trong nhà “người chủ đất nước”vội vàng chạy ra vẻ khúm núm.

– Dạ em nhớ rồi, cờ em mới mua, em sẽ treo cao hơn, ra ngoài một chút, dạ ..dạ..

Trong xóm tôi có một thanh niên trẻ trạc tuổi Thục Vy. Anh ta là sĩ quan quân đội “nhân dân” phục viên. Tên anh ta là V , anh ta vừa mới lên làm xã đội trưởng vào cuối năm 2010, ngày 30-4 vừa rồi khi những gia đình trong xóm vì “dám” lơ là nghĩa vụ với Đảng và nhà nước không treo cờ 100% anh ta tuyên bố với các ông thôn trưởng –an ninh thôn và bí thư thôn (đảng ủy) là sẽ cắt danh hiệu thi đua “thôn văn hóa” vậy là mấy ông lãnh đạo thôn hùng hổ đi từng nhà để “nhắc nhở”.

Nhà cầm quyền hiện nay rất ‘khéo léo” trong việc cai trị dân –bình ổn xã hội và quản lý đất nước.Ngoài việc họ xử dụng quyền lực “cứng” như công an quân đội, dân phòng với súng đạn dùi cui, còng số 8 và những biện pháp chế tài họ còn dùng quyền lực “mền” để “thuyết phục”người dân, họ chi ra những khoảng tiền rất hậu hĩnh để để tài trợ cho những người dưới trướng phục vụ chế độ vui chơi thỏa mái. Những khoảng “tài trợ” đó từ vài triệu đến vài chục triệu hoặc vài trăm triệu tùy từng trường hợp và “đối tượng”.

Trong những ngày “lễ lớn” một số mặt hàng tăng vọt từ 20-30% như thịt heo, gà, vịt, bia và rượu ngon. Họ làm theo lời Bác là “quét sạch nó đi”.
Ai cũng biết tiền của dân đóng thuế, tiền bán tài nguyên và tiền bán đất được Đảng CSVN quản lý và phân phát, nó biến thành tiền của đảng và nhà nước, còn nhân dân là người được Đảng và nhà nước “chiếu cố” ban phát nên người dân phải nhớ ơn Bác Hồ, Đảng, nhà nước. Vì nếu không có Đảng và nhà nước thì họ đâu có được một ngày lễ hoành tráng như vậy, được ăn uống no say và được nhận một phong bì nho nhỏ!. Nên những thuộc hạ của Đảng rất phấn khở và “hồ hởi”.

Còn chuyện bầu cử ở Việt Nam là quyền được Hiến định, nhưng hành xử nó là thuộc về Đảng CS, vì Đảng lãnh đạo nên phải tuân thủ ý Đảng trước khi hành xử quyền của mình.

Ở những nước dân chủ lâu đời những cuộc vận động tranh cử được tổ chức bằng tiền túi của các ứng viên hoặc người ủng hộ nên nhiều khi rất rầm rộ và tốn kém(ví dụ như bầu cử tổng thống Mỹ) nhưng tỷ lệ cử tri đi bầu chỉ khoảng từ 50 đến 55% là thành công lắm rồi. Một quốc gia mà có được từ 50-55% công dân ý thức về quyền lực công dân của mình và biết xử dụng nó để kiến tạo một chính phủ theo ý chí  của mình là một điểm son rực rỡ. Nó còn là con số cực kỳ lớn và cực kỳ ý nghĩa. Ở Mỹ công dân được quyền tự do đi bầu hoặc không đi bầu mà không ai dám hạch hỏi chứ đừng nói đến chuyện đe dọa, khủng bố, trả thù.

50-55% cử tri đi bầu là một động lực vô cùng lớn. Đây chính là sức mạnh của nền dân chủ-pháp trị. Những đất nước như vậy làm sao không pháp triển được.

Còn ở Việt Nam và một số quốc gia độc tài như Ai Câp thời Mubarak chẳng hạn. Mối lần bầu cử thì tỷ lệ cử tri đi bầu là 90-100%.

Ở Ai Cập, Mubarak vừa mới tái đắt cử với tỷ lệ ủng hộ là 90% thì chỉ 2 tháng sau ông ta bị lật đổ bởi người dân Ai Cập và cái án tử hình dành cho ông khó mà thoát được vì tội đàn áp nhân dân và giết người.

Cuộc bầu cử Quốc hội CSVN vào ngày 22/5/2011 vừa qua tỷ lệ cử tri đi bầu là 95-100%,con số này nói lên điều gì? Phải chăng ý thức công dân ở Việt Nam cao hơn ở Mỹ và các quốc gia dân chủ-Pháp trị lâu đời?

Chắc chắn không có ai ngu ngốc để tin vào việc này. Người dân Việt Nam chạy ăn từng bữa, tương lai mờ mịt,bị chính quyền khinh miệt, họ trở nên vô tâm và ích kỷ vì đã sống trong một xã hội bất công,tham nhũng,độc tài chuyên chế, cái ác lên ngôi và lộng hành.

Xin kể một trường hợp trong hàng tỷ những trường hợp xảy ra và tồn tại ở Việt Nam: “trên một con đường hẹp, đông đúc những người qua kẻ lại, một cục đá to tướng rơi xuống từ một xe tải chở vật liệu xây dựng nằm ngay giữa đường. Một tuần sau nó vẫn nằm đó, ai đi qua cũng nhìn và tránh,không ai chịu bỏ một chút thời gian để chuyển cục đá đi nơi khác cho tiện việc đi lại và không gây nguy hiểm cho mọi người và chính bản thân, gia đình họ”. Vậy mà lần bầu cử nào cũng 99%  cử tri đi bầu là một chuyện lạ. Không ai chịu bỏ ra 5 phút để dẹp cục đá cho dễ đi và khỏi tai nạn, thì thử hỏi có ai bỏ ra mấy tiếng đồng hồ để những người trong gia đình xếp hàng chờ bỏ phiếu?.

Mọi người đều biết rằng nếu không bị áp lực, đe dọa, khủng bố và trù dập thì những cuộc bầu cử “Quốc hội” tại Việt Nam tỷ lệ cử tri đi bầu sẽ không hơn 10%. Những người nằm trong số 10% này là đảng viên CS và gia đình của họ. Cũng như nếu không bị “nhắc nhở” thì chẳng có ma nào treo cờ nhân những ngày “lễ lớn” cả, như chuyện vừa xảy ra ngày 30/4/2011 vừa qua.

Chúng ta ước ao một ngày nào đó người dân Việt Nam khi đi  ra nước ngoài (hoặc ở trong nước) đều được  “mở cờ trong bụng” (treo cờ trong bụng chứ không phải bị ép buộc treo cờ trước nhà), không phải tủi nhục, đắng cay như hiện nay và tỷ lệ cử tri  đi bầu trong các cuộc bầu cử là 50-55% (chứ không phải là 95-100%). Nghe có vẻ nghịch lý phải không? Nhưng nó thuận với lòng người và hợp với ý trời!

Huỳnh Ngọc Tuấn
Quangda1959@gmail.com

Nguồn: Đàn Chim Việt

Bút Gà (chấp bút Đinh Thế Huynh) gởi ông Lê Doãn Hợp bộ trưởng TT-TT (4T)

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2011/07/15 at 21:00

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hồ Xuân Sơn. (Ảnh: Internet)

Tớ, Bút Gà, chấp bút cho (thủ) anh Đinh Thế Huynh của bộ hầu đồng (BCT) bình vôi đảng CSVN, đang ngồi chầu thì bà thét to bảo phải dập tắt ngay tiếng chuông vang vang đang làm váng óc bà. Bà phán là đã có tiếng “chuông gọi hồn ai”. Các cậu biết tiếng chuông (tuyên cáo) đó ở đâu ra hay lại vờ vịt để các anh phải chỉ ra. Đây là giờ thứ hai mươi nhăm, giờ quyết liệt. Nuôi quân ba năm, dụng quân một giờ. Các anh đã nuôi dưỡng hơn 700 tờ báo, cả chục đài truyền hình các cậu bao năm nay thì giờ này các cậu phải thi hành “nhiệm vụ chính trị được giao” xuất quân báo (ơn) đảng.

Các anh đã gởi thủ nhang Hồ Xuân Sơn thứ trưởng Bộ Ngoại giao (gian) đến dâng hương khấn lời hữu hảo “thực hiện nghiêm túc thỏa thuận”. Trước đó thì bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh đã “hội đàm hữu hảo song phương” lặp lại lời 4 tốt “anh em tt, đi tác tt, bn bè tt, đng chí tt” v.v… thế mà đồng chí anh em môi (ta sơ) hở răng (anh) cạp (thêm cái lưỡi bò liếm tuốt luốt biển đảo) cũng chẳng tin tưởng. Đồng chí anh em nay lại vời các cậu về chầu thiên triều[1] nghe huấn thị đi theo lề báo Đảng CSTQ. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao TQ Hồng Lỗi ranh đe các cậu phải quản lý, đăng lại các bản tin TQ không được biên tập, sửa đổi đấy à.

Tuần trước tớ đã tất bật chấp bút sổ toẹt vài dòng cho các tay nhân sĩ, trí thức gởi kiến nghị[2] nhằm bịt miệng chúng. Thế đấy, chúng lại biết tỏng là các anh mày chỉ vất kiến nghị vào sọt rác chả bao giờ phúc đáp nên đã ra trò, giở quẻ. Các anh mày đang điên tiết lên vì chúng. Các anh đã biết chắc có ai đứng sau lưng, ai trả tiền cho chúng. Chúng to gan không thậm thụt cửa sau với bộ ngoại giao (gian) và quyết liệt từ chối giao tiếp theo cơ chế xin-cho.[3] Chúng đã thực thi tinh thần dân chủ và thực hiện quyền công dân có tự do ngôn luận để ra “Tuyên cáo đặc biệt”[4]. Đó là tiếng reo vang dũng cảm của các cây thông, cây tùng, cây cổ thụ và ngàn vạn cờ lau cũng sẽ đáp tiếng réo hò.

Bịt miệng chúng không xong mà kéo chúng vào đồng lõa, tòng phạm cũng chưa được thì chỉ có cách dùng tuyệt chiêu cuối cùng – chước người-ngoài-cuộc[5]. Các cậu phải cô lập những cây cổ thụ trong giới trí thức và nhân sĩ để ngàn vạn cờ lau thanh niên, sinh viên, trí thức trẻ không trỗi dậy thành rừng. Chúng ta không thể để bọn cờ lau dương ngọn cờ Đinh Bộ Lĩnh.

Lúc trước các cậu đã giao cho cái phèng la (Đông La) đồng thau dùng bút tà vẩy mực bôi đen các tay “phản động”. Bà đồng không quên phát lộc cho chúng. Giờ thì các cậu phải tiến cử các ngòi bút (tà) vạch lá tìm sâu để đánh đổ các cây đa, cây đề này. Đó là chiến thuật “kẻ sĩ/sỉ nhục kẻ sĩ”[6]. Nhắc cho các cậu nhớ là ta phải dùng các ngòi (bồi) bút khác chứ đừng dùng cái phèng la rỉ sét cũ nữa.

Thế nhưng việc tối quan trọng hơn cả việc cô lập các cây cổ thụ là các cậu phải vô hiệu hóa đám cờ lau này thành những người-ngoài-cuộc – những kẻ “thức thời” thời thượng chỉ nhướng mắt xem.

Các cậu biết rồi đấy, rất dễ thôi nhưng chớ khinh suất. Phải làm cho chúng thấy sự an toàn[7] cá nhân và gia đình là cơ bản còn tất cả thứ khác đều tuốt tuột. Phải dùng oản lộc để lôi cuốn chúng về làm thủ nhang, đồng đèn, thủ anh, lính chị cho bình vôi–bái vật–bà đồng[8].

Trên các phương tiện truyền thông, các trang mạng đưa tin những chuyện lộ hàng, gú gái kích thích cho gú-gồ hàng nóng. Các đài truyền hình phải mở ra nhiều trò chơi mua vui cá nhân cạnh tranh, kè cựa lẫn nhau kiểu “ái-đồn” (idol) “mó-đồn” (model), siêu sao điểm hẹn, ái ngã đề cao bản thân (narcissitic). Mở các chương trình đấu giá từ thiện  khuyến khích giới trung lưu tham gia phong trào làm công quả, làm từ thiện mua tín chỉ đạo đức cùng lúc tránh né vấn đề “nhạy cảm” về nước, về dân.

Một mặt các cậu tung tin rối loạn mọi thứ để tạo tâm trạng bất an, để tạo nỗi sợ hãi mơ hồ bao trùm trong cuộc sống.

Các cậu phải liên tục tăng cường đăng tải tin vật giá leo thang, cổ phiếu trồi sụt, vàng bạc kỷ lục, điện cúp, thiếu xăng, hố tử thần, tai nạn giao thông, nhà trẻ bạo hành, ly dị ly hôn, đốt nhà đốt trường, cướp đường cướp chợ.

Các cậu gài khung cho ngôn từ “trật tự”, “ổn định” với nhà nước chuyên chính độc tài và gài khung “khích động”, “hỗn loạn” cho các phong trào đấu tranh dân chủ tự do. Người dân với tâm trạng bất an thường xuyên về kinh tế, đời sống chỉ muốn “trật tự” và “ổn định” để làm ăn và như thế tự họ sẽ đứng bên lề với các “nhạy cảm” tự do dân chủ.

Các cậu phải biết đa số nhân dân rất chán ghét chế độ ta nhưng không biết phản kháng lại. Họ là số đông thầm lặng, những con dân chân lấm tay bùn, mặt cúi đất lưng đội trời, lo ngày hai bữa (thời bão giá nên 3 rút lại còn 2) đầu tắt mặt tối, chỉ thầm than thân trách phận. Họ oán, họ hận nhưng bao thời gian đã dành để kiếm cơm đổ vào cái bao tử, dạ dày thì còn hơi sức đâu để mà phản kháng. Họ bị gạt ra ngoài lề của xã hội và làm người-ngoài-cuộc của thời cuộc nhiễu nhương. Đấy là ý nguyện sâu xa của đảng ta từ ngày cướp chính quyền. Các chú mày quên rồi nhẩy.

Mặt khác các cậu đưa tin về thành công, thành đạt cá nhân, hào quang siêu sao, thần tượng để tạo một ước mơ, một đối tượng cho thanh thiếu niên  khát khao tìm kiếm với ý nghĩ rằng ta cũng có thể vươn lên. Món “kinh tế thị trường” bung ra cũng được khối việc. Chúng sẽ dồn hết tâm tư sức lực để vuơn lên với ảo tưởng mình cầm trong tay chiếc vé số độc đắc. Chúng không biết rằng những vé số độc đắc đó các anh mày đã phân phát cho thiếu chủ CCCC (con cháu các cụ) bộ sậu. Và muôn đời chúng sẽ là những người đứng bên lề.

Khi đa số chúng đã hành xử như người-ngoài-cuộc thì những cây cổ thụ kia chỉ đơn độc “làm cây thông đứng giữa trời mà reo” hò hét khản cổ, hết hơi cho đến thân tàn. Đó chẳng phải là độc chiêu chứ là gì!

Này, bà phán là đã có tiếng “chuông gọi hồn ai” thì các cậu phải biết ai ấy là các cậu đấy. Các cậu liệu hồn. Muốn giữ chân/thân thì phải khẩn trương vô-hiệu-hoá bọn cờ lau thành những người-ngoài-cuộc.


[5] Hiệu ứng người-ngoài-cuộc (Wikipedia: Bystander effect) hoặc hội chứng Genovese là một hiện tượng tâm lý xã hội đề cập đến trường hợp cá nhân không tham gia giúp đỡ trong một tình huống khẩn cấp cho nạn nhân khi đã có những người khác chung quanh. Xác suất giúp đỡ tỷ lệ nghịch với số lượng người xung quanh, nói một cách khác, số lượng của những người xung quanh càng lớn hơn thì ít có khả năng là bất kỳ một trong số họ sẽ giúp. Chỉ cần sự hiện diện của những người xung quanh khác làm đã làm giảm sự can thiệp. Điều này xảy ra bởi vì khi số người xung quanh gia tăng, bất kỳ người ngoài cuộc ít nhận thấy được sự cố, ít có khả năng xem sự kiện là một vấn đề, và ít có khả năng nhận trách nhiệm để hành động.

[6] Ai sỉ nhục kẻ sĩ?, blog Nguyễn Thông

[7] “An toàn” hay tự do?!, Đàn Chim Việt

[8] Bình vôi – bái vật – bà đồng, Vietsoul21.net


Chuỗi bài:


[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu – (8) Gió mưa là chuyện của trời … – (9) Vô liêm sỉ – man rợ – (10) Phế-anh-hùng – (11) Luật Lệ(nh) … (12) Nhà em có nuôi một con két … (13) Cái nhà là nhà của ta … (14) Mèo – thỏ]

Tạ Duy Anh – Nén nhang muộn cho Nguyễn Khải

In Liên Kết, Việt Nam, Văn Chương on 2011/07/15 at 11:54

Nhang Khói (Boxitvn.net)

Cho đến khi Nguyễn Khải từ giã cõi đời, tôi chỉ nhìn thấy ông một lần và gặp ông một lần nhưng chưa bao giờ quen ông. Lần nhìn thấy ông là khi tôi còn ở Trường Viết văn Nguyễn Du. Tôi nhớ trong đám quan khách đến dự cuộc hội thảo gì đó do nhà trường tổ chức, có một người từ đầu đến cuối hầu như không muốn nói, đến dự vì nể nang, bất đắc dĩ, không tiện từ chối. Ở chỗ nào ông cũng như muốn lẩn mình vào trong đám đông nhưng thỉnh thoảng cứ phải gượng gạo cười, gật đầu đáp lại lời chào, gượng gạo chìa tay với ai đó. Đến bữa trưa, mọi người tự phục vụ. Nhà văn Nguyễn Trí Huân bất ngờ vỗ vào vai tôi và chỉ về phía người mà tôi vừa kể, đang kẹp chiếc cặp trên nách nên phải nghiêng người xuống hứng cốc bia hơi cũng do ông tự vặn vòi, bảo: “Chú nên ra chào bác Nguyễn Khải một câu và lấy cho bác ấy cốc bia”. Đáp lại Nguyễn Trí Huân, tôi chỉ đứng im nhìn để tự nhủ lòng mình rằng, vậy ra đó chính là Nguyễn Khải. Tôi bỗng muốn bật cười, mặc dù nếu làm thế thì là bất nhã. Nhưng đúng là tôi không kìm được và không sao hiểu nổi phản ứng đó của mình. Tại sao tôi lại buồn cười khi nhìn thấy ông nhà văn nổi tiếng suốt mấy chục năm – từ khi tôi chưa đẻ, mà không lon ton chạy ra đỡ cốc xin được lấy bia rồi bưng cho ông ta bằng vẻ xuýt xoa cầu thân, bằng bộ mặt rạng rỡ hạnh phúc vì được làm quen với bậc trưởng lão trong làng văn, như đa số người cầm bút thế hệ tôi lúc bấy giờ sẽ làm thế? Đó chả là một vinh hạnh lớn lắm ư? Biết đâu ông ấy hạ cố ban cho lời khen rơi khen vãi, bằng độ bao diêm thôi trên báo Văn nghệ, là có thể thành danh như khối trường hợp đã xảy ra? Chính mắt tôi từng chứng kiến một ông nhà thơ, bất chấp mưa bão khiến toàn thân ướt như chuột lột, khom người móc từ trong bụng ra tập thơ bọc mấy lần ni lông run run dâng lên một nhà phê bình ngồi như con Linh Miêu trong bức tranh “Đám cưới chuột”, giọng nịnh bợ thảm hại: “Biếu anh và xin anh cho vài nhời”. Nhà phê bình kia so với Nguyễn Khải, chỉ là gã tiểu tốt vô danh, mà còn được trọng vọng đến vậy huống hồ Nguyễn Khải? Vài nhời của bậc “trưởng lão” đôi khi đủ là vốn liếng bằng vàng với người mới vào nghề để anh ta có cơ hội được ai đó nhắc tới ngay cả khi sau đó anh ta chết ngóm. Trong nghề viết lách, chưa có tí danh, dù là danh bèo danh bọt thì còn hận lắm. Lại có ông nhà thơ khác bỏ ra cả chục triệu đồng, móc của vợ, của bạn bè và của Nhà nước để thuê  người  mông má, quyết “hữu danh” bằng được. Đằng này chả mất gì cả, nếu có khom người tí chút, thì chỉ riêng chênh lệch về tuổi tác cũng không sợ bị ai đó xét nét. Mà cơ hội để được tiếp cận với các “đại bút” đâu phải lúc nào cũng sẵn! Vậy mà tôi nhớ lại lúc đó, sau khi nghe nhà văn Nguyễn Trí Huân nói vậy và sau khi biết đó là Nguyễn Khải, tôi đã nghĩ như thế này: “Việc quái gì mình phải làm quen với một kẻ cả đời xu nịnh, cả đời uốn lưng, uốn ngòi bút để đổi lấy chút danh vọng hão huyền và sự yên thân trong khi ông ta biết thừa điều đó là hèn mạt”. Tôi đã nghĩ như vậy, mọi người có thể cho tôi là ngạo mạn, thậm chí xấc láo nữa. Tôi không chối cãi. Nhưng thái độ đó của tôi là phản ứng giận dữ đối với một người tôi phải học ra rả suốt cả thời trẻ những điều ông ta viết, đã làm tổn thương niềm tin của tôi. Tôi càng không chấp nhận một người như ông mà luôn đem cái nhát, cái sợ của mình ra thanh minh cho việc phải viết những trang văn tô hồng hiện thực, minh họa chính sách một cách sống sượng. Khi ông tin vào điều mình viết thì thôi có thể bỏ qua. Nhưng khi ông cặm cụi nặn ra những lời ca ngợi cái thứ chính ông cũng ớn đến mang tai, thì không thể chấp nhận được. Rất nhiều lần ông nói xa xôi là ông phải viết vì sinh nhai, có ý thanh minh cho mình như vậy. Ai có thể tin và thông cảm, riêng tôi thì không tin lý do đó và cũng không chấp nhận lời thanh minh. Nếu không thích thì có ai bắt ông phải viết đâu. Không in được tác phẩm thì với lương bổng của ông đâu đã đến mức chết đói như nhiều nhà văn không may khác. Đã thế, bằng việc làm, ông lại chứng tỏ ngược lại, tức là ông cho mọi người thấy ông viết như chắt ra từ tim óc. Đó là khi tôi đọc được ở đâu đó bài bút ký ông kể rằng, chuyến đi Hưng Yên lần ấy, thắng lợi lớn nhất là ông tìm lại được cuốn truyện vừa có tên là Chủ tịch huyện trong một thư viện xã, cuốn truyện in cách nay đã mấy chục năm. Giá kể tôi chưa phải đọc cuốn truyện đó. Giá mà suốt thời học sinh tôi không phải ra rả học Hãy đi xa hơn nữa (ngay từ cái tên đã đầy tính xu thời chính trị) thì tôi quá lắm là thở dài theo nỗi buồn của người viết về thời thế. Nhưng trời ạ, đáng lẽ ông phải xé tan cái cuốn sách ấy đi mới phải chứ, coi nó như đứa con bị cưỡng hiếp mà có nên dị dạng cả về thân xác lần tinh thần, ông phải cảm thấy xấu hổ vì mình đã từng viết như vậy chứ. Ừ thì thời thế đôi khi cũng khó cưỡng. Nhưng ông thừa biết cuốn sách đó vô giá trị toàn diện, nói dối toàn diện chỉ để kiếm cơm và chứng tỏ lập trường thôi. Nó là bản minh họa khá thô thiển một chính sách hoang tưởng và bất nhân làm nông thôn bị bần cùng hóa. Nó tô son trát phấn cho những bộ mặt lem luốc, những nhân cách lem luốc, những cuộc đời lem luốc. Nó biến đen thành trắng, đánh lộn sòng giữa cái muôn đời và cái chốc lát… Ông thừa biết rằng, chỉ có thể chiêu tuyết những oan ức của người nông dân bằng cách treo cổ những điều sằng bậy do mình viết, những điều mà vì thế họ không ngóc đầu dậy được. Vậy mà ông lại vẫn lấy làm sung sướng, hãnh diện khi tìm lại được nó, cái thứ của tội nợ đó. Phản ứng thái quá của tôi còn do cả việc ông thay đổi quan điểm – một điều không thể hiểu nổi đối với một nhà văn như ông – trong một số sự kiện liên quan đến văn học, mà lý do chỉ vì ông là Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn. Không biết với một người như ông thì cái chức Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn quan trọng ở chỗ nào. Có thể với ai đó, thậm chí là đa số trường hợp, cần cái chức vụ bèo bọt đó để tiến thân và hữu danh, kiếm bổng lộc, chứ ông đâu có cần. Ông không cần phải là Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn mới được biết đến. Tạng như ông cũng chả kiếm chác được gì ở cái chức đó. Đành rằng tôi từng thấy cái chức đó ghê gớm với ngay cả một nhà văn đinh ninh rằng mình là cây đa, cây đề. Trước đại hội lần thứ V Hội Nhà văn ViệtNam, ông ta muốn được tiếp tục làm Ủy viên Ban chấp hành Hội thêm khóa nữa và vì thế ông viết một bài thống thiết kêu gọi Đảng ở đâu hãy nắm ngay lấy chúng tôi, đừng để các thế lực khác họ nhanh tay hơn. Ông muốn chứng tỏ, nếu có ông trong Ban chấp hành Hội Nhà văn thì Đảng cứ việc kê cao đầu mà ngủ kỹ, không phải bận tâm đến cái lũ văn nghệ sỹ nữa. Hạ mình đến thế cơ mà. Tự biến mình thành một thứ công cụ rẻ mạt, một kẻ gác cổng, hẳn cái mà ông ta muốn được bù trì phải hấp dẫn lắm. Sự thật thì khối kẻ, từ một hòn đất, chỉ cần là Ủy viên Ban chấp hành, lập tức thành bức tượng, có thể lăng xăng đi lại ở những hội nghị lớn, về các địa phương với tư cách người của Trung ương, lên tiếng dạy bảo người này người khác, là nơi cầu cạnh, xin xỏ của biết bao người thập thò muốn vào Hội, muốn được giải này giải nọ để làm vốn kiếm ăn với địa phương, tức là có thể ban cho người này người kia những thứ làm đổi đời họ… và dù thế nào, dù có là cục đất, thì Ủy viên Ban chấp hành cũng mặc nhiên thành người nổi tiếng trong giới, ít nhất cũng vài ba năm. Tôi cam đoan Nguyễn Khải biết điều đó, nhưng tuyệt không phải vì những thứ đó mà ông cứ phải là Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn. Vậy thì ông hành động không như ông nghĩ vì cái gì? Tôi thật sự không thể hiểu nổi và không chấp nhận.

Bây giờ tôi xin kể về lần thứ hai gặp ông. Đó là vào khoảng năm 2003, ông ra Hà Nội và ghé vào nhà xuất bản chơi với Nguyễn Khắc Trường. Khi đó cả ông và tôi đều đang là nạn nhân của một vụ cấm đoán miệng, khiến Thượng đế thì cười đắp chăn gần một năm và chỉ được phát hành sau khi nhà xuất bản xé đi đoạn ông kể về quá trình ông làm “nghị gật”, còn Đi tìm nhân vật trót phát hành rồi thì không được tái bản, không được bất cứ báo nào có lời giới thiệu, bất kể là khen hay chê… và tất cả đều do truyền đạt miệng, không chính thức! Chính nhờ đọc Thượng đế thì cười mà tôi đã bớt cay nghiệt hơn khi nghĩ về ông. Nói thật ra, nếu cuốn sách không bị cấm thì nó cũng sẽ bị quên lãng ngay. Bởi người đọc nó là những người hiếu kỳ, muốn thoả mãn nỗi ấm ức bị bưng bít thông tin hơn là nhu cầu thưởng thức nghệ thuật. Nhưng cái được lớn nhất là lần đầu tiên ông dám sòng phẳng với chính mình. Ông đã dám nói ra một số sự thật liên quan đến việc viết lách, đến những trang văn nhem nhuốc viết theo đơn đặt hàng, đến cái danh hão mình đang mang. Phải ở một tầm nào đó mới có đủ khả năng tự giễu cợt mình, giễu luôn cả cái thứ gọi là văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa chết đồng loạt trên toàn hệ thống; ông đã dám công khai xin lỗi nhà văn Vũ Bão – một việc tưởng đơn giản nhưng không phải ai cũng làm được như ông đã làm. Tuy vậy cái không được là ông vẫn ra sức thanh minh cho mình. Vì ông có tài nên cái sự thanh minh nhiều khi cũng rất tinh vi. Một cuốn hồi ký, tự truyện mà nhân vật xưng tôi chỉ tìm cách thanh minh thì chứng tỏ tầm cỡ của người viết chưa thật lớn, chưa thật sự bị thúc bách bởi lương tri mà ngồi xuống bàn viết, chẳng qua sám hối chỉ là miễn cưỡng hoặc làm phép. Mà điều đó thì tôi cũng không chấp nhận. Vì thế, khi ông sang phòng văn học trong nước, tôi vẫn cắm cúi làm việc mà không ngẩng lên. Không biết vô tình hay cố ý, ông ngồi đúng vào chiếc ghế đối diện với bàn làm việc của tôi. Trước đó tôi biết ông khen tôi trên tờ báo nào đó. Nhưng điều đó không thể khiến tôi động lòng. Vì thế tôi chỉ miễn cưỡng gật đầu chào ông như chào bất cứ ai bước vào phòng. Tuy vậy trong câu chuyện với một chị bạn đồng nghiệp, nhân chuyện gì đó, ông lại nhắc đến tên tôi. Tôi còn ghi dấu nụ cười của ông cùng với cái nhìn nhanh về phía tôi. Đó là một nụ cười đầy thiện tâm, nụ cười của người đã ngộ ra nhiều thứ, muốn dàn hoà với cả thế giới, nụ cười cầu mong sự tha thứ của người đời và mình cũng muốn tha thứ hết cho những gì người đời gây đau khổ cho mình. Tôi còn kịp quan sát đến thế đủ hiểu tôi đã đối diện với ông không chỉ trong chốc lát. Tôi biết rằng, chỉ cần tôi cất lời: “Cháu chào chú Nguyễn Khải” là ông sẽ quay hẳn sang nói chuyện với tôi. Nhưng vì tôi đã cố chấp, vì tôi còn thiếu từng trải, thiếu tài năng, tức là còn nhỏ bé… nên đáng lẽ làm vậy thì tôi lại lấy cớ có việc gì đó để đi ra ngoài. Ông là người nhạy cảm nên hiểu rõ hành động ấy của tôi là gì. Nhưng ông vẫn thản nhiên ngồi lại, như một người già không chấp thằng trẻ ranh trái tính thành ra hỗn. Tôi chả có việc gì cả nên đứng đọc báo ở bàn tiếp khách ngoài hành lang cho đến khi biết Nguyễn Khải đã ra khỏi phòng mới trở vào. Khi nghe Nguyễn Khải qua đời, quả thật có lúc tôi tự lấy làm tiếc cho mình đã thực sự bỏ lỡ một dịp quan trọng. Có thể không quan trọng với tôi nhưng quan trọng cho đời văn của tôi. Nhưng ý nghĩ đó cùng với sự hối tiếc chỉ thực sự khiến tôi day dứt khi đọc những dòng ông viết vào giây phút cuối đời. Mặc dù không định thanh minh cho Nguyễn Khải – vì tôi không có tư cách gì để làm điều đó và ông cũng không khiến – nhưng đã có ít nhất một đêm tôi mất ngủ, lòng tự trách mình cay nghiệt và để thương tiếc ông, cũng là thương cho kiếp trí thức ở cái đất nước này. Với đám trí thức nói chung thì vừa thương, vừa giận, vừa khinh. Thương vì suốt cả một lịch sử thăm thẳm kẻ sỹ luôn lép vế, khiêm nhường đứng ở một góc khuất, chờ được đem tâm và tài ra thi thố, nhưng đa số muốn mở mặt mở mày đều phải cúi rạp xuống đến mức thành kẻ vô lại. Có công thì bị kẻ kém cỏi hơn mình tranh mất, nhưng sự không thành thì tội giáng lên đầu mình đầu tiên. Ở một đất nước mà lũ chân yếu tay mềm, đầu chỉ có chữ từng là đối tượng đầu tiên phải tiêu diệt, thì biết nhiều đồng nghĩa với tai họa nhiều. Vì thế cứ mũ ni che tai, tự nhận mình dốt là cách an thân tốt nhất. Bởi vì có mấy người, mấy thời gặp được minh quân để dốc lòng phụng sự quốc gia đâu? Phần lớn là u vương, tự đồng nhất mình với đất nước, coi thiên hạ là giường chiếu để mình hành lạc. Gặp phải kẻ như vậy thì thay vì nói thật, phải uốn lưỡi nói những điều dối trá để giữ mạng sống và vinh thân phì gia. Thương vì nhiều tai họa giáng xuống đầu họ đôi khi chỉ vì họ hiểu biết hơn người, cả nghĩ hơn người, thương nòi giống và yêu tổ quốc hơn người. Họ luôn là đối tượng của nghi kỵ, đố kỵ, gièm pha. Kinh sợ nhất là bọn đố kỵ. Bất cứ ai có chút ít kiến thức về lịch sử cũng dễ dàng nhận ra bi kịch truyền kiếp của thân phận trí thức Việt luôn gắn với đám xu phụ quyền lực, bọn thầy dùi chính trị mà phần lớn số đó đều bất tài, vô hạnh, đểu cáng không có giới hạn. Không có gì đáng sợ hơn bọn này. Đáng sợ vì họ lại được (và thường được) giới cầm quyền trọng dụng. Nó, một mặt phải tìm cách tiêu diệt kẻ có tài do bản năng tồn tại, do đố kỵ, mặt khác, nó thèm khát được chứng tỏ mình, thèm khát được thấy một sự khiếp sợ nào đó từ người khác. Nhưng tự bản thân nó thì không thể làm những việc đó được. Vì vậy nó buộc phải dựa vào quyền lực. Muốn thế nó phải muối mặt nói những lời nịnh hót thường rất vừa tai kẻ cầm quyền. Một điều lạ là không phải kẻ có quyền lực nào cũng dốt đến mức không biết kẻ khác đang tâng bốc mình. Nhưng đáng lẽ phải cảm thấy xấu hổ – như bất cứ người có văn hóa nào – thì đa số họ, những kẻ sở hữu quyền lực, lại luôn vừa lòng về điều đó. Những kẻ xu thời dù chắc chắn là bất tài, thì họ cũng còn một sự tinh tường ấy là nhận ra rằng, loại người mà đám quyền lực tăm tối ghét nhất là bọn trí thức có chính kiến riêng. Xét đến cùng thì chỉ một người có học vấn, có chính kiến riêng, mới được coi là trí thức. Một dân tộc mà thiếu vắng những nhà phản biện, là một dân tộc vô phúc. Một chính thể luôn tuyệt đối hóa mình, đồng nghĩa mình với lẽ phải để từ đó coi mọi ý kiến không giống mình là sai trái, là một chính thể không có tương lai. (Chính thể Xô-viết và các chính thể Đông Âu trước năm 1990 là ví dụ hiển nhiên. Thực ra ở những chính thể ấy không thiếu những nhà phản biện lớn, như trường hợp nước Nga. Nhưng năm 1922 Lenin đã ký lệnh trục xuất hơn 200 trí thức hàng đầu của nước Nga (chứ không giết). Những trí thức này nói như Doxtoiepxki là hàng ngàn năm nước Nga tồn tại chỉ để có nhiệm vụ sinh ra họ. Lệnh trục xuất này thực chất là lệnh khai tử nhà nước Liên Bang gần 70 năm sau). Nó chỉ quan tâm đến cái trước mắt, tức là rất vô trách nhiệm với dân tộc. Và thế là, thay vì cần trí thức, cần những nhà phản biện với vai trò làm thức tỉnh chính nó, nó chỉ cần những kẻ học thuộc lòng. Mà chỉ học thuộc lòng, cho dù là thuộc những điều cao xa nhất, được coi là kinh điển và không phải ai cũng làm được, thì cũng vẫn chả hơn gì là một thứ nô bộc. Bởi vì kẻ học thuộc lòng, răm rắp làm theo, dù nhân danh bất cứ điều gì, kể cả tình yêu tổ quốc, cũng là kẻ trục lợi vì bản thân trước hết. Nó giống hệt với kẻ ngậm miệng ăn tiền về bản chất. Nhưng bất hạnh hay là nực cười thay, những kẻ như vậy, những kẻ học thuộc ăn tiền, nói theo ăn tiền… lại luôn là những kẻ có quyền định đoạt số phận không chỉ cho giới trí thức, mà đôi khi là số phận của cả một dân tộc. Bằng chứng cho điều này là thứ dễ tìm nhất, cả trong lịch sử nước nhà lẫn lịch sử thế giới. Còn nếu cần đơn cử một vài nạn nhân của cái thủ đoạn quen thuộc từ ngàn năm nay mà những kẻ xu thời áp dụng để hãm hại những trí thức hàng đầu là vu cáo chính trị, thì cũng không mất quá một phút để liệt kê ra, nào là Lê Văn Thịnh, Trần Trung Tá, Chu Văn An, rồi Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Trãi… cho đến sau này là Cao Bá Quát và gần đây hơn chính là nhóm Nhân Văn Giai Phẩm. Tuy chỉ cần chưa đầy một phút để nhắc đến ngần ấy cái tên, nhưng điều đáng buồn lại cũng ở đó. Cái bảng danh sách những kẻ sỹ dám từ bỏ lợi lộc, dám nói thật, dám bất chấp nguy hiểm để được sống như một kẻ sỹ hóa ra cũng vô cùng ngắn ngủi.

Nguyễn Khải, một người được theo nghiệp đèn sách từ bé, không thể không biết thực tế đó. Bài học về Cải cách ruộng đất, về nhóm Nhân Văn Giai Phẩm… buộc ông phải nhớ lại lịch sử. Và vì thế, giống như số đông những người được coi là trí thức cùng thời ông ở đất nước này (chỉ tính riêng miền Bắc, vì trí thức miền Nam có một số phận riêng), ông đã tìm thấy lý do vô cùng chính đáng để vờ quên bản thân mình, đó là lý tưởng vì tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Lý tưởng đó không hề xấu và không hề ít tính chất thiêng liêng, nếu người tin theo nó thật lòng. Nó chỉ đáng trách với những kẻ vờ vịt. Mà những kẻ đó phần lớn lại rơi vào thành phần trí thức. Bi kịch mang màu sắc hài kịch của trí thức Việt (tất nhiên không tính bọn giả danh trí thức), từ cổ chí kim, chính là luôn phải vờ vịt. Vờ vịt, tức là biết rõ nó không phải vậy, nhưng lại cứ phải làm ra rằng mình hiểu nó như vậy. Vờ trung thành, vờ kính trọng, vờ cúc cung tận tụy, vờ khép mình, vờ lắng nghe, vờ chăm chỉ, vờ ngoan ngoãn, vờ ca ngợi, vờ thán phục, vờ yêu… và những thứ vờ vĩnh ấy có thể làm bất cứ lúc nào, bất cứ chỗ nào, làm bao nhiêu cũng không sao ngoại trừ chỉ có lợi. Riêng một thứ không hề vờ, ấy là sự khinh ghét, thì phải nén lại, giấu thật kỹ kẻo hé ra có kẻ biết là tàn đời (mà kẻ rình rập để tố cáo, tâng công thì nhiều như ruồi, ngay trong giới trí thức); phải luôn tìm cách nhồi nó xuống, nuốt thật sâu, quên đi được thì càng phúc. Còn sống là còn phải quên. Chờ đến ngày sắp lìa đời, nếu còn lòng tự trọng, còn thấy hổ thẹn thì viết nó ra để thanh minh và sám hối. Như những câu thơ sau đây của Chế Lan Viên, tất nhiên là chưa có trong tuyển tập chính thức nào:

Sau này anh đọc thơ tôi nên nhớ

Có phải tôi viết đâu? Một nửa

Cái cần đưa vào thơ, tôi đã giết rồi

Giết một tiếng đau, giết một tiếng cười

Giết một kỷ niệm, giết một ước mơ

Tôi giết cái cánh sắp bay… trước khi tôi viết

Tôi giết bão táp ngoài khơi cho được yên ổn trên bờ

Và giết luôn Mặt trời lên trên biển

Giết mưa và giết cả cỏ mọc trong mưa luôn thể

Cho nên câu thơ tôi gầy còm như thế

Tôi viết bằng xương thôi, không có thịt của mình

Và thơ này rơi đến tay anh

Anh bảo đấy là tôi

Không phải!

Nhưng cũng chính là tôi – người có lỗi

Đã giết đi bao nhiêu cái

Có khi không có tội như mình.

Rồi như trường hợp Nguyễn Khải.

Và ngoài các ông ra, liệu còn ai nữa? Có thể là gần như tất cả đám văn nghệ sỹ, nếu họ cũng biết hổ thẹn như các ông ở những ngày tháng cuối đời. Nhiều người chưa kịp đọc Tôi đi tìm cái tôi đã mất, biết tôi đã đọc, nóng ruột muốn biết trước nó thế nào, tôi trả lời họ rằng: “Toàn bộ tác phẩm của Nguyễn Khải, nếu chưa đọc mà không có thời gian, thì chưa cần phải vội, nhưng riêng bài này thì nên đọc, phải đọc, đọc ngay”. Và tôi nói thêm: “Chỉ cần bài đó, thôi thì hơi muộn, Nguyễn Khải đã làm tròn sứ mệnh của một người cầm bút, một trí thức Việt”.

Đúng như dự đoán, người như ông sao lại không biết cái điều một nông dân hơi có học cũng biết. Nhưng vì ông là trí thức, lại là trí thức Việt nên đành phải sống hai mặt như vậy. Cái mặt đem đến cơ quan, ngồi trong hội nghị, trong các cuộc họp kín họp hở, những lần học nghị quyết, những lần đến nghe thỉnh giáo, thậm chí cả khi nằm bên người tình… là cái mặt nạ vô hồn, vô cảm một cách trơ lỳ, cái mặt dởm. Càng đắp sao cho nó không còn là mặt mình, tô vẽ cho nó nhoè nhoẹt, bóng mỡ… càng được tin cậy. Muốn sống yên thân thì cấm được để lộ ra cái mặt thật. Rồi phải bằng mọi cách, kể cả lừa thầy phản bạn cũng phải cố mà có lấy một tí danh. Đã mang thân phận trí thức Việt mà không có tí danh phận thì mọt đời không ngóc cổ lên được. Bởi nó biết nó quá yếm thế, quá nhỏ bé, quá thê thảm. Nó lại sống trong một cơ tầng xã hội mà chỉ cần đếm các mối dây nhằng nhịt vào nhau đã không đủ thời gian. Anh là ai, làm gì, sống thế nào thây mặc anh. Nhưng anh đừng bôi gio trát trấu vào mặt bố mẹ, dòng tộc, đừng làm vợ con phải khốn đốn. Mà anh là ai mới được chứ? Anh chỉ là một thứ vẹt, chủ ho thì ho theo, chủ khạc cũng phải cố mà khạc theo. Đời anh và nói chung đời người được bao lăm để anh cựa quậy? Anh cựa quậy để đem lại cho anh, cho vợ con anh được cái gì? Những câu hỏi như vậy ban đầu có thể là những lời van xin của người thân, nhưng dần dần nó là lời khuyên khôn ngoan mà một kẻ khoác áo trí thức quốc tịch Việt phải thuộc. Nó có bài học hẳn hoi. Hãy xem đấy. Khi nhóm Nhân Văn tưởng có thể làm mưa làm gió, họ là ai, hành xử thế nào? Như tôi thì tôi chỉ biết họ là những người hùng. Nhưng khi mỗi người trong số họ phải làm kiểm điểm, đối mặt với những án phạt khốc liệt, nghe nói họ cũng tìm cách đổ lỗi cho nhau để nhẹ tội cho mình. Nhưng cho dù thế thì ngần ấy năm vẫn đủ cho tôi kính trọng họ. Tôi chỉ chấm dứt thứ tình cảm quá xa xỉ ấy của mình khi mới đây tôi thấy các bậc trưởng lão của nhóm (chỉ tính những người còn sống) hớn hở nhận giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Chuyện đúng sai, lầm lỗi hay lầm lẫn của phía nào không còn là vấn đề, mà quan trọng hơn là cái mục đích thượng tôn nghệ thuật, thượng tôn công lý mà họ tin là rất cao cả (còn tôi thì tin vào họ), cuối cùng vỡ lẽ ra cũng chỉ vì một chút danh còm. Giả dụ những nhà lãnh đạo trước đây đủ cao tay, đủ thông minh để sớm ban cho họ cái giải thưởng ấy, thì mọi người trong đó có tôi đỡ đi bao nhiêu là giả định về một hiện tượng tưởng là bí ẩn nhất của lịch sử văn học nước nhà. Đã đỡ phải tốn bao nhiêu là tình cảm xa xỉ dành cho họ. Hóa ra Nguyễn Khải còn kịp nói được những điều mà đáng lẽ nhóm Nhân Văn phải thể hiện bằng hành động. Tôi chỉ vẫn không hiểu một điều: Tại sao lúc sống, biết rõ rằng đến giải thưởng Lenin, giải thưởng Stalin (từng được tuyên truyền là những giải thưởng lớn tầm thế giới?) còn chả ra gì, mà ông lại vẫn không thể từ chối nhận giải thưởng mà ông biết là bé hơn nhiều về tăm tiếng? Ông khiến tôi nhớ lại một đoạn hồi ký của Enxin, kể khi ông này ngồi phê chuẩn các quyết định do chính phủ Nga đệ trình. Ông phê duyệt gần như tức thời mọi thứ, kể cả những đệ trình liên quan đến vũ khí hạt nhân, đến sự an nguy của nước Nga trong chiến lược đối phó lại việc NATO mở rộng sang phía Đông. Ngay cả việc khôi phục lại danh dự dòng họ Romanov của các Sa Hoàng, một vấn đề đương nhiên là nhạy cảm đối với xã hội Nga hậu cộng sản vừa sợ, vừa coi khinh nhưng vẫn vừa luyến tiếc di sản quá khứ, mà ông đặt bút ký khá dễ dàng. Vậy mà ông đã mất mấy ngày trời cứ ngồi xuống, đứng lên trước quyết  định tặng thưởng giải thưởng Nhà nước Nga cho tác giả Quần đảo địa ngục [Quần đảo Goulag] mà không dám đặt bút ký, chỉ vì lo sợ ông nhà văn bị trục xuất oan uổng này sẽ không thèm nhận khiến có thể Tổng thống và sau đó là nước Nga bị bẽ mặt. Một sự lưỡng lự đi kèm lòng kính trọng. Mà là lòng kính trọng của Enxin! Cuối cùng, có lẽ phải đến ngày thứ ba Enxin mới ký khi tin rằng, bằng mọi cách, ông sẽ thuyết phục được Solzhenitsyn đồng ý nhận giải thưởng, không phải “vì danh dự của bản thân Solzhenitsyn, mà vì làm thế tức là thể tất cho nước Nga đã thật sự chân thành”. Sau khi ký xong, Tổng thống Liên bang Nga cảm thấy đó là dịp xứng đáng nhất để tự thưởng cho mình một ly vốt-ca vì chính ông vừa giải thoát cho lịch sử nước Nga bản án tồi tệ nhất! Lúc ấy tôi bỗng nghĩ, ví thử đặt vào vị trí Enxin là ông Chủ tịch nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, tên ông nhà văn Nga kia thay bằng cái bảng danh sách dài dằng dặc các nhà văn được đề nghị trao giải thưởng Nhà nước, giải thưởng Hồ Chí Minh, có lẽ vị Chủ tịch của Việt Nam chỉ do dự mỗi một điều, nếu phải bỏ bớt một số lại để phong tặng đợt sau (giả dụ chỉ là do vấn đề ngân sách thôi) thì biết bỏ ai ra bây giờ? Không thể bỏ ai cả. Họ sẽ lăn đùng ra ăn vạ. Ngay từ khi đề cử họ đã kiện tụng, bôi nhọ nhau ầm ỹ, sao cho tên mình được lọt vào danh sách cơ mà. Chỉ riêng chuyện đó thì ông Chủ tịch nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam sướng hơn ông Tổng thống Nga rất nhiều. Tất nhiên các nhà văn Việt Nam không thể so được với các nhà văn Nga, trí thức Việt càng không nên so sánh với trí thức bất cứ nước nào. Nhưng giá như Nguyễn Khải đủ bản lĩnh để từ chối cái giải thưởng mà chính ông ví nó như một tấm bia mộ sang trọng, hẳn ông đã mang xuống mồ (hay nói văn chương là về thế giới Vĩnh cửu, thế giới chỉ toàn Ánh sáng) một gương mặt khác! Ít nhất thì linh hồn ông cũng thanh thản hơn. Nhưng có lẽ là chỉ đáng tiếc cho mong ước của tôi thôi. Chưa kể ông không đủ tự tin rằng mình không cần bất cứ danh hiệu nào ngoài danh hiệu nhà văn để làm điều đó, thì vẫn còn lý do khác: ông vẫn cần bám vào một cái gì đó để sự vờ vịt trong ông sống nốt những năm tháng cuối cùng của nó. Nếu ngay cả điều đó ông cũng vượt qua được, thì vẫn còn cản trở cuối cùng, cửa ải cuối cùng mà cho đến nay chưa một nhà văn nào thế hệ ông thoát được là nỗi sợ bị chê là dại, từ chính những người thân. Bởi vì ông trước sau vẫn là trí thức Việt. Mà trí thức Việt thì chỉ thằng nào ngu mới không nhận – như tổng kết khôn ngoan của một nhà phê bình danh giá, đồng thời là lời biện hộ cho việc ngửa tay nhận tài trợ của ông ta. Vì thế trí thức Việt mà dám phủ nhận như ông rằng: “Tôi cũng được giải thưởng văn chương cao nhất cấp quốc gia, nhưng tôi biết chỉ mươi năm nữa, thời thế đổi thay chắc chả còn ai nhớ tới mình nữa. Tôi là nhà văn của một thời, thời hết thì văn phải chết, tuyển tập, toàn tập thành giấy lộn cho con cháu bán cân”, cho dù là lời nói trước khi chết, vẫn cứ là của hiếm cho đến nay. Phần lớn số họ, từ vờ vịt có chủ ý trở thành coi nó là thứ triết lý sống thức thời. Những trường hợp cả đời nặn óc tìm những câu nịnh nọt có cánh, nịnh một cách nghệ thuật nhiều không tính xuể. Sách của họ, hết cuốn này đến cuốn khác, toàn dày cộp luôn được Nhà nước in bằng thứ giấy tốt nhất, bày ở những nơi sang trọng nhất, được hệ thống tuyên truyền quảng cáo hùng mạnh PR hết cỡ. Điều kinh khủng nhất là những kẻ tạo ra nó cố vờ vịt đinh ninh cho đến lúc chết rằng họ sẽ bất tử cùng với cái mớ giấy lộn chỉ có giá trị đầu độc hiện tại và tương lai ấy. Trước thực tại ấy thì những hối lỗi muộn mằn của Nguyễn Khải thực sự là hành động phi thường và vì thế, sau bao nhiêu yêu thương và hờn giận cay đắng, ông vẫn xứng đáng nhận được một vị trí đẹp nhất, sang trọng nhất nơi ký ức độc giả, trong đó có tôi.

Hà Nội ngày 06-6-2008

(Sau khi đọc Đi tìm cái tôi đã mất, của Nguyễn Khải, rút trong tập Nghĩ mãi không ra, chưa xuất bản).

T.D.A.

Nguồn: Bauxite Việt Nam