vietsoul21

Archive for the ‘Cộng Đồng’ Category

Tưởng Năng Tiến – Đường phía Bắc

In Cộng Đồng, Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2012/03/09 at 09:01

 

Lúc còn tại thế, có lúc, ông Phạm Văn Đồng đã phải đối diện với một câu hỏi khó:
“Xin thủ tướng cho biết ý kiến về sự kiện thuyền nhân hồi 1975, nhất là hồi 1978, 1979… Về nguyên nhân và trách nhiệm trong những sự kiện ấy, với những hiện tượng bán bãi thu vàng và khá nhiều tầu, thuyền bị hải tặc bão tố và chìm trong đại dương… Là người đứng đầu chính phủ, một trong những người lãnh đạo cao nhất của đảng cộng sản, thủ tướng nhìn nhận ra sao trách nhiệm của mình trong cuộc di dân rộng lớn và bi thảm ấy?” (Bùi Tín, “Hai Câu Hỏi Cần Trả Lời Rõ Ràng Trước Khi Thế Kỷ 20 Khép Lại,” Cánh Én, Feb.1999:05).

TT Phạm Văn Đồng, tất nhiên, không “nhìn nhận trách nhiệm” gì ráo trọi. Và đây là thái độ chung của giới hữu trách ở Việt Nam – theo như nhận xét của ông Ngô Nhân Dụng:”Khi thấy dân tố cáo bất cứ cái gì, phải chối ngay, phải lấp liếm, bịa đặt, bưng bít, bằng bất cứ cách nào, không bao giờ nhận lỗi.” Ông nhà báo này nói tầm bậy tầm bạ như vậy mà … không trật. Khi được phóng viên báo Nhân Dân, số ra ngày 31 tháng 8 năm 1987, hỏi về cuộc “di dân rộng lớn và bi thảm ấy,” Trung Tướng Nguyễn Đình Ước (Viện Trưởng Viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam) đẩy cây như máy:

“ Đó là chuyện có thật … Đã có một bộ phận người Việt Nam bỏ đất nước ra đi. Không ít người đã thiệt mạng trên biển do bị chìm thuyền, bị bọn đưa người vượt biên trái phép lừa gạt giết chết. Đó đúng là một thảm cảnh nhưng là hệ quả do những chính sách chống phá Việt Nam từ bên ngoài.”

Mới đây, ông Dương Trung Quốc mô tả đó là một “vết thương lịch sử” nhưng (sau một lúc quanh co) ông kết luận rằng là nó sắp … lành đến nơi rồi: ”Tôi không nghĩ kiều bào còn lấn cấn nhiều về chế độ chính trị, có lẽ chỉ còn ở một thế hệ nào đó do hoàn cảnh lịch sử.”

Cái “hoàn cảnh lịch sử” này ra sao là điều mà ông Tổng Thư Ký Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam không muốn nói đến. Ông Trương Tấn Sang cũng vậy:

“Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn khẳng định người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, luôn mong muốn và làm hết sức mình để hỗ trợ đồng bào đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, hòa nhập vào cộng đồng dân cư trên đất nước cư trú…”

Nguồn ảnh: baocalitoday.com

Dưới mắt nhìn của những người cầm quyền ở Việt Nam thì mấy triệu thuyền nhân cứ y như một đám người từ trên trời rớt xuống, tứ tán khắp năm Châu. Đảng và Nhà Nước đã gom cái tập thể này lại và biến họ thành cục bột, muốn nắn bóp nó ra sao – tùy thích.

Có lúc Nhà Nước mô tả những kẻ ra đi là một lũ người“bất hảo, cặn bã của xã hội, ma cô, đĩ điếm, trộm cướp, trây lười lao động, ngại khó ngại khổ, phản bội tổ quốc, chạy theo bơ thừa sữa cặn… ” Không hiểu đám thuyền nhân đã hành nghề ma cô, đĩ điếm và tổ chức trộm cướp ra sao –  nơi đất lạ quê người – nhưng số lượng bơ thừa sữa cặn mà họ đều đặn gửi về cố hương đã cứu toàn dân, cũng như toàn Đảng, thoát chết (đói) nhiều phen.

Từ đó, Đảng ta đổi giọng: những kẻ  phản bội tổ quốc không những đều được “khoan hồng” mà còn được “tôn vinh” như “những sứ giả Lạc Hồng,” và (bỗng) trở thành “một bộ phận  không thể tách rời của cộng đồng dân tộc,” hay “là cấu nối phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước trên thế giới…” – theo như (nguyên văn) lời của ông Chủ Tịch Nước vừa phát biểu vào hôm 15 tháng 1 năm 2012, tại Hà Nội.

Thiệt khoẻ!

Thế còn chính những thuyền nhân họ nghĩ sao? Theo nhận xét của giáo sư Nguyễn văn Tuấn thì dường như đây là một đám đông thầm lặng, không nghe ai lên tiếng nói năng gì hết trơn hết trọi: ”Đúng là một cuộc di tản qui mô lớn chưa bao giờ có trong lịch sử Việt Nam. Nhưng không có ai của Nhà nước chính thức ghi nhận sự kiện này. Tôi chưa bao giờ nghe / đọc một người từ miền Bắc nhắc đến sự kiện này.”
Nói nào ngay thì có nhưng rất ít. Lý do giản dị chỉ vì những nạn nhân của những biến cố kinh hoàng, vượt ngoài sức chịu đựng bình thường của con người, thường không mấy ai muốn nhắc đến những kinh nghiệm hãi hùng mà họ đã phải trải qua. Đây là hội chứng PTSD (Post Traumatic Stress Disorder) theo như ghi nhận của DSM – IV – TR (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorder, Fourth Edition. Text Revision. Washington, DC, American Psychiatric Association, 2000 – cẩm nang hiện dụng của khoa Tâm Thần Học).

Hiện tại, trên bàn viết của chúng tôi chỉ có hai cuốn sách thuộc loại này:

– Góc Bể Bên Trời của Võ Hoàng có lẽ là tác phẩm đầu tiên, viết về chuyện vượt biên, tạp chí Nhân Văn (California) xuất bản năm 1984. Tác giả vốn là một ngư dân ở Rạch Giá đã ghi lại một cuộc vượt biển “phụ,” một đoạn đường đi “thêm” từ vịnh Thái Lan đến tận Úc Châu – trên một chiếc thuyền con mong manh, thiếu thốn tất cả những phương tiện, những điều kiện cần thiết tối thiểu cho một hải trình dài dặc, và có trăm ngàn thứ gian nguy – của chính ông và bè bạn.

– Buồn Vui Đời Thuyền Nhân của Lâm Hoàng Mạnh, Tiếng Quê Hương (Virginia) xuất bản năm 2011. Đây là tập hồi ký dầy hơn ba trăm trang của một y sĩ kiêm văn sĩ, ghi lại hết sức sống động và chi tiết cuộc trốn chạy của những người Việt gốc Hoa từ bến Tam Bạc (Hải Phòng) qua Hồng Kông, và điểm đến cuối cùng là Anh Quốc.

Trang sổ tay hôm nay chúng tôi xin dành để giới thiệu một tác phẩm khác ( Đường Phía Bắc) của nhà văn Lê Đại Lãng, tuần báo Trẻ ( Texas) xuất bản đầu năm 2012, viết về “hành trình của những người hướng Bắc sinh và sống từ cầu Hiền Lương đến nàng Tô Thị.” Tác giả là một thuyền nhân đi từ phía Nam nhưng có một thời gian dài làm việc thiện nguyện trong những trại tị nạn, ở Hồng Kông. Ông cũng là tác giả của tập bút ký Nước Mắt Trong Tim do tạp chí Người Dân (California) xuất bản năm 1990, và tiểu luận Vietnamese-English Bilingualism: Patterns of Code-Switching – Routledge Studies in Asian Linguistics – xuất bản năm 2003, ký tên thật là tiến sĩ Hồ Đắc Túc.

Trong phần lời tựa của Đường Phía Bắc (*) Lê Đại Lãng tâm sự:

Tôi viết lại những mẩu chuyện nho nhỏ mà các bạn  đã kể cho tôi nghe như một người nghèo thiếu  áo, chắp lại những mẩu áo đủ màu đủ cỡ, lành có rách có, đậm có nhạt có,  để ráp thành một cái áo vụng về xấu xí mặc cho qua rét mướt mùa đông.  Dù  cho công tôi chắp vá mà thành, nhưng chất liệu vẫn là các bạn, nếu có chỗ nào (nói cho le) là hư cấu thì cũng xin coi là cái cúc  áo đơm vào để gài kín ngực. Bỏ cái cúc ra, áo vẫn hoàn áo, vải gấm hay vải thô vẫn là của các bạn.  Vốn liếng và chất liệu đã làm nên cuốn sách này là từ đời sống của các bạn tôi… và những hạt mưa dầm.”

“Những mẫu chuyện nho nhỏ” của người đi từ phía Bắc và những kẻ đi từ phía Nam, gần như, chả khác gì nhau. Đều là những chuyện nát lòng, và những mảnh đời tơi tả, của những kẻ bị đẩy đến bước đường cùng không còn lựa chọn nào khác nên phải (đành đoạn) rời bỏ quê hương âm xầm ra biển – như một cách lao đời vào cái chết để tìm sự sống.

Người ta ước đoán chừng vài trăm ngàn thuyền nhân đã vùi thây trong lòng biển cả (**). Những kẻ thoát chết đến được bến bờ không nhất thiết đã là những người may mắn. Đường Phía Bắc là tác phẩm viết về họ, những kẻ trong các trại cấm ở Hồng Kông sau giờ khắc định mệnh “0 giờ ngày 16 tháng 6 năm 1988” – giờ khắc mà nhiều trại tị nạn ở Đông Nam Á đã đột ngột biến thành những trại tù, qua ngòi bút của Lê Đại Lãng:

“Những dãy nhà lợp tôn dài hai mươi chín mét, rộng sáu mét trống trải không có giường nhét đủ ba trăm mạng người. Hải băng qua những đường rãnh lềnh bềnh rác lẫn với phân người, theo trưởng buồng lách chân giữa một lối đi hẹp giữa buồng, hai bên thùng bọng la liệt, kẻ nằm người ngồi tràn lan trên nền đất rin rỉn nước.”

Và đây là vài mẩu đối thoại của những con người sống trong trong vòng rào của những trại cấm này:

– Tiên sư con cái nhà ai mà cứ ỉa tòe loe ra đấy. Bẩn đéo chịu nổi.
Giọng một bà trả đũa:
– Con cái nhà bà đấy. Nó muốn ỉa đâu thì nó ỉa, bà thách thằng chó nào đụng tới nó coi nào.
Gã đàn ông bị chạm tự ái, cáu:
– Ỉa thì có nhà cầu, cứ tươm cả ra đấy thì cái nhà này biến thành lăng bác cả à!
Tiếng cười rúc rích thú vị. chị đàn bà đổi hướng:
– Có giỏi thì đứng ở Ba Đình nói câu ấy. Qua đây nói ai nghe nào. Lũ hèn…!
Thằng bé cắt lời mẹ, ré lên đòi chùi đít. Bà mẹ bảo: “Cứ chờ đấy, chừng nào nước mở hẵn rửa”.

Thằng bé dang dang hai chân đi về giường. Có tiếng la dẫy nẩy: “Coi chừng nó ngồi lên giường là khốn đấy. Địch mẹ, biết thề này ông thèm vào”.
Ở trong những trại tị nạn này, trẻ con Việt Nam không biết nói tiếng “không.”
Chúng thay bằng tiếng khác:

– Tao đéo thèm chơi với mày nữa
– Tao đéo vào
– Mầy có cái đó không?
– Đéo có.

Những mảnh đời méo mó qua những mẫu đối thoại thô tục (thượng dẫn) của những may mắn sống sót đến được bến bờ, cùng với oan hồn của hàng triệu sinh linh dưới đáy biển sâu không thể nói lấp liếm cho qua chuyện (”Tôi không nghĩ kiều bào còn lấn cấn nhiều về chế độ chính trị, có lẽ chỉ còn ở một thế hệ nào đó do hoàn cảnh lịch sử”) theo cái kiểu xuê xoa của ông Dương Trung Quốc. Cũng không thể yêu cầu những quốc gia láng giềng đục bỏ những bia tưởng niệm thuyền nhân là kể như huề – như cách hành xử của ông Trần Đức Lương.

Hoạ cộng sản sẽ qua, và sắp qua. Ngoài chuyện Thu Vàng Bán Bãi Vuợt Biên, còn nhiều “vụ động trời” khác nữa – như C.C.R. Đ, Nhân Văn, Xét Lại, Thảm Sát Mậu Thân, Đổi Tiền, Cải Tạo Công Thương Nghiệp, Mười Ngày Học Tập, Khai Thác Bauxit, Vinashin … – cần phải được ghi nhận, và xét xử minh bạch, trong tương lai gần.

Vấn đề không phải là để tầm thù hay báo oán. Điều này hoàn toàn không cần thiết, và hoàn toàn đi ngược lại với truyền thống văn hoá bao dung dân tộc Việt . Tuy nhiên, quá khứ cần phải được thanh thoả để chúng ta an tâm hơn khi hướng đến tương lai.

© Tưởng Năng Tiến

© Đàn Chim Việt

—————————————-

(*) Đường Phía Bắc, giá sách U.S.A 15.00 dollars, có thể đặt mua theo địa chỉ sau:
Toà soạn báo Trẻ
3202 N. Shiloh Rd., Garland, TX 75044.

ĐT: 972-675-4383/ Email: tusachtreusa@gmail.com

(**) Death Tolls and Casualty Statistics Vietnam – Vietnamese Boat People
· Jacqueline Desbarats and Karl Jackson (“Vietnam 1975-1982: The Cruel Peace”, in The Washington Quarterly, Fall 1985) estimated that there had been around 65,000 executions. This number is repeated in the Sept. 1985 Dept. of State Bulletin article on Vietnam.

· Orange County Register (29 April 2001): 1 million sent to camps and 165,000 died.
· Northwest Asian Weekly (5 July 1996): 150,000-175,000 camp prisoners unaccounted for.

· Estimates for the number of Boat People who died:
o Elizabeth Becker (When the War Was Over, 1986) cites the UN High Commissioner on Refugees: 250,000 boat people died at sea; 929,600 reached asylum.

o The 20 July 1986 San Diego Union-Tribune cites the UN Refugee Commission: 200,000 to 250,000 boat people had died at sea since 1975.

o The 3 Aug. 1979 Washington Post cites the Australian immigration minister’s estimate that 200,000 refugees had died at sea since 1975.

§ Also: “Some estimates have said that around half of those who set out do not survive.”

o The 1991 Information Please Almanac cites unspecified “US Officials” that 100,000 boat people died fleeing Vietnam.

o Encarta estimates that 0.5M fled, and 10-15% died, for a death toll of 50-75,000.
o Nayan Chanda, Brother Enemy (1986): ¼M Chinese refugees in two years, 30,000 to 40,000 of whom died at sea. (These numbers also repeated by Marilyn Young, The Vietnam Wars: 1945-1990 (1991))

· Rummel
o Vietnamese democide: 1,040,000 (1975-87)
§ Executions: 100,000
§ Camp Deaths: 95,000
§ Forced Labor: 48,000
§ Democides in Cambodia: 460,000
§ Democides in Laos: 87,000
§ Vietnamese Boat People: 500,000 deaths (50% not blamed on the Vietnamese government)

Cung Chúc Tân Xuân – Nhâm Thìn

In Cộng Đồng, Việt Nam on 2012/01/22 at 16:58

Cung Chúc Tân Xuân - Nhâm Thìn

 

Đầu năm Nhâm Thìn chúng tôi xin chúc các bạn đọc một năm mới tràn đầy sức khỏe, an lành, và hạnh phúc.

Chúc đất nước Việt Nam sớm được tự do, dân chủ, phú cường.

 

Tự Tình Mẹ

In Cộng Đồng, Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2011/12/30 at 10:14

Đêm mẹ nghe tiếng ca bi hùng thay tiếng kinh cầu “Mẹ Việt Nam ơi chúng con vẫn còn đây”[1] của những đứa con trong tù đày và lưu lạc mà lòng mẹ chĩu đau.

Mẹ luôn thức, dõi mắt nhìn đàn con khôn (dại) lớn lên, những đứa con ân tình, những đứa con nghĩa nặng, những đứa con vong ơn, những đứa con bội phản.

Mẹ biết, có những đứa lầm đường quên mẹ chỉ “còn đảng còn mình”. Mẹ biết, có những đứa u mê thờ bình vôi – bái vật – bà đồng[2] “lên đồng tập thể”, rồi xẻo thịt cắt xương dâng cho kẻ lạ. Mẹ biết, có những đứa thế chấp mẹ cho vài trăm triệu đô la. Mẹ biết, có những đứa lo lắng quan tâm từng cơn ho thổ huyết đầu nguồn, từng vết thương lở loét cột sống lưng của mẹ. Mẹ biết, có những đứa phải chịu nhục hình vì mẹ.

Những bài hát các con dành cho mẹ – Ca Dao mẹ, Mẹ Việt Nam ơi, người mẹ Gio Linh, người mẹ Ô Lý, người mẹ Lý Sơn[3] – mẹ nhận lấy nhưng chẳng mong cầu.

Nhưng mẹ xin …

Các con đừng xây dựng tượng đài hão huyền cho mẹ.

Các con đừng đem tên mẹ ra chót lưỡi đầu môi lọc lừa thiên hạ.

Các con đừng bắt mẹ làm anh hùng, đừng bắt mẹ hy sinh mãi mãi.

Các con đừng thở than trách móc với mẹ. Gia tài của mẹ[4] để lại cho con không là “một nước Việt buồn”. Mẹ đâu để lại “một rừng xương khô” hay “một núi đầy mồ”. Mẹ nào sinh ra “một bọn lai căng”, “một lũ bội tình”. Những đứa con của mẹ đầy nhiệt huyết lý tưởng một thời. Những đứa con học thói Mác-Lê, nọc nòi Cộng Sản. Những đứa con vong bản “đem gươm đao về xóm làng”[5] giết chết anh em gieo hận thù đố kỵ.

Mẹ không oán trách các con vì mẹ là mẹ của tất cả các con.

Và mẹ muốn …

Mẹ muốn gì? Tất cả các người mẹ muốn gì?

Muốn các con thương yêu bảo bọc lẫn nhau, những đứa con trái bí trái bầu.

Muốn trẻ thơ không phải chết già. Muốn người già chẳng phải chết non. Muốn không ai chết đời oan ức.

Muốn đứa cày có ruộng, đứa đi biển có ngư trường, đứa làm công có việc, đứa trẻ thơ được học, đứa bệnh hoạn được chăm, đứa cô quạnh được hỏi, đứa đói lạnh được no[6].

Muốn các con nên người. Muốn các con học làm người. Muốn các con được làm người.

Muốn các con sống đời chân thật.

Mẹ có gì để lại cho các con. Không phải là rừng vàng biển bạc hay phù sa bên lở bên bồi. Gia tài của mẹ là các con. Những trí tuệ tài năng con rồng cháu lạc.

Mẹ yêu lắm những đứa con của mẹ. Mẹ nhớ tên từng đứa một, đứa quê đứa tỉnh, đứa gái đứa trai, đứa trẻ đứa già, đứa nghèo đứa giàu, đứa cô thế đứa cường quyền.

Đừng lo gì cho mẹ. Mẹ luôn vẫn còn đây cùng tuế nguyệt, dù bão táp phong ba.

Lo cho người mẹ thở hơi nông cạn chờ con (Paulus Lê)[7] mỏi mòn chờ đợi (Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương, Nguyễn Tiến Trung). Lo cho người mẹ trông con Tí Hón (Người Buôn Gió). Lo cho người mẹ chưa từng (Đỗ Thị Minh Hạnh, Phạm Thanh Nghiên, Tạ Phong Tần, Hồ Thị Bích Khương). Lo cho người mẹ của các con vắng cha (Anh BaSG, Điếu Cày, Cù Huy Hà Vũ, Phạm Minh Hoàng, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Xuân Nghĩa, Vi Đức Hồi, Nguyễn Công Chính). Lo cho người mẹ, vợ và con (Nguyễn Thị Thanh Tuyền, Trịnh Kim Tiến) mãi đi tìm công lý[8]. Lo cho người mẹ, con đi tìm mẹ (Bùi Thị Minh Hằng)[9]. Lo cho những người mẹ có con bỗng nhiên bắt mất[10]. Lo cho những người mẹ mất đất không nhà. Lo cho người mẹ con dâu xứ người (Hàn, Đài) [11]. Lo cho những người mẹ Osin xa nhà. Lo cho người mẹ con đói củ mài. Mẹ đếm kể sao cho hết những đứa con thân yêu của mẹ.

Mẹ nhắc, các con thương yêu bảo bọc lẫn nhau. Các con luôn nhớ đến anh chị em của mình bị bức hại chia lìa. Bao con tin lương tâm[12] vẫn còn chảy đập để động viên tinh thần và chia sẻ đồng tình với các đứa con tù nhân lương tâm của mẹ.

Các con ơi mẹ luôn vẫn còn đây. Các con chỉ có một cuộc đời mỏng manh hữu hạn. Mẹ mong con sống một đời vui tươi, một đời tự chủ, một đời an lạc.

Các con sống đứng thẳng làm người, không cúi lưng nô lệ.

Các con sống chân thật, nói lời ngay thẳng, không uốn lưỡi mua danh, không lọc lừa cầu lợi.

Các con sống xứng đáng làm người.

Mẹ Việt Nam con vẫn còn đây!

© 2011 Vietsoul:21


[1]Mẹ Việt Nam ơi”, Thái Thanh – Nguyễn Ánh  9

[4] “Gia tài của mẹ”, Trịnh Công Sơn

[5]Cơn mê chiều”, Thái Thanh – Nguyễn Minh Khôi

[6] Chuyện chuột & người, Đàn Chim Việt

[12] Con tin lương tâm, Vietsoul21.net

Nguyễn Quang Lập – Dân cày ngó… sân golf

In Cộng Đồng, Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2011/08/15 at 11:02

Nguồn: Danlambao

Sáng thứ bảy, vừa bảnh mắt Ngu ngơ đã tung tăng mặc quần sooc áo pull, đeo giày thể thao chuẩn bị ra khỏi nhà. Đang lúi húi cột dây giày, ngẩng lên đã thấy tám mươi cân Mũm Mĩm lù lù trước mặt choán cả tầm nhìn.

Mũm Mĩm lừ lừ nhìn Ngu Ngơ với cái nhìn khả nghi, nói đi đâu mà sớm thế, hẹn hò gì với ai chăng? Ngu Ngơ cười khì khì, nói ừ thì hẹn hò, có mấy ông bạn hẹn đi chơi sân golf cho biết. Mang tiếng ở một đất nước có 90 sân golf, nhiều sân golf vào loại nhất nhì trên thế giới mà mình không biết sân golf méo hay tròn thật chẳng ra làm sao.

Mũm Mĩm trợn mắt bặm môi, nói anh có biết người ta làm sân golf cho ai không mà đòi đến chơi? Vé vào sân golf một năm bốn năm chục nghìn đô rõ chưa! Một bộ gậy một tay nắm cũng giá hai, ba nghìn đô rõ chưa! Ngu Ngơ đòi đến chơi sân golf, đừng có mà mơ.

Đã thu hồi 77 dự án sân golf

Ngu Ngơ cười khì, ôm Mũm Mĩm hôn cái chụt, nói biết rồi biết rồi. Anh biết sân golf làm ra không để cho đám dân nghèo các anh chơi. Đám dân giàu Việt 10 anh thì có 9 ông bụng phệ, chơi karaoke thì được chứ chơi golf làm sao được mà chơi. Tây cũng thế, mấy ai mò đến Việt Nam chơi một trận golf rồi về. Thế giới có 2000 sân golf hiện đại tiện nghi vô cùng, có động rồ mới đến Việt Nam chơi golf.

Bây giờ đến lượt Mũm Mĩm tròn xoe mắt nhìn Ngu Ngơ, nói thế người ta làm ra sân golf để làm gì, cho bò gặm cỏ à?

Ngu Ngơ ôm bụng cười rũ, nói ôi Mũm Mĩm thân yêu của anh sao mà ngu ngơ thế. Sân Golf chẳng qua là thứ buôn bán bất động sản trá hình thôi. Mũm Mĩm vội vàng bịt mồm Ngu Ngơ, nói anh có im đi không, đừng có ăn ốc nói mò. Ngu Ngơ cười, mò gì mà mò, thiên hạ biết cả chỉ mình em không biết. Người ta nhân danh làm sân golf để kiếm được một khoảnh đất khổng lồ với giá đền bù rẻ mạt, sau đó xẻo ra một miếng làm sân golf, còn lại thì xây biệt thự, làm nhà hàng, khu du lịch sinh thái… ai mua thì bán. Đấy kinh doanh sân golf lãi như thế đấy, hu hu.

Mũm Mĩm lườm Ngu Ngơ, nói bằng chứng đâu? Ngu Ngơ cười cái hậc, nói này nhé, trong 90 sân golf thì chỉ có 21 sân golf thuần túy thôi, 69 sân golf còn lại kết hợp với kinh doanh bất động sản và du lịch. Thích ví dụ thì anh ví dụ. Này nhé, sân golf Tản Viên có 1200 ha thì chỉ có 222 ha làm sân golf, sân golf Quan Sơn có 1.700ha chỉ có 161ha làm sân golf… số còn lại là du lịch và bất động sản. Đó thấy chưa?

Mũm Mĩm thở dài, nói ối giời ơi, người ta kinh doanh bất động sản như vậy sao không ai biết nhỉ? Ngu Ngơ nói biết chứ, nếu không biết thì số sân golf lên tới 166 chứ đâu dừng lại con số 90. Nhà nước đã dẹp đi 76 dự án sân golf rồi đấy.

Mũm Mĩm cười tươi, nói may quá, dẹp đi 76 dự án sân golf, tiết kiệm cho dân được hơn 7,8 ngàn ha đất nông nghiệp, nếu không cái câu “dân cày có ruộng” thành câu “dân cày ngó sân golf”, chỉ đứng ngó sân golf rồi ứa nước mắt vác cày ra đường nhựa mà cày thôi.

Ngu Ngơ lắc đầu xua tay, nói khoan hãy mừng vội. Dự án xây mới 28 cái sân golf mới được bổ sung đó kìa. Mũm Mĩm giật nẩy mình, nói ối ôi. Ngu Ngơ cười ngao ngán, ấy là biết vậy. Hu hu.

Mr. Đỗ – Hậu Chí Phèo

In Cộng Đồng, Liên Kết, Việt Nam on 2011/07/03 at 07:30

Mr. Đỗ

Theo blog Mr. Đỗ

 

Sau khi đánh chết Bá Kiến trong một cuộc ẩu đả tưng bừng trước nhà Chị Dậu, Chí Phèo nghiễm nhiên trở thành chủ nhân ông của làng Vũ Đại, được đông đảo dân chúng ủng hộ hết mình. Kết thúc trận kịch chiến ấy, Phèo từ một tay bợm nhậu bỗng chốc biến thành người hùng. Trong mắt dân chúng, kể cả một số kẻ thù xưa của Phèo, hắn là một trang hảo hán, là người soi đường chỉ lối.

Trên cương vị mới, Phèo bắt đầu tận hưởng hương vị chiến thắng và thi hành chính sách chăn dân do người anh lớn cai quản làng bên là Lão Hạc tư vấn. Đối với đám bạn nhậu đầu trộm đuôi cướp thuở xưa, ai biết điều thì Phèo cất nhắc lên các vị trí như phụ trách phòng sưu thuế, chỉ huy đội trị an hoặc ít ra cũng cầm loa, gõ mõ. Ai bướng thì Phèo cho vào hợp tác xã, suốt ngày bán mông cho trời, bán mặt cho đất. Đám dân chúng ủng hộ Phèo cũng không khá hơn. Tất cả đều bị lùa vào hợp tác xã. Họ làm lụng quần quật suốt ngày, không còn thời gian để suy nghĩ, thành ra não bộ và lá gan họ teo tóp đến thảm hại.

Đối với tàn quân của Bá Kiến thì khỏi phải nói, Phèo triệt tận gốc. Sợ quá, lũ này di tản sang các làng lân cận. Kẻ không chạy được thì đành ở lại làng Vũ Đại, ngậm đắng nuốt cay như chú hổ bị gã thợ săn Thế Lữ nhốt trong cũi sắt chờ ngày lên bếp lò để hóa thân thành cao hổ cốt.

Chính sách của Phèo thế mà hay. Dân làng Vũ Đại nghe răm rắp. Vì sợ. Khi không đám cận thần của Phèo chỉ đánh rắm một phát cũng có khối người nôn mật xanh mật vàng, chết không kịp ngáp. Làng Vũ Đại tuyệt đối an bình là vì thế.

Nhưng cùng với thời gian, Phèo đối mặt với nhiều mối lo mới. Nhờ tiếp xúc với các làng xã văn minh hơn, đám dân đen Vũ Đại ngày càng khôn ra. Một bộ phận trong số họ vẫn tin Phèo vô điều kiện như con cái tin cha mẹ, nhưng không ít người bắt đầu nghi ngờ Phèo, họ mày mò tìm hiểu bản chất lưu manh trong con người hắn ta. Đám cháu chắt Bá Kiến trong và ngoài làng cũng dần dà tìm cách ngóc đầu dậy. Thậm chí đôi lúc chúng đi lại nghênh ngang, đánh rắm một cách công khai mà chẳng hề nể sợ ai hết. Phèo tức lắm, hắn tìm đủ mọi cách để lập lại trật tự. Hắn vận dụng mọi ngón nghề của một bợm nhậu: đập bàn, dằn ly, xô ghế, thậm chí thượng cẳng chân hạ cẳng tay. Phèo còn vận thêm mấy chiêu mà người anh lớn là Lão Hạc tư vấn như siết cổ, bịt mồm, bóp mũi. Nhưng chẳng ăn thua.

Giữa lúc tình hình làng Vũ Đại đang nước sôi lửa bỏng, Phèo đang nghiến răng trợn mắt thì Lão Hạc lại xuất hiện cùng mấy con vàng của lão. Lâu nay, cứ mỗi lúc Phèo gặp khó khăn là Hạc ta lại dẫn chó tới để tư vấn cho Phèo cách giải quyết, tất nhiên là có lệ phí hẳn hòi. Lúc thì lão mượn vài cô gái đẹp về đấm lưng, lúc khác lại xin dăm cặp gà tơ về nhắm rượu. Nhưng lần này khác, Hạc ta sấn tới và chẳng nói chẳng rằng lùa nguyên cả bầy trâu của làng Vũ Đại về. Phèo ức, nhưng nhìn lũ vàng nhe nanh trợn mắt của Lão Hạc, hắn ta hồn vía lên mây.

Phèo sợ, nhưng đám dân đen thì không. Họ kéo nhau ra cổng làng Vũ Đại, bắc loa mồm chửi Lão Hạc om sòm. Cả đám con cháu Bá Kiến trong và ngoài làng cũng nổi máu địa phương, đồng tâm hợp lực chửi rủa, rên xiết. Dàn đồng ca Vũ Đại càng hát càng khí thế. Phen này Lão Hạc già nua kia chỉ có đường thủng màng nhĩ mà thôi. Muốn yên thì hãy trả trâu.

Quả thực chưa bao giờ làng Vũ Đại chứng kiến một sự đoàn kết keo sơn đến thế. Khi máu địa phương, lòng tự tôn làng xã nổi dậy, lũ dân đen thật thà, đám bợm nhậu bị thất sủng, một vài kẻ có lương tâm trong số cận thần của Phèo cùng tàn quân Bá Kiến đã dẹp bỏ bất đồng để hướng mũi tấn công về kẻ thù chung có tên là Lão Hạc. Đây cũng là cơ hội vàng cho Phèo ta chấn hưng dân khí, củng cố sức mạnh địa phương, xây dựng tinh thần đoàn kết để đưa làng Vũ Đại tiến lên một tầm cao mới.

Thế nhưng, một mặt do quá khiếp nhược, sợ đám dân đen làm mếch lòng anh Hạc thì nguy to, mặt khác do sợ các thế lực Bá Kiến thuở xưa trỗi dậy và lo rằng dân chúng học được cách đứng lên tranh đấu thì sẽ gây nhiều nguy cơ cho chế độ cai trị gia trưởng của mình, nên Phèo ta quyết dẹp trò chửi rủa. Một mặt hắn bảo với dân làng: “Các con hãy về đi, chuyện anh Hạc đã có cha Chí đây lo. Các con cứ ăn no ngủ kỹ. Mai mốt trâu sẽ tự động về nhà. Đừng tụ tập chửi bới kẻo bị đám con cháu Bá Kiến lợi dụng, làm mất hòa khí giữa Vũ Đại ta và anh Hạc. Thằng Kiến thì các con biết rồi đấy. Nó ác, dâm, đểu. Nó là thằng khốn nạn. Các con phải nhớ điều ấy”.

Cùng với lời khuyên giải như cha răn con, Phèo còn cho tay chân ra cổng làng giải tán dân chúng. Sau đó đi điểm mặt các nhân vật chủ chốt để tẩm quất. Hắn còn ra lệnh cho đám lâu la làm nghề đánh kẻng, gõ mõ, vác loa không được chửi Lão Hạc, không hùa theo dân đen, không cho bọn tàn quân Bá Kiến cơ hội lợi dụng, hãy ca ngợi tình đoàn kết giữa Chí Phèo và Lão Hạc.

Biện pháp của Phèo lần này cũng phát huy tác dụng. Vào những ngày tiếp sau đó, chẳng còn mống dân đen nào tụ tập trước cổng làng. Trò chửi bới Lão Hạc tuyệt nhiên không. Một vài kẻ dám ho khan, đánh rắm thì bị tay chân của Phèo đánh đập tơi tả.

Nhưng có một điều Phèo không nhận ra. Đó là giờ đây đã có thêm nhiều người ghét hắn. Đám cháu chắt Bá Kiến đã đành, đám bợm nhậu bị thất sủng chẳng nói làm chi. Ngay trong số dân đen từng tin Phèo vô điều kiện giờ cũng có thêm nhiều người nghi ngờ hắn, thậm chí oán hắn. Phèo đã bỏ lỡ cơ hội ngàn vàng để tập hợp dân chúng xây dựng làng Vũ Đại giàu mạnh khiến Lão Hạc không còn dám làm càn.

Giờ đây Phèo đang rất cô độc. Hắn không còn tâm trí nghĩ đến chuyện đòi lại đàn trâu nữa.

* * *

Sau khi dẹp được đám dân làng chửi rủa Lão Hạc, Phèo ta rất khoái chí. Chưa bao giờ hắn thấy rõ được uy quyền của mình như thế này. Giữa lúc hắn đang giương giương tự đắc thì ái thiếp Thị Nở tâu lên:

“Bẩm quan lớn, quan lớn biết tại sao đám dân đen có thể làm loạn không?”

“Ơ, con này hỏi kỳ… Thế tại sao nào?”

“Bẩm, tại chúng biết nói.”

“Ơ, người thì phải biết nói chứ.”

“Dạ bẩm, tại chúng biết nói nên chúng mới liên hệ với nhau được. Tại chúng biết nói nên chúng mới chửi anh Hạc được. Tại…”

“Thôi…”, Phèo đập bàn quát lớn. Đây chính là điều Phèo hiểu rõ nhất. Ngày xưa nếu bị câm thì hắn đã không thể tru tréo trước cổng nhà Bá Kiến mỗi ngày được rồi. Phèo hiểu rõ rằng chính trò chửi bới liên hồi đó đã khiến lão Kiến hết chịu nổi mới dẫn đến trận thư hùng trước nhà Chị Dậu năm nào. Kết cục là Chí Phèo đả bại Bá Kiến để điều hành làng Vũ Đại. Nếu Phèo không biết nói, không thể chửi rủa thì hắn đã không có ngày hôm nay. Quả thực tiếng nói là một thứ vũ khí nguy hiểm.

“Hay!”, Phèo thét lên khiến Thị Nở giật nảy mình. “Giỏi, ngươi đúng là ái thiếp của ta. Ngươi đúng là con đàn bà tóc dài mà đầu cũng dài hiếm hoi trên thế gian này. Ngươi chẳng những biết nấu cháo hành mà còn biết trò chơi quyền lực”.

Thị Nở bẽn lẽn: “Hổng dám đâu.” Đoạn ả nói tiếp: “Thế quan lớn sẽ làm gì nào?”

“Ngươi không phải dạy khôn ta. Ta tự có cách.”

Ngay ngày hôm sau, Chí Phèo ra bố cáo bắt dân làng Vũ Đại không được nói, phải câm hoàn toàn. Ai vi phạm sẽ bị cắt lưỡi. Chỉ có Phèo và đám cận thần mới có đặc quyền nói.

Kể từ giờ phút đó làng Vũ Đại im ắng như bãi tha ma. Từ đầu đến cuối làng, người ta gặp nhau chỉ gật gật vài cái coi như “chào xã giao”. Lũ trẻ con có lỡ khóc ré lên thì bố mẹ chúng vội vàng dùng tay bịt miệng, lấy giẻ nhét vào hoặc, áp dụng công nghệ hóa màu, dùng băng keo dán miệng. Cũng có vài trường hợp bức bối quá chịu không nổi, ho khan vài tiếng, thế là bị đám thuộc hạ của Phèo cắt lưỡi ngay lập tức.

Tình hình trên kéo dài được một thời gian thì cậu Nam Cao ở cuối làng nghĩ ra một chiêu mới để lách luật: đánh rắm. Số là Chí Phèo chỉ ra lệnh cấm nói chuyện nên việc đánh rắm không bị coi là phạm pháp. Thế là dân Vũ Đại chuyển qua đánh rắm thay cho nói. Người ta quy ước đánh một phát có nghĩa là “hello”, đánh hai phát là “good bye”, ba phát là than vãn, bốn phát là chửi thề. Vân vân và vân vân.

Phong trào đánh rắm phát triển đến mức nhiều người luyện được các chiêu thức thượng thừa. Người ta chẳng những có thể đánh các câu đơn giản như “chào bác”, “chào cô” mà còn có thể đánh “tôi ghét lão Phèo”, “lão Phèo thật độc ác”. Có người đánh một lúc được vài trăm phát là chuyện thường, y như bắn súng liên thanh vậy. Lũ trẻ con mới mở mắt cũng học đánh rắm. Tình hình đánh rắm tại làng Vũ Đại phải nói là “trăm hoa đua nở”, đủ thứ âm thanh, mùi vị, thậm chí màu sắc nữa.

Chuyện này làm cho Phèo và đám thuộc hạ đau đầu nhức óc. Cấm đánh rắm chăng? Phèo phân vân không biết xử trí thế nào. Giữa lúc đó Thị Nở xuất hiện. Thị Nở lâu nay luôn hiện ra đúng lúc và mang theo nhiều phương án cứu rỗi đời Phèo, thuở cơ hàn thì bát cháo hành hoặc cái bánh bèo nhão nhoẹt của thị, còn lúc Phèo có quyền lực thì Nở tư vấn các giải pháp quản lý xã hội vĩ mô.

“Phải cấm dân làng đánh rắm thôi”, Phèo phán.

“Ấy chết, cấm nói thì được, cấm đánh rắm thì không. Không nói người ta vẫn có thể sống, còn không đánh rắm thì chỉ có nước vỡ bụng mà chết”, Nở phân tích. Thị còn nói với Phèo rằng nếu cấm dân đánh rắm thì làng Vũ Đại sẽ bị các làng bên, trừ làng Lão Hạc, phê phán là gia trưởng, độc tài. Lỡ có ai đó vỡ bụng chết vì ứ hơi thì Phèo sẽ bị phê phán là vi phạm nhân quyền. Thế nên tuyệt đối không được cấm đánh rắm.

“Thế phải làm thế nào?”, Phèo hỏi.

“Phải siết chặt quản lý hoạt động đánh rắm”, Nở thì thào vào tai Phèo. Sau đó Nở còn nói nhiều thứ nữa, nhưng chỉ cho một mình Phèo nghe thôi.

Ngay ngày hôm sau, Phèo ra bố cáo cho toàn dân làng Vũ Đại: Phàm là người thì ai cũng phải đánh rắm. Đó là quyền lợi thiêng liêng nhất. Làng không cấm. Nhưng do có nhiều kẻ lợi dụng việc đánh rắm để phá hoại trị an nên từ nay làng sẽ siết chặt quản lý hoạt động đánh rắm. Tất cả mọi người chỉ được đánh rắm ở mức độ vừa phải và rắm phải thơm. Ai đánh rắm to, thối sẽ bị phạt nặng. Ai vi phạm nhiều lần sẽ bị trát lỗ ~~~, khỏi đánh rắm luôn.

Để đảm bảo tính nghiêm minh của luật pháp, Phèo thành lập một nhóm đặc nhiệm với thành viên là các bợm nhậu biết điều từng vào sinh ra tử với hắn ở tất cả quán xá trong làng. Ngày ngày đám này đi khắp làng dỏng tai lên nghe xem có ai đánh rắm lớn, lâu lâu lại khịt khịt mũi xem kẻ nào đánh rắm thối để đem ra trừng trị.

Kể từ đó hoạt động đánh rắm ở làng Vũ Đại đi vào khuôn phép thấy rõ. Các cao thủ đánh rắm trong làng không còn đất dụng võ. Bí quyết đánh rắm từng chuỗi dài như bắn súng máy ngày càng mai một, đi dần đến chỗ thất truyền.

 

Người Buôn Gió – Đi biểu tình thì làm được gì và câu chuyện nước Vệ

In Cộng Đồng, Liên Kết, Việt Nam on 2011/07/02 at 16:31

Người Buôn Gió

Theo blog Người Buôn Gió

Nhà Sản từ khi nắm triều chính nước Vệ, chiến tranh liên miên với các cường quốc quân sự trên thế giới. Đánh nhau nhiều đến nỗi thành quen. Cứ mỗi lần đánh nước này, thì nước khác lại tiếp vũ khí, của cải cho người Vệ chiến đấu với nước kia. Mấy chục năm ròng người Vệ không cần lo làm ăn, buôn bán chỉ có mỗi việc nhận lương thực và vũ khí của bên ngoài mà đi chinh chiến. Do đó vào thời kỳ tạm gọi là thanh bình của nước Vệ, quan quân nhà Sản vốn quen chiến trường, giờ gặp thương trường thành ngớ ngẩn, không biết xoay sở. Rút cục là chỉ đi vay nợ và bán tài nguyên, ngân sách thâm thủng, tài nguyên cạn kiệt.

Nước Tề bấy lâu nay vẫn có bụng dòm ngó nước Vệ, thấy Vệ suy, bèn đóng hàng loạt chiến thuyền dong ra biển Vệ tung hoành thu thuế ngư dân, khai thác tài nguyên, khoáng sản ở vùng lãnh hải của Vệ. Một mặt Tề Bá Vương vẫn thắt chặt quan hệ với các quan lại nhà Sản, tạo cho họ những nguồn lợi và bảo đảm chức tước.

Tưởng thế là thâu tóm được nước Vệ, quân Tề ngày càng bạo ngược.

Mùa Hạ năm Tân Mão, triều nhà Sản thứ 66. Dân Vệ nổi lên biểu tình phản đối gay gắt hành vi bá đạo của Tề.

Nhà Tề mới họp lại bàn. Có quan nói:

– Một dúm người Vệ con con đó được cái chi, người của ta bên đó giữ chức vụ cao trong triều còn đầy. Nước Vệ không dám kháng cự đâu.

Quan khác tâu:

– Thưa đại vương, nước Vệ cạn kiện, vũ khí hoen rỉ, quân lính chểnh mạng, quan lại hoang đàng, dân tình bạc nhược. Dẫu đám phản đối đó có đông gấp mấy đi nữa cũng chả khiến Vệ khác đi được. Chúng ta cứ vậy mà tiến thôi.

Triều nhà Tề bàn đang bàn đến đó, bỗng có một vị quan già phụng sự mấy đời triều nhà Tề từ thời Tề Đặng Vương đến nay e hèm một cái. Mọi người ngoảnh lại, vị quan đó lên tiếng.

– Một nhúm người đó là mầm đại họa cho nhà Tề, không những có thể ngăn Tề ta chiếm được đất của Vệ, mà còn làm nước Tề suy sụp.

Vua quan nhà Tề ngạc nhiên nhìn lão tướng già, Tề Bá Vương hỏi.

– Khanh nói rõ xem nào.

Vị quan già bước ra giữa sân chầu, vái lạy Vương và các quần thần. Sau đó nói một hơi dài.

– Thưa đại vương, dưới triều nhà Sản, nước Vệ chỉ biết có nghề chinh chiến. Mỗi lần họ đánh trận như chúng ta biết thì họ được nước khác viện trợ đầy đủ từ cái kim sợi chỉ đến chiến xa, hạm thuyền. Ngay nước Tề ta cũng cung cấp cho họ để họ đánh Cờ Hoa. Phú Lãng Sa. Sau này họ lại được Bạch Mao tiếp viện để đánh nước Cam. Nói tóm lại một điều nước Vệ chính chiến với tất cả những cường quốc trên thiên hạ. Khi họ đánh trận thì yếu tố vũ khí, lương thực… họ không hoàn toàn phải lo, bởi cường quốc khác đứng đằng sau lo cho họ. Chuyện Tề và Vệ có chinh chiến so đo về tiềm lực không biết được ai hơn ai. Cho nên điều quan trọng nhất là phải ngăn người Vệ vốn là nước phên dậu che chắc cho ta đừng trở thành tiền đồn của kẻ khác.

Bấy lâu chúng ta vẫn dùng tiền bạc can thiệp để gây dựng những nhân tố của chúng ta trong triều Vệ. Những người này giúp chúng ta đưa Vệ đi đúng bổn phận là chư hầu, phên dậu cho nước Tề. Ngoài ra còn chăn dắt, định hướng cho dân Vệ thuần phục, mến yêu nước Tề qua những loại hình văn hóa Tề tràn ngập đời sống Vệ hàng ngày. Bộ phận chiến tranh tâm lý của Tề ta trong mấy chục năm qua cũng đạt nhiều thành công lớn, khiến cho bọn Vệ giờ trở nên ích kỷ, độc ác, trành giành, xâu xé nhau chỉ nghĩ đến sao cho hưởng thụ được cá nhân mình. Trong cuộc tấn công toàn diện núp dưới 16 chữ vàng, về kinh tế ta đã khống chế hoàn toàn nước Vệ, về nhân sự cũng có nhiều khả quan, về tinh thần văn hóa hầu như đã làm tê liệt ý chí người Vệ, thế nhưng dù quân sự ta mạnh hơn Vệ nhiều lần, chúng ta cũng cần phải đắn đo.

Như thần đã nói trên, người Vệ dưới sự chuyên chính của nhà Sản, nếu quyết chiến thì bất lợi cho Tề vô vùng. Nay nước Tề ta hùng mạnh, các nước trong thiên hạ ganh ghét. Nếu Tề, Vệ có giao tranh. Chắc hẳn các nước sẽ xúm vào viện trợ vũ khí tối tân cho Vệ, tiếp tế nguồn lương thảo. Nước Tề quen nghề xông pha tuyến đầu từ trước đến nay, giờ lúc tiền của ngân khố hết, nguy cơ mất lãnh thổ, như dồn đến đường cùng, lẽ nào họ không quay lại nghề cũ nhận của cải từ nước khác mà giao tranh với ta. Về địa lý Vệ gần với ta, đã giao tranh là phải kéo dài liên miên. Nước Tề tập trung đối phó với Vệ cũng thực ra là đối phó với nhiều nước thù ghét Tề hậu thuẫn đằng sau cho Vệ. Vô hình chung ta chiến đấu với Vệ, còn các nước khác rảnh rang phát triền. Sau chiến tranh thắng thua thế nào thì nước Tề cũng bị ảnh hưởng, không theo kịp các nước khác, chưa nói đến là sa lầy.

Nay nước Vệ đang bạc nhược về tinh thần, vua tôi mỗi người một ý, đó là công lớn của bộ tuyên huấn chúng ta trong suốt mấy chục năm hợp tác toàn diện với Vệ. Tiền của tiêu hao không biết bao nhiêu mới khiến người Vệ khiếp nhược chinh chiến như vậy. Bỗng dưng có đám Vệ nổi lên, dẫu chỉ vài trăm mống, nhưng cũng là cái họa, bởi nó là ngọn lửa khêu gợi tinh thần dân tộc, quyết chiến đến cùng. Nếu ảnh hưởng ngày càng to sẽ gây khó khăn cho những nhân sự mà chúng ta cấy trong triều Vệ khi can thiệp vào đường lối nước Vệ vào những quyết sách có lợi cho nước Tề ta. Nếu dẫn đến dân vua tôi nhà Vệ đồng lòng sát cánh chiến đấu với ta, thì bao nhiêu kế hoạch diễn biến trong lòng địch của chúng ta từ trước đến nay thành phá sản.

Mà nếu như xảy ra giao tranh Vệ và Tề, thì thần cũng đã nói rõ lúc trước. Mong đại vương và triều thần nghe cho vài lời.

Triều đình Tề xôn xao, ai cũng nhận thấy lời lão tướng già nói có lý. Thống nhất bàn bạc xong, Tề Bá Vương quyết sách rằng:

– Phải khai thác tối đa những thuận lợi mà chúng ta đang có. Triệt để những tư tưởng, mầm mống gay gắt với Tề đang diễn ra tại nước Vệ. Nay chỉ dụ gấp cho tay chân ta trong triều Vệ ngăn chặn các cuộc biểu tình, điều tra cô lập và làm vô hiệu hóa những đối tượng chủ chốt có ảnh hưởng trong đám tuần hành, hạn chế đưa tin hoạt động của Tề ngoài khơi nước Vệ. Mặt khác đưa đoàn phái bộ sang để ve vãn triều thần Tề, khi đoàn phái bộ sang, các tay trong phải phối hợp chặt chẽ với phái bộ, tuyên truyền rằng Tề ta không có bụng dạ nào ngoài ý tốt muốn giao hảo với Vệ chư hầu. Mặt khác phải tập chung tập luyện hải quân, nhân lúc Vệ chủ quan đánh một trận tiêu diệt nhanh gọn như hồi Mậu Thìn, chiếm gữ và xây dựng các căn cứ lâu dài kiên cố. Đưa chúng vào thế đã rồi, lúc đó ta phủ dụ vỗ về triều Tề rằng đằng nào cũng đã xong rồi, giờ chỉ còn hợp tác hữu hảo để cùng nhau phát triển. Vừa mua chuộc bọn quan lại, vừa ký kết vài hiệp định thương mại đầu tư tạo công ăn việc làm cho dân chúng. Đến lúc đó thì Vệ còn bụng đâu mà làm được điều gì nữa.

Tề Bá Vương bãi triều.

Mùa Hạ năm đó, phái bộ nhà Tề sang Vệ bàn chuyện hữu nghị, hòa bình, không gây căng thẳng.

Nước Vệ bớt đưa tin về biển khơi.

Các tỉnh thành công sai ra sức gắt gao trấn áp những người Vệ biểu tình phản đối Tề.

Duy ở kinh đô còn le lói mấy mống kiên trì khơi dậy tinh thần cảnh giác âm mưu của Tề.

Dân Vệ vẫn hỏi móc máy nhau rằng, việc lớn có triều đình lo, mắc mớ gì đi biểu tình như thế, thừa cơm để nhiễu sự à?

Than ôi, phải có nhiều kẻ hỏi dã tâm như vậy, mới sáng tỏ bản chất của người Vệ dưới triều nhà Sản là vậy.

Mỗ là phường lêu lổng, vô học, mạt hạng trong thiên hạ, sống bám vào gia đình, sinh ra nhàn rỗi chép lại những chuyện này cho đời Vệ sau nếu có, biết được đôi phần.

 

Thùy Linh – Sexy tất cả, trừ lòng yêu nước

In Cộng Đồng, Chính trị (Politics), Việt Nam on 2011/06/24 at 14:01

Có thể phơi bày tất cả, trừ sự thật.
Có thể phơi bày tất cả trừ sự liêm sỉ, tử tế.
Có thể phơi bày tất cả trừ công bằng.
Và đau đớn hơn, có thể phơi bày tất cả trừ lòng yêu nước.

Thùy Linh

Bây giờ bạn có thể biết đến tận giường ngủ của những người nổi tiếng, hơi nổi tiếng, nổi tiếng chút chút, tự mình làm nổi tiếng…với căn nhà cỡ triệu đô, hơn triệu đô và nhiều triệu đô. Bởi tất cả được phơi bày trên các trang mạng.

Bạn có thể tưởng tượng hình bóng người đẹp ngâm mình trong các bồn tắm sang trọng của một phần giá trị trong những căn nhà đắt tiền đó. Bởi rất cả được phơi bày trên các trang mạng.

Bạn có thể mất ngủ nhiều ngày về sự giàu sang phô trương của các sao và tự hỏi họ kiếm đâu ra ngần ấy tiền giữa lúc một người trí thức (chưa kể dân đen) kiếm được đồng tiền nuôi gia đình hết sức chật vật?

Bạn có thể khó chịu vì hàng ngày mở tờ báo và các trang mạng chỉ thấy chuyện tốc váy, yêu đương, ly hôn, cặp bồ…của những người nổi tiếng và được coi là nổi tiếng. Thậm chí đám cưới của sao nào đó cũng chiếm mất khá nhiều giao diện trên trang mạng với không có thông tin gì cả ngoài các chân dài tới dự lễ thành hôn. Giữa lúc xã hội nơi tôi đang sống có quá nhiều việc cần phải lên tiếng.

Bạn có thể cười nhạt vì một party sinh nhật phù phiếm và hết sức sành điệu của ai đó cũng là người nổi tiếng được tổ chức linh đình và lôi kéo sự chú ý của các phóng viên và nhiều độc giả. Giữa lúc nhiều người dân nước tôi đang thiếu dù chỉ một bữa cơm no bụng.

Bạn có thể kinh ngạc về tội ác diễn ra hàng ngày được “trình diễn” trên các báo và mạng internet như là phần không thể thiếu của cuộc sống trên mảnh đất này. Những vụ án đốt con, đốt chồng, những thây người bị giết cắt rời từng mảnh, những vụ bắn nhau chỉ vì va chạm trên đường, những vụ hiếp dâm trẻ nhỏ và chính con cái mình…Tội ác dường như là chuỵên bình thường khi mọi giá trị nhân văn mang tính người đã bị đẩy ra khỏi cuộc sống.

Bạn có thể bị kinh động bởi những vụ tham ô, thất thoát số tiền lên đến nhiều tỷ tỷ đồng mà người bình thường không biết đó là bao nhiêu chữ số, nhưng vẫn chỉ “rút kinh nghiệm”. Thử hình dung nếu có một Bao Tự* thay vì thích xé lụa mà xé tiền thì mất bao nhiêu năm mới xé hết số tiền ấy với mệnh giá 500.000 VND? Nhưng đất nước tôi vẫn bao dung, nhẫn nhịn…cho qua. Trong khi vẫn rất nhiều đứa trẻ phải bỏ học vì không có tiền. Ngày ngày trẻ con vẫn đu dây vượt sông lũ đến trường. Vô vàn đứa trẻ vùng cao phải ở lán dựng tạm trống hoác nơi núi cao rét buốt để nhọc nhằn bám theo con chữ. Vẫn nhiều người phát bệnh tâm thần do nghèo đói, bệnh tật…Chuyện đó ai cũng biết vì tất cả phơi bày trên báo chí.

Bạn có thể thất vọng đau đớn khi thấy thiểu số lãnh đạo cả dân tộc bằng tư duy không thể nói là lạc hậu, mà phải nói là lẩm cẩm, điên khùng. Vậy mà dân tộc tôi vẫn cúi đầu cam chịu, nhẫn nhục cắn răng…Tất cả cũng hiển hiện trên các trang báo và mạng không hề dấu diếm, hàng ngày…Sự thô bỉ, vô liêm sỉ, vô minh, trắng trợn, giả dối, độc ác diễu hành từ mấy chục năm nay và vẫn đang tiếp tục. Sự nhẫn nhục, vụ lợi, bàng quan, lạnh nhạt của triệu triệu người dân cũng chẳng hề dấu diếm…

Có thể phơi bày tất cả, trừ sự thật.

Có thể phơi bày tất cả trừ sự liêm sỉ, tử tế.

Có thể phơi bày tất cả trừ công bằng.

Và đau đớn hơn, có thể phơi bày tất cả trừ lòng yêu nước.

Tôi đã thấy điều đó qua cuộc biểu tình vì Trường Sa – Hoàng Sa – Vịêt Nam vào ngày 12/ 6 / 2011 vừa qua. Nhưng chủng tử của lòng yêu nước trong thời đại mới sẽ gieo mầm vào lòng người từ bây giờ, giây phút này…

Và tôi tin, chỉ một dúm người bày tỏ lòng yêu nước so với gần 90 trịêu dân nước Việt thì cũng đã bắt đầu thổi làn gió dân chủ, tự do vào cuộc sống ngột ngạt hôm nay.

Tôi tin tuổi trẻ, dù là số không nhiều, sẽ truyền năng lượng, nhiệt huyết của họ đến tư duy ù lỳ của rất đông người khác đang bị mắc căn bệnh thời đại “pakinson thể xơ cứng”. Sự thay đổi của cái mới chưa bao giờ bắt đầu từ số đông, thậm chí từ vài con người…Chỉ cần họ tìm ra một điểm tựa là có thể bẩy cả trái đất này.

Nếu có cô gái đẹp nào đã dám khỏa thân vì môi trường (hay vì gì gì đó) thì xin hãy một lần sexy lòng yêu nước để người dân được một lần ngưỡng mộ?

Xin tất cả mọi người hãy sexy lòng yêu nước và sự tử tế, còn những gì thuộc về riêng tư xin hãy kín đáo, lựa lời…

Đừng để các bạn trẻ chỉ thấy sự phồn hoa, phù phiếm mà quên đi hơi thở nặng nhọc của người dân và đời sống nghèo nàn, cực khổ của bao kiếp người đang vật lộn mưu sinh, trong đó có thể là cha mẹ họ.

Đừng để họ bị lóa mắt về tiền bạc, vật chất, đánh mất tính người mà gây tội ác.

Đừng để họ nhiễm sự ích kỉ, vụ lợi, cơ hội để tiếp bước lối sống mặc định trong xã hội: tranh đua học hành; dành giật, mua bán chức quyền; kiếm tiền bằng mọi giá; giàu sang chẳng kém ai; đừng để “giấc mơ con đè nát cuộc đời con”…

Đừng để sự giả dối thoải mái sexy và lên ngôi, thống trị đất nước này.

Nguồn: http://buudoan.blogspot.com/2011/06/sexy-tat-ca-tru-long-yeu-nuoc.html