vietsoul21

Archive for 2012|Yearly archive page

Người Buôn Gió: 18-3 trại Thanh Hà

In Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2012/03/18 at 09:11

 

Đi cùng Bùi Nhân đến thăm Bùi Minh Hằng hôm nay không nhiều người lắm, có bé Cải , anh Tường Thụy, Dũng Aduka, chị  Phương Bích, chị Hiền Giang, Lê Dũng và bác Lê Hiền Đức.

Hà Nội mịt mù sương, đi mãi đến đoạn rẽ vào Tây Thiên thì trời quang, nắng ấm. Con đường vào trại Thanh Hà mới được đổ bê tông, người dân nói vừa mới làm xong. Con đường này còn chạy xa nữa vào thôn xóm bên trong, nhưng đoạn đổ bê tông thì chỉ đổ từ đường nhựa vào đến cổng trại là dừng hẳn.

Dễ nhận ra trại Thanh Hà vì những tấm biển nền đỏ chữ vàng ghi dòng chữ

– khu vực cấm tụ tập
– khu vực cấm quay phim, chụp ảnh

Liên tiếp những biển cấm như thế dọc hàng rào, những tấm biển cấm này thậm chí khiến cái biển tên trại lọt thỏm, khiêm tốn vì nhỏ bé và cũ mờ. Sau dãy hàng rào sắt, người ta giăng lưới đen che kín không cho người bên ngoài nhìn vào bên trong. Sao thiết kế mà chả nghĩ gì cả, không xây luôn tường cao, có rào thép gai như nhà tù cho đỡ mất công, giờ lại phải rào lưới che mắt thiên hạ như vậy.

Mình và Bùi Nhân đến cửa phòng trực, hỏi về chuyện giấy ủy quyền của Nhân cho mình thăm nuôi chị Hằng trại giải quyết sao,trực ban trại tên Hiệu nói quy định của cục quản lý trại giam là mình không phải thân nhân ruột thịt nên không ủy quyền được. Mình hỏi xin lại cái giấy ủy quyền thì anh ta kêu nộp ban giám đốc. Mình nói theo nguyên tắc không chấp nhận đơn thì trả lại đơn và phê lý do. Anh Hiệu nói là công an phải thu thập tài liệu. Mình nói chả lẽ giờ tôi nộp sổ đỏ cho ông thì ông cũng bảo đó là tài liệu để ông thu à. Ông không chấp nhận đơn thì giả lại đơn cho tôi và ghi lý do vì sao vào đó, thế mới đúng luật. Sao lại tính chuyện thu luôn là thế nào. Hiệu bảo cái này giám đốc trại giữ, hôm nay chủ nhật nên không giải quyết được.

Mình Bùi Nhân xách đồ vào thăm mẹ, mọi người đang đứng bên ngoài thì một người mặc áo cảnh sát đứng bên trong hàng rào đứng sau cái biển cấm quay phim, chụp ảnh dùng máy quay phim chĩa vào mọi người, cũng trong hàng rào góc khác một người mặc đồ an ninh cũng dùng máy quay để ghi lại hình những người đến trại. Mặc dù không hề tụ tập, mấy người đi đã ít lại chia thành mấy tốp hai hoặc ba người đứng các điểm khác nhau nhưng vẫn bị quay phim. Lát sau công an xã đến rầm rập bằng xe máy và ô tô. Tổng cộng khoảng 17 người, trong đó có một nữ số này đứng hết bên ngoài, họ tự giới thiệu họ là công an xã. Một công an xã hỏi mọi người đứng đây làm gì, trả lời đường thì đứng chứ sao, anh ta nói anh ta đến đây để bảo vệ đất và chìa thẻ công an xã ra. Mọi người nói ông cứ đứng đấy bảo vệ đất, chúng tôi bê đi miếng nào hẵng hay. Một người trung niên dáng cấp trên nói đây là chủ quyền của chúng tôi. Mình mới hỏi chủ quyền là gì, là ông sở hữu đất này của ông à. Ông ý bảo ông ý là quản lý, mình hỏi thế ông tên gì, cấp gì quản lý đất gì, ranh giới đến đâu. Ông nói chức vụ và giới hạn đất chủ quyền của ông đến đâu thì tôi xin đứng ra ngay vạch đó. Mình lấy giấy bút ra thì ông ý đi thẳng.

Mình quay qua nhìn qua trong trại lớp lưới, nhìn đoạn hở dưới chân lưới đếm được 16 cái gầu quần màu xanh tức là 8 đôi giày, 8 đôi tất xanh. Có tốp nữa đi xe máy đến vào trại, họ mang theo máy quay phim, nâng tổng số máy quay lên 3 chiếc, tương đương với đúng 3 tấm biển cấm quay phim chụp ảnh treo ở hàng rào.

Một tốp người gồm em chị Hằng, con gái, con rể đi ta xi, họ trình chứng minh thư và được vào ngay. Tốp này gần trưa mới đến, lúc đi có vẻ vội vàng nên chỉ có đúng một túi quà nhỏ. Họ là những người mà trại gọi là thân nhân của chị Hằng được phép gặp. Tốp này ở Sơn Tây đến vào thăm chị Hằng một lúc thì ra ngay.

Cánh cổng trại khóa kín, ai vào trực ban mới ra mở cửa cho người lách vào rồi đóng lại. Lúc này bên trong khoảng gần 20 cảnh sát, bên ngoài cũng tầm 20 người gồm công an xã, một nhóm mặc thường phục chỉ đạo, một nhóm thì riêng rẽ mặc quần an ninh nhưng áo thường dân.

Bà Lê Hiền Đức xin vào trại tham quan trường giáo dục, nhưng người trực ban bảo đây là khu vực an ninh quốc phòng không có phận sự không vào được. Bà thở dài và than, tám mươi tuổi đầu rồi giờ mới biết trường giáo dục là cơ sở an ninh quốc phòng. Bà Hiền Đức rời cổng trại đến chỗ nhà dân, nơi có tốp người đang ngồi trong. Bà hỏi mượn cái ghế, họ bảo chủ nhà đi vắng không lấy ghế cho bà được. Bà bảo sao chúng mày ác thế, tao già thế này mà chúng mày để tao đứng khi chúng mày con trẻ, nhà người ta đi vắng sao mày lại lấy ghế của nhà người ta ra cửa ngồi. Bọn kia bảo nếu là bà thì bà cũng thế thôi. Trong bọn đó có tay trung niên ban nãy kêu chủ quyền, quản lý đất cát gì đó. Em bé Cải chạy ra quán mượn ghế cho bà ngồi. Bà Hiền Đức ngồi yên vị thì trong tốp đó có một tay mặc quần công an, áo sơ mi ra hỏi bà làm gì. Bà bảo tao chống tham nhũng, tay đó nói, bà chống tham nhũng mà bà không sợ pháp luật sao. Mọi người ồ lên cười vì câu nói quá hay của hắn. Mọi người chất vấn sao hắn lại hỏi thế, làm hắn bối rối bỏ đi. Mình ngồi cách đó một đoạn chợt nghĩ, biết đâu hắn là cao nhân. Đúng là thời nay chống tham nhũng là phải biết sợ pháp luật. Tại vì sao thì cứ nhìn công cuộc chống tham nhũng là rõ.

Đến trưa Bùi Nhân ra, hình như việc đơn từ gì đó của chị Hằng chưa xong. Mang máng nghe thấy là trại không chấp nhận đơn đánh máy, mà phải viết bằng tay thì mới được. Mà viết tới tận 5 trang nên chắc chiều mới xong. Mọi người kéo ra quán ăn mỳ tôm, vừa ngồi xuống thì quán mất điện. Chạy đi các nhà hàng xóm xung quanh nhà nào cũng có điện.

Đến 2 giờ Nhân gọi điện hỏi cán bộ trại mẹ viết xong chưa, cán bộ bảo chưa biết bao giờ mới xong. Mọi người ra cổng trại chờ, nói với nhau là nếu khó dễ thời gian chuyện làm đơn thì chúng ta trong lúc chờ đợi vào hỏi chuyện hoa hôm 8-3. Chị Phương Bích hỏi trực ban anh Trần Thái Hòa đâu, vì hôm mùng 8-3 chị gửi hoa cho Bùi Hằng nhờ anh Hòa đưa mà chị Hằng không nhận được. Trực ban nói là anh Hòa có lòng tốt muốn đưa hoa giúp cho chị Hằng, nhưng lãnh đạo trại không cho phép anh thực hiện điều đó. Trực ban còn chạy đi vào trong lấy xấp ảnh ngày 8-3 ở trại có tổ chức cho chị em phụ nữ, và ảnh anh Hòa cầm bó hoa đứng cạnh chị Hằng dưới sân khấu có chữ 8-3. Ý trực ban nói là anh Hòa cũng đã tặng hoa của trại cho chị Hằng, thôi thì ngày 8-3 có hoa là được rồi. Có người nói là các anh làm thế cũng tốt, nhưng không phải các anh mang tình cảm của các anh ra thay thế tình cảm của người khác được.

Đang lằng nhằng chuyện hoa thì cán bộ cầm đơn chị Hằng viết ra đưa cho Nhân Bùi, kèm với mẩu giấy gửi cho Nhân Bùi mà chị Hằng phải hai lần lặp lại nội dung nhấn mạnh là mẹ viết đến 3 giờ chiều mới xong. Chị Phương Bích lên xe thắc mắc, quái sao mình đưa chứng minh thư tên mình là Bích Phượng, cái tên Phương Bích là tên trên blog, thế mà công an trại cầm chứng minh thư xem mà cứ gọi mình là Phương Bích. Xe đang đi trên đường be tông thì em bé Cải cất máy ảnh vào túi. Mình bảo em cất vội thế, biết đâu tí nữa ra kia có xe cảnh sát giao thông chặn xe mình thì sao. Lấy máy ảnh ra đi được ra đến đoạn đường nhựa chừng 10 phút y rằng có tốp cảnh sát giao thông chặn lại, mấy xe sau đi, đến xe nữa của đoàn thì lại bị chặn lại nốt để kiểm tra giấy tờ. Bà Hiền Đức xuống xe hỏi tại sao bao nhiêu xe đi qua không chặn, lại chặn riêng hai xe này. Tốp công an nói kiểm tra không có gì thì đi, giấy tờ đầy đủ thì được phép đi. Tất nhiên hai xe giấy tờ đều đầy đủ, họ cho đi chóng vánh, thậm chí hối thúc đi, nhưng bà Hiền Đức bực chuyện bao nhiêu xe nườm nượp đi qua họ không kiểm tra cái nào mà chỉ kiểm tra hai xe này. Sau thì bà cũng lên xe đi, mình lại nói cái trạm cảnh sát giao thông cơ động ấy mình đi qua rồi thì họ cũng giải tán, vì đây là đường liên xã chứ đường huyện hay tỉnh gì đâu mà đến 5 cảnh sát giao thông lập trạm. Mình nói xong quay sang cửa kính nhìn thấy mấy xe máy người điều khiển không đội mũ bảo hiểm phi dưới qua vèo vèo, thế chắc là trạm giao thông ấy giải tán ngay sau đó thật rồi.

Về đến nhà đã 5 giờ chiều, mất trọn 12 tiếng từ lúc đi đến lúc về.

Nguồn: Người Buôn Gió

Cùng tác giả:

Người Buôn Gió – Tái cơ cấu thần chưởng

Người Buôn Gió – Đêm dài biên ải

Người Buôn Gió: 18-3 trại Thanh Hà

Người Buôn Gió – Người Nông Dân Nổi Dậy

Người Buôn Gió – Hóa ra đều ăn cắp hết

Người Buôn Gió – Đi tù và đi cải tạo

Người Buôn Gió – Con trâu của ai?

Người Buôn Gió – Hà Nội trong mắt ai

Loạt bài Đại Vệ Chí Dị:

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị – Mọi sự quái đản đều là do… thế lực thù địch

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị: Cứ đổ cho thế lực thù địch xúi dục là OK!

Phong Trần – Trí thức luận

In Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2012/03/11 at 09:57

Nhà báo Tam Dương sau một thời gian vắng mặt khá dài đã trở lại Việt Nam để làm phóng (không đại) sự. Trước hết xin nhắc lại vài hàng về “nhân thân” của tay phóng viên Lề Trái này. Tại sao anh ta lại có tên là Tam Dương. Thực ra tên tiếng Nôm của anh là Ba Dê vì anh ta học đòi thói phong lưu của các bậc tiền bối mà mê “ba cái lăng nhăng một trà, một rượu, một đàn bà”. Vì nghèo mà ham nên Tam Dương ăn chơi tòan đồ dởm: trà thì uống ở quán cơm lao động, rượu thì rượu dởm do Trung Quốc nó đổ tháo vào nước ta như đồ phế thải, còn tình thì trong cái xã hội Tiền mệnh lệnh của thời đại kiếm đâu ra người đàn bà nào dám nâng khăn sửa túi cho một anh nhà báo nghèo như Tarzan. Tuy nhiên lâu lâu cũng có một vài em ca sĩ Ka-Rao Ô-Kià về chiều đột xuất nổi hứng, trước là mua vui sau là làm nghĩa ban cho anh một chút “tình vặt”.

Tam Dương về nước đúng lúc phong trào “Trí Thức Luận” nổi lên như Sóng Thần Tiên Lãng, bèn tìm nhà phản biện Ba Đê (tức cụ Ba Đéo: Đéo theo Đảng, Đéo Tin Đảng và Đéo Sợ Đảng) để tìm hiểu sự việc trong lúc đó thì Tể Tướng Ba Dũng đi thực thi luật pháp Xã Nghĩa cho vụ án Tiên Lãng. Một già một xồn xồn gặp nhau trong một quán cóc bên Hồ Hoàn Kiếm, tay bắt mặt mừng, chẳng khác gì cảnh “Bác Hồ” gặp “Cụ Mao”.

Ba Đê: Chú mày kiếm tao gấp gáp hẳn có chuyện gì ghê gớm lắm phải không?

Tam Dương: Ghê thì chả ghê nhưng gớm lắm cụ ạ. Số là nhà cháu đi chỗ nào cũng thấy thiên hạ bàn ra tán vào về trí thức, làm như nước ta mới nẩy sinh ra trí thức vậy. Thế nhà cháu hỏi cụ trí thức là gì mà thiên hạ làm toáng lên vậy?

Ba Đê: Chú mày phải phân biệt giai cấp trí thức với người trí thức thì mới rốt ráo được. Ai có kiến thức thì thuộc giai cấp trí thức như bác sĩ, kỹ sư, giáo sư, chuyên viên… Nhưng tách riêng ra khỏi tập thể này thì người ta chỉ gọi người trí thức là người có học thức và có tâm huyết với nhân quần xã hội. Sự khác nhau giữa người trong giai cấp trí thức với người trí thức nói riêng giống như sự khác nhau giữa xã hội tư bản với người tư bản vậy. Chú mày thuộc xã hội tư bản nhưng có dám vỗ ngực mình là người tư bản không.

Tam Dương: Nhưng có ông tiến sĩ lại nói rằng ai kiếm cơm bằng trí óc là người trí thức.

Ba Đê: À, cái ông Lưỡng Quốc Trạng Nguyên phải không. Người ta ăn lương đế quốc tư bản, hưởng lộc XHCN nên phải nói nước đôi chứ. Câu nịnh phải kèm câu chê. Nói rằng cứ làm việc trí óc mà thành người trí thức thì nước ta ra ngõ gặp trí thức đấy. Thế thằng xã ũy Tiên Lãng nó có làm việc bằng trí óc không? Tần Thủy Hòang, Xít-ta-lin, Mubarack, Gadhafi, có cai trị dân bằng trí óc không? Ăn trộm, ăn cắp , tham nhũng, cướp đất, cướp ruộng… mà trí óc không làm việc thì đói rã họng ra.

Tam Dương: Thế nhà phản biện có phải là người trí thức không?

Ba Đê: Có người phản biện nào vỗ ngực tự nhận mình là người trí thức đâu. Có ai phản biện để được gọi là trí thức đâu.

Tam Dương: Thế tại sao có người chê người phản biện là phản biện để được phong hàm trí thức?

Ba Đê: Thế Mao Trạch Đông nói “Trí thức không bằng cục phân” thì trí thức là cục phân hay sao. Ta hỏi chú mày nhé, có ai muốn vào tù, muốn bị công an đạp vào mặt để được cái tiếng hão trí thức không. Nếu nhận định rằng không có phản biện thì xã hội chết ngay khi lâm sàng thì tại sao lại biếm nhẽ phản biện. Ta hỏi chú mày chứ duy vật biện chứng pháp dựa vào cái gì? Có phải dựa vào hai mặt đối lập của mọi sự vật không? Chỉ có dốt như anh Tô Huy Rứa mới đòi xã hội chỉ có lề phải.

Tam Dương: Thế cụ có phải là người trí thức không?

Ba Đê: Tao đã làm được đéo gì mà nhận mình là trí thức.

Tam Dương: Thế theo cụ trong những người phản biện ai là người trí thức?

Ba Đê: Coi ai là trí thức thì tùy theo cách nhìn của mỗi người, chả ai phong hàm trí thức cho ai được. Chỉ có triều đình XHCN mới có cái trò phong hàm trí thức cho cán bộ tuyên giáo của nó thôi.

Tam Dương: Thế bác Hồ có phải là người trí thức không?

Ba Đê: Có, ông ấy là nhà trí thức XHCN đấy. Con cháu của ông ta như Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nguyễn Tấn Dũng, kể cả bí thư huyện Tiên Lãng …đều là những trí thức XHCN cả.

Hai người nâng ly rượu Mao Tải (phế thải) nhìn trời nhìn đất, rồi thở dài sườn sượt:

Trí thức đâu rồi?

Phong Trần
Quán chủ phong trần quán

Nguồn: Thông Luận

BS Hồ Hải – Sự Chuyển Hướng Của Miến Điện

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Thế giới on 2012/03/09 at 09:15

Bài viết gc: Burma’sTurn

Joseph E. Stiglitz là giáo sư tại Đại học Columbia University, một người đoạt giải Nobel kinh tế, và là tác giả của cuốn Rơi tự do: Thị trường tự do sự sa lầy của nền kinh tế toàn cầu (Freefall: Free Markets and the Sinking of the Global Economy).

YANGON – Myanmar (Miến Điện), nơi mà sự thay đổi chính trị đã bị trầm buồn lặng lẽ trong nửa thế kỷ qua, một nhà lãnh đạo mới đang cố gắng nắm lấy quá trình chuyển đổi nhanh chóng từ bên trong. Chính phủ đã giải phóng tù nhân chính trị, đã tổ chức các cuộc bầu cử (bằng đa nguyên trong cách thực hiện), đã bắt đầu cải cách kinh tế, và mạnh mẽ tán tỉnh đầu tư nước ngoài.

Dễ hiểu thôi, cộng đồng quốc tế, từ lâu đã trừng phạt chế độ độc đoán của Myanmar, nên vẫn còn thận trọng. Cải cách đang được đưa đến quá nhanh mà ngay cả các chuyên gia nổi tiếng trên cả đất nước Miến Điện cũng không chắc chắn về những gì họ đang làm.

Nhưng nó quá rõ ràng với tôi rằng thời điểm này trong lịch sử Miến Điện là một cơ hội thực sự cho sự thay đổi vĩnh viễn – một cơ hội mà cộng đồng quốc tế không được bỏ lỡ. Đó là thời khắc cho thế giới chuyển động các chương trình nghị sự cho Miến Điện tiến về phía trước, không chỉ bằng cách cung cấp hỗ trợ, mà còn phải loại bỏ các hình thức xử phạt đã trở thành một trở ngại cho sự chuyển đổi của Miến Điện.

Cho đến nay, chuyển đổi đó, đã bắt đầu sau cuộc bầu cử lập pháp vào tháng Mười Một năm 2010, rất ngoạn mục. Với quân đội, họ đã độc nắm quyền lực từ năm 1962, hiện còn giữ lại khoảng 25% số ghế, có lo ngại rằng cuộc bầu cử sẽ là trò diễn tuồng. Nhưng chính phủ mới lên đã cố gắng hết sức mình để đáp lại những mối quan tâm cơ bản của công dân Miến Điện tốt hơn nhiều lần so với những gì đã được tiên liệu.

Dưới sự lãnh đạo của Tổng thống mới, Thein Sein, các cơ quan chức năng đã đáp ứng những lời kêu gọi cho một cỡi mở chính trị và kinh tế. Tiến bộ đã được thực hiện trên thỏa thuận hòa bình với quân nổi dậy của dân tộc thiểu số – những cuộc xung đột bắt nguồn từ trong chiến lược chia đề trị và nắm quyền lực của chủ nghĩa thực dân, cái mà những nhà cầm quyền sau khi được trả độc lập vẫn duy trì trong hơn sáu thập kỷ qua. Người đoạt giải Nobel Bà Aung San Suu Kyi đã không chỉ được trả tự do từ việc bị quản thúc tại gia, mà hiện đang còn ráo riết vận động cho một ghế quốc hội trong cuộc bầu cử tháng tư.

Trên mặt trận kinh tế, minh bạch chưa từng thấy đã được trình bày trong tiến trình chi tiêu ngân sách. Chi phí chăm sóc y tế và giáo dục đã được tăng gấp đôi, mặc dù trên một mặt bằng thấp. Sự hạn chế cấp phép trong một số lĩnh vực quan trọng đã được nới lỏng. Chính phủ đã cam kết chuyển động theo hướng thống nhất hệ thống tỷ giá hối đoái phức tạp.

Tinh thần của hy vọng trong nước có thể sờ thấy được, mặc dù một số người lớn tuổi vẫn còn thận trọng, vì họ đã từng nhìn thấy những khoảnh khắc nới lỏng rõ ràng đến và đi trước đó của chế độ độc tài. Có lẽ đó là lý do tại sao một số cộng đồng quốc tế còn do dự về việc giảm bớt sự cô lập đối với Miến Điện. Tuy nhiên, hầu hết nhận thức rằng, Miến Điện nếu những thay đổi được kiểm soát tốt, đất nước này sẽ hội nhập vào một tiến trình không thể đảo ngược.

Trong tháng Hai, tôi tham gia một hội thảo tại Yangon (Rangoon) và ở thủ đô mới được xây dựng gần đây – Naypyidaw(1) – được tổ chức bởi một trong những nhà kinh tế hàng đầu của Miến Điện – U Myint(2). Các sự kiện là trọng yếu, do nhờ vào ở cả hai yếu tố số lượng cử tọa lớn và tích cực tham gia (hơn một ngàn ở Yangon), với các bài thuyết trình đầy chu đáo và cảm động bỡi 2 nhà kinh tế nổi tiếng thế giới của Miến Điện, những người đã rời bỏ đất nước trong những năm 1960s và đã trở lại đầu tiên sau hơn bốn thập kỷ tha hương.

Đồng nghiệp của tôi ở Đại học Columbia – Ronald Findlay – đã giới thiệu cho tôi lưu ý đến một trong hai người này, Hla Myint 91 tuổi(3), người đã giữ vị trí một giáo sư tại Trường Kinh tế London, là cha đẻ của phát minh ra chiến lược phát triển thành công nhất của một nền kinh tế mở và tăng trưởng xuất khẩu. Một chiến lược mà đã được thực hiện chi tiết trên toàn châu Á trong những thập kỷ gần đây, đáng chú ý nhất là ở Trung Quốc. Có lẽ bây giờ, cuối cùng nó cũng đã trở lại quê nhà.

Tôi đã có một bài thuyết trình tại Miến Điện vào tháng Mười Hai năm 2009. Vào thời điểm đó, họ phải cẩn thận, vì những nhạy cảm của chính phủ, ngay cả về phương cách để điều chỉnh những vấn đề của quốc gia nghèo đói, kém năng suất ở nông thôn, và lực lượng lao động không có tay nghề. Bây giờ thận trọng đã được thay thế bởi một nhận thức cấp bách trong việc đối phó với những thách thức khác, và những ý thức về sự cần thiết cho các dạng hỗ trợ khác và kỹ thuật. (So với dân số và thu nhập của mình, Miến Điện là một trong những nước nhận hỗ trợ quốc tế nhỏ nhất thế giới.)

Có nhiều cuộc tranh luận về cái mà giải thích được tốc độ thay đổi nhanh chóng hiện nay của Miến Điện. Có lẽ các nhà lãnh đạo nhận ra rằng đất nước này, đã có một thời là nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, và đã và đang tụt hậu xa so với các nước láng giềng. Có lẽ họ đã nghe thông điệp của mùa xuân Ả Rập, hoặc chỉ đơn giản hiểu rằng, với hơn ba triệu người Miến Điện sống ở nước ngoài, là cái mà không thể cô lập được quốc gia với phần còn lại của thế giới hoặc ngăn chặn những ý tưởng đang rò rỉ sang từ các nước láng giềng. Dù là lý do gì thì, thay đổi đang xảy ra, và cơ hội mà Miến Điện thể hiện là không thể phủ nhận.

Tuy nhiên, nhiều lệnh trừng phạt quốc tế, bất cứ vai trò gì của những lệnh trừng phạt này trong quá khứ, bây giờ dường như phản tác dụng. Ví dụ, biện pháp trừng phạt tài chính đối với Miến Điện, nó ngăn cản sự phát triển một hệ thống tài chính hiện đại và minh bạch, để hòa nhập với phần còn lại của thế giới. Nền kinh tế dựa trên sử dụng tiền mặt sẽ đem đến hậu quả như là một lời mời mọc đối với tham nhũng.

Tương tự như vậy, những hạn chế mà nó ngăn chặn các công ty có trách nhiệm xã hội ở các nước công nghiệp tiên tiến đến kinh doanh tại Miến Điện, khiến những công ty thận trọng đã rời bỏ thị trường mở cửa. Chúng ta nên hoan nghênh mong muốn Miến Điện để họ được hướng dẫn và tư vấn từ các tổ chức đa phương và Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc; thay vì, chúng ta cứ tiếp tục hạn chế vai trò của các tổ chức này có thể tham gia trong quá trình chuyển đổi của đất nước này.

Bất cứ khi nào chúng ta từ chối hỗ trợ hoặc trừng phạt, chúng ta cần phải suy nghĩ cẩn thận về những người mang gánh nặng trong việc mang lại những thay đổi mà chúng ta tìm kiếm ở Miến Điện. Mở cửa thương mại trong nông nghiệp và dệt may – và thậm chí cung cấp các loại ưu đãi đã từng giúp đỡ cho các nước nghèo khác – có khả năng sẽ mang lại lợi ích trực tiếp cho 70% dân số Miến Điện là nông dân nghèo, cũng như tạo công ăn việc làm mới cho họ. Giàu có và hùng cường có thể phá vỡ các biện pháp trừng phạt tài chính, mặc dù phải trả giá; thường dân không thể dễ dàng thoát khỏi sự ảnh hưởng của tình trạng hạ đẳng của quốc tế(international-pariah status).

Chúng ta đã nhìn thấy mùa xuân Ả Rập trổ hoa ngập ngừng ở một vài quốc gia; ở những quốc gia khác, Mùa Xuân Ả Rập vẫn còn chưa chắc chắn liệu nó có sẽ mang lại quả ngọt. Quá trình chuyển đổi của Miến Điện là trong một số cách bình yên hơn, mà không có sự phô trương của Twitter và Facebook, nhưng nó rất hiện thực – và không kém phần xứng đáng để hỗ trợ.

Bản quyền: Project Syndicate, 2012.
http://www.project-syndicate.org

Ghi chú của người dịch:

1. Naypyidaw: còn được viết là Nay Pyi Taw. Là thủ đô mới được xây dựng của Miến Điện được chính quyền quân sự Miến Điện công nhận từ ngày 06 tháng Một năm 2006, và đưa vào sử dụng từ ngày 26 tháng ba năm 2006. Theo tiếng Miến Điện nó có nghĩa là “Thành phố Hoàng gia”. Trước đây thủ đô Miến Điện ở thành phố cảng Yangon, là thành phố đông dân và lớn nhất ở Miến Điện.

2. U Myint: là một nhà kinh tế nổi tiếng ở trong nước của Miến Điện. Ông được xem là kiến trúc sư cho sự nghiệp đổi mới hiện nay của Miến Điện. Ông hiện là cố vấn kinh tế cao cấp cho tổng thống Thein Sein, người chủ trương cải cách. Trong khi Ông U Myint là cầu nối cho trí thức Miến Điện trong nước và toàn cầu chung tay xây dựng lại đất nước Miến Điện, thì tổng thống Thein Sein là con người làm công việc hòa giải dân tộc sau bao nhiêu năm bị chế độ độc tài quân sự làm dân tộc Miến Điện bị chia rẻ.

 

3. Hla Myint: như bài viết đã giới thiệu, Ông Hla Myint và bà Aung San Suu Kyi là 2 trong những niềm tự hào của Miến Điện trên trường thế giới mà ở khối Asean chưa nước nào có được. Ông Hla Myint bảo vệ đề tài tiến sĩ về lý thuyết kinh tế thịnh vượng (Theories of Welfare Economics) năm 1948. Năm 1971 Ông đưa ra Lý thuyết kinh tế và các nước kém phát triển (Economic Theory and the Underdeveloped Countries). Và cũng trong năm sau đó ông cho ra đời lý thuyết Kinh tế của khu vực Đông Nam Á: Chính sách phát triển trong những năm 1970s (Southeast Asia’s Economy: Development Policies in the 1970s). Lý thuyết này trở thành giáo khoa kinh điển trong giảng dạy đại học với cuốn: Penguin Modern Economics Texts do Penguin Books xuất bản năm 1972. Ông đã từng là giáo sự của University of Rangoon và là cố vấn kinh tế cho chính phủ sau khi được trao trả độc lập 1948 cho đến năm 1962 chính phủ dân sự bị quân đội lật đổ. Ông Hla Myint bỏ đất nước ra đi và làm giáo sự tại London School of Economics, nơi mà ông Lý Quang Diệu đã từng học nửa chừng thì chuyển sang học luật. Dù bỏ đất nước ra đi, nhưng Ông Hla Myint luôn giữ quốc tịch của mình là quốc tịch Miến Điện mà không nhập quốc tịch Anh. Điều này thể hiện tấm lòng yêu nước của một trí thức chân chính hiếm có.

Cũng cần nhắc lại thời kỳ hoàng kim của Miến Điện là từ sau trao trả độc lập từ tay thực dân Anh vào ngày 04/01/1948, với tên gọi là Liên Bang Myanmar, và trở thành thành viên của Liên Hiệp Anh. Thời kỳ này Miến Điện có tổng thống là Sao Shwe Thaik và thủ tướng U Nu. Ông cựu thư ký thủ tướng U Nu là U Thant trở thành là Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc. Ông U Thant là người đầu tiên không phải là người phương Tây nắm một tổ chức quốc tế. Ông làm chức vụ này trong 10 năm cũng là những năm tháng dân chủ và cường thịnh của Miến Điện.

Năm 1962 chế độ dân chủ bị quân đội lật đổ và áp đặt Miến Điện đi theo con đường quân phiệt. Sau Thông Cáo Thượng Hải giữa Mỹ và Trung Hoa, Mỹ bán lại Đông Dương cho Trung Hoa, chính quyền quân phiệt Miến Điện bẻ lái theo Trung Hoa, nên đến năm 1974 cái tên Cộng hòa Xã hộ Chủ nghĩa Liên bang Myamar được đặt cho Miến Điện suốt 26 năm. Sau khi dời đô năm 2006, với Mùa Xuân Ả Rập và cách mạng Hoa Nhài, nên đến năm 2010 thì hội đồng quân đội Miến Điện quyết định đổi mới dưới áp lực thời đại, họ đổi tên nước thành Cộng hòa Liên bang Myanmar (Republic of the Union of Myanmar). Và với cuộc bầu cử ngày 04/02/2011 ông đương kim thủ tướng Thein Sein thắng cử. Và đến ngày 03/3/2011 ông Thein Sein nắm cả 2 chức vụ tổng thống kiêm thủ tướng Miến Điện. Ông đã mang lại những thay đổi thần kỳ về chính trị cho Miến Điện.

Có một điều khác biệt giữa nước XHCN Miến Điện với các nước theo XHCN khác là, dù Miến Điện trải qua 26 năm theo Trung Hoa với cái gọi là XHCN độc tài, nhưng họ vẫn giữ hình thái chính trị đa nguyên. Nên sự thay đổi theo đúng quy luật chỉ trong 1 năm qua của Miến Điện đã đi nhanh làm ngỡ ngàng các nước Phương Tây. Song đối với các doanh gia gốc Do Thái thì chiếc mũi rất thính. Nên mấy tháng nay các doanh nhân Do Thái từ Israel là những nhà đầu tư lớn nhất đến Miến Điện, vì họ tin rằng với một nền chính trị đa nguyên đáng để tin cậy hơn các nền chính trị đơn nguyên.

 

Nguồn: Blog BS Hồ Hải

Phương Bích – Những người đàn bà chờ chồng trong ngày 8/3

In Cộng Đồng on 2012/03/09 at 09:07

Khuôn mặt chị Lân, vợ bác Nguyễn Tương Thụy vẫn bừng bừng tức giận:

–  Họ đến đưa giấy mời, bảo đi ngay. Anh ấy (bác Thụy) bảo các anh mời cũng phải để cho tôi có thời gian chuẩn bị chứ. Nó không nghe, cứ bắt anh ấy phải đi ngay. Anh ấy không chịu, vì còn đang mặc quần áo ngủ, lại chưa rửa mặt. Nó bảo bác không đi là chúng tôi bế bác đi đấy. Thế là họ bế thật. Mấy người bọn họ xúm vào bế anh ấy lên nhét vào ô tô. Tôi chạy theo ô tô gào lên:

Ối làng nước ơi, công an bắt chồng tôi, nào tôi có biết bắt chồng tôi vì cái gì đâu, ối làng nước ơi….

Không chạy bộ theo xe được, tôi về lấy xe đạp, phóng ra trụ sở công an huyện Thanh Trì đòi chồng tôi. Họ không những không cho tôi vào gặp chỉ huy, lại còn trỏ mặt tôi bảo:

–  Tôi nói cho chị biết, chị vào cửa quan mà có thái độ như thế chỉ thiệt cho chị thôi.

–  Á à, anh lại bảo đây là cửa quan à?

Tôi điên tiết làm ầm lên cho một chặp, chúng nó lảng đi hết. Bực mình tôi quay về đây thì biết anh Nguyễn Kim cũng bị công an bắt đi rồi. Thực tôi chả hiểu ra làm sao cả. Sao lại có cái thói cứ thích bắt là bắt mà chẳng nói là tại sao thế?

Nhìn cơn phẫn nộ của người đàn bà, tôi chợt nhớ đến hình ảnh chị Dậu trong ‘Tắt đèn” đang xắn tay áo lên: Mày trói chồng bà đi, bà cho mày xem.

Trang Thanh Hiền tới, dẫn theo hai con nhỏ. Trông cô ấy bình thản, vẫn cười khi gặp mọi người. Xuân Diện thường bảo: vợ em bản lĩnh hơn em nhiều.

Trái với chị Lân, bà chủ quán trẻ phốp pháp, vợ anh Nguyễn Kim xinh đẹp trong bộ áo dài đỏ thướt tha, cứ tủm tỉm cười khi kể lại chuyện chồng mình bị công an đưa đi thế nào.

–  Em bảo thằng công an: Chú trông chị hôm nay ăn mặc có đẹp không? Trông chị có xinh không? Ừ! Mà ngày hôm nay là mồng tám tháng ba đấy, chồng chị đang chuẩn bị chúc mừng chị, thế mà các chú lại đến đưa chồng chị đi đâu? Thế bây giờ ai là người chúc chị đây hả?

Tuy cười là thế, nhưng lát sau tôi đã thấy cô ấy thay bộ áo dài bằng bộ đồ đen, đứng buồn xo sau quầy. Gượng mỉm cười chào đón khi có thêm người đến. Trong khi những người phụ nữ chúng tôi đang quây quần bên nhau tíu tít hỏi chuyện nhau, người phụ nữ trẻ đứng đó với gương mặt thật buồn, cái nhìn xa vắng sao trông đơn côi làm vậy.

Mặc dầu hôm nay những người phụ nữ được mời đến đây, để cho những người đàn ông tri ân… Nhưng tôi nghĩ trong lòng bất cứ ai vẫn có một người đàn ông của riêng họ, và hơn ai hết, họ muốn nhận được lời chúc mừng từ người đó.

Hôm nay, có ba người phụ nữ đang ngóng chờ người đàn ông của họ, từ một nơi ít người mong đợi nhất, đó là đồn công an!

Mỗi người đàn bà một tâm trạng, dẫu  họ có rất kiên cường vì tin vào sự ngay thẳng và trung thực của chồng mình, nhưng làm sao có thể không bất nhẫn khi chồng mình bị bắt đi không một lời giải thích, ngay trong ngày cả thế giới chúc tụng chính họ – một nửa của thế giới? Làm sao họ có thể yên tâm về mọi sự bất trắc có thể xảy ra ở trong đồn công an trong thời buổi này…?

Trên thực tế, nhiều người chúc mừng phụ nữ nhân ngày 8/3 có thể sớm hơn một hai ngày nếu như ngày 8/3 trùng vào ngày nghỉ, hoặc vì những lý do riêng tư khác. Mồng 8 tháng 3 này, thoạt đầu có người chợt nảy ra ý tưởng lên Thanh Hà, gửi hoa chúc mừng đến Bùi Hằng. Sau cánh đàn ông lại nhao nhao lên bảo, sao không chúc mừng tất cả các chị em đã xuống đường trong 11 cuộc biểu tình vừa qua?

Thế là cánh đàn ông lập thành một nhóm “bí mật” không cho đám phụ nữ tham gia, nhằm muốn dành cho họ nhưng bất ngờ thú vị. Suốt cả tuần cánh nữ hồi hộp chờ đợi, tưởng tương ra đủ thứ nhưng “bọn” đàn ông kín lắm.

Trước giờ xuất phát, tôi còn đang chuẩn bị áo dài với nón lá thì nhận được điện thoại của một người, nói công an đã đến nhà hàng của anh Nguyễn Kim, nơi tổ chức bữa tiệc yêu cầu không được “tổ chức tụ tập” đông người, nếu cứ cố tình sẽ phá…Người này nói vắn tắt và vội vàng, khuyên tôi không nên đến và tránh xa chỗ đó ra.

Tôi ngạc nhiên lắm, vội vào facebook xem thông tin. Thấy nói bác Tường Thụy đã bị bắt, Xuân Diện thì không thể liên lạc được suốt từ chiều, rồi đến lượt anh Môn (tức Nguyễn Kim) cũng bị công an vào tận cửa hàng đưa đi. A! xem ra tin tức tôi vừa nhận được là đúng.

Dù không nên ngạc nhiên, nhưng tôi vẫn không thể đừng được, họ định đẩy mọi việc đi đến đâu đây? Vẫn sẽ lại không vì một lý do gì, hay phát sinh ra sự vụ gì mới? Nhưng gì thì gì, không lẽ chỉ vì muốn phá buổi tiệc này mà họ làm vậy?

Tôi không tin là chỉ có 3 người bị bắt mà mọi người sẽ hoảng sợ. Đúng giờ hẹn, xe bác Phan Trong Khang qua đón tôi. Trên xe đã có giáo sư Ngô Đức Thọ, chị Hương và em Hạnh. Dọc đường, nghe thông tin liên tục về chuyện, quanh nơi tổ chức tiệc có rất nhiều người lạ đứng lảng vảng quanh đó. Thực sự không ai trong chúng tôi run sợ điều gì. Bởi một cái việc danh chính ngôn thuận đến thế này mà còn phải run sợ, thì há còn dám ngẩng mặt lên giữa đời mà sống nữa hay thôi?

Lâu không gặp nhau, ai nấy đều hoan hỉ, nên phút chốc xao nhãng chuyện về những người bị bắt. Mọi người rất vui mừng khi thấy cụ Nguyễn Trọng Vĩnh, cụ Ngô Đức Thọ, cụ Lê Hiền Đức, chị Trần Thanh Vân, chị Võ Thị Hảo và nhiều gương mặt thân quen khác đến dự tiệc.

Có thể chúng tôi hơi vô tâm khi hàn huyên với nhau, nhưng không lẽ bỏ cuộc chỉ vì sự dọa dẫm vớ vẩn kiểu hạ sách đó. Mọi người đọc thơ là chính. Thiếu mất MC trụ cột là Nguyễn Xuân Diện, đã có JB Vinh, họa sĩ Dung Mai, Chí Tuyến thay nhau làm MC thay thế. Chí Tuyến trông dữ tợn thế mà vừa đọc thơ vừa nghẹn ngào khiến chị Hương bên cạnh tôi phút đầu rơm rớm lệ, sau thì ko kìm được bật khóc thành tiếng, mếu máo bảo mọi người xum vầy thế này, vậy mà chỉ có mình Bùi Hằng bị giam hãm ở chốn cùng cốc. Hu hu! Thương Bùi Hằng quá.

Dự kiến chương trình sẽ kéo dài đến 10 giờ tối, nhưng cũng chẳng ai có lòng dạ nào ngồi lâu hơn. Hơn 8 giờ tối, mọi người chụp ảnh kỷ niệm, nhận quà tặng là một cái cốc sứ Bát Tràng No-U rồi ra về. Một người nào đó nói, taxi bị chặn từ ở ngoài đường rồi, không vào đón khách được. Bẩn thỉu đến thế là cùng. Lại chia nhau đưa đón.

Số người đi xe máy bắt đầu chia làm 2 hướng, hướng công an huyện Thanh Trì, nơi đang câu lưu blogger Nguyễn Tường Thụy suốt từ đầu giờ chiều đến giờ và công an quận Hà Đông, nơi câu lưu Nguyễn Xuân Diện.

Vì tôi mặc áo dài nên hơi cách rách, lại đi ô tô nên đành phải theo xe về trước. Về đến nhà là nhảy bổ vào mạng, gọi điện cho Chí Tuyến, liên tục cập nhật thông tin từ nhóm Thanh Trì lên facebook. Thời gian trôi đi trong sự mong ngóng đến cháy ruột của mọi người. Bọn họ chả đưa ra được lý do gì nên cứ loanh quanh né tránh. Lúc đầu thì cảnh sát dàn hàng ngang ra rất khí thế. Sau thấy mọi người không tỏ vẻ nao núng thì lại rút hết vào bên trong và đóng cổng lại. Ngay tức thì các quần chúng tự phát đầu trọc, xăm trổ đầy mình xuất hiện, lên giọng dọa nạt bảo không được làm mất trật tự. Anh chị em bèn hô: một hai ba “ Thả người”. Cứ thế hô liên tục. Cảnh cáo công an mà không can thiệp là anh em sẽ “tự vệ chính đáng”. Thấy anh em oách thế, các quần chúng tự phát bèn rút quân. Lực lượng này rút thì lực lượng cũ lại được triển khai, cổng lại mở và cảnh sát lại kéo ra án ngữ trước cửa.

Việc đến lúc phải đến thì đến thôi. Chí Tuyến thông báo: bác Tường Thụy đã ra!

Mọi người reo ầm ầm. Xem chừng có tuổi như bác Tường Thụy mà bị giữ gần mười tiếng đồng hồ cũng phờ phạc cả người. Trông nét mặt bần thần của bác ấy thì có vẻ oải, nhưng nhìn con mắt, tôi đoán nhiều điều đang chực bùng nổ lắm, đoán rằng về bác ấy có khối chuyện để mà xả trên blog. Còn lâu mới bẻ được ý chí của một người như bác ấy.

Rốt cuộc bắt và thả là tùy hứng, chả có lệnh, chả có lý do gì. Sao giống cái việc án ngữ trước cửa, không cho bác Khánh ra khỏi nhà thế, lại còn xưng xưng bảo đời còn nhiều cái vô lý hơn thế. Ới bà Nguyễn Thi Doan là bà Nguyễn Thị Doan ơiiiii.

Nói thực là chỗ Xuân Diện mọi người lại không lo lắm, vì Xuân Diện là khách “quen” rồi, lại là công an thành phố nên chắc ít “mông muội” hơn.

Mà quả có thế, bác Tường Thụy được “thả” rồi, Xuân Diện cũng vừa được thông báo là “đã ra”! Tôi cứ tưởng theo gương ở thành phố và huyện, thì công an thị trấn Văn Điển phải lén đưa anh Nguyễn Kim về nhà trước rồi mới phải. Lại phải muối mặt tiếp anh chị em đến đòi người. Một quần chúng tự phát kiếm cớ gây sự, đánh cùi trỏ vào cằm Chí Tuyến rồi bỏ chạy. Chạy là chạy thế nào. Lập tức anh em ta đuổi theo tóm được, lôi vào đồn công an yêu cầu xử lý. Công an lại loanh quanh, yêu cầu làm bản tường trình khiến Chí Tuyến nổi xung:

– Chúng tôi chỉ làm bản tường trình khi không có mặt các anh. Đằng này sự việc xảy ra ngay trước mắt các anh mà còn yêu cầu làm bản tường trình, thế chẳng hóa ra các anh không có mắt à? Các anh có xử không thì bảo, hay là để quần chúng chúng tôi tự xử (như kiểu quần chúng bức xúc phá nhà ông Vươn ấy).

Thấy căng, kẻ gây sự đành phải xin lỗi. Rồi thì đến lượt anh Nguyễn Kim cũng phải “thả”. Nghe cháu Tố Uyên từ Sài Gòn gọi ra cho bố thì công an bắt anh Nguyễn Kim phải làm bản cam kết, không được bán cho khách hàng “nhạy cảm”. Dù là tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện đặt hàng cũng không được bán. Ô hô hô!

Thôi anh em được “thả “ hết là yên tâm rồi. Tôi phải đi ngủ sớm để mai còn cùng với mấy anh em lên Thanh Hà gửi hoa cho Bùi Hằng, nhân ngày mồng tám tháng ba. Ôi, sao ngày mồng tám tháng ba năm nay đối với tôi vất vả làm vậy.

Suốt những năm tháng đi làm, năm nào cũng đều như vắt chanh là cứ đến ngày 8/3 và 20/10 là chị em ở cơ quan lại tổ chức mít tinh. Xong rồi kéo nhau ra nhà hàng đánh chén một bữa hoành tráng, lại còn thêm cái phòng bì bỏ túi. Có bữa còn tổ chức thuê hẳn một cái xe to chở tất cả chị em đi chơi xa, lên cả V resort ở Hòa Bình để tắm nước khoáng nóng…tất cả những cái đó nó như một điều đương nhiên, nên thực sự nói về sâu xa là tôi không có xúc động mấy.

Hóa ra cả đời mình ru rú trong một xó, có mấy bạn bè đâu. Từ ngày đi biểu tình, quen được thêm bao nhiêu là bạn. Già có trẻ có, nam có nữ có. Trải qua mấy đận vì nhau mà lặn lội ngược xuôi, hết từ đồn công an này đến đồn công an khác để tương trợ bạn bè, lại trở nên thân thiết hơn cả tình bằng hữu hàng chục năm. Có lần tôi than vãn: cứ phải đi “cứu” nhau suốt thế này thì còn làm ăn được gì nữa. Mọi người bảo: nặng về nghiệp lắm! Cái nghiệp cứu người.

Nguồn: blogger Phương Bích

Tưởng Năng Tiến – Đường phía Bắc

In Cộng Đồng, Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2012/03/09 at 09:01

 

Lúc còn tại thế, có lúc, ông Phạm Văn Đồng đã phải đối diện với một câu hỏi khó:
“Xin thủ tướng cho biết ý kiến về sự kiện thuyền nhân hồi 1975, nhất là hồi 1978, 1979… Về nguyên nhân và trách nhiệm trong những sự kiện ấy, với những hiện tượng bán bãi thu vàng và khá nhiều tầu, thuyền bị hải tặc bão tố và chìm trong đại dương… Là người đứng đầu chính phủ, một trong những người lãnh đạo cao nhất của đảng cộng sản, thủ tướng nhìn nhận ra sao trách nhiệm của mình trong cuộc di dân rộng lớn và bi thảm ấy?” (Bùi Tín, “Hai Câu Hỏi Cần Trả Lời Rõ Ràng Trước Khi Thế Kỷ 20 Khép Lại,” Cánh Én, Feb.1999:05).

TT Phạm Văn Đồng, tất nhiên, không “nhìn nhận trách nhiệm” gì ráo trọi. Và đây là thái độ chung của giới hữu trách ở Việt Nam – theo như nhận xét của ông Ngô Nhân Dụng:”Khi thấy dân tố cáo bất cứ cái gì, phải chối ngay, phải lấp liếm, bịa đặt, bưng bít, bằng bất cứ cách nào, không bao giờ nhận lỗi.” Ông nhà báo này nói tầm bậy tầm bạ như vậy mà … không trật. Khi được phóng viên báo Nhân Dân, số ra ngày 31 tháng 8 năm 1987, hỏi về cuộc “di dân rộng lớn và bi thảm ấy,” Trung Tướng Nguyễn Đình Ước (Viện Trưởng Viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam) đẩy cây như máy:

“ Đó là chuyện có thật … Đã có một bộ phận người Việt Nam bỏ đất nước ra đi. Không ít người đã thiệt mạng trên biển do bị chìm thuyền, bị bọn đưa người vượt biên trái phép lừa gạt giết chết. Đó đúng là một thảm cảnh nhưng là hệ quả do những chính sách chống phá Việt Nam từ bên ngoài.”

Mới đây, ông Dương Trung Quốc mô tả đó là một “vết thương lịch sử” nhưng (sau một lúc quanh co) ông kết luận rằng là nó sắp … lành đến nơi rồi: ”Tôi không nghĩ kiều bào còn lấn cấn nhiều về chế độ chính trị, có lẽ chỉ còn ở một thế hệ nào đó do hoàn cảnh lịch sử.”

Cái “hoàn cảnh lịch sử” này ra sao là điều mà ông Tổng Thư Ký Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam không muốn nói đến. Ông Trương Tấn Sang cũng vậy:

“Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn khẳng định người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, luôn mong muốn và làm hết sức mình để hỗ trợ đồng bào đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, hòa nhập vào cộng đồng dân cư trên đất nước cư trú…”

Nguồn ảnh: baocalitoday.com

Dưới mắt nhìn của những người cầm quyền ở Việt Nam thì mấy triệu thuyền nhân cứ y như một đám người từ trên trời rớt xuống, tứ tán khắp năm Châu. Đảng và Nhà Nước đã gom cái tập thể này lại và biến họ thành cục bột, muốn nắn bóp nó ra sao – tùy thích.

Có lúc Nhà Nước mô tả những kẻ ra đi là một lũ người“bất hảo, cặn bã của xã hội, ma cô, đĩ điếm, trộm cướp, trây lười lao động, ngại khó ngại khổ, phản bội tổ quốc, chạy theo bơ thừa sữa cặn… ” Không hiểu đám thuyền nhân đã hành nghề ma cô, đĩ điếm và tổ chức trộm cướp ra sao –  nơi đất lạ quê người – nhưng số lượng bơ thừa sữa cặn mà họ đều đặn gửi về cố hương đã cứu toàn dân, cũng như toàn Đảng, thoát chết (đói) nhiều phen.

Từ đó, Đảng ta đổi giọng: những kẻ  phản bội tổ quốc không những đều được “khoan hồng” mà còn được “tôn vinh” như “những sứ giả Lạc Hồng,” và (bỗng) trở thành “một bộ phận  không thể tách rời của cộng đồng dân tộc,” hay “là cấu nối phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước trên thế giới…” – theo như (nguyên văn) lời của ông Chủ Tịch Nước vừa phát biểu vào hôm 15 tháng 1 năm 2012, tại Hà Nội.

Thiệt khoẻ!

Thế còn chính những thuyền nhân họ nghĩ sao? Theo nhận xét của giáo sư Nguyễn văn Tuấn thì dường như đây là một đám đông thầm lặng, không nghe ai lên tiếng nói năng gì hết trơn hết trọi: ”Đúng là một cuộc di tản qui mô lớn chưa bao giờ có trong lịch sử Việt Nam. Nhưng không có ai của Nhà nước chính thức ghi nhận sự kiện này. Tôi chưa bao giờ nghe / đọc một người từ miền Bắc nhắc đến sự kiện này.”
Nói nào ngay thì có nhưng rất ít. Lý do giản dị chỉ vì những nạn nhân của những biến cố kinh hoàng, vượt ngoài sức chịu đựng bình thường của con người, thường không mấy ai muốn nhắc đến những kinh nghiệm hãi hùng mà họ đã phải trải qua. Đây là hội chứng PTSD (Post Traumatic Stress Disorder) theo như ghi nhận của DSM – IV – TR (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorder, Fourth Edition. Text Revision. Washington, DC, American Psychiatric Association, 2000 – cẩm nang hiện dụng của khoa Tâm Thần Học).

Hiện tại, trên bàn viết của chúng tôi chỉ có hai cuốn sách thuộc loại này:

– Góc Bể Bên Trời của Võ Hoàng có lẽ là tác phẩm đầu tiên, viết về chuyện vượt biên, tạp chí Nhân Văn (California) xuất bản năm 1984. Tác giả vốn là một ngư dân ở Rạch Giá đã ghi lại một cuộc vượt biển “phụ,” một đoạn đường đi “thêm” từ vịnh Thái Lan đến tận Úc Châu – trên một chiếc thuyền con mong manh, thiếu thốn tất cả những phương tiện, những điều kiện cần thiết tối thiểu cho một hải trình dài dặc, và có trăm ngàn thứ gian nguy – của chính ông và bè bạn.

– Buồn Vui Đời Thuyền Nhân của Lâm Hoàng Mạnh, Tiếng Quê Hương (Virginia) xuất bản năm 2011. Đây là tập hồi ký dầy hơn ba trăm trang của một y sĩ kiêm văn sĩ, ghi lại hết sức sống động và chi tiết cuộc trốn chạy của những người Việt gốc Hoa từ bến Tam Bạc (Hải Phòng) qua Hồng Kông, và điểm đến cuối cùng là Anh Quốc.

Trang sổ tay hôm nay chúng tôi xin dành để giới thiệu một tác phẩm khác ( Đường Phía Bắc) của nhà văn Lê Đại Lãng, tuần báo Trẻ ( Texas) xuất bản đầu năm 2012, viết về “hành trình của những người hướng Bắc sinh và sống từ cầu Hiền Lương đến nàng Tô Thị.” Tác giả là một thuyền nhân đi từ phía Nam nhưng có một thời gian dài làm việc thiện nguyện trong những trại tị nạn, ở Hồng Kông. Ông cũng là tác giả của tập bút ký Nước Mắt Trong Tim do tạp chí Người Dân (California) xuất bản năm 1990, và tiểu luận Vietnamese-English Bilingualism: Patterns of Code-Switching – Routledge Studies in Asian Linguistics – xuất bản năm 2003, ký tên thật là tiến sĩ Hồ Đắc Túc.

Trong phần lời tựa của Đường Phía Bắc (*) Lê Đại Lãng tâm sự:

Tôi viết lại những mẩu chuyện nho nhỏ mà các bạn  đã kể cho tôi nghe như một người nghèo thiếu  áo, chắp lại những mẩu áo đủ màu đủ cỡ, lành có rách có, đậm có nhạt có,  để ráp thành một cái áo vụng về xấu xí mặc cho qua rét mướt mùa đông.  Dù  cho công tôi chắp vá mà thành, nhưng chất liệu vẫn là các bạn, nếu có chỗ nào (nói cho le) là hư cấu thì cũng xin coi là cái cúc  áo đơm vào để gài kín ngực. Bỏ cái cúc ra, áo vẫn hoàn áo, vải gấm hay vải thô vẫn là của các bạn.  Vốn liếng và chất liệu đã làm nên cuốn sách này là từ đời sống của các bạn tôi… và những hạt mưa dầm.”

“Những mẫu chuyện nho nhỏ” của người đi từ phía Bắc và những kẻ đi từ phía Nam, gần như, chả khác gì nhau. Đều là những chuyện nát lòng, và những mảnh đời tơi tả, của những kẻ bị đẩy đến bước đường cùng không còn lựa chọn nào khác nên phải (đành đoạn) rời bỏ quê hương âm xầm ra biển – như một cách lao đời vào cái chết để tìm sự sống.

Người ta ước đoán chừng vài trăm ngàn thuyền nhân đã vùi thây trong lòng biển cả (**). Những kẻ thoát chết đến được bến bờ không nhất thiết đã là những người may mắn. Đường Phía Bắc là tác phẩm viết về họ, những kẻ trong các trại cấm ở Hồng Kông sau giờ khắc định mệnh “0 giờ ngày 16 tháng 6 năm 1988” – giờ khắc mà nhiều trại tị nạn ở Đông Nam Á đã đột ngột biến thành những trại tù, qua ngòi bút của Lê Đại Lãng:

“Những dãy nhà lợp tôn dài hai mươi chín mét, rộng sáu mét trống trải không có giường nhét đủ ba trăm mạng người. Hải băng qua những đường rãnh lềnh bềnh rác lẫn với phân người, theo trưởng buồng lách chân giữa một lối đi hẹp giữa buồng, hai bên thùng bọng la liệt, kẻ nằm người ngồi tràn lan trên nền đất rin rỉn nước.”

Và đây là vài mẩu đối thoại của những con người sống trong trong vòng rào của những trại cấm này:

– Tiên sư con cái nhà ai mà cứ ỉa tòe loe ra đấy. Bẩn đéo chịu nổi.
Giọng một bà trả đũa:
– Con cái nhà bà đấy. Nó muốn ỉa đâu thì nó ỉa, bà thách thằng chó nào đụng tới nó coi nào.
Gã đàn ông bị chạm tự ái, cáu:
– Ỉa thì có nhà cầu, cứ tươm cả ra đấy thì cái nhà này biến thành lăng bác cả à!
Tiếng cười rúc rích thú vị. chị đàn bà đổi hướng:
– Có giỏi thì đứng ở Ba Đình nói câu ấy. Qua đây nói ai nghe nào. Lũ hèn…!
Thằng bé cắt lời mẹ, ré lên đòi chùi đít. Bà mẹ bảo: “Cứ chờ đấy, chừng nào nước mở hẵn rửa”.

Thằng bé dang dang hai chân đi về giường. Có tiếng la dẫy nẩy: “Coi chừng nó ngồi lên giường là khốn đấy. Địch mẹ, biết thề này ông thèm vào”.
Ở trong những trại tị nạn này, trẻ con Việt Nam không biết nói tiếng “không.”
Chúng thay bằng tiếng khác:

– Tao đéo thèm chơi với mày nữa
– Tao đéo vào
– Mầy có cái đó không?
– Đéo có.

Những mảnh đời méo mó qua những mẫu đối thoại thô tục (thượng dẫn) của những may mắn sống sót đến được bến bờ, cùng với oan hồn của hàng triệu sinh linh dưới đáy biển sâu không thể nói lấp liếm cho qua chuyện (”Tôi không nghĩ kiều bào còn lấn cấn nhiều về chế độ chính trị, có lẽ chỉ còn ở một thế hệ nào đó do hoàn cảnh lịch sử”) theo cái kiểu xuê xoa của ông Dương Trung Quốc. Cũng không thể yêu cầu những quốc gia láng giềng đục bỏ những bia tưởng niệm thuyền nhân là kể như huề – như cách hành xử của ông Trần Đức Lương.

Hoạ cộng sản sẽ qua, và sắp qua. Ngoài chuyện Thu Vàng Bán Bãi Vuợt Biên, còn nhiều “vụ động trời” khác nữa – như C.C.R. Đ, Nhân Văn, Xét Lại, Thảm Sát Mậu Thân, Đổi Tiền, Cải Tạo Công Thương Nghiệp, Mười Ngày Học Tập, Khai Thác Bauxit, Vinashin … – cần phải được ghi nhận, và xét xử minh bạch, trong tương lai gần.

Vấn đề không phải là để tầm thù hay báo oán. Điều này hoàn toàn không cần thiết, và hoàn toàn đi ngược lại với truyền thống văn hoá bao dung dân tộc Việt . Tuy nhiên, quá khứ cần phải được thanh thoả để chúng ta an tâm hơn khi hướng đến tương lai.

© Tưởng Năng Tiến

© Đàn Chim Việt

—————————————-

(*) Đường Phía Bắc, giá sách U.S.A 15.00 dollars, có thể đặt mua theo địa chỉ sau:
Toà soạn báo Trẻ
3202 N. Shiloh Rd., Garland, TX 75044.

ĐT: 972-675-4383/ Email: tusachtreusa@gmail.com

(**) Death Tolls and Casualty Statistics Vietnam – Vietnamese Boat People
· Jacqueline Desbarats and Karl Jackson (“Vietnam 1975-1982: The Cruel Peace”, in The Washington Quarterly, Fall 1985) estimated that there had been around 65,000 executions. This number is repeated in the Sept. 1985 Dept. of State Bulletin article on Vietnam.

· Orange County Register (29 April 2001): 1 million sent to camps and 165,000 died.
· Northwest Asian Weekly (5 July 1996): 150,000-175,000 camp prisoners unaccounted for.

· Estimates for the number of Boat People who died:
o Elizabeth Becker (When the War Was Over, 1986) cites the UN High Commissioner on Refugees: 250,000 boat people died at sea; 929,600 reached asylum.

o The 20 July 1986 San Diego Union-Tribune cites the UN Refugee Commission: 200,000 to 250,000 boat people had died at sea since 1975.

o The 3 Aug. 1979 Washington Post cites the Australian immigration minister’s estimate that 200,000 refugees had died at sea since 1975.

§ Also: “Some estimates have said that around half of those who set out do not survive.”

o The 1991 Information Please Almanac cites unspecified “US Officials” that 100,000 boat people died fleeing Vietnam.

o Encarta estimates that 0.5M fled, and 10-15% died, for a death toll of 50-75,000.
o Nayan Chanda, Brother Enemy (1986): ¼M Chinese refugees in two years, 30,000 to 40,000 of whom died at sea. (These numbers also repeated by Marilyn Young, The Vietnam Wars: 1945-1990 (1991))

· Rummel
o Vietnamese democide: 1,040,000 (1975-87)
§ Executions: 100,000
§ Camp Deaths: 95,000
§ Forced Labor: 48,000
§ Democides in Cambodia: 460,000
§ Democides in Laos: 87,000
§ Vietnamese Boat People: 500,000 deaths (50% not blamed on the Vietnamese government)

Nguyễn Thị Từ Huy – Muốn hay không muốn

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Việt Nam on 2012/02/09 at 22:50

Nguyễn Thị Từ Huy

Theo Văn Hóa Nghệ An

Ở Việt Nam hiện nay, ta thấy không chỉ có nông dân bị bần cùng hóa bởi chính sách ruộng đất bất hợp lý và bởi chế độ cưỡng chế đất đai bất công mà vụ Đoàn Văn Vươn là một ví dụ nổi bật, đang là mối quan tâm chung của dư luận ở thời điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới này. Cũng không chỉ có công nhân bị bần cùng hóa. Mà cả giới lao động trí óc cũng bị bần cùng hóa.

Trong khi mà trong xã hội hiện thời có những nghề cho phép một số người lao động hưởng lương lên đến cả trăm triệu đồng một tháng, thì lương khởi điểm của giáo viên nói chung chưa đến hai triệu, lương khởi điểm của giảng viên đại học trên hai triệu một chút. Lương của các nghiên cứu viên ở các viện nghiên cứu còn thấp hơn, vì dù sao ngạch giảng dạy còn được cộng thêm một số phần trăm đứng lớp. Với giá cả hiện tại, mức lương đó không thể đảm bảo cho các sinh hoạt tối thiểu hàng ngày của những người lao động trí óc, nhất là ở các thành phố lớn. Một chế độ lương như vậy là một chế độ lương mang tính chất bần cùng hóa. Người lao động trí óc bị bần cùng hóa và bị đẩy đến chỗ không còn có thể nghĩ gì khác ngoài việc làm sao kiếm cho đủ tiền để sống. Nghịch lý ở đại học (và các trường học nói chung) là sau khi mất nhiều năm học hành, cố gắng để đạt kết quả xuất sắc, người giảng viên được giữ lại trường giảng dạy, thì nỗi lo lắng bận tâm của họ không phải là trau dồi kiến thức, phát triển năng lực chuyên môn, mà là làm gì để sống. Vậy đấy, đi làm rồi, có được một nghề rồi, một nghề được xem là cao quý hẳn hoi, nhưng lại phải khốn khổ loay hoay tìm cách trả lời câu hỏi: « làm gì để sống ? »[1]

Điều nguy hại đáng nói ở đây là: người lao động trí óc bị bần cùng hóa bởi chế độ lương phải lao vào các hoạt động kiếm sống, và sau một thời gian thì họ khó có thể giữ được các hoạt động trí óc, mặc dù lao động của họ vẫn được xếp vào loại lao động trí óc, ví dụ như nghề nghiên cứu hay đi dạy. Thực tế cho thấy là có một số giảng viên ở bậc đại học đi dạy rất nhiều nhưng để nói là họ có hoạt động trí óc thì rất khó, bằng chứng là họ không có công bố hoặc nếu có thì đó là những bài viết mà chất lượng khoa học thấp, ít hàm lượng tri thức và phát kiến, ít hàm lượng tư duy. Bài giảng của họ chỉ là tổng hợp lại kiến thức của người khác, đã thế nhưng kiến thức cũng không được thường xuyên cập nhật, bài giảng của họ có thể được soạn một lần để giảng trong nhiều năm và giảng ở nhiều nơi.

Một nghịch lý khác mà giới trí thức ở các nước phát triển rất khó có thể hình dung, nhưng đang là thực tế của xã hội chúng ta: giới lao động trí óc ở Việt Nam không những bị bần cùng hóa về đời sống vật chất, mà còn bị / tự bần cùng hóa cả về đời sống tinh thần. Hiện tượng này đang thành ra phổ biến: những người, về nguyên tắc, phải làm việc với sách vở lại rất ít đọc sách, không quan tâm đến các vấn đề xã hội. Họ tự phủ nhận vai trò và trách nhiệm xã hội của họ. Không hiếm những lời phàn nàn kiểu như: giới văn chương gặp nhau không nói chuyện văn chương, mà nói chuyện bất động sản, đất đai, nhà cửa, ô tô.

Mặt khác đa số tự nguyện tuân theo những quy định thành văn và bất thành văn về cách thức tư duy, đường hướng tư duy, hệ quả tất yếu là sự nghèo nàn trong nội dung tư duy, và hệ lụy thê thảm nhất là không ít người có nguy cơ đánh mất khả năng tư duy và thói quen tư duy, dẫn đến việc mất khả năng phân tích, mất khả năng tự quyết định, chỉ còn biết chấp nhận và chờ đợi những quyết định từ trên xuống, dù những quyết định đó sai hay đúng, dù chúng có tác hại như thế nào chăng nữa. Thậm chí có những người còn rất trẻ cũng đã tỏ ra không biết làm gì nếu không được định hướng. Trong khi đó, hoạt động trí óc, về thực chất, là một hoạt động mang tính tự do; và không có gì có thể tước đoạt được thứ tự do đó. Đối với tư duy tất cả đều được phép. Người ta có thể bị tước đoạt tự do công bố, tự do phát ngôn và trình bày công khai; nhưng tự do tư duy thì không gì có thể động đến được. Do đó có thể nói rằng đa số thuộc giới lao động trí óc ở ta tự nguyện tuân theo các định hướng suy nghĩ từ bên ngoài, hoặc khép mình vào những giới hạn do tự mình đặt ra, và hình dung rằng giới hạn đó trùng với những gì được phép, không lấn sang khu vực của những gì không được phép. Tuy nhiên thực tế cho thấy, sự tự giới hạn này phản ánh một nỗi lo sợ nhiều khi thiếu căn cứ, bởi vì những gì « không được phép » đối với người này lại là « được phép » (đúng hơn là « tự cho phép ») đối với người kia. Cái vòng kim cô, do vậy, không phải chỉ là sự áp đặt từ bên ngoài, mà nó còn có tính nội sinh. Giới lao động trí óc tự tạo ra cái vòng đó và để nó xiết chặt từ bên trong vỏ não. Sự tự nguyện này, xét kỹ, không gì khác hơn là hệ quả của sự bần cùng hóa tinh thần. Nếu như một bộ phận lớn thuộc giới lao động trí óc Việt Nam được gọi là « trí thức trùm chăn » thì đó chính là hậu quả của sự (tự) bần cùng hóa về phương diện tinh thần này. Bởi lẽ giờ đây, khi các thói quen và quán tính đã được thiết lập một cách vững chắc, nếu họ có hất cái chăn đi, thì việc trình bày ý kiến cũng hoàn toàn không đơn giản và không dễ dàng. Thử giả định rằng họ được chuyển sang sống ở các nước dân chủ và họ có toàn quyền phát ngôn về mọi chuyện mà không có bất kỳ một đe dọa nào hay một áp lực nào, thì liệu họ có thể tham gia phản biện như các trí thức ở các nước sở tại không?

Sự bần cùng hóa tinh thần là một trong những nguyên nhân khiến giới lao động trí óc ở đây đánh mất sức mạnh, đánh mất khả năng phân biệt đúng sai, phải trái, và khiến họ có thể vi phạm các chuẩn mực đạo đức mà vẫn cảm thấy yên ổn lương tâm. Họ tìm sự yên ổn bằng cách sử dụng các lý lẽ mang tính ngụy biện để bào chữa hoặc hợp pháp hóa cho sự vi phạm đạo đức hay sự vi phạm pháp luật. Chẳng hạn giới giáo viên có thể tự cho là chính đáng khi nhận phong bì của học sinh và phụ huynh. Họ lập luận rằng đấy là để bù lại sự bất công trong chế độ thù lao của nhà nước. Họ đã dùng cái sai này để sửa cái sai khác, trong khi những giải pháp đúng đắn đã không được lựa chọn. (Chúng tôi sẽ còn trở lại bàn sâu hơn về điều này). Họ thấy hay không thấy rằng, giữa cái phong bì và sự suy đồi đạo đức, sự suy thoái trầm trọng của nền giáo dục, có mối quan hệ khăng khít? Họ thấy hay không thấy mối liên hệ nhân quả giữa cái phong bì và tệ nạn bằng cấp dởm, chức danh dởm, những thứ đã và đang đẩy chất lượng giáo dục xuống bờ vực thẳm? Đơn giản là một khi đã nhận tiền của sinh viên thì họ không thể đánh trượt hay dành điểm kém cho luận văn hay luận án của sinh viên, dù cái luận văn hay luận án ấy có kém cỏi đến mức độ nào chăng nữa. Họ thấy hay không thấy rằng khi quyết định trao bằng thạc sĩ hay tiến sĩ cho một người không có năng lực tương xứng với học vị đó, thì họ đã gián tiếp đẩy bao nhiêu thế hệ học sinh vào nguy cơ bị ngu hóa, bị bần cùng hóa về mặt trí tuệ ? Vấn đề không chỉ là việc cho ra đời một tiến sĩ dỏm, mà cùng với tiến sĩ dỏm đó là hàng loạt thế hệ thanh thiếu niên phải gánh chịu hậu quả. Rồi những người thầy kém sẽ tạo ra các thế hệ những người thầy kém tiếp theo, cứ như vậy mà kéo dài tình trạng suy thoái.[2] Vậy những người làm giáo dục muốn đẩy trách nhiệm ấy cho ai?

Vấn đề đối với giới lao động trí óc không hẳn chỉ là hợp tác hay bất hợp tác. Voltaire từng bị triều đình bỏ tù vài lần, nhưng rồi sau đó cũng có lúc ông hợp tác với triều đình Versailles và triều đình của Friedrich II, rồi lại bất hợp tác. Goethe từng giữ nhiều chức vụ trong các triều đình của Đức thời bấy giờ. Hugo từng thực sự mong muốn tham gia triều chính, muốn có ảnh hưởng để thực hiện các ý tưởng của mình. Ông trở thành người tin cẩn của Louis-Philippe năm 1844, và sau đó làm Nguyên lão nghị viên. Rồi tự lưu đày, từ chối trở về nước Pháp khi mà ông chưa thấy đất nước này có tự do. Dù ở thời kỳ nào trong đời họ, dù họ lựa chọn thái độ nào, hợp tác hay bất hợp tác, thì đó cũng là những nhân cách lớn, những trí tuệ lớn và những bản lĩnh văn hóa đáng nể trọng. Họ biết rõ họ làm việc vì ai, vì cái gì. Nhân loại đã được hưởng lợi rất nhiều từ sản phẩm của lao động trí óc của họ.

Sự (tự) bần cùng hóa về tinh thần, về đời sống trí tuệ đã khiến cho đa phần giới lao động trí óc Việt Nam hiện nay mất dần các phẩm chất tư duy, mất cả năng lực làm việc trong lĩnh vực chuyên môn hẹp của mình, mất luôn cả bản lĩnh văn hóa, cả ý thức về sự đúng sai, cả phẩm chất đạo đức công dân. Tự giữ cho mình trong sạch, chuẩn mực còn khó, nói chi đến chuyện dám đứng lên bảo vệ công lý, bảo vệ nhân tính! Do vậy mà thuật ngữ « trí thức trùm chăn » cũng chưa hẳn đã xác đáng. Bởi lẽ trí thức trùm chăn dù thơ ơ với thế sự thì ít ra cũng còn giữ được căn cốt của người trí thức.

Vấn đề quan trọng đặt ra cho giới lao động trí óc Việt Nam hiện nay là làm thế nào để thoát ra khỏi tình trạng bần cùng hóa cả về vật chất lẫn tinh thần. (Nếu nhìn vào các dấu hiệu của tài sản thì có vẻ như một số người thuộc giới lao động trí óc đã thoát khỏi sự bần cùng hóa về vật chất, nhưng nghịch lý là ở chỗ: phương thức mà phần lớn trong số đó sử dụng để thoát nghèo lại góp phần thúc đẩy quá trình bần cùng hóa về tinh thần ở họ. Điều này sẽ được đề cập vào một dịp khác.)

Nhưng có lẽ vấn đề còn quan trọng hơn là làm thế nào để, nếu không phải toàn bộ thì cũng là phần lớn, giới lao động trí óc của chúng ta mong muốn thoát khỏi tình trạng bần cùng hóa ấy, nhất là thoát khỏi sự bần cùng hóa về tinh thần. Để tránh sa vào duy ý chí, cần nói rõ hơn rằng, dù « Muốn » chưa phải là điều kiện đủ, thì đó cũng là điều kiện cần. Hiện nay còn quá ít những người có mong muốn này. Một khi còn chưa có sự mong muốn, khi mà tình trạng chung là chấp nhận, chịu đựng và thỏa hiệp, thì việc đặt câu hỏi « làm thế nào » chỉ là một thứ xa xỉ phẩm mà thôi. Mong muốn là điểm khởi đầu giúp ta nhận ra rằng thực ra trong mỗi người đều có một nguồn năng lượng rất lớn. Cần phải để cho nguồn năng lượng đó được giải phóng để biến thành sức mạnh; giải phóng khỏi nỗi sợ hãi, khỏi những định kiến, khỏi sự ràng buộc và hạn hẹp trong nhận thức. Mong muốn là điểm khởi đầu giúp ta có thể đi tới chỗ đồng ý với John Stuart Mill rằng: « …nguồn gốc của mọi thứ đáng trọng trong con người như một thực thể có trí tuệ cũng như một thực thể có đạo đức, đó là phẩm chất sửa lại sai lầm của mình »[3], và càng đồng ý với ông hơn về nhận định: « Con người có khả năng sửa chữa sai lầm của mình bằng thảo luận và trải nghiệm. Không phải chỉ có bằng trải nghiệm không thôi. Phải có thảo luận để biết trải nghiệm cần được suy đoán ra sao. »[4]

Chỉ khi nào giới lao động trí óc có mong muốn thoát khỏi tình trạng bần cùng hóa này thì lúc đó họ mới nghĩ đến việc tìm giải pháp, tìm cách làm thế nào, khi đó họ mới có cơ may tìm lại được các giá trị của lao động trí óc. Bởi vì sự mong muốn sẽ kích hoạt trí não, sẽ khiến cho trí óc hoạt động, và sự hoạt động của trí óc là cách duy nhất giúp người ta tìm ra giải pháp tích cực nhất trong hoàn cảnh của mình. Như câu ngạn ngữ của người Pháp: « vouloir c’est pouvoir »[5], hoặc như Đam San của Tây Nguyên: « Ta sẽ đi tới nơi ta muốn ».

Vinh, ngày 24/1/2012

________________

[1] Vì muốn tập trung vào chủ đề chính của bài viết, chúng tôi sẽ không đề cập đến một hiện tượng, đó là một số người thuộc giới lao động trí óc ở Việt Nam, bất chấp sự khắc nghiệt của hoàn cảnh, đã không ngừng nỗ lực làm việc. Đến mức mà, có lẽ các đồng nghiệp nước ngoài của họ cũng khó có thể hiểu được họ lấy đâu ra sức lực để có thể làm việc như thế trong một điều kiện tồi tệ như thế.

[2] Xin kể ra đây một câu chuyện nhỏ mà người viết bài này từng chứng kiến khi còn ở Pháp : một sinh viên bậc master (tương đương với thạc sĩ ở Việt Nam) có cơ hội nhận học bổng làm tiến sĩ, nhưng cô ấy không nhận, và giải thích rằng, cô ấy tự thấy không có thiên hướng và không đủ khả năng làm nghiên cứu, vì thế cô ấy nghĩ rằng nên để suất học bổng đó cho người nào thực sự có năng lực và say mê nghiên cứu. Cô ấy sẽ tìm một việc phù hợp với trình độ và sở thích của mình. Trong ví dụ này ta thấy rõ những gì mà nền giáo dục Pháp đã đạt tới trong việc giáo dục con người. Những gì được Rousseau nói tới từ thế kỷ XVIII : « Con người thực sự tự do chỉ muốn điều gì anh ta có thể, và làm điều gì anh ta thích » (Emille hay là về giáo dục, bản dịch tiếng Việt của Lê Hồng Sâm và Trần Quốc Dương, NXB Tri Thức, 2008, tr. 95)

[3] John Stuart Mill, Bàn về tự do, bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Văn Trọng, NXB Tri Thức, 2005, tr. 56 .

[4] Như trên, tr. 56

[5] Muốn là có thể thực hiện được.

Bút Gà (chấp bút) Đinh Thế Huynh gởi ban tuyên giáo Tiên Lãng_HP

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2012/02/09 at 18:31

Tớ, Bút Gà, chấp bút cho (thủ) anh Đinh Thế Huynh của bộ hầu đồng (BCT) bình vôi[1] đảng CSVN, gởi lời phán của bà đến ban tuyên giáo Huyện ủy Tiên Lãng và TP Hải Phòng. Những tưởng lời bà phán trước Tết đã đủ cho các cậu hiểu nhưng sao các cậu đần thế. Các cậu chắc hẳn là lũ đần ông nên bà lại phải cho uống nước “thánh” (vật) vậy.

Trước nhất bà hỏi có phải thằng Đại (tá) Ca này ăn phải ka ka hay vui vẻ úp mặt vào cái lá đa nên phát ngôn ô uế thối um cả đền bà. Bà nói là phải để cái thằng này thánh vật mới chừa tật. Vừa chưa hết cái họa mồm[2] hôm nọ nay lại văng miệng (miểng). Thế này thì đến chết thôi.

Ối giời ơi, cái thằng thánh vật mà không chết này thì bà phải vời cô hồn các đảng làm thịt mày mới được! Mày hại bà rồi! Làm sao mày lại nói nhà của Vươn là chòi. Thế thì chết bà rồi! Bao nhiêu năm qua các anh mày thu hồi đất đai, lấy đất, lấy ruộng, đào mồ xới mả nhân dân bị kiện cáo đầy trước cửa phủ bà. Giờ nếu nhỡ bọn mất đất, mất ruộng, mồ mả ông bà ấy chúng chỉ xin bồi thường theo tiêu chuẩn lượng giá “cái chòi anh Vươn” thì các anh mày phải chết giở thôi!


Bà đã cảnh báo anh Huynh nhà mình chớ khinh suất để mất chủ động. Cần phải biến hóa mọi việc từ thủ sang công, đổi công thành tội, bóc tách đổ lên đầu anh em nhà Lê văn Hiền, Lê văn Liêm. Đứa nào dại đỡ đòn bao che thì ta đem làm dê tế thần luôn thể. Tuyệt đối cô lập ranh đe “thuần hóa” anh em nhà họ Đoàn với con ngáo ộp “thế lực thù địch” là chúng tịt ngòi ngay thôi nhé.

Bà nói thế đấy. Nghe thấu chửa? Đã qua Tết, xong chuyện khánh tiết đón tiếp lính anh, lính chị địa phương về thăm viếng gởi phong bì chúc Tết anh Huynh, nên Bút Gà tớ đây mới có tí thì giờ ngoáy hũ cáy chấm bút (mút) chút đỉnh. Các cậu biết là anh Huynh đã giao ban báo chí đầu năm[3] vào cuộc định hướng đỡ đòn. Anh giao cho 6 nhiệm vụ, tất cả tập trung vào “tuyên truyền” cho cái bình vôi (BCT) của bà. Anh gởi lời của bà trước nhất là tập trung tuyên truyền kỷ niệm ngày mở phủ (3/2), học tập và làm theo gương đạo đức/đ. (tên đệ tử con cầu tự) Hồ Chí Minh.

Đồng thời anh Huynh đã gài khung “Hành vi chống người thi hành công vụ” rồi đấy. Anh Ba Dũng (a hèm, đại biểu quốc hội của tỉnh cảng Hải Phòng) cũng đồng điệu góp lời trong công điện số 57 yêu cầu “Xử lý nghiêm trường hợp chống đối người thi hành công vụ”. Cứ quán triệt, nhất trí như thế mà làm. “Việc báo chí đưa tin, phân tích đa chiều vụ cưỡng chế” cũng chỉ là đánh bùn sang ao trong hệ thống luật lệ (lệnh)[4] nhà nước đảng ta.

Anh Huynh nhà mình cũng đã điện về cậu Vũ Hồng Chuân, Trưởng ban Tuyên giáo huyện ủy, triệu cuộc mít tinh quán triệt thời sự tại Đảng bộ thị trấn Tiên Lãng. Toàn thể đảng viên Huyện Tiên Lãng “thống nhất về mặt tư tưởng”, “giữ vững lập trường” là “ông Vươn … đã chọn giải pháp chống người thi hành công vụ là vi phạm cực kỳ nghiêm trọng về luật pháp”. Việc cưỡng chế, thu hồi đất về cho bà là chuyện thường ngày ở huyện, như chuyện cái đêm hôm ấy đêm gì[5]. Bà khoán đất cho chúng thì bà đòi lại thế thôi. Không thể để vụ tay Vươn này trở thành một tiền lệ trong “nhà nước pháp quyền” chuyên chính đảng ta.

Anh Huynh cũng từng nhắc đi nhắc lời phán của bà để các cậu thấu triệt thế này. Cái câm lặng cần thiết cho việc trị dân. Đừng để cho “cây tỏi nổi giận”[6] và chước sách hữu hiệu là bịt miệng nạn nhân. Thế chứ lị. Ta đã bịt miệng nạn nhân tập thể rồi đấy. Bằng cách cho chúng tự do tha hồ gởi khiếu kiện tới đủ cơ quan ban ngành và địa phương, cho báo chí lề phải tha hồ báo cáo tường thuật, cho cụ Lê Đức Anh ngay lập tức ra mặt la làng la xóm là các cậu Tiên Lãng làm quấy. Từ Huyện tới Tỉnh, từ Thành phố đến Trung ương, từ Mặt Trận đến Quốc hội theo kiểu đèn cù hội chứng Lục Vân Tiên[7]. Cụ Hiền Đức với núi hồ sơ dân oan khiếu kiện cầm đèn chạy trước nhưng ô tô Thanh tra nhà nước cứ phanh trước nhà hàng Long Đình nhận tí trà nước thì đã sao nào. Ta đã bịt (miệng) nòng súng hoa cải trao (tráo) anh Vươn cái loe đài “Em sẽ khai thành khẩn, em nhận thức việc đó là sai” và “Đảng và nhà nước khoan hồng cho em và người thân của em.” thế là xong.

Bà cảnh cáo rằng thì là dù tiếng súng hoa cải lẹt đẹt nhưng âm vang và đồng hưởng rất to vì số dân oan vô vàn khắp nơi trên toàn cõi đất nước[8]. Khi ấy ta phải cần những phèng la, trống ếch, chuông mõ ồn ào nhiễu động để át tai và đánh lạc hướng.

Phương pháp đánh lạc hướng một cách chủ động là tổ chức “tuyên truyền về các lễ hội” nhất một. Đây là một trong 6 nhiệm vụ hàng đầu của báo chí. Đấy là việc có lợi vô vàn. Tất cả những gì về truyền thống, dân tộc sẽ được gán ép, gắn liền với đảng và nhà nước ta. Cùng lúc ta tạo dựng được cái bình phong xã hội hạnh phúc, vui chơi trong chốc lát để chẳng ma nào để ý đến những khổ đau, xấu xa, bất cập diễn ra trước mắt ngày ngày. Và hơn hết ta lôi kéo, mê hoặc, mị dân hao mòn năng lực vào cái đình đám, vô hình (ăn mày dĩ vãng theo Bà) và quên nhãng đấu tranh cho công bằng xã hội trong hiện thực.

Phương pháp đánh lạc hướng khác cũng không kém phần rôm rả, có vẻ như “ngẫu hứng qua cầu” là (phản) phản biện[9] của giới trí thức/trí ngu/trí ngủ, trùm chăn/bó chiếu/giăng mùng. Ta kích cho chúng thỏa thê gây sóng gió với cơn bão trong tách trà[10] (he he he, cái này phải cần Bổ đề toán mới giải ra hết) cho đến khi chén nước nguội dần thì ta nốc cạn.

Ta mặc cho chúng trăn (chăn) trở để lương tâm lâu lâu được giũ bụi, phơi nắng khỏi bị mốc meo mắc bệnh hắc lào. Đám “nói và làm” như Điếu Cày, Phạm Thanh Nghiên, anh Ba SG, Cù Huy Hà Vũ, Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Trần Huỳnh Huy Thức, Tạ Phong Tần, Bùi Thị Minh Hằng, Đoàn Văn Vươn dám thách thức bà thì đã được giải quyết nhanh chóng rồi. Còn các cụ/cựu, nguyên/ngơ, nghị/nghễnh xôi oản một (nhất) thời, phát ngôn (ngông) nhiễu động cũng rất cần thiết cho cái “dân chủ đầu mưng mủ” đảng ta.

Ta để cho các cậu (chậu) kiểng Mặt Trận vờ vịt (mờ mịt) hoắng lên “Nếu mà xử lý không đúng mực thì chúng tôi sẽ có tiếng nói, sẽ có hành động để phản ứng lại.[11] Những đảng viên la toáng “xấu hổ” vẫn ôm bình bát (bình vôi) khất thực cửa đền. Bà đẻ đứa con hoang Mặt Trận để ôm tráp cho bà thì đố (bố) nó bảo vệ cho ai đấy! Các cậu ấy biết tỏng tòng tong rằng-thì-là các anh nhà mình đã be bờ thì ngọn đầu sóng vũ bão lẻ loi cũng là chuyện nhỏ như con thỏ. Có mà cả ngàn con sóng nhỏ cùng dồn dập không ngừng thì các anh mày mới kệch. Ối dào, anh Ba phù phép “quả đấm thép” Vinashin tái cấu trúc thành “bột bánh bao” tha hồ rút/đút ống mà có thấy thằng nào ló mặt “hành động để phản ứng lại” đâu.

Bà sai tớ phải luôn nhắc nhở nhân dân quán triệt “chân lý” bà là chủ đất (nước) từ cái thời cướp chính quyền. Đó là một “khách quan lịch sử” và “ơn đảng, ơn chính phủ” đời đời phải tạc ghi chứ lị. Sở hữu toàn dân có nghĩa là dân chỉ toàn có tiếng còn bà thì được trọn nguyên miếng. Đứa nào nói bà cướp đất[12] là mắc tội phỉ báng và đáng đi nằm nhà đá. “Sở hữu toàn dân” là đỉnh cao trí tuệ của đảng (cướp) ta nằm ở đuôi của cái gọi là kinh tế thị trường “định hướng xã hội chủ nghĩa”. Chừng nào mà nông dân vẫn tự nguyện làm “nhân dân” khoán hộ đất bà và khối công nhân, người dân thành thị luôn xin xỏ cầm sổ đỏ thì vận của bà vẫn thông hanh.

Năm nay là năm con rồng. Rồng đất/nước cỡi đầu ngọn sóng (Tiên Lãng) khó mà thuần hóa được. Bà thuộc cõi âm, lại khắc tinh con rồng nên mệnh yểu và cần lính anh, lính chị các cậu hết lòng bảo vệ. Các cậu sểnh vụ này bể bình vôi thì mất lộc, hết thóc đi ăn mày đấy.

Bút Gà


[6] Cây Tỏi Nổi Giận, tiểu thuyết của Mạc Ngôn

[7]Vân Tiên cõng mẹ chạy vô, đụng phải Thanh tra cõng mẹ chạy ra.
Vân Tiên cõng mẹ chạy ra, gặp ma Ba Đình cõng mẹ chạy vô.”


Chuỗi bài:


[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu  – (8) Gió mưa là chuyện của trời …  – (9) Vô liêm sỉ – man rợ – (10) Phế-anh-hùng – (11) Luật Lệ(nh) … (12) Nhà em có nuôi một con két … (13) Cái nhà là nhà của ta … (14) Mèo – thỏ]