vietsoul21

Posts Tagged ‘nội thực dân’

“Tổ quốc trên hết”

In Cộng Đồng, Chính trị (Politics), Tạp văn on 2015/04/16 at 23:42

Những ngày tháng Tư cận kề ngày Quốc Hận, Quốc Nạn này sống ở trên đất người làm tôi nhớ về một đất nước chưa từng ngày ấy.

Một đất nước chưa từng vì chia đôi và nửa kia gây chinh chiến tóc tang. Một đất nước chưa từng vì tinh hoa chưa bừng phát đã thắt trắng khăn tang. Một đất nước chưa từng bởi siêu cường phản bội. Một đất nước chưa từng vì nhuộm đỏ độc tài.

Cũng đã khá lâu tôi rồi không còn muốn về quê hương đất tổ dù trong lòng luôn luôn thương nhớ. Nghịch lý nào gieo rắc trong tôi? Số phận nào giáng họa cho tôi?

Mảnh đất khổ chết yểu. Nụ hoa tự do chưa nở hoa kết trái thì giang sơn nhuộm đỏ một màu. Thời kỳ độc tài, thời kỳ nô lệ và bắt đầu kỷ nguyên Bắc thuộc lần thứ Năm?

Mọi sự khởi đầu từ ngày tham gia cách mạng vô sản của cộng sản quốc tế đến nhận nhiệm vụ tiền đồn xã hội chủ nghĩa “Đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô – Trung Quốc”. Để rồi kết cuộc “đổi đời” đầy tớ lên ngôi.

Chế độ nội-thực-dân nô dịch đỏ[1] áp đặt trên toàn cõi Việt Nam, không còn hai miền hai chế độ. Những thái thú lộ dạng nguyên hình thế chấp bán đất, bán biển, bán người, trao thân làm nô lệ.

Ở thời kỳ Bắc thuộc lần thứ Tư “Những người hợp tác với quân Minh được đưa sang Trung Quốc để học hành một thời gian rồi đưa về phục vụ trong bộ máy cai trị tại Giao Chỉ. Điều đó nằm trong chính sách dùng người Việt trị người Việt của nhà Minh.”

Ở kỷ nguyên Bắc thuộc thế kỷ 21 này thì ngoài việc thành viên ban chấp hành trung ương đảng đi chầu[2] thì cán bộ đảng, sĩ quan quân đội, công an, thành đoàn[3] được đưa sang Tàu học hành để trở về cai trị nước Việt.

Cai trị bằng chính sách hộ khẩu rập khuôn của Trung Quốc để “quản lý” người dân. Đó là sợi dây thòng lọng thắt cổ người dân. Nó vi phạm mọi quyền con người và quyền công dân và biến người dân thành người nô lệ mới[4].

Chế độ sở hữu toàn dân đểu cáng lên ngôi, so sánh nào thua thời Bắc thuộc nhà Minh bên Tàu “Giáo mác đầy đường đâu cũng thấy tham quan cường bạo. Tài nguyên cả nước thành một đống tro tàn.[5] Vũng Áng đã là vũng bán. Bô-xít Tây Nguyên trái bom tấn bùn đỏ[6] lấp chìm cơ nghiệp mưu sinh của nông dân[7] và ô nhiễm môi trường sống của người dân.

“Tổ Quốc Trên Hết” luôn là câu nằm lòng trên chót lưỡi đầu môi của miệng quan trôn trẻ đảng csvn và dư luận viên.

“Tổ Quốc Trên Hết” là khẩu hiệu rỗng tuếch để lấp liếm cho mọi chính sách độc tài, áp bức, nội-thực-dân nô dịch đỏ. “Tổ Quốc Trên Hết” bị đảng bắt cóc làm con tin buộc người dân phải hứng chịu mọi thiệt hại[8], lầm than, và tang tóc bởi chủ trương, chính sách, và luật lệ(nh) lợi đảng, hại dân.

“Tổ Quốc Trên Hết” là cả vú lấp miệng những bất đồng chính kiến đòi hỏi dân chủ tự do.

“Tổ Quốc Trên Hết” thì cớ gì “Còn đảng còn mình”, “Trung với đảng, hiếu với dân”, “Mừng đảng mừng xuân”, “Đảng csvn quang vinh muôn năm”.

Sau 30-4-75 thì nhiều người miền Nam như tôi đã trực giác rờn rợn cái đổi đời của một đất nước “thống nhất” thâu về một cõi. Tổ quốc của tôi đã một cõi (âm) đi về.

Bốn năm trời (1975-1979) đời tôi có đảng (đì) thì hết họp nhóm, họp tổ, học chính trị, học nghị quyết và thấm nhuyền đạo đức cách mạng để trở thành “con người mới”. Đảng thiết kế và rèn luyện con người mới bằng cách cấy bộ óc con lừa. Ban tuyên huấn, tuyên truyền và loa phường ra rả.

Để sống sót tôi học đòi con vẹt.

Tôi học thuộc và lập lại nguyên văn tất cả những lời tuyên giáo, tuyên truyền trả bài tất tần tật như một con vẹt. Họ (muốn) nắm[9] cái đầu nhưng không nắn được bộ não, tư tưởng.

Tôi không biến thành con lừa. Dù họ dạy “đảng đã cho ta sáng mắt sáng lòng”, họ bảo “từ ấy trong tôi bừng nắng hạ”, và ra rả “yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội”.

Tôi yêu tự do, không chấp nhận thân phận con lừa nên tìm đường vượt thoát.

Hơn 35 năm sống ở quê người tôi chưa hề phải nghe “Tổ Quốc Trên Hết” ở cái xứ sở này. Chính quyền đương nhiệm và các ứng cử viên dù đảng phái nào cũng chỉ quảng cáo “vì dân” để kiếm phiếu bầu cho họ. Họ dẫn chứng tạo công ăn việc làm, giảm giá cả hàng hóa, nhu yếu phẩm, tiền lời thấp để tăng khả năng tiêu thụ, nâng cao dân sinh và coi “người dân trên hết”. Họ đưa ra chính sách giảm thuế, điều tiết kinh tế, giữ lạm phát thấp để khoan sức dân[10].

Ở xứ tư bản “bóc lột” này thì họ tìm cách cho công nhân có năng suất cao, tạo lợi nhuận thặng dư để kiếm lời. Họ để cho công nhân có tiền xài, mua máy móc, mua xe, mua nhà kích thích tăng trưởng kinh tế vì dân giàu thì nước mạnh. Họ tạo điều kiện sở hữu tư nhân để tích lũy tài sản và đầu tư phát triển.

Ở xứ sở “Tổ Quốc Trên Hết” của xã hội chủ nghĩa Việt Nam siêu việt thì sở hữu toàn dân nên tất cả thâu về một túi. Túi của trung ương đảng csvn và nhà nước (ăn cướp). Họ dùng sở hữu toàn dân để thâu tóm và tẩu tán cái chung để tích lũy tài sản cho riêng tư và nhóm lợi ích. Quan chức lớn nhỏ vùng miền vơ vét. Hết thế chấp đất đai rồi bán rừng, bán đất, bán biển, bán cảng. Hết chặt cây trên rừng thì chặt cây thành phố[11]. Hết đào xới tài nguyên vùng sâu vùng xa thì cưỡng chế[12] ngay thành phố cho gần. Cướp đất cướp nhà “Độc lập tự do nằm co vệ đường”[13] dân lang thang thành người vô sản dân oan[14].

“Tổ Quốc Trên Hết” ắt phải nằm trong Nghị quyết 36 đầy “tình tự dân tộc” cho “khúc ruột ngàn dặm”. Khúc ruột tượng của người Việt hải ngoại trên toàn thế giới mà nhà nước csvn hàng năm đã rút về xấp xỉ 12 tỷ đô la gần bằng 1/10 tổng sản phẩm quốc nội. Thế cho nên “Bài học đầu cho con” của nhà thơ Đỗ Trung Quân được phổ qua nhạc phẩm “Quê Hương” và “cải biến” thêm “nếu không nhớ, sẽ không lớn nổi thành người[15]. Không nhớ, không (đem tiền) về thì sẽ không lớn nổi thành người!?

Tôi không còn muốn về quê hương đất tổ dù trong lòng luôn luôn thương nhớ. Đó không phải là một nghịch lý. Nào còn một tổ quốc cho người dân Việt trong kỷ nguyên Bắc thuộc mới.

Tổ quốc lê lết. Tổ quốc bê bết. Tổ quốc tế thần.

Tổ quốc trên hết?

© 2015 Vietsoul:21

[1] nội-thực-dânnô dịch đỏ, Vietsoul:21

[2] Vừa đến Bắc Kinh, Nguyễn Phú Trọng đã vội vàng ký kết 7 thỏa ước với Tập Cận Bình, blog Dân Làm Báo. Từ không nhân nhượng đến hợp tác bình đẳng, blog Người Buôn Gió. Tuyên bố chung hai nước Việt Nam và Trung Quốc, VNExpress.

[3] Thanh niên là sứ giả thúc đẩy tình hữu nghị Việt – Trung, doanthanhnien.vn

[4] Hộ Khẩu: Một thứ khôi hài, vô lý và ngu ngốc, blog Triết Học Đường Phố

[5] “Giáo mác đầy đường đâu cũng thấy quân Minh cường bạo. Sách vở cả nước thành một đống tro tàn.”, Ngô Sĩ Liên

[6] Thủ tướng: ‘Lo ngại về bùn đỏ bô xít đã được giải tỏa’, VNExpress

[7] Lâm Đồng: Nông dân “khóc ròng” vì bùn đỏ đổ về, VTV Cần Thơ

[8] 

Nhân dân Bình Thuận dùng bom xăng “giao lưu” với cảnh sát cơ động tối 15/4/2015

[9] “Nắm, nắm cái con cặc”, Trần Dần

[10] “Khoan thư sức dân để làm kế bền gốc, sâu rễ, đó là thượng sách giữ nước.”, Trần Hưng Đạo

[11] Hà Nội không vội… mà sao chặt cây thì nhanh thế? –  Tiếp tục biểu tình chống chặt phá cây xanh tại Hà Nội, blog Dân Làm Báo

[12] CA Hà Nội cướp đất, đàn áp khốc liệt nông dân Dương NộiCA cướp đất, đánh người tàn bạo ở Dương Nội 25/04/2014

[13] “Người Việt gốc me”, RFA

[14] Dân oan Long An nổ bình hàn gió đá, tạt axit làm bị thương lực lượng cưỡng chế thu hồi đất, Dân Luận.
Long An: Dân oan liều chết ném bom xăng, tạt axit chống trả CA cướp đất, Dân Làm Báo

[15] Nhà thơ Đỗ Trung Quân: Câu cuối của bài Quê Hương không có trong nguyên bản, RFA

Advertisements

Phó Thường Dân (17) Nín thở qua cầu

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn on 2014/04/06 at 08:37

Mấy chục năm về trước, lúc còn là học sinh phó thường dân tui hay đạp xe qua eo biển ở Quy Nhơn đến trường trung học La San Bình Lợi (sau chuyển cho nhà dòng đổi tên thành trường Vi Nhân). Cái eo biển này còn được gọi là Eo Nín Thở không biết là vì eo vòng rất gắt hay là sát phi trường cuối phi đạo nên máy bay đáp lên, đáp xuống cứ như là ngay ở trên đầu.

Có người nói cái hỗn danh đó là vì khi đi ngang qua đoạn eo biển này bị ngửi mùi rác rưới do người vô trách nhiệm đổ bừa hoặc phóng uế bậy bạ nên phải nín thở. Riêng đám học trò nhứt quỉ, nhì ma này thì cho nó là Eo Nín Thở vì bao thanh niên, thiếu nữ tối tối hẹn nhau đến eo biển này ôm eo xiết chặt, xà nẹo đến nín thở luôn.

Lai Chau’s bridge collapse kills eight, injures over 30 people (Vietnamnet.vn)

Rồi, phó thường dân tui lại lan man, tào lao trớt quớt nữa rồi.

Số là mấy tuần nay phây búc rộ lên chuyện mấy em học sinh và cả cô giáo phải chui vào bao ni lông kín mít, nín thở vượt suối đến trường. Chuyện đó tưởng chừng chỉ rầm rộ lòng vòng lẩn quẩn trong cái xứ Việt Nam nhưng cắc cớ ở cái thời đại inh tờ nét này nó nhạy/nhanh quá nên tin tức vượt đại dương qua hơn nửa vòng trái đất đến cả Hoa-kỳ và Âu-châu trong tíc tắc. Mấy thằng bạn sở làm mắc dịch cười cười, khinh khỉnh cũng đưa cho phó thường dân tui coi và hỏi là mày có biết cái tin này không (Vietnam’s Bridges Are So Bad, Kids Have to Float in Plastic Bags to Get to School). Tui cười hề hề, giả lả nói cái này là độc nhất vô nhị, đương nhiên chỉ có ở Việt Nam (that’s right, only in Vietnam).

Phó thường dân tui mới bèn gúc gồ thử thì chèn đét ơi “nín thở qua cầu” nó hiện lên rầm rầm làm tui phải nín thở bởi đọc hoài hổng hết. Xưa nay tui chỉ nghĩ “nín thở qua cầu” theo nghĩa bóng chứ ai dè cái “hiện thực” (xã hội chủ nghĩa) này làm nó thịnh hành quá hổng biết nữa.

Nào là “nín thở qua cầu miền Trung”, “nín thở qua cầu trên quốc lộ 57”, “nín thở qua cầu Trà Niền”, “nín thở qua cầu cực nguy hiểm ở Nghệ An”, “nín thở qua cầu Ải”, nín thở qua “cầu ‘tử thần’ ở Hà Nội”, “cầu ‘tử thần’ ở Đô Lương”, “cầu ‘tử thần’ treo khắp nơi ở Thái Nguyên”, “Cầu Rồng Đà Nẵng phải CHÍCH xilanh”, “chuyện những chiếc cầu chưa gãy[1]  v.v…

Phó thường dân tui được biết theo kiến thức y khoa rằng thì là những ai bị thiếu ôxi quá lâu thì sẽ bị liệt não. Tui thầm nghĩ chắc nếu phải nín thở qua cầu quá lâu thì dần dà gì cũng bị bại não. Mà chắc là dzậy vì cứ nhìn những thần dân thiên đường cộng sản Bắc Triều Tiên sắp hàng khóc lóc hơn cha chết cho Ỉn[2] thì không bại não thì còn là gì?[3]

Tổng lú nhà ta đã nói con đường tiến đến XHCN còn xa nên Việt Nam chắc chưa đến cỡ đó. Nhưng nào thiếu vô số những triệu chứng tâm thần bại não thể hiện hàng ngày, nhất là trong giới nghị gật, văn nô thường xuyên đã và đang phải nín thở qua cầu.

Phải khôn hơn mọi người một tí để lén thở qua cầu mới dám tự hào “Tôi khá tự do (ở đây) ở Việt Nam. Với tôi thì (tôi biết cách), tôi hơi khôn (hơn một tí) hơn mọi người một tí để tôi biết cách làm sao cho mình có được sự tự do của mình nó trọn vẹn nhất.[4]

Quan bại não vì “nín thở qua cầu” kiếm ghế nên mới phang “Cầu sập vì người Mông đi rất nhanh … Chưa thể khẳng định do làm ẩu, hoặc thi công không đúng …[5], bao che đỡ đòn cho cánh hẩu thi công rút ruột, chắp vá để lại quả xây cất biệt thự, tư gia cho “đồng chí” phe ta, cá mè một duộc vì dù gì thì “Trưởng BQL dự án cầu treo Chu Va 6 là con rể Bí thư Tỉnh ủy.”

Chỉ tội nghiệp người dân không khôn ngoan nín thở qua cầu lần chót sau khi đã chết để bị chết chùm cả lũ “sinh mạng bọt bèo”[6]. Đám tang đưa người tắt thở qua cầu, nặng gánh nên tang gia, tang quyến, thân nhân phải thở một chút thì sập (cầu treo bản Chu Va 6 ở Lai Châu).

Chuyện “nín thở qua cầu” thiệt ra đã có từ thời nảo, thời nao chứ có mới mẻ gì mà chộn rộn, có gì mà phải lăng xăng.

Ngay từ lúc búa liềm cướp chính quyền thì nông dân đã được hợp tác xã hóa, nghe kẻng ra đồng im re “nín thở qua cầu” từ “cái đêm hôm ấy … đêm gì?[7], giới văn nghệ sĩ thì “nín thở qua cầu” theo tiếng phèng la (ban tuyên huấn) lên án cái nhóm nhân văn giai phẩm, giới thương gia thì “nín thở qua cầu” “tự nguyện hiến tặng” tài sản, của cải trong cải cách thương nghiệp. Chính quyền cách mạng ta chí ư là tình nghĩa nên cho một “phát” ân huệ[8], tắt thở, xong đời (chuyện về Bà Cát Hanh Long) để ân nhân không phải lay lắt suốt đời “nín thở qua cầu” làm kẻ bị mất phép thông công[9].

Tưởng chỉ có dân mới phải “nín thở qua cầu” để có thể sống còn trong thiên đường cộng sản. Còn cán bộ đảng và nhà nước thì sao?

Hóa ra cốt cán cũng chia sẻ nỗi trần ai này. Nhưng mà là để giành ăn. Họ cũng trầy vi, tróc vẩy nín thở qua cầu khi phân chia bổng lộc giữ/giành ghế “Giai đoạn trước thềm đại hội này là thời kỳ ‘nín thở qua cầu’. Nghĩa là nói gì cũng phải giữ, phải rào trước, đón sau, có khi có những đề xuất mới hay cả những việc chưa bằng lòng cũng phải nén xuống. Lá phiếu sắp tới mới là điều quan tâm.

Nhưng chuyện “nín thở qua cầu” đó có lẽ chỉ cho đám tép riu lẻ tẻ phải phấn đấu chứ các thái tử đảng, con ông cháu cha, con cháu các cụ thì đã cài, cắm thì cóc cần đụng tới sợi lông chân.

Ông Tề thiên của đảng đã rứt sợi lông phù phép thở (thổi) một cái là cô hồn các đảng con cháu ai nằm vào chức vị đó. Thổi một cái thì “Con trai thủ tưởng Nguyễn Tấn Dũng được đề bạt làm Phó bí thư tỉnh ủy Kiên Giang[10], phù một cái thì “Con trai Bí thư Lê Thanh Hải lên chức[11], phép một bài thì “chuẩn bị vai trò lãnh đạo cho thế hệ thái tử đảng[12] lên ngôi.

Phó thường dân tui quen quét lá đa nên hổng cần cà ràm làm chi. Dzậy mà phải chịu nín thở qua cầu hoài thì có ngày trở nên tửng tửng rồi gái nó chê nên hổng hạp với nó.

Sau cái ngày 30-4-75, phó thường dân tui nín thở qua cầu được vài năm ngáp ngáp thấy hổng đặng nên bỏ của chạy lấy người. Sang đến nước dân chủ tiến bộ được thở bầu không khí tự do nó thiệt là khỏere. Hổng phải kiểu “khỏe re như con bò kéo xe[13] mà người tù nhân lương tâm Nguyễn Hữu Cầu mơ ước hoài. Chẳng phải nhìn trên, ngó dưới, dòm trái, liếc phải mỗi một khi nói, khi làm bất cứ chuyện chi.

Ai đời phó thường dân tui đang sống yên lành lại có thằng cha tới ca bài con cá hòa hợp, hòa giải (theo nghị quyết 36). Mỗi lần nghe “khúc ruột nghìn dặm, tình tự quê hương chùm khế ngọt” là rụng rốn. Thằng chả còn dứ dứ cái mẻ “Hàng triệu kiều bào có nguy cơ mất quốc tịch” như thể là món mồi ngon để cáo (sắp) chết quay đầu về cố quận, đầu tư mua nhà dọn sẵn cho chuyện hậu sự.

Má ơi, hồi đó con chạy dắt giò lên cổ vì sợ phải nín thở qua cầu sống trong chế độc tài cộng sản mà giờ này tự nhiên bại não hay sao mà nhận cái hộ chiếu (chế độ) thổ tả đó.

Tui chắc mấy chả tưng tửng rồi nên mới chơi trò khỉ đột như dzậy. Sang đến thế kỷ 21 này, thuyền nhân người Việt vẫn còn vượt biển sang Úc[14], lao động xuất khẩu trốn ở lại nước[15] ngoài hầm bà rằng. Bộ không phải họ bỏ phiếu bằng chân từ bỏ cảnh đời “nín thở qua cầu” ở “chế độ xã hội chủ nghĩa ưu việt” độc tài, độc đảng thối tha ba đời rồi còn gì.

Cả dân tộc Việt Nam đã “nín thở qua cầu” để sống còn dưới chế độ độc tài, độc đảng vô nhân. Nhưng “nín thở qua cầu” hoài thì chịu đời sao thấu. Ai mà hổng thấy sao?

Thiên hạ không ai còn muốn nín thở qua cầu nữa nè. Ai mà không thấy luồng gió dân chủ từ cách mạng hoa nhài, khối 8406, phát súng hoa cải anh em Đoàn Văn Vươn, mạng lưới blogger, văn đoàn độc lập, nhóm vận động về quyền con người, Hội Phụ nữ Nhân quyền, diễn đàn Xã hội dân sự, Liên Đoàn Lao Động Việt Tự Do, Hội Dân oan, Hội Tù nhân lương tâm và các nhóm xã hội dân sự khác cùng với công dân và nông dân đang bùng nổ.[16]

Người dân không thèm nín thở qua cầu nữa. Ai cũng muốn hít thở bầu không khí tự do dân chủ trọng quyền làm người – cái quyền cơ bản đã có từ khi mới lọt lòng. Cả thế giới đã công nhận rồi mà trời. Dù tỏ lộ hay không, mấy ai còn chấp nhận áp bức và cưỡng hại bởi tà quyền đảng trị đâu.

Tui và biết bao người trong và ngoài nước không còn ngờ là chuyện sang giai đoạn sống khỏe re (không) như con bò kéo xe còn xa lắc xa lơ. Nhưng trời có muốn cũng không cản nỗi.

Tất cả cùng nhau quăng xuống sông cái lối sống “nín thở qua cầu”.

© 2014 Vietsoul:21


[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu  – (8) Gió mưa là chuyện của trời …  – (9) Vô liêm sỉ – man rợ – (10) Phế-anh-hùng – (11) Luật Lệ(nh) … (12) Nhà em có nuôi một con két … (13) Cái nhà là nhà của ta … (14) Mèo – thỏ (15) Phố Vẫy (16) Mít tờ Đàm và Bác Hồ (18) Bán Thân – Bán Thận – Bán Thần (19) Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm]

Chuyện những chiếc cầu chưa gãy” nhiều nguồn trên mạng

[2]Khóc chủ tịch Triều Tiên Kim Jong-il qua đời”, Youtube

[3]Không khóc thương lãnh tụ là có tội?”, Soha.vn

[4]Tôi khá tự do ở Việt Nam”, BBC Tiếng Việt

[5]Cầu sập vì người Mông đi rất nhanh”, Dân Làm Báo

[6]Sinh mạng bọt bèo”, Dân Làm Báo

[7]Cái đêm hôm ấy … đêm gì?”, Phùng Gia Lộc (Vietsoul21)

[8]Chân dung của một tên bồi bút”, Dân Làm Báo

[9]Kẻ bị mất phép thông công”, Nguyễn Mạnh Tường (Viet-studies)

[10]Con trai thủ tưởng Nguyễn Tấn Dũng được đề bạt làm Phó bí thư tỉnh ủy Kiên Giang”, Dân Luận

[11]Con trai Bí thư Lê Thanh Hải lên chức”, BBC Tiếng Việt

[12]Chuẩn bị vai trò lãnh đạo cho thế hệ thái tử đảng”, Viet-studies

[13]Khỏe re như con bò kéo xe”, tù nhân lương tâm Nguyễn Hữu Cầu

[14]Thuyền nhân Việt Nam vượt biển qua Úc tăng vọt”, RFI Tiếng Việt

[15]Lao động bỏ trốn tại Hàn Quốc sau khi hết hợp đồng: Phạt 100 triệu đồng vẫn không sợ”, danviet.vn

[16] Người dân Ninh Thuận biểu tình ngày 27/3/2014 phản đối việc khai thác titan và công an bắt người vô cớ, Dân Luận.
Nông dân oan Đồng Nai cùng dân oan miền Tây biểu tình tại Sài Gòn ngày 02/04/2014 & Hàng ngàn người dân Phản Đối chính quyền cưỡng chế, cướp đất tại xã Quỳnh Văn, Quỳnh Lưu, Nghệ An, Dân Làm Báo

BS Hồ Hải – VÌ SAO PHẢI THOÁT LỪA?

In Chính trị (Politics), Lịch Sử, Liên Kết, Tạp văn on 2013/12/05 at 21:02

Thuyền Nhân tị nạn cộng sản

Hai hôm nay đã có 2 người công khai từ bỏ đảng. Người thứ nhất là ông bệnh nhân Lê Hiếu Đằng đã sắp đến lúc lìa trần. Người thứ hai là ông tiến sĩ kinh tế, kiêm nhà báo Phạm Chí Dũng đang tuổi sung sức. Nhưng theo mình thì, quan trọng là ra khỏi đảng rồi có thành lập đảng khác để hoạt động làm đối trọng với đảng cầm quyền hay không? Điều này bị đảng cộng sản cầm quyền ở Việt Nam bịt đường trong hiến pháp vừa mới sửa đổi chưa ráo mực.

Nhớ thời 1986 cũng có hàng chục ngàn đảng viên cộng sản âm thầm bỏ đảng, bằng cách không đi sinh hoạt đảng, mà không dám làm đơn xin ra.

Nhưng rồi, năm 1990, sau khi mất viện trợ từ Liên Xô và Đông Âu, đảng cộng sản cầm quyền ở Việt Nam xoay sang hữu hảo với Trung Hoa bằng hội nghị Thành Đô 1990. Sau hội nghị này, Việt Nam đã sao y con đường cải cách của Đặng Tiểu Bình tại Trung Hoa. Cuối cùng đảng lại mạnh hơn nhờ vào cải tổ kinh tế, và sau đó bằng cách chia phần ăn cho đảng viên thông qua qui định 15/QĐ-TW ngày 28/8/2006 – cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân, mà đảng viên lại được phép đảng cho nắm quyền lãnh đạo trong hiến pháp và điều lệ đảng – để giữ sự đoàn kết trong đảng cầm quyền.

Song cũng từ vấn đề hiến pháp, điều lệ đảng cộng sản và quy định 15/QĐ-TW này mà chỉ trong vòng 7 năm qua, tình trạng tha hóa, biến chất và các nhóm lợi ích đã mọc lên như nấm sau mưa, nhờ vào đảng đã tạo điều kiệm thâu tóm mọi quyền hành về cho đảng viên của mình. Hôm nay những sai lầm trong hiến pháp, điều lệ đảng và quy định 15QĐ-TW này đã và đang tạo ra một cái gọi là giặc nội xâm – tham nhũng và tha hóa. Nó đã và đang làm mất toàn bộ uy tín và quyền lực của đảng cầm quyền ngay trong những thành viên của đảng, và cả trong nhân dân.

Nhưng giờ thì phần ăn về của để dành của tổ tiên – tài nguyên – đã cạn.

Rừng vàng đã cạn kiệt vì các nhóm lợi ích. Global Witness đã và đang kiện Tập đoàn công nghệ cao su Việt Nam và Hoàng Anh Gia Lai đi phá rừng ở Lào và Cambodia.

Biển bạc thì thăm dò dầu khí cũng đang cạn dần. Trong khi đó thì việc ngư dân đánh bắt thủy hải sản trên biển cũng bị Trung Hoa vây khốn.

Ngay cả phần còn sót cuối cùng là cái mỏ đất hiếm ở ngoài Bắc cũng đã thế chấp cho Nhật để mời gọi đầu tư.

Giờ chỉ còn bóc lột sức dân để ăn, thông qua việc tăng giá các mặt hàng nhu yếu phẩm thiết yếu mà đảng cầm quyền đang độc quyền kinh doanh như xăng, dầu, gas, điện nước, và các loại phí, thuế vô tội vạ. Trong khi tấm thân gầy còm của người dân đã kiệt quệ rõ từ tháng 6/2013 trở về nay và tương lai của nhiều năm sau do suy thoái kinh tế trong nước đang diễn ra, mà không thấy đáy.

Điểm lại hơn 68 năm đảng cộng sản cầm quyền ở Việt Nam về mặt kinh tế chỉ vỏn vẹn trong 3 chữ: ăn xin, ăn cướp và làm chết dân qua nhiều kiểu khác nhau.

Năm 1945, sau khi cướp chính quyền, đảng cộng sản đã đi ăn xin các nhà tư sản và địa chủ trong nước để có kinh tài hoạt động.

Sau chiến thắng Điện Biên 1954 chưa yên ấm thì, đảng cộng sản đã làm cuộc cải cách ruộng đất để cướp của cải, đất đai giết người của tư sản, địa chủ, kể cả nông dân bị chết oan do chỉ tiêu đưa ra của đảng cầm quyền lúc ấy, những người mà trước đó đã từng giúp đảng cộng sản tiền của để sống còn từ 1945 đến 1954.

Từ 1954 đến 1975, đảng cộng sản đã đi ăn xin khắp các quốc gia cộng sản trên thế giới mà, đứng đầu là Liên Xô và Trung Hoa, để thực hiện nhiệm vụ quốc tế cộng sản giao cho. Kết quả là 3,5 triệu thanh niên miền Bắc đã ngả xuống đến nay còn hơn 500 ngàn chưa tìm ra xác hoặc chưa được đặt tên.

Từ 1975 đến 1986, với chính sách ăn cướp kiểu 1957 ở miến Bắc, đảng cộng sản đã vào cướp của dân miền Nam bằng chính sách cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, và đổi tiền năm 1976. Dân cả nước đã không chịu nổi phải bỏ mình trên biển cả để tìm đường sống ở xứ lạ quê người, hàng triệu người phải làm mồi cho cá biển và cướp biển.

Lịch sử hơn 2.600 năm nước Việt chưa có triều đại nào người Việt bỏ nước ra đi. Nhưng khi đảng cộng sản lên nắm quyền thì có 2 lần dân tộc Việt phải bỏ quê cha đất tổ ra đi. 1954 còn có miền Nam để dân di cư từ Bắc vào Nam. 1975 chỉ có con đường bỏ tổ quốc ra đi, mà ai cũng biết trước là đánh đổi sinh mạng với biển, cá biển và cướp biển, nhưng họ vẫn ra đi.

Sau hội nghị Thành Đô 1990 đến nay cũng vẫn trò đi xin khắp thế giới, ăn cướp của dân thông qua nghị định đất đai và chính sách tiền tệ làm lạm phát từng đợt phi mã. Bán tài nguyên, khoáng sản ông cha để lại để trong nội bộ đảng ăn chia cho các nhóm quyền lợi.

Không những thế, về văn hóa ngày nay dân Việt đã mất đi cái ôn nhu của đạo Phật – quốc giáo của từ nhiều triều đại trước – thay vào đó văn hóa thù hằn, hiếu chiến diễn ra mỗi ngày. Đây sẽ là cái đáng ngại nhất cho nước Việt trong tương lai gần.

Một cuộc cách mạng hoặc chuyển đổi thể chế chính trị đòi hỏi không chỉ những điều kiện về chính trị và kinh tế, mà cốt yếu để cuộc chuyển đổi hay cách mạng ấy diễn ra êm thắm và được lòng dân thì nền tảng văn hóa dân tộc phải hiền hòa, vị tha và bao dung. Nhưng Phật giáo ngày nay đã mất đi bản chất của trường phái triết học Đông phương ở Việt Nam, thay vào đó, Phật giáo đã trở thành một tôn giáo phục vụ cho chính trị và kinh doanh.

Khi đã cạn kiệt tài nguyên để bán hoặc thế chấp ngoại bang để ăn chia; Khi sức dân đã cạn kiệt do kinh tế suy thoái; Khi lòng tin của dân và ngay cả các thành viên của đảng cầm quyền cũng đã mất; Khi văn hóa chém đinh chặt sắt đang trổi dậy, Và khi sự đoàn kết giả tạo trong đảng độc quyền cầm quyền ở Việt Nam chỉ sống nhờ vào của ăn cướp và của hồi môn dân tộc ngày cạn kiệt, thì hậu quả dễ nhìn thấy trong tương lai gần của tình hình chính trị xã hội Việt Nam.

Sẽ không có một sự chuyển đổi nhẹ nhàng như Miến Điện, hay Nam Phi của Nelson Mendela vừa mới qua đới hôm nay. Càng không thể có cuộc chuyển đổi cách mạng nhung ở Đông Âu, vì đã có Trung Hoa đè đầu cưỡi cổ. Đó là điều mà bất kỳ ai có hiểu biết cũng dễ nhìn thấy được. Và nó cũng là cái mà những ai có lương tâm và hiểu biết cần phải chọn lựa cho mình một tương lai. Vì không ai quyết định được nơi mình sinh ra, nhưng mỗi người đều có thể quyết định được nơi mình sống, bằng chính năng lực vô tận của mỗi cá nhân mà tạo hóa đã ban cho.

Gần đây người Việt lại làm sống lại đợt sóng thứ ba bỏ nước ra đi, để thoát khỏi đất nước đang trong cơn ngột ngạt chính trị, suy sụp về kinh tế, và văn hóa bị hủy diệt do đảng cầm quyền gây ra. Đó là cách tốt nhất và khả dĩ nhất dành cho người dân Việt trong quá khứ và hiện tại, khi đối mặt với đảng cộng sản.

Hay nói cách khác, gia tài của Mẹ Việt Nam có còn gì để dân Việt sống? Nói như nhà văn, nhà thơ Nga – Boris Pasternak – Con người ta sinh ra đời để sống, chứ không phải để chuẩn bị sống. Dân tộc Việt chuẩn bị sống đã dài hơn lịch sử hình thành và trở thành siêu cường Hoa Kỳ đến hơn chục lần về thời gian rồi. Nên nhớ rằng, không ai yêu ta bằng chính ta yêu bản thân ta. Hãy tự cứu lấy mình khi chưa muộn.

Nguồn: blog BS Hồ Hải

Tháng Tư này, nhớ và quên

In Chính trị (Politics), Lịch Sử, Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam, Văn Hóa on 2013/04/26 at 15:11

Viết từ “vùng biên” đáp lời “Tháng Tư, và bạn và tôi”[1]

Memory_PoliticalAgendaDường như cứ mỗi tháng Tư đến thì hồn ma ám ảnh lại lãng vãng trở về và xương khô lục đục bước ra. Bên “thắng cuộc” rầm rộ lễ hội ăn mừng. Bên “thua cuộc” mất nước lưu vong ngậm ngùi tưởng niệm. Rồi như một điệp khúc nghịch lý mỗi năm một đậm nỗi băn khoăn nên có người đã hỏi, “Gần 40 năm rồi sao chúng ta vẫn chưa thực sự ra khỏi cuộc chiến…?[2] và có người không ngần ngại trả lời “chúng tôi cũng không quên nhưng không bắt buộc phải nhớ như ngày xưa nữa[3].

Phải chăng chẳng ai có thể bắt buộc (mỗi cá nhân) ta phải nhớ như thế nào? Phải chăng ta tự cho mình quyền nhớ điều này và quên điều nọ? Phải chăng ta muốn nhớ như thế nào cũng được? Hay là ta tự lựa chọn cái để nhớ và gạn lọc cái cần quên?

Tôi không có một ảo tưởng về cái tự do (ở bên ni hay bên nớ) để nhớ và để quên. Tôi luôn cảnh giác với cái bị quên và điều buộc nhớ. Có lẽ quên thì dễ hơn là nhớ. Quên lãng thường đem lại cho ta cảm giác êm đềm và thăng bằng trong cuộc sống. Dù có thể chỉ trên bề mặt cho qua ngày tháng. Ngược lại, hồi tưởng chiêm niệm quả là khó tránh khỏi chuyện đem lại bao cảm xúc khác màu, lạc âm cho mỗi cá nhân ta.

Hồi tưởng đem lại những cảm xúc khác nhau, thay đổi theo tùy thời gian và theo từng trải nghiệm. Hồi tưởng đem lại cảm giác hân hoan, thỏa mãn, tự hào, đớn đau, ngậm ngùi, xé lòng, hổ thẹn. Hồi tưởng có thể nâng người lên bệ phóng mà cũng có thể đẩy ta đến bờ vực chênh vênh.

Quên lãng và hồi tưởng tựa như hai mảng màu trong một quang phổ lăng kính ký ức đầy phức tạp. Ký ức không chỉ nằm ở góc xó riêng tư và ngăn tủ cá thể nhưng hòa trộn với biển hồ của ký ức tập thể. Hơn nữa ký ức còn tương tác qua lại trong tiến trình định hình bản sắc cá thể (personal identity) và bản sắc tập thể (collective identity) cũng như đan chéo ngang dọc với và trong lịch sử một dân tộc. Ký ức đó có lúc tách màu có lúc hợp quang. Nhưng hai mảng màu ký ức đó không có khả năng tách rời khỏi quang phổ. Nó chỉ có quyền được diễn đạt tự do hơn trong đời thường riêng tư cá lẻ, và có lúc chuyển động ồ ạt trào dâng khi bị chạm mặt bất chợt. Ngược lại, nó thường bị kiềm hãm khi phải phơi bày giữa đám đông hiếu kỳ nhưng cô quạnh tâm hồn—khi đồng hoang không xanh, sông đã ngừng chảy trong tâm tưởng.

Quên và nhớ không ngừng tác động từvới tâm sinh lý cá thể và điều kiện hóa xã hội. Quên lãng và hồi tưởng không ngừng di chuyển đẩy đưa trong tiến trình thành lập và nẩy nở của bản sắc cá thể và bản sắc tập thể—nhất là trong hoàn cảnh di dân hay lưu vong. Quên và nhớ trong tâm thức tị nạn do đó bị buộc sàn lọc từ vô thức và được lọc lừa qua ý thức.

Những động cơ và ước muốn thầm kín (mang tính tâm sinh lý) luôn đứng canh chừng chộp vồ những ký ức lơn tơn kéo vào sau cánh gà hoặc đẩy ký ức trịnh trọng ra trước tấm màn sân khấu. Những động cơ và áp lực từ cuộc sống, bản sắc, và vị thế xã hội lắm lúc chực chờ để thi hành phận sự kiểm duyệt chỉ để trình làng những gì thuận lợi nhất cho riêng cá thể. Ký ức nào lơn tơn bị kéo vào bóng tối sau cánh gà để cho vào quên lãng? Ký ức nào được rọi trước ánh đèn màu để ghi vào bộ nhớ?
Động cơ nào để quên và ước muốn nào để nhớ? Phải chăng truyền thông đại chúng và cỗ máy tuyên truyền thiết tạo các đại tự sự tầm quốc gia đã và đang định hướng rồi điều kiện hóa chúng ta về chuyện gì cần nhớ và điều nào phải quên? Nhất là hướng về những nơi chốn và tình cảm lưu luyến một thời giờ đã xa lìa cách biệt?

Nhớ “Giải phóng miền Nam”, nhớ “ơn đảng, ơn chính phủ”, nhớ “trung với đảng”, nhớ “vì đảng, vì mình”, nhớ “đảng quang vinh muôn năm”, nhớ “đêm qua em mơ gặp bác Hồ”, nhớ “tư tưởng Hồ Chí Minh”, nhớ “chùm khế ngọt”, nhớ “khúc ruột ngàn dặm”.

Quên “cải cách ruộng đất”, quên “nhân văn giai phẩm”, quên “thảm sát Mậu Thân”, quên “học tập cải tạo”, quên “chôn dầu vượt biển”, quên “Nghĩa Trang Biên Hòa”, quên tượng đài thuyền nhân bị đục khoét ở các trại tị nạn, quên “Bản Giốc, Nam Quan”, quên “Gạc Ma, Trường Sa”, quên “ngàn năm đô hộ giặc Tàu”, quên “chiếm đất Cồn Dầu”, quên “cưỡng chế Văn Giang”, quên “lao động bán thân”, quên thân phận nô đòi chế độ nội-thực-dân cộng sản.

Bạn Điếu Cày, Nguyễn Văn Hải, chỉ muốn nhớ “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam” thì ai đã không chấp nhận cho anh nhớ như thế? Ai đã bịt miệng anh bắt anh câm lặng trong lao tù? Và bao người khác cũng chỉ muốn nhớ điều đơn giản ấy nhưng cũng bị giam cầm, sách nhiễu, hành hung, trấn áp. Ai bắt họ phải quên?

Bạn Cù Huy Hà Vũ chỉ lên tiếng chấp nhận (muốn nhớ) những người miền Nam trước đây đã chiến đấu bảo vệ tự do và mong đất nước Việt Nam thuộc về người dân từ hai thể chế miền Nam, miền Bắc đa dạng chứ không phải chỉ rơi vào tay một đảng csvn cầm quyền. Thế thì ai đã thảy hai bao cao su, đem còng số tám xiềng xích hai tay anh? Ai bắt anh phải quên đi những người miền Nam đó?

Bạn từ Bắc chí Nam muốn nhớ một Việt Nam từ thuở vua Hùng dựng nước bao nhiêu triều đại và anh hùng giữ nước–thay vì của đảng csvn với chủ thuyết ngoại lai vong bản áp đặt chế độ toàn trị nội-thực-dân với điều 4 hiến pháp đeo gông cùm vĩnh viễn vào người dân—thì bị hàm hồ thóa mạ gán ghép là “suy thoái”, “phản động”, “thế lực thù địch” và bị trấn áp, đuổi việc, tù đày.

Ký ức cá nhân dễ bị chi phối bởi cả hai yếu tố tâm sinh lý cá thể và điều kiện hóa xã hội trong khi ký ức tập thể thì gần như bị thống trị bởi điều kiện hóa xã hội qua lịch sử.

Thế nên tôi luôn cảnh giác với thói quên của mình cùng sức nhớ của người.

Tháng Tư đó, đã là quá khứ và mốc điểm của bao cá nhân, tập thể. Để rồi …

Tháng Tư này, bạn và tôi quên nhớ những gì?

Memory_GhostHunter

Tôi có thể tạm quên những gì xảy ra trong quá khứ nhưng đừng bắt tôi phải quên cái đang diễn ra trước mắt ở hiện tại. Tôi không thể nhắm mắt mà sống. Tôi không thể câm lặng hiện hữu. Những bất công, bất cập, áp bức, khủng bố hàng ngày trên nẻo đường quê hương cố quận sao không được nhớ?

Tôi không thể quên Văn Giang, Tiên Lãng, Đồng Chiêm, Cồn Dầu. Tôi không thể nào chôn nỗi đau đớn và nhục nhã các ngư phủ ngồi khép nép dưới họng súng quân TQ và những mộ gió trên đảo Lý Sơn. Tôi không thể nào dấu cảm xúc phẫn nộ thấy hai mẹ con trần truồng giữ đất bị nắm tóc nắm chân lôi đi như những con lợn trước khi đưa vào lò mổ. Tôi không thể nào xóa được khỏi trí nhớ mình hình ảnh các cô gái miền Tây trở thành sản phẩm qua hình ảnh bày bán nhan nhãn ở các nước láng giềng. Tôi không thể nào (quên) quen lờn với bao nhiêu bất công để miễn nhiễm lương tâm[4].

Tháng Tư tôi khóc cho những người phải bỏ nước ra đi, lướt sóng vượt đại dương, bao kẻ mất bấy người còn, đi tìm tự do, sống đời hạnh phúc.

Tháng Tư tôi khóc cho anh Vươn, ngọn đầu Tiên Lãng, lập đê đắp kè, chắn sóng đẩy lũ, vượt bao thử thách, con mất thân tàn chống trả quân “ác với dân, hèn với giặc” nội-thực-dân cộng sản.

Tháng Tư tôi cúi đầu tưởng niệm cho những vong linh oan khiên ngày cũ.

Tháng Tư tôi mắt trừng phẫn nộ cho bao mảnh đời đày đọa hôm nay.

Tháng Tư tôi hổ ngươi là con nước Việt cam phận nô đày.[5]

Bạn và tôi thuộc thế hệ “vùng biên”[6] này có thể nào chọn chỗ đứng ngoài lề để nhận định và phán xét. Bạn và tôi có thể cá thể hóa và đơn giản hóa vấn đề để giải quyết những khó chịu bề mặt hay bề sâu cho mình. Thật ra chúng ta những anh em ruột thịt, bên này bên kia, không bao giờ quên nhau, và chẳng bao giờ dửng dưng xa lạ đâu. Nếu quên, nếu dửng dưng xa lạ thì làm gì có bao triệu lượt chuyến bay hàng năm thăm viếng, bao tỷ đô la kiều hối chăm chút trút cạn hầu bao gởi về.

Thiển nghĩ nếu ta đơn giản hóa và chỉ tiếp cận trong liên đới về mặt tình cảm bằng cách cá thể hóa vấn đề thì bạn và ta đã—dù vô tình hay cố ý—đè nén và dập tắt tương tác giữa ký ức với chính trị và quyền lực.

Thế thì mối quan hệ của bạn và tôi với quyền lực là như thế nào?

Liệu lời mời gọi “làm sao để những người Việt Nam từng ở bên này bên kia có thể gặp nhau ở bất cứ đâu một cách thoải mái, chân tình, ấm áp như những người ruột thịt, để cho người bạn vong niên thân quý của chúng ta có thể về lại quê hương, sống bình an vào những năm cuối đời có thể thực hiện nếu chúng ta phải tự bịt miệng, bịt mắt, bịt tai?

Bịt miệng không được (nhắc) nhớ điều này và phải (im) quên điều nọ, bịt tai không phải nghe đảng csvn quang vinh muôn năm, học tập tư tưởng HCM, bịt mắt để không phải thấy cưỡng chế cướp đất áp bức nông dân, phá hủy giáo đường tín đồ Tin Lành/Công Giáo, đập phá thánh thất Cao Đài/Hòa Hảo, đàn áp các buổi cứu trợ thương phế binh VNCH v.v…

Tôi e ngại nhận lãnh một lời hiệu triệu “thế hệ chúng ta có trách nhiệm cần phải mở đầu, thúc đẩy và tiến hành những mối quan hệ nhằm làm lành những vết thương của thế hệ tham chiến, làm cầu nối cho những trái tim thế hệ hậu chiến còn thờ ơ đến được với nhau, bởi chúng ta có sự trải nghiệm chiến tranh có cả sự hiểu biết của thời *toàn cầu hóa* để chia sẻ với thế hệ cha anh và thế hệ con cái chúng ta.”. Bởi vì ngay cả một thái độ trân trọng của thiền sư Nhất Hạnh dù chỉ mong lập đàn giải oan cho các vong linh người chết của hai miền đất nước thì cũng đã bị đáp trả như thế nào. Nói gì chuyện người sống!

Cái quyền lực bên “thắng cuộc” chỉ nhằm nuôi dưỡng, thúc đẩy tiến hành củng cố những mối quan hệ chuyên chính với “chân lý của nòng súng” trong các rao giảng tính “chính danh”. Chưa bao giờ họ lắng nghe hoặc chấp nhận quan điểm nào khác.

Chắc bạn có thiện ý mong bên “thua cuộc” quên đi để lấy lại sự “thăng bằng” tâm lý nhằm tạo cuộc sống an bình cá nhân. Riêng tôi thì không có quyền đánh giá phán xét “mặc cảm thất bại” trong giới cha anh bên “thua cuộc”. Tôi chưa sống trọn ở vị thế của họ để chiêm nghiệm xem có phải sự “thiếu hụt tình cảm bao dung và lòng vị tha” đã gây ra “mặc cảm thất bại” đó hay không.

Bạn và tôi có lẽ không thiếu sự cảm thông và lòng bao dung vì chúng ta thừa mứa xa xỉ sống trong vị trí bình an này. Nhưng chắc bạn và tôi chưa cảm nhận đủ phần nào cái khổ nạn họ gánh gồng, là nhân chứng của đầy đọa gian truân. Chỉ khi nào bạn và ta không chỉ nói mà còn sẵn lòng nhảy xuống đáy vực để cùng họ gào thét, khóc la, rên siết bởi vì không ai khóc than cùng và để tang cho họ thì may ra sự cảm thông và lòng bao dung của bạn và ta có chút thực dụng nào đó.

Bạn và tôi cùng ở trong một vị thế có thể tạm gọi là ưu đãi, vừa đủ tự do với quyền cơ bản để nói để viết, vừa đủ miếng ăn để sống mà không phải lệ thuộc xin-cho, vừa đủ tri thức và tự chủ để không phải vô tình quên và bị nhắc nhớ.

Bạn và tôi hưởng được những lợi ích từ toàn cầu hóa và tự do di dịch gần như tới bất cứ nơi nào trên quả địa cầu này. Ngược lại, những cửu vạn, ô sin[7] và nô lệ hiện đại phục vụ bạn và tôi từ A tới Z—dù trực tiếp hay gián tiếp. Bạn và tôi là thượng đế của thời thượng.

Bạn và tôi có thể hãnh tin để tuyên ngôn về một “thế giới phẳng”—nơi mọi người, mọi nơi đều có sự bình đẳng trong tương quan cạnh tranh và giao dịch nào đó. Nếu chỗ ấy có thật đi nữa, nghĩa là bạn và tôi sống ở một môi trường tương đối phẳng không lắm hố nhiều đồi, ta cũng không thể tự lừa dối về một thế giới đồng hành có rất nhiều hố sâu không đáy và đỉnh cao không hề vượt nổi.

Bạn và tôi có quyền lực ưu đãi để tự cho mình quyền nói hộ cho họ—những ai đang ngụp lặn dưới hố sâu hay bám víu thành vực thẳm—để dám quả quyết thế nào là “sự thật”, để chọn lựa và khắn khít với dòng tự sự “hòa giải” thêu dệt của quyền lực (bên “thắng cuộc”)

Có lẽ điều cốt lõi nhất là bạn và tôi có quyền lực để hội nhập những mảng màu của cái “cá thể co cụm” hầu phù hợp với dòng tự sự của quyền lực xuyên quốc gia (tân tự do, toàn cầu hóa, thời thượng).

Có những tiếng nói xử dụng ngôn từ phù hợp hoa mỹ được trưng dụng tâng cao. Thì cũng có những tiếng nói tiếng lòng nấc nghẹn không đủ được nghĩa từ bị bưng bít xóa mù. Tiếng nói của bạn ít gì cũng thuộc giới học hàm nên được bay bổng và trích dẫn đó đây. Tiếng nói của vị thế ưu đãi và phía quyền lực thường được chấp cánh. Trong khi đó, tiếng nói của những người bên “thua cuộc” dường như nếu không bị bịt nghẽn thì cũng bị bóp méo. Ký ức của người miền Nam và lịch sử của chính thể Việt Nam Cộng Hòa gần như hoàn toàn bị tẩy xóa và gò nặn phản ánh góc nhìn quyền lợi kinh tế, chính trị nước Hoa Kỳ. Còn ký ức của người miền Nam ở tại Việt Nam thì khỏi phải nói làm gì.

Một khi ký ức mất đi thì dân tộc đó chết theo. Nếu như ký ức được ngụy tạo và bóp méo? Đó là điều tồi tệ nhất. Đó là thảm sát. (“When memories dies, a people dies. What if you create a false memories? That’s worse. That’s murder.”, Silvanadan – “When memory dies”)

Bạn và tôi có muốn chấp cánh cho những tiếng kêu gào dường như vô vọng từ đáy vực và những tiếng hú trơi ma của các oan khiên ngày cũ? Hay bạn và tôi chỉ thích dùng tấm bùa thực dụng của các pháp sư quyền lực để bịt miệng nó?

Phải chăng bạn và tôi là những người đi lách né trong căn phòng đầy pha lê tránh đụng chạm làm đỗ vỡ nhưng lại giả đò, làm ngơ bịt mắt, bịt tai không thấy không nghe con voi to đùng đang tung vòi đạp phá[8].

Truyền thống xã hội Tây phương tạm đủ khoảng không gian tự do để trí thức nói thẳng (sự thật) với quyền lực (speak truth to power) nhưng chưa chắc ai cũng muốn lên tiếng. Vì nói thẳng với quyền lực thì chẳng có lợi mà lắm khi lại bị rắc rối lôi thôi. Tôi vẫn luôn hy vọng rằng bạn và tôi không ngại bước ra, đứng vào vị thế chênh vênh thử thách cổ võ cho công bằng, mạnh dạn lên tiếng trực diện với quyền lực (bên “thắng cuộc”) tương tự như những gì bạn đã đặt câu hỏi cùng lời khuyên/tự nhủ cho tôi và bạn.

© 2013 Vietsoul:21


[1] “Tháng Tư, và bạn và tôi”, Nguyễn Thị Hậu, Viet Studies

[2] Cùng trích dẫn (1)

[5] Tháng Tư oan trái, Vietsoul:21

[6] “vùng biên”, vùng đệm, khoảng giao tiếp (in-between) giữa hai thế hệ, hai văn hóa, hai bản sắc

[7]Thời cửu vạn, ô sin”, Vietsoul:21

[8] “Elephant in the room” is an English metaphorical idiom for an obvious truth that is either being ignored or going unaddressed. “Con voi trong phòng” là một thành ngữ ẩn dụ tiếng Anh cho một sự thật hiển nhiên mà hoặc là bị bỏ qua hay không được nói tới.

BS Hồ Hải – Nhân Quả trong câu chuyện Tiên Lãng

In Chính trị (Politics), Tạp văn, Triết Học, Việt Nam on 2013/04/05 at 15:02

Hầu hết các bài viết của tôi nằm trong tiêu chí của câu nói Đức Dalailama – Share your knowledge. It’s a way to achieve immortality. Viết vì cái chung cho cộng đồng, không viết cho một cá nhân nào, ngoại trừ cá nhân đó quá kiệt xuất hoặc quá quắt về hành vi hoặc mưu đồ làm hại đến cộng đồng. Hôm nay, xin một lần thứ ba viết về một cá nhân, xin cá nhân và cộng đồng thông cảm, vì đây chỉ là một trải lòng phải làm.

Hôm nay tình cờ đọc bài báo Cổ súy cho “tự xử” là triệt tiêu công lý của nhà báo Đức Hiển, tự nhiên tôi thấy chạnh lòng cho một thế hệ làm báo Việt Nam dưới thời Xã hộ chủ nghĩa.

Chạnh lòng vì thế hệ mà tôi hy vọng có sự đổi thay cho đất nước Việt là thế hệ này – 197x – thế hệ mà nhà báo Đức Hiển sinh ra và lớn lên trong hòa bình, nhân ái, vị tha và hiểu biết để làm người tử tế.

Chạnh lòng vì, đọc xong bài báo, tôi mới ngỡ ngàng là, té ra thế hệ này không như tôi nghĩ, mà là, như một Tổng kết về tâm lý đám đông mà, tôi đã làm cách nay hơn 3 năm về trước.

Chạnh lòng vì nhà báo Đức Hiển là một lãnh đạo trẻ của một tờ báo mà, cách đây hơn 2 năm về trước mà tôi đã từng tin tưởng và cộng tác viết bài trong một số lãnh vực và giáo dục, y tế, vì một tấm lòng với thế hệ tương lai.

Chạnh lòng vì, một lãnh đạo trẻ báo chí mà tôi đã từng tin tưởng, nhưng mất căn bản về kiến thức triết học, khi viết về vụ án Đoàn Văn Vươn trong cặp phạm trù nhân quả.

Tôi đã từng viết trên blog này, muốn nắm bắt một vấn đề thấu đáo thì phải luôn nắm chắc khái niệm của vấn đề. Và muốn tư duy thấu đáo một cách phản biện duy lý, khách quan thì phải nắm chắc triết học. Và triết học không có gì cao xa, mà lại rất gần, như ăn, thở, ngủ, nghĩ trong quá trình sống của con người.

Nhà báo Đức Hiển cho rằng, ông Đoàn Văn Vươn và gia đình ông có tội, vì đã chuẩn bị có chủ đích và cố ý gây thương tích với “người thì hành công vụ”, nên phải xử tội, dù chính quyền sai thì phải xử. Thế nhưng, nguyên nhân, động cơ gây ra để ông Đoàn và gia đình ông buộc phải tự trang bị vũ khí thô sơ để tự vệ là từ đâu đến vậy ông nhà báo trẻ?

Nguyên nhân bắt đầu từ ý đồ cố sát của ông Đoàn và gia đình ông Đoàn hay hành động của ông Đoàn và gia đình ông chỉ là hậu quả vậy nhà báo trẻ?

Tôi cho rằng, muốn làm nhà báo để “được” chức như nhà báo Đức Hiển thì ít nhất cũng phải trải qua tấm bằng đại học dưới thời Xã hội chủ nghĩa này. Trong giáo trình để tốt nghiệp đại học dưới thời này, thì môn thi bắt buộc tốt nghiệp đại học là môn “triết học Marx-Lenin”. Trong đó, phải can qua duy vật biện chứng, và chắc chắn phải học cặp phạm trù Nhân – Quả, mà các nhà theo trường phái duy vật đã đúc kết từ Phật học của Tất Đạt Đa đã nói trước Tây lịch những 624 năm!

Đó là chưa bàn đến vấn đề là, công an là để giữ an ninh trật tự quê nhà cho dân yên ổn làm ăn, nhưng công an ở Tiên Lãng lại đi đàn áp nhân dân, đúng hay sai? Và quân đội là để giữ bờ cõi đất nước trước họa ngoại xâm, nhưng quân đội huyện Tiên Lãng lại được điều động để đi đàn áp dân lành, đúng hay sai vậy ông nhà báo trẻ?

Tự do là gì, nếu không là tự do của anh không được vi phạm đến quyền sống và quyền mưu cầu hạnh phúc của tôi? Trong câu chuyện Tiên Lãng ai đã vi phạm quyền sống và quyền mưu cầu hạnh phúc của ai hỡi nhà báo trẻ?

Nhà báo không thấy rằng ngay cả những người công an và quân đội được lệnh điều đi đàn áp ông Đoàn và gia đình ông Đoàn, mà họ bị thương tích, thì họ cũng cảm thấy xấu hổ, khi lên tiếng không cần bồi thường đối với hành động mà nhà báo thay tòa để kết tội ông Đoàn đó sao?

Đã hơn 40 năm, nhưng tôi mãi nhớ lời thầy dạy năm nào, người trượng phu quân tử chỉ phù suy, không phù thịnh – tức đỡ đần người yếu thế và đúng, chứ không phò kẻ mạnh và lưu manh – không biết nhà trường Xã hội chủ nghĩa có dạy ông nhà lãnh đạo báo còn trẻ tuổi điều này không?

Tuổi đời và tuổi học của ông nhà báo chắc chắn phải sau tôi ít nhất một vài con giáp. Kiến thức ông nhà báo học chắc chắn còn mới hơn tôi có lẽ phải vài thập niên. Nhưng sao ông nhà báo lại “chóng quên” đến thế, mà lại quên một kiến thức rất cơ bản ngay cả bà bán cá, hay ông nông dân không cần học cũng rất hiểu nó rành rọt để sống có nhân cách của một con người tử tế.

Như một bài viết của tôi gần đây – Tự diễn biến – việc nhà lãnh đạo báo trẻ viết bài báo trên không giúp cho sự việc của Tiên Lãng tốt hơn, mà còn góp phần làm lòng tin của dân càng mất sạch, lòng căm thù của người dân càng tăng thêm đối với đảng cộng sản cầm quyền.

Quả thật đáng để chạnh lòng. Chạnh lòng vì một thế hệ lãnh đạo tương lai của đất nước. Lấy đâu ra nhân lực, trong khi chỉ thấy toàn nhân sự trong đảng cầm quyền để cho tương lai đất nước?

Tư gia, 22h26′ ngày thứ Năm, 04/4/2013

 Blog BS Hồ Hải

Nguyễn Đắc Kiên – Về những xác chết biết đi

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Việt Nam on 2013/04/05 at 14:55

 Theo blog Ba Cừu

Tôi không thấy mức án VKS đưa ra là nhẹ, dù ông Quý đã vừa khóc vừa nói, mong tòa giữ nguyên mức án VKS đã đề nghị áp dụng cho anh trai – ông Vươn, 5-6 năm tù. Nhưng tôi cũng sẽ không nhìn vào mắt các vị quan tòa để tìm kiếm tia hy vọng mong manh cho gia đình ông Đoàn Văn Vươn, được xử trắng án.

Những người chịu trách nhiệm phán xử trong vụ án Nọc Nạn năm xưa là những con người tự do. Ngoài mệnh lệnh chính trị của chính quyền thực dân, họ còn phải chịu sự phán xét của tòa án, một tòa án cấp cao hơn, cấp tối cao trong mỗi con người, đó là tòa án lương tâm. Đây chính là khác biệt căn bản của họ với những người đang chịu trách nhiệm phán xử vụ án Tiên Lãng, những nô lệ khoác bộ áo quan tòa.

Khi người ta không được tự do trong hành xử của mình thì họ cũng thấy mình không phải chịu trách nhiệm với những phán quyết mà họ đưa ra. Tất nhiên khi đó họ cũng không phải đối mặt với tòa án lương tâm của chính họ. Giả sử nếu có lúc nào đó họ phải đối mặt thì họ cũng tìm ngay ra một kẻ để đổ lỗi, đó là cấp trên, là lãnh đạo, là hệ thống… Rồi họ tự kết luận, họ vô tội. Họ cũng chỉ là nạn nhân.

Điều tồi tệ hơn, trong xã hội Việt Nam ngày nay, những ông quan tòa của chúng ta không phải là những kẻ hiếm hoi, lạc loài, trái lại, họ dễ dàng tìm thấy những kẻ đồng lõa với mình ở khắp mọi nơi. Đó là ông bác sỹ, anh công an, chú nhà báo, ông bạn kỹ sư, cô hàng nước gần nhà, anh xe ôm đầu ngõ… họ tìm thấy một tình trạng nô lệ, một sự sự vô trách nhiệm, vô trách nhiệm như một lẽ tất yếu, nô lệ như một lẽ tất yếu, được phổ biến khắp nơi, len lỏi đến từng ngõ ngách của cuộc sống.

Trả lời phỏng vấn BBC Tiếng Việt, nghệ sỹ Kim Chi nhận định rằng: “Nếu người ta thả bổng cho Đoàn Văn Vươn, cho gia đình anh ta, thì điều đó sẽ thu phục được lòng dân. Còn nếu mà lấy quyền, lấy luật rừng để mà trừng trị một người lương thiện như thế, thì nhất định là tức nước thì phải vỡ bờ thôi”.

Tôi có thể phần nào đồng ý với nghệ sỹ Kim Chi ở vế thứ nhất, còn ở vế thứ hai thì chắc chắn không. Dù kết quả vụ án Đoàn Văn Vươn thế nào thì cũng không dễ gì có chuyện “tức nước vỡ bờ” trong hoàn cảnh hiện nay. Đa số người dân chỉ “tức nước vỡ bờ” khi những quyền lợi thiết thân của họ bị xâm phạm, như đầm tôm với gia đình ông Vươn, còn ngược lại, sự cảm thông với hoàn cảnh bất hạnh, hay bất bình vì oan trái cùng lắm chỉ gây nên xót xa – căm hận ở trong lòng mà thôi. Một số ít sẽ tỏ thái độ, còn đa phần sẽ làm ngơ. Và cũng như các vị quan tòa trong vụ án Đoàn Văn Vươn, những người làm ngơ sẽ có đủ lý lẽ để biện hộ cho mình.

Đó chính là điều tồi tệ nhất mà một hệ thống toàn trị có thể tạo ra. Những lầm lỗi, thậm chí là tội ác về kinh tế dễ gây bất bình, phẫn nộ cho công luận, nhưng suy cho cùng nó lại là những tội lỗi để lại ít hậu quả và dễ khắc phục. Còn những tội ác làm phá hủy tận căn để lương tri con người thì khó nhận biết hơn, gây phẫn nộ ít hơn, lại khó cứu vãn và để lại hậu quả ghê gớm hơn gấp nhiều lần. Tình trạng nô lệ, sự vô trách nhiệm được gieo rắc phổ biến nơi con người trong các chế độ toàn trị là một trong những tội ác như thế. Nó như một thứ thuốc độc ma mãnh, từng lúc từng lúc len lỏi vào tận xương cốt mỗi con người phá hủy tận gốc dễ, căn để, bòn rút toàn bộ sức mạnh sáng tạo, động lực phát triển của xã hội.

Không có chuyện “tức nước vỡ bờ”, nhưng nếu vụ án Đoàn Văn Vươn kết thúc bằng một bản án khắc nghiệt, một sự hủy hoại trong mỗi con người, niềm tin vào công lý, vào đạo đức xã hội chắc chắn sẽ gia tăng. Khi niềm tin vào công lý, vào đạo đức xã hội bị xói mòn, con người sẽ bị đẩy sâu hơn vào các lợi ích thiết thân. Họ sẽ tìm mọi cách để tự bảo vệ mình, gia đình mình, lợi ích riêng tư của mình và không ngần ngại nếu có thể, xâm phạm vào lợi ích người khác, lợi ích xã hội. Đồng thời cũng chính những con người này, họ cũng sẽ sẵn sàng kháng cự lại bằng “luật rừng” nếu có thể với mọi sự xâm hại đến lợi ích bản thân và gia đình họ.

Những người có trách nhiệm với đất nước cần nghĩ đến những hệ quả sâu xa này. Étienne Vacherot, triết gia, chính trị gia Pháp thế kỷ 19 đã viết: “Chế độ chuyên quyền là trường học tồi tệ nhất cho nền dân chủ”. Tôi đồng ý với nhận định này. Người ta hay lấy những cuộc biểu tình, những bất ổn chính trị ở Thái Lan để chỉ trích chế độ dân chủ. Nhưng tôi thì lại thấy rằng đó là những sự “tập dượt dân chủ” không tránh khỏi và tin rằng không lâu nữa, người Thái sẽ có một chế độ dân chủ đủ trưởng thành để đưa đất nước họ vào một quỹ đạo phát triển bền vững. Sau khi viết những lời trên trong cuốn La Démocratie, năm 1859, tức là 70 năm sau cách mạng Pháp 1789, Étienne Vacherot đã bị bắt vào tù, với mức án 1 năm (sau được giảm xuống còn 3 tháng). Rõ ràng người Pháp đã chẳng được cho không nền dân chủ tự do của họ có bây giờ.

Thật nực cười khi muốn đất nước có dân chủ tự do mà lúc nào cũng canh cánh một nỗi lo gọi là “mất ổn định”. Với cá nhân mỗi con người, tôi không thấy những người lúc nào cũng chỉ chăm chăm một cuộc sống bình yên có thể làm được điều gì đó có ý nghĩa trong cuộc đời của họ.

Xin hãy nghe lại lời Patrick Henry, lãnh tụ Cách mạng Mỹ, phát biểu ngày 23/3/1775: “Liệu có phải cuộc sống quá đáng yêu và hòa bình quá ngọt ngào tới mức phải mua bằng xiềng xích và nô lệ không? Ơn chúa tối cao, hãy đừng bao giờ như vậy. Tôi không biết những người khác sẽ chọn con đường nào. Nhưng với tôi, hãy cho tôi tự do hay là chết”

Nguyễn Đắc Kiên

 

Tháng Tư oan trái

In Chính trị (Politics), Việt Nam on 2013/04/05 at 14:52

Tháng Tư tôi khóc với anh Vươn, tôi khóc cho anh Vươn, tôi khóc cho các đứa con anh Vươn, tôi khóc cho vợ anh Vươn, tôi khóc cho dân oan mất đất mất nhà, tôi khóc cho những người lam lũ oằn lưng thân còi  lây lất dưới chế độ nội-thực-dân cộng sản.

Tháng Tư tôi khóc cho những người phải bỏ nước ra đi, lướt sóng vượt đại dương, bao kẻ mất bấy người còn, đi tìm tự do, sống đời hạnh phúc.

Tháng Tư tôi khóc cho anh Vươn, ngọn đầu Tiên Lãng, lập đê đắp kè, chắn sóng đẩy lũ, vượt bao thử thách, con mất thân tàn chống trả quân “ác với dân, hèn với giặc” nội-thực-dân cộng sản.

Tháng Tư tôi cúi đầu tưởng niệm cho những vong linh oan khiên ngày cũ.

Tháng Tư tôi mắt trừng phẫn nộ cho bao mảnh đời đày đọa hôm nay.

Tháng Tư tôi hổ ngươi là con nước Việt chưa học làm người, cam phận nô đày.