vietsoul21

Archive for the ‘Chính trị (Politics)’ Category

Kể chuyện ngày “bầu cử” 22-5-2011

In Chính trị (Politics), Việt Nam on 2011/05/25 at 13:36
BBT: Bầu cử là một hành động chính trị “Công Dân”. Đi bầu hoặc không đi bầu là một động thái chính trị. Khi nhà cầm quyền Đảng CSVN đã tước quyền ứng cử và bầu cử độc lập, dân chủ thì bầu cử chỉ là trò hề bôi lọ cái mặt gian trá của chế độ. Tẩy chay không đi bầu là một hành động phản kháng chế độ độc tài Đảng CSVN.

 
 
Để chuẩn bị cho ngày “bầu cử” 22-5-2011 VC đã có những kế hoạch chi tiết để đối phó với khả năng sẽ có một cuộc tẩy chay rộng khắp của cử tri cả nước, nhất là những nhà dân chủ. Tôi và các cháu Thục Vy và Trọng Hiếu là một trong rất nhiều đối tượng của nhà cầm quyền.

Ngày 16/5/2011 An ninh tỉnh Quảng Nam đã phái ông Trần Kim Cầu đến nhà tôi để thông báo về ngày bầu cử “Quốc hội” và cho tôi biết là đơn vị mà tôi phải đi bầu là khối phố Bàn Thạch phường Hòa Hương. Ông Trần Kim Cầu là khối phố trưởng cũng là ứng cử viên Hội đồng nhân dân phường Hòa Hương kiêm thành viên tổ bầu cử.

Ngày 18/5/2011ông TKC giao thẻ cử tri cho tôi và những người trong gia đình. 18h chiều ngày 21/5 ông gọi điện đến nhà tôi để “nhắc nhở” là ngày mai nên đi bầu sớm “cho mát”.

8h30 sáng, ngày 22-5-2011 ông TKC gọi điện cho tôi yêu cầu tôi đi bầu cử. Tôi trả lời cho ông rõ lập trường của tôi là không đi và giải thích thêm lý do tôi không đi. Tôi nói với ông:

-“Đây là một cuộc bầu cử không đúng với tinh thần Dân chủ. Một cuộc bầu cử độc diễn của Đảng CS. Tôi và người dân có đi bầu hay không cũng không thay đổi kết quả của cuộc bầu cử. Chẳng qua Đảng CS dùng người dân chúng tôi để tuyên truyền cho họ, xác lập tính chính danh cho một việc làm bất chính, xác lập tính hợp pháp cho một quốc hội bất hợp pháp. Tôi và các cháu Huỳnh Thục Vy, Huỳnh Trọng Hiếu không đi bầu là một cách hành xử quyền hạn của một cử tri, một công dân VN đối với những vấn đề hệ trọng của đất nước. Không đi bầu cũng là một cách mà tôi và các cháu thể hiện “nghĩa vụ” tinh thần của mình với tư cách một công dân”.

Đến 13h30 chiều ngày 22-5 ông TKC lại gọi điện đến nhà tôi một lần nữa hối thúc tôi đi bầu cử. Tôi trả lời với ông như lần trước nhưng ngắn gọn hơn rồi cắt máy.

CSVN vẫn ba hoa với nhân dân VN và cộng đồng Quốc tế, là bầu cử tại VN là “Quyền” được Hiến pháp và Luật pháp minh định, mà đã là “quyền” thì người có quyền đó được quyết định lựa chọn đi bầu hay không đi bầu. Vậy mà họ vẫn dùng đến những thủ đoạn để người dân phải thực hiện cái “quyền” đó bằng cách gây áp lực – khủng bố tinh thần như cho công an và quân đội đến nhà để “nhắc nhở”.

– Lúc 9h30 ngày 22/5, một người là Nguyễn anh Quốc, trưởng CA xã Tam Phú, một người nữa mà tôi không biết tên là xã đội trưởng Tam Phú đến để “nhắc nhở” gia đình tôi đi bầu và nếu có ai là khách vãng lai đến nhà thì cũng phải đi bầu.

“Nhắc nhở” người dân đi bầu mà phải dùng đến công an và quân đội thì thật là quá “chu đáo”, cho thấy người dân VN sống trong chế độ XHCN, một chế độ “Dân chủ triệu lần hơn các nước phương tây dân chủ”, đã hành xử “quyền” bầu cử của mình dưới sự kiểm soát của chính quyền, dưới chiếc còng và họng súng của CA và quân đội VN.

– 15h chiều ngày 22-5, bà Liên người phụ trách công tác phụ nữ và cho vay tiền dành cho sinh viên của phường Hòa Hương, gọi điện đến nhà tôi thúc giục tôi và các cháu đi bầu và được cô em gái của tôi trả lời dứt khoát là không đi bầu. Gia đình tôi không phải là những người dân “thấp cổ bé miệng” như những người dân khác và ít ra chúng tôi cũng có hiểu biết căn bản về Pháp luật, về những quyền công dân được minh định trong Hiến pháp. Hơn nữa chúng tôi biết và “dám” lên tiếng tự bênh vực và bảo vệ mình qua hệ thống thông tin đại chúng “lề trái”. Gia đình chúng tôi không phải hoàn toàn đơn độc vì chúng tôi có được sự yêu mến của cộng đồng VN trong nước và Hải ngoại, vậy mà họ còn áp lực với chúng tôi như vậy (một áp lực ngang tầm và hoàn toàn có thể gọi là một cuộc khủng bố tinh thần), huống hồ gì người dân vừa không có kiến thức về pháp luật, vừa đơn độc.

30 phút sau – lúc 15h33 phút ngày 22/5/2011 (được ghi lại trên điện thoại của tôi) ông TKC lại gọi điện cho tôi yêu cầu tôi về Tam Kỳ bỏ phiếu. Tôi lại phải trả lời ông là tôi không đi bầu, nhưng tôi không thể không bực mình và gằn giọng vì họ cứ hết người này đến người khác gây áp lực, khủng bố tôi và gia đình phải thực hiện cái “quyền” của chúng tôi.

Ông TKC bảo tôi về bầu cử nếu không đi bầu thì ông sẽ xuống nhà tôi để thu lại ba thẻ cử tri của tôi, Thục Vy và Trọng Hiếu.

Tôi trả lời ông ta với sự bất bình:

– Anh có biết việc chính quyền thu lại thẻ cử tri của chúng tôi là bất hợp pháp không? Chúng tôi là công dân VN hợp pháp và đủ tư cách bầu cử và ứng cử. Việc chúng tôi có thẻ cử tri là việc đương nhiên và hợp pháp. Còn việc chúng tôi hành xử quyền của một cử tri như thế nào là quyền của chúng tôi, nó được Hiến pháp qui định.

Ông Trần Kim Cầu làm việc này là do chỉ thị của CA Quảng nam (từ trước đến nay những việc liên quan đến gia đình tôi đều do An ninh tỉnh Quảng nam trực tiếp chỉ đạo), cá nhân ông ta chỉ là tay sai, đâu dám to gan đến thế.

CSVN muốn thu hồi thẻ cử tri của ba bố con tôi là họ muốn tước quyền công dân của chúng tôi. Việc này đâu có dễ như thế! Phải có một phiên tòa để quyết định nếu CSVN muốn làm điều đó. Theo sự phán đoán của tôi, họ còn có mục tiêu khác: Nếu thu hồi được thẻ cử tri của chúng tôi họ sẽ tự động đóng dấu vào thẻ cử tri để chứng minh với công luận là chúng tôi đã đi bầu. Đây là cách họ hạ nhục chúng tôi nếu họ thấy cần thiết.

Qua trường hợp cụ thể của mình, tôi thấy cuộc “bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp” ngày 22/5 vừa qua cũng như các kỳ bầu cử trước đây, CSVN đã thực hiện nó trong bầu không khí khủng bố người dân.

Ngày 22/5/2011 vừa qua đối với gia đình chúng tôi là một ngày căng thẳng, nặng nề. Vì chúng tôi phải chịu một áp lực ghê gớm. Nhưng chúng tôi vẫn kiên quyết bảo vệ quyền của mình được qui định trong Hiến pháp và chúng tôi đã thực hiện quyền công dân của mình bằng cách trả lời “Không” với cuộc bầu cử trò hề, giả danh dân chủ. Chúng tôi biết con đường trước mắt chúng tôi đầy khó khăn và nguy hiểm nhưng chúng tôi quyết định đồng hành cùng dân tộc đến đích cuối cùng là Tự do và Dân chủ cho VN.

Tôi biết hiện nay có nhiều kịch bản đang xây dựng nhắm vào gia đình chúng tôi, nhằm mục tiêu triệt hạ tôi và các cháu, nhưng tôi cũng biết rằng thời đại ngày nay với sự sụp đổ tất yếu của các chế độ độc tài, CSVN không dễ dàng thực hiện tội ác mà không bị trừng trị. Dân chủ và pháp luật đang được thực hiện trên khắp thế giới.

© Huỳnh Ngọc Tuấn
© Đàn Chim Việt (http://www.danchimviet.info/archives/35244)

Nguyễn Thị Từ Huy – Nhật ký ngày 12/5/2011

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Việt Nam on 2011/05/13 at 14:09

Sáng nay vị cán bộ quản lý đó lại gọi cho tôi. Ông nói rằng ông mệt mỏi quá, vì bên công an lại đề nghị ông phải làm việc với tôi. Ông nói rằng tôi phải viết một cái đơn gửi lên trường trong đó nói rõ rằng tôi đã ký vào Kiến nghị trả tự do cho Cù Huy Hà Vũ. Tôi trả lời ông là tôi không hiểu tại sao tôi lại phải viết cái đơn đó. Và tại sao lại phải gửi cho trường, vì trường không liên quan gì đến việc này cả. Tôi suy nghĩ và suy nghĩ, và cuối cùng cũng vẫn không hiểu được. Tôi từ chối gặp ông, vì trong tư cách một người làm khoa học, tôi không muốn làm việc gì trái với nguyên tắc. Và tôi hiểu mọi việc chưa dừng lại ở đây. Còn đi tới đâu thì tôi không biết. Nhưng tôi không có gì phải sợ hãi. Tôi không làm gì sai, tôi không làm gì vi phạm pháp luật.

Tại sao không được phép làm điều đúng? Tại sao không được phép làm điều tốt?

Có lẽ chú Phạm Toàn nói đúng, rằng cuộc sống vẫn nói to với ta là không thể ảo tưởng, rằng hình như xung quanh ta, mọi thứ đang có màu máu và mùi vị thuốc súng.

Tuy nhiên, chú Toàn ơi, cháu vẫn phải tiếp tục ảo tưởng, vì cháu không thể nghĩ rằng ta đang tồn tại không phải giữa những con người, rằng ta đang tồn tại cùng với những kẻ đã mất hết tính người. Chú có nhắc đến Javert, thật là hay. Đó là một ví dụ rất đẹp trong văn chương cho thấy rằng tính người là một cái gì rất khó hủy diệt. Sắt đá và máy móc trước pháp luật đến như cảnh sát Javert mà cuối cùng đã chọn cái chết. Tất cả chúng ta còn nhớ rằng chính Javert đã tự tử sau khi tha cho Jean Valjean, kẻ mà hắn đã theo đuổi suốt đời mới bắt được. Tác giả không phân tích một lời nào về tâm lý nhân vật, không nói một lời nào về việc tại sao nhân vật tự tử. Độc giả không được giải thích vì sao Javert tự chọn cho mình cái chết. Nhưng độc giả hoàn toàn hiểu rằng, cái chết của Javert chính là sự chiến thắng của nhân tính.

Tất nhiên, chỉ có nhân vật văn học mới chết thôi. Chúng ta không cần ai phải chết, chúng ta chỉ hy vọng lòng nhân có thể chiến thắng sự phi nhân.

Tuyệt đối ngây thơ, tôi tin rằng những người đang gây áp lực cho trường tôi, những người đang muốn tôi phải sợ hãi, hoặc có thể muốn cả những điều mà tôi không biết, họ cũng là những con người, họ cũng có một bộ óc để nhận thức điều sai đúng và họ cũng có một trái tim người để xúc động và để hướng dẫn hành động của họ.

Tôi vẫn tin như vậy, dù tôi có phải trả giá cho niềm tin của mình.

N. T. T. H.

Nguồn bauxitevn

Ngày Nhân quyền Việt Nam 2011

In Chính trị (Politics), Thế giới, Việt Nam on 2011/05/12 at 14:06

 



Con tin lương tâm

In Chính trị (Politics), Tạp văn, Việt Nam on 2011/03/13 at 22:11

Vietsoul:21

Có lẽ chưa bao giờ hết cần phải có một sự thay đổi về nhận thức và hành vi: để chuyển hoá nỗi sợ thành hành động cũng như để hoá giải những đểu cáng bằng điều tử tế. Khi cái “đểu” lên đến tột điểm cùng lúc với sự tử tế bị vùi dập dưới bùn nhơ thì đó cũng là điểm bộc phát. Những hoa sen sẽ trổi dậy từ đáy bùn trong hồ và hương thơm của của những đóa hoa sẽ át cả mùi bùn.

 


Không biết với các bạn thì sao chứ tháng Ba là tháng chấn động trong cuộc đời của tôi. Nó là tháng “khúc ngoặc” giữa đi và ở, giữa sống và chết, giữa còn và mất. Tôi may mắn nên được ở vế bên trái: đi, sống, còn. Tháng Ba mở đầu cho những biến chuyển kỳ lạ không lý giải được trong đời tôi. Vì thế tháng Ba đến như con chim báo bão cho những cảm xúc cuồn cuộn, dâng trào và bất chợt.

Những ngày tháng Ba

Tháng Ba (gãy súng) năm 1975 là tháng thọ nạn của miền Trung. Chiến trường sôi sục vùng cao nguyên và cực bắc miền Trung. Gia đình tôi di tản từ Qui Nhơn vào Cam Ranh đến Phú Quốc và trở lại Sài Gòn sau 30/4. Trốn chết.

Tháng Ba năm 1979, chiến trường Cam Bốt chưa chấm dứt thì chiến tranh biên giới Trung-Việt bùng nổ. Chuyến vượt biên lần thứ ba của tôi cuối cùng đã thành, tàu đánh cá LA1234 rời nước ra đi vượt biển. Sau một tuần lênh đênh trong bão tố, mưa giông tàu đã tấp vào một đảo hoang Mã Lai. Thoát chết.

Tháng Ba năm 2011, cuộc cách mạng hoa nhài đã nở hoa trên Tuisinia, Egypt và hương thơm lan toả khắp bắc Phi, Trung Đông, đến Á châu. Tháng Ba là tháng giao mùa. Liệu hoa nhài có nở trên đất khổ, nơi “tháng Ba bà già chết cóng”? Trố chết!

Tháng Ba với những oan khiên, khổ nạn đang diễn ra trước mắt. Người thì đang bị cầm tù (Cù Huy Hà Vũ, Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng) và sẽ ra toà sắp tới[1]. Người thì bị hành lên, hành xuống, chất vấn, đe dọa qua các giấy/lệnh mời “làm việc” (Nguyễn Đan Quế, Tạ Phong Tần, Mẹ Nấm, Cha Lý). Người thì bị đánh đổ máu (Nguyễn văn Hướng), gãy cổ tử vong (Trịnh Xuân Tùng)[2]. Người thì bị cưỡng chế, hành hung không cho hành đạo (Giáo Hội Tin Lành Mennonite, MS Nguyễn Thành Nhân, MS Thân Văn Trường)[3]. Người thì bị bịt miệng để che chở những tội phạm vô luân của quan quân tập đoàn tội phạm từ Ủy viên TW Đảng chủ tịch tỉnh, phó chủ tịch huyện, công an tỉnh, cán bộ hải quan, đến giám đốc ngân hàng  (Nguyễn Trường Tô, Đinh Xuân Hùng, …)[4]

Tháng Ba, tháng của lễ hội và một ngày âm lịch trọng đại gần kề, “Dù ai đi ngược về xuôi. Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng Ba”. Lễ hội chi cho hổ ngươi dòng giống Lạc Hồng nếu con cháu vua Hùng chưa quyết dành lại quyền làm chủ đất nước và để lũ nội-thực-dân CSVN bán cho nước “lạ”

Tù nhân lương tâm (Prisoners of conscience)

Những người thọ nạn vì đất nước, đồng bào kể trên chỉ là một số nhỏ trong những người còn lương tâm, có lý tưởng vì nước, vì dân, vì chính nghĩa. Họ bị bạo quyền vô lương đày đọa, giam cầm với những “án”, “tội” từ các điều “luật”  xử bởi toà án (nhân dân) luật rừng (kangaroo court). Bất kể những cái án “chính trị” hay “hình sự” nào mà toà án luật rừng gán cho những người này đi nữa thì họ cũng cùng chung một phận người: tù nhân (của) lương tâm. Lương tri họ không cho phép im lặng hoặc dửng dưng không hành động khi thấy những điều sai trái, những bất công, những áp bức hằng ngày tái diễn ra trước mắt.

Họ lên tiếng. Họ hành động. Và họ bị bịt miệng, cùm tay.

Họ là ai? Họ có khác thường gì với chúng ta?

Họ là sinh viên, nhà báo, luật gia, nhà giáo, cựu chiến binh, công nhân, nông dân … Họ cũng như chúng ta.

Những anh chị em, chú bác, cô cậu của chúng ta đã trong vòng lao lý. Các người thân nhân quyến thuộc của họ cũng chịu những áp lực, cô lập, sách nhiễu không kém.

Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại. Trong lao tù họ bị áp lực tâm lý rất mạnh. Thiếu thốn vật chất từ miếng ăn, nước uống, chỗ ngủ, thuốc men thì con người cũng có thể tự điều chỉnh để cầm cự và thích nghi. Nhưng thiếu sự giao tiếp, trao đổi, và động viên với đồng bạn dễ đưa đến suy sụp tinh thần. Không gì tạo áp lực chấn động tâm lý mạnh hơn là cảm giác bị bỏ rơi trong từng ngày quên lãng. Và không gì gây phấn chấn nâng đỡ tinh thần hơn là biết được mọi người vẫn quan tâm, lo lắng, và đồng tình.

Những người tù nhân lương tâm này luôn mong được lương tri của xã hội và nhân loại đưa lưng để dựa vào. Lương tri của nhân loại là lương tâm của bạn và ta, của mỗi thành viên trong cộng đồng, xã hội, quốc gia, thế giới.

Con tin lương tâm (Hostages of conscience)

Oái ăm thay có những nơi mà lương tri thì thui chột và bị bán chác cho sự yên ổn cá nhân, cho an toàn nghề nghiệp, cho hãnh tiến thanh danh.

Có nơi mà quyền lực bạo hành đã buộc mọi người thành con tin (của) lương tâm dưới dùi cui, chó săn, còng cùm, hoặc miếng cơm manh áo.

Bạn bè, anh chị em, cô cậu, chú bác của chúng ta đang là tù nhân lương tâm. Bạn với ta là những con tin lương tâm. Chúng ta bị buộc phải mù, phải câm, phải điếc, phải làm ngơ.

Bạn và ta cần thoát ra cảnh đời làm con tin, tự giải thoát cho mình, và giải thoát cho các bạn tù.

Làm thế nào để thoát gọng kềm bạo lực?

Có lẽ chưa bao giờ hết cần phải có một sự thay đổi về nhận thức và hành vi: để chuyển hoá nỗi sợ thành hành động cũng như để hoá giải những đểu cáng bằng điều tử tế. Khi cái “đểu” lên đến tột điểm cùng lúc với sự tử tế bị vùi dập dưới bùn nhơ thì đó cũng là điểm bộc phát. Những hoa sen sẽ trổi dậy từ đáy bùn trong hồ và hương thơm của của những đóa hoa sẽ át cả mùi bùn.

Khi vui thì vỗ tay vào, đến khi hoạn nạn thì nào thấy ai. Những người tù lương tâm có phải cám cảnh với hoàn cảnh như thế chăng? Bạn và ta có cảm thấy mình cùng chung hoạn nạn đó chăng? Có sự khác biệt gì chăng giữa người tù nhân lương tâm và một con tin lương tâm?

Bạn và ta nhận thức được rằng chúng ta (gồm cả họ) là một.

Bạn và ta đã sống trong sợ hãi. Bạn và ta sống với “lũ”, sống với “chuyện thường ngày ở huyện” đã quá lâu thành thử các hành vi đã bị điều kiện hoá thích nghi với nhận thức đó.

Nhận thức – hành động

Từ nhận thức đến hành động là khoảng cách hố sâu của nỗi sợ quán tính. Bước nhảy là sự chuyển hoá.

Hành động (hành vi) của con người không chỉ hoàn toàn điều khiểu bởi cái đầu theo tinh thần duy lý nhưng bởi con tim, bởi thói quen, và tục lệ. Không những chỉ có ý chí trội vật chất (will over matter, mind over body) mà ngược lại thân thể tiềm đựng thông tin (information) và trí tuệ (inteligence) nên cũng ảnh hưởng cảm nghĩ và nhận thức. Khi các hành vi, hành động thay đổi thì nó sẽ chuyển lối suy nghĩ.

Bạn và ta cùng làm những thay đổi nhỏ trong hành động để chuyển dời tâm điểm của nhận thức từ sợ hãi đến tử tế.

Những hành vi tương thân, đồng cảm nhỏ nhất sẽ chuyển hoá bạn và ta thành một khối sức mạnh vô bờ. Sức mạnh của sự tử tế, của tình người. Sức mạnh của chính nghĩa để (mà) thắng (thay) cường bạo.

Đã có một số người làm những hành vi (không) nhỏ ấy. Người buôn gió và các bạn hữu thăm viếng tặng hoa vợ hiền anh Cù Huy Hà Vũ. Em đường-đời-sỏi-đá viết tâm thư kêu gọi lương tri con người không quên ba người bạn trẻ.

Bạn và ta có thể làm những điều (không) nhỏ tử tế đấy không? Bạn và ta có thể dành một chút thời gian nào chăng cho các bạn trong cơn hoạn nạn? Bạn và ta đi qua nhà các bà mẹ, người vợ, thân nhân của những người đấu tranh dân chủ ngả mũ, gật đầu chào tỏ sự cảm thông cho hoạn nạn trong gia đình họ. Bạn và ta gởi những thiệp thư (postcard) với vài hàng thăm hỏi. Bạn và ta hãy đến thắp nén nhang cho người oan khuất. Bạn và ta đến tụ tập nơi các phiên toà sắp tới. Bạn và ta chuyển ngân giúp đỡ các gia cảnh bị cô lập không phương tiện kinh tế.[5] Bạn và ta không phân biệt trọng khinh người đấu tranh bị cùm gông hay kẻ thấp cổ bé miệng bị hà hiếp.

Những hành động (không) nhỏ tử tế ấy của một cá nhân là lời phản kháng hùng hồn nhất với bạo quyền. Nhưng khi ngàn ngàn hành động ấy gộp lại thì cái thiện sẽ vượt lên làm cái đểu cáng chùn bước, chột dạ, hổ ngươi. Nó sẽ tạo sinh một hiệu ứng đám đông dây chuyền với tác động như những con sóng tựa đầu nhau thành ngọn sóng thần.

Bạn và (chúng) ta là một. Sẽ có sự chuyển hoá nào khi bạn và ta cùng biểu lộ tình người tình thân và cùng đồng lý tưởng xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, bác ái.

Bạn và ta có thể tự tin rằng tất cả những hành vi (không) nhỏ tử tế ở các góc chợ, khu phố, ngõ hẻm, đường mòn sẽ dẫn bạn và ta qua ngã ba đến con đường cái quan. Con đường của lương tri Việt Nam, dân chủ, công bằng và bác ái.

© 2011 Vietsoul:21

Phó thường dân (8): Gió mưa là chuyện của trời …

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2011/03/06 at 13:31

Vietsoul:21

Phó thường dân (8): Gió mưa là chuyn ca tri …

[tiếp theo kỳ trước: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu (9) Vô liêm sỉ – man rợ (10) Phế-anh-hùng (11) Luật Lệ(nh) … (12) Nhà em có nuôi một con két … (13) Cái nhà là nhà của ta … (14) Mèo – thỏ  (15) phố vẫy (16) Mít tờ Đàm và Bác Hồ (17) Nín thở qua cầu]

“Gió mưa là chuyện của trời
Nước non là chuyện của người công dân”

(Phỏng thơ Nguyễn Bính)

Cả hơn tuần nay phó thường dân tôi nằm bẹp ở nhà. Chẳng buồn đi đâu vì trời hết mưa xong chuyển sang đổ tuyết. Mưa ở vùng Tây Bắc Hoa-kỳ này nhiều đến nỗi người dân địa phương thường tự trào rằng “Đã là người Seattle thì nắng không đủ sạm màu da, chỉ dầm mưa cho rỉ sét.” (Seattlite don’t tan, we rust).

Nói thì nói vậy thôi chứ trung bình lượng nước mưa rơi ở Seattle vẫn còn thấp so với các nơi khác trên toàn quốc. Seattle đứng hạng thứ 44 sau cả New York, Miami, và Boston. Nhưng (cái nhưng đáng kể này) số ngày mưa ở Seattle thì có thể được cho là “hơi bị” cao. 158 ngày trong năm, gần như là 50 phần trăm. Tạm coi là ngày nắng, ngày mưa cứ thay phiên nhau.

Nhưng được một cái là mưa ở đây lai rai theo kiểu mưa phùn lất phất. Không nặng hột như mưa rào, mưa trôi nồi thủng rế, mưa trắng trời trắng đất, hay mưa lút mặt lút mày. Hồi mới sang đây phó thường dân tôi mấy năm đầu còn che dù khi đi mưa.  Rồi vì tật hay bỏ quên, làm mất, nên riết cũng quen, và thế là từ hai mươi mấy năm cho tới giờ chẳng bao giờ bận tâm che dù hoặc mặc áo mưa.

Ở đây nếu năm nào mà không có tuyết và mưa ít thì các viên chức thành phố–giới chức tiểu bang, công ty điện, sở cung cấp nước—liên tục cảnh báo và giáo dục người dân tiết kiệm.  Chuyện kêu gọi điều tiết giảm thiểu sử dụng điện nước để hầu bảo đảm cung cấp nhu cầu cho tư nhân và hảng xưởng nhất là thời gian cao điểm mùa hè. Họ nói dzậy phòng hờ chứ phó thường dân tui thấy cũng tùy. Vì vẫn có nhiều người xài xả láng chẳng giữ gìn gì ráo trọi, và bù lại cũng nhiều người để ý xử dụng điện nước cẩn thận. Tựu chung hơn mấy chục năm nay tui hổng bao giờ thấy ai phải chịu thiếu nước, thiếu điện.

Ủa, gió mưa là chuyện của trời … nói tới nói lui làm chi hè!

Ừa, mưa thì mới có nước … hổng có mưa thì “lạy trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày, lấy đầy bát cơm, lấy rơm đun bếp.”

Thiếu nước là thấy thở ngáp ngáp rồi. Thời vượt biên ngày nào làm sao quên nổi!  Không có nước thêm vài hôm nữa thì phó thường dân tui đã há miệng cá ngáp ngoài Thái bình dương rồi!

Nhưng nguy nhất giờ là mất nước tuốt luốt, là tiêu tùng vạn vạn con cháu vua Hùng à nghe…

Thiếu nưc, tha nưc, mt nưc

Nói tới từ ngữ c thì phó thường dân tui thiệt tình hổng làm sao hiểu nổi những chuyện cắc cớ thiếu nước, thừa nước, mất nước ở cái đất Việt Nam thời “hiện đại” này.

Năm nào cũng hạn hán, thiếu nước nghiêm trọng dẫn đến việc mùa màng thất bát. Thiếu nước thì đưa đến thiếu điện. Điện cúp lia chia bất kể đêm ngày, chẳng chừa nơi đâu, có đến chết người.

Thiếu điện thì lập tức có thiên tài đảng ta no, có xây đập thủy điện. Mỗi tỉnh mỗi vùng mạnh ai nấy làm, xây đập thủy điện để tăng trữ lượng nước và công suất điện. Có nước đâu mà trữ! Nước ở trên trời rơi xuống, ở thượng nguồn chảy ra chứ đâu phải cứ xây lên là có nước, có điện.

Cả hai miền đất nước lệ thuộc vào nguồn nước chính từ sông Mê-kông và sông Hồng. Hai nguồn nước đó giờ đã cạn kiệt, giảm lưu lượng một cách kinh hoàng. Sông Tiền, sông Hậu có những đoạn nước cạn tàu bè không chạy được. Còn sông Hồng thì trơ bãi cát ngang sông.

Vì sao? Chuyện gì ở đầu nguồn? Ai cản ai ngăn? Hay chăng là chuyện “lạ”?

Thiệt lạ hết sức nghen. Ở Việt Nam bây giờ thì gần như đụng phải chuyện gì cũng là chuyện “lạ”. Tàu “lạ”, rau quả “lạ”, hoá chất “lạ”, gạo “lạ”, công nhân “lạ” … riết rồi dám Việt Nam cũng thành nước “lạ”.

Chưa xong. Hết thiếu nước thì đến thừa nước. Toàn trò cắc cớ. Cứ mỗi lần mưa xuống thì thành phố ta tha hồ ngập nước[1]. Ngập từ mắt cá, ngập lên đầu gối, ngập tới thắt lưng. Ngập cống, ngập đường, ngập chợ, ngập thả dàn (thả bè).

Triều cường đó mà. Nghe mà bắt mệt. Hoa mỹ chơi chữ làm chi cho má nó khi.

Ngập nước thì nói đại là ngập nước cho nó gọn, chứ đừng có đổ thừa cho sông cho biển. Rồi thì thau chậu, phao chảo, thùng phi, thùng xốp, tất cả các phương tiện di chuyển chiến lược trong hai thành phố mang tên (cá) ngừ và thủ đâu Hà Nậu. Nẩu nói thâu rầu?

Thiếu nước và thừa nước mà không sang qua, sớt lại cho toại lòng nhau được. Nghiệt dzậy! Nhưng chịu vậy sao? Thôi thì còn nước còn tát chớ biết sao giờ.

À mà phó thường dân tui có nghe ở cả thế giới chỉ có mỗi Việt Nam là từ ngữ “nước” để chỉ cho đất Việt Nam. Đất đi kèm với nước thành “đất nước”, nghĩa là “nước” bao hàm cả đất và nước. Nước đối với người Việt Nam rất quan trọng, bắt nguồn từ nền văn minh lúa nước. Văn minh của những người xâm mình chống thuồng luồng, của Lạc Long Quân, vị thủy thần huyền tổ giống Lạc Việt. Lạc cũng là nước. Tức là khi nói về Việt Nam là nói đến nước.

Thế nên điều đáng sợ là Việt Nam đang dần dần mất nước – mất biển, mất đảo, mất đất, mất chủ quyền – Tại làm sao? Còn ai bứng (trồng) khoai đất này! Đó là đám nội-thực-dân Đảng CSVN.

Cóc kêu vi tri!

Nói tới nước thì phó thường dân tui nhớ lại câu chuyện con cóc là cậu ông trời. Cóc chỉ nghiến răng kêu là trời mưa. Nhiều người chắc ai cũng quên đầu đuôi câu chuyện rành mạch ra sao mà chỉ nhớ đến đoạn “cóc nghiến răng trời mưa”. Nhưng mà có phải thật vậy không? Hay là cóc cứ nghiến răng kêu trời mà trời vẫn cóc thèm để ý?

Cóc kêu với trời thì nhằm nhò gì. Hãy đọc vài dòng về số phận Phan Khôi, con cóc tía dưới thời VNDCCH năm 1954-1960:

“… Tiếng thở dài và tiếng chép miệng của ông trong những ngày cuối cùng như còn vọng lại. Sinh thời, mỗi lần ông nói đến một nỗi oan khuất nào đó của người đời, ông vẫn thường nhắc đến tiếng cóc kêu với trời! Gió mưa là do chuyển hoá Đông – Tây của thời tiết, nhưng vẫn có người tốt bụng tin rằng: Trời mưa nhờ có cóc kêu.” (Trần Duy, Tưởng niệm về Phan Khôi đăng trên Talawas ngày 18/6/2008)

Còn thời CHXHCNVN thế kỷ 21 thì sao? Một con cóc kêu trời cũng chẳng được chi. Con cóc tía Cù Huy Hà Vũ đã chạm tới thiên đình nhưng thượng hoàng đã sai đám thiên lôi chỉ đâu đánh đó dương búa sấm sét, đóng gông vào cùm.

Cóc con thì dzậy, còn trời (con) thì sao?

Thượng hoàng bộ chính trị đã chẳng ra rả ca ngợi cái “thiên đường cộng sản” đó sao? Có gì mà than vãn.

Phó thường dân nghĩ lại thì thấy cũng hổng trật. Thiên đường cho tập đoàn tội phạm vì họ tự tung, tự tác muốn làm gì thì làm, muốn vơ vét, lam nham, lũng lạm cỡ nào cũng được.

Họ nói “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu” cũng trúng phóc luôn. Năng lực họ hổng có, họ yếu/thiếu khả năng thì họ chỉ làm lam nham thôi. Nhu cầu thì ngược lại rất cao, nên họ cần vơ vét hết để thỏa mãn chúng. Để tui nhớ nha: nhu cầu xây đền thờ họ[2], nhu cầu đi xế khủng, nhu cầu rau sạch[3], nhu cầu nhất dạ đế vương[4].

Chỉ có đám nô-lệ-mới (phó) thường dân thì đối với họ là không có nhu cầu nhiều, lại có năng lực lao động cao nên phải được tận dụng hết cỡ trăm phần trăm. Người nô lệ thì bù đầu cắm cổ làm việc, đâu có thời giờ hoặc cần tiêu khiển nên cơm hẩm, cà thiu, cháo rau qua ngày là quá lẽ phải rồi.

Thử coi nè. Ai đời có cái anh chàng lao động xuất khẩu con thằng cha mắc dịch nào đó hổng biết. Vừa học (hộc xì ke), vừa làm (lừa) xong hai ba bằng cấp trong vòng mấy năm ngắn hổng rõ. Nhưng đến giờ thứ 25 đăng đàn vào ủy viên Trung Ương sánh vai với người (S)ang kẻ (T)rọng. Giữ lề mề vai công nhân làm chi cho mệt cái thân! Hãy đình công lãng việc rồi từ đó phấn đấu thay tên thành Tuấn, đổi họ là Nông, để thoát đời công nhân vô sản. Tự nhiên thành chàng Nông tuấn kiệt[5] dzô quyền, dzô tiền là chắc ăn nhứt.

Chưa hết. Gã cha của thiếu chủ Nguyễn Thanh Nghị[6] thì lấy của thiên (hạ) trả địa cho tên này xài xả láng. Y được (ngao) du học ở trường cha già đế quốc Mỹ George Washington, hổng phải trường ĐH Đảng (cha già dân tộc) Hồ Chí Minh à nha. Mới học ra trường (2006) “phục hổ, tàng long” chờ vài năm sau (2009) “được” bổ nhiệm Phó hiệu trưởng ĐH Kiến Trúc TP HCM. Rồi úm ba la ùm bà là thành là ủy viên trung ương (2011).

Tui nghĩ các sinh viên trẻ có khả năng, năng lực chắc còn hơn tay này nhiều. Nhưng tiếc thay là các bạn không làm sao “phấn đấu” để được lọt vào giai cấp COCC, CCCC (con ông cháu cha, con cháu các cụ). Các bạn nằm trong giới vô sản cccc (con cóc cái cò) thành ra cứ nghiến răng kêu trời và lặn lội bờ ao kiếm ăn đi thôi. Bạn nào không việc đúng nghề thì đi làm cửu vạn, công nhân vệ sinh vận dụng sức cơ bắp. Trọng trách quyền lợi thì để “trời con” BCT tự nhiên no giùm.

Thi phế anh hùng (anti-heroic)

Các dân mạng thông rành thời cuộc, tình hình thế giới hơn phó thường dân tui thì ai cũng biết. Những cuộc cách mạng bạo lực, chuyên chính giai cấp hay ý thức hệ đang gần như bất khả thi trong hoàn cảnh thế giới hiện giờ. Thời bây giờ coi như là thời phế-anh-hùng (anti-heroic). Thời một mình, một ngựa Kinh Kha đã tàn, chỉ để tán trong trà dư tửu hậu. Thời bây giờ không chờ một lãnh tụ, một thánh Gióng xuất hiện khai lộ, dẫn đường.

Giờ là thời của người cùng khổ, không ý thức hệ, không phân biệt giai cấp, chính kiến. Thời của nông dân mất đất, của công nhân lương chế đói, của ngư dân không biển chài bắt, của sinh viên không việc, của phụ nữ đi làm ôsin, của tráng niên đi làm cửu vạn, của trẻ em/cụ già lang thang bán vé số, của người rơm/người rừng lưu lạc phương trời, của thiếu nữ cô Kiều bán thân đợ nợ.

Giờ là thời số phận con giun cái kiến quằn lên đòi làm người, làm công dân với đủ nhân quyền dân quyền.

Tất cả những người đang thiếu nước, thiếu cơm, không có chủ quyền, hay đang dần dần mất nước cũng phải biết tụ tập đoàn kết đồng cảm với nhau.

Không chóng thì chầy họ cũng theo gương cóc tía nhỏ bé cùng các chị cua ôsin, anh gấu cửu vạn, đàn ong công nhân, ông cọp dân oan, cô cáo sinh viên náo động thiên đường đòi mưa, có nước làm ăn, có đường sinh sống.

Nước là nước của nhân dân, của đồng bào chứ đâu phải nước mang tên XHCN hay độc tài cộng sản. Đồng bào sống trong nước nhưng oái ăm thay nước thì đã mất vào tay nội-thực-dân. Sao đồng bào buộc đành làm người nô-lệ-mới khát nước mà lại phải phục vụ đám bạo quyền tập đoàn tội phạm bộ chính trị Đảng CSVN?

Phải đòi bằng được quyền công dân và quyền làm người và cho một xã hội chuyển đổi trở nên tử tế, lương thiện. Quyết không sống chung với “lũ”, với “đồ đểu”, với “chuyện thường ngày ở huyện”.

Sinh viên đòi quyền có công ăn việc làm dựa vào khả năng chứ không dựa vào thân thế con ông cháu cha, con cháu các cụ, hoặc phe nhóm . Công nhân đòi quyền lãng công, đình công để đòi hỏi và đạt được cải thiện điều kiện công việc và lương bổng tương xứng. Nông dân đòi quyền hiệp hội, được tín dụng, bình ổn giá cả phân, giống. Ngư dân đòi được sự bảo vệ của hải quân trong vùng lãnh hải quốc gia không bị khủng bố từ tàu “lạ”. Thương nhân đòi hỏi được tự do buôn bán hợp pháp không bị nhũng nhiễu bởi các quan thuế, quan thanh tra, quan thổ, quan quân …

Đồng loạt, đồng lòng, đồng hành sát cánh đòi lại quyền chính đáng. Nếu cóc nghe lời bàn qua, tán lại thì cóc đã nhảy về đáy giếng cạn nghiến răng ken két than trời trách phận. Nếu cóc một mình một thân thì gà trời đã mổ cho lòi óc. Cóc kết hợp với những con vật khác đem dũng khí và trí thông minh sáng tạo để lên tới thiên đình đòi mưa, có nước, đem sức sống cho vạn vật. Cóc vận dụng trí khôn dùng sở trường của từng con vật để chống đỡ lại thiên lôi (công an còn đảng còn mình, chỉ đâu đánh đó), gà trời (gà thiến gáy to từ các kèn đồng thau/Đông La), và chó (chánh án) nhà trời. Cóc kiên cường, dũng cảm đã quyết tâm cứu mình và cứu cả muôn loài.

Cha ông chúng ta đã sống nhẫn nhục bao năm và ta còn phải sống nhẫn nhục bao năm nữa?

Đã có những ngày mà con người lương tâm táng tận, con tố cha, cháu tố bà, bạn bè tố nhau. Đã có những ngày mà phẩm giá con người bị bôi nhọ, chà đạp, xoá tên và xóa dấu vết người (Phan Khôi, Lưu Quang Vũ, Nguyễn Hữu Cầu, Trần Văn Sương). Đã có những ngày mà họ trở thành người lưu đày trên chính nước họ (Trần Đức Thảo, Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Lê Trần Luật) và là “kẻ mất phép thông công” (Nguyễn Mạnh Tường, Cù Huy Hà Vũ). Đang có những ngày mà sự đểu cáng, lừa đảo trắng trợn là điều hiển nhiên cho thời kỳ “đồ đểu” khi hàng loạt tiến sĩ mác giả nắm chức vụ quyền năng quan trọng còn tiến sĩ hàng thật thì xách cặp, soạn bài cho quan “tiến sĩ giấy”.

Cha ông chúng ta đã sống nhẫn nhục bao năm và ta còn phải sống nhẫn nhục bao năm nữa?

Đang có những ngày mà chính quyền dùng phân, dùng bao cao su để bôi bẩn, bôi nhọ nhân phẩm con người. Đang có những ngày mà nhà nước dùng đầu gấu, tội phạm hành hung, gây hấn, đả thương những công dân yêu nước. Đang có những ngày mà “trung với Đảng” tội phạm để được quyền hành, bổng lộc. Đang có những ngày mà “hiếu với dân quan (đầy tớ)” đem lại ô dù bao che tội ác.[7] Những ngày dài lặng chìm trong đau khổ vẫn tiếp tục …

Cha ông chúng ta đã sống nhẫn nhục bao năm và ta còn phải sống nhẫn nhục bao năm nữa?

Có dăm người luận bàn về thời cơ và phương án. Thời cơ ở đâu? Đến khi nào thì đủ điều kiện? Chờ đợi minh quân lãnh đạo nào xuất hiện? Ai là người quyết định thời điểm cơ hội? Ai là người xác quyết điều kiện chủ quan/khách quan, cần và đủ? Chính trị gia nào phất cờ? Bình luận gia, chuyên gia nào phân tích rạch ròi lên hiệu bật đèn xanh? Phương án nào và ẩn số nào tối ưu? Chuyện lớn hay chuyện nhỏ? Chuyện thật hay chuyện giả?

Phải chăng chuyện sẽ đơn giản hơn khi mỗi chúng ta chọn lựa ứng xử và hành động tự cứu mình và cứu muôn loài như chàng cóc bé nhỏ. Có dũng khí để tranh đấu dành lại quyền lợi nhân phẩm khi sinh ra đã có. Biết hợp quần để tạo sức mạnh. Đem trí tuệ vận dụng mọi phương tiện trong cuộc đấu tranh. Ngày mai còn nước là do kết quả những gì bạn làm không ít thì nhiều hôm nay.

Có cần bảo hộ cái tuyên đoán điều gì sẽ xảy đến khi các luật gia lên tiếng đòi lại nhân phẩm và tự do cho đồng nghiệp Lê Công Định, Cù Huy Hà Vũ, Lê Trần Luật?… Khi các sinh viên và công nhân vận động đòi trả lại tự do cho những nhà đấu tranh bảo vệ giới lao động Đoàn Huy Chương, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đỗ Thị Minh Hạnh … Khi các giáo dân công giáo, phật giáo, tin lành vùng lên đòi trả lại nơi thờ phượng, chốn cầu nguyện. Khi các nông dân dân oan đòi đền bù, trả lại đất đai bị cưỡng chế. Và khi thế hệ trẻ tận dụng trí tuệ, tự tìm nhiều phương thức khác nhau để hợp quần, hiệp thông, hỗ trợ, chia vai, nương tựa lẫn nhau đấu tranh đòi lại quyền làm chủ đất nước?

Chúng ta không còn nước sống.[8]

Thế kỷ này là thế kỷ của trí tuệ trẻ vạn năng, của những người cùng khổ, cùng vươn lên đánh đổ độc tài toàn trị, dành lại đất dành lại nước.

Sức mạnh của thế kỷ ở trong chính bạn.

© 2011 Vietsoul:21

[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu – (8) Gió mưa là chuyện của trời … – (9) Vô liêm sỉ – man rợ – (10) Phế-anh-hùng – (11) Luật Lệ(nh) … – (12) Nhà em có nuôi một con két … – (13) Cái nhà là nhà của ta … – (14) Mèo – thỏ]


[6] Xem 5


Con cóc là cậu ông trời

Ngày xửa ngày xưa, con cóc vẫn sần sùi xấu xí như ngày nay. Nhưng cóc nổi tiếng giữa muôn loài là một con vật tuy bé nhỏ nhưng rất gan dạ, gan cóc tía mà lại. Vào một năm không nhớ rõ năm nào, trời làm hạn hán khủng khiếp, nắng lửa hết tháng này đến tháng khác thiêu cháy cây cối, hút cạn nước sông ngòi, đầm hồ. Muôn loài không còn một giọt nước để uống. Các con vật to lớn hùng mạnh xưa nay tác oai tác quái trong rừng đều nằm lè lưỡi mà thở để đợi chết, không ai nghĩ được kế gì để cứu mình, cứu muôn loài. Sức mạnh của chúng chỉ để bắt nạt nhau thôi chứ đâu có thể làm gì nổi ông trời. Duy có anh chàng Cóc tía bé nhỏ, xấu xí kia là có gan to. Anh tính chuyện lên thiên đình kiện Trời làm mưa cứu muôn loài.

Khởi đầu chỉ có một mình nhưng anh không nản. Ði qua một vũng đầm khô, Cóc tía gặp Cua càng. Cua hỏi Cóc đi đâu, Cóc bèn kể rõ sự tình và rủ Cua cùng đi kiện Trời. Ban đầu Cua định bàn ngang, thà chết ở đây còn hơn chứ Trời xa thế đi sao tới mà kiện với tụng, nhưng những con vật ở quanh Cua nghe Cóc nói lại tranh nhau mà bàn ngang bàn lùi, làm cho Cua nổi giận. Nói ngang bàn ngang là chuyện ngang của Cua thế mà họ lại dám tranh mất cái quyền ấy, cái quyền được phép ngang như cua cơ mà. Thế là Cua làm ngược lại, Cua tình nguyện cùng đi với Cóc.

Ði được một đoạn nữa, Cóc lại gặp Cọp đang nằm phơi bụng thở thoi thóp, Gấu đang chảy mỡ ròng ròng và khát cháy họng. Cóc rủ Gấu và Cọp đi kiện trời, Cọp còn lưỡng lự thì Gấu đã gạt đi mà nói rằng:

– Anh Cóc nói có lý, chẳng có lẽ chúng mình cứ nằm ở đây đợi chết khát cả ư? Ta theo anh Cóc thôi! Ðến ngang như anh Cua còn theo anh Cóc được thì tại sao chúng mình không theo.

Cả bọn nhập lại thành đoàn. Ði thêm một chặng nữa thì gặp đàn Ong đang khô mật và con Cáo bị lửa nướng cháy xém lông. Cả hai con vật này cũng hăng hái nhập vào đoàn loài vật đi kiện Trời do Cóc dẫn đầu.

Cóc dẫn các bạn đi mãi, đi mãi đến tận cửa thiên đình. Khi đi trên đường cả bọn đều hăng hái nhưng đến trước cửa Trời oai nghiêm, bọn Cọp, Gấu, Cáo, Ong, Cua đều sợ, duy chỉ có Cóc là gan liền dõng dạc ra lệnh:

– Bây giờ các anh phải nghe lời tôi. Kia là chum nước của Trời, anh Cua vào nấp trong ấy. Anh Cáo nấp ở phía bên trái tôi, anh Gấu nằm ở phía bên phải tôi, còn anh Cọp chịu khó nằm đằng sau tôi. Các anh có nghe lệnh của tôi thì mới thắng được Trời.

Tất cả đều nghe lệnh của Cóc. Sắp đặt xong đâu đấy Cóc mới nhảy lên mặt trống trờ đánh ba hồi trống ầm vang như sấm động.

Ngọc Hoàng đang ngủ trưa một cách lười biếng bị tiếng trống lôi đình đánh thức dậy nên bực tức, bắt Thiên lôi ra xem có chuyện gì. Thiên lôi lười biếng vội phủi bụi và mạng nhện giăng đầy trên lưỡi búa tầm sét cắm cổ chạy ra. Thiên lôi ngạc nhiên vì ở ngoài cửa thiên đình chẳng thấy có một người nào cả chỉ thấy mỗi một con Cóc xù xì xấu xí đang ngồi chễm trệ trên mặt trống của nhà Trời. Thiên lôi hết nhìn con Cóc lại nhìn lưỡi búa tầm sét khổng lồ của mình và thở dài vì cái búa to quá mà Cóc bé quá, đánh chưa chắc đã trúng được. Thiên lôi bèn vào tâu Ngọc hoàng, Ngọc hoàng nghe xong bực lắm bèn sai con gà trời bay ra mổ chết chú Cóc hỗn xược kia.

Gà trời vừa hung hăng bay ra thì Cóc đã nghiến răng ra hiệu, lập tức chàng Cáo nhảy ra cắn cổ gà tha đi mất. Cóc lại đánh trống lôi đình. Ngọc hoàng càng giận giữ sai Chó nhà trời xổ ra cắn Cáo. Chó vừa xồng xộc chạy ra thì Cóc lại nghiến răng ra hiệu. Lập tức anh Gấu lừng lững xổ ra đón đường tát cho chó một đòn trời giáng. Chó chết tươi.

Cóc lại thúc trống lôi đình đánh thức Ngọc hoàng. Ngọc hoàng bèn sai Thiên lôi ra trị tội gấu. Thiên lôi là vị thần trời có lưỡi tầm sét mỗi lần vung lên thì thành sét đánh ngang trời, thành sấm động bốn cõi. Sức mạnh của Thiên lôi không có ai bì được. Ngọc hoàng yên trí lần này cử đến ông Thiên lôi ra quân thì cái đám Cóc, Cáo ắt hẳn là tan xác. Vì thế khi ông Thiên lôi vác lưỡi tầm sét đi là Ngọc hoàng lại co chân nằm trên ngai vàng mà ngủ tiếp.

Thiên lôi vừa hùng hổ vác búa tầm sét ra đến cửa thiên đình thì Cóc đã nghiến răng ra lệnh, lập tức đàn Ong nấp trên cánh cửa bay vù ra và cứ nhè vào mũi Thiên lôi mà đốt. Nọc ong đốt đau lắm, mũi Thiên lôi rát như phải bỏng. Nhớ là ở cửa trời có một chum nước. Thiên lôi vội vàng vứt cả búa tầm sét nhảy ùm vào chum nước chạy trốn. Nào ngờ vừa nhảy ùm vào trong chum nước thì anh Cua càng nấp trong đó từ bao giờ đã chờ sẵn để giương đôi càng như đôi gọng kìm cắp chặt lấy cổ. Thiên lôi đau quá gào thét vùng vẫy vỡ cả chum nước nhà Trời. Thiên lôi tìm đường chạy trốn thì Cóc tía lại nghiến răng ra lệnh. Lập tức Cọp nấp sau Cóc tía nhảy bổ ra gầm lên một tiếng vang động xé tan xác Thiên lôi thành hai mảnh.

Ngọc hoàng thấy thế sợ quá bèn xin giảng hoà với Cóc, và xin Cóc cho nhận lại xác của Thiên lôi để cứu chữa. Cóc bằng lòng ngay. Theo lệnh nghiến răng của Cóc, Cọp và Gấu vác xác Thiên lôi về xếp lại ở giữa sân điện thiên đình. Ngọc hoàng phải ra tay làm phép tưới nước cam lồ vào cái xác đầy thương tích đó. Nhờ phép của Ngọc hoàng, Thiên lôi mới được sống lại. Ngọc hoàng nghĩ mình đường đường là một ông Trời mà lại chịu thua Cóc thì thật là điều sỉ nhục, nên tính lật lọng, sai Thiên lôi vác búa tầm sét chống lại Cóc và các bạn của Cóc. Biết thế nào Ngọc hoàng cũng tính chuyện lật lọng nên Cóc lại nghiến răng. Lập tức các bạn của Cóc dàn trận. Ong giương nọc, Cáo giương nanh, Cọp giương vuốt, Cua giương càng, Gấu giương cánh tay đầy sức mạnh… Thiên lôi vừa mới thoát chết hoảng quá lui lại không dám tiến lên, mà thụt vào nấp sau chiếc ngai vàng của Ngọc hoàng. Các tướng nhà Trời oai phong lẫm liệt thấy đến ông Thiên lôi còn sợ sệt như thế thì hoảng quá tìm kế thối lui.

Thấy tướng nhà trời của mình như vậy, Ngọc hoàng biết không thể thắng nổi Cóc và các bạn của Cóc. Ðến lúc bấy giờ Ngọc hoàng mới thực bụng giảng hoà, và hỏi Cóc lên tận thiên đình có việc gì. Cóc oai phong nhảy hẳn lên tay ngai vàng và dõng dạc thưa:

– Ðã bốn năm nay ở dưới trần gian hạn hán kéo dài, không một giọt mưa. Muôn cây khô héo, vạn vật chết khát. Cứ tưởng Ngọc hoàng bận gì hoặc là Ngọc hoàng giận gì trần gian mà ra phúc họa, ai ngờ lên đây mới biết Ngọc hoàng và các tướng nhà trời ngủ quên không nhớ đến việc làm mưa cứu muôn vật muôn loài dưới trần thế. Chúng tôi phải lên tận đây đánh thức Ngọc hoàng, xin Ngọc hoàng làm mưa ngay cho trần gian được nhờ.

Thấy Cóc nói giọng oai phong và bạn bè Cóc lại đằng đằng sát khí, Ngọc hoàng vội cuống quýt chống chế:

– Cóc với ta là chỗ thân thích, việc gì mà cậu phải mất công đến như vậy, ta sẽ sai thần mưa, thần gió xuống hạ giới làm mưa ngay bây giờ. Cậu Cóc có bằng lòng thế không nào.

Cóc gật gù thưa:

– Muôn tâu Ngọc hoàng trần gian được một trận mưa cứu khát thì còn gì bằng nữa. Anh em tôi vô cùng đội ơn Ngọc hoàng. Nhưng nếu ở hạ giới mà hễ bị hạn hán là bọn anh em chúng tôi lại lên đây kêu với Ngọc hoàng đấy.

Nghe Cóc hẹn lại lên thiên đình, Ngọc hoàng hoảng hồn rối rít lắc đầu xua tay:

– Thôi khỏi, thôi khỏi phải bận đến cậu như thế. Chỗ cậu và ta là tình thân thích, cậu chả nên bầy vẽ vất vả mệt nhọc như vậy làm gì. Cậu không phải lên thiên đình nữa, khi nào có hạn hán cậu muốn ta làm mưa, cậu chỉ cần ngồi dưới đất nghiến răng là ta nghe thấy liền.

Ðể chứng tỏ lòng thành thật không lật lọng của mình, Ngọc hoàng sai rồng đen bay xuống phun mưa, và đưa Cóc cùng các bạn về hạ giới. Cơn mưa cứu hạn làm cây cối tươi tốt, muôn loài nhảy múa chào đón anh em Cóc trở về. Từ đó hễ Cóc nghiến răng là trời lập tức đổ mưa nên đồng dao của trẻ nhỏ ngàn năm vẫn có câu hát rằng:

Con Cóc là cậu ông Trời
Ai mà đánh nó thì Trời đánh cho.

Phó thường dân (7): (Vô) Hậu

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Thế giới, Việt Nam on 2011/02/22 at 00:38

Vietsoul:21

Việt Nam là một trong những quốc gia hậu-thuộc-địa và đã có một số phận không may mắn lãnh nhận “nghĩa vụ quốc tế” làm “tiền đồn chủ nghĩa cộng sản” và con bài domino “ngăn chặn làn sóng đỏ”. Hậu quả là huynh đệ tương tàn, thằng sứt trán, đứa bể đầu. Rồi thì “giải phóng” thống nhất một nhà nhưng độc lập chủ quyền thì chẳng thấy và nào biết dân chủ, tự do. Cái chủ nghĩa (giáo) mác (lưỡi) lê đã chặt đứt đầu mầm móng dân chủ và đâm thủng lòng ước vọng tự do của toàn dân.

[tiếp theo kỳ trước: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng]

Vượt thoát

Vượt thoát (nguồn: dân làm báo)

Tết nguyên đán vừa qua, ngoài những rộn ràng ba ngày Tết thì phó thường dân tôi cũng hứng khởi theo dõi các diễn biến ở Tunisia, Ai-cập, Yemen, Algeria, Libya, Iran, và Bahrain hơn ba tuần qua. Cuối cùng thì sức mạnh của người dân đã thắng thế vượt lên trên cái chai lì của chế độ độc tài trên 30 năm cầm quyền của Mubarak. Toàn dân Ai-cập đã thực hiện giấc mơ lật đổ được một chế độ độc tài. Họ hy vọng tràn đầy với ý thức công dân và thực thi quyền đó trong một số cơ chế xã hội dân sự hiện hữu mong đất nước mình tiến đến một thể chế tự do dân chủ thực sự. Phong trào dân quyền giải (nội) thực (dân) khởi phát tại Tunisia đã bùng nổ và đang lan dần đến các quốc gia láng giềng xa gần.

Hậu-thuộc-địa (post-colonialism)

Các quốc gia nói trên hầu hết cùng chia sẻ chung một đặc thù lịch sử: hậu-thuộc-địa. Phong trào giải thực thập niên 50, 60 của thế kỷ 20 đã giúp cho người dân các nước này thoát khỏi xiềng xích nô lệ thực dân Pháp, Anh, Đức, Bỉ, Tây-ban-nha, và Hoa-kỳ. Dẫu thế, địa chính trị (geopolitics) đã đưa đẩy đa số các quốc gia này hoặc về phe Cộng sản hoặc vào phía Tư bản. Chỉ một số ít quốc gia khéo léo, lèo lái giữ vững được vị thế của mình không để bị lôi cuốn vào vòng đối lập này.

Sau khi giành được độc lập từ thực dân, các quốc gia hậu-thuộc-địa đã cùng nhau hội họp với tiên đề xây dựng đất nước để hậu thuẫn lẫn nhau. Hội nghị Á-Phi năm 1955 (Bandung Conference in Indonesia) khởi xướng phong trào các quốc gia không liên kết (Non-Aligned Movement, NAM). Phong trào này thành hình năm 1961 nhằm giúp các nước mới có độc lập kháng cự lại ảnh hưởng của hai khối quyền lực chính trị Tư bản và Cộng sản. Tuy nhiên, ý thức hệ chính trị và điều kiện xã hội của các quốc gia nằm trong phong trào không liên kết quá đa dạng và khác biệt nên không tạo được đoàn kết. Phong trào này rốt cuộc không đạt được kết quả như vạch ra trong chính sách và đề cương.[1]

Việt Nam là một trong những quốc gia hậu-thuộc-địa và đã có một số phận không may mắn lãnh nhận “nghĩa vụ quốc tế” làm “tiền đồn chủ nghĩa cộng sản” và con bài domino “ngăn chặn làn sóng đỏ”.  Hậu quả là huynh đệ tương tàn, thằng sứt trán, đứa bể đầu. Rồi thì “giải phóng” thống nhất một nhà nhưng độc lập chủ quyền thì chẳng thấy và nào biết dân chủ, tự do. Cái chủ nghĩa (giáo) mác (lưỡi) lê đã chặt đứt đầu mầm móng dân chủ và đâm thủng lòng ước vọng tự do của toàn dân.

Mầm dân chủ trong thời hậu-thuộc-địa bị chặt móng ngay lập tức khi giới trí thức lên tiếng đòi tự do ngôn luận, độc lập báo chí qua phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm. Họ bị ngược đãi, phỉ báng, trù dập, cô lập cho đến chết. Phan Khôi khi mất chỉ có một người cô và người cháu đưa tang, mộ bị mất không kiếm được. Triết gia Trần đức Thảo thì chết một mình trong căn nhà xập xệ và hài cốt để ở dưới gầm cầu thang. Nguyễn Hữu Đang lúc gần chết thì sợ không có chỗ chôn. Nhà thơ Hữu Loan phải về quê Thanh Hóa thồ đá để không phải chung đụng với phường bất nhân. Luật sư Nguyễn Mạnh Tường thì đành làm “kẻ bị mất phép thông công”[2]. Một thế hệ tinh hoa dân tộc bị vùi vào tro bùn quên lãng.

Lòng ước vọng tự do của toàn dân thì bị (đâm) thủng ruột trong cái đói và bần hàn. Đói với tem phiếu trong xã hội chủ nghĩa–với “xếp hàng cả ngày” rồi “xuống hố cả nước”. Cùng cực vì đã làm “tiền đồn XHCN” nên khi Cu-ba ngủ thì Việt Nam thức (trắng mắt). Đói với hợp tác xã “gõ kẻng” đi làm trên những hoang tưởng không tự vẽ vời của “cánh đồng năm tấn” để bị thu thóc như “Cái đêm hôm ấy… đêm gì!”.[3] Đói, đói, và đói.  Đói như thế thì làm gì có ước vọng tự do mà chỉ mơ cơm trắng[4].

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, một nhà nước “chuyên chính vô sản” búa liềm đã siết chặt gọng cùm trên cổ người dân từ khi thành lập nằm 1946 cho đến khi cả nước sắp bị chết đói cuối thập niên 80 thì “đổi mới”. Chuyển tiếp đến là cuộc tiếm quyền của tập đoàn tội phạm Bộ chính trị Đảng CSVN—một thể chế độc tài, độc tôn, tự bầu bán, tự tung, tự tác, thao túng, tham nhũng và áp đặt quyền lực của bè đảng trong mọi lãnh vực. Người dân không có một tiếng nói, không có mảy may quyền công dân nào cả. Mọi người dân trở thành tù nhân dự bị, sẳn sàng bị bỏ tù bất cứ khi nào thực hiện quyền công dân của họ.

Tập đoàn quyền lực này thay ngôi đổi vị với thực dân ngoại xâm để trở thành nội-thực-dân. Chúng vẫn tham tàn không kém mà còn áp bức dã man hơn vì chúng đã học chuyên được phương sách, thủ đoạn cả Đông lẫn Tây để áp dụng cai trị dân. Chúng dùng cùm, dùng còng, dùng hơi cay, dùng chó nghiệp vụ, dùng báo chí (chó nghiệp vụ thời thượng), dùng loa phát thanh, truyền hình, dùng cả bao cao su (thời trước thì trùm bao bố cho mò tôm), dùng thủ anh và thủ nhang (bình vôi – bái vật – bà đồng) hội văn vẻ tuyên (huấn) sớ tế sống. Chúng điều kiện hoá và nô lệ hóa nhân dân với cái “sợ” qua thủ tục hành (là) chính “đầu tiên” (tiền đâu?). Vì hằng hà sa số “chuyện thường ngày ở huyện”[5] như thế nên xã hội đã biến thái trở thành vô cảm khi ngày một ngày hai phải ra vào sống với “lũ” (người ngợm) và “sống trong sợ hãi”.  Một xã hội không biết mình tụt hậu trong khi các quốc gia khác đã chọn đường đoạn tuyệt với chế độ cộng sản.

Hậu-cộng sản (post-communism)

Đã hơn 30 năm từ khi cuộc cách mạng nhung của phong trào đoàn kết công đoàn Ba-lan đứng lên phất ngọn cờ tiên phong giải phóng đất nước. Chế độ cộng sản tại Đông Âu và cả thành trì Liên Bang Sô Viết sau đó cũng đã nối nhau sụp đổ, tan rã. Các quốc gia này bước vào thời kỳ hậu-cộng-sản xây dựng đất nước theo mô hình dân chủ tự do. Con đường này tuy không phải thẳng băng, và có gập ghềnh nhưng vẫn định hướng về một chân trời mới.

Không ít các nước hậu-thuộc-địa Á-Phi thử nghiệm với chủ nghĩa xã hội nhưng họ không ngu dại ôm lấy cái chuyên chính vô sản kiểu Mao, Lenin, Stalin, Pol Pot, Kim, và Hồ. Rồi dần dần họ cũng vất bỏ nó không thương tiếc. Chỉ còn sót lại vài tên cai thầu nô lệ mới trung thành với chủ (thuyết) để nô dịch hoá đồng bào chúng.

Như có đề cập ở trên, hội nghị Á-Phi Bandung đã đơm hoa cho Phong trào không liên kết của các nước hậu-thuộc-địa vào năm 1955. Nhưng mãi đến hơn năm mươi năm sau, khi thiên niên kỷ mới lật những trang đầu thì thế giới mới chứng kiến một phong trào giải nội-thực-dân của nhân dân Phi châu vùng dậy chống áp bức lật đổ những nhà độc tài và thể chế toàn trị.

Cũng thế mới đây, phong trào cách mạng hoa lài từ Tunisia sang Egypt lan đến Lybia và Bahrain là phong trào liên kết của những người cùng khổ. Họ liên kết với nhau trong một không gian mạng, không biên giới, không đảng phái, không ý thức hệ, và không phân biệt giai cấp.

Mục tiêu của các cuộc cách mạng nhân dân này là đòi hỏi quyền công dân, được sống trong một xã hội tự do dân chủ. Họ đã vượt qua rào cản tâm lý sợ hãi mà các chính quyền nô dịch này áp đặt trong đầu họ trên mấy chục năm. Ông Hosam Khalaf, một kỹ sư 50 tuổi nói dân Ai-cập đã nhận được thông điệp từ Tunisia là “Đừng tự thiêu mà hãy thiêu đốt nỗi lo sợ trong lòng bạn. Đó là những gì đã xảy ra ở đây. Đây là một xã hội từng sống trong sợ hãi, và nỗi sợ hãi đã bị thiêu đốt ra tro tàn.[6]

Một thiếu nữ khác nói “Đây là cuộc cách mạng cho ông của tôi. Họ đã nhẫn nhục bao nhiêu năm dưới chế độ độc tài này.” Anh Ghonim phát biểu “… Chúng tôi không phải là người phản quốc, chúng tôi yêu đất nước Ai-cập này. …Đây không phải là lúc chia chác nữa.  Tôi nghĩ là các nhà chính khách biết tôi nói điều gì…”. Anh còn nói thêm, “Ngay sau khi tôi ra khỏi tù, tôi đã viết một mẩu tin rằng chúng tôi sẽ thắng, bởi vì chúng tôi không hiểu chính trị, bởi vì chúng tôi không hiểu những trò chơi bẩn thỉu của họ. Chúng tôi sẽ dành chiến thắng bởi vì những giọt nước mắt của chúng tôi xuất phát từ trái tim. Chúng tôi sẽ dành chiến thắng bởi vì chúng tôi có một giấc mơ. Chúng tôi sẽ dành chiến thắng bởi vì chúng tôi tin rằng nếu có ai đó ngăn chặn giấc mơ của chúng tôi, chúng tôi sẵn sàng chết để bảo vệ nó”.[7]

Ngọn lửa cách mạng nhân dân (kiểu 2.0) đang lan truyền đến các quốc gia láng giềng xa gần từ Phi đến Á. Những “con dân” Tunisia và Ai-cập đang giành lấy lại quyền công dân của họ để được sống trong xã hội dân chủ, tự do.

Từ cuộc cách mạng đó, họ đã dạy cho tất cả chúng ta 4 bài học sau: (1) Ý chí của nhân dân. Trước hết và trên cùng đó là: nhà nước và chính phủ hiện hữu từ nhân dân mà ra chứ không phải ngược lại (như ngụy biện loại đảng trên cả tổ quốc và đảng là tổ quốc); (2) Chìa khóa để chiến thắng luôn luôn nằm trong tay của người dân – không phải lệ thuộc vào một ngoại bang (Hoa-kỳ hay bất cứ thế lực nào); (3) Tự do không phải dễ định nghĩa (và thường hay bị bóp méo như “tự do đi theo lề phải”) nhưng bạn biết ngay khi bạn có tự do hay không; (4) Tiếng nói vang dội nhất là tiếng của luân lý. Mọi phương tiện không thể biện minh cho cứu cánh – thực ra phương tiện giúp xác định cái cứu cánh và kết cuộc. Thử hỏi điều gì sẽ xảy ra nếu người Ai Cập, thay vì tuân thủ kỷ luật biểu tình phản kháng trong ôn hòa, lại dùng bạo lực khủng bố chống trả các quân lính và kẻ ủng hộ nhà độc tài để đạt được một kết thúc chính trị?[8]

Việt Nam trong thời “kinh tế thị trường” “định hướng xã hội chủ nghĩa” có khác gì chăng?

Mầm mống dân chủ vừa mới nhú lên và lòng khát vọng tự do mong được giọt hồi sinh thì đã bị yểu mệnh khai tử với đôi còng số 8 trong cái gọi là “tuyên truyền chống nhà nước” (điều 88, Bộ luật Hình sự) và “âm mưu lật đổ chế độ” (điều 79, BLHS). Một số trí thức tranh đấu cho dân chủ tự do lần lượt bị bắt giữ giam cầm trong tù đày không biết ngày về (hết hạn tù này bị treo hạn khác).

Trong nhà tù lớn, những đói khát về vật chất qua bao năm “tem phiếu” thời bao cấp, hợp tác xã, ngăn sông cấm chợ nay bùng nổ chuyển sang thèm muốn những chú dế, con xế (siêu dế, xế hộp, siêu xế, xế khủng) để lắc để quậy. Song song đó là một nền giáo dục xơ cứng trong giáo điều “hồng” chuyên chính vô sản, vô gia đình để phục vụ đảng. Những lý tưởng phục vụ nhân sinh, dân sinh đã gần như bị tuyệt giống, lạc giọng trong xã hội vật chất xô bồ của thời kỳ “đồ đểu”. Cũng cùng lúc, bè nhóm tập đoàn cầm quyền đảng CSVN như con ma đói không ngừng lam nham, lũng lạm ngân quỹ, khai thác cạn kiệt tài nguyên, hủy diệt môi trường, vơ vét cho riêng chúng.

Có hy vọng gì cho tương lai đất nước Việt Nam?

Phó thường dân tôi có quen một người anh xứ Quảng luôn khắc khoải về tương lai vận mệnh của đất nước. Anh rất bi quan về đất nước hiện nay nhưng ngược lại rất lạc quan tin tưởng vào thế hệ trẻ. Anh có một niềm tin tuyệt đối vào thế hệ trẻ vì anh cho rằng không ai khác hơn là thế hệ này nắm chìa khoá tương lai vận mệnh đất nước, được thịnh hay suy.

Dân tộc Việt Nam khó thoát ra được khổ nạn chế độ độc tài nếu thế hệ trẻ không dấn thân. Những người đã từng tạo ra lịch sử trước đây thì đa số cũng đã ra thiên cổ hoặc đang đứng bên vỉa hè lịch sử. Thế hệ kế tiếp (Nguyễn Tiến Trung, Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, AnhbaSG Phan Thanh Hải, LS Lê Trần Luật, LS Lê Thị Công Nhân, TS Cù Huy Hà Vũ, KS Đỗ Nam Hải, Nguyễn Ngọc Quang, Trần Khải Thanh Thủy, Trần Đức Thạch, Phạm Văn Trội, Vũ Văn Hùng, Đoàn Huy Chương, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đỗ Thị Minh Hạnh, Lê Trí Tuệ, Vũ Quang Thuận, người buôn gió Bùi Thanh Hiếu, mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, … kể sao cho hết) đã/đang lót đường, làm bản lề, và đòn bẫy cho thế hệ tiếp nữa nhảy vượt qua rào cản trì trệ, trơ lì, phản động của độc tài cộng sản.

Giới trẻ Việt Nam chắc chắn sẽ sánh vai ngang hàng với thế hệ trẻ Tunisia và Ai-cập đầy năng động, đoàn kết và phát kiến những chương trình và phương thức hành động bất bạo động tuyệt vời kêu gọi được quần chúng tham gia “vượt qua nỗi sợ” lật đổ chế độ độc tài áp bức.

Vì mệ Việt Nam đã quá chán ngán, cạn lời tán thán cộng sản là “cái quân vô hậu!”. Mẹ Việt Nam đang mong chờ tuổi trẻ khởi động toàn dân cùng đứng dậy đem cái hậu của tự do, dân chủ, phú cường về cho đất nước Việt Nam hậu-thuộc-địa, hậu-cộng sản.

© 2011 Vietsoul:21

[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi (2) Nôị-thực-dân (3) Sợ (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông (5) Con dân – con cá – cò mồi (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng (7) (Vô) Hậu (8) Gió mưa là chuyện của trời … (9) Vô liêm sỉ – man rợ – (10) Phế-anh-hùng (11) Luật Lệ(nh) … (12) Nhà em có nuôi một con két … (13) Cái nhà là nhà của ta … (14) Mèo – thỏ (15) phố vẫy (16) Mít tờ Đàm và Bác Hồ (17) Nín thở qua cầu]


CHÚ THÍCH:

[1] Non-aligned Movement, wikipedia

[2] Kẻ bị mất phép thông công, Nguyễn Mạnh Tường

[3] Cơm trắng, Phạm Lưu Vũ

[4]Cái đêm hôm ấy… đêm gì?”, Phùng Gia Lộc

[6] Speaker’s corner on the Nile, Thomas L. Friedman. Bản tiếng Việt “Dòng sông Nile

Khối 8406: Tuyên bố và Kêu gọi nhân các cuộc cách mạng dân chủ tại Bắc Phi và Trung Đông

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Việt Nam on 2011/02/21 at 16:47

 

Kính thưa toàn thể Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước!

Cuộc cách mạng nhân quyền dân chủ của thế kỷ 21, khởi đầu từ vụ tự thiêu của ngọn đuốc sống Mohamed Bouazizi ngày 17-12-2010, đã kết thúc với thành công thứ nhất tại Tunisia ngày 14-01-2011, với thành công thứ hai tại Ai Cập ngày 11-02-2011, và đang tiếp diễn mạnh mẽ tại nhiều nước Bắc Phi và Trung Đông như Bahrain, Iran, Jordan, Lybia, Yemen….

I- Trước những biến động long trời lở đất này, Khối 8406 hân hoan chúc mừng nhân dân Tunisia và Ai Cập cũng như nhiệt liệt ủng hộ nhân dân các nước Bahrain, Iran, Jordan, Lybia, Yemen… Đồng thời chúng tôi cũng nhận định như sau:

1- Các cuộc cách mạng đã và đang lật đổ nhiều chế độ tại Bắc Phi và Trung Đông thực sự đáp ứng khát vọng công bằng xã hội và tự do dân chủ của người dân vốn đã từ lâu gánh chịu “triều đại” của các lãnh đạo bảo thủ già nua, nhũng nhiễu độc tài và tham quyền cố vị.

2- Các cuộc cách mạng dân chủ nhân quyền ấy là chỉ dấu rõ ràng cho thấy: Quyền lực của nhân dân, sức mạnh của giới trẻ, hiệu quả của phương pháp đấu tranh bất bạo động cùng một đường lối cách mạng đúng đắn, tích cực và triệt để… đã là những nhân tố chính dẫn tới thành công, quật ngã được bất cứ chế độ chuyên chế độc tài nào, dù nó có ngoan cố và tàn bạo đến đâu chăng nữa.

3- Các cuộc cách mạng ấy vừa thành công là nhờ tinh thần trách nhiệm cao với đất nước và ý thức bảo vệ nhân dân cao của quân đội, quyết không biến mình thành công cụ cho chế độ hay lãnh đạo độc tài, trái lại đã tích cực hỗ trợ khát vọng chính đáng của toàn dân và quyết tâm giữ gìn trật tự ổn định đích thực cho xã hội.

4- Các cuộc cách mạng ấy vừa thắng lợi cũng là nhờ sự ủng hộ của các quốc gia chuộng tự do, sự hỗ trợ của công luận yêu dân chủ, sự nhanh nhạy của các cơ quan truyền thông quốc tế, nhất là nhờ sự hữu hiệu của các kỹ thuật thông tin hiện đại, vốn đã được giới trẻ sử dụng cách thông minh, can đảm và nhiệt tình.

5- Tiếp nối tinh thần cuộc Cách mạng dân chủ tại Tây Âu năm 1789, cuộc Cách mạng nhân quyền tại Đông Âu năm 1989, các cuộc cách mạng trong thế giới Hồi giáo tại Bắc Phi và Trung Đông hiện giờ đã khẳng định lần nữa rằng: một trong những đặc điểm lớn nhất của thời đại ngày nay là sự sụp đổ của tất cả các chế độ chuyên chế độc tài dưới mọi hình thức trên phạm vi toàn thế giới. Thay vào đó là những chế độ dân chủ, đa nguyên, đa đảng và pháp trị. Đây là những giá trị phổ quát và đích thực, không phân biệt truyền thống văn hóa, tôn giáo, địa lý, chủng tộc, mà loài người tiến bộ đã phải bỏ ra rất nhiều thời gian, công sức, kể cả xương máu mới có được.

II- Nhân cơ hội này, trong hoàn cảnh đất nước Việt Nam còn dưới ách độc tài toàn trị Cộng sản, với vô vàn bất công xã hội, thảm trạng dân sinh, tệ nạn tham nhũng, cường quyền đàn áp gấp nhiều lần các quốc gia Trung Đông lẫn Bắc Phi nói trên, và nhất là nguy cơ mất văn hóa, mất đất nước vào tay giặc Tàu, Khối 8406 chúng tôi kêu gọi:

1- Toàn thể Đồng bào Việt Nam trong nước hãy rũ bỏ thái độ dửng dưng, vượt qua tâm lý sợ hãi, dũng cảm đứng lên làm cuộc Cách mạng thực sự của Dân tộc, nhằm quật ngã chế độ độc tài cộng sản đã gây ra vô vàn tội ác và lừa mỵ nhân dân suốt bao năm trường! Đồng bào hãy mạnh dạn bày tỏ thái độ của mình bằng nhiều cách, nhất là bằng các cuộc biểu tình khắp cả nước trong ôn hòa, trật tự nhưng quyết liệt và triệt để.

2- Toàn thể Giới trẻ Việt Nam hãy rũ bỏ ý thức an phận, mặc cảm tự ti để đứng lên làm lịch sử, theo tấm gương chói lọi của bao anh hùng trẻ tuổi của Dân tộc từ Hai Bà Trưng đến Trần Quốc Toản, Nguyễn Thái Học… Các Bạn hãy vận dụng chí khí can đảm, trí tuệ thông minh, sự thành thạo các kỹ thuật truyền thông hiện đại để phá vỡ bức tường bưng bít và nhiễu loạn của chế độ độc tài, phổ biến tin tức tài liệu, truyền đơn biểu ngữ hầu lôi kéo toàn dân nhập cuộc tranh đấu.

3- Tầng lớp trí thức tôn giáo và dân sự hãy xứng với tinh thần kẻ sĩ, ý thức “quốc gia hưng vong thất phu hữu trách”, đứng lên lãnh đạo các tập thể quần chúng trong phạm vi và quyền hạn của mình (như tại các quốc gia Đông Âu những năm 1989-1991), để các cuộc biểu tình được xảy ra trong ôn hòa, trật tự, kỷ luật chặt chẽ, nhằm đạt được thắng lợi đích thực cuối cùng.

4- Lực lượng công an và quân đội hãy trở về với nghĩa vụ giúp đỡ và bảo vệ nhân dân, vốn đã sinh ra và nuôi nấng mình. Hãy ý thức rằng “an ninh xã hội và ổn định đất nước không phát xuất từ sự đàn áp của dùi cui và họng súng theo lệnh lãnh đạo độc tài, nhưng từ sự đồng thuận và góp sức của mọi công dân trong tự do”, để đứng về phía nhân dân khi nhân dân biểu tình bày tỏ những khát vọng chính đáng về nhân quyền của họ.

5- Các đảng viên Cộng sản nói chung, Bộ Chính trị lẫn Ban Chấp hành trung ương Cộng sản nói riêng hãy sớm trả lại cho nhân dân những gì thuộc về nhân dân: những tài sản tinh thần (các nhân quyền và dân quyền) cũng như các tài sản vật chất (tài nguyên quốc gia, đất đai tư hữu…) nếu Quý vị còn muốn sự tha thứ của toàn dân, còn muốn hiện diện giữa lòng dân tộc, còn muốn lưu tiếng thơm trong lịch sử.

6- Đồng bào Việt Nam hải ngoại, các Chính phủ dân chủ toàn cầu, các Tổ chức nhân quyền thế giới, các Cơ quan truyền thông quốc tế, công luận yêu tự do khắp năm châu, xin nhiệt tình hỗ trợ cuộc đấu tranh chính nghĩa của Dân tộc Việt Nam chống chế độ độc tài Cộng sản cho đến ngày toàn thắng, để Đất nước và Nhân dân chúng tôi thực sự góp phần vào hòa bình và thịnh vượng, văn minh và tiến bộ chung của toàn thể nhân loại.

Làm tại Việt Nam ngày 21 tháng 02 năm 2011

Ban Đại diện lâm thời Khối 8406:

1. Kỹ sư Đỗ Nam Hải – 441 Nguyễn Kiệm, P. 9, Q. Phú Nhuận, Sài Gòn, Việt Nam.

2. Giáo sư Nguyễn Chính Kết, đang vận động dân chủ tại hải ngoại.

3. Linh mục Phan Văn Lợi – 16/46 Trần Phú, Thành phố Huế, Việt Nam.

4. Linh mục Nguyễn Văn Lý, đang bị quản thúc tại 69 Phan Đình Phùng Tp Huế. (Nhà Chung Tổng giáo phận Huế).

Trong sự hiệp thông với cựu quân nhân Trần Anh Kim, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa và nhiều tù nhân chính trị, tôn giáo khác đang ở trong lao tù cộng sản.

Kính gởi đến toàn thể Đồng bào Việt Nam và Thân hữu quốc tế. Xin vui lòng phổ biến rộng rãi và dịch ra ngoại ngữ để rộng đường dư luận. Chúng tôi chân thành cảm ơn.

Khối 8406

Nguồn danlambao