vietsoul21

Archive for Tháng Mười Hai, 2011|Monthly archive page

Dân mất đất kêu than, “quan” biến thành địa chủ!

In Liên Kết, Việt Nam on 2011/12/14 at 15:45

Mạc Hồng Kỳ

Theo Người Cao Tuổi

 

Thật không sao tin nổi, tại một địa phương trên mảnh đất cực Nam đất nước, một đội ngũ cán bộ đông đảo trong bộ máy Nhà nước được “ban phát”, chia chác đất đai. Từ đó xuất hiện hàng trăm vị “quan”, những công bộc của dân – khoác áo “địa chủ”, phát canh thu tô…

Kì I: Những nông dân mất đất

Tâm thư của ông Nguyễn Văn Thôn

Trước mặt chúng tôi là người đàn ông (ngụ tại ấp Ranh Hạt, xã Bình Giang, huyện Hòn Đất) có vóc dáng nhỏ bé, khắc khổ. Ông cho biết, gia đình ông là gia đình cách mạng, bởi thân mẫu ông là Bà mẹ Việt Nam anh hùng hiến thân vì Tổ quốc. Còn anh trai ông là lính Tiểu đoàn 307 nổi tiếng… Ông ngồi đọc thật to cho nhà báo nghe bản viết tay dài 4 trang giấy khổ lớn mà ông gọi là “tâm thư tố cáo cán bộ tham nhũng”. Xin tóm lược: Trước năm 1975, gia đình ông khai phá được hơn 160 công ruộng (16 ha) và chính mảnh đất này mẹ ông đã đào hầm nuôi giấu cán bộ. Thế nhưng, đang canh tác ổn định, có sổ thuế hẳn hoi thì năm 1996, cùng với hàng trăm hộ nông dân khác, toàn bộ số ruộng ấy bỗng bị tỉnh lấy giao cho Cty Kiên Tài Đài Loan mà không hề có quyết định thu hồi và bồi hoàn thiệt hại. Năm 2001, Kiên Tài giải thể, lẽ ra đất phải trả cho dân để “dân cày có ruộng” thì “người ta” lại chia cho cán bộ huyện, tỉnh để họ sang bán, cho thuê mỗi người thu lợi hàng trăm triệu đồng… “Tức quá, gần 200 hộ dân chúng tôi khiếu nại thì huyện và tỉnh cố tình không giải quyết, từ năm 1996 đến nay đã 15 năm… Phải chăng quan ăn đất quá đông và quan tham quá nhiều nên không thể giải quyết? Tôi khẩn thiết yêu cầu cán bộ và nhà báo TƯ về điều tra, xác minh. Nếu tố cáo sai tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật, còn tố cáo đúng thì phải xử lí quan ăn đất?” – Càng về sau, giọng người đàn ông ở độ tuổi xưa nay hiếm càng trở nên đanh lại!

“Thưa bác, bác có biết đất của bác được chia cho cán bộ nào không?”. Giở tấm sơ đồ khu đất hình tam giác rộng tới 300 ha, trên các thửa (4-5 ha) được chia đều tăm tắp có ghi rõ tên từng “quan” được cấp đất… Ông Nguyễn Văn Thôn (tên người đàn ông) nói: “Đây, đất của tôi được cấp cho 3 người con của ông Lê Văn Hồng, Trưởng Ban quản lí vùng tứ giác Long Xuyên. Họ đã có sổ đỏ vào năm 2003 và hai năm sau bán cho ông Ba, giá 41 triệu đồng/ha”…

Vợ chồng bà Lượm (bên phải): Mất đất gia đình tôi khốn đốn…

Tuy không đọc “tâm thư” như ông Thôn, nhưng ông Nguyễn Hoàng Em (cựu chiến binh, ngụ cùng ấp, cha là liệt sĩ) cũng “vanh vách”: Gia đình ông có 9 ha đất (3 ha đã xạ lúa được 10 ngày) nhưng cũng bị lấy hết không bồi thường. Toàn bộ diện tích ấy hiện cán bộ tỉnh cho dân nơi khác thuê…

“Dân chúng tôi khổ lắm”…

Cách khu đất 300 ha chia cấp cho 73 cán bộ tỉnh chừng 15 phút ghe chạy là khu đất 200 ha. Đưa tay chỉ những đám đất hoang um tùm cỏ mọc, bà Đinh Thị Bích (71 tuổi, ngụ tại ấp Kênh 9, xã Bình Giang, vợ liệt sĩ chống Mỹ), bức xúc: “Đó là phần đất gần 7 ha mà khi chồng tôi đi đánh giặc, tôi dắt díu các con về đây chặt cây, múc đất… Năm 1996 tỉnh lấy hết, không có giấy tờ gì và hứa sẽ giao đất khác nhưng chờ hoài không thấy. Tôi có 6 đứa con, chúng nó còn khổ quá…”. Cũng theo bà Bích, hiện gia đình phải vay ngân hàng hơn trăm triệu đồng, lãi mẹ đẻ lãi con không biết khi nào trả nổi. Tiếp lời mẹ, ông Lê Văn Phụng, 41 tuổi cho hay, do thấy thu hồi đất trái luật nên ông không chịu giao đất thì bị ông Ngà, công an xã bắt trói, nhốt vô hầm tối…

Cũng tại khu đất ngút ngàn hoang hóa này, ông Trần Văn Ngọc, gay gắt: “Gia đình tôi có 5 ha, năm 1996 cùng với 19 hộ khác ở ấp Kênh 9, chúng tôi bị tỉnh lấy hết đất. Họ chỉ nói miệng và không bồi hoàn… Trong khi dân chúng tôi không có đất mần thì họ bỏ đất hoang suốt 16 năm qua. Chúng tôi ra mần thì họ không cho!”…

Cũng bị công an “ra tay” như ông Lê Văn Phụng nhưng bà Trần Thị Lượm (61 tuổi, ngụ cùng ấp Kênh 9) tuy không bị nhốt vào hầm song lại phải đi cấp cứu. Trước máy thu của nhà báo, bà kể: Gia đình bà có 6 ha đất, năm 1996 khi đang sạ lúa, bỗng có người cho máy đến phá. Bà ra ngăn, hỏi thì họ trả lời, “xã mấy bà bán đất, tui mua về xã mà giải quyết”… Trong khi chưa kịp khiếu nại gì thì ngày 12-1-1996 bà nhận một lúc hai giấy mời (một của công an huyện, một của UBND xã) 9 giờ sáng 13-1 phải có mặt để “làm việc về vụ tranh chấp ruộng đất với Kiên Tài”. Chấp hành, sáng hôm sau bà bỏ cả hai giấy vào túi áo rồi tất tả lên xã. Nhưng khi đến gần kênh 8 thì có 5 người mặc sắc phục công an chặn lại, bắt giữ. Hoảng quá, bà vùng vẫy rồi ngất xỉu, sau đó được chồng đưa lên Bệnh viện Chợ Rẫy ở TP Hồ Chí Minh cấp cứu. “Tiền viện phí hết đâu 1,2 triệu đồng. Tôi nghi bà nhà tôi bị chích roi điện” – Chồng bà Trần Thị Lượm nói!…

Sau vụ mất đất, vợ chồng bà Lượm liên tục khiếu nại nhưng không ai giải quyết. “Người ta khuyên nên nhận tiền bồi hoàn… hai trăm ngàn đồng cho mỗi ha(!), bà nói.

Thấy chúng tôi nhìn quanh căn nhà nền đất gồ ghề, ẩm ướt; vách lá trống huơ, không cửa nẻo, không có một cái giường của gia đình, giọng bà Lượm nghẹn lại: “Hơn 10 năm rồi, dân chúng tôi khổ lắm…”!

* * *

Rõ ràng, tại Kiên Giang đã “hiển hiện” một “phong trào” chia, cấp đất rầm rộ. Theo đó, nhiều vùng đất rộng lớn đã được ban phát, vung tay… Vậy, đối tượng nào được giao tới hàng ngàn ha đất màu mỡ, phì nhiêu?…

Kì II: Những ai là “địa chủ”?

Đối tượng được giao đất

Ông Nguyễn Văn Sáng (54 tuổi, ngụ tại ấp Ranh Hạt, xã Kiên Bình, huyện Hòn Đất) người bị tỉnh thu hồi 5 ha vào năm 1996 và chuyển sang hành nghề “cò” sang nhượng đất cho các quan chức nên biết rất rõ từng khu vực, thửa đất được cấp cho ai, đã bán hay cho thuê, thực trạng canh tác thế nào?…

Đưa chúng tôi đến khu đất 420 ha cấp cho 108 CBCNV của Sở TN-MT ở xã Vĩnh Phú, huyện Giang Thành, vừa chỉ từng thửa đất, ông Sáng vừa đọc vanh vách cán bộ (CB) đứng tên. Để minh chứng, ông đưa ra sơ đồ cấp đất và cả sổ đỏ (cấp năm 2002) của một số người. Tương tự, tại khu 300 ha xã Bình Giang, huyện Hòn Đất cũng được cấp hết cho 73 CB tỉnh. Cũng tại xã này, một khu đất khác rộng 630 ha được cấp cho 313 người, trong đó có khá nhiều đối tượng là CB tỉnh, huyện.

Còn tại huyện Kiên Lương, gần 150 ha khu vực kênh T4, xã Kiên Bình được giao cho 30 CB huyện, tỉnh. Tương tự, khu vực kênh T5 rộng tới hơn 1.000 ha cũng được xẻ thành 320 lô. “Mỗi thửa đất mặt tiền kênh có diện tích 10 ha, còn mặt hậu 5 ha. Rất nhiều CB đã cho dân mướn lại dưới danh nghĩa nông trường.” – ông Sáng nói. Chưa hết, theo thương binh Hoàng Văn Hưng, tại khu vực kênh Một Ngàn, xã Hòa Điền, có 208 CB tỉnh được cấp đất, mỗi người 4 ha. Và, cũng tại huyện Kiên Lương, có đến 353 CB các cấp được giao 5 ha/người ở xã Bình Trị. Còn khu vực gần cầu Lung Lớn, xã Kiên Bình 22 “quan” tỉnh có đất tại đây, mỗi “quan” 10 ha. Riêng hai khu vực cầu 85B và cây xăng Trung Nho có 222 đối tượng được cấp (bình quân 7.000 m2/người), trong đó có 187 sĩ quan quân đội, 35 CB huyện, xã (19 vị có từ 1 đến 3 ha)…

Đại “phong trào” xẻ đất?!

Có thể nói, tại Kiên Giang tồn tại một đại “phong trào” cấp đất cho CB: Rất nhiều CB, từ huyện đến tỉnh, từ đơn vị công quyền đến cơ quan đoàn hội được “chia xôi”… Sơ bộ, chỉ riêng số đất giao cho CB cấp tỉnh đã lên đến hàng nghìn ha (Văn phòng UBND tỉnh 186 ha, Sở TN-MT 420 ha, Liên đoàn Lao động tỉnh 200 ha, Bộ đội Biên phòng 200 ha…). Thậm chí, theo một đồng nghiệp của chúng tôi, không ít nhà báo (có cả PV báo TƯ ở tận Cần Thơ) cũng được chia đất!

Như vậy, nếu tính cả CB cấp xã và thân nhân họ thì con số 10.000 ha đất “cấp sai đối tượng, mục đích” (như lời ông Trương Quốc Tuấn, nguyên Bí thư Tỉnh ủy) không phải là không có cơ sở. Điều đáng nói, theo tố cáo của thương binh Hoàng Văn Hưng, chỉ “vẻn vẹn” 16 CB đã “ôm” đến 769 ha, có vị “chơi” 156 ha (đã bán 6 ha), và xem ra, đây cũng là một kỉ lục, bất ngờ!

Căn nhà của một nông dân mướn đất.

Để thấy được kết quả của đại “phong trào” chia đất, hãy thử hình dung: Một vạn ha là một mảnh đất có bề ngang 1 km và bề dài 100 km, tức bằng tuyến đường Hà Nội – Hải Phòng (hay Sài Gòn – Vũng Tàu) nhưng không phải rộng 15-20 m mà là 1 km! Một so sánh khác: Cả TP Hà Đông (tỉnh Hà Tây cũ) cũng chỉ rộng 16 km2, TP Ninh Bình 46 km2, TP Mỹ Tho 50 km2, TP Biên Hòa 130 km2… Như thế, diện tích đất giao “nhầm địa chỉ” ở Kiên Giang lớn gấp 6 lần TP Hà Đông, hơn 2 lần TP Ninh Bình và gần bằng đô thị công nghiệp Biên Hòa!

Quan chức là “địa chủ”?!

Rõ ràng việc giao hàng nghìn ha đất cho các “quan”, những người chỉ chuyên “cấy cày” trên bàn giấy, tất yếu dẫn đến việc sang nhượng hoặc cho thuê lại “ẵm” tiền (và, dường như đây cũng là mục tiêu cốt lõi của cả người giao đất cũng như kẻ được nhận?)!

Trong hồ sơ của chúng tôi, hiện có không ít sổ đỏ, hợp đồng… sang nhượng đất của CB. Chẳng hạn, gia đình ông Lê Văn Hồng bán cho vợ chồng ông Nguyễn Văn Ba 12 ha với giá 41 triệu đồng/ha vào năm 2005. Ông Nguyễn Quốc Vinh, ông Trần Trương Hiển, bà Phạm Kim Mai bán cho gia đình ông Phạm Văn Đúng hơn 11 ha, giá hơn 90 triệu đồng/ha vào năm 2008 (giá bán hiện tại không dưới 220 triệu đồng/ha), ông Lê Văn Mót, ông Lê Văn Kiệt bán 9 ha cho bà Trần Thị Ngoan năm 2006…

Đó là bán đất, còn cho thuê? Ông Nguyễn Trí Nguyện cho bà Lê Thị Tuyết Lan ở Hòn Đất thuê 10 ha (Bà Lan cho ông Trương Minh Cường thuê lại với giá 60 giạ lúa/ha), ông Đoàn Phú Thỉnh cho ông Nguyễn Văn Chính ở Kiên Lương thuê 10 ha (60 giạ/ha), Bà Phan Thị Hằng cho ông Nguyễn Lâm ở An Giang thuê 10ha (15 triệu đồng/ha/năm). Ông Trương Thái Hiền cho bà Sáu Hoàng ở Sóc Soài thuê 10 ha (4 triệu đồng/ha), v.v…

Trên chiếc vỏ lãi (xuồng lá), ông Sáng cùng “đồng nghiệp” đưa chúng tôi đến từng thửa đất, nơi các quan chức biến thành “địa chủ” qua việc “phát canh thu tô”, để gặp những người nông dân mướn đất. Trong căn nhà lụp xụp, nhỏ bé giữa mênh mông đồng nước, ông Trần Văn Quang, 53 tuổi, cho hay: Do thiếu đất ở quê (An Giang) nên năm 2008 vợ chồng ông dắt díu nhau đến đây mướn 10,6 ha đất của CB tỉnh Nguyễn Thạnh qua “cò” đất Hoàng Long. Khi ấy vẫn là đất hoang, tràm mọc như rừng nên ông phải khai mở, bang múc… Tuy bỏ bao mồ hôi, công sức nhưng sau khi trừ “tô” (năm đầu 30 giạ/ha, năm sau 40 giạ và năm nay 60 giạ) số lúa còn lại cũng chẳng đáng là bao, chỉ đủ sống đắp đổi qua ngày. “Căn nhà này cũng đâu phải của tui” – ông nói! Tương tự, ông Trương Minh Cương, 52 tuổi, người thuê đất của hai “địa chủ” trên tỉnh tâm sự: “Cực chẳng đã mới phải đi mướn đất nhà báo ạ. Bởi, không mướn biết phải làm gì”?

Mạc Hồng Kỳ

Người Buôn Gió – Đi tù và đi cải tạo

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Việt Nam on 2011/12/11 at 11:29

 

Đi cải tạo là đi gì ? Nhiều người vẫn nghĩ là đi cải tạo thì nhẹ hơn đi tù, đi cải tạo là ngồi trong lớp học về đạo lýđược các cán bộ tận tâm, có tấm lòng, tức là những thầy giáo trong bộ quần áo công an. Giảng và cư xử với học trò với những tấm lòng yêu mến, cảm hóa học trò bằng tình nghĩa để sau này các học trò trở thành người tốt. Những câu chuyện thường có trên mặt báo nhất là những số báo Tết cuối năm về ơn nghĩa của người thầy, người quản giáo trong trại giam. Thêm hình ảnh người học trò giờ đã có cuộc sống thành đạt, có ích cho xã hội. Thật ra thì những người tù trở về sống đời lương thiện là rất ít số với những số tái tù.

Làm người lương thiện ở Việt Nam khó hơn làm tiến sĩ cả vạn lần. 100 người bảo vệ luận án tiến sĩ hầu như đạt cả 100. Nhưng 100 thằng tù mà trở về xã hội, may lắm chỉ có 1 hay 2 thằng trở thành người tử tế, nghĩa là tìm công việc tử tế sống cuộc đời lương thiện đến cuối đời. Nếu bạn không tin, bạn hãy nhìn quanh nhà bạn xem những thành phần đi tù, đi cai nghiện có bao nhiêu người trở thành người tử tế. Sau đó bạn hãy phản bác lại tôi chưa muộn.

Trại cải tạo và nhà tù là một. Nhà tù thì có hai loại, nhà tù giam cứu và nhà tù cải tạo. Nhà tù giam cứu là giam phạm nhân còn đang trong giai đoạn điều tra củng cố hồ sơ, cáo trạng, hay phạm nhân đã kết thúc hồ sơ chờ tòa xử. Sau khi có án phạt của tù , phạm nhân từ trại giam cứu đợi có đợt là chuyển đến trại tù cải tạo. Còn phạm nhân đi theo diện cải tạo là do chính quyền địa phương xét thấy hư hỏng nhiều lần, nhưng chưa có lần nào đủ để đưa ra tòa kết án tù thì họ đề nghị cho đi cải tạo. Hư hỏng theo kiểu chính quyền đánh giá thì vô cùng, nhiều khi chỉ ngồi hàng nước tán láo, thấy cán bộ không chào, tóc tai quần áo nhìn ngứa mắt, tụ tập đàn đúm ôm đàn ca hát cũng đủ yếu tố đi cải tạo. Đi cải tạo thì thời hạn tính theo từng lệnh, trước kia là lệnh cải tạo thường là 5 năm, giờ xuống 2 năm. Nếu trong trại cải tạo mà chưa được ưng lòng cán bộ, thì chuyện giữ thêm lệnh tiếp theo và tiếp theo nữa là thường tình. Bởi vậy nhiều tù cải tạo mòn mỏi quá, tiếc nuối than rằng thà cứ phạm tội còn có hạn tù, còn có ngày về. Chứ đi cải tạo thì mịt mù ngày về quê mẹ luôn.

Ở trại cải tạo chuyện học viên ngồi trên bàn ghế, thầy giáo giảng bài là chỉ có trong phim tuyên truyền. Chứ con người mới CNXH là phải lao động, lao động, lao động mới  cải tạo được thành người lương thiện. Cho nên ở nhà tù cải tạo chỉ có công việc duy nhất là lao động đủ mức khoán là thước đo duy nhất đánh giá sự tiến bộ của phạm nhân. Thời bao cấp trại cải tạo chỉ chú trọng đến việc giam giữ tù nhân, lao động không nặng nề lắm, bởi thời cuộc lúc đó thì cũng chả có việc gì mà làm. Ngoài xã hội công nhân đi làm cũng vật vờ, có máy móc, có phát triển nhiều đâu mà có việc để làm. Sau này thời mở cửa từ năm 90 trở đi, xã hội mở mang tạo ra nhiều công việc, cần đến nhiều nguồn nhân lực xã hội. Người ta nhận thấy các tù nhân ( tù có án và tù cải tạo) là một nguồn lao động khổng lồ đầy tiện lợi, Việc tái đầu tư vào lực lượng lao động này rất rẻ mạt, một năm 2 bộ quần áo, mỗi tháng mươi cân gạo, mươi cân rau và vài lạng thịt.

Ở trung tâm  trại cải tạo người ta chỉ giữ lại một vài đội tù như đội bếp, đội vệ sinh, đội rau xanh, đội đan lát, mộc để làm cảnh cho các đoàn tham quan đến chiêm ngưỡng. Thường những tù cải tạo ở đội rau xanh, vệ sinh là tù mà gia đình đã lo lót hay có quan hệ. Những tù này có điều kiện gia đình khá giả, lao động nhàn lại có đố tiếp tế nên họ sạch sẽ, có da có thịt hơn. Khách tham quan , đoàn công tác đến nhìn đều tấm tắc khen trại cải tạo chăm lo đời sống phạm nhân tốt….

Nhưng cuộc sống thật của trại cải tạo ở đằng xa hơn đó vài cây số hoặc vài chục cây. Đó là những khu, những đội lẻ. Nơi mà trại cải tạo nhận hợp đồng với những công ty, cá nhân bên ngoài để lấy việc cho tù nhân làm. Nếu những việc có thể gia công tại trại, nhận vật liệu về gia công rồi chuyển lại cho cơ sở kinh doanh thì được làm gần trại. Còn những viêc mà đối tác đòi hỏi làm tại nơi của họ thì trại cải tạo lập ra những đội tù lẻ, có quản giáo, lính gác đi kèm đến hiện trường làm việc, trường hợp này thường là lò gạch, bến phà, mỏ đá. Làm ở những nơi này tù khổ nhất, vì lao đông nặng nhọc, mọi quyền hạn đều tất ở trong tay quản giáo và đám lính vũ trang. Quản giáo lại được doanh nghiệp thưởng thêm nếu đốc thúc tù làm đủ hay vượt năng suất, hoặc quản giáo là người trực tiép ký hợp đồng nhận việc với doanh nghiệp, với phía trại cải tạo thì quản giáo cũng nhận mức khoán trên đầu phạm nhân. Ví dụ quản giáo nhận 50 phạm nhân thì mỗi tháng nộp về trại 50 đồng. Còn chuyện quản giáo ký với doanh nghiệp về số lượng sản phẩm hoàn thành thu lại bao nhiêu , chênh lệch thế nào…thì là chuyện quản giáo với doanh nghiệp thuê lao động.

Tù có án và tù cải tạo ở chung với nhau, mức sống, lao động như nhau. Đều trong hoàn cảnh cải tạo như vậy. Cho nên nhiều tù cải tạo vẫn chửi câu cửa miệng rằng.

– Đời có lắm thằng ngu, bố đi tù nó bảo đi cải tạo.

 

Nguồn: Người Buôn Gió
Cùng tác giả:

Người Buôn Gió – Tái cơ cấu thần chưởng

Người Buôn Gió – Đêm dài biên ải

Người Buôn Gió: 18-3 trại Thanh Hà

Người Buôn Gió – Người Nông Dân Nổi Dậy

Người Buôn Gió – Hóa ra đều ăn cắp hết

Người Buôn Gió – Đi tù và đi cải tạo

Người Buôn Gió – Con trâu của ai?

Người Buôn Gió – Hà Nội trong mắt ai

Loạt bài Đại Vệ Chí Dị:

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị – Mọi sự quái đản đều là do… thế lực thù địch

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị: Cứ đổ cho thế lực thù địch xúi dục là OK!

Giờ phẫn nộ!

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2011/12/03 at 01:10

Giờ phẫn nộ![*]

VietSoul:21

Huỳnh Ngọc Tuấn – Thục Vy – Trọng Hiếu (Nguồn: Dân Làm Báo)

Tôi không còn tin vào mắt mình khi đọc được những giòng tin tức về gia đình họ Huỳnh trên mạng. Một gia đình người Việt Nam cùng quê hương xứ sở mà tôi tuy chưa từng gặp lại có mối đồng cảm và chưa có duyên để tỏ bày. Nhưng tôi vẫn xem là bạn—những người bạn thầm lặng của tôi đã từng bị quấy nhiễu, hành hung và trong giờ phút này bị cô lập, cưỡng bức, cướp bóc tài sản, đánh đập dã man, vu khống, chế tài bằng “luật lệnh”[1] và khủng bố[2].

Tôi phải lên tiếng.

Tôi phải gào thét, căm phẫn cùng các bạn.

Tôi phải tỏ lòng mình cho các bạn biết. Bạn bị cô lập nhưng không bao giờ cô đơn đâu. Vì chúng tôi vẫn bên cạnh bạn.

Họ muốn bịt miệng các bạn. Chúng tôi sẽ lên tiếng.

Họ muốn đày đọa các bạn. Chúng tôi sẽ nâng đỡ và an ủi.

Đúng, cái ác bao giờ cũng đáng sợ, nhưng đáng sợ hơn là sự dửng dưng.[3]

Giờ phút này thì tôi có thể tin gì và làm được những gì?

Tôi tin vào Chúa Giêsu. Tôi tin vào Phật Thích Ca. Hai đấng cách mạng nhân bản cho thế giới trần tục này. Đấng rao giảng bình đẳng, công bằng, bác ái. Đấng rao giảng giải phóng bản ngã, cứu khổ, vị tha.

Tôi tin vào Mahatma Ghandi, Martin Luther King Jr., hai nhà cách mạng bất bạo động, phản kháng các thế lực áp bức, bất công. Cuộc đời họ là thông điệp cho hậu thế.

Tôi tin vào Nguyễn Trãi – Bình Ngô Đại Cáo, Lý Thường Kiệt – Nam Quốc Sơn Hà.

Tôi hoài nghi về các tuyên ngôn và chủ thuyết. Nhưng tôi tin là có những nỗi đau. Tôi tin vào em Kim Tiến, em Thanh Tuyền trong “hành trình đi tìm công lý”[4]. Tôi tin vào cái cảm giác sợ hãi, lòng thương xót và cảm xúc phẫn nộ. Tôi tin vào tấm lòng cô Phương Bích và cô Bùi Hằng.

Tôi tin vào bác Lê Hiền Đức và dân oan An Giang trong nỗi oan khiên mất đất, mất nhà với khẩu hiệu nguệch ngoạc “Bỏ mạng, không bỏ đất”, “Thà chết không bỏ đất”, “Dân tình An Giang, Tức nước vỡ bờ, Vật giá leo thang, Nhân gian khổ ải, Giải tỏa cưỡng chế, Đói nghèo công nô”.

Độc Lập, Tự Do, Nằm co vệ đường

Tôi tin vào linh mục, tu sĩ, và giáo dân Thái Hà đang chịu hành hung, đánh đập, trấn áp, bắt giam khi biểu tình phản đối chính quyền “mượn” và cướp đất nhà thờ.

Tôi tin vào ông Nguyễn Văn Lía, tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo, sáng lập khối PGHH Truyền Thống, vì đấu tranh đòi hỏi quyền tự do tôn giáo nên đang bị cầm tù, bị ép cung đánh gãy xương sườn, và tin cô con gái Nguyễn Thị Luạ đi thăm nuôi đã phẫn nộ gào thét “xin sự xót thương của mọi người, cứu cha tôi” và chắp hai tay, ngước mặt lên trời van xin “Kính Đức Phật, Đức Thầy và Trời cao xin hãy cứu cha con”[5].

Tôi tin vào những con người của một thời cương quyết nay chai lạnh vì “đã mỏi mòn, cái mỏi mòn của những con người đành nuốt nước mắt vào trong” và cũng có người phải chọn “tự quản thúc mình”[6].

Tôi vẫn còn nghi ngại về những buổi tiệc ê hề rượu bia tràn ly nhưng lại đặt trọn niềm tin với một chút tình chưa cạn trong giờ hoạn nạn.

Tôi chẳng mảy may hoài mộng về cõi vĩnh hằng, chốn niết bàn nhưng tôi tin vào cuộc đời và cuộc sống này.

Tôi tin vào các bạn, những người tử tế, những người biết sợ nhưng vẫn lên tiếng và hành động vì các bạn biết rằng “khi ta câm lặng ta vẫn ôm nỗi sợ”[7]

Tôi tin vào “những điều không thể quên, những sức mạnh tiềm tàng”[8] mà tất cả các bạn đã đặt trọn niềm tin vào. Để phẫn nộ và dấn thân.

© 2011 Vietsoul:21


[*] Indignez Vous! Time for outrage! “There are unbearable things all around us. You have to look for them; search carefully. Open your eyes and you will see. This is what I tell young people: If you spend a little time searching, you will find your reasons to engage. The worst attitude is indifference.” (Hãy phẫn nộ! Đây là lúc nỗi thiên đình! Chung quanh ta đầy rẫy bao điều không thể chịu đựng nổi. Hãy để ý đến các điều ấy, sục sọi cho cẩn thận nhé. Bạn sẽ thấy liền nếu mở mắt ra. Tôi thường khuyên các bạn trẻ như thế này: chỉ cần để tâm một chút thì bạn sẽ tìm ra lý lẽ để dấn thân. Thói dửng dưng là thái độ tồi nhất) ― Stéphan Hessel

[1] Luật Lệnh, Vietsoul21.net

[3] “The world is a dangerous place, not because of those who do evil, but because of those who look on and do nothing.” (Thế gian này là một chốn hiểm nguy, không phải bởi những người gây ra tội ác, nhưng vì những ai người trớ mắt nhìn và không làm gì cả) ― Albert Einstein

“Washing one’s hands of the conflict between the powerful and the powerless means to side with the powerful, not to be neutral.” (Khi phủi tay với những xung đột giữa cường quyền và người cô thế thì đồng nghĩa với chuyện ta đứng về phía kẻ cường quyền, không còn vô thiên vị nữa) ― Paulo Freire

“I swore never to be silent whenever and wherever human beings endure suffering and humiliation. We must always take sides. Neutrality helps the oppressor, never the victim. Silence encourages the tormentor, never the tormented.” (Tôi thề là sẽ không bao giờ câm lặng trong bất cứ lúc nào ở bất cứ nơi nào mà con người bị khổ nạn và sỉ nhục. Chúng ta luôn phải chọn đứng về một phía. Trung lập chỉ giúp kẻ đàn áp, chẳng trợ giúp gì cho nạn nhân. Im lặng chỉ khuyến khích kẻ tra tấn thêm, không hề động viên người bị nhục hình.) ― Elie Wiesel

[4] Hành Trình Đi Tìm Công Lý, Nguyễn Thị Thanh Tuyền – Đàn Chim Việt

[6] Tôi sẽ tự “quản thúc” mình, Đỗ Trung Quân – Dân Luận

[8] The only dream worth having…

“The only dream worth having…
is to dream that you will live while you’re alive and die only when you’re dead…
which means exactly what?’…
To love. To be loved.
To never forget your own insignificance.
To never get used to the unspeakable violence and vulgar disparity of life around you.
To seek joy in the saddest places.
To pursue beauty to its lair.
To never simplify what is complicated or complicate what is simple.
To respect strength, never power.
Above all, to watch.
To try and understand.
To never look away.
And never, never to forget.”

Duy ước mơ đáng có …

Một ước mơ đáng có
là mơ được thực sự sống khi còn và chỉ chết khi lìa đời …
mơ thế để làm gì?! …
Để yêu. Để được yêu.
Để không bao giờ quên mình mỏng manh vô nghĩa.
Để không bao giờ trơ chai với bạo lực vô ngôn và cách biệt thô bỉ trong đời quanh bạn
Để tìm ra niềm vui khi tận cùng trong chốn thảm buồn
Để theo đuổi cái đẹp đến tận cùng hang ổ nó
Để không bao giờ đơn giản hoá những gì phức tạp hay tạo rối rắm cho những giản đơn
Để trân trọng sức mạnh, không nề quyền lực
Và trên hết, dõi nhìn
Để gắng hiểu
Để không bao giờ ngoảnh mặt quay lưng.
Và không bao giờ, không đời nào quên.

Arundhati Roy