vietsoul21

Archive for the ‘Cộng Đồng’ Category

Trần Trung Đạo – Cách mạng dân chủ tại Việt Nam, khoảng cách và hy vọng

In Cộng Đồng on 2012/07/04 at 15:33
Image

Huỳnh Thục Vy bị bắt ngày 1/7/2012

Trong bài thơ Giấc mơ nhỏ của tôi có một đoạn nói về sông Bến Hải và sự xa cách giữa người Việt vẫn còn đang chảy trong lòng:  

Chào anh công nhân dệt từng tấm vải

Cho tôi làm con thoi nhỏ trên tay

Để tôi nối hai bờ sông Bến Hải

Nối lòng người vời vợi cách xa nhau. 

Bài thơ viết sau 1975, nghĩa là thời gian đất nước đã “thống nhất” bằng xe tăng và đại pháo, bằng sân bắn và nhà tù. Tôi không chỉ viết ra mơ ước của mình thôi nhưng đã nhiều lần làm con thoi nhỏ. Thay vì những buổi gặp gỡ nặng về hình thức, nếu có cơ hội tôi thường mang những người một thời đã tìm đủ mọi cách để giết nhau, ngồi lại bên nhau. 

Một lần cách đây cũng khá lâu, tôi mời hai người thuộc giới cầm bút đến nhà chơi. Một nhà văn miền Bắc và một nhà văn miền Nam. Cả hai đều may mắn sống sót sau cuộc chiến. Tên tuổi hai nhà văn không nằm trong danh sách hơn hai triệu người Việt gởi xác ở Trường Sơn, Hạ Lào, Quảng Trị, An Lộc, Thường Đức, Tam Quan, Bình Giã v.v… Nếu tính theo số lượng bom đạn do Mỹ, Liên Xô và Trung Cộng cung cấp và số người chết trên một quốc gia có địa lý nhỏ hẹp, dân số không đông như hai miền Việt Nam trước 1975, chiến tranh Việt Nam có thể được xem là một trong những cuộc chiến tranh có mức độ tàn phá cao nhất trong lịch sử nhân loại. 

Chiều hôm đó, chúng tôi ngồi thành ba góc quanh chiếc bàn tròn nhỏ sau vườn. Một buổi chiều êm ả hiếm hoi của mùa hè nóng bức. Hai nhà văn tôi mời đến đều nghe tên nhau từ lâu lắm, đọc văn nhau nhưng chỉ gặp nhau hôm đó lần đầu. Họ rất ngạc nhiên khi nghe tôi giới thiệu tên. Bắt tay mừng rỡ. Những tiếng “Thì ra, thì ra…” dồn dập. Ánh mắt họ sáng lên niềm cảm động chân thành vì chẳng bao giờ họ nghĩ có ngày gặp nhau trên xứ Mỹ này. Nhà văn miền Bắc kể lại hành trình gian nan của anh từ Bắc vào Nam. Những đêm di chuyển đầy nguy hiểm, những ngày tránh bom B52 trải thảm dọc Trường Sơn. Những trường hợp thoát chết trong đường tơ kẻ tóc khi quân đội miền Nam hành quân qua khu vực anh đang trú ẩn. Nơi anh đóng là vùng tranh chấp. Ban ngày Quốc Gia, ban đêm Cộng Sản. Người dân sống dưới hai chế độ. Ban đêm khi lính rút về đồn, anh lại ra hoạt động. Dù sao anh chỉ là nhà văn, nhà báo, không trực tiếp tham dự các trận đánh lớn nên không có những tình tiết gay go hấp dẫn. 

Nhà văn miền Nam thì khác. Anh là người lính chiến dạn dày trận mạc. Anh kể lại vài trận đánh đáng nhớ mà anh từng tham dự. Có một lần tiểu đoàn của anh được trao trách nhiệm như một “cục đường để dụ kiến”. Vừa đổ quân xuống ngọn đồi không bao lâu, đào công sự chưa xong, các cuộc tấn công liên tục của phe nhà văn miền Bắc đánh vào. Mở đầu là những cơn mưa pháo. Pháo liên tu bất tận. Pháo không ngừng nghỉ. Pháo ngày đêm. Phe nhà văn miền Nam bị thiệt hại khá nặng. Anh tiểu đoàn trưởng hy sinh ngay trong trận pháo đầu. Sau vài ngày pháo kích, các đơn vị của phe nhà văn miền Bắc từng đợt tấn công. Quá đông. Tỉ lệ có thể nói là mười đánh một. Đơn vị của nhà văn miền Nam phải chọn cái sống trong cái chết, và chống đỡ là con đường duy nhất. Bằng mọi giá phải giữ ngọn đồi. Mà cho dù có muốn rút lui cũng không rút được. Cuối cùng, phe nhà văn miền Nam giữ được ngọn đồi. Như đã tính toán, sau đó, các phi đoàn mở ra hàng loạt các cuộc oanh tạc và pháo binh của phe nhà văn miền Nam tập trung bắn nát chẳng những chung quanh ngọn đồi mà cả các khu rừng bên ngoài “cục đường”. Chung quanh ngọn đồi nhỏ ngập đầy xác chết. Sau trận đánh, những chiếc xe ủi đất của công binh đào một đường mương dài, đủ sâu để khỏi hôi thối và xúc hàng trăm xác chết của phe nhà văn miền Bắc đổ vào trong đó. Phe nhà văn miền Nam cũng chẳng hơn gì. “Cục đường” đen đã chảy thành những vũng máu đỏ. Những công sự, những căn hầm bị pháo sập trở thành những ngôi mộ chôn xác đồng đội của anh. Những chiếc trực thăng tải thương hạ cánh mang theo xác anh tiểu đoàn trưởng và rất nhiều bạn bè mới chia nhau điếu thuốc hôm qua nay đã nghìn thu cách biệt. “Nếu lúc đó không giữ được ngọn đồi thì sao?” Nhà văn miền Bắc hỏi. “Thì chết hết chớ sao, cục đường mà”. Nhà văn miền Nam trả lời. Anh cười, một nụ cười mang ít nhiều chua chát. 

Nhưng rồi anh nói tiếp: “Chắc là anh nghĩ tôi lúc đó căm thù ghê gớm lắm phải không?” Có, nhưng không ghê gớm lắm đâu. Các anh bắn tôi và tôi bắn anh. Mà cho dù các anh không bắn tôi thì tôi cũng bắn các anh. Chiến tranh mà. Xong thì thôi. Lòng căm thù chế độ Cộng Sản trong tôi chỉ lên cao độ khi sống trong nhà tù Cộng Sản và chịu đựng những cực hình đày đọa, những đối xử bất nhân, những tháng ngày đói khát”

Trời sắp tối, hai anh đều có chuyện phải đi. Họ bắt tay từ giã nhau. Không ai xin lỗi ai. Không ai tha thứ ai. Nhưng qua buổi tâm sự tôi biết, họ đã hiểu nhau hơn, đã thấy được nhu cầu của một Việt Nam hôm nay và ngày mai phải thoát ra khỏi chiến tranh, nghèo đói, độc tài và đi cùng nhân loại hòa bình, ổn định, tự do và giàu mạnh. 

Không phải ai cũng có may mắn có dịp trang trải tấm lòng như nhà văn miền Bắc và nhà văn miền Nam sau vườn nhà tôi lần nọ. Đó đây vẫn còn nhiều cái nhìn khắt khe đối với những người đang tranh đấu cho tự do dân chủ với một quá khứ liên hệ với đảng Cộng Sản. Cuộc chiến quá dài, ân oán quá sâu, không phải dễ dàng gì thay đổi hết được. Người Ý, người Ba Lan khi giong buồm, nhổ neo rời cảng, họ để lại quá khứ bên bờ biển chỉ mang trên vai ước vọng về một tương lai tốt đẹp hơn cho họ và con cháu họ. Người Việt Nam thì khác. Người Việt ra đi mang theo cả cuộc chiến tranh đầy máu và nước mắt. Nhiều trong số chú bác anh chị đến được bến bờ tự do khi chiếc vết thương trên da thịt vẫn còn đang mưng mủ sau bao năm tháng tù đày. Xiềng xích không còn, bom đạn đã thôi rơi nhưng tiếng khua, tiếng thét như vẫn còn nghe trong giấc ngủ quê người. Thái độ, dù khắt khe, quyết liệt hay cực đoan đi nữa cũng có lý do riêng của nó. Như nhà văn miền Nam phát biểu, chính sách của đảng CSVN từ 1975 đến nay là nguyên nhân trực tiếp của sự căm thù sâu thẳm trong lòng nhân dân Việt Nam nói chung và miền Nam nói riêng, đối với chế độ CS và là mầm mống của sự phân hóa, chia rẽ, hoài nghi trong cộng đồng người Việt. Nhưng dù lý do gì, các chú bác anh chị vì tương lai con cháu mình, nên suy nghĩ lại và chọn những hình thức đấu tranh hữu hiệu, thích hợp với thời đại ngày nay. 

Con đường cách mạng dân chủ Việt Nam, vì thế, khác và khó khăn hơn nhiều so với con đường đã diễn ra tại Bắc Phi và tiến trình chuyển hóa dân chủ đang diễn ra tại Miến Điện. 

Điều kiện ra đời và tồn tại của chế độ độc tài toàn trị Cộng Sản tại Việt Nam không giống các chế độ độc tài cá nhân như Muammar Gaddafi tại Lybia, Augusto Pinochet tại Chile, Mobutu Sese Seko tại Zaire hay độc tài phe nhóm quân sự (Junta) Miến Điện, Argentina, Peru, Nigeria, El Salvador và cũng không giống như các chế độ Cộng Sản chư hầu chùm gởi của cây đại thụ Liên Xô một thời tồn tại ở Đông Âu. 

Phần lớn các chế độ độc tài quân sự, dù cá nhân hay phe nhóm, hình thành do kết quả của các cuộc đảo chính, lật đổ các chính phủ tiền nhiệm, nhiều khi cũng rất độc tài. Cơ hội đã đưa một số sĩ quan từ vị trí của những người lính trở thành những nhà chính trị. Ngoài lòng tham lam quyền lực và địa vị, họ không sở hữu một vốn liếng chính trị và không có một sự chuẩn bị đầy đủ để lãnh đạo quốc gia. Tham vọng quyền lực của họ chỉ là tham vọng cá nhân, phe nhóm. Muammar Gaddafi của Lybia, Hosni Mubarak của Ai Cập nổi tiếng sắc máu nhưng gốc gác chỉ là những viên sĩ quan võ biền. Các quốc gia Miến Điện, Libya, Ai Cập, Tunisia cũng không trải qua cuộc chiến tranh ý thức hệ tàn khốc suốt mấy mươi năm và vai trò của các đế quốc cũng không mang tính quyết định như trong cuộc chiến Việt Nam. 

Việt Nam thì khác. Những người lãnh đạo CSVN được đào tạo để hoạt động, tổ chức, lãnh đạo chuyên nghiệp, kiên quyết theo đuổi đến cùng các mục tiêu ngắn và dài hạn của đảng CS. Chính Lê Duẩn trong tác phẩm quan trọng Dưới Lá Cờ Vẻ Vang Của Đảng, đã xác định tham vọng nhuộm đỏ Việt Nam và “đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”. Từ khi thành lập vào năm 1930 cho đến nay, tuy khác nhau về chiến lược của mỗi thời kỳ và hoạt động dưới nhiều tên gọi (Đảng Cộng sản Đông Dương, Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương, Đảng Lao động Việt Nam, Đảng Nhân dân Cách mạng ở miền Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam) nhưng Đảng hoàn toàn nhất quán về tư tưởng và mục tiêu. 

Nạn sùng bái cá nhân dưới các chế độ độc tài không Cộng Sản có nhưng không tác hại trầm trọng đến nhận thức của người dân. Mobutu Sese Seko của Congo là một ví dụ. Nhà độc tài khát máu của Congo này sau các chuyến viếng thăm Bắc Hàn, Trung Quốc, Rumani về đã bắt chước xây dựng một bộ máy tuyên truyền giống hệt như Cộng Sản bằng cách ra lịnh thay đổi tên đường, tên phố, quốc kỳ, quốc ca, và tháng 10 năm 1971 thay cả tên nước. Nhưng ngay cả khi Mobutu còn sống dân Congo chẳng những không mấy quan tâm đến những thay đổi đó mà còn một cách châm biếm gọi tên y là Mobutu Sesesescu chỉ vì Mobutu là bạn thân của tên độc tài Rumani Nicholas Ceauşescu. 

Việt Nam thì khác. Giống như “cha già dân tộc” Kim Nhật Thành của Bắc Hàn, hình ảnh một “cha già dân tộc” Hồ Chí Minh đã đóng một lớp băng dày trong nhận thức của nhiều người và ngay cả được thờ chung một bàn thờ với đức Phật Thích Ca, không một phát hiện, một chứng cớ, một tài liệu khoa học nào có thể làm lay chuyển niềm tin mù quáng vào Hồ Chí Minh trong lòng những người Việt cuồng tín. Ý thức nô lệ tồn tại dưới hình thức tà đạo đó không phải chỉ trong hàng ngũ đảng viên mà cả ngay trong những người đấu tranh chống lại các sai lầm của lãnh đạo đảng. 

Về mặt lý luận, việc so sánh với hệ lý luận Cộng Sản với những lý thuyết biện minh cho sự tồn tại của các chế độ độc tài như “Sách Xanh” (Green Book) của Muammar Gaddafi hay Đường Miến Điện Dẫn Tới Chủ Nghĩa Xã Hội (The Burmese Way to Socialism) chẳng khác gì đem giáo trình đại học so với sách tập đọc lớp vỡ lòng. Tầng lớp cán bộ làm công tác tuyên truyền ở Miến Điện và Lybia chỉ là một phường nịnh hót gió chiều nào theo chiều đó. Tại Lybia trước tháng Hai 2011, với đại đa số dân chúng Sách Xanh mang tính cách giải trí nhiều hơn là lý luận. Giáo sư Vandewalle của đại học Dartmouth và tác giả của Lịch Sử Libya Hiện Đại (A History of Modern Libya) nhận xét Sách Xanh là một chuỗi những câu cách ngôn chứ không phải là một hệ lý luận thông suốt và chẳng thuyết phục được ai. Sau cách mạng dân chủ, dân chúng đốt hàng ngàn Sách Xanh không phải vì sợ “tư tưởng Muammar Gaddafi” có cơ hội hồi sinh nhưng chỉ vì đó là biểu tượng của chế độ độc tài. 

Việt Nam thì khác. Giới lãnh đạo đảng CSVN có cả kho lý luận, một bộ máy tuyên truyền tinh vi và những câu trả lời thích hợp cho từng lứa tuổi, từng ngành nghề, từng giới, từng trình độ học vấn. Nền giáo dục một chiều và phản khoa học như cây đinh đóng sâu vào ý thức của con người từ tuổi ấu thơ cho đến lúc trưởng thành. Không ít người Việt, nhất là những người luôn bắt đầu bằng câu rào đón “đừng nói là tôi bị tẩy não đấy nhé” đã bị tẩy não mà không chịu thừa nhận hay không biết mình bị tẩy não. Với họ, sự có mặt của Đảng Cộng sản trong đời sống chính trị và sinh hoạt xã hội Việt Nam tự nhiên chẳng khác gì bốn mùa xuân hạ thu đông. Họ còn tin rằng chỉ có đảng CSVN với tư cách một đảng cầm quyền, mới có khả năng dẫn dắt dân tộc Việt Nam trên con đường đi đến một tương lai tươi sáng. Họ viện dẫn trong quá khứ đảng có vài chính sách bị cấp dưới thực thi quá tả hay quá hữu nhưng về căn bản con đường đảng chọn vẫn là con đường đúng, và tham nhũng là một hiện tượng xấu của mọi xã hội đang từng bước đi lên vả lại ngay cả Anh, Mỹ, Pháp đều đầy dẫy đâu chỉ riêng tại Việt Nam. 

Chế độ Cộng Sản tại Việt Nam cũng không giống như chế độ độc tài Cộng Sản tại các quốc gia Đông Âu. Mặc dù đảng Cộng Sản tại các nước Đông Âu ra đời trước thế chiến thứ hai nhưng nếu không có sự chiếm đóng của Hồng Quân Liên Xô và sự thỏa thuận của các cường quốc Anh, Mỹ, Liên Xô, sẽ không có một nhóm quốc gia Cộng Sản được gọi là Cộng Sản Đông Âu. Bản thân của định nghĩa “Cộng Sản Đông Âu” đối nghịch với khối các quốc gia dân chủ Tây Âu, vốn đã mang nặng ý nghĩa chính trị trong thời kỳ chiến tranh lạnh nhiều hơn các ý nghĩa về văn hóa hay địa lý. 

Việt Nam thì khác. Như tôi có dịp trình bày, trong lúc các đảng Cộng Sản Đông Âu thực chất chỉ là những dây chùm gởi sống nhờ vào sức mạnh của đồng Ruble, xe tăng và hỏa tiễn Liên Xô, khi cây đại thụ Liên Xô thối ruột thì dây chùm gởi cũng khô héo theo, đảng CSVN bám sâu vào cây đại thụ Việt Nam, sinh sôi nẩy nở bằng nhựa nguyên và nhựa luyện Việt Nam. Quá trình hình thành và phát triển của đảng CSVN là một quá trình đầy ngộ nhận lịch sử và họ tồn tại đến ngày nay, một phần lớn cũng nhờ vào những ngộ nhận đó. Cuộc chiến thắng của đảng CSVN ngày 30-4-1975 là kết quả của cuộc lừa gạt lớn nhất trong lịch sử Việt Nam. 

Không ít người Việt cho rằng sở dĩ Việt Nam không được quốc tế quan tâm đúng mức như Miến Điện, Ai Cập chỉ vì chưa có những Giải Nobel Hòa Bình như Aung San Suu Kyi của Miến Điện hay Mohamed ElBaradei của Ai Cập, nơi những tiếng nói của họ đã được chính phủ khắp thế giới lắng nghe. 

Thật ra, tại Ai Cập quê hương của Mohamed ElBaradei và Miến Điện quê hương của Aung San Suu Kyi, dù cai trị bằng bạo lực sắc máu, quyền con người trong các quốc gia độc tài quân sự không hoàn toàn bị xóa bỏ. Chế độ thông tin, kiểm duyệt còn nhiều kẻ hở. Qua các phương tiện truyền thông quốc tế, những gì xảy trong các quốc gia này đều được thế giới biết được khá rõ. Các tổ chức đối lập, chống chính phủ, công đoàn tuy bị trấn áp nhưng vẫn có cơ hội hoạt động. Đảng đối lập Liên Đoàn Toàn Quốc Vì Dân chủ (National League for Democracy, viết tắt là NLD) của bà Aung San Suukyi có cơ sở hạ tầng vững chắc và đã thắng 396 trong tổng số 485 ghế Quốc Hội trong cuộc bầu cử dân chủ công khai được quốc tế công nhận năm 1990 trước khi bị đám quân phiệt đàn áp. Các cơ sở từ trung ương đến địa phương, kể cả đại diện của chính phủ NLD cạnh các chính phủ quốc tế bên ngoài Miến Điện cũng đã duy trì các hoạt động trong suốt thời gian bà Aung San Suu Kyi bị giam giữ tại nhà. 

Thế giới đang ca ngợi bà, ngoài đức tính can đảm và kiên trì với lý tưởng tự do còn vì thái độ ôn hòa, chấp nhận đối thoại để giải quyết các vấn đề của đất nước. Tuy nhiên không phải bao giờ thái độ ôn hòa, hợp tác cũng đem lại kết quả tốt. Như có lần tôi đã viết, hòa giải hòa hợp là con đường hai chiều, không ai có thể đứng bên này sông bắt người khác phải bơi qua sông để hòa giải với mình. Trong điều kiện Miến Điện hay Việt Nam, hòa giải tùy thuộc trước hết vào chính sách và thái độ của giới cầm quyền. 

Không giống như giới lãnh đạo Miến Điện cuối cùng đã thức tỉnh, tại Việt Nam, lời kêu thương thống thiết của tầng lớp nhân dân bị áp bức suốt 37 năm qua chỉ là những viên sỏi nhỏ rơi vào biển cả, không tạo nên gợn sóng, tiếng vang nào. Với tất cả sự kính trọng dành cho bà Aung San Suu Kyi, nếu bà phải đối phó với cơ chế lãnh đạo độc tài ngoan cố như Việt Nam, có thể bà phải chọn giải pháp của đức Giám Mục Giáo Hội Anglian Desmond Tutu, Giải Nobel Hòa Bình 1984. 

Chủ trương của đức Giám Mục Giáo Hội Anglian Desmond Tutu là một bài học giá trị để đối phó chính sách ngoan cố của chế độ độc tài. Giám Mục Desmond Tutu trong cuộc đấu tranh chống Phân Biệt Chủng Tộc Nam Phi vào thời điểm khốc liệt 1976, thay vì thỏa hiệp, đàm phán, đã kêu gọi thế giới gia tăng cấm vận, tẩy chay hàng hóa Nam Phi, cô lập chính phủ Nam Phi, trừng phạt kinh tế Nam Phi càng mạnh càng tốt mặc dù điều đó có ảnh hưởng trực tiếp đến lực lượng lao động phần lớn là da đen. Giám Mục Tutu chống cả sáng kiến thương lượng với chính quyền da trắng Nam Phi của Tổng Thống Reagan. Khi được hỏi cấm vận và trừng phạt kinh tế chỉ làm cho dân da đen bị đói trước, ông thẳng thắn tuyên bố nhân dân Nam Phi chịu đói nhưng đói “có mục đích”. Rất nhiều quốc gia như Anh, Mỹ và công ty quốc tế hưởng ứng lời kêu gọi của đức Giám Mục. Nền kinh tế Nam Phi bị khủng hoảng. Đồng Rand của Nam Phi mất giá đến 35 phần trăm trong một thời gian ngắn. Để cứu vãn nền kinh tế, thực chất là cứu vãn gia tài, lãnh đạo chính quyền da trắng đành phải nhượng bộ. Giám Mục Desmond Tutu được trao giải Nobel Hòa Bình 1984, giải Nhân Đạo Albert Schweitzer 1986, giải Sydney Peace 1999, giải Gandhi Hòa Bình 2005, Huân Chương Tự Do Tổng Thống Hoa Kỳ 2009 và được thế giới ca ngợi nhờ vào vai trò của ông như nhân vật hàng đầu trong nỗ lực giải quyết vấn đề phân biệt chủng tộc tại Nam Phi. 

Việt Nam không thiếu những nhà đấu tranh có nhiều năm thử thách trong lao tù, có đạo đức, có lý luận, có tâm huyết nhưng chỉ vì chưa có điều kiện khách quan và chủ quan để những ánh đuốc tự do được tỏa sáng xa hơn. Các nhóm hoạt động vì dân chủ, các nhóm đối kháng với đảng CSVN gần như không có một phương tiện nào. Ngoại trừ một số ít người hoạt động dân chủ tên tuổi đang bị tù và được các cơ quan nhân quyền quốc tế được ghi nhận, hàng trăm, hàng ngàn người đang bị đe dọa thường trực, trấn áp, tù đày trong các làng xã, quận huyện xa xôi hay đang trốn tránh tại nhiều nơi trong vùng Đông Nam Á, không ai biết được, không một tổ chức nào tổng kết hết được. Sự chịu đựng trong âm thầm câm nín của các tầng lớp nhân dân Việt Nam so với nhân dân Miến Điện và các nước Bắc Phi đau đớn hơn nhiều. Những bản án dài hạn chụp lên đầu những người yêu nước khi họ chỉ vừa cất lên tiếng nói trước những bất công xã hội. Người ít và thế cô. Giãi giang sơn Việt Nam hình chữ S thực chất là một nhà tù được bao bọc bằng một bức tường bưng bít thông tin dày và một chế độ trấn áp không thua tiêu chuẩn một nhà tù khắt khe quốc tế nào. 

So sánh và phân tích một số điểm khác nhau tiêu biểu giữa Việt Nam và các quốc gia khác để thấy cuộc đấu tranh vì tự do dân chủ Việt Nam khó khăn và phức tạp hơn cuộc chuyển hóa dân chủ Miến và cách mạng hoa lài Bắc Phi nhiều lần. 

Đấu tranh chống lại một hệ thống cai trị tinh vi như CSVN như thế mà chúng ta chỉ chen lấn nhau trong những chỗ đứng chật hẹp, co cụm trong những mẫu số chung có tính địa phương, tôn giáo, bám víu vào những phạm trù, lý luận lỗi thời, sẽ không giải phóng được dân tộc ra khỏi chế độ Cộng Sản. 

Đảng CSVN còn thống trị nhân dân Việt Nam được, vì ngoài nhà tù sân bắn, còn nhờ vào việc gieo rắc các mầm mống phân hóa, khai thác các bất đồng không cơ bản, đào sâu thêm hố hoài nghi chia rẽ trong cộng đồng dân tộc. Nếu các thành phần dân tộc vẫn tiếp tục chống đối nhau, tiếp tục khai thác những bất đồng nhỏ nhặt, tiếp tục kéo dài những cuộc tranh luận mà cả hai bên đều biết sẽ không đi đến đâu, rồi tất cả chỉ rơi vào chiếc bẫy của đảng CS. 

Một khái niệm quen thuộc gần như nghe mỗi ngày là chính nghĩa quốc gia. Trước năm 1975, khi nghe nói đến chính nghĩa quốc gia chúng ta tự động nghĩ đến các thành phần dân tộc đang chiến đấu chống Cộng Sản và về mặt địa lý, phải sống bên bờ phía nam của sông Bến Hải. Ngày nay, nhận thức đó không còn đúng và biên giới đó không còn tồn tại nữa. Khái niệm quốc gia dân tộc hôm nay mang ý nghĩa rộng lớn hơn nhiều. Đó là chỗ dựa không phải chỉ dành cho những người Việt hải ngoại mà cả đồng bào trong nước đang chịu đựng trong xích xiềng Cộng Sản, không phải chỉ những người thuộc chế độ Việt Nam Cộng Hòa mà tất cả những ai quan tâm và dấn thân vì một Việt Nam tự do dân chủ và thịnh vượng. 

Nội lực dân tộc phải bắt đầu từ mỗi con người Việt Nam trước khi chảy chung vào dòng thác dân tộc. Cuộc biểu tình ngày 1 tháng 7 vừa qua với sự hiện diện của rất nhiều thành phần, từ thanh niên sinh viên học sinh, nông dân, công nhân đến các bậc bô lão và văn nghệ sĩ. Đó là những dấu hiệu tích cực. Họ có quá khứ khác nhau nhưng cùng được thôi thúc bằng tinh thần yêu nước, truyền thống tự chủ giống nhau. Tổng cộng số người tham dự các cuộc biểu tình từ Hà Nội đến Sài Gòn vào khoảng vài trăm nhưng có một giá trị tinh thần rất lớn. Bước chân của họ là khởi điểm cho một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ toàn diện và triệt để đang diễn ra tại Việt Nam. Quyền tự chủ dân tộc trong thời đại ngày nay gắn liền với dân chủ. Nói cụ thể hơn, Việt Nam không bao giờ giành lại được Hoàng Sa, Trường Sa từ tay bá quyền Trung Cộng bằng cơ chế chính trị độc tài mất lòng dân và không được quốc tế ủng hộ như chế độ CSVN hiện nay. 

Cuộc cách mạng giành độc lập của Mỹ làm thay đổi khuôn mặt thế giới suốt mấy trăm năm nay cũng chỉ bắt đầu bằng một nhóm nhỏ khoảng từ 30 đến 130 người đã can đảm ném các thùng trà của Anh xuống vịnh Boston năm 1773. Tương tự, biến cố Phá Ngục Bastille sáng ngày 14 tháng Bảy 1789 được chọn làm ngày quốc khánh Cộng Hòa Pháp không phải để giải phóng nhiều trăm hay nhiều ngàn tù nhân chính trị nhưng chỉ là hành động mang tính biểu tượng vì ngày đó nhà tù Bastille chỉ giam giữ 7 tù nhân. Các biến cố ném trà xuống biển, phá ngục Bastille hay cuộc biểu tình 1 tháng 7 vừa qua tại Việt Nam đều không phải là biến cố lớn về hình thức nhưng chuyên chở những nội dung lịch sử. Ba sự kiện có một đặc điểm giống nhau rằng cách mạng là một tiến trình không thể nào đảo ngược. Chọn lựa hôm nay, vì thế, không còn là chọn lựa của nhân dân Việt Nam mà là của giới cầm quyền.  Bài học Tunisia, Ai Cập, Libya và Miến Điện cho thấy thuận với lòng dân thì sống mà nghịch với lòng dân sẽ bị bánh xe lịch sử nghiền nát. 

Cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam là cuộc đấu tranh có chính nghĩa và chính nghĩa luôn thắng trận cuối cùng. Từng giọt nước đã và đang được rót vào ly. Không ai biết giọt nước làm tràn ly sẽ rót xuống khi nào nhưng chắc chắn mọi người đều biết, sẽ rót xuống từ lòng dân tộc Việt Nam và thời gian không còn xa xôi nữa. Cả hơn 700 tờ báo đảng, dĩ nhiên không cùng hô đả đảo Trung Quốc xâm lăng trên trang nhất nhưng cũng không dám chỉ trích, không xám xúc phạm bởi vì đảng biết những bước chân trên đường phố Sài Gòn, Hà Nội hôm kia là những bước chân từ khát vọng thiêng liêng và trong sáng. 

Ước mơ của hai người lính, hai nhà văn miền Bắc và miền Nam mong được thấy các thế hệ Việt Nam tương lai được sống trong hòa bình, ổn định sẽ thành sự thật. Tổ tiên chúng ta đã làm được, ông bà chúng ta đã làm được và rồi chúng ta, con cháu của các ngài, cũng sẽ làm được. Con tàu rộng thênh thang và mỗi ngày được nối thêm nhiều toa mới, đủ chỗ cho mọi người có tâm huyết hướng về cùng điểm hẹn tự do, dân chủ, nhân bản và thịnh vượng cho Việt Nam mãi mãi về sau.

Trần Trung Đạo

Nguồn: Facebook Trần Trung Đạo

 

Chân dung một cô gái Việt Nam

In Cộng Đồng, Liên Kết, Thế giới, Việt Nam on 2012/06/22 at 09:47

Căn phòng nằm trên bờ con sông con Askerelva chảy qua trung tâm thủ đô Oslo. Qua cửa kính ra ban-công, Diễm nhìn những cây phong lá úa vàng soi bóng trên nước, tưởng tượng nếu đây là một căn phòng trong ký túc xá sinh viên, với người yêu bên cạnh, thì thơ mộng biết bao.

Tranh “Cô gái u sầu” của Nguyễn Trọng Kiên.

Nhưng bây giờ trước mặt nàng là ông cảnh sát di trú và bên phải là một người con gái, cỡ tuổi Diễm. Cô xin tầm trú. Trước khi lên đây, một bà cảnh sát đã khám xét người và hành lý của cô. Bà muốn tìm biết cô gái thật sự là ai, tên tuổi thật là gì, nhà cửa thật ở đâu. Trong ba bốn năm gần đây, nẩy ra một hiện tượng mới là mỗi năm có vài chục người Việt Nam tới xin tầm trú tại Na-uy, không một người nào là… người thật. Báo chí Na-uy gọi họ là ingen person, tương đương với nobody, Diễm và các đồng nghiệp thông dịch viên dịch đùa từng chữ là ‘vô nhân’. Trong cái túi xách nhỏ, có hình hai bàn chân, bà cảnh sát chỉ moi ra được một cái quần tây, một áo thung, một xú-chiêng, hai xì líp, một típ kem đánh răng, một bàn chải. Chân dung thật của cô gái không nằm trong cái túi xách. Bây giờ Diễm dịch cho ông cảnh sát thẩm vấn.

“Cô tên gì?” ông cảnh sát hỏi, sau khi bật máy PC.

“Nguyễn Thị Vân.”

“Ngày sanh?”

“25.12.1988.”

“Như vậy là cô sanh vào lễ Giáng Sinh và năm nay cô 16 tuổi?” ông cảnh sát chiếu ánh mắt nghi ngờ trên cô gái ngồi trước mặt. Diễm đoán người đồng hương này nếu không già bằng Chúa Cứu Thế thì ít nhất phải hai mươi lăm tuổi. Nàng biết theo luật lệ hiện hành, trẻ vị thành niên được nhiều đoàn thể can thiệp và bảo vệ, và nếu được chấp thuận tị nạn thì có thể kéo thêm cha mẹ, em út. Nhưng Diễm đoán lầm về vụ kéo thêm cha mẹ:

“Tên cha?” ông cảnh sát hỏi tiếp.

“Nói chung… Tôi không có cha.”

“Tên mẹ?”

“Tôi không có mẹ.”

“Ít nhất cũng có một người sanh ra cô chớ?”

“Tôi mồ côi từ nhỏ, không biết gì cả…”

“Cô có giấy tờ gì không, như sổ thông hành, căn cước chẳng hạn?”

“Không.”

“Không có giấy thông hành, làm thế nào cô có thể đi ra khỏi Việt Nam, và qua bao nhiêu biên giới tới đây được?”

“Không biết. Người ta đưa tôi đi.”

“Người ta là ai?”

“Nói chung nà người giắt đi đấy.”

“Có khi nào họ đưa qua trạm kiểm soát biên giới không?”

“Tôi không biết đâu là biên giới.”

“Cô rời khỏi Việt Nam bao giờ?”

“Không nhớ.”

“Cô nói phỏng chừng cũng được,” ông vẫy vẫy những ngón tay như con chim bay “một năm, một tháng, hay một tuần?”

“Khoảng một tháng.”

“Cô nhớ đã đi qua một thành phố nào đặc biệt, ví dụ Paris, Berlin, Bắc Kinh?”

“Không nhớ. Không biết.”

Suốt hai tiếng đồng hồ với hàng trăm câu hỏi, người cảnh sát chỉ nhận được một câu trả lời rất ư thoải mái “không biết.” Chạm phải những lời nói dối quá xấc xược, ông đỏ gay mặt như người bị xúc phạm nặng, nhưng lấy lại bình tĩnh, gõ vào máy vài dữ kiện vu vơ. Thấy hồ sơ sơ sài quá, ông ta cố gắng nhắc lại lần thứ ba một câu hỏi:

“Cô nói lại tôi nghe, cô từ Việt Nam tới Na-uy bằng phương tiện gì?”

Cô gái chắc đã được học tập kỹ, dư biết rằng ông cảnh sát muốn truy ra hãng máy bay chuyên chở để qui trách nhiệm, nên quay sang thông dịch viên nói:

“Chị lói với ló nà em đi bộ từ Cao Bằng sang Trung Quốc đấy, dzồi từ Trung Quốc đi bộ sang Nga, từ Nga sang đây bằng xe thùng đấy… Ðã lói mí ló dzồi mà cứ hỏi mãi thế!”

Diễm dịch lại câu nói, bỏ câu ‘chị lói với ló’ đi – vì nàng biết nó ngắn ngủi thế mà không tài nào dịch hết ý được. Ông cảnh sát ghi vào hồ sơ lời khai, chẳng cần biết đoạn đường từ Cao Bằng sang Nga dài bao nhiêu dậm, đi bộ mấy năm. Rồi ngẩng đầu lên hỏi theo đúng thủ tục:

“Cô muốn gì tại Na-uy?”

“Xin tị lạn.”

“Lý do tị nạn?”

“Nói chung nà ở Việt Nam đói quá.”

“Tại sao lại chọn Na-uy làm nơi tị nạn?”

“Nói chung nà nghe người ta bảo ở La-uy sướng thì trả tiền cho đường giây đưa đi.”

“Cô phải trả bao nhiêu tiền?”

“Lăm ngàn đô.”

“Số tiền này từ đâu cô có, nếu cô đói?”

“Có cái ông gần nhà thấy tôi khổ thương hại cho tiền đi.”

“Ông ấy tên gì?”

“Không biết.”

“Ðịa chỉ?”

“Bên cạnh nhà tôi.”

“Hồi nãy cô nói vô gia cư, từ nhỏ sống ở ngoài đường?”

“Thì ở gần nhau ngoài đường.”

Diễm nghĩ bụng nếu có một nơi mà người vô gia cư có nhiều tiền như thế và hảo tâm như thế nhất định nàng sẽ tới đó xin tị nạn. Nhưng ông ta khoanh tay, ngả lưng ra đằng sau như muốn thư dãn, rồi bấm nút ‘print’ vào máy PC. Bên ngoài ban-công một con bồ câu đáp xuống, thấy bóng nhiều người, lại bay đi.

Ông cảnh sát đưa cô gái xuống phòng căn cước dưới tầng trệt để chụp hình, lăn tay, làm thẻ căn cước tạm. Diễm cũng là dân tị nạn – mệnh danh là ‘thế hệ thứ hai.’ Thấy cảnh này, Diễm nhớ lại những câu chuyện gian truân, bi hài mà ‘thế hệ thứ nhất,’ cha mẹ nàng, kể về chuyến vượt biên hai mươi sáu năm về trước, lúc nàng chưa sanh ra.

Nhiều người hỏi tại sao phải liều mạng như vậy? Cha mẹ có một câu trả lời khá đặc biệt, tương đối khiêm nhường hơn phần đông – khát khao tìm một mảnh đất có thể lương thiện mà sống. Ông bà đã tìm được một mảnh đất như thế và sanh ra Diễm trên mảnh đất như thế. Diễm thừa hưởng tấm lương thiện như suối nhận nước mạch từ đỉnh núi cao tinh tuyền. Diễm không biết nói dối – gần như. Nói ‘gần như’ là để trừ những lần như mẹ hỏi có bồ chưa nói chưa, bố hỏi mua cái cà-vạt cho bố bao nhiêu nói nửa giá, bạn trai hỏi em giận cái gì, nói không có gì cả…

Ông cảnh sát cầm từng ngón tay của cô gái lăn trên tấm kính đục, khi hình dấu tay hiện rõ nét và đầy đủ trên màn ảnh máy vi tính, với tín hiệu ‘Ready’, ông nhấn bàn đạp. Diễm nhìn những ngón tay thon khá đẹp của cô gái, tự hỏi tại sao cô có thể nói dối một cách tự nhiên như thế. Và Diễm cảm thấy một nỗi chán nản xen lẫn hổ thẹn về người cùng màu da.

Một chiều đầu mùa đông. Trận tuyết đầu tiên trong thành phố khiến đường xá hỗn loạn vì tai nạn xe cộ. Diễm rút trong cặp đi làm ra tờ báo cũ đọc lại, cho qua thời gian trôi rất nhanh mà xe buýt chạy rất chậm, và bụng bắt đầu đoi đói. Tin có nghi vấn ông Arafat chết vì bị đầu độc; tin tuyết lở ở Miền Tây khiến 60 chiếc xe bị kẹt giữa đường; tin cảnh sát bắt được chín người trong một băng ăn cắp toàn người Việt Nam, hoành hành từ nhiều năm trên toàn quốc. Số thiệt hại cho các cửa tiệm lên đến nhiều chục triệu. Các mặt hàng được băng đảng này ưa chuộng là dao cạo Gillette, mỹ phẩm L’Oréal, nhất là thuốc quệt lông mày và tô mắt, có cả dầu cá. Chưa bắt được người đầu sỏ của tổ chức, nhưng trong số những người bị bắt có một người đàn bà tầm trú can dự vào 19 vụ có tang chứng, người này đã có bốn tiền án ăn cắp. Chuông điện thoại reo. Cảnh sát di trú cần Diễm đi thông dịch gấp. Cảnh sát hẹn mang xe đón đường xe buýt để rước Diễm đi ngay. Diễm moi gói bánh mì ăn dở ra ăn; nếu không bị kẹt xe, giờ này nàng đang ăn cơm với cha mẹ ở nhà, mẹ nói hôm nay sẽ làm món canh bí rợ.

Cô cảnh sát di trú mặc thường phục chiều nay sẽ gặp một người đàn bà trong tù để thông báo lệnh trục xuất. Khi người tù xuất hiện trước cửa phòng tiếp khách, Diễm thấy mặt quen quen. Người thiếu phụ nặng nề ngồi xuống ghế bành, một tay đặt lên bụng lớn. Diễm để ý đến sự kiện nhỏ là trong căn phòng bây giờ có ba người đàn bà. Cô cảnh sát tự giới thiệu xong, mỉm cười hỏi cô tù, Diễm dịch lại:

“Cô khỏe không?”

“Khỏe.”

“Bao giờ sanh?”

“Hai tháng nữa.”

Cô hắng giọng:

“Hôm nay tôi đến đây để nói về một việc khác, không liên quan gì tới việc trộm cắp,” cô cảnh sát nói trong khi mở một cái kẹp hồ sơ bằng nhựa trong, lấy ra một tờ giấy. “Tôi đến để báo cho cô biết về lệnh trục xuất.”

Người thiếu phụ mang bầu mặt không biến sắc, bàn tay vẫn để trên bụng, cánh tay kia vẫn để xuôi theo đùi trên ghế da. Cô cảnh sát đưa cho Diễm tờ quyết định của bộ Nội Vụ, bảo dịch miệng cho đương sự.

Diễm dịch xong, đưa tờ giấy cho người con gái tên Vân ký tên. Bây giờ nàng đã nhớ ra đây là cô gái xin tầm trú vào đầu mùa thu. Nàng nhớ ra bàn tay đang đặt trên bụng kia đúng là bàn tay đẹp đặt trên tấm kính mờ để lấy dấu. Bàn tay táy máy trong bốn tháng nay làm điêu đứng các siêu thị và cửa hàng khắp nước. Lại cùng một cảm giác gờm nhớm len vào lòng Diễm.

Cô cảnh sát cất tờ quyết định vào kẹp. Lấy một tờ giấy khác, cầm bút như sẵn sàng ghi chép.

“Xin cô nghe đây,” cô cảnh sát mở đề cho một cuộc thẩm vấn cuối cùng. “Cô không đủ lý do xin tị nạn, cộng thêm việc phạm pháp, cô không có con đường nào khác ngoài đường trở về nơi cô đã ra đi.”

“Thế thì trả tôi về Ðức.”

“Tại sao lại Ðức? Cô đi từ Việt Nam mà!”

“Tôi từ bên Ðức sang…”

“Trong hai lần thẩm vấn trước đây cô nói từ Việt Nam, đi bộ sang Trung Quốc rồi sang Nga. Bây giờ lại nói từ Ðức sang. Lời nào là thật?”

“Cái thai lày của một thằng Ðức.”

“Nhiều lần chúng tôi đã hỏi cha của thai nhi là ai, cô đều nói là không biết.”

“Không biết… thật đấy. Nói chung nà đêm không thấy mặt.”

“Dù cô không biết gì hết, không biết mặt người ngủ chung, không biết mình là ai, không biết cha mẹ là ai, không biết từ đâu tới, chúng tôi vẫn có cách tìm ra cô là ai. Và chúng tôi sẽ liên lạc với tòa đại sứ Việt Nam cấp giấy cho cô về Việt Nam.”

“Lói thật cũng chết, lói dối cũng chết…” người tù nói nhanh, rồi lại vội nói “Chị đừng dịch cho ló nghe nhá!”

“Cô ấy nói gì?” thấy Diễm không dịch câu nói của người đối thoại, cô cảnh sát hỏi.

“Cô ấy đổi ý, không muốn tôi dịch câu vừa nói.”

Cô cảnh sát nhỏ giọng nói với người đàn bà mang thai:

“Xin cô cộng tác với chúng tôi để tiến hành cho sớm việc hồi hương, tránh cho em bé khỏi sanh ra trong tù.”

“Tôi cũng không muốn sanh con trong tù…”

“Vậy tên thật cô là gì? Ðịa chỉ?…”

Người tạm gọi là ‘Vân’ không trả lời. Diễm bỗng thấy nét mặt của Vân mềm ra, như có một lớp sáp vừa tan để lộ cảm giác – khuôn mặt của một con người. Bất cứ tên tuổi cô là gì, đây là một người mẹ. Người mẹ đặt cả hai tay lên bụng, cúi xuống lẩm bẩm:

“Con tôi sinh trong tù à?”

Rồi im lặng. Diễm cảm thấy xót xa trong lòng. Cảm giác gờm nhớm từ bốn tháng nay biến thành một cảm giác ân hận. Diễm nghĩ đến thân phận chính mình – sở dĩ mình sống nhởn nhơ được, buổi sáng đứng bán nhà thuốc tây, buổi chiều đi nhảy aerobic, lâu lâu đi thông dịch lấy ngoại tài mua son phấn không cần ăn cắp… là vì cha mẹ mình đã chọn được con đường đúng ý nguyện: tới một nơi có thể lương thiện mà sống được. Không, không phải cha mẹ chọn. Ðó là Trời ban. Ba chục năm nay, bây giờ ‘Kho Trời’ đã khóa. Nếu cha mẹ nàng chậm chân, không chừng giờ này Diễm cũng là một người mở miệng bằng câu không biết, và không từ làm bất cứ việc gì để sinh tồn.

Lợi dụng lúc cô cảnh sát nói chuyện với bà gác tù, Diễm phá chút qui củ thông dịch, đưa tay bắt bàn tay mềm và ẩm của Vân, chúc may mắn và ai ủi vài câu. Vân tỏ ra cảm động. Cuối cùng, nghĩ tới mai mốt Vân lên máy bay về Việt Nam, Diễm ái ngại hỏi:

“Liệu người lương thiện có sống được ở Việt Nam không?”

“Nương thiện nà cái gì?”

© Tâm Thanh

Nguồn: Đàn Chim Việt

Tan Le – Chuyện nhập cư @ Ted Talk

In Cộng Đồng, Việt Nam on 2012/06/07 at 20:57

 
BBT: Đây là một trong những mảnh đời tỵ nạn cộng sản Một câu chuyện về bốn người phụ nữ của ba thế hệ trong hành trình đi tìm tự do. Câu chuyện này chỉ là một sợi chỉ nhỏ cộm lên trong bức tranh Người Tỵ Nạn Vượt Biển (Boat People Refugees).
 
Các bạn bấm cc để xem phụ đề tiếng Việt.
 

Người Buôn Gió – Đêm dài biên ải

In Cộng Đồng on 2012/05/07 at 09:41

 
Câu chuyện này được viết bằng ngôn ngữ Việt, nhưng không nhất thiết độc giả  đủ cơ sở kết luận rằng nó xảy ra ở nước CHXHCN Việt Nam

4 giờ 30 chiều ngày 4 tháng 5 năm 2012 hắn đến trước ô cửa phòng xuất nhập cảnh đồn biên phòng chìa giấy thông hành. Lúc này không có khách qua, bốn cán bộ trong phòng đang nói chuyện, một người uể oải cầm giấy thông hành của hắn, chả buồn nhìn, anh ta quay sang nói chuyện tiếp. Lúc sau anh ta mới giở cuốn sổ thông hành gõ tên vào máy tính. Mặt anh ta biến sắc, nhưng anh cố gắng lấy lại vẻ tự nhiên rất nhanh. Giả vờ gọi một người đến xem hộ, anh ta đi vào trong. Người đến trông hộ nhìn máy tính rồi nhìn hắn một giây rất lạ. Rồi bảo hắn ngồi chờ.

Hắn ngồi ung dung chờ, nét mặt thản nhiên, nhìn một tốp người đến làm thủ tục che kín khuất tầm nhìn giữa hắn và cơ quan xuất nhập cảnh. Hắn thầm nghĩ, giờ chỉ tích tắc là hắn biến mất, không biết đám biên phòng ấy sẽ nghĩ gì khi không thấy hắn nữa. Chắc họ nghĩ hắn không biết gì.

Nhưng hắn đến đây, làm giấy thông hành, rồi đến cửa xuất nhập cảnh chìa giấy, không phải để thấy khó khăn là trốn về, dẫu biết tí nữa thôi mọi chuyện sẽ trở nên khó lường.

Hắn nhớ về ánh mắt, những ánh mắt chỉ bừng lên một giây rồi trở lại bình thường để che giấu ý nghĩ bên trong.

Cách đây gần 20 năm trong một trại tù, khi hắn đi qua hàng tù đang ngồi bó gối, chợt hắn lăn tăn gợn điều gì, hắn nghĩ đến một ánh mắt lạ trong hàng tù nhìn hắn rất nhanh rồi cụp xuống, ánh mắt của kẻ sắp liều lĩnh. Hắn chột dạ quay người thật nhanh lại và may mắn tránh được cú đâm bằng bàn chải nhựa mài nhọn. Đó là ánh mắt mà hắn không lường trước được.

Còn hôm nay, khi đưa giấy thông hành qua ô cửa, hắn chờ đợi ánh mắt lóe lên bất ngờ của người hải quan biên phòng. Đoàn người đi qua, đám hải quan nhìn vẫn thấy hắn ngồi nhàn nhã, không có vẻ sốt ruột, không thắc mắc, cứ như hắn có thể ngồi chờ như vậy đến bất tận.

Những người hải quan đi lại, gọi điện liên tục, một vị thiếu tá xuất hiện, họ hội ý với nhau rồi lại điện đi , điện lại. Hai người đi ra đứng quanh hắn, hút thuốc lá nhưng hắn biết đó là canh chừng. Họ có vẻ thiếu mất sự bình tĩnh khi rít thuốc lá và cách thay đổi vị trí đứng.

Hắn đến gần, xin một ngụm nước. Viên đại úy vào phòng lấy ngay ra cốc nước lạnh ân cần đưa cho hắn. Chả có ai ở chỗ này xin nước của cán bộ hải quan vốn rất quyền lực và bận rộn, đáng lẽ anh ta phải chỉ ra hàng quán đằng kia, nhưng anh ta đi lấy nước ngay. Có lẽ viên đại úy không nghĩ mình đang làm một điều bất thường. Nhưng việc chỉ mình ra quán nước khuất tầm nhìn là điều chắc chắn anh ta không muốn.

Viên thiếu tá cầm hồ sơ, bảo hắn đưa chứng minh thư và nói

– Mời anh lên gác.

Hắn đi lên theo, vào phòng anh ta bật máy lạnh, mời ngồi và hỏi.

– Anh có phạm tội gì không?

Câu hỏi y hệt ở sân bay. Hắn nói.

– Tôi không phạm tội với nhân dân, đất nước này, còn với ai đó thì tôi không thể biết, nhất là con mụ hàng xóm và lão chồng nó.

Viên thiếu tá thông báo hắn bị cấm xuất cảnh dưới mọi hình thức và nói sẽ tiến hành lập biên bản. Anh ta nhìn thái độ hắn, thấy hắn vẫn cười. Hắn nói nhẹ nhàng vâng anh cứ lập biên bản và nói rõ lý do, cho tôi xin một bản. Cứ đúng luật anh làm.

Anh ta hỏi định sang TQ làm gì, hắn nói có lẽ tôi không cần trả lời anh, vì việc đó chưa xảy ra, nhưng anh hỏi tôi xin nói. Vợ chồng lão hàng xóm chỗ nhà tôi hơn 70 tuổi rồi, suốt ngày chỉ nhòm ngó nhà người khác, tôi sang TQ mua bao cao su các loại hấp dẫn về vất vào nhà vợ chồng đó. Để họ có việc mà làm, đỡ đi nhòm ngó nhà khác.

Anh ta lắc đầu, thở dài rồi bảo.

– Thôi đó không phải việc tôi, hỏi anh thế thôi, anh có lệnh cấm xuất nhập cảnh của…

Tôi làm thủ tục thôi.

Hắn hỏi.

– Tôi có được nhìn lệnh không, có được biết cấm từ ngày nào đến ngày nào không.

Anh ta nói thác.

– Tí nữa tôi cho anh biết.

Hắn mỉm cười, sẽ chẳng bao giờ, tí nữa anh ta sẽ kiếm cớ khác. Lệnh cấm xuất cảnh với hắn sẽ là điều bí mật, không bao giờ hắn được biết ngày nào hết hạn. Ở sân bay người ta cũng không nói, chỉ nói là ngắn thôi không dài đâu, mấy bữa ý mà. Nhưng ở đây sẽ không chặt chẽ bằng sân bay, ở đó người ta quen thuộc và rành nghiệp vụ vì làm việc với quốc tế, và tầng lớp khác. Còn ở cái cửa khẩu rặt con buôn qua lại hàng ngày này, thảng có vài đối tượng hình sự trốn truy nã, hoặc vài tên TQ lưu manh, chuyện giấy tờ không kín kẽ được. Chính vì thế hắn chọn nơi đây để đưa giấy thông hành. Viên thiếu tá giơ tờ giấy cấm để nhìn, dưới ánh sáng bóng đèn ne-ong mờ xuyên qua giấy, với kỹ năng đọc sách nhiều, hắn đọc ngược và thấy được điều cần biết.

… cấm xuất cảnh đến ngày 22/07/2014….

Một nhiệm kỳ của ai đó kết thúc thì lệnh cấm cũng kết thúc, hắn buồn và vui lẫn lộn. Buồn vì lệnh cấm lâu quá, nhưng vui là đã không phí công sức để biết được. Nhiều người như hắn bị cấm mà không biết đến bao giờ. Còn hắn thì đã biết, thậm chí hắn còn biết được cả cơ quan nào đã bảo cục xuất nhập cảnh đứng ra phát lệnh cấm nữa. Khỏi phải mất tiền mua vé máy bay đi đâu khi chẳng may vợ con nổi hứng đi du lịch sang Phi, Mã, Cam …

Khi viên thiếu tá biên phòng ghi chép vào biên bản cấm xuất nhập cảnh, có 2 người đàn ông mặc thường phục lặng lẽ ngồi bên. Hắn đang nhắn tin điện thoại thì một người trẻ giơ tay gạt điện thoại nói.

– Anh không được dùng điện thoại.

Hắn quay sang thấy một cái nhìn uy hiếp dọi thẳng vào tam tinh của mình. Cái nhìn của một người qua trường lớp chính quy, thường những người ra trường chưa lâu, chưa có độ từng trải mới áp dụng bài học là cái nhìn để uy hiếp đối tượng. Những lão làng trong nghề an ninh họ thường có thái độ nhẩn nha, lợt phợt như đôi bóng Ý rồi bất ngờ đưa ra đòn hiểm. Hắn nhìn lại và nói rành rọt.

– Anh không biết em là ai, vì ở đây ai cũng mặc sắc phục, nhưng anh nói thế này, anh không bị bắt quả tang khi phạm tội, không có lệnh khởi tố, truy nã. Em động vào người anh hay tài sản của anh đều là vi phạm pháp luật. Anh dùng điện thoại đến khi nào những cán bộ biên phòng phụ trách ở đây ra lệnh cấm.

Hắn nhìn sang viên thiếu tá biên phòng, anh ta dường như không muốn phiền phức vì việc của anh ta sắp xong. Nên anh ta không nói gì, hắn tiếp tục nhắn tin dòng cuối cùng cho vợ.

Viên thiếu tá biên phòng đọc biên bản, hắn ký và hỏi xin một bản, anh ta nói sẽ đưa cho công an tỉnh sau khi bàn giao hắn sang bên đó. Thì ra những người mặc thường phục đó là an ninh tỉnh, tất nhiên thì hắn biết khi họ đi vào.

Biên phòng và an ninh làm giấy bàn giao người. Công nhận là chặt chẽ, ở đây tính mạng công dân được coi trọng, cho nên bên nào bên đó làm rất chi li về thủ tục.

Những người an ninh tỉnh đưa hắn ra sân, có hai chiếc ô tô con 4 chỗ loại đẹp đậu sẵn. Hắn được mời ngồi vào xe sau, ghế sau có hai người ngồi bên. Hắn cũng quen với kiểu ngồi này nhiều lần. Lên xe hắn chỉ nói.

– Lúc nào gần đến chỗ bán thuốc lá, các anh mua hộ tôi bao thuốc Vi Na, tôi vẫn có quyền, nhưng nếu tôi đi ra mua cũng phiền cho các anh.

Người bên trái gật đầu, nói với người bên phải.

– Tí nữa gần đoạn rẽ vào, nhớ mua cho anh ý bao thuốc.

Chiếc xe đi trước mở đường, và hai chiếc xe chui vào một căn nhà khuất sau đường ở thị xã biên ải. Căn nhà không có biển hiệu gì, không có vẻ gì là một cơ quan nào hết. Hắn xuống xe nhìn căn nhà, người chỉ huy đoán được hắn nhìn gì nên nói.

– Anh chắc không lạ gì những căn nhà kiểu này.?

Hắn gật đầu nói

– Cơ sở của an ninh.

Người chỉ huy nói.

– Anh biết thế, mình dễ làm việc hơn.

Trong căn nhà hai tầng, tầng dưới chỉ có một bộ bàn ghế và một chiếc giường cá nhân, một ti vi và nhiều báo công an nhân dân. Người ta hỏi hắn uống gì, hắn xin uống trà, lập tức trà pha xong thì thuốc lá cũng đem về.

Chỉ hỏi chuyện gia đình, xem phim, đọc báo… những người an ninh tỉnh này chu đáo và lịch sự. Có cậu trẻ hỏi anh làm gì mà phải bị cấm. Hắn nói anh không biết, nhưng mới rồi anh biết có người dùng tên anh viết bài gì trên mạng, chắc làm cơ quan an ninh phiền lòng. Cậu ta hỏi tên hắn rồi tra ở điện thoại. Lát sau lắc đầu nói.

– Thì ra là một người viết khá nổi tiếng, là anh sao anh không nhận.?

Hắn lắc đầu nói.

– Anh trình độ 10/12, năm nào sức học cũng trung bình. Tiền án, tiền sự toàn lưu manh vặt vãnh, em bảo anh ăn cắp anh biết, chứ viết lách thì anh cũng không tưởng tượng được. Chắc ai đó lấy tên anh thôi.

Một cậu trẻ nói hằn học, cách nói theo hắn nghĩ trình độ cậu ta chỉ là đi lính nghĩa vụ hết hạn được đôn lên qua lớp trung cấp nào đó. Cậu ta nói.

– Mình muốn góp ý gì, trước nhất mình phải tốt cái đã đúng không, rồi mới đi góp ý người khác.

Hắn phân tích nhẹ nhàng.

– Em nói đúng một phần, nhưng giờ anh xấu, em xấu. Anh nói em, và em nói anh. Thế mới đúng là phê bình và tự phê bình. Chứ anh đợi anh tốt, em đợi em tốt thì hóa ra chúng ta ngầm bao che cho nhau cái xấu cho nhau sao. Có khi mình xấu mình không nhận thức được, mà mình chỉ nhìn thấy ở người khác, mình phê phán họ và họ cũng phê phán mình. Như thế có phải là giúp nhau sửa chữa, tiến bộ không tốt hơn sao.?

Cậu trẻ không nói gì nữa, còn những người lớn thì họ không quan tâm lắm. Họ chỉ hỏi chuyện mình về đường phố Hà Nội, chỗ mua bán, giải trí. Đến bữa cơm mình cùng ngồi bàn ăn với họ, có bia, thịt gà, lòng xào, thit bê xào… Người chỉ huy nói:

– Thôi anh em tỉnh lẻ chỉ có thế này, giờ bất ngờ cũng không chuẩn bị được, anh ăn tạm cùng anh em, có nào dùng vậy.

Cơm xong lại ra bàn uống trà, họ mời nước ân cần rồi nói.

– Chúng tôi đợi dưới kia lên đây để bàn giao anh, họ đi từ 5 giờ chiều, chắc sắp lên đến đây rồi. Giờ anh lên gác có điều hòa, làm việc với chúng tôi một ít để có bút tích của anh nhé. Biết đâu sau này gặp lại.

Hai người an ninh dẫn hắn lên gác, một người bật điều hòa rồi ngồi xem phim. Một người hỏi cung. Người hỏi cung là cậu trẻ lúc đầu ngăn hắn hút thuốc, cậu ta đẹp trai, cười rõ tươi nói.

– Thế này anh nhé, anh chắc chả lạ gì làm việc rồi, có khi để anh tự hỏi tự trả lời còn nhanh hơn. Thôi tôi chỉ hỏi quá trình anh lên đây thế nào, đi xe nào ở dưới kia lên, lên đây mấy giờ, gặp ai, rồi đến đoạn qua cửa khẩu mấy giờ, định sang bên kia làm gì.?

Hắn trả lời, đây là việc đơn giản, vì hắn từ nhà đi đã biết sẽ phải trả lời những câu hỏi này. Cho nên hắn đi một mình, không gặp người quen nào ở xứ này, chỉ gặp xe ôm, cò làm giấy thông hành, quán cà fe. Hắn chìa số điện thoại của lái xe, cò, địa chỉ quán và nói họ có thể xác minh.

Cậu trẻ ghi đủ và cười hoài nghi.

– Không thể tin được là anh đi lên đây chỉ đơn giản thế này. Chả lẽ vì mấy bao cao su anh không mua dưới đó lại lên đây sang kia mua.?

Hắn trả lời.

– Mua dưới kia ngại người quen thấy, sang bên này lắm mẫu mã cho cả người cao tuổi dùng nữa.

Lấy lời khai chữ ký xong, anh ta nói tiếp.

– Giờ làm biên bản xác nhận là anh ở đây từ 5 giờ chiều đến 10 giờ đêm được đối xử tốt, không có đánh đập, xúc phạm danh dự nhé, thì cứ thật thế nào thì anh nói thế.

Hắn đồng ý, chỉ ghi trong biên bản là tôi phàn nàn về việc bị giữ chân (không phải bắt) 5 tiếng đồng hồ rất vô lý, ngoài ra tôi được đối xử tốt về tinh thần cũng như vật chất.

An ninh tỉnh hài lòng, họ nói.

– Thật ra chúng tôi không có việc gì với anh, anh lên đây đi biên giới, không gặp thành phần, đối tượng nào có vấn đề ở địa bàn. Chúng tôi chỉ đợi dưới kia lên bàn giao anh theo đề nghị của họ.

Hắn nói

– Sao các anh phải mất công thế?

An ninh tỉnh nói

– Thì họ nhờ mình lúc này, mình lúc khác lại nhờ họ. Thôi anh thông cảm cứ ngồi đây chờ.

Hắn nhìn đồng hồ nói.

– Thế này nhé, anh không phải là tội phạm hay chưa xác định là tội phạm. Giờ này con anh chờ anh về, em nên để anh gọi điện bảo vợ anh cho con ngủ.

Cậu an ninh gật đầu, nói.

– Anh nói vừa phải thôi nhé.

Hắn gọi về, nói bị cấm xuất cảnh, giờ đang làm tường trình và tắt máy.

Anh ta đi xuống, người còn lại đang xem phim quay ra gọi hắn.

– Anh ra giường mà nằm xem phim.

Hắn nằm trên giường xem phim, người an ninh còn lại xoay cái điều hòa cây đứng về phía hắn rồi nói.

– May là có một cái này ông ạ, chúng tôi ở đây cũng thiếu thốn đủ thứ, phó phòng mà xin mua điều hòa còn chưa được duyệt đấy ông ạ, ai biết cho chúng tôi đâu….

Có nhiều tiếng xe ô tô ồn ào, người an ninh xem phim đứng cửa sổ nhìn xuống rồi quay vào nói.

– Mình ông mà dưới kia lên cả chục người đấy, chắc toàn người quen của ông thôi. Tí gặp là biết.

Hắn điểm mặt người quen ở các cơ quan từ cục, phòng các bộ phận. Cuối cùng thì hắn chọn khuôn mặt sáng sủa, khá phúc hậu của một người và đoán sẽ gặp hắn.

Tiếng cửa mở, hắn không quay ra cũng biết là anh ta. Khi nghe tiếng gọi, hắn quay lại thấy anh ta đang cáu kỉnh, cái cáu không phải của kẻ quyền uy mà cái cáu của người bị làm phiền bởi một người quen. Anh ta gắt.

– Ông biết ông đang là loại gì, mà ông mò đi lung tung, đêm hôm không cho người ta nghỉ, đang ở nhà ôm vợ con phải đi lên đây gặp ông.

Giấy tờ lại được giở ra, vẫn những câu hỏi đi làm gì, đi thế nào, gặp ai…

Trả lời hết xong, anh ta gắt.

– Ông … đi gì nói thật đi, ông có gì trong người bỏ ra, mang theo bao nhiêu tiền, đưa ví đây, còn giấy tờ gì, hộ chiếu có không đưa nốt đây.

Hắn đưa hết, kính, đồng hồ, 2 điện thoại, chứng minh thư, giấy thông hành, ví, máy ảnh.

Anh ta xem xét kỹ chiếc ví, rồi bực bội.

– Ông làm đéo gì mà chỉ có mấy cái đồng bọ này thì đi đâu, ông sang đó mua gì mà chỉ có ngần ấy tiền. Còn tiền giấu đâu không?

Hắn đứng dậy cũng bực nói.

– Tôi cả ông làm việc với nhau nhiều, chuyện có gì trong người chưa bao giờ tôi nói dối, ông không tin tôi cởi quần áo.

Hắn định lột quần áo thì người khác ngăn lại, anh ta gắt.

– Ông… manh động thế, chúng tôi hỏi thế chứ ai bắt ông cởi quần áo, ai khám người ông, không có thì thôi chứ sao lại làm thế.

Hắn ngồi xuống, an ninh lại hỏi sao chỉ có mấy trăm ngàn. Hắn bảo thì mục đích chỉ mua mấy cái bao cao su rồi đi về. Có định đi đâu hay mua gì nữa mà mang nhiều, và hắn cũng chỉ có ngần ấy tiền thôi, làm gì có nhiều mà mang theo.

Họ bảo tạm thu hết tất cả đồ, giấy tờ, chỉ để lại cho hắn tiền để đi về, không thì lại lang thang ở đây có chứng minh thư lại làm thông hành rồi lại đi. Hắn hỏi luật nào thu đồ. An ninh nói.

– Luật gì ở đây mà ông hỏi, tôi thu làm gì, giữ để ông phải đi về thôi. Ông làm cái giấy tự nguyện giao nộp đồ cho tôi giữ hộ.

Hắn lắc đầu.

– Đây là danh dự, không viết được. Ông thu giữ thì ông cứ thu, tôi không làm.

Họ thu máy ảnh, điện thoại và giấy tờ. Làm biên bản, hắn nói.

– Luật thì ông giữ đồ tôi, thì tôi phải có biên bản, đàng này biên bản ông cầm nốt thì tôi lấy chứng cứ gì kêu ông trả đồ.

An ninh gắt gỏng.

– Ông làm việc với tôi, lạ gì nhau, tôi lấy của ông làm gì, ông về thủ đô gặp tôi thì tôi trả. Ông cứ vớ vẩn luật liếc lằng nhằng.

Lúc này một người đàn ông trung niên khoảng 56, 57 tuổi đi lên. Khuôn mặt lầm lì, hắn cảm giác được vầng sát khí tỏa trên mặt con người ấy, mặc dù không phải là dễ nhận. Như trong truyện kiếm hiệp một thanh đao từng qua trận chiến nhiều, sát khí tụ lại trên thanh đao lạnh rợn người. Gương mặt, dáng đi của con người đó làm hắn cảm giác đọc thấy nhiều thân phận, nhiều cuộc đời, nhiều án tù đã đọng lại trên con người đó.

Có lẽ tới đây hắn cũng chỉ là một số phận nhỏ nhoi,một thân phận, một cuộc đời và một án tù phảng phất trên gương mặt con người ấy.

Không phải là đơn giản mà cả chục người dưới xuôi đêm hôm lên đây. Hắn biết thêm điều nữa về số phận mình, như một con chim nhìn thấy những cánh cung của các tay thiện xạ lão làng.

Biết trước vẫn là điều tốt hơn, dù đó là điều xấu.

Đám dưới xuôi kéo thẳng về, để lại những người an ninh tỉnh ngỡ ngàng. Khi những người kia đi hết, họ gọi mình uống chén nước chia tay, rồi bảo hắn đi đi.

Hắn đi ra không nhìn lại, đường tối om. Trời đã quá 12 giờ đêm, không còn nóng nực, mát mẻ dễ chịu. Không điện thoại, không giấy tờ tùy thân, hắn đi bộ một mạch dài trên con đường quốc lộ vắng vẻ thênh thang từ thị trấn vào thành phố, đi mãi mới gặp môt xe taixi chạy trên đường. Hắn đứng vẫy, người ta xi dừng lại mở hé tí cửa kính hỏi đi đâu.

Hắn bịa ra câu chuyện vừa cãi nhau với con bồ, giận quá bỏ về thành phố. Người lái xe cho lên, hắn ý tứ ngồi ghế trước, cởi áo để anh ta thấy hắn không có gì.

1 giờ đêm vào thành phố, hắn ngồi dựa lưng vào hành lang cây cầu sắt và nhắm mắt ngủ, đợi chuyến xe sáng về dưới xuôi.

Một ngày mệt nhọc, nhưng xứng đáng vì biết được những điều muốn biết. Cho dù đó là những điều xấu, như đã nói một lần, dù là điều xấu nhưng biết được vẫn tốt hơn.

Nguồn: Blog Người Buôn Gió
Cùng tác giả:

Người Buôn Gió – Tái cơ cấu thần chưởng

Người Buôn Gió – Đêm dài biên ải

Người Buôn Gió: 18-3 trại Thanh Hà

Người Buôn Gió – Người Nông Dân Nổi Dậy

Người Buôn Gió – Hóa ra đều ăn cắp hết

Người Buôn Gió – Đi tù và đi cải tạo

Người Buôn Gió – Con trâu của ai?

Người Buôn Gió – Hà Nội trong mắt ai

Loạt bài Đại Vệ Chí Dị:

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị – Mọi sự quái đản đều là do… thế lực thù địch

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị: Cứ đổ cho thế lực thù địch xúi dục là OK!

30/4/1975 – 30/4/2012

In Cộng Đồng, Lịch Sử, Việt Nam on 2012/04/28 at 16:36

 

BBT: Gởi bạn đọc dòng âm nhạc tưởng niệm ngày 30 tháng 4 năm 1975.

 


Bác Sĩ Hồ Hải – Nhân Trị hay Vi Hiến Pháp Trị

In Cộng Đồng, Chính trị (Politics), Liên Kết, Việt Nam on 2012/03/31 at 07:34


Là một người dân, nên tôi chỉ biết lập pháp – Quốc Hội – là cơ quan quyền lực nhất của một xã hội. Nơi đây quyết định mọi thông điệp từ hành pháp đến tư pháp ban ra để áp dụng cho một xã hội.

Nhưng gần đây các cơ quan hành pháp lại có những quy định, những ý định sẽ thực hiện mà không hoặc chưa thông qua quốc hội. Trong khi đó thì, quốc hội lại đi kiến nghị cơ quan hành pháp, hoặc cơ quan hành pháp không đủ năng lực quản lý thì ra quy định o ép dân, mà không cần thông qua quốc hội.

Hơn tháng trước, một ông bí thư đảng kiêm chủ tịch thành phố Đà nẵng ra hàng loạt quy định tạm dừng nhập cư mới vào nội đô Đà Nẵng và bảo rằng không vi hiến.

Cụ thể là, bên bộ giao thông vận tải là một bộ phận của cơ quan hành pháp lại đi kiến nghị người đứng đầu cơ quan hành pháp cao nhất là thủ tướng chính phủ nâng giá thu phí giao thông lên 5% mỗi năm, mà không hoặc chưa thông qua quốc hội, và các đại điểuquốc hội lại đi kiến nghị lại bộ giao thông vận tải nên thông qua biểu quyết của quốc hội và khảo sát ý kiến người dân.

Thật tình tôi không hiểu bộ giao thông vận tải muốn gì, khi trong mỗi lít xăng sử dụng dân đã đóng đến 1/3 chi phí cho nhiều thứ phí rồi.

Từ lúc cha sinh mẹ đẻ tôi tới nay, tôi chưa nghe có chuyện Quốc hội kiến nghị với chính phủ, mà chỉ nghe chính phủ kiến nghị Quốc hội, và Quốc hội hoặc đồng thuận hoặc phủ quyết, chỉ mới nghe dưới thời Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam có chuyện ngược đời này.

Cách đây vài hôm, trả lời trước quốc hội, bộ trưởng y tế rất thẳng thắn rằng, để giải quyết tình trạng quá tải các bệnh viện, bộ sẽ ra quy định để cấm người dân điều trị bệnh vượt tuyến, đồng thời bộ y tế sẽ xử phạt những bệnh viện tuyến trung ương nào điều trị bệnh nhân bị bệnh nhẹ.

Thật tình tôi không hiểu bà bộ trưởng muốn gì? bệnh lý thì có rất nhiều, nhưng một nguyên tắc cơ bản là có bệnh điều trị ngoại trú và bệnh phải điều trị nội trú – phải nhập viện. Khi người bệnh cần nhập viện thì luật hành nghề y quốc tế, và cả về y đức, người thầy thuốc phải cho bệnh nhân nhập viện, không được phân biệt giai cấp, chủng tộc, thù hay bạn, nói chung là nguyên tắc đầu tiên của lời thề Hippocrates – Không được làm hại đến người bệnh. Cấm là cấm làm sao? có vi phạm y đức và lời thề Hippocrates không?

Ngoài ra, chuyện phân tuyến và cấm đoán của bộ y tế, cũng như việc thu phí giao thông, mà không thông qua ý dân và quốc hội. Việc này có vi phạm hiến pháp của một nhà nước mà, lâu nay đảng cầm quyền vẫn cứ hô hào là, nhà nước do dân, vì dân và dân làm chủ không?

Làm lãnh đạo là ăn lương của dân để giải quyết vấn đề quốc kế dân sinh theo lòng dân và theo sự đồng ý của cơ quan đại diện cao nhất của dân – Quốc Hội – chứ đâu phải làm lãnh đạo là, khi khả năng điều hành yếu kém do tầm nhìn thấp là ra nghị quyết, nghị định, quy định vi hiến để đưa xã hội trở thành những nhà tù. Không biết tôi nói thế có đúng không?

Người dân cần lãnh đạo biết tôn trọng pháp luật, biết minh bạch những thông tin về quốc kế dân sinh, mà đặc biệt là lý do tiêu tiền của dân, để làm gương cho bá tánh, chứ dân không cần lãnh đạo vi phạm hiến pháp và pháp luật để dẫn đến một xã hội hỗn loạn.Xem ra xã hội Việt khó trở thành một xã hội pháp trị?

Nguồn: Blog BS Hồ Hải

Phương Bích – Những người đàn bà chờ chồng trong ngày 8/3

In Cộng Đồng on 2012/03/09 at 09:07

Khuôn mặt chị Lân, vợ bác Nguyễn Tương Thụy vẫn bừng bừng tức giận:

–  Họ đến đưa giấy mời, bảo đi ngay. Anh ấy (bác Thụy) bảo các anh mời cũng phải để cho tôi có thời gian chuẩn bị chứ. Nó không nghe, cứ bắt anh ấy phải đi ngay. Anh ấy không chịu, vì còn đang mặc quần áo ngủ, lại chưa rửa mặt. Nó bảo bác không đi là chúng tôi bế bác đi đấy. Thế là họ bế thật. Mấy người bọn họ xúm vào bế anh ấy lên nhét vào ô tô. Tôi chạy theo ô tô gào lên:

Ối làng nước ơi, công an bắt chồng tôi, nào tôi có biết bắt chồng tôi vì cái gì đâu, ối làng nước ơi….

Không chạy bộ theo xe được, tôi về lấy xe đạp, phóng ra trụ sở công an huyện Thanh Trì đòi chồng tôi. Họ không những không cho tôi vào gặp chỉ huy, lại còn trỏ mặt tôi bảo:

–  Tôi nói cho chị biết, chị vào cửa quan mà có thái độ như thế chỉ thiệt cho chị thôi.

–  Á à, anh lại bảo đây là cửa quan à?

Tôi điên tiết làm ầm lên cho một chặp, chúng nó lảng đi hết. Bực mình tôi quay về đây thì biết anh Nguyễn Kim cũng bị công an bắt đi rồi. Thực tôi chả hiểu ra làm sao cả. Sao lại có cái thói cứ thích bắt là bắt mà chẳng nói là tại sao thế?

Nhìn cơn phẫn nộ của người đàn bà, tôi chợt nhớ đến hình ảnh chị Dậu trong ‘Tắt đèn” đang xắn tay áo lên: Mày trói chồng bà đi, bà cho mày xem.

Trang Thanh Hiền tới, dẫn theo hai con nhỏ. Trông cô ấy bình thản, vẫn cười khi gặp mọi người. Xuân Diện thường bảo: vợ em bản lĩnh hơn em nhiều.

Trái với chị Lân, bà chủ quán trẻ phốp pháp, vợ anh Nguyễn Kim xinh đẹp trong bộ áo dài đỏ thướt tha, cứ tủm tỉm cười khi kể lại chuyện chồng mình bị công an đưa đi thế nào.

–  Em bảo thằng công an: Chú trông chị hôm nay ăn mặc có đẹp không? Trông chị có xinh không? Ừ! Mà ngày hôm nay là mồng tám tháng ba đấy, chồng chị đang chuẩn bị chúc mừng chị, thế mà các chú lại đến đưa chồng chị đi đâu? Thế bây giờ ai là người chúc chị đây hả?

Tuy cười là thế, nhưng lát sau tôi đã thấy cô ấy thay bộ áo dài bằng bộ đồ đen, đứng buồn xo sau quầy. Gượng mỉm cười chào đón khi có thêm người đến. Trong khi những người phụ nữ chúng tôi đang quây quần bên nhau tíu tít hỏi chuyện nhau, người phụ nữ trẻ đứng đó với gương mặt thật buồn, cái nhìn xa vắng sao trông đơn côi làm vậy.

Mặc dầu hôm nay những người phụ nữ được mời đến đây, để cho những người đàn ông tri ân… Nhưng tôi nghĩ trong lòng bất cứ ai vẫn có một người đàn ông của riêng họ, và hơn ai hết, họ muốn nhận được lời chúc mừng từ người đó.

Hôm nay, có ba người phụ nữ đang ngóng chờ người đàn ông của họ, từ một nơi ít người mong đợi nhất, đó là đồn công an!

Mỗi người đàn bà một tâm trạng, dẫu  họ có rất kiên cường vì tin vào sự ngay thẳng và trung thực của chồng mình, nhưng làm sao có thể không bất nhẫn khi chồng mình bị bắt đi không một lời giải thích, ngay trong ngày cả thế giới chúc tụng chính họ – một nửa của thế giới? Làm sao họ có thể yên tâm về mọi sự bất trắc có thể xảy ra ở trong đồn công an trong thời buổi này…?

Trên thực tế, nhiều người chúc mừng phụ nữ nhân ngày 8/3 có thể sớm hơn một hai ngày nếu như ngày 8/3 trùng vào ngày nghỉ, hoặc vì những lý do riêng tư khác. Mồng 8 tháng 3 này, thoạt đầu có người chợt nảy ra ý tưởng lên Thanh Hà, gửi hoa chúc mừng đến Bùi Hằng. Sau cánh đàn ông lại nhao nhao lên bảo, sao không chúc mừng tất cả các chị em đã xuống đường trong 11 cuộc biểu tình vừa qua?

Thế là cánh đàn ông lập thành một nhóm “bí mật” không cho đám phụ nữ tham gia, nhằm muốn dành cho họ nhưng bất ngờ thú vị. Suốt cả tuần cánh nữ hồi hộp chờ đợi, tưởng tương ra đủ thứ nhưng “bọn” đàn ông kín lắm.

Trước giờ xuất phát, tôi còn đang chuẩn bị áo dài với nón lá thì nhận được điện thoại của một người, nói công an đã đến nhà hàng của anh Nguyễn Kim, nơi tổ chức bữa tiệc yêu cầu không được “tổ chức tụ tập” đông người, nếu cứ cố tình sẽ phá…Người này nói vắn tắt và vội vàng, khuyên tôi không nên đến và tránh xa chỗ đó ra.

Tôi ngạc nhiên lắm, vội vào facebook xem thông tin. Thấy nói bác Tường Thụy đã bị bắt, Xuân Diện thì không thể liên lạc được suốt từ chiều, rồi đến lượt anh Môn (tức Nguyễn Kim) cũng bị công an vào tận cửa hàng đưa đi. A! xem ra tin tức tôi vừa nhận được là đúng.

Dù không nên ngạc nhiên, nhưng tôi vẫn không thể đừng được, họ định đẩy mọi việc đi đến đâu đây? Vẫn sẽ lại không vì một lý do gì, hay phát sinh ra sự vụ gì mới? Nhưng gì thì gì, không lẽ chỉ vì muốn phá buổi tiệc này mà họ làm vậy?

Tôi không tin là chỉ có 3 người bị bắt mà mọi người sẽ hoảng sợ. Đúng giờ hẹn, xe bác Phan Trong Khang qua đón tôi. Trên xe đã có giáo sư Ngô Đức Thọ, chị Hương và em Hạnh. Dọc đường, nghe thông tin liên tục về chuyện, quanh nơi tổ chức tiệc có rất nhiều người lạ đứng lảng vảng quanh đó. Thực sự không ai trong chúng tôi run sợ điều gì. Bởi một cái việc danh chính ngôn thuận đến thế này mà còn phải run sợ, thì há còn dám ngẩng mặt lên giữa đời mà sống nữa hay thôi?

Lâu không gặp nhau, ai nấy đều hoan hỉ, nên phút chốc xao nhãng chuyện về những người bị bắt. Mọi người rất vui mừng khi thấy cụ Nguyễn Trọng Vĩnh, cụ Ngô Đức Thọ, cụ Lê Hiền Đức, chị Trần Thanh Vân, chị Võ Thị Hảo và nhiều gương mặt thân quen khác đến dự tiệc.

Có thể chúng tôi hơi vô tâm khi hàn huyên với nhau, nhưng không lẽ bỏ cuộc chỉ vì sự dọa dẫm vớ vẩn kiểu hạ sách đó. Mọi người đọc thơ là chính. Thiếu mất MC trụ cột là Nguyễn Xuân Diện, đã có JB Vinh, họa sĩ Dung Mai, Chí Tuyến thay nhau làm MC thay thế. Chí Tuyến trông dữ tợn thế mà vừa đọc thơ vừa nghẹn ngào khiến chị Hương bên cạnh tôi phút đầu rơm rớm lệ, sau thì ko kìm được bật khóc thành tiếng, mếu máo bảo mọi người xum vầy thế này, vậy mà chỉ có mình Bùi Hằng bị giam hãm ở chốn cùng cốc. Hu hu! Thương Bùi Hằng quá.

Dự kiến chương trình sẽ kéo dài đến 10 giờ tối, nhưng cũng chẳng ai có lòng dạ nào ngồi lâu hơn. Hơn 8 giờ tối, mọi người chụp ảnh kỷ niệm, nhận quà tặng là một cái cốc sứ Bát Tràng No-U rồi ra về. Một người nào đó nói, taxi bị chặn từ ở ngoài đường rồi, không vào đón khách được. Bẩn thỉu đến thế là cùng. Lại chia nhau đưa đón.

Số người đi xe máy bắt đầu chia làm 2 hướng, hướng công an huyện Thanh Trì, nơi đang câu lưu blogger Nguyễn Tường Thụy suốt từ đầu giờ chiều đến giờ và công an quận Hà Đông, nơi câu lưu Nguyễn Xuân Diện.

Vì tôi mặc áo dài nên hơi cách rách, lại đi ô tô nên đành phải theo xe về trước. Về đến nhà là nhảy bổ vào mạng, gọi điện cho Chí Tuyến, liên tục cập nhật thông tin từ nhóm Thanh Trì lên facebook. Thời gian trôi đi trong sự mong ngóng đến cháy ruột của mọi người. Bọn họ chả đưa ra được lý do gì nên cứ loanh quanh né tránh. Lúc đầu thì cảnh sát dàn hàng ngang ra rất khí thế. Sau thấy mọi người không tỏ vẻ nao núng thì lại rút hết vào bên trong và đóng cổng lại. Ngay tức thì các quần chúng tự phát đầu trọc, xăm trổ đầy mình xuất hiện, lên giọng dọa nạt bảo không được làm mất trật tự. Anh chị em bèn hô: một hai ba “ Thả người”. Cứ thế hô liên tục. Cảnh cáo công an mà không can thiệp là anh em sẽ “tự vệ chính đáng”. Thấy anh em oách thế, các quần chúng tự phát bèn rút quân. Lực lượng này rút thì lực lượng cũ lại được triển khai, cổng lại mở và cảnh sát lại kéo ra án ngữ trước cửa.

Việc đến lúc phải đến thì đến thôi. Chí Tuyến thông báo: bác Tường Thụy đã ra!

Mọi người reo ầm ầm. Xem chừng có tuổi như bác Tường Thụy mà bị giữ gần mười tiếng đồng hồ cũng phờ phạc cả người. Trông nét mặt bần thần của bác ấy thì có vẻ oải, nhưng nhìn con mắt, tôi đoán nhiều điều đang chực bùng nổ lắm, đoán rằng về bác ấy có khối chuyện để mà xả trên blog. Còn lâu mới bẻ được ý chí của một người như bác ấy.

Rốt cuộc bắt và thả là tùy hứng, chả có lệnh, chả có lý do gì. Sao giống cái việc án ngữ trước cửa, không cho bác Khánh ra khỏi nhà thế, lại còn xưng xưng bảo đời còn nhiều cái vô lý hơn thế. Ới bà Nguyễn Thi Doan là bà Nguyễn Thị Doan ơiiiii.

Nói thực là chỗ Xuân Diện mọi người lại không lo lắm, vì Xuân Diện là khách “quen” rồi, lại là công an thành phố nên chắc ít “mông muội” hơn.

Mà quả có thế, bác Tường Thụy được “thả” rồi, Xuân Diện cũng vừa được thông báo là “đã ra”! Tôi cứ tưởng theo gương ở thành phố và huyện, thì công an thị trấn Văn Điển phải lén đưa anh Nguyễn Kim về nhà trước rồi mới phải. Lại phải muối mặt tiếp anh chị em đến đòi người. Một quần chúng tự phát kiếm cớ gây sự, đánh cùi trỏ vào cằm Chí Tuyến rồi bỏ chạy. Chạy là chạy thế nào. Lập tức anh em ta đuổi theo tóm được, lôi vào đồn công an yêu cầu xử lý. Công an lại loanh quanh, yêu cầu làm bản tường trình khiến Chí Tuyến nổi xung:

– Chúng tôi chỉ làm bản tường trình khi không có mặt các anh. Đằng này sự việc xảy ra ngay trước mắt các anh mà còn yêu cầu làm bản tường trình, thế chẳng hóa ra các anh không có mắt à? Các anh có xử không thì bảo, hay là để quần chúng chúng tôi tự xử (như kiểu quần chúng bức xúc phá nhà ông Vươn ấy).

Thấy căng, kẻ gây sự đành phải xin lỗi. Rồi thì đến lượt anh Nguyễn Kim cũng phải “thả”. Nghe cháu Tố Uyên từ Sài Gòn gọi ra cho bố thì công an bắt anh Nguyễn Kim phải làm bản cam kết, không được bán cho khách hàng “nhạy cảm”. Dù là tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện đặt hàng cũng không được bán. Ô hô hô!

Thôi anh em được “thả “ hết là yên tâm rồi. Tôi phải đi ngủ sớm để mai còn cùng với mấy anh em lên Thanh Hà gửi hoa cho Bùi Hằng, nhân ngày mồng tám tháng ba. Ôi, sao ngày mồng tám tháng ba năm nay đối với tôi vất vả làm vậy.

Suốt những năm tháng đi làm, năm nào cũng đều như vắt chanh là cứ đến ngày 8/3 và 20/10 là chị em ở cơ quan lại tổ chức mít tinh. Xong rồi kéo nhau ra nhà hàng đánh chén một bữa hoành tráng, lại còn thêm cái phòng bì bỏ túi. Có bữa còn tổ chức thuê hẳn một cái xe to chở tất cả chị em đi chơi xa, lên cả V resort ở Hòa Bình để tắm nước khoáng nóng…tất cả những cái đó nó như một điều đương nhiên, nên thực sự nói về sâu xa là tôi không có xúc động mấy.

Hóa ra cả đời mình ru rú trong một xó, có mấy bạn bè đâu. Từ ngày đi biểu tình, quen được thêm bao nhiêu là bạn. Già có trẻ có, nam có nữ có. Trải qua mấy đận vì nhau mà lặn lội ngược xuôi, hết từ đồn công an này đến đồn công an khác để tương trợ bạn bè, lại trở nên thân thiết hơn cả tình bằng hữu hàng chục năm. Có lần tôi than vãn: cứ phải đi “cứu” nhau suốt thế này thì còn làm ăn được gì nữa. Mọi người bảo: nặng về nghiệp lắm! Cái nghiệp cứu người.

Nguồn: blogger Phương Bích