vietsoul21

Archive for the ‘Việt Nam’ Category

Phó thường dân (5): Con dân – con cá – cò mồi

In Cộng Đồng, Tạp văn, Việt Nam on 2011/01/21 at 10:17

Vietsoul:21

Phó thường dân (5): Con dân – con cá – cò mồi

[tiếp theo kỳ trước: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông]

Thời gian trôi qua hơn 35 năm tôi mới dám nghĩ lại đến phận đời phó thường dân của mình. Chuyện cũ, chuyện mới, chuyện ngắn, chuyện dài, chuyện bên ni, bên nớ.

Con Cá

Năm mới sắp đến bà con cô bác hải ngoại bắt đầu rục rịch chuyện đi về Việt Nam ăn/chơi Tết.  Ai nấy cũng rần rần chạy đầu trước, lục ngõ sau, hơ hớt hốt hụi cho chuyến về cố hương.

Việt kiều chính hiệu con nai vàng hay người rơm, người rừng nếu không về cuối năm thì cũng ráng gởi chút đỉnh cho anh em, họ hàng hưởng Tết. Dễ thường số lượng kiều hối chính thức cộng với kiểu gởi chui cũng đạt gần 10 phần trăm tổng sản lượng quốc gia chứ không phải chơi. Y chang đàn cá hồi Đại tây dương (Atlantic salmon) mà ông Tưởng Năng Tiến đã ví von về người Việt hải ngoại.[1]

Người ta nói con cá nó sống vì nước.  Vậy mà đám phó thường dân sau 1975 thì hết nước sống. Lớp bị bắt đi cải tạo lao động, lớp bị đánh tư bản mại sản bắt đi kinh tế mới. Lớp bắt đi thủy lợi, phải gia nhập thanh niên “xung phong” (không chịu xung phong thì gia đình bị tổ trưởng dân phố công an phường đến thăm hỏi dài dài). Thế nên mạnh ai nấy chạy tìm đường sống.

Ngay cả hiện giờ—trong thời kinh tế thị trường “định hướng xã hội chủ nghĩa”—cả đạo quân thời cửu vạn, ô sin lay lắt tìm nước sống. Không thiếu gì người phải bỏ nước ra đi làm người rơm, người rừng, theo dạng xuất khẩu lao động, thông hành du lịch mại dâm, v.v… cá cược đời tàn cho số mệnh nổi trôi, kiểu Vinashin ra biển lớn!

À mà ta đâu còn chủ quyền biển lớn nào nữa để mà ra? Anh cả nước lớn đã thè cái lưỡi bò dài thòng đớp hết. Tàu thuyền đánh cá nào xớ rớ anh ủi thẳng cho mà chìm xuồng. Ngay cả cỡ “sói biển” Mai Phụng Lưu cũng chào thua, đành chấp nhận bỏ biển, bỏ nghề sinh nhai.[2]

Đám cá hồi này ra biển lớn, trầy vi tróc vẩy, chịu làm mồi hà bá.  Nên có gì đáng ngạc nhiên đâu khi mỗi lần về nguồn là hết xíu quách. Vậy chứ mà xem VTV4 quảng cáo thì khác à nhen.

Việt kiều người nào người nấy cũng bộ kẻng súng sính, phốp pháp, nhởn nhơ, phơi phới. Những hình ảnh bóng mướt này được lồng trong những lời “ân tình” của bài ca con cá (“dù bất cứ ở đâu cũng chung dòng máu lạc hồng luôn luôn hướng về tổ quốc”).  Nghe cái bổn cũ soạn đi soạn lại kêu gọi thống thiết Việt kiều về đóng góp xây dựng quê hương hằng năm một này mà não lòng, rụng rún.

Cò mồi

Năm Mão gần đến cửa rồi nên phó thường dân tôi nhìn lại năm Dần sau lưng để học kinh nghiệm. Lục lọi các tài liệu, và xem lại vài đoạn video trong lưu trữ thì gặp ngay cái cảnh đoạn Youtube tưng bừng “Tết Việt Kiều”[3] kiêm/kèm phóng sự “Đại hội Việt kiều” ở Hà Nội.

Hổng biết họ đào ra đâu được mấy người Vẹt kiều rất là “ấn tượng” để phỏng vấn. Tiêu biểu những khuôn mặt thì đủ mọi thành phần ca sĩ, văn sĩ, giáo sư, thương gia, cựu chính trị gia. Đủ xị. Những mặt sàng lọc này ca tụng hết cỡ cái tâm tình quê hương nghe thấy rơi ống điếu.

Dùng thủ thuật khêu gợi lòng luyến tiếc quá khứ thì chưa đủ thấm lòng những “người con xa xứ”—“Việt kiều là máu của máu, thịt của thịt, một bộ phận không thể tách rời của dân tộc”. Quá phải rồi, bán máu thịt xứ người đem về tiếp máu quê hương. Máu mủ gì. Đẩy người ta ra biển thâu tiền, đuổi người ta lên rừng khai hoang, đày người ta vào trại cải tạo lao tù.

Thêm một nhà văn(g) bên Đức hư cấu “con người không có hộ chiếu là con người vô gia cư”, “dù có tỷ đô cũng không thể mua đươc tiếng bánh chưng sôi lịt sịt bay qua lũy tre làng … có tiếng ríu rít của đám trẻ thơ đang chạy ở cái vườn nhà … hoặc là cái tiếng giết lợn eng éc… hoặc là cái tiếng bò kêu, cái tiếng gà gáy, ở Đức không có”. Mèn đét ơi, anh này văn(g) vẻ mùi còn hơn sáu câu vọng cổ hoài lang.

Ai đời có gã phát biểu, “Đảng ta đâu chỉ có một người nên không phải độc tài, đảng ta có nhiều người nên rất là dân chủ”. Dân chủ kiểu gì?  Kiểu “Đảng lãnh đạo (độc quyền, độc đoán, độc tài), nhà nước quản lý (theo chủ trương-đường lối-nghị quyết của Đảng), dân làm chủ (nhưng để Đảng “no” dùm bằng cách đứng tên sổ đỏ)” thì chính thị kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông rồi!

Rồi lại thêm một anh chàng GS mào đầu, “Chính phủ đã làm nhiều cho cởi mở, cũng như thể chế chính trị bắt đầu có cái hướng chấp nhận sự khác biệt”. Hổng biết chàng này ở bụi nào ra mà nói nghe quải thiệt. Cởi mở cỡ (hồi) nào đây cha?

Mẹ Nấm, cô Quỳnh, chỉ viết vài hàng tổng kết thành tích công an cuối năm, trích dẫn báo lề phải 100%, mà đã được mời lên phường (“uống trà”) nghe lên lớp. Cô Tạ Phong Tần, nhà báo tự do “liên quan” đến Điếu Cày và HS-TS-VN, thì được mời đi “uống trà” đến té đái! Chuyện công dân lên phường này mà không vượt kỷ lục trên toàn thế giới[4] như “chuyện thường ngày ở huyện” thì thôi.

Còn những ai được ưu ái hơn thì xin mời dùng “trà (nhà) đá”. Gần đây nhất là bà Hồ Thị Bích Khương, mục sư Nguyễn Trung Tôn, anh ba Sài Gòn đi nhà đá theo chân Điếu Cày, Cù Huy Hà Vũ, Đoàn Huy Chương, Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và cùng chung số phận với nhiều người đã phản biện với nhà nước trước đây. Đảng CSVN, chính phủ cởi (khóa) mở (nhà tù) tống giam những người đấu tranh dân chủ, nhân quyền, công đoàn, nông đoàn độc lập, tự do tôn giáo thì có. Cởi mở kiểu anh chàng GS này tiếp thị thì vái (dzái) dài thôi.

Trong đám Vẹt kiều này thì đặc biệt nhất là cặp đào/kép Tuyết Mai/Cao Kỳ thiệt là nhập vai. Ngày xưa phó thường dân coi cải lương trên truyền hình mê nhứt là đào Thanh Nga và kép Thanh Sang. Cũng ưa không kém là kép Văn Chung chuyên đóng vai nịnh thần, gian thần, và dâm quan. Các đào kép đóng vai chánh tà rõ ràng nên cảm xúc thương ghét cũng rạch ròi.

Bây giờ xem cặp tài tử Tuyết Mai/Cao Kỳ thì hổng biết họ đóng cái tuồng chi. Văn Chung giờ đã về hưu. Còn Cao Kỳ về vườn từ lâu nhưng ráng đóng vai nịnh thần để lãnh “huy chương vàng” bỏ túi. Chắc chắn trăm phần trăm đạt danh hiệu nghệ sĩ ưu tú chứ không phải giỡn đâu.

Cặp đào/kép Tuyết Mai/Cao Kỳ kể lể đóng góp xây dựng đất nước cái kiểu kiếm cơm à la “thời thượng” không mất li ti sợi tóc nào. Đêm thì hát phòng trà “đem tiếng ca cho đời”, ngày thì hót món phở Mai “quốc hồn quốc tuý” để gầy dựng túi tiền. Hoặc ung dung ngồi sa lông tha thiết gởi lời ủy lạo chiến sĩ ngoài Hoàng Sa/Trường Sa. Thiệt tình hết thuốc chữa.

Mà tưởng kiểu gì! Chứ lối hành trình về với quê hương đem những năm tháng ngày thừa còn sót lại của đời mình để đóng góp như kiểu gánh hát Tuyết Mai/Cao Kỳ thì hết chỗ chê.

Phó thường dân tui thấy đảng và nhà nước nên làm mạnh đi—phải thực thi nghị quyết 36 cho thêm phần hiệu quả hơn. Đảng và nhà nước phải suy tính lập kế hoạch làm sao góp hết đám dân vô sản, phá sản, người rơm, người rừng cho về đóng bộ, nhận vai cò mồi (hay “cai thầu văn hóa nô dịch”) để diễn tuồng cho đỡ đời cơ cực.

Phó thường dân tôi chợt nhớ lại lúc thời đi học xa nhà phải đón xe lam. Ở bến xe nào bao giờ cũng có mấy tay bịp bài ba lá. Mấy tay này luôn có đám cò mồi bảnh bao đứng chung quanh đặt tiền và nhà cái chung tiền cho cò mồi tá lả. Thấy tưởng như thiệt! Đám cò cười hể hả quơ tiền vào túi trong khi luôn miệng thúc người khác cá tiền vào. Nhiều người thấy quá dễ, đặt tiền độ, được cho nhử ăn ván đầu, rồi được đám cò hùa thêm vào, tưởng bở nên hăng máu chơi xả láng. Thế là sạch túi.

Còn nữa. Ngoài đám cò mồi thì lại có thêm giới Vit kiều thời thượng: sáng (cà) phê, phở; trưa sushi, bulgogi, martini; chiều pasta, vodka; tối phòng trà, ta cứ tà tà.

Không phải Việt kiều hồi hương, cũng chẳng là cựu lưu vong (expat). Phải gọi cho đúng tên đúng mặt để chẳng hổ ngươi.

Đây là những nhân vật đã nhập vai đô thị toàn cầu (cosmopolitan) nhuần nhuyễn chỉ dừng chân lãng tử (sojourner) nơi này. Họ tự gắn víu vào thời trang đương đại, va vịn trong văn hoá đa chủng, và sành điệu siêu kỹ nghệ. Họ khoác áo “tân thực dụng” (neo-pragmatism), đóng vai trùm tác nhân cung phụng cho hệ thống tư bản tài chánh xuyên quốc gia, và dĩ nhiên không cần ngâm nga hay gồng mình trong hoạt cảnh khi chọn vai đóng làm nhịp cầu tạo lợi nhuận cho giới thống trị (cả tư bản xanh lẫn tư bản đỏ).

Những đào kép ni chỉ nghĩ cho riêng mình (me, me, me, and me), và mong vơ được tất cả (having a cake and eat it too). “Thu tiền đô, chi tiền đồng”.  Thế nhưng lúc nào cũng sướt mướt đầu môi, rung rung xúc động trước ống kính thu hình để tuyên bố “làm một cái gì cho đất nước”.

Thôi đi má!  Kỹ nghệ phở (bên) Tây thì cạnh tranh không nổi nên đành về vùng đất (thị trường) sơ nguyên ( “Vietnam is still a virgin land!”) để mở Ph Ta hồi 9 giây, 9 phút, 9 giờ ngày 9 tháng 9 năm 2009—mơ “làm thời trang cho sợi bánh phở Việt nam” trở thành “một nét văn hóa thưởng thức thức ăn truyền thống Việt cao cấp”. Thời mở cửa ít xe đạp mà lắm xe máy, nhưng ta về ta đi ô tô (Tadioto) ngao du Ba Vì (Đình) cho bảnh bao nghệ sĩ.[5]

Quanh đi quẩn lại thì vẫn mòn gương mặt cũ, vài phát ngôn(g) viên đại diện (ai cho / cho ai) Việt kiều để mại dô hàng độc.

Con dân

Qua đại hội XI, Đảng CSVN lại “vũ như cẩn”—qua cương lĩnh xây dựng đất nước trong “thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” và “hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Người dân nghe xong mà không tán thán “bótay.com” hay bị tâm thần phân liệt (schizophrenic) thì cũng là chuyện lạ. Cứ như là tay phải tát má trái, và chân trái đá mông phải, nói một đằng làm một nẻo, nửa gà nửa vịt nửa đười ươi. Ai hiểu nổi cái “quá độ chủ nghĩa xã hội” là cái quái gì.

Thiên hạ chỉ thấy công an quá quắt, cán bộ quá quắt, và bộ chính trị trung ương đảng quá quắt.  Đám “đầy tớ nhân dân” tác ai tác quái quá độ này tùy tiện coi trời bằng vung, coi dân là thằng.

Gần đây nhất Đảng đã đánh tiếng là sẽ chủ trương thí điểm kết nạp chủ doanh nghiệp tư nhân. A hèm, vậy chứ khẩu hiệu “công nông” giờ bỏ đi đâu đây? Hay là đổi thành “thương công nông”? Chắc dzậy rồi. Chỉ đáng thương cho người nông dân bị mất đất khiếu kiện từ năm này qua năm nọ không ai giải quyết. Thật đáng tội cho người công nhân lao động bị bóc lột, lương chết đói chẳng một công đoàn nào trợ giúp.

Thiệt ra chủ trương “đảng hóa” doanh thương này là một hình thức hợp thức hoá cho băng đảng CSVN tạo chuỗi rễ trong thương nghiệp tự do để nắm trọn hai đầu doanh nghiệp nhà nước (DNNH) và doanh nghiệp tư nhân. Đảng CSVN trở thành chủ xị lãnh tiền bảo kê và nhà cái ăn tiền xâu. Những doanh nghiệp tư nhân vào Đảng sẽ được bảo vệ. Doanh nghiệp tự do sẽ là đám con ghẻ. Hơn chuyện Tấm Cám là chắc.

Kết quả? Dân ta bị đặt đâu ngồi đó như là con dân. Bộ chính trị, trung ương đảng còn hơn bố của dân.

Ngày xửa, ngày xưa (ít gì cũng xưa hơn thời cha sanh, mẹ đẻ của phó thường dân này) ở thời vua chúa, con trời (thiên tử) trị vì thiên hạ thì ông vua coi dân như con. Còn bây giờ ra rả, oang oang trên loa phường là Việt Nam đang phăng phăng sang “thời kỳ quá độ” mà sao quay lại thời phong kiến hồi nào vậy cà?

Tưởng qua rồi tháng ngày “con vua thì lại làm vua, con sải ở chùa phải quét lá đa”. Sao bây giờ có chuyện sắp xếp sắp xếp trắng trợn cậu ấm Nông Đức Tuấn (con cựu TBT Nông Đức Mạnh), Nguyễn Thanh Nghị (con TT Nguyễn Tấn Dũng) thành ủy viên “ưu tú tài đức”?  Đám thường dân, phó thường dân vậy rồi thì là mà…sẽ khó (khổ) ba (vạn) đời[6]. Làm sao sống với lũ này được!

Người dân đâu phải là con giun, cái kiến để cứ bị dày xéo mãi. Người dân không phải là con dân. Phải trả quyền công dân, quyền làm người cho nhân dân Việt Nam.

Người dân không là con cá, chẳng phải con cò. Họ là những Công Dân.

© 2010 Vietsoul:21

[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu – (8) Gió mưa là chuyện của trời … – (9) Vô liêm sỉ – man rợ – (10) Phế-anh-hùng – (11) Luật Lệ(nh) … – (12) Nhà em có nuôi một con két … – (13) Cái nhà là nhà của ta … – (14) Mèo – thỏ  – (15) phố vẫy …]


CHÚ THÍCH:

[1] Tưởng Năng Tiến – Năm Cọp Nói Chuyện Cá, talawas

[2] Làm gì khi ngư dân bỏ biển?, Bauxite Việt Nam

[3] Tết Việt kiều (1, 2, 3)

[4] Chuyện Hà Sĩ Phu & mấy con đinh vít – Tưởng Năng Tiến, Đàn Chim Việt (danchimviet.info)

[5] “Viet Kieu”, overseas Vietnamese, are moving home

[6] Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời, Dân Làm Báo (danlambaovn.wordpress.com)


Các bài liên h:

Chứng quên tập thểCollective Amnesia and Rhetoric of Mobilized Participation

Tôi là người Việt Nam

Chúng tôi (Tự trào – Trí Thức – Tâm Tài)

Những cái nhập nhằng không tênThe Unspoken Ambiguities

Thời cửu vạn, ôsinThe Age of Day Laborer and Housemaid

Lết tới “thiên đường”

Chúng tôi (Tự trào – Trí Thức – Tâm Tài)

Bịt miệng nạn nhân

Tháng Tư Câm

Phản bội hay trung thành với lý tưởng?

Tư Liệu: Tuyên Cáo Của Chính Phủ Và Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa

In Lịch Sử, Việt Nam on 2011/01/18 at 12:54
BBT (1/6/2011): Trước tình hình bá quyền Trung Quốc đang có thái độ ngang tàng và hành động côn đồ trên Biển Đông Việt Nam chúng tôi đăng lại Tuyên Cáo của Chính Phủ và Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hoà để phản đối chính quyền Trung Quốc.
BBT (18/1/2011): Để tưởng niệm trận hải chiến Hoàng Sa, 19-1-1974, chúng tôi xin đăng lại tư liệu Tuyên cáo của chính phủ và bộ ngoại giao Việt Nam Cộng Hòa về chủ quyền biển đảo Hoàng Sa – Trường Sa.

TUYÊN CÁO CỦA BỘ TRƯỞNG NGOẠI GIAO VIỆT NAM CỘNG HÒA VỀ NHỮNG HÀNH ĐỘNG GÂY HẤN CỦA TRUNG CỘNG TRONG KHU VỰC ĐẢO HOÀNG SA

(NGÀY 19.1.1974)

Nguyên văn:

Sau khi mạo nhận ngày 11.1.1974 chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng – Sa và Trường-Sa của Việt Nam Cộng-Hòa, Trung cộng đã đưa Hải-quân tới khu vực Hoàng- Sa, và đổ bộ quân lính lên các đảo Cam -Tuyền, Quang -Hòa và Duy -Mộng.

Lực lượng Hải -quân Trung -Cộng gồm 11 chiến đỉnh thuộc nhiều loại và trọng lượng khác nhau, kể cả một tàu loại Komar có trang bị hỏa tiễn.

Để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và nền an ninh quốc gia trước cuộc xâm lăng quân sự này, các lực lượng Hải quân Việt-Nam Cộng-Hòa trấn đóng trong khu vực này đã ra lệnh cho bọn xâm nhập phải rời khỏi khu vực.

Thay vì tuân lệnh, các tàu Trung-Cộng, kể từ 18.1.1974, lại có những hành động khiêu khích như đâm thẳng vào các chiến đỉnh Việt-Nam.

Sáng ngày nay, 19.1.1974 hồi 10h20, một hộ-tống hạm Trung-Cộng thuộc loại Kronstadt đã khai hỏa bắn vào khu vực hạm “Trần Khánh Dư” mang số HQ-04 của Việt-Nam Cộng-Hòa. Để tự vệ, các chiến hạm Việt-Nam đã phản pháo và gây hư hại cho hộ tống hạm Trung Cộng. Cuộc giao tranh hiện còn tiếp diễn và đang gây thiệt hại về nhân mạng và vật chất cho cả đôi bên.

Các hành động quân sự của Trung Cộng là hành vi xâm phạm trắng trợn vào lãnh thổ Việt-Nam Cộng-Hòa, và một lần nữa vạch trần chánh sách bành trướng đế quốc mà Trung Cộng liên tục theo đuổi, đã được biểu lộ qua cuộc thôn tính Tây Tạng, cuộc xâm lăng Đại Hàn và Ấn Độ trước kia.

Việc Trung Cộng ngày nay xâm phạm lãnh thổ Việt Nam Cộng-Hòa không những chỉ đe dọa chủ quyền an ninh của Việt Nam Cộng Hòa mà còn là một hiểm họa đối với nền hòa bình và ổn cố của Đông Nam Á và toàn thế giới.

Với tư cách một nước nhỏ bị một cường quốc vô cớ tấn công. Việt Nam Cộng Hòa kêu gọi toàn thể các dân tộc yêu chuộng công lý và hòa bình trên thế giới hãy cương quyết lên án các hành vi chiến tranh thô bạo củaTrung Cộng nhằm vào một quốc gia độc lập và có chủ quyền để buộc Trung Cộng phải tức khắc chấm dứt các hành động nguy hiểm đó.

Làm ngơ để cho Trung Cộng tự do tiến hành cuộc xâm lấn trắng trợn này là khuyến khích kẻ gây hấn tiếp tục theo đuổi chánh sách bành trướng của chúng và sự kiện này đe dọa sự sống còn của những nước nhỏ đặc biệt là những nước ở Á Châu.

Trong suốt lịch sử, dân tộc Việt Nam đã đánh bại nhiều cuộc ngoại xâm. Ngày nay, Chánh phủ và nhân dân Việt Nam Cộng Hòa cũng nhất định bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ quốc gia.

(Tài liệu ronéo của Bộ Ngoại Giao, Sài Gòn,
Số 015/BNG/ TTBC/ TT)

TUYÊN CÁO CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM CỘNG HÒA VỀ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA TRÊN NHỮNG ĐẢO Ở NGOÀI KHƠI BỜ BIỂN

VIỆT NAM CỘNG HÒA

Nguyên văn:

Nghĩa vụ cao cả và cấp thiết của một chánh phủ là bảo vệ chủ quyền, độc lập và sự vẹn toàn lãnh thổ của quốc gia. Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa cương quyết làm tròn nghĩa vụ này, bất luận những khó khăn trở ngại có thể gặp phải và bất chấp những sự phản đối không căn cứ dầu phát xuất từ đâu.

Trước việc Trung Cộng trắng trợn xâm chiếm bằng vũ lực quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa, Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa thấy cần phải tuyên cáo long trọng trước công luận thế giới cho bạn cũng như thù biết rõ rằng:

Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là những phần bất khả phân của lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Chánh phủ và nhân dân Việt Nam Cộng Hòa không bao giờ chịu khuất phục trước bạo lực mà từ bỏ tất cả hay một phần chủ quyền của mình trên những quần đảo ấy.

Chừng nào còn một hòn đảo thuộc lãnh thổ ấy của Việt Nam Cộng Hòa bị nước ngoài chiếm giữ bằng bạo lực thì chừng ấy Chánh phủ và nhân dân Việt Nam Cộng Hòa còn đấu tranh để khôi phục những quyền lợi chính đáng của mình.

Kẻ xâm chiếm phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về mọi tình trạng căng thẳng có thể do đó mà có.

Trong dịp này, Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa cũng long trọng tái xác nhận chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa trên những hải đảonằm ở ngoài khơi bờ biển Trung Phần và bờ biển Nam Phần Việt Nam, từ trước tới nay vẫn được coi là một phần lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa căn cứ trên những dữ kiện địa lý, lịch sử, pháp lý và thực tại không chối cãi được.

Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa cương quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia trên những đảo ấy bằng mọi cách.

Trung thành với chánh sách hòa bình cố hữu của mình, Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa sẵn sàng giải quyết bằng đường lối thương lượng những vụ tranh chấp quốc tế có thể xảy ra về những hải đảo ấy, nhưng nhất định không vì thế mà từ bỏ chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa trên những phần đất này.

Làm tại Saigon, ngày 14 tháng 2 năm 1974.

Nguồn: Tập san Sử Địa, tập 29

Nguồn: Nguyễn Xuân Diện Blog


Những bài cùng chủ đề:

Tưởng niệm trận hải chiến Hoàng Sa, 19-1-1974

37 năm trước-ngày 19.1.1974! (RFA)

Hải chiến Hoàng Sa 1974 trong ký ức một người lính biển (RFI)

Ngày tưởng niệm trận hải chiến Việt Nam -Trung Quốc năm 1974 (RFA)

Phó thường dân (4): Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2011/01/14 at 20:09

Vietsoul:21

Thời gian trôi qua hơn 35 năm tôi mới dám nghĩ lại đến phận đời phó thường dân của mình. Chuyện cũ, chuyện mới, chuyện ngắn, chuyện dài, chuyện bên ni, bên nớ.

(tiếp theo kỳ trước: (1) Anh tám hồ hởi(2) Nôị-thực-dân(3) Sợ)

Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông

Kỳ đà là cha cắc ké
Cắc ké là mẹ kỳ nhông
Kỳ nhông là ông kỳ đà…

Lúc còn nhỏ phó thường dân tôi hay cặp kè lũ con nít trong xóm hát ba câu trên, lập đi lập lại cho đến khi mỏi miệng thì … nghỉ. Chẳng biết ai đặt ra mà đám con nít chúng tôi cũng không thắc mắc bài này mang ý nghĩa gì. Nghe dzui dzui mắc cười dzậy thôi khi tưởng tượng cái vòng vo rối rắm giữa thằng cha kỳ đà cản mũi, lũ cắc ké xạo ke, và con mẹ kỳ nhông lật lọng đổi màu. Dzậy chứ ba câu này khi chợt nghĩ lại hổm rày thấy mua vui cũng được vạn ngàn trống canh.

Thiên hạ đang lao nhao bàn tán chuyện Đại hội đảng CSVN XI. Phó thường dân tôi mới lướt qua vài bài báo, dăm phát biểu mở đường thì thấy sao mà nó giống y chang như hiện tượng nhập nhằng kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông mà lũ con nít trong xóm hát chơi vui ngày xưa.

Lẽ ra thì chuyện đại hội đảng CSVN có mắc mớ gì đến người dân—những mặt thầm lặng quanh năm chẳng ai thèm để ý tới, nhất là những phó thường dân như tui. Đúng vậy, đại hội một đảng phái thì chỉ dành riêng cho đảng viên của họ. Bầu bán ai ai, cương lĩnh gì gì cũng mặc kệ người ta. Chẳng có gì thay đổi hay ảnh hưởng tích cực cho ai từ bao năm nay rồi.

Trên nguyên tắc quân bằng và đối trọng trong quyền lực và tác nhiệm, ba ngành tư pháp, lập pháp, hành pháp của một quốc gia phải độc lập không lệ thuộc nhau. Điều quan trọng nhất là không bị một đảng phái nào ảnh hưởng trụ trì cả. Các đảng phái có thể nắm quyền chấp chính sau khi được người dân tín nhiệm bầu vào thành phần đa số. Tuy nhiên, họ vẫn phải luôn đối tác, thương lượng, liên hiệp với các đảng phái thiểu số khác để đề xướng, thông qua, và thi hành các chính sách của quốc gia.

Thế nhưng cái Đảng CSVN chơi trò lắc léo! Chúng ôm trọn quyền, tự biên tự diễn, tự bầu bán cho nhau vào những chức vụ trong cả ba ngành của nhà nước. Đó là hiện tượng khác biệt cơ bản nhất của một chế độ độc tài, khác hẳn với tinh thần của những đảng phái chính trị thuộc các nước tự do dân chủ trên thế giới. Vì dzậy nên bàn dân thiên hạ, và ngay cả những phó thường dân như tui, mới phải chộn rộn bàn tán xôn xao.

Phó thường dân tui chữ nghĩa không đầy cái lá mít, nên tui chỉ hiểu đơn giản theo kinh nghiệm sống của mình mà thôi. Do đó tui thấy cái đảng CSVN này xem ra chính thị là lũ kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông. Còn cái Đại hội đảng XI đang diễn ra thì không khác gì hơn là đại hội đèn cù.[1]

Để phó thường dân tôi giải thích cái nhận xét của tui là tại sao đảng CSVN là kỳ đà cản mũi nghe. Chủ nghĩa cộng sản thì đã bị diệt vong, và rơi vào thùng rác của lịch sử từ hơn ba thập niên. Thế mà tập đoàn bộ chính trị cực đoan đáng là tội phạm vì lạm dụng quyền lực tối đa để khăng khăng kiên định lập trường chủ nghĩa Mác-Lê, và để tiếp tục chuyên chính độc quyền cai trị. Trong khi các quốc gia trên thế giới tiến bộ chọn lựa chiều hướng chính quyền dân chủ tự do thì CSVN cố khư khư ôm bám định chế “xã hội chủ nghĩa” (theo nghĩa hẹp của độc tài chuyên chính và thời kỳ quá độ).

Đảng CSVN ngày càng đi ngược lại cao trào tiến bộ của nhân loại, tiêu diệt hủy hoại tiềm năng dân tộc, và nhận chìm ước vọng mòn mỏi của toàn dân: muốn có những quyền làm người cá nhân căn bản và được tự do dân chủ trong xã hội. Như vậy thì không thể biện hộ hay chối cãi gì được nữa. Đảng CSVN là một đảng cực kỳ phản động[2], là kỳ đà cản mũi cản trở tiến trình phát triển xã hội của đất nước VN, và tự tách biệt mình ra khỏi cộng đồng thế giới.

Thứ hai, tui thấy Đảng CSVN là đám cắc ké xạo ke. Tập đoàn quyền lợi thiểu số đảng CSVN đã dùng hình thức lừa đảo kiểu “sở hữu toàn dân” để bán đất, bán rừng, bỏ biển thu lợi cho riêng mình, và bành trướng của cải quyền lực cho gia tộc đàn em của mình (nhưng vênh vang tuyên bố tài sản là “cộng”, là của chung!). Bộ phận giàu có nhất trong xã hội là các phần tử liên kết với quân đội, công an phục vụ cho đảng cho bè lũ chức quyền ma-phi-a.

Đây là bè lũ bất nhân. Chúng bất kể tai hại, hiểm nguy đến đời sống người dân, đến an ninh quốc gia. Chúng tẩu tán tài sản quốc gia qua “cổ phần hoá” (chia chác riêng), tẩu tán những tài sản công cộng, và biển thủ vốn đầu tư doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hằng loạt y như kiểu Vinashin—chỉ khác mức độ cường độ mà thôi.

Chúng nói là đầy tớ nhân dân nhưng hành hạ nhân dân vô kể như “chuyện dài ở huyện”. Chúng hứa lèo bằng cách nói nho nhỏ là nhận trách nhiệm sai trái đã xảy ra, nhưng rồi lại chẳng khi nào chịu trách nhiệm bằng bất cứ một hành động cụ thể nào. Chúng báo cáo công việc theo kiểu “báo cáo vị báo cáo”[3]. Nói suông, nói cho có cho được, nói xạo.

Hãy nghe cắc ké Đinh Thế Huynh—Chủ tịch Hội nhà báo Việt Nam—vừa mới tuyên bố (xạo ke):

“Ở Việt Nam không có nhu cầu đa nguyên, đa đảng và dứt khoát không đa nguyên đa đảng. Bởi một lẽ đơn giản, chúng tôi đã từng thử nghiệm đa nguyên đa đảng thông qua cuộc tổng tuyển cử năm 46, với nhiều đảng tham gia Quốc hội[4]. Nhưng đến khi thực dân Pháp quay lại xâm lược nước tôi thì chỉ có Đảng Cộng sản cùng với nhân dân Việt Nam chiến đấu chống lại và giành thắng lợi trước thực dân Pháp. Và nay, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn đang tiếp tục lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Sự thật ra sao? Việt Minh đã kêu gọi các đảng phái và thành phần không đảng phái đứng vào liên hiệp cứu quốc chống thực dân. Sau khi đánh bóng được nội các chính phủ trước toàn dân và thế giới thì họ đã mưu chước để lập tức loại bỏ, thủ tiêu, ám sát các thành viên Việt Cách, Quốc Dân Đảng, Đại Việt, v.v…[5]

Những ai may mắn “bỏ chạy lấy thân” thì còn sống sót. Ngay cả các người trí thức không đảng phái tham gia kháng chiến rồi cũng phải trốn hàng ngũ về thành vì nhiều nguyên nhân: bị chính ủy áp đặt chủ thuyết cộng sản ép buộc tham gia, bị đấu tranh tư tưởng, bị cưỡng bức làm chuyện trái đạo lý, tình người. Một số người trí thức sẵn sàng quên quyền lợi cá nhân và cố hy sinh chịu đựng trong thời chiến tranh để rồi bị trù dập, đày đọa, đấu tố sau khi cách mạng thành công chỉ vì đòi hỏi tí quyền tự do và nhân phẩm không chỉ cho bản thân mình.

Nhóm Nhân Văn Giai Phẩm là một thí dụ điển hình nổi bật. Còn biết bao người không tên tuổi khác đành âm thầm cam chịu trong bóng tối. Ngoài việc đảng CSVN chủ trương “cải cách ruộng đất” tiêu diệt “trí, phú, địa, hào”, họ còn dùng “chấn chỉnh tổ chức” để loại trừ tất cả thành phần không cộng sản đang nằm trong các tổ chức chính quyền, bất kể những người đó đã hy sinh và có công lao hy sinh vì chuyện chung đất nước.

Dzậy thì mấy anh cắc kè văn nô này nói giỡn hay nói chơi dzậy cha nội! Các anh nói “dân chủ”, “tự do” theo kiểu “các bạn được quyền thích và tự do lựa chọn bất cứ màu gì, đây là màu đỏ duy nhất, mời các bạn tự do chọn (nhận).”

Kiểu tự do lựa chọn này làm phó thường dân tôi liên tưởng lại thời thơ ấu. Xã của tôi rất nhỏ nằm dọc quốc lộ chỉ có vài trăm gia đình. Trong xóm có một tiệm cắt tóc duy nhất. Cả đám con nít tui ai cũng được dẫn đi hớt tóc ở tiệm đó. Nhìn qua nhìn lại cái đầu đứa nào cũng giống nhau như ở trong cô nhi viện. Đầu đứa nào đứa nấy y chang một kiểu, kiểu nồi đất. Anh thợ hớt tóc cắt sao thì chịu vậy. Hên thì anh cắt đều tay, xui gặp bữa anh xỉn hoặc mới gây cấn với vợ thì cái đầu lởm chởm. Có phàn nàn thì anh sửa, sửa hổng xong thì anh xởn trọc đầu là xong chuyện. Khi tui bắt đầu lên trung học, đi học ở thị xã, nơi có nhiều tiệm hớt tóc thì mới thoát khỏi kiểu đầu nồi đất ấy. Đảng CSVN muốn vĩnh viễn đè đầu, cưỡi cổ, bịt miệng, trói tay nhân dân hoài vậy sao?

Chưa hết. Đảng CSVN là con kỳ nhông. Chúng thay da, đổi màu tùy lúc, tùy thời. Chúng mị dân để đạt được âm mưu sâu độc cai trị độc tài, áp bức nhân dân. Chúng treo đầu dê, bán thị chó. Chúng trưng bảng chủ nghĩa dân tộc để kêu gọi toàn dân đồng lòng chống thực dân, trong khi che dấu kỹ lưỡng cái nghĩa vụ quốc tế cộng sản.

Việc thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa với hiến pháp dân chủ để chiêu dụ các đảng phái tham gia hầu được công luận quốc tế công nhận. Nhưng ngay sau đó, đảng CSVN cho cán bộ và đặc công ám sát, thủ tiêu, hay chỉ điểm cho mật thám Pháp bắt họ hòng bẻ gãy sức mạnh tập hợp và loại trừ các nhân sĩ yêu nước không cộng sản này. Đảng CSVN có thời lấy tên đảng Lao Động để che dấu cái đuôi chồn cộng sản, để lừa đảo và mị dân nhưng bản chất nó là một đảng độc tài. Bây giờ thì CSVN lại trương bảng “kinh tế thị trường” và thòng thêm cái đuôi (kỳ nhông) “định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Đảng CSVN rêu rao dân chủ qua chủ trương “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, dân làm chủ”. Mèn đét ơi sao mà giống y chang mấy câu ca cẩm “kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông” nghe nực cười ngứa lỗ tai phó thường dân tui quá. Đảng lãnh đạo (độc quyền, độc đoán, độc tài), nhà nước quản lý (theo chủ trương-đường lối-nghị quyết của Đảng), dân làm chủ (nhưng để Đảng “no” dùm bằng cách đứng tên sổ đỏ) thì không phải kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông là gì?

Lúc còn nhỏ thì nghe thấy dzui dzui nhưng tui nói thiệt nè. Dân ta, ngay cả phó thường dân tui, đâu phải là con nít mà Đảng và nhà nước cứ xài cái điệp khúc “kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông” đó mãi. Thôi bỏ đi tám. Đừng chơi kiểu “tao là tớ, tớ là mình, mình là tao” độc tài, độc diễn mãi như dzậy.

© 2011 VietSoul:21

[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu – (8) Gió mưa là chuyện của trời … – (9) Vô liêm sỉ – man rợ – (10) Phế-anh-hùng – (11) Luật Lệ(nh) … – (12) Nhà em có nuôi một con két … – (13) Cái nhà là nhà của ta … – (14) Mèo – thỏ  – (15) phố vẫy …]


Chú Thích:

[1] Đại hội đèn cù lần thứ XI, danchimviet.info

Đại hội đèn cù lần thứ XI © Đàn Chim Việt

[2] Bàn về phản động, Nguyễn Bặc

[3] Báo cáo vị báo cáo

[4] Cách đây 65 năm, chính tớ đã đi bầu! blog Tô Hải

[5] Đại hội ù lì trâng tráo, Ngô Nhân Dụng

Các bài liên hệ:

Chứng quên tập thểCollective Amnesia and Rhetoric of Mobilized Participation

Tôi là người Việt Nam

Chúng tôi (Tự trào – Trí Thức – Tâm Tài)

Những cái nhập nhằng không tênThe Unspoken Ambiguities

Thời cửu vạn, ôsinThe Age of Day Laborer and Housemaid

Lết tới “thiên đường”

Bịt miệng nạn nhân

Tháng Tư Câm

Phản bội hay trung thành với lý tưởng?

Giáp Văn Dương – Báo cáo vị báo cáo

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Việt Nam on 2011/01/14 at 01:26

Những báo cáo và chiến lược quan trọng nhất của đất nước, thay vì đi thẳng vào giải quyết những vấn đề nóng bỏng của đời sống, lại chỉ tập trung tô vẽ cho chính mình để đạt đến độ “hoàn hảo giả tạo”, trở thành những Báo cáo vị báo cáo, Chiến lược vị chiến lược nên khô cứng sáo mòn và xa lạ với cuộc sống. Tính bất khả thi của những báo cáo và chiến lược này vì thế là tất yếu.

Đọc lại những văn bản quan trọng nhất của đất nước trong thời gian gần đây, dù đã được trình hoặc đang ở dạng bản thảo lấy ý kiến của nhân dân, thì cảm tưởng sáo mòn, xa rời cuộc sống dội lên đến tận cùng. Cụ thể là những lập luận, nhận định, định hướng… thường không có cơ sở và logic chặt chẽ, quá đỗi chung chung và sáo mòn đến mức nhàm chán.

Từng câu từng đoạn khi để tách rời thì rất đúng, rất khó bắt bẻ nhưng khi kết hợp lại thành một tổng thể thì như một cái xác không hồn và lộn xộn đến mức khó chấp nhận. Đơn cử như trích đoạn trong “Dự thảo chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011-2020”, một văn bản đang được trình lấy ý kiến của nhân dân như sau:

Diện mạo của đất nước có nhiều thay đổi. Thế và lực của đất nước vững mạnh thêm nhiều; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên, tạo ra những tiền đề quan trọng để đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.
Đạt được những thành tựu nêu trên là nhờ phát huy được sức mạnh toàn dân tộc, sự nỗ lực phấn đấu vượt bậc, năng động sáng tạo của toàn dân, toàn quân, cộng đồng doanh nghiệp và của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự quản lý điều hành có hiệu quả của Nhà nước.
Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng. Kinh tế phát triển chưa bền vững, chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, các cân đối kinh tế vĩ mô chưa thật vững chắc. Huy động và hiệu quả sử dụng các nguồn lực còn hạn chế. Tăng trưởng kinh tế còn dựa nhiều vào các yếu tố phát triển theo chiều rộng, chậm chuyển sang phát triển theo chiều sâu. Các lĩnh vực văn hoá, xã hội còn nhiều bất cập, một số mặt còn bức xúc. Môi trường ở nhiều nơi đang bị ô nhiễm nặng. Thể chế kinh tế thị trường, chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng vẫn là những điểm nghẽn cản trở sự phát triển. Nền tảng để Việt Nam trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại chưa được hình thành đầy đủ. Vẫn đang tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn định chính trị – xã hội và đe dọa chủ quyền quốc gia.

Người đọc có lý trí bình thường, khi đọc đoạn văn bản này không khỏi có ý nghĩ về logic của văn bản và trình độ của những người soạn thảo:

• Nếu “Diện mạo của đất nước có nhiều thay đổi. Thế và lực của đất nước vững mạnh thêm nhiều…” thì vì sao “Các lĩnh vực văn hoá, xã hội còn nhiều bất cập, một số mặt còn bức xúc. Môi trường ở nhiều nơi đang bị ô nhiễm nặng”? Thay đổi ở đây, như vậy, là thay đổi gì?

• Nếu đã “phát huy được sức mạnh toàn dân tộc, sự nỗ lực phấn đấu vượt bậc, năng động sáng tạo của toàn dân, toàn quân, cộng đồng doanh nghiệp và của cả hệ thống chính trị” thì vì sao “kinh tế phát triển chưa bền vững, chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, các cân đối kinh tế vĩ mô chưa thật vững chắc”? Sức mạnh toàn dân tộc, năng động sáng tạo của toàn quân toàn dân, cộng đồng doanh nghiệp và cả hệ thống chính trị có lẽ nào chỉ mang lại những kết quả yếu kém như trên? Nếu đúng thì dân tộc, cộng đồng doanh nghiệp và hệ thống chính trị đó cần xem lại mình. Còn nếu sai thì nội dung của đoạn trích dẫn trên là hoàn toàn vô nghĩa.

• Nếu đất nước được vận hành “dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự quản lý điều hành có hiệu quả của Nhà nước” thì vì sao “những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng”, “sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, các cân đối kinh tế vĩ mô chưa thật vững chắc”, “các lĩnh vực văn hoá, xã hội còn nhiều bất cập, một số mặt còn bức xúc”, “môi trường ở nhiều nơi đang bị ô nhiễm nặng”? Sự lãnh đạo như vậy có được gọi là đúng đắn, sự quản lý như vậy có được gọi là hiệu quả?

• V.v…

Chỉ một đoạn văn bản ngắn như vậy mà đã chứa vô số những lập luận và nhận định lủng củng thì cả một văn bản dài, chưa kể hàng trăm văn bản mang tính chỉ đạo khác sẽ ra đời từ văn bản này, sẽ chứa đựng biết bao nhiêu củng lủng lầm sai?

Giật mình: Đây là một đoạn trong một văn bản quan trọng bậc nhất của đất nước hiện nay: Dự thảo chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011-2020. Nếu văn bản này được thông qua, trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động quản lý và điều hành đất nước trong 10 năm tới thì hậu quả sẽ như thế nào?

• Sẽ đẻ ra một đất nước lủng củng và phi logic như đoạn văn bản đã trích dẫn ở trên?

• Và để đối phó với những lủng củng phi logic đó, sẽ lại ra đời hàng trăm văn bản lủng củng phi logic khác để hợp thức hóa, logic hóa những lủng củng và phi logic đã có?

• Và một hệ thống phương tiện đủ loại đủ kiểu sẽ đi vào hoạt động hết công suất để đảm bảo cho việc hợp thức hóa, logic hóa được thành công?

• Và để chấp nhận chúng, con người phải được huấn luyện để trở thành lủng củng và phi logic một cách tương ứng?

• Nếu không, họ sẽ phải làm gì? Tự cắt bỏ khả năng tư duy và cảm nhận để trở nên vô cảm hay sẽ lao vào bài bạc, vũ trường, thuốc phiện… để quên đi cái lủng củng và phi logic của thực tế?

• Một xã hội suy đồi và một đất nước suy vong khi đó có còn xa?

Nhức nhối:

1. Chúng ta sẽ đi về đâu dưới sự chỉ dẫn của những chiến lược này?

2. Chúng ta phải làm gì với mớ bòng bong này?

Giáp Văn Dương
10-2010

Nguồn: Bauxite Việt Nam



Phó thường dân (3): Sợ

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2010/12/25 at 00:30

Vietsoul:21

Thời gian trôi qua hơn 35 năm tôi mới dám nghĩ lại đến phận đời phó thường dân của mình. Chuyện cũ, chuyện mới, chuyện ngắn, chuyện dài, chuyện bên ni, bên nớ.

Tiến trình giải thực tâm thức nô lệ không phải một sớm một chiều. Cái vòng kim cô nô dịch vô hình trên đầu thì khó gỡ hơn là cái xiềng xích nô lệ chân tay.

(tiếp theo kỳ trước: (1) Anh tám hồ hởi(2) Nội-thực-dân)

Sợ

For we have been socialized to respect fear more than our own needs for language and definition, and while we wait in silence for that final luxury of fearlessness, the weight of that silence will choke us.

Vì chúng ta bị điều kiện hóa để coi trọng nỗi sợ hãi hơn nhu cầu cất tiếng nói và khẳng định cho chính mình do đã sống quá quen thuộc với nó (một nền văn hóa sợ hãi), nên trong khi câm lặng chờ đợi lòng dũng cảm đầy xa xỉ cuối cùng ấy đến thì sức nặng của nỗi câm lặng ấy sẽ xiết ngạt chúng ta.

Audre Lorde, “The Transformation of Silence into Language and Action”, Sister Outsider (40-44)

Gần đây có nhiều bài viết bàn về cái sợ. Giới phó thường dân như tôi thì quá quen thuộc với nó. Sợ đủ mọi chuyện, mọi chỗ, mọi ngày.

Ai ai cũng nghĩ sợ là bản năng sinh tồn (survival instinct) của mọi sinh vật. Charles Robert Darwin thì đã từng cho rằng sự sinh tồn thuộc về con thú mạnh với thể chất tối ưu (survival of the fittest) là một luật tiến hóa của tự nhiên. Để sinh tồn thì ai cũng cần phải biết thích nghi với luật tự nhiên này. Trong cùng một loài thì con bé bao giờ cũng sợ con lớn. Cá bé hay sợ cá lớn vì vốn dĩ “cá lớn nuốt cá bé”. Không mạnh đủ thì sẽ sợ mà chạy trốn trước. Con thú bé (yếu) dĩ nhiên co giò chạy trước so với con thú lớn (mạnh) hơn, ngoại trừ khi con thú nhỏ này qua quá trình tiến hóa đã phát triển được các khả năng tấn công lại hoặc kỹ năng phòng vệ khác.

Sợ trong bản năng sinh tồn là yếu tố thuận lợi.

Thứ đến, sợ là một phản ứng có điều kiện mang yếu tố tâm lý. Nỗi sợ trở thành một phản xạ tự nhiên không riêng xảy đến với cá nhân mà còn ở tầng lớp tập thể, cộng đồng, và dân tộc. Ở mỗi cá nhân, sợ trở thành quen thuộc được coi như hơi thở trong cuộc sống do học hỏi từ xã hội nhiều hơn kinh nghiệm bản thân. Ở tầng lớp tập thể và cộng đồng, sợ trở thành quen thuộc qua học hỏi trao đổi ở sinh hoạt địa phương. Ở tầm vóc quốc gia, sợ trở thành quen thuộc như cơm bữa sau nhiều năm tiếp cận với các vận động tuyên truyền trong các lãnh vực văn hoá, chính trị, và lịch sử mang vẻ trau chuốt mỹ miều và tính lô-gíc bề ngoài. Cái sợ của mỗi cá nhân do đó thành kết quả tích tụ của ba tầng sợ hãi: cá nhân, cộng đồng, và quốc gia.

Sợ trong phản ứng có điều kiện là yếu tố bất lợi.

Không có ai mà không sợ gì cả. Khi người ta nói “có những người không biết sợ” thì thực ra người ta ám chỉ rằng những người đó đã vượt qua nỗi sợ trên một lãnh vực nào đó. Vì những anh hùng không sợ chết thật ra là những người vẫn biết sợ cái chết, nhưng chấp nhận chuyện trao đổi mạng sống mình cho một điều gì đó lớn hơn (cho chân lý, vì tổ quốc), hoặc trao đổi mạng sống mình thay vì phải sống mãi với một nỗi sợ lớn hơn (sợ sống nhục, sống hèn).

Phó thường dân là những người sống lẩn quẩn trong ba tầng sợ hãi. Họ có thể vượt qua được những sợ hãi riêng cá nhân hoặc tập thể cục bộ nhưng thật khó thoát khỏi cái sợ lớn xuất phát từ và của cả một dân tộc.

Chẳng hạn bản thân cá nhân phó thường dân trong phạm vi gia đình có thể sợ vợ, tuy nhiên sống với sợ (vợ) lâu ngày cũng dần dà trong sáng tạo tự trọng để biết cách uyển chuyển đối phó và vượt qua nỗi sợ “bà”. Phó thường dân sống nhiều năm ở tỉnh lẻ dạt lên thị thành có thể cũng có nhiều nỗi sợ (vô lối): sợ lạc đường, sợ bị gạt, sợ bị dụ dỗ, sợ bị chê cười kiểu “le nhaque”. Ngay ở quê thì đã phải sống trong nhan nhãn sợ hãi vì “chuyện thường ngày ở huyện”. Điển hình nhất là sợ công an, sợ quan quyền, sợ đảng bộ, và sợ hơn cả là cái thằng “cơ chế”. Công an, quan quyền, đảng thì còn có mặt có tên có thực thể chứ cái thằng cơ chế thì chẳng biết hình dạng mặt mũi nó ra sao, hay ở đâu. Vô hình, vô dạng nhưng lúc nào nó cũng lù lù bất thần làm kỳ đà cản mũi “làm việc” và “làm luật” ở khắp mọi nơi.

Dân tộc Việt Nam vừa thoát ra khỏi gông cùm nô lệ thực dân chưa đủ thời gian và cơ hội giúp cho tâm thức được giải thực thì lại vướng vào còng nô lệ “chuyên chính vô sản” của Đảng toàn trị CSVN. Từ chỗ sợ ông Tây thực dân chuyển sang sợ “ông” cán bộ. Qua cải cách ruộng đất hằng hà sa số các địa chủ, tiểu nông, tư sản, thương gia, trí thức tất tật trở thành phó thường dân. Chỉ còn mỗi giai cấp nông dân được đi tàu bay giấy phong cho làm chủ tập thể các hợp tác xã, gõ kẻng đi làm công nhật. Riêng cán bộ là đầy tớ nhân dân nên đi đến đâu cũng phải được cung phụng. Một giai cấp “đầy tớ nhân dân” được sinh sản bỏi Đảng chuyên chính vô sản để thừa hưởng bổng lộc thống trị.

Đảng buộc mọi người dân tuân thủ “xếp hàng cả ngày” để tiến lên (xếp hàng cả ngày thì có nhúc nhích được bao nhiêu mà tiến lên?) thiên đường cộng sản. Mọi thứ đều được phân phối qua tem phiếu theo “tiêu chuẩn”. Phó thường dân, thành phần “có vấn đề”, thì sẽ được gạn lọc cho hoặc ở ngoài biên chế, hoặc nằm ở tiêu chuẩn đầu cá, đuôi tôm. Sự gạn lọc dựa tiêu chuẩn tạo nên nỗi sợ ĐÓI. Mà đã đói thì cái đầu lú la, lú lẫn, chẳng suy nghĩ được điều gì khác ngoài việc hướng tới làm thế nào để kiếm ra miếng ăn.

Tiến đến thời kỳ “đổi mới” và “kinh tế thị trường” thì có đúng là người dân hẵn đã thoát ra nỗi sợ đói? Họ được “cởi trói” không lệ thuộc vào hợp tác xã, vào chế độ biên chế nhưng phải chăng họ đã thoát hẳn ra cái cơ chế “định hướng xã hội chủ nghĩa” lăng quăng luồn mình vào tư bản đỏ hoang dã? Nỗi sợ ĐÓI được thay thế bằng nỗi sợ bất an về VIỆC LÀM. Những người cửu vạn, ô sin, những người làm cơ xưởng luôn luôn chịu áp lực bị mất việc (unemployment) và thiếu việc (under-employment). Những nô-lệ-thời-hiện-đại (modern-day slaves) này không được bảo vệ qua cơ chế công đoàn độc lập/tự do hoặc chính sách bảo hiểm lao động. Thu nhập lương bổng giới hạn của họ không chạy theo kịp lạm phát phi mã, giá cả hàng tiêu thụ tăng chóng mặt, cũng như các phí tổn giáo dục, y tế, và nhà cửa căn bản.

Đảng đòi hỏi cá nhân phải “đấu tranh tư tưởng” (tự tẩy não), tự kiểm điểm (tự dối trá, tự nhục hình)1 , tự động khai báo lí lịch (phân biệt giai cấp). Cùng lúc thì Đảng xây dựng tổ chức cơ quan công an, an ninh mật vụ làm tay sai và công cụ để Đảng tiện áp chế người dân và nhất là lớp phó thường dân. Đảng sử dụng những hình thức nô dịch hoá con người này để tạo nên những nô lệ biết sợ và biết phục tùng. Đảng o ép những phó thường dân đã nhỏ bé này ngày càng teo lại đến độ họ không còn ứng xử bình thường với chút tự trọng bình thường. Dần dà lâu ngày tâm thức những con người này trở thành dị dạng. Họ không thể làm người tử tế trong một xã hội vô nhân đạo, xã hội của những tên đạo đức giả (đạo đức nô lệ tinh thần HCM), của những con ông cháu cha ăn trên ngồi trốc.

Đảng đặt các cơ cấu nhà nước dưới sự “chỉ đạo” của bộ chính trị và trung ương Đảng. Tất cả mọi cơ cấu ở trong tình trạng án binh bất động nếu chưa có sự “chỉ đạo”, và ngược lại họ có thể làm tất cả mọi điều bất kể luật lệ khi đã được lệnh “miệng”. Họ chỉ sợ bị mất “ghế” chứ không hề sợ luật pháp. Câu nói đầu môi “Luật là tao” và đám phó thường dân mày thì phải sợ tao. Thế nên cả nước đều sợ bị “làm luật” trong khi thiểu số con ông cháu cha thì luôn bất chấp luật pháp. Những người “làm luật” là những người vi phạm và chà đạp luật pháp hơn ai hết.

Tất cả những móc xích nỗi sợ này sau khi thuần quen với chuyển động cơ của chính sách nô dịch đặt để lên người dân đã tạo vết ấn tâm thức nô lệ, ăn mày. Người dân trở thành người nô lệ cho đám nội-thực-dân Đảng CSVN.

Có những người sợ để sống. Có những người sống biết sợ.

Ai mà chẳng sợ. Phải chăng điều khác biệt là sợ để mà sống (hèn/nô lệ) hay sợ nhưng sống (thật/tự do). Nhà văn Trần Dần đã nói rằng vì biết sợ nên mới sống. Nhà văn Dương Thu Hương và nhà văn Võ Thị Hảo đã nói nhiều về những nỗi sợ này. Họ đã nhắn nhủ rằng thật ra không nên sợ quá đáng và hãy sống thật tự nhiên như hơi thở. Hơi thở thì không bao giờ là một phản ứng có điều kiện.

Hãy thử nhìn một người gần gũi có thể tiếp cận được như Mẹ Nấm và không ít những người khác biết sợ nhưng vẫn sống thật. Tôi đồng cảm với hoàn cảnh của mẹ Nấm lúc cô ấy phải viết lời khai từ bỏ việc viết lách của mình vì sợ cho con và cho bản thân. Mẹ Nấm biết sợ nhưng mẹ Nấm phải sống thật với chính mình. Cô ấy vẫn đang viết đang nói dù vẫn có nỗi sợ bị bắt bớ. Nhà thơ Hữu Loan sợ những đồng chí phản thùng của mình và sợ cả cái đảng vô nhân nên bỏ về quê thồ đá tự mưu sinh để không dây vào với đám hủi. Ngay cả nhà đấu tranh dân chủ Lưu Hiểu Ba cũng sợ vì cảm thấy tội lỗi khi để những người thân thuộc bị quấy nhiễu, đàn áp bởi nhà nước độc tài TQ. Nhưng những người nêu trên không thể làm điều khác hơn là sống thật. Họ nhắc nhở chúng ta nên giữ lại chút tự trọng của con người để sống thật và không nên sợ quá đáng.

Bộ Chính Trị, Trung Ương Đảng, nhà nước CSVN ứng xử như những kẻ sợ để sống (với nước láng giềng lớn Trung Quốc). Nỗi sợ vượt tầm quốc gia này thẩm thấu vào xã hội, ăn sâu vào mọi cơ cấu truyền thông, phân bộ ngoại giao, guồng máy quân đội, công an. Cơ cấu truyền thông không dám thông tin sự thật, và tự kiểm duyệt hoặc nói theo mệnh lệnh từ trên đưa xuống. Bộ máy công an bạo lực tha hồ đàn áp người dân thì tự bảo họ rằng “còn Đảng còn mình”. Bộ ngoại giao thì phát biểu lấy lệ cho có, chỉ phát biểu nội bộ với dân mình, nói kiểu huề vốn, chứ không dám đứng thẳng cột xương sống lên tiếng đáp lại người láng giềng ngang ngược. Người dân bị cấm đoán, không được phép có phản ứng nào trước nỗi sợ vượt tầm quốc gia này—một nỗi sợ tạo tâm lý trầm uất da diết với nỗi buồn nhược tiểu. Người dân dù phẫn uất vẫn không được phép tỏ lộ phản kháng.

Phó thường dân chúng ta cần một cuộc giải phóng—một phong trào giải thực tâm thức vượt thoát nô lệ sợ hãi nô lệ tư tưởng để sống như một con người có quyền làm người, có quyền công dân trong tự do, dân chủ.

Làm thế nào?

Ý thức là chìa khóa.

Ta phải phản kháng dù sợ, dù tiếng nói mình vẫn còn run rẩy vì “khi ta câm lặng ta vẫn ôm nỗi sợ”.2

Phản kháng những việc nhỏ nhất trong tầm tay, trong khả năng. Mở miệng. Động não. Khởi tâm. Chúng ta phải tự chuyển biến mình từ những người đứng bên lề thành những nhân chứng trong cuộc. Chúng ta phản kháng bằng cách trở thành nhân chứng khi mục kích những ai bị áp bức, bất công. Không dửng dưng, không đứng bên đường mặc kệ những sai trái trước mắt. Thấy người ngã, nâng đỡ và vực họ dậy. Thấy người bị bịt miệng, lắng nghe với tấm lòng và lên tiếng cùng với họ.

Những ai không thực hiện những hành động phản kháng, dù có vẻ nhỏ bé tới đâu hay xem chừng không đáng kể gì, là người đồng lõa mang tội dung dưỡng để cho những tội lỗi này tiếp tục diễn ra. Những ai tự lừa dối bằng cách không hành động gì cả để tin mình là kẻ ngây thơ vô trách nhiệm. Họ thật ra không phải vô tội.3

© 2010 VietSoul:21

[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu – (8) Gió mưa là chuyện của trời … – (9) Vô liêm sỉ – man rợ – (10) Phế-anh-hùng – (11) Luật Lệ(nh) … – (12) Nhà em có nuôi một con két … – (13) Cái nhà là nhà của ta … – (14) Mèo – thỏ – (15) phố vẫy …]


Chú Thích:

[1] Một người Việt Nam cả đời kiểm điểm, Yên Ninh, danlambao.com

[2] Kinh cầu cho sự sống còn (Litany for survial), Audre Lorde, trong tuyển tập thơ “the black unicorn”

[3] “Happy as a hangman” (Hạnh phúc như tên đao phủ), Chris Hedges, Truthdig Op-ed, Dec 06, 2010

“Those who do not carry out acts of rebellion, no matter how small or seemingly insignificant, are guilty of solidifying and perpetuating these crimes. Those who do not act delude themselves into believing they are innocent. They are not.”

Các bài liên hệ:

Chứng quên tập thểCollective Amnesia and Rhetoric of Mobilized Participation

Tôi là người Việt Nam

Chúng tôi (Tự trào – Trí Thức – Tâm Tài)

Những cái nhập nhằng không tênThe Unspoken Ambiguities

Thời cửu vạn, ôsinThe Age of Day Laborer and Housemaid

Lết tới “thiên đường”

Chúng tôi (Tự trào – Trí Thức – Tâm Tài)

Tôi là người Việt Nam

Bịt miệng nạn nhân

Tháng Tư Câm

Phản bội hay trung thành với lý tưởng?

phó thường dân (2): nội-thực-dân

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2010/11/24 at 10:56

Vietsoul:21

Thời gian trôi qua hơn 35 năm tôi mới dám nghĩ lại đến phận đời phó thường dân của mình. Chuyện cũ, chuyện mới, chuyện ngắn, chuyện dài, chuyện bên ni, bên nớ.

Tiến trình giải thực tâm thức nô lệ không phải một sớm một chiều. Cái vòng kim cô nô dịch vô hình trên đầu thì khó gỡ hơn là cái xiềng xích nô lệ chân tay.

(tiếp theo kỳ trước: (1) Anh tám hồ hởi)

Thực dân, nô lệ, ăn mày (tựa đề một bài viết của Nguyễn Hoàng Văn)

Qua đến thời “kinh tế thị trường” và “định hướng xã hội chủ nghĩa” này thì số phó thường dân không giảm đi nhưng ngược lại nó tăng vụt một cách chóng mặt.

Ở bên nớ, nông dân không chuyên nghề ở nhà gặp nhiều “sự cố ở huyện” quá đỗi nên rủ nhau biệt xứ. Họ thế chấp nhà cửa mua vé đi lậu, đi chui làm người rơm, người rừng cho bọn tư bản đế quốc dẫu viễn xứ gian truân, khó khăn trăm bề nhưng có lẽ còn có thể kiếm ăn hơn là chịu nhục chịu đói làm phó thường dân ở làng xã.

Dân có học thì cũng chẳng khấm khá gì. Chỉ cần tư duy độc lập không chịu làm con cừu đi theo lề phải là bị đạp xuống thành phó thường dân ngay. Ngó qua ngó lại thì cả nước chứ chẳng phải nông dân, công nhân, trí thức gì gì đều là phó thường dân[1] dưới cái chính quyền nô dịch này.

Đảng CSVN cầm quyền (cầm tiền) ở Việt Nam càng ngày càng lộ cái dị dạng hai đầu: vừa mang dấu ấn nội-thực-dân trong cơ chế độc tài đảng trị, vừa trao thân cho tân-thực-dân (neocolonialist) dưới chiêu bài “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.”

Các điều khoản trong Hiếp Pháp nhà nước XHCN Việt Nam như “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai” (Điều 18 Hiến Pháp 1992), “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” (Khoản 1 Điều 5 Luật Đất Đai) là hình thức che đậy cho quyền xử dụng trong tay thiểu số tập đoàn cai trị tung hoành cướp đất đồng bào[2].

Qua cơ chế độc tài đảng trị, bọn nội-thực-dân khai thác tài nguyên quốc gia, bán tháo bán đổ, sang nhượng cho thuê bất kể tác hại đến an ninh và môi sinh, ảnh hưởng nghiêm trọng công ăn việc làm, và tước đoạt phương tiện sinh hoạt kinh tế của người dân.

Dưới chiêu bài “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” thì ngân sách quốc gia được đút vào các tập đoàn, tổng công ty doanh nghiệp nhà nước (DNNN), điển hình là Vinashin. Từ đó những “ông chủ trá hình” tha hồ tùy tiện xử dụng và biển thủ nguồn tài chánh này (thuế từ dân chúng, tài nguyên quốc gia, kiều hối, vay mượn nợ ngân hàng quốc tế). Với phương thức văn vẻ “cổ phần hoá” (equitization), tài sản công cộng bỗng dưng biến mất dưới bàn tay phù phép và lọt vào túi những tên tư bản đỏ nằm trong tập đoàn chính trị đầu sỏ (oliarchy)[3].

Mặt khác, cái tập đoàn chính trị đầu sỏ đấy lại hành xử như những người nô dịch thời thuộc địa. Họ chưa (muốn) biết làm thế nào để thoát ra được cái tâm thức nô dịch dù đã đánh đuổi được thực dân Pháp ra khỏi nước. Vì thế các ông “đầy tớ nhân dân” với quyền lực tuyệt đối nhưng sống trong trạng thái tâm lý của kẻ vừa là nội-thực-dân vừa là tên nô dịch cho tân-thực-dân.

Họ vừa ở trong trạng thái trầm uất (depression) tự ti ngu dốt, thiếu khả năng hơn các chủ nhân ông tân-thực-dân, vừa huyên hoang trong chứng bệnh vĩ cuồng vị kỷ (narcicisstic grandiosity)[4]. Vĩ cuồng trong những đề án hoang tưởng Vinashin, dự án đường sắt cao tốc, và công trình lễ hội Ngàn Năm Thăng Long.

Họ hăm hở nhại lại những gì các nước Âu Mỹ thành công để tưởng rằng mình “Cũng ngang hàng với người ta, cũng nói năng đúng mức đàng hoàng …”[5] Họ biển thủ, trộn cắp muốn mua lấy phú quý, vinh quang nhưng vẫn chung quy phường mèo mả, gà đồng.[6]

Hoang tưởng vĩ cuồng cho mình chỉ cần (ăn ba đấu gạo) đổ bao nhiêu công phiếu, nợ nần vào Vinashin là vươn vai Phù Đổng trong khi trình độ kỹ thuật chưa làm được một con ốc đủ tiêu chuẩn công nghệ cao.

Hoang tưởng vĩ cuồng khi nghĩ rằng chỉ cần vay nợ (đời con đời cháu cũng chưa trả hết) làm đường sắt cao tốc là trở thành tân tiến trong khi hệ thống đường sắt cổ lỗ sỉ xuống cấp, vẫn còn lưới sắt chống đá, vẫn còn đổ phân xuống đường rày, và vẫn còn những đàn bò đi trên/ngang qua quốc lộ cao tốc.

Hoang tưởng vĩ cuồng trong khi người dân thiếu đất trồng trọt, không đủ nhà ở thì lại quy hoạch (đầu cơ địa ốc) xây dựng các sân golf, casino, và resort phục vụ những con ông cháu cha, những tân-thực-dân ngoại kiều và Việt kiều.

Mọi thứ đều hoành tráng bên ngoài và tạm bợ nhưng rỗng tuếch bên trong. Họ không hiểu rằng những phương tiện hào nhoáng bên ngoài này không mua được bản chất và cốt cách bền vững lâu dài.

Điều căn bản đáng cần làm là xây dựng hạ tầng cơ sở từng bước một vững chắc (không theo kiểu đầu voi đít chuột, nay làm mai sửa, càng sai càng sửa, càng sửa càng sai) cụ thể như nâng cao mức sống người dân (không theo kiểu từ cao nhỏ giọt xuống – “trickle-down”, làm đầy tớ cho người); nâng cao dân trí (giáo dục miễn phí, tự do ngôn luận và phản biệt) thì không thấy quan tâm.

Không một mảy may đầu tư vun xén cho hạ tầng cơ sở được vững chải mang tính sách lược và hệ thống hóa. Chỉ thấy “phát triển” ngoài da như đi trên mây chẳng bao giờ chạm chân chấm đất.

Nào là xây nhà quốc hội hoành tráng cho đa số nghị ông, nghị bà bù nhìn, gật gù cho đúng khuôn mẫu “dân chủ” kiểu “Đảng ta”. Không thấy xây nhà xí[7], xây thư viện hay lắp cầu[8] qua sông cho người nghèo đi lại, hay học sinh có phương tiện đến trường sinh hoạt căn bản. Chỉ thấy thụ động chờ xem những ai không thể bịt mắt trước đau khổ nhọc nhằn của đời phó thường dân, góp công góp của, và xắn tay vào thực hiện thì “thiên tài” Đảng ta cướp công lấy điểm là nhà nước rất “no”. Nếu không phải là một hình thức nội-thực-dân chỉ cốt phục vụ cho tập đoàn chính trị đầu sỏ và đám ăn theo thì gọi là gì?

Theo ông Memmi[9] thì tâm lý của kẻ thực dân là luôn coi mình có văn minh, tiến bộ, bậc thầy của người bị trị.

Phong tác thực dân luôn nhập vai vào người đô thị, thời thượng. Kiểu cách thực dân thì đương nhiên được nâng cao và phục vụ bởi người nghèo khó túi vá áo ôm. Những người bị cho là “thiếu văn hoá, văn minh” này đa phần xuất thân từ vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Họ bị bần cùng hoá và phải đổ ra đô thị làm cửu vạn, ôsin.

Họ sa vào đường cùng khi phương tiện sinh hoạt kinh tế nông thôn thì đã dần co hẹp do mất đất mất nhà, chi phí sản suất thì vụt cao, giá cả nông sản thì bị dìm ẻm, và thu nhuận của họ không đủ sống qua ngày trong khi lạm phát càng lúc càng gia tăng.

Một số khác đành phải gia nhập đội ngũ công nhân hạng bét cho các cơ xưởng sản xuất xuyên quốc gia (transnational). Họ được gián tiếp huấn luyện trở thành nô-lệ-thời-hiện-đại phục vụ cho giới thống trị toàn cầu.

Đám tân-thực-dân thông đồng với giới thống trị toàn cầu này rất thính hơi với lợi nhuận. Họ nhanh chóng và thường xuyên di dịch từ đô thị này sang đô thị khác tìm mồi. Họ hớt nước cốt trong nồi súp, rồi ra vẻ tử tế thương hại để lại phần xương xẩu sót dưới đáy nồi cho người địa phương. Việt Kiều, Ngoại Kiều thì có khác gì. Cả hai đều hối hả chung tay vào khai thác và nô lệ hoá giới lao động bần cùng.

Ở bên ni, người có học được tiếp xúc với nền văn hóa Âu Mỹ thì đã không ít kẻ bị mờ mắt với nền khoa học, kỹ thuật tân tiến. Trí thức hải ngoại dù cánh tả hay cánh hữu cũng đều dễ bị lôi cuốn vào diễn luận trọng Âu (eurocentrism). Con đường này không chóng thì chày cũng dẫn đến góc tối thực-dân-mới.

Giới có học biết đòi hỏi quyền lợi cho bản thân nhưng lại rụt rè trong việc đòi dân quyền và công bằng cho tha nhân. Họ tậu công ăn việc làm, đạt an sinh cá nhân trong môi trường tự do tương đối và an thân trong vị trí đó.

Họ tự viện cớ ứng xử nhiều kiểu khác nhau để âm thầm trương bảng “không tham gia chính trị” như thể đó là một phạm trù có thể khoanh vùng và cô lập ra khỏi cuộc sống. Họ là những người tự nguyện làm công dân hạng hai, sẵn lòng làm phó thường dân, và chưa dám làm một công dân thực thụ trong xã hội dân chủ phương Tây.

Họ giữ im lặng, chẳng hề lên tiếng hoặc xác định vị thế chính trị nào trước các chính sách kỳ thị về di trú hay bất công trong vấn đề dân quyền, nhất là khi cân nhắc và biết tác động của các chính sách này không ảnh hưởng trực tiếp tới mình. Họ giữ im lặng dù biết các chính sách này vi phạm nhân quyền gây nhiều thương tổn cho các sắc dân hoặc tôn giáo thiểu số mà mình cùng sống chung.

Sự im lặng đáng ngạc nhiên. Vì chính mình tự kiểm duyệt mình trong một hoang tưởng an toàn như con cừu đang đứng giữa được bao bọc bởi bầy đàn và để mặc cho đồng loại bị cắn xé ngoài rìa. Họ muốn lặng lẽ quên gốc gác màu da của mình. May thay cũng có những người không im lặng (Đừng bảo tôi im vì bạn im).

Cũng có người ngụy biện theo chước khác. Họ dùng cái “thinh lặng của thiền định nhà Phật” để lẫn tránh vào nơi an trú. Cái thinh lặng sấm sét truớc kêu gào, rên siết. Họ không thèm hiểu hay quên hẳn rằng một số quyền và tự do tương đối họ đang hưởng là kết quả từ những đấu tranh và hy sinh của nhiều công dân đi trước – những người đã can đảm thực hiện quyền công dân thực thụ. Họ sống ẩn với triết lý và học đường tại vị, che mắt bịt tai để không phải mục kích thảm kịch dành cho giới lao động chân tay và phục dịch – một khối tuy rất đông nhưng sống trong sợ hãi chỉ lo đến miếng cơm manh áo.

Trong khi đó, bộ máy truyền thông bảo thủ được tài trợ bởi giới tài phiệt tư bản xuyên quốc gia biết cách chế ngự đám đông làm nỗi sợ này ngày càng gia tăng. Guồng máy này tiếp tục ra rả đem ông ngáo ộp thất nghiệp dọa dẫm giới lao động.

Tập đoàn tư bản nắm cái cán dao việc làm vung qua vung lại rêu rao đe dọa đóng cửa cơ xưởng, xuất khẩu việc làm, và cắt giảm lương bổng. Chúng đòi được lợi tức tối đa, miễn thuế dài hạn, và giảm bỏ các luật lệ kiểm soát an toàn để tự do tung hoành trong sản xuất.

Giới lao động và công đoàn thất thế, chịu bị ép buộc vào những điều kiện bất lợi. Chỉ vì mong có được việc làm trước mắt nên họ dễ dàng thuần phục theo diễn luận tân-tự-do (neo-liberalism) đánh vào nhược điểm tâm lý mình. Họ hiểu mơ hồ nghe theo ủng hộ các biện pháp có điều kiện bất lợi về lâu dài cho chính họ mà lại vô cùng thuận lợi cho giới chủ nhân ông.

Cả hai giới lao động tri thức và chân tay đều ít lên tiếng phản kháng chống cự vì thói quen cố hữu với phận tôi đòi, hay tránh né sợ sệt ảnh hưởng đến việc làm hay quyền lợi riêng (dù là ảo tưởng và chẳng là bao).

Người ta có thể đưa quốc gia ra khỏi vòng thuộc địa nhưng chưa hẳn là đã đem tâm thức thuộc địa ra khỏi quốc gia.

Những người sinh ra và lớn lên ở VN thời thuộc địa và hậu thuộc địa dù không ít thì nhiều vẫn giữ lại tâm thức người thuộc địa. Một số người ham muốn tranh giành quyền lợi vẫn tiếp tục ôm lấy lề thói xin-cho trong tương tác với quyền lực chính thống cho dù đã rời VN trước đây rất lâu.

Họ xun xoe xin xỏ, chọn lựa bon chen tâng bốc chức sắc chính quyền các cấp. Họ không dám đòi hỏi quyền được tôn trọng và công nhận chính danh sự hiện hữu của cộng đồng. Họ phò tá thay vì chỉ xem những viên chức chính quyền là người phục vụ[10] dân và đáp ứng nhu cầu của người công dân. Rốt cuộc, những người đồng hương lờ mờ của họ chỉ được ăn cái bánh vẽ.

Giới thanh thiếu niên Mỹ gốc Việt sinh ra hoặc lớn lên (lúc còn bé) tại hải ngoại thì lại là một hiện tượng khác. Mặc dù họ không bị vướng tâm thức nô lệ thuộc địa nhưng lại kẹt mắc vào ứng xử suy nghĩ thông đồng với diễn luận Trắng (Whiteness)[11]. Một diễn luận tạo tầng lớp nô lệ khác, đặc thù là nô lệ văn hoá.

Thực dân thì lắm dạng và nô lệ có nhiều kiểu.

Bản tuyên ngôn nô lệ ra đời (phê chuẩn và phổ biến) ngày 1 tháng 1 năm 1863. Nhưng 100 năm sau người Mỹ da đen qua phong trào dân quyền (civil rights movement) vẫn còn phải tranh đấu không ngừng để đòi hỏi những quyền tự do căn bản cho mình. Họ cũng chưa hẳn đã đạt được trọn vẹn quyền làm người bình đẳng bất khả xâm phạm này.

Mục sư Martin Luther King, Jr. từng kêu gọi người Mỹ da đen phải can đảm phải quyết tâm vực dậy tự thảo cho chính mình bản tuyên ngôn giải phóng nô lệ bản thân[12]. Ông nhắc họ – những tâm hồn nô dịch và tư tưởng bị thống trị không cần gươm đao – rằng không một bản tuyên ngôn giải phóng nào có thể cắt đứt, xóa bỏ những móc xích nô lệ ngoại trừ ý thức và ý chí từ mỗi người.

Chúng ta, những người Việt trong và ngoài nước, cũng nên suy gẫm về điều nhắn nhủ ấy. Thay vì sống chia rẽ, kèn cựa, phân hóa, và tự cô lập thụ động – những hành động suy nghĩ chỉ có lợi cho thế thực dân thống trị mới – chúng ta nên chọn đồng lòng hợp sức thoát khỏi cơn mê chiều[12]. Chúng ta cần tự vực mình dậy mà đi, và tự viết bản tuyên ngôn nhân quyền cho chính cá nhân thì mới mong thoát khỏi cái kiếp lê thê, ê chề của nô lệ ăn mày.

© 2010 VietSoul:21

[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu – (8) Gió mưa là chuyện của trời … – (9) Vô liêm sỉ – man rợ – (10) Phế-anh-hùng – (11) Luật Lệ(nh) … – (12) Nhà em có nuôi một con két … – (13) Cái nhà là nhà của ta … – (14) Mèo – thỏ  – (15) phố vẫy …]


Chú Thích:

[1] Hà Văn Thịnh, Tôi sai.

[2] RFA, Khiếu kiện đất đai gia tăng tại Việt Nam. (Video)

[3] RFA, Đằng sau những tập đoàn kinh tế

[4] Alschuler, L. R. (2006). “The psychopolitics of liberation”, Chapter 3 – Decolonization and Narcissism, p.43

[5] Nguyễn Minh Triết “Lòe” Việt Kiều.

[6] danlambao.com, Bí thư Tỉnh ủy Đinh Văn Hùng lấy đâu tiền mua trống 1,2 triệu USD?

[7] Nhà quốc hội hay nhà xí?

[8] VnExpress (2010, August 29). Người lái đò bỏ tiền xây cầu cho dân nghèo. Dân Trí (2010, June 13). Xác định vị trí xây cầu Khuyến học & Dân trí vượt sông Pô Kô.
Tin 180.com (2010, February 14). Nhóm Việt kiều xây hơn 100 chiếc cầu cho quê hương.

[9] Memmi, A. (1957). “The colonizer and the colonized”.

[10] Tiểu Sài-gòn (Seattle) yêu cầu Thị trưởng: lời nói đi đôi với việc làm, (Little Saigon asks the Mayor to walk the talk), International Examiner, 2009

[11] Cooks, L. (2003). Pedagogy, Performance, and Positionality: Teaching about Whiteness in Interracial Communication. Communication Education, 52(3), 245-257.

Cooks defines whiteness as “a set of rhetorical strategies employed to construct and maintain a dominant White culture and identities” (p. 246). In addition, McLaren defines in his article, Decentering Whiteness: In Search of a Revolutionary Multiculturalism whiteness as “a refusal to acknowledge how white people are implicated in certain social relations of privilege and relations of domination and subordination” (p. 9) [See McLaren, P. (1997). Decentering Whiteness: In Search of a Revolutionary Multiculturalism. Multicultural Education, 5(1), 4-11.]

[12] Martin Luther King, Jr. Speech “Sign your own emancipation” (Ký bản tuyên ngôn giải phóng của bạn)

[13] Hoàng Hạc (2010, February 5). Cơn Mê Chiều, nhạc phẩm thống thiết viết từ bối cảnh Mậu Thân. Trong bài hát “Cơn mê chiều” sáng tác bởi Nguyễn Minh Khôi có đoạn mở đầu sau đây: “Chiều nay không có em, mưa non cao về dưới ngàn. Đàn con nay lớn khôn, mang gươm đao vào xóm làng”.

Các bài liên hệ:

Thời cửu vạn, ôsinThe Age of Day Laborer and Housemaid

Những cái nhập nhằng không tênThe Unspoken Ambiguities

Lết tới “thiên đường”

Chúng tôi (Tự trào – Trí Thức – Tâm Tài)

Tôi là người Việt Nam

Bịt miệng nạn nhân

Tháng Tư Câm

Phản bội hay trung thành với lý tưởng?

phó thường dân (1): Anh Tám hồ hởi

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2010/11/20 at 22:02

Vietsoul:21

Thời gian trôi qua hơn 35 năm tôi mới dám nghĩ lại đến phận đời phó thường dân của mình. Chuyện cũ, chuyện mới, chuyện ngắn, chuyện dài, chuyện bên ni, bên nớ.

Anh Tám hồ hởi

Nhớ lại, sau 30 tháng 4 mấy anh Tám hồ hởi ló mặt, lên dây thiều cùng các anh nón cối nhận “làm đầy tớ nhân dân” trong chế độ mới. Tuyệt đại đa số người miền Nam đùng một cái từ công dân một quốc gia tự do trở thành phó thường dân trong đất nước thống nhất “anh em một nhà”.

Mấy anh Tám làm “đầy tớ” này thì lên tiếng tớ đây có quyền quyết định tất cả: đầy ải các phó thường dân ra vùng kinh tế mới và bọn “tay sai Mỹ Ngụy” vào các trại tập trung cải tạo. Đã là anh em một nhà thì nhà của em cũng là nhà của anh. Anh Tám bảo mấy em giao nhà, hiến đất, cơ xưởng để phục vụ nhân dân. Hơn nữa các anh đã dựng chòi tạo điều kiện cho các em “lao động vinh quang” còn các anh phải ở lại tiếp quản tài sản và ở trong (lòng) quần chúng nhân dân. Cách mạng là đổi đời mà.

Vì được gọi là cặn bã xã hội và được cách mạng tái sinh vào phận phó thường dân nên đa số đám trẻ miền Nam cỡ tuổi tôi được đưa vào ngọn cờ đầu “thanh niên xung phong”. Có chăng còn vài đứa như tôi sót lại trên sàng vào được Đại Học thì lụi cụi mới hai ba năm trên ghế học đường lại được tuyển đi “nghĩa vụ quân sự” trên chiến trường ở tuyến đầu tổ quốc. Phó thường dân chúng tôi bao giờ cũng được nhà nước xã hội chủ nghĩa ưu đãi tạo cho cơ hội phấn đấu thành anh hùng kiểu liệt sĩ.

Tôi nói thôi bỏ qua đi tám, nhưng anh Tám hồ hởi không chịu bỏ qua nên đám phó thường dân đành liều bỏ chạy tứ phương, tám hướng.

Bác-Tôi

Đúng ra thì tôi phải gọi ông ngang cỡ “ông cố nội” nhưng vì ông thích được gọi bằng Bác thành ra Bác (bác) Tôi (tôi) chắc cũng không mích lòng gì và chẳng bị mắng là (hỗn) láo.

Nói thì không ai tin chứ thực ra số phận của tôi và Bác có vẻ gắn bó với nhau lắm. Bác mà không đem thiên đường cộng sản về Việt Nam thì chắc tôi và Bác chẳng mắc mớ gì đến nhau. Nếu Bác cứ xây dựng thiên đường cộng sản ngoài ấy ấy đi thì cũng chẳng đến nông nỗi nào với tôi. Nhưng mà Bác lại cứ “toàn thắng lại về ta” nên chơi luôn thằng em đàng trong.

Vốn dĩ được xem là “thành phần có vấn đề” nên tôi có tư tưởng phản động theo gương Bác liều mình tìm đường cứu thân (thật) thay vì cứu nước (láo) như Bác.

Thời đó các chiến sĩ giải phóng ta đã quét sạch tàu Mỹ, tàu Tây mất tuyệt chẳng còn đâu ở bến Nhà Rồng để tôi lon ton lên làm bồi như Bác nên tôi phải vượt biển đi chui từ kênh rạch rặc mùi bùn. Cái mạng phó thường dân thời thuộc địa Pháp của Bác trông ngon lành hơn kiểu phó thường dân thời xã hội chủ nghĩa của tôi nhiều. Làm bồi như Bác sang hơn tôi một cái rụp. Bác sang Tây (do Bác chọn nó) còn tôi sang Mỹ (vì nó chọn tôi) nhưng mà kiểu nào thì cũng là người lưu vong cả thôi.

Cuộc đời của Bác thì đã được ngàn vạn đầu sách nói đến, kể cả sách của Bác (Trần Dân Tiên, T. Lan) tự họa nữa chứ chẳng phải chơi. Của đáng tội, chẳng cần Bác tự họa thì cũng đã có ngàn vạn văn nô bồi bút thổi phồng rồi, làm chi cho má nó khi (xin phép bác Tưởng Năng Tiến).

Đời phó thường dân lang thang như tôi thì có cặm cụi viết lắm cũng chưa đủ dăm trang. Ấy thế mà nó lại cứ hao hao giông giống như thế nào mới chết chứ.

Bác viết báo, tôi viết blog. Bác phó nhòm, tôi phó tiến sĩ (“mát” in VN kiểu cử nhân Luật anh ba Nguyễn Tấn Dũng). Bác học Lê-nin, tôi học Lin-cơn (Abraham Lincoln). Bác là cộng sản, tôi gốc cộng hòa.

Nói giông giống như vậy thôi chứ tôi thì tiền hậu bất nhất không như Bác trước sau như một. Tôi với Bác vốn trước đây cùng ở một đất nước chuyển tiếp từ thuộc địa sang hậu thuộc địa mà không có một thời gian thực sự độc lập để thoát ra khỏi cái tâm thức nô dịch.

Bác một dạ một lòng với ông Mác, ông Nin cung nghinh chủ thuyết cộng sản về nô dịch hóa đồng bào mình, hết cải tạo lao động, cải cách ruộng đất đến chỉnh huấn, thanh trừng theo rập khung anh cả. Bác luôn dùng bạo lực cách mạng độc tài đảng trị theo huấn thị của Quốc Tế Cộng Sản. Ngay cả cuối đời thì Bác cũng cà cuống (chết đến đít còn cay) đi gặp ông Mác ông Nin, nghe bài ca mẫu quốc Mao lần cuối. Bác hành xử “hân hoan, hồn nhiên” (à la Nguyễn Hữu Liêm trong bài “Nơi giữa Đại hội Việt kiều: Một nỗi bình an”) với tâm thức của một người thuộc địa. Hóa ra Bác, chủ tịch nước, cũng không hơn gì một phó thường dân.

Tôi sang đây ở xứ đế quốc Mỹ nhưng quyết học cách làm người công dân và kháng cự để không bị nô dịch hoá: tham gia biểu tình phản đối những chính sách quân phiệt, đế chế hoặc chính sách bất công thiên vị; phát biểu ý kiến đả phá chủ trương Tư Bản thống trị toàn cầu dù theo kiểu Đế quốc Mỹ hay Đại Hán Trung Hoa; cổ xuý cho việc giải thực tâm thức thuộc địa cho đồng bào bên ni và bên nớ.

Tiến trình giải thực tâm thức nô lệ không phải một sớm một chiều. Cái vòng kim cô nô dịch vô hình trên đầu thì khó gỡ hơn là cái xiềng xích nô lệ chân tay.

© 2010 VietSoul:21

[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu – (8) Gió mưa là chuyện của trời … – (9) Vô liêm sỉ – man rợ – (10) Phế-anh-hùng – (11) Luật Lệ(nh) … – (12) Nhà em có nuôi một con két … – (13) Cái nhà là nhà của ta … – (14) Mèo – thỏ  – (15) phố vẫy …]


Các bài liên hệ:

Thời cửu vạn, ôsinThe Age of Day Laborer and Housemaid

Những cái nhập nhằng không tênThe Unspoken Ambiguities

Lết tới “thiên đường”

Chúng tôi (Tự trào – Trí Thức – Tâm Tài)

Tôi là người Việt Nam

Bịt miệng nạn nhân

Tháng Tư Câm

Phản bội hay trung thành với lý tưởng?