vietsoul21

Archive for the ‘Liên Kết’ Category

Nguyễn Thị Từ Huy – Muốn hay không muốn

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Việt Nam on 2012/02/09 at 22:50

Nguyễn Thị Từ Huy

Theo Văn Hóa Nghệ An

Ở Việt Nam hiện nay, ta thấy không chỉ có nông dân bị bần cùng hóa bởi chính sách ruộng đất bất hợp lý và bởi chế độ cưỡng chế đất đai bất công mà vụ Đoàn Văn Vươn là một ví dụ nổi bật, đang là mối quan tâm chung của dư luận ở thời điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới này. Cũng không chỉ có công nhân bị bần cùng hóa. Mà cả giới lao động trí óc cũng bị bần cùng hóa.

Trong khi mà trong xã hội hiện thời có những nghề cho phép một số người lao động hưởng lương lên đến cả trăm triệu đồng một tháng, thì lương khởi điểm của giáo viên nói chung chưa đến hai triệu, lương khởi điểm của giảng viên đại học trên hai triệu một chút. Lương của các nghiên cứu viên ở các viện nghiên cứu còn thấp hơn, vì dù sao ngạch giảng dạy còn được cộng thêm một số phần trăm đứng lớp. Với giá cả hiện tại, mức lương đó không thể đảm bảo cho các sinh hoạt tối thiểu hàng ngày của những người lao động trí óc, nhất là ở các thành phố lớn. Một chế độ lương như vậy là một chế độ lương mang tính chất bần cùng hóa. Người lao động trí óc bị bần cùng hóa và bị đẩy đến chỗ không còn có thể nghĩ gì khác ngoài việc làm sao kiếm cho đủ tiền để sống. Nghịch lý ở đại học (và các trường học nói chung) là sau khi mất nhiều năm học hành, cố gắng để đạt kết quả xuất sắc, người giảng viên được giữ lại trường giảng dạy, thì nỗi lo lắng bận tâm của họ không phải là trau dồi kiến thức, phát triển năng lực chuyên môn, mà là làm gì để sống. Vậy đấy, đi làm rồi, có được một nghề rồi, một nghề được xem là cao quý hẳn hoi, nhưng lại phải khốn khổ loay hoay tìm cách trả lời câu hỏi: « làm gì để sống ? »[1]

Điều nguy hại đáng nói ở đây là: người lao động trí óc bị bần cùng hóa bởi chế độ lương phải lao vào các hoạt động kiếm sống, và sau một thời gian thì họ khó có thể giữ được các hoạt động trí óc, mặc dù lao động của họ vẫn được xếp vào loại lao động trí óc, ví dụ như nghề nghiên cứu hay đi dạy. Thực tế cho thấy là có một số giảng viên ở bậc đại học đi dạy rất nhiều nhưng để nói là họ có hoạt động trí óc thì rất khó, bằng chứng là họ không có công bố hoặc nếu có thì đó là những bài viết mà chất lượng khoa học thấp, ít hàm lượng tri thức và phát kiến, ít hàm lượng tư duy. Bài giảng của họ chỉ là tổng hợp lại kiến thức của người khác, đã thế nhưng kiến thức cũng không được thường xuyên cập nhật, bài giảng của họ có thể được soạn một lần để giảng trong nhiều năm và giảng ở nhiều nơi.

Một nghịch lý khác mà giới trí thức ở các nước phát triển rất khó có thể hình dung, nhưng đang là thực tế của xã hội chúng ta: giới lao động trí óc ở Việt Nam không những bị bần cùng hóa về đời sống vật chất, mà còn bị / tự bần cùng hóa cả về đời sống tinh thần. Hiện tượng này đang thành ra phổ biến: những người, về nguyên tắc, phải làm việc với sách vở lại rất ít đọc sách, không quan tâm đến các vấn đề xã hội. Họ tự phủ nhận vai trò và trách nhiệm xã hội của họ. Không hiếm những lời phàn nàn kiểu như: giới văn chương gặp nhau không nói chuyện văn chương, mà nói chuyện bất động sản, đất đai, nhà cửa, ô tô.

Mặt khác đa số tự nguyện tuân theo những quy định thành văn và bất thành văn về cách thức tư duy, đường hướng tư duy, hệ quả tất yếu là sự nghèo nàn trong nội dung tư duy, và hệ lụy thê thảm nhất là không ít người có nguy cơ đánh mất khả năng tư duy và thói quen tư duy, dẫn đến việc mất khả năng phân tích, mất khả năng tự quyết định, chỉ còn biết chấp nhận và chờ đợi những quyết định từ trên xuống, dù những quyết định đó sai hay đúng, dù chúng có tác hại như thế nào chăng nữa. Thậm chí có những người còn rất trẻ cũng đã tỏ ra không biết làm gì nếu không được định hướng. Trong khi đó, hoạt động trí óc, về thực chất, là một hoạt động mang tính tự do; và không có gì có thể tước đoạt được thứ tự do đó. Đối với tư duy tất cả đều được phép. Người ta có thể bị tước đoạt tự do công bố, tự do phát ngôn và trình bày công khai; nhưng tự do tư duy thì không gì có thể động đến được. Do đó có thể nói rằng đa số thuộc giới lao động trí óc ở ta tự nguyện tuân theo các định hướng suy nghĩ từ bên ngoài, hoặc khép mình vào những giới hạn do tự mình đặt ra, và hình dung rằng giới hạn đó trùng với những gì được phép, không lấn sang khu vực của những gì không được phép. Tuy nhiên thực tế cho thấy, sự tự giới hạn này phản ánh một nỗi lo sợ nhiều khi thiếu căn cứ, bởi vì những gì « không được phép » đối với người này lại là « được phép » (đúng hơn là « tự cho phép ») đối với người kia. Cái vòng kim cô, do vậy, không phải chỉ là sự áp đặt từ bên ngoài, mà nó còn có tính nội sinh. Giới lao động trí óc tự tạo ra cái vòng đó và để nó xiết chặt từ bên trong vỏ não. Sự tự nguyện này, xét kỹ, không gì khác hơn là hệ quả của sự bần cùng hóa tinh thần. Nếu như một bộ phận lớn thuộc giới lao động trí óc Việt Nam được gọi là « trí thức trùm chăn » thì đó chính là hậu quả của sự (tự) bần cùng hóa về phương diện tinh thần này. Bởi lẽ giờ đây, khi các thói quen và quán tính đã được thiết lập một cách vững chắc, nếu họ có hất cái chăn đi, thì việc trình bày ý kiến cũng hoàn toàn không đơn giản và không dễ dàng. Thử giả định rằng họ được chuyển sang sống ở các nước dân chủ và họ có toàn quyền phát ngôn về mọi chuyện mà không có bất kỳ một đe dọa nào hay một áp lực nào, thì liệu họ có thể tham gia phản biện như các trí thức ở các nước sở tại không?

Sự bần cùng hóa tinh thần là một trong những nguyên nhân khiến giới lao động trí óc ở đây đánh mất sức mạnh, đánh mất khả năng phân biệt đúng sai, phải trái, và khiến họ có thể vi phạm các chuẩn mực đạo đức mà vẫn cảm thấy yên ổn lương tâm. Họ tìm sự yên ổn bằng cách sử dụng các lý lẽ mang tính ngụy biện để bào chữa hoặc hợp pháp hóa cho sự vi phạm đạo đức hay sự vi phạm pháp luật. Chẳng hạn giới giáo viên có thể tự cho là chính đáng khi nhận phong bì của học sinh và phụ huynh. Họ lập luận rằng đấy là để bù lại sự bất công trong chế độ thù lao của nhà nước. Họ đã dùng cái sai này để sửa cái sai khác, trong khi những giải pháp đúng đắn đã không được lựa chọn. (Chúng tôi sẽ còn trở lại bàn sâu hơn về điều này). Họ thấy hay không thấy rằng, giữa cái phong bì và sự suy đồi đạo đức, sự suy thoái trầm trọng của nền giáo dục, có mối quan hệ khăng khít? Họ thấy hay không thấy mối liên hệ nhân quả giữa cái phong bì và tệ nạn bằng cấp dởm, chức danh dởm, những thứ đã và đang đẩy chất lượng giáo dục xuống bờ vực thẳm? Đơn giản là một khi đã nhận tiền của sinh viên thì họ không thể đánh trượt hay dành điểm kém cho luận văn hay luận án của sinh viên, dù cái luận văn hay luận án ấy có kém cỏi đến mức độ nào chăng nữa. Họ thấy hay không thấy rằng khi quyết định trao bằng thạc sĩ hay tiến sĩ cho một người không có năng lực tương xứng với học vị đó, thì họ đã gián tiếp đẩy bao nhiêu thế hệ học sinh vào nguy cơ bị ngu hóa, bị bần cùng hóa về mặt trí tuệ ? Vấn đề không chỉ là việc cho ra đời một tiến sĩ dỏm, mà cùng với tiến sĩ dỏm đó là hàng loạt thế hệ thanh thiếu niên phải gánh chịu hậu quả. Rồi những người thầy kém sẽ tạo ra các thế hệ những người thầy kém tiếp theo, cứ như vậy mà kéo dài tình trạng suy thoái.[2] Vậy những người làm giáo dục muốn đẩy trách nhiệm ấy cho ai?

Vấn đề đối với giới lao động trí óc không hẳn chỉ là hợp tác hay bất hợp tác. Voltaire từng bị triều đình bỏ tù vài lần, nhưng rồi sau đó cũng có lúc ông hợp tác với triều đình Versailles và triều đình của Friedrich II, rồi lại bất hợp tác. Goethe từng giữ nhiều chức vụ trong các triều đình của Đức thời bấy giờ. Hugo từng thực sự mong muốn tham gia triều chính, muốn có ảnh hưởng để thực hiện các ý tưởng của mình. Ông trở thành người tin cẩn của Louis-Philippe năm 1844, và sau đó làm Nguyên lão nghị viên. Rồi tự lưu đày, từ chối trở về nước Pháp khi mà ông chưa thấy đất nước này có tự do. Dù ở thời kỳ nào trong đời họ, dù họ lựa chọn thái độ nào, hợp tác hay bất hợp tác, thì đó cũng là những nhân cách lớn, những trí tuệ lớn và những bản lĩnh văn hóa đáng nể trọng. Họ biết rõ họ làm việc vì ai, vì cái gì. Nhân loại đã được hưởng lợi rất nhiều từ sản phẩm của lao động trí óc của họ.

Sự (tự) bần cùng hóa về tinh thần, về đời sống trí tuệ đã khiến cho đa phần giới lao động trí óc Việt Nam hiện nay mất dần các phẩm chất tư duy, mất cả năng lực làm việc trong lĩnh vực chuyên môn hẹp của mình, mất luôn cả bản lĩnh văn hóa, cả ý thức về sự đúng sai, cả phẩm chất đạo đức công dân. Tự giữ cho mình trong sạch, chuẩn mực còn khó, nói chi đến chuyện dám đứng lên bảo vệ công lý, bảo vệ nhân tính! Do vậy mà thuật ngữ « trí thức trùm chăn » cũng chưa hẳn đã xác đáng. Bởi lẽ trí thức trùm chăn dù thơ ơ với thế sự thì ít ra cũng còn giữ được căn cốt của người trí thức.

Vấn đề quan trọng đặt ra cho giới lao động trí óc Việt Nam hiện nay là làm thế nào để thoát ra khỏi tình trạng bần cùng hóa cả về vật chất lẫn tinh thần. (Nếu nhìn vào các dấu hiệu của tài sản thì có vẻ như một số người thuộc giới lao động trí óc đã thoát khỏi sự bần cùng hóa về vật chất, nhưng nghịch lý là ở chỗ: phương thức mà phần lớn trong số đó sử dụng để thoát nghèo lại góp phần thúc đẩy quá trình bần cùng hóa về tinh thần ở họ. Điều này sẽ được đề cập vào một dịp khác.)

Nhưng có lẽ vấn đề còn quan trọng hơn là làm thế nào để, nếu không phải toàn bộ thì cũng là phần lớn, giới lao động trí óc của chúng ta mong muốn thoát khỏi tình trạng bần cùng hóa ấy, nhất là thoát khỏi sự bần cùng hóa về tinh thần. Để tránh sa vào duy ý chí, cần nói rõ hơn rằng, dù « Muốn » chưa phải là điều kiện đủ, thì đó cũng là điều kiện cần. Hiện nay còn quá ít những người có mong muốn này. Một khi còn chưa có sự mong muốn, khi mà tình trạng chung là chấp nhận, chịu đựng và thỏa hiệp, thì việc đặt câu hỏi « làm thế nào » chỉ là một thứ xa xỉ phẩm mà thôi. Mong muốn là điểm khởi đầu giúp ta nhận ra rằng thực ra trong mỗi người đều có một nguồn năng lượng rất lớn. Cần phải để cho nguồn năng lượng đó được giải phóng để biến thành sức mạnh; giải phóng khỏi nỗi sợ hãi, khỏi những định kiến, khỏi sự ràng buộc và hạn hẹp trong nhận thức. Mong muốn là điểm khởi đầu giúp ta có thể đi tới chỗ đồng ý với John Stuart Mill rằng: « …nguồn gốc của mọi thứ đáng trọng trong con người như một thực thể có trí tuệ cũng như một thực thể có đạo đức, đó là phẩm chất sửa lại sai lầm của mình »[3], và càng đồng ý với ông hơn về nhận định: « Con người có khả năng sửa chữa sai lầm của mình bằng thảo luận và trải nghiệm. Không phải chỉ có bằng trải nghiệm không thôi. Phải có thảo luận để biết trải nghiệm cần được suy đoán ra sao. »[4]

Chỉ khi nào giới lao động trí óc có mong muốn thoát khỏi tình trạng bần cùng hóa này thì lúc đó họ mới nghĩ đến việc tìm giải pháp, tìm cách làm thế nào, khi đó họ mới có cơ may tìm lại được các giá trị của lao động trí óc. Bởi vì sự mong muốn sẽ kích hoạt trí não, sẽ khiến cho trí óc hoạt động, và sự hoạt động của trí óc là cách duy nhất giúp người ta tìm ra giải pháp tích cực nhất trong hoàn cảnh của mình. Như câu ngạn ngữ của người Pháp: « vouloir c’est pouvoir »[5], hoặc như Đam San của Tây Nguyên: « Ta sẽ đi tới nơi ta muốn ».

Vinh, ngày 24/1/2012

________________

[1] Vì muốn tập trung vào chủ đề chính của bài viết, chúng tôi sẽ không đề cập đến một hiện tượng, đó là một số người thuộc giới lao động trí óc ở Việt Nam, bất chấp sự khắc nghiệt của hoàn cảnh, đã không ngừng nỗ lực làm việc. Đến mức mà, có lẽ các đồng nghiệp nước ngoài của họ cũng khó có thể hiểu được họ lấy đâu ra sức lực để có thể làm việc như thế trong một điều kiện tồi tệ như thế.

[2] Xin kể ra đây một câu chuyện nhỏ mà người viết bài này từng chứng kiến khi còn ở Pháp : một sinh viên bậc master (tương đương với thạc sĩ ở Việt Nam) có cơ hội nhận học bổng làm tiến sĩ, nhưng cô ấy không nhận, và giải thích rằng, cô ấy tự thấy không có thiên hướng và không đủ khả năng làm nghiên cứu, vì thế cô ấy nghĩ rằng nên để suất học bổng đó cho người nào thực sự có năng lực và say mê nghiên cứu. Cô ấy sẽ tìm một việc phù hợp với trình độ và sở thích của mình. Trong ví dụ này ta thấy rõ những gì mà nền giáo dục Pháp đã đạt tới trong việc giáo dục con người. Những gì được Rousseau nói tới từ thế kỷ XVIII : « Con người thực sự tự do chỉ muốn điều gì anh ta có thể, và làm điều gì anh ta thích » (Emille hay là về giáo dục, bản dịch tiếng Việt của Lê Hồng Sâm và Trần Quốc Dương, NXB Tri Thức, 2008, tr. 95)

[3] John Stuart Mill, Bàn về tự do, bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Văn Trọng, NXB Tri Thức, 2005, tr. 56 .

[4] Như trên, tr. 56

[5] Muốn là có thể thực hiện được.

Bút Gà (chấp bút) Đinh Thế Huynh gởi ban tuyên giáo Tiên Lãng_HP

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2012/02/09 at 18:31

Tớ, Bút Gà, chấp bút cho (thủ) anh Đinh Thế Huynh của bộ hầu đồng (BCT) bình vôi[1] đảng CSVN, gởi lời phán của bà đến ban tuyên giáo Huyện ủy Tiên Lãng và TP Hải Phòng. Những tưởng lời bà phán trước Tết đã đủ cho các cậu hiểu nhưng sao các cậu đần thế. Các cậu chắc hẳn là lũ đần ông nên bà lại phải cho uống nước “thánh” (vật) vậy.

Trước nhất bà hỏi có phải thằng Đại (tá) Ca này ăn phải ka ka hay vui vẻ úp mặt vào cái lá đa nên phát ngôn ô uế thối um cả đền bà. Bà nói là phải để cái thằng này thánh vật mới chừa tật. Vừa chưa hết cái họa mồm[2] hôm nọ nay lại văng miệng (miểng). Thế này thì đến chết thôi.

Ối giời ơi, cái thằng thánh vật mà không chết này thì bà phải vời cô hồn các đảng làm thịt mày mới được! Mày hại bà rồi! Làm sao mày lại nói nhà của Vươn là chòi. Thế thì chết bà rồi! Bao nhiêu năm qua các anh mày thu hồi đất đai, lấy đất, lấy ruộng, đào mồ xới mả nhân dân bị kiện cáo đầy trước cửa phủ bà. Giờ nếu nhỡ bọn mất đất, mất ruộng, mồ mả ông bà ấy chúng chỉ xin bồi thường theo tiêu chuẩn lượng giá “cái chòi anh Vươn” thì các anh mày phải chết giở thôi!


Bà đã cảnh báo anh Huynh nhà mình chớ khinh suất để mất chủ động. Cần phải biến hóa mọi việc từ thủ sang công, đổi công thành tội, bóc tách đổ lên đầu anh em nhà Lê văn Hiền, Lê văn Liêm. Đứa nào dại đỡ đòn bao che thì ta đem làm dê tế thần luôn thể. Tuyệt đối cô lập ranh đe “thuần hóa” anh em nhà họ Đoàn với con ngáo ộp “thế lực thù địch” là chúng tịt ngòi ngay thôi nhé.

Bà nói thế đấy. Nghe thấu chửa? Đã qua Tết, xong chuyện khánh tiết đón tiếp lính anh, lính chị địa phương về thăm viếng gởi phong bì chúc Tết anh Huynh, nên Bút Gà tớ đây mới có tí thì giờ ngoáy hũ cáy chấm bút (mút) chút đỉnh. Các cậu biết là anh Huynh đã giao ban báo chí đầu năm[3] vào cuộc định hướng đỡ đòn. Anh giao cho 6 nhiệm vụ, tất cả tập trung vào “tuyên truyền” cho cái bình vôi (BCT) của bà. Anh gởi lời của bà trước nhất là tập trung tuyên truyền kỷ niệm ngày mở phủ (3/2), học tập và làm theo gương đạo đức/đ. (tên đệ tử con cầu tự) Hồ Chí Minh.

Đồng thời anh Huynh đã gài khung “Hành vi chống người thi hành công vụ” rồi đấy. Anh Ba Dũng (a hèm, đại biểu quốc hội của tỉnh cảng Hải Phòng) cũng đồng điệu góp lời trong công điện số 57 yêu cầu “Xử lý nghiêm trường hợp chống đối người thi hành công vụ”. Cứ quán triệt, nhất trí như thế mà làm. “Việc báo chí đưa tin, phân tích đa chiều vụ cưỡng chế” cũng chỉ là đánh bùn sang ao trong hệ thống luật lệ (lệnh)[4] nhà nước đảng ta.

Anh Huynh nhà mình cũng đã điện về cậu Vũ Hồng Chuân, Trưởng ban Tuyên giáo huyện ủy, triệu cuộc mít tinh quán triệt thời sự tại Đảng bộ thị trấn Tiên Lãng. Toàn thể đảng viên Huyện Tiên Lãng “thống nhất về mặt tư tưởng”, “giữ vững lập trường” là “ông Vươn … đã chọn giải pháp chống người thi hành công vụ là vi phạm cực kỳ nghiêm trọng về luật pháp”. Việc cưỡng chế, thu hồi đất về cho bà là chuyện thường ngày ở huyện, như chuyện cái đêm hôm ấy đêm gì[5]. Bà khoán đất cho chúng thì bà đòi lại thế thôi. Không thể để vụ tay Vươn này trở thành một tiền lệ trong “nhà nước pháp quyền” chuyên chính đảng ta.

Anh Huynh cũng từng nhắc đi nhắc lời phán của bà để các cậu thấu triệt thế này. Cái câm lặng cần thiết cho việc trị dân. Đừng để cho “cây tỏi nổi giận”[6] và chước sách hữu hiệu là bịt miệng nạn nhân. Thế chứ lị. Ta đã bịt miệng nạn nhân tập thể rồi đấy. Bằng cách cho chúng tự do tha hồ gởi khiếu kiện tới đủ cơ quan ban ngành và địa phương, cho báo chí lề phải tha hồ báo cáo tường thuật, cho cụ Lê Đức Anh ngay lập tức ra mặt la làng la xóm là các cậu Tiên Lãng làm quấy. Từ Huyện tới Tỉnh, từ Thành phố đến Trung ương, từ Mặt Trận đến Quốc hội theo kiểu đèn cù hội chứng Lục Vân Tiên[7]. Cụ Hiền Đức với núi hồ sơ dân oan khiếu kiện cầm đèn chạy trước nhưng ô tô Thanh tra nhà nước cứ phanh trước nhà hàng Long Đình nhận tí trà nước thì đã sao nào. Ta đã bịt (miệng) nòng súng hoa cải trao (tráo) anh Vươn cái loe đài “Em sẽ khai thành khẩn, em nhận thức việc đó là sai” và “Đảng và nhà nước khoan hồng cho em và người thân của em.” thế là xong.

Bà cảnh cáo rằng thì là dù tiếng súng hoa cải lẹt đẹt nhưng âm vang và đồng hưởng rất to vì số dân oan vô vàn khắp nơi trên toàn cõi đất nước[8]. Khi ấy ta phải cần những phèng la, trống ếch, chuông mõ ồn ào nhiễu động để át tai và đánh lạc hướng.

Phương pháp đánh lạc hướng một cách chủ động là tổ chức “tuyên truyền về các lễ hội” nhất một. Đây là một trong 6 nhiệm vụ hàng đầu của báo chí. Đấy là việc có lợi vô vàn. Tất cả những gì về truyền thống, dân tộc sẽ được gán ép, gắn liền với đảng và nhà nước ta. Cùng lúc ta tạo dựng được cái bình phong xã hội hạnh phúc, vui chơi trong chốc lát để chẳng ma nào để ý đến những khổ đau, xấu xa, bất cập diễn ra trước mắt ngày ngày. Và hơn hết ta lôi kéo, mê hoặc, mị dân hao mòn năng lực vào cái đình đám, vô hình (ăn mày dĩ vãng theo Bà) và quên nhãng đấu tranh cho công bằng xã hội trong hiện thực.

Phương pháp đánh lạc hướng khác cũng không kém phần rôm rả, có vẻ như “ngẫu hứng qua cầu” là (phản) phản biện[9] của giới trí thức/trí ngu/trí ngủ, trùm chăn/bó chiếu/giăng mùng. Ta kích cho chúng thỏa thê gây sóng gió với cơn bão trong tách trà[10] (he he he, cái này phải cần Bổ đề toán mới giải ra hết) cho đến khi chén nước nguội dần thì ta nốc cạn.

Ta mặc cho chúng trăn (chăn) trở để lương tâm lâu lâu được giũ bụi, phơi nắng khỏi bị mốc meo mắc bệnh hắc lào. Đám “nói và làm” như Điếu Cày, Phạm Thanh Nghiên, anh Ba SG, Cù Huy Hà Vũ, Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Trần Huỳnh Huy Thức, Tạ Phong Tần, Bùi Thị Minh Hằng, Đoàn Văn Vươn dám thách thức bà thì đã được giải quyết nhanh chóng rồi. Còn các cụ/cựu, nguyên/ngơ, nghị/nghễnh xôi oản một (nhất) thời, phát ngôn (ngông) nhiễu động cũng rất cần thiết cho cái “dân chủ đầu mưng mủ” đảng ta.

Ta để cho các cậu (chậu) kiểng Mặt Trận vờ vịt (mờ mịt) hoắng lên “Nếu mà xử lý không đúng mực thì chúng tôi sẽ có tiếng nói, sẽ có hành động để phản ứng lại.[11] Những đảng viên la toáng “xấu hổ” vẫn ôm bình bát (bình vôi) khất thực cửa đền. Bà đẻ đứa con hoang Mặt Trận để ôm tráp cho bà thì đố (bố) nó bảo vệ cho ai đấy! Các cậu ấy biết tỏng tòng tong rằng-thì-là các anh nhà mình đã be bờ thì ngọn đầu sóng vũ bão lẻ loi cũng là chuyện nhỏ như con thỏ. Có mà cả ngàn con sóng nhỏ cùng dồn dập không ngừng thì các anh mày mới kệch. Ối dào, anh Ba phù phép “quả đấm thép” Vinashin tái cấu trúc thành “bột bánh bao” tha hồ rút/đút ống mà có thấy thằng nào ló mặt “hành động để phản ứng lại” đâu.

Bà sai tớ phải luôn nhắc nhở nhân dân quán triệt “chân lý” bà là chủ đất (nước) từ cái thời cướp chính quyền. Đó là một “khách quan lịch sử” và “ơn đảng, ơn chính phủ” đời đời phải tạc ghi chứ lị. Sở hữu toàn dân có nghĩa là dân chỉ toàn có tiếng còn bà thì được trọn nguyên miếng. Đứa nào nói bà cướp đất[12] là mắc tội phỉ báng và đáng đi nằm nhà đá. “Sở hữu toàn dân” là đỉnh cao trí tuệ của đảng (cướp) ta nằm ở đuôi của cái gọi là kinh tế thị trường “định hướng xã hội chủ nghĩa”. Chừng nào mà nông dân vẫn tự nguyện làm “nhân dân” khoán hộ đất bà và khối công nhân, người dân thành thị luôn xin xỏ cầm sổ đỏ thì vận của bà vẫn thông hanh.

Năm nay là năm con rồng. Rồng đất/nước cỡi đầu ngọn sóng (Tiên Lãng) khó mà thuần hóa được. Bà thuộc cõi âm, lại khắc tinh con rồng nên mệnh yểu và cần lính anh, lính chị các cậu hết lòng bảo vệ. Các cậu sểnh vụ này bể bình vôi thì mất lộc, hết thóc đi ăn mày đấy.

Bút Gà


[6] Cây Tỏi Nổi Giận, tiểu thuyết của Mạc Ngôn

[7]Vân Tiên cõng mẹ chạy vô, đụng phải Thanh tra cõng mẹ chạy ra.
Vân Tiên cõng mẹ chạy ra, gặp ma Ba Đình cõng mẹ chạy vô.”


Chuỗi bài:


[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu  – (8) Gió mưa là chuyện của trời …  – (9) Vô liêm sỉ – man rợ – (10) Phế-anh-hùng – (11) Luật Lệ(nh) … (12) Nhà em có nuôi một con két … (13) Cái nhà là nhà của ta … (14) Mèo – thỏ]

 

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2012/02/09 at 16:15

 

Người Buôn Gió

Theo blog Người Buôn Gió

Năm Tân Mão. Nước Vệ triều nhà Sản năm thứ 66, đời Vệ Kính Vương thứ nhất.

Năm đó loạn khắp nơi. Mùa hè đến suốt mùa thu năm Tân Mão dân sĩ kinh thành tụ họp phản đối chuyện Tề chiếm lãnh hải, việc đó kéo dài đến mấy tháng. Sau này triều đình mới tóm người nổi bật trong đám ấy là một nữ nhi, tống vào trại giáo dục như trại tù. Chuyện đó mới tạm yên.

Từ khi con cháu của khai quốc công thần là Cù tiến sĩ bị đưa ra xét xử vì tội mưu phản triều đình. Nước Vệ càng rối ren hơn. Ngay sau khi xử, triều đình tầm nã ráo riết, bủa lưới khắp nơi bắt thêm vài chục mống thanh niên với tội mưu phản, đến đầu năm sau lại bắt thêm nhóm khác ở phía Nam thuộc phái Công Luận Công Án đến cả chục người cũng tội mưu phản.

Bấy giờ ở đất Lãng ven biển, có người họ Đoàn thi đỗ cử nhân không làm quan bỏ về quê ra công lấn biển, đắp đê, quai đập ròng ra mười mấy năm trời. Cơ nghiệp cha ông để lại cùng mưu sức dồn cả vào đó. Lập nên một trang trại mênh mông, dân trong vùng nương nhờ con đập mà ổn định sự sống. Tưởng đâu đời sống thái bình, chí thú làm ăn đến lúc tuổi già.

Ngày nọ quan anh đất Lãng là Lê Liêm Khiết cùng quan em là Lê Hiền Lành đi tuần thú, thấy đất đai của Đoàn màu mỡ, thẳng cánh cò bay. Quan anh mới hỏi quan em rằng.

Ơ! đất đâu ra mà ngon thế nhỉ?

Quan em thưa.

Đất này do Đoàn cử nhân, lấn biển mà có. Nay họ Đoàn đang sử dụng.

Quan anh.

Thế tên Đoàn cử nhân ấy sống có biết lẽ trời không?

Quan em.

Tên họ Đoàn ấy ỷ công sức lấn biển, coi thường quan sở tại, hàng năm không có cống nạp gì. Gặp quan lại trong quán chỉ dương mắt mà nhìn. Thật vô lễ. Lẽ đời còn chưa biết, nói chi là lẽ trời.

Quan anh nói.

Nhà Sản chúng ta thay trời hành đạo, cai trị đất nước này đã mấy chục năm. Bốn cõi phẳng lặng, yên bình, ấy là do chúng ta hành đạo sâu sát, khiến dân chúng ý thức được bổn phận con đen. Anh em chúng ta là quan nhà Sản tức là vâng mệnh trời mà hành đạo. Sao để có đứa vô lễ như vậy. Nếu không làm cho ra nhẽ, đứa khác a dua theo, chúng ta còn mặt mũi nào mà cầm thẻ ngà nhà Sản mà hành đạo nữa. Mau ra lệnh thu hồi gấp để giao đứa nào biết lễ nghi sử dụng.

Thế rồi kẻ nách thước, người tay đao, súng ống tề tựu dưới sự chỉ huy của anh em nhà quan sở tại họ Lê, ngày nọ dẫn cả đám kéo đến trang trại nhà họ Đoàn thu hồi đất. Họ Đoàn thấy đám nọ xâm phạm đất nhà mình,từ xa bèn lấy súng đạn ghém bắn dọa chơi một cái. Khiến quan quân sợ vỡ mật, ôm đầu mà chạy. La đến tận hàng tổng, khiến quan tổng binh thành Hoa Cải là Đậu Ka phải vận dụng hết binh pháp, sáng tạo thêm lối đánh tài tình. Trên bến, dười thuyền, thủy bộ toàn dùng quân đặc nhiệm nhịp nhàng tác chiến do Ka trực tiếp chỉ huy. Đến nơi khai hỏa, khói súng mịt mù trời đất, rồi xông vào thì chả còn ai. Quan sở tại họ Lê nhân lúc đó bèn cho người bắt chó, bắt cá, đập phá nhà cửa khiến cơ ngơi mấy mươi năm họ Đoàn thành bình địa, vườn không nhà trống. Triệt luôn tang tích, dấu ấn của họ Đoàn.

Họ Đoàn ra đầu thú, quan tổng binh trấn Hoa Cải là Đậu Ka bắt cả họ vào ngục, sau thả vài mống đàn bà về. Anh em nhà họ Đoàn bị giam vào ngục vì tội có ý giết quân triều đình. Tiếng tăm vụ án này bay khắp nước, nhân sĩ, quan văn, lão thành, cựu chiến binh nghe thấy đều bất bình với hành động của quan sở tại đất Lãng làm đơn khiếu nại, rồi bàn tán bất bình.

Vua tôi nhà Sản họp cả tháng trời không biết quyết sao. Lúc đang phân vân, dằng co tính định thì lão khai quốc công thần mới sốt ruột gửi tờ hối thúc. Tờ đó ý rằng cả năm nay nhà Sản bắt bao người dân thường, trí sĩ với tội mưu phản, khiến lòng dân đã hồ nghi sao lắm người làm phản thế. Nay lại chính quan lại nhà Sản cũng gây phức tạp thêm, nếu không quyết xử thì người ta lại đổ tại là vì quan lại ác bá mà dân làm phản.

Triều đình nhà Sản nghe thấy cao kiến, bèn quyết định bãi chức anh em nhà họ Lê đất Tiên Lãng. Việc rành rành cả tháng trời mới quyết xong, bàn đi tính lại mãi. Ấy cũng bởi cách làm phân vân giữa luật và lệ. Phàm khi dân phạm luật thì có án ngay, quan lại phạm luật dùng dằng để cả năm chưa xong. Vụ xứ Lãng nhờ dư luận gay gắt thế mà cũng phải mất tháng trời.

Thế mới biết, nhà Sản hành đạo thì hay, nhưng hành pháp vẫn còn lúng túng lắm.

 

Cùng tác giả:

Người Buôn Gió – Tái cơ cấu thần chưởng

Người Buôn Gió – Đêm dài biên ải

Người Buôn Gió: 18-3 trại Thanh Hà

Người Buôn Gió – Người Nông Dân Nổi Dậy

Người Buôn Gió – Hóa ra đều ăn cắp hết

Người Buôn Gió – Đi tù và đi cải tạo

Người Buôn Gió – Con trâu của ai?

Người Buôn Gió – Hà Nội trong mắt ai

Loạt bài Đại Vệ Chí Dị:

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị – Mọi sự quái đản đều là do… thế lực thù địch

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị: Cứ đổ cho thế lực thù địch xúi dục là OK!

Phó thường dân (14): Mèo – thỏ

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Thế giới, Việt Nam on 2012/01/20 at 11:36

 
Còn hai ngày nữa là tới Tết nhưng chẳng thấy hơi hướng mùa Xuân đâu ở cao nguyên tình xanh vùng Tây bắc Hoa-kỳ này. Dự báo thời tiết cho mùa đông lạnh cóng (hiệu ứng niña) năm nay làm ai cũng phải cười khỉnh vì qua lễ Tạ ơn và Noel nhưng chẳng thấy tuyết đâu. Đùng một cái. Trời đổ tuyết liên tục không dứt vào mấy ngày cận Tết. Trường học, công sở thì đóng cửa. Chẳng ma nào dám lái xe trên đường phố đang đóng băng dầy trơn trợt. Phó thường dân cũng đành ru rú ở trong nhà. Muốn phát sốt (cabin fever)!

Thấy tuyết đổ nhiều chẳng ưa gì nhưng trong lòng phó thường dân tui cũng một phát thở phào mừng thầm. Chỉ gần hai tháng trước phó thường dân đã thay cái mái nhà lợp gỗ tuyết tùng (cedar shake) đã cũ kỷ, cong chênh và chớm mục bằng lớp mái loại tổng hợp (composite shake). Bây giờ thì yên tâm ăn Tết chẳng phải âu lo thấp thỏm nơm nớp sợ nhà bị dột.

“Vô tư” nên phó thường dân tui ngô nghê ngoảnh lại năm mèo đang đỏng đảnh bước qua trước mặt. Chợt nhận ra con mèo (Việt Nam) thì khác xa với con thỏ (Trung Quốc) trong số 12 con giáp à nha.

Theo sinh vật học và chủng loại thì mèo, cọp (tiger, cougar), beo, báo, sơn miêu (lynx) và cả sư tử cũng đều nằm trong họ nhà mèo (cat). Hóa ra chú mèo ta tuy nhỏ nhưng được lấy tên làm cả họ mèo. Tuy ở ta thì mèo được gọi là tiểu hổ (theo TQ?) nhưng ở Tây thì cọp, beo, và ngay cả sư tử lại được ví chung/gọn là mèo lớn (big cat).

Thỏ thì chắc ai cũng biết rồi, nhát như thỏ. Thỏ được mỗi biệt tài là chạy nhanh nhưng vốn ỷ y, nhởn nhơ nên tới đích còn sau cả con rùa. Còn mèo thì có tính độc lập, tự chủ, không dễ bị sai khiến, không theo bầy đàn. Nói theo người Mỹ, trong thành ngữ “việc khó như chăn mèo” (It’s like herding cats) là đủ phô trương trích dụng bản tính độc lập của loài mèo.

Những ngày cuối năm Mão này khi phó thường dân ngó lại cũng thấy y chang nhiều sự kiện biến chuyển dạng theo tính khí của con mèo hơn là con thỏ.

Trước hết phải kể đến những biến động lịch sử trên thế giới vào đầu năm như Cách mạng hoa nhài, mùa Xuân Ả-rập ở Tunisia, Ai-cập, Libya, và láng giềng Miến Điện. Các diễn biến này hiện lộ mồn một đầy tính “mèo”: độc lập, tự chủ. Người dân ở các nước độc tài kể trên không còn chịu sống trong áp bức, thiếu tự do mãi. Họ quyết định vùng lên để giành sống đời tự chủ bất chấp hiểm nguy chưa đo lường trước được.

Riêng tại Việt Nam ta thì người dân dù biết mình thấp cổ bé miệng chỉ là con giun, cái kiến trong một thể chế độc tài nhưng cũng đã mức mực thể hiện lòng dạ can đảm. Họ quá bức xúc trước các hành vi bá quyền Trung Quốc xâm lấm biển Đông, bách hại ngư dân đã xuống đường hàng loạt vào mùa hè để biểu tình phản đối chính quyền TQ. Khẩu hiệu Hoàng Sa-Trường Sa-Việt Nam đã được trương cao và tung hô công khai trên đường phố Sài Gòn và Hà Nội. Người biểu tình kiên quyết lên tiếng hơn 11 lần bất chấp đàn áp, cưỡng chế, hành hung, giam cầm của nhà cầm quyền đảng CSVN. Họ phản kháng dù biết mối đe dọa tù đày[1]. Vì chỉ có những con bò thì mới chịu bị “chăn dắt” chứ mèo cũng không chịu, nói chi là con người[2].

Đảo mắt dần tới cái tháng cuối năm con mèo này thì có ai không biết tới biến cố sôi sục Đoàn văn Vươn[3] chống trả lực lượng cưỡng chế của quan/quân huyện Tiến Lãng. Những người dân lành chỉ biết cặm cụi lo làm lụng kiếm ăn một khi bị dồn vào chốn đường cùng cũng không thể làm gì khác hơn là vùng dậy dù rằng họ đã bị “tuyên huấn”, “định hướng”, “chỉ đạo” khá thuần (Đỗ Hữu Ca, Giám đốc Công an Hải Phòng trong khẩu khí khinh bôi “Từ sau hòa bình đến nay, người dân Tiên Lãng khá thuần nên huyện nghĩ rằng không có việc chống đối như thế[4]). Họ vươn lên như “những con giun xéo mãi cũng quằn” kháng cự lại một thể chế với guồng máy và hệ thống đầy tính bạo động. Làm sao mà buông xuôi, không chống trả cái tập đoàn tội phạm cơ “cấu” trong đảng CSVN nối kết, giật dây xã hội đen cướp của, cướp đất mà họ đã gầy dựng bằng mồ hôi và máu thịt cho được?  Những chuyện động trời ở Tiên Lãng[5] bị lộ hàng này phải chăng chỉ là mảng băng nổi của bao chuyện thường ngày ở huyện.

À mà chút xíu nữa là quên vì bực giận. Phó thường dân nãy giờ chỉ nói về mèo mà hổng nhắc gì tới thỏ thì thiệt là không công bằng. Các chuyển động rần rần hàng ngày ở bộ sậu (BCT) đảng CSVN có khác gì hiện tượng “thỏ” với hành xử nhút nhát, luồn cúi, khiếp nhược với Trung Quốc. Những thỏ thò thụt, thin thít với “tàu lạ” mà người dân nhận rõ bản chất của họ là “Hèn với giặc ác với dân”[6]. Những kẻ mà Hoàng Sa-Trường Sa, bô-xít Tây nguyên, khoán hộ trăm năm rừng đầu nguồn, tham nhũng PMU, Vinashin, chứng khoán đứt phanh[7], doanh nghiệp phá sản cùng với lạm phát[8] và giá cả tăng phi mã tất tật đều là “chuyện nhỏ như con thỏ”.

Phó thường dân nói đến đây chợt nhớ một chuyện nhỏ như con thỏ khác ở nước Mẽo này xin kể bà con nghe chơi nha. Đó là chuyện triệu hồi chức vụ (recall election) các viên chức nhà nước dù được dân cử trước đó nhưng nay cử tri không còn tín nhiệm mặc dù nhiệm kỳ chưa quá đát. Điều kiện thực hiện tiến trình triệu hồi này khác nhau tùy theo địa phương nhưng thể thức chung tương đối đơn giản. Chỉ cần thu thập đủ mức số chữ ký của cử tri trong địa hạt bầu cử (Thống đốc và dân biểu tiểu bang, Thị trưởng và Nghị viên thành phố, v.v…) là có được sự thay đổi. Nghĩa là chuyện nhỏ như con thỏ.

Một ví dụ điển hình nhất là vụ triệu hồi chức vụ Thống đốc Tiểu bang Wisconsin, ông Scott Walker. Nguyên nhân chỉ vì ông ta thông qua đạo luật hủy bỏ quyền thương lượng tập thể (collective bargaining rights) của nhân viên nhà nước (public employees). Các hiệp hội lao động cùng với dân chúng, cử tri ở Wisconsin kết hợp tổ chức cuộc triệu hồi. Họ vận động qua truyền thanh, truyền hình, các trang mạng và facebook[9] với kết quả là đã thu thập trên 1 triệu chữ ký, gần gấp đôi con số đòi hỏi cần thiết. (Nghĩ tới đây lại nhớ và thương ba em Đỗ thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương, và Nguyễn Hoàng Quốc Hùng tranh đấu cho người lao động mà phải bị tù đày khổ sai đang bị hành hạ từng ngày.)

Riêng trong năm 2011 đã có 150 cuộc triệu hồi chức vụ ở Hoa-kỳ, kết quả là một nửa số 75 dân cử bị truất chức và 9 vị khác từ chức (cho đỡ mất mặt) trước mối đe dọa bị triệu hồi[10]. Cơ chế bầu cử dân chủ và pháp luật ở xứ tự do thì như thế chứ còn ở đất nước độc tài, độc đảng của Đảng CSVN thì dù dân chúng có chán ngán, bất tín nhiệm muốn truất phế thì cũng đành bótay.com. Chỉ có những quả bom Đoàn Văn Vươn[11] đầu ngọn sóng nổ tung mới đổ sập được bức tường nhà tù nô lệ.

Hồn thiêng ngàn năm Thăng Long vẫn còn trên đất Việt. Lòng dân Việt Nam đang trong vận hội mới muốn khai phóng vươn dậy tháo gỡ gông cùm độc tài chuyên chế.
 
© 2012 Vietsoul:21
 
[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi (2) Nôị-thực-dân (3) Sợ (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông (5) Con dân – con cá – cò mồi (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng (7) (Vô) Hậu  (8) Gió mưa là chuyện của trời …  (9) Vô liêm sỉ – man rợ (10) Phế-anh-hùng (11) Luật Lệ(nh) … (12) Nhà em có nuôi một con két … (13) Cái nhà là nhà của ta …  (15) phố vẫy (16) Mít tờ Đàm và Bác Hồ (17) Nín thở qua cầu (18) Bán Thân – Bán Thận – Bán Thần (19) Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm]


[10] Recall Election, wikipedia

Bút Gà (chấp bút) Đinh Thế Huynh gởi các Huyện ủy

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2012/01/15 at 20:16

Tớ, Bút Gà, chấp bút cho (thủ) anh Đinh Thế Huynh của bộ hầu đồng (BCT) bình vôi[1] đảng CSVN, gởi lời phán của bà đến các cô/cậu Bí thư, Chủ tịch Huyện. Chuyện thường ngày ở huyện mà các cậu làm ăn bát nháo thế nào lại đến tai bà.

Lê Văn Hiền, chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng

Bà hỏi rằng các cô/cậu Bí thư, Chủ tịch Huyện múa may gì mà chúng lại bơi móc, lôi cả tên của bà ra mà xỉa xói như vậy.  Bà bảo là bà chỉ có ba đầu sáu tay chứ đâu phải như Quan Âm nghìn tay nghìn mắt để độ hết thủ nhang, đồng đèn, lính anh, lính chị khắp chốn địa phương. Vụ cưỡng chế Đoàn văn Vươn đất Tiên Lãng[2] này thì bà đã trước sau như một quy trách nhiệm “dân của mày thì mày về mà giải quyết”[3] đấy nhá. Bà đã khiển/khiến anh Huynh nhà mình từng huy động lực lượng “chức năng” 4T “bảo vệ đảng” thì cớ sao chúng bây lại bôi bác lấy thúng úp voi để lộ hàng tuồn tuột.

Ví như phải là đám ăn đóm theo tàn thì các cậu không cần kiêng nể, e dè vì bà nắm cái hầu bao chúng, bà khiển được qua việc lên xe xuống ngựa. Còn cái tên Vươn, kẻ khốn trong bước đường cùng thì các cậu vây vào để mắc họa thì đừng than. Giờ thì cái loa định hướng thằng đệ tử Huynh, thằng anh chúng mày đấy, phải cô lập và bóc tách anh em nhà Lê văn Hiền, Lê văn Liêm ngay. Phải vu ngay cho chúng là mất lập trường (cường hào), hủ hóa (ác bá) địa phương. Định khung chúng là thành phần (gian dối) lý lịch bất hảo từ thời Pháp thuộc chứ chả phải vì quán triệt “đạo đức Hồ Chí Minh” mà áp bức, bần cùng hóa nông dân.

Bà đã phán từ xưa đến nay rằng thì là xây khối đền đài, mở phủ (lễ hội) soèn soẹt thì phải tốn thóc, tốn cơm. Bà lại còn phải nuôi lắm đám từ thủ nhang, đồng đèn, lính anh, lính chị đến cả dàn chầu văn chuyên lo hầu bà chứ. Tốn hao nhất thì nào khỏi ngoài khoản chi cho cái dàn chầu văn mà thằng đệ tử Huynh anh mày đảm đương đấy. Chúng đờn ca, hát hỏng tất tật mới chèo kéo, mê hoặc, mị dân để nhất bộ, nhất bái phủ phục bà.

Bán đất (nước), đào mỏ (mả) mà ăn thì cũng hao hụt nên giờ ta phải lấy đất từ đám bần cố nông thôi[4]. Đứa nào nói bà cướp đất[5] là nói ngoa đấy, bà là chủ đất (nước) từ cái thời cướp chính quyền chứ lị. Công lao (quần) chúng tham gia khởi nghĩa, cách mạng được đền bù thế là đủ rồi. Giờ thì phải giả lại cho bà chứ. Bà đã giải phóng chúng, cởi trói khỏi phải làm hợp tác xã lao động nay thả rông cho làm lao động tự do cửu vạn, ô sin[6] thoải mái thế mà còn trách móc gì.

Bà biết. Ngay cả Hitler, Stalin, Pol Pot, Mao Trạch Đông (Bác Hồ ta đó chính là bác Mao[7]) cũng đâu thể một mình tàn sát, giết người trong tội phạm diệt chủng. Họ phải có sai nha cần mẫn, tận tụy, và trung thành thực thi cái sát lệnh. Hendrich, Himmler, Beri, Duch (Kaing Guek Eav) là những cánh tay đắc lực thực hành chính sách bạo tàn. Bà nuôi bao đứa ròng rã suốt hơn sáu mươi nhăm năm rồi chứ ít ỏi gì. Bà cưng nhất là cái thằng đấu tố (Hữu), “giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ”[8] để gom hết đất (nước) vào tay bà. Thằng đệ tử anh Huynh nhà mày chỉ đáng xách dép cho đệ tử ruột Tố Hữu của bà thôi con ạ. Nó chỉ có nói được mỗi một câu “Việt Nam không có nhu cầu đa đảng”[9] là mát lòng bà, ngoài ra thì có được tích sự gì.

Bà nhắc các cô (cậu) phải hiểu là cái câm lặng cần thiết cho việc trị dân. Đừng để cho “cây tỏi nỗi giận”[10]. Câm lặng là điều chúng ta cần vì khi những tiếng nói cùng nhau trỗi dậy thì cái loa phường của anh Huynh nhà mày chắc không át nổi. Nếu chúng không cảm thấy bị cô thế thì ắt chúng vùng lên chống trả và không khuất phục trước bạo lực. Câm lặng là điều chúng rất sợ: “vì rốt ráo thì chúng ta không sợ lời thâm độc của kẻ thù, nhưng cái câm lặng của bạn bè, hàng xóm láng giềng.”[11]

Bà nhắn các cô (cậu) Bí thư, chủ tịch Huyện phải ngừng ngay các hoạt động cưỡng chế trong thời gian này. Cuối năm là lúc để những đứa đi cầu lộc, cầu tài được ơn mưa móc về dâng thóc đền ơn đáp nghĩa cho Bà. Chớ mà phiền đến bà nhé! (Anh Huynh nhà mình cũng căn dặn chớ phiền đến anh y hệt như Bà vậy, he he he). Các cậu thì khỏi nói cũng biết. Các cậu tham (ác) quá làm hỏng bát vàng của Bà.

Đấy. Bà bảo thế đấy. Cận Tết, tớ chả thêm bớt mắm muối hũ cáy gì vì phải lo khánh tiết đón tiếp lính anh, lính chị địa phương về thăm viếng gởi thiệp (phong bì) chúc Tết anh Huynh.

Bút Gà


[2] Quả bom Đoàn Văn Vươn hay là quyền sở hữu đất đai của công dân? Osin HuyDuc

[7] “Bác Mao không ở đâu xa, Bác Hồ ta đó chính là bác Mao”, thơ Chế Lan Viên

[8]Xin Đảng hãy ngừng tay giết!”, Tự Do Ngôn Luận

[10] Cây Tỏi Nổi Giận, tiểu thuyết của Mạc Ngôn

[11] “In the end, we will remember not the words of our enemies, but the silence of our friends.”

Martin Luther King Jr.


Chuỗi bài:


[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu – (8) Gió mưa là chuyện của trời … – (9) Vô liêm sỉ – man rợ – (10) Phế-anh-hùng – (11) Luật Lệ(nh) … (12) Nhà em có nuôi một con két … (13) Cái nhà là nhà của ta … (14) Mèo – thỏ]

Huy Đức – Quả bom Đoàn Văn Vươn

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2012/01/11 at 09:43

Ảnh blog Anhbasam

Khi lực lượng cưỡng chế huyện Tiên Lãng đến khu đầm, anh Vươn cho nổ trái mìn tự tạo cài dưới một bình gas. Bình gas không nổ. Nhưng, trái mìn tự tạo vẫn gây tiếng vang như một quả bom, “quả bom Đoàn Văn Vươn”. Vụ nổ không chỉ gây rúng động nhân tâm mà còn giúp nhìn thấy căn nguyên các xung đột về đất đai. Quyền sở hữu nói là của “toàn dân”, trên thực tế, rất dễ rơi vào tay đám “cường hào mới”.

Sự tùy tiện của nhà nước Huyện

Quyết định giao bổ sung 19,5 ha đất nuôi trồng thủy sản cho ông Đoàn Văn Vươn, ký ngày 9-4-1997, ghi thời hạn sử dụng là 14 năm tính từ ngày 14-10-1993. Theo báo Thanh Niên, ở thời điểm ấy, chính quyền huyện Tiên Lãng đã quy định thời hạn giao đất cho nhiều cá nhân, hộ gia đình rất tùy tiện: có người được giao 4 năm; có người 10 năm… Tuy thời điểm này chưa có các nghị định hướng dẫn chi tiết việc thi hành, nhưng Luật Đất đai năm 1993 đã nói rõ thời hạn giao đất nuôi trồng thủy sản cho hộ gia đình và cá nhân là 20 năm.

Theo Nghị định ngày 28-08-1999, nếu chính quyền Tiên Lãng không tùy tiện thì gia đình ông Vươn có quyền sử dụng phần đất này cho đến ngày 9-4-2017, tính từ ngày ông được huyện ký giao; tối thiểu cũng phải đến ngày 15-10-2013, nếu huyện “ăn gian” tính theo ngày Luật Đất đai có hiệu lực. Vấn đề là, cho dù đất được giao của gia đình ông Vươn hết hạn thì có phải là đương nhiên bị thu hồi để giao cho người khác như cách mà Tiên Lãng đã làm. Luật Đất đai 2003 quy định hạn điền cho loại đất nuôi trồng thủy sản là 3 hecta và với phần đất vượt hạn mức của ông Vươn có thể áp dụng Điều 35 để cho ông tiếp tục thuê như quy định đối với đất đai nông nghiệp.

Sở hữu toàn dân

Tuy dịch từ Hiến pháp 1936 của Liên xô, Hiến pháp 1959 của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn chưa “quốc hữu hóa đất đai”. Cho dù, từ thập niên 1960s ở miền Bắc và từ cuối thập niên 1970s ở miền Nam, ruộng đất của nông dân đã bị buộc phải đưa vào tập đoàn, hợp tác xã, đất đai chỉ chính thức bị coi là thuộc “sở hữu toàn dân” kể từ Hiến pháp 1980.

Theo Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc: “Trong bản dự thảo Hiến pháp 1980 do Chủ tịch Trường Chinh trình Bộ Chính trị vẫn đề nghị duy trì đa hình thức sở hữu, trên cơ sở khuyến khích 5 thành phần kinh tế. Theo tôi biết thì Bộ Nông nghiệp và Ban Nông nghiệp Trung ương cũng không đồng ý quốc hữu hóa”. Nhưng, ngày 10-9-1980, trong một bài nói chuyện trước Ban chấp hành Trung ương có tựa đề, “Hiến pháp mới, Hiến pháp của chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa”, Tổng Bí thư Lê Duẩn nói: “Nhân đây, tôi nhấn mạnh một điểm rất quan trọng trong Dự thảo Hiến pháp mới là chuyển toàn bộ đất đai thành sở hữu toàn dân. Đề ra như vậy hoàn toàn đúng với quy luật tiến lên chủ nghĩa xã hội”. Ông Nguyễn Đình Lộc, thành viên Ban thư ký của Ủy ban Soạn thảo Hiến pháp 1980, thừa nhận: “Khi đó, uy tín Lê Duẩn bao trùm. Mặt khác, nhiều người cũng không hình dung được bản chất của sở hữu toàn dân là quốc hữu hóa”.

Tuy chấp nhận quốc hữu hóa đất đai nhưng theo ông Tôn Gia Huyên, lúc bấy giờ là Vụ phó vụ Quản lý Đất đai, ông Trường Chinh chủ trương giữ nguyên hiện trạng chứ không tịch thu ruộng đất như điều mà Lenin đã làm với kulax ở Nga sau năm 1917. Ông Trường Chinh yêu cầu ghi vào Điều 20 của Hiến pháp 1980:“Những tập thể và cá nhân đang sử dụng đất đai được tiếp tục sử dụng và hưởng kết quả lao động của mình theo quy định của pháp luật”.

Khi Hiến pháp 1992 bắt đầu được soạn thảo, theo ông Phan Văn Khải: “Thủ tướng Võ Văn Kiệt và tôi muốn sửa Hiến pháp theo hướng, trao quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân nhưng không thành công, chúng tôi đành phải tìm ra khái niệm, trao 5 quyền cho người sử dụng đất”. Trong Đại hội Đảng lần thứ VII, vòng I, nhiều nhà lãnh đạo địa phương đã lên tiếng ủng hộ “đa sở hữu hóa đất đai”. Nhưng, ở cấp cao, theo Trưởng ban Biên tập Hiến pháp 1992, ông Nguyễn Đình Lộc: “Không ai có đủ dũng cảm đứng lên đòi bỏ sở hữu toàn dân, vì đó là một vấn đề nhạy cảm, đụng đến chủ nghĩa xã hội. Khi chuẩn bị bài phát biểu về Hiến pháp cho Tổng Bí thư Đỗ Mười, tôi có trình bày, nhưng ông Đỗ Mười nghiêng về sở hữu toàn dân. Ông tin vào điều ông Lê Duẩn nói, sở hữu toàn dân là quan hệ sản xuất tiên tiến. Ông Đỗ Mười tin, trước sau gì ta cũng tới đó nên cứ để vậy”.

Các nhà làm luật

Luật Đất đai 1993 đã trao cho người dân 5 quyền: sử dụng, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp và cho thuê quyền sử dụng đất. Nhưng, so với Hiến pháp 1992, Luật Đất đai 1993 có một điểm lùi. Hiến pháp ghi: “Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài”. Trong khi Luật chỉ giao đất cho cá nhân và chỉ giao có thời hạn. Ông Tôn Gia Huyên giải thích: “Thời hạn giao đất thực chất chỉ là ý chí chính trị, là sợi chỉ cuối cùng để phân biệt giữa sở hữu tư nhân và sở hữu Nhà nước”. Là ranh giới để trấn an những người vẫn còn tin, Việt Nam tiếp tục đi lên chủ nghĩa xã hội.

Nhưng, cái ranh giới tưởng có giá trị trấn an ấy đã lại rất mù mờ, mù mờ ngay trong đầu chính các nhà lập pháp. Tháng 7-1993, sau bốn buổi thảo luận trên Hội trường về Luật Đất đai, các đại biểu miền Nam đề nghị “giao đất lâu dài” như Hiến pháp 1992, trong khi các đại biểu miền Bắc và miền Trung lại tán thành giao đất có thời hạn; thậm chí có đại biểu còn đòi rút ngắn thời hạn giao đất xuống còn từ 10-15 năm. Trong tính toán của nhiều người, giao đất có thời hạn nghĩa là sau đó Nhà nước có thể lấy lại để giao cho người khác. Đại biểu Đặng Quốc Tiến, Bắc Thái, nói: “Đất ít, người đông, giao có thời hạn thì sẽ bảo đảm cho công tác điều chỉnh đất đai khi có biến động nhân khẩu”. Ông Nguyễn Bá Thanh, khi ấy là Chủ tịch Thành phố Đà Nẵng, đã rất hăng: “Đi nghĩa vụ quân sự 2 năm thì kêu dài, giao đất 20 năm thì bảo ngắn”.

Khi Luật Đất đại 1993 được đưa ra sửa đổi, Chính phủ đề nghị nâng thời hạn giao đất nông nghiệp từ 20 năm lên 50.

Trong hai ngày 14 và 16-11-1998, nhiều đại biểu cũng đã phản ứng, thậm chí còn có phần gay gắt. Chủ nhiệm Hợp tác xã nông nghiệp Đại Thắng, Đại Lộc (Quảng Nam) ông Trần Văn Mai nói: “Số nông dân chưa có đất đang trông chờ cho hết thời điểm 20 năm, bây giờ đã được 5 năm, còn 15 năm nữa họ sẽ được chia đất. Nếu bây giờ ta tăng thời hạn lên 50 năm sẽ là một sự hụt hẫng lớn của nhân dân với Đảng”. Theo cách hiểu của ông Trần Văn Mai: “Hoặc hết hạn 20 năm, hoặc người sử dụng đất chết, chúng ta sẽ thu hồi cấp lại cho những nhân khẩu phát sinh”. Nhưng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị, ông Nguyễn Đức Hoan đã phát biểu: “Đừng lo cho 20 năm sau không có đất để phân phối lại. Bây giờ ở ta 80% dân số làm nông nghiệp. Không lẽ 20 năm sau cũng 80%?”. Chủ tịch Hội nông dân tỉnh Đồng Tháp ông Trương Minh Thái cho rằng: “Đừng nghĩ chúng ta chỉ có thể điều phối ruộng đất ở nông thôn bằng cách thu hồi rồi chia lại. Chúng ta đã giao cho người dân năm quyền, họ có thể để thừa kế, hoặc sang nhượng cho người chưa có đất”.

Đất dân quyền quan

Năm quyền của người sử dụng đất sau đó được “pháp điển hóa” trong Bộ Luật Dân sự 1995 như các quyền dân sự. Quyền sở hữu, tuy “trá hình” này, vẫn là cơ sở pháp lý để hình thành thị trường địa ốc. Và trong giai đoạn đầu, nhờ tư vấn của World Bank, thị trường đã được điều hành bằng công cụ thuế. Cho dù do thuế suất quá cao, Luật Thuế Chuyển quyền sử dụng đất, ngay lúc ấy, đã khiến nhà đất đóng băng nhưng sử dụng công cụ thuế chính là thừa nhận giá trị các giao dịch dân sự liên quan tới đất đai. Tuy nhiên, chính quyền các cấp có vẻ như không mấy mặn mà với vai trò đứng ngoài. Các giao dịch, đặc biệt là mua bán đất đai đã bị hành chánh hóa: Nhà nước thu hồi đất của người bán rồi giao đất cho người mua. Thay vì thu thuế chuyển quyền, người mua phải đóng tiền sử dụng đất, đặt người có đất trong tình thế phải trả tiền hai lần.

Đỉnh cao của sai lầm về chính sách là Pháp lệnh 14-10-1994 và Nghị định 18, hướng dẫn thi hành Pháp lệnh đó. Theo Nghị định 18, các tổ chức không còn được giao đất có đủ các quyền như Hiến pháp 1992. Những doanh nhân tiên phong như Tăng Minh Phụng, Liên Khui Thìn, Trần Quang Vinh… đã vay hàng ngàn tỷ đồng để mua đất, sau Nghị định 18 phải chuyển những lô đất ấy thành đất thuê và chỉ được thế chấp ngân hàng theo giá trị số tiền thuê đã trả cho nhà nước. Khi bị bắt, cũng nhân danh “đất đai thuộc sở hữu toàn dân”, Hội đồng thẩm định do Nhà nước lập ra đã tính, có những mét vuông đất, giá không bằng que kem. Đất biệt thự đường Trần Phú, Vũng Tàu, mà chỉ được Tòa công nhận giá ba-trăm-đồng/m2. Khoản chênh lệch giữa giá thực mua và giá của Tòa được coi là thất thoát để buộc tội các doanh nhân này lừa đảo.

Trong tù, có lúc Minh Phụng nói với Luật sư Nguyễn Minh Tâm: “Xin luật sư hãy nhìn vào mắt em để xem em có phải là người lừa đảo?”. Ngày 12-7-1999, khi nghe Luật sư Tâm nhắc lại câu này Minh Phụng đã bật khóc trước Tòa. Cũng đầu tư vào đất đai cùng một phương thức tuy khác quy mô, nhưng, thái độ của Nhà nước với giá đất đã biến ông Lê Văn Kiểm, Huy Hoàng, thành anh hùng và tử hình ông Tăng Minh Phụng.

Danh chính ngôn thuận

Đầu tháng 12-2011, Chính quyền Đà Nẵng nơi ông Nguyễn Bá Thanh là Bí thư kiêm Chủ tịch Hội đồng Nhân dân đã đề nghị cho tư nhân sở hữu đất đai. Sau 20 năm lãnh đạo một địa phương, có lẽ ông Nguyễn Bá Thanh nhìn thấy, quyền sở hữu trá hình đã đặt đất đai của người dân vào tay chính quyền cấp huyện với quá nhiều rủi ro. Điều 38, Luật Đất đai 2003, nói: Nhà nước chỉ thu hồi đất khi “cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế” (khoản 7). Nhưng, tại khoản 10 cũng của Điều 38, Luật lại mở ra khả năng: Nhà nước thu hồi những phần đất “không được gia hạn khi hết thời hạn”. Chính quyền cấp huyện được Luật giao quyền giao đất và thu hồi đất của cá nhân và hộ gia đình. Nếu chính quyền Tiên Lãng áp dụng điều 67, tiếp tục giao đất cho ông Vươn, thì đã không có gì xảy ra, nhưng họ đã đẩy ông vào khoản 10, Điều 38: Thu hồi đất vì “không được gia hạn” khi thời hạn giao đất của ông đã hết.

Sau “trái bom Đoàn Văn Vươn”, chúng ta biết, khu đất đầm mà anh có không phải là đất được nhà nước giao mà là đất do gia đình anh phải lấn biển, khai hoang. Suốt 5 năm “trầm mình dưới nước từ mờ sáng tới tận tối khuya”, biết bao lần bị bão biển cuốn phăng để đắp được một bờ kè dài hai cây số, tạo nên bãi bồi màu mỡ và một khu đầm nuôi tôm cá rộng gần 40 hecta. Cũng nơi đây, anh Vươn mất một đứa con gái 8 tuổi vì khi cha mẹ mải làm con gái của anh đã rơi xuống cống. Đừng nói chuyện thu hồi, lẽ ra chính quyền Tiên Lãng phải xấu hổ khi ký quyết định giao cho anh Vươn phần đất của chính anh, phần đất mà anh Vươn đã phải gắn bó suốt 20 năm, đã đổ cả mồ hôi và máu.

Nếu như, quyền sở hữu về đất đai của người dân được công nhận, thì cách khai hoang, lấn biển của gia đình anh Vươn phải được coi như một hình thức thụ đắc ruộng đất mà từ xa xưa cha ông ta đã áp dụng cho người dân để ngày nay Việt Nam liền một dải từ Lạng Sơn đến Mũi Cà Mau. Nếu như quyền sở hữu về đất đai của người dân được công nhận, chính quyền không thể hành chính hóa các giao dịch dân sự liên quan đến đất đai. Các đại gia không thể thậm thụt với đám cường hào thu hồi những mảnh đất của dân mà họ mua không được.

Nhưng đó là câu chuyện có thể được thảo luận trong quá trình sửa đổi Hiến pháp. Người dân đang dõi theo thái độ của Chính phủ, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước trường hợp Đoàn Văn Vươn.

Theo cách giải thích của Giám đốc Công an Hải Phòng Đỗ Hữu Ca thì đất ông Vươn nằm trong vùng quy hoạch xây dựng một sân bay quốc tế. Nếu thu hồi bây giờ hoặc chuyển thành thuê thì mai này nhà nước không phải bồi thường cho ông Vươn. Đỗ Hữu Ca nói: “Với công trình đặc biệt quan trọng như thế thì đền bù sẽ rất lớn. Ông Vươn cố giữ lại như thế để lấy đền bù khi dự án được triển khai”. Có thể Đỗ Hữu Ca là một công chức mẫn cán chứ không phải là “cụ Bá”. Nhưng, lo quyền lợi của nhà nước sao không tính quyền lợi của dân, không tính máu và mồ hôi 20 năm của gia đình anh Vươn. Chắc Đỗ Hữu Ca không nghĩ, anh em, bà con ông và chỉ vài năm nữa chính ông cũng là dân.

Đỗ Hữu Ca có lẽ không nhớ chuyện anh rể của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, sáng 17-4-2009, bị “áp giải ra khỏi hiện trường” khi chính quyền huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương tiến hành cưỡng chế thu hồi hơn 185 hecta cao su của ông để làm khu công nghiệp. Ông đã không đồng ý cho giải tỏa, mặc dù, 185 hecta cao su này ông có được nhàn hạ hơn so với công sức khai hoang, lấn sóng của anh Vươn và mức đền bù thì cao hơn gấp 20 lần giá vốn. Nhắc lại câu chuyện này để thấy, bất luận là ai, khi phải đối diện với tài sản của mình thì mới thấy của đau, con xót.

Dù sao thì hành động chống người thi hành công vụ của anh Đoàn Văn Vươn cũng phải được đưa ra xét xử. Nhưng, thông điệp mà các địa phương chờ đợi không phải là những năm tù cho anh mà là thái độ của nhà nước với chính quyền Tiên Lãng. Từ năm 2013, ruộng đất của nông dân bắt đầu lần lượt hết hạn giao đất. Nếu như quyết định của Chủ tịch Tiên Lãng Lê Văn Hiền không bị coi là sai, hơn 500 chủ tịch huyện trên cả nước có thể noi gương thu hồi đất đáo hạn của nông dân để… giao, thì không biết điều gì sẽ xảy ra. Đừng chậm trễ và đừng để “quả bom Đoàn Văn Vươn” lại nổ.

Nguồn: Facebook Huy Đức

Người Buôn Gió – Người Nông Dân Nổi Dậy

In Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2012/01/09 at 10:24

Người nông dân nổi dậy – bộ phim đậm chất nhân văn của điện ảnh Pháp

Ngày bé xem bộ phim có tên Người Nông Dân Nổi Dậy, nhân vật là một chàng nông dân tên là Giắc Cu. Đêm bỗng dưng chả ngủ được, chuyện xưa, chuyện nay cứ lẫn lộn trong đầu. Ngày trước tivi hay chiếu nhiều bộ phim, vở kịch tả lại những cuộc nông dân khởi nghĩa nhiều lắm. Giờ chỉ thấy toàn phim Trung Quốc có vua chúa đẹp trai, hào hoa, anh minh, tốt bụng… mà thôi.

Xưa thời nhà Nguyễn, quan Nguyễn Công Trứ đi khai khẩn đất đồng chua nước mặn. Công việc ấy được kể lại thành câu chuyện hay như huyền thoại. Đó là mỗi vị đậu trạng nguyên được vua mời vào vườn thượng uyển cho chọn một bông hoa sau đó vua cho đúc một bông hoa bằng vàng thật tặng cho tân trạng nguyên. Công Trứ đỗ trạng nguyên vào vườn thượng uyển ngắm nghía bao lâu rồi mới chọn bông hoa chuối. Vua căm lắm nhưng lệ đã thế rồi, nghiến răng mà sai người đúc bông hoa chuối bằng vàng ban cho Trứ.

Trứ xin vua cho làm quan mạn Thái Bình, nơi đồng chua nước mặn, thuở ấy còn hoang hóa, chỉ có dân đi biển cầm cự nơi đất ấy. Thoắt đã mấy năm. Vua Nguyễn vẫn nhớ cái vụ hoa của tên tham quan Công Trứ hồi nọ, bèn sai khâm sai đại thần mang thanh gươm tiền trảm hậu tấu với ý rằng là cứ thấy lỗi thì chặt phăng đầu mang về đây.

May cho Trứ và cũng may cả cho triều đình. Tuy sai người đi với định kiến không lành, nhưng vị khâm sai mà vua sai đi là người trung tín, nhân nghĩa, có kiến thức. Khâm sai đi quan sát đồng ruộng, nhìn đê điều ngăn mặn, mương tưới tiêu, lúa con gái xanh rì bát ngát, ruộng đồng thẳng cánh cò bay. Đêm đó khâm sai ngồi uống rượu với Trứ bên thư phòng giản dị, nghe Trứ tâm sự chuyện chặt từng bông hoa chuối vàng để mộ dân khai điền, lập ruộng, đắp đê ngăn mặn, dẫn nước mương tưới ruộng đồng, thau chua, rửa mặn, đóng kè… hàng núi công việc để có được nơi đủ điều kiện để dân chúng an cư. lập nghiệp tạo nên một vựa lúa trù phú ở nơi hoang hóa ngày xưa. Khâm sai đại thần chạnh lòng thấy thanh gươm vưa đưa theo bọc trong vải nặng trĩu. Sau đó khâm sai đại thần về tâu vua rõ sự việc. Vua Nguyễn vì thế mà hiểu lòng Trứ hơn.

Trở lại với kịch bản của Giắc Cu nông dân thời lơ tơ mơ nào đó. Chàng nông dân đi khai khẩn vùng nước lợ hoang vu từ hồi còn trai trẻ. Cả cuộc đời chàng gắn bó với vùng khai khẩn, lấy vợ, sinh con. Mồ hôi nước mắt đổ ròng rã năm này qua năm khác ròng rã 30 năm gần hết cuộc đời, nhìn lại cái trang trại cũng tàm tạm. Mọi vốn liếng và trăm nghìn lo toan tính toán lấy ngắn, nuôi dài vượt quá bão tố, thiên tai nay cũng đơm hoa, kết trái. Chàng nông dân tóc đã hoa tiêu cũng cảm ơn trời đất, triều đình đã cho chàng được bỏ công sức và nhận lấy thành quả của mình làm ra.

Các đời quan lại ai cũng cảm thông cho chàng nghị lực. Chàng là một công dân tốt, lo toan chí thú làm ăn bằng mồ hôi, sức lực và kiến thức của mình. Người dân nào cũng như thế thì quan chả mừng.

Thế nhưng quan thì vài năm đổi một lần. Quan trẻ sau này lên nhậm chức, chỉ nhìn thấy thằng nông dân nào đó tóc pha sương bỗng nhiên sở hữu cả khu trang trại đẹp như tranh, nào ao cá, cây ăn quả. Quan nghĩ cả đất trời này thuộc về triều đình, mà quan lại là đại diện cho triêu đình, không thể để một thằng nông dân sung túc hưởng lợi trên mảnh đất phì nhiêu, màu mỡ của triều đình được. Quan tư chất thông minh, được đào tạo bài bản ngón nghề cải tạo và đấu tranh giai cấp, lại được trang bị bằng một mớ nghị định, luật…lằng nhằng chồng chéo mà quan muốn dùng cái nào vào việc nào cũng có, thế là quan bảo Giắc Cu nông dân là nộp lại đất ấy để quan dùng vào việc khác theo quyết định, thông tư, nghị định số Lã Mã lệnh đại khái nói rằng:

– Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do triều đình thống nhất quản lý, nay để tiện việc quản lý căn cứ theo nghị định ngày lơ mơ, tháng lờ mờ, năm ấm ớ thu hồi khoảnh nọ để giao cho người khác.

Nông dân cự lại, kêu rằng đất tôi khai hoang, cả đời người vợ chồng con cái bỏ công sức vào đây. Cuộc sống máu thịt gắn liền, sao lại bảo thu hồi là thế nào.

Quan đập bàn quát:

– Tao thu là thu cho triều đình, đất đai nào của mày, không có triều đình đánh ngoại xâm thì mày có đất được không. Liệu mày có sống được không mà đòi đất với đai. Đồ vô ơn!

Nông dân cãi:

– Nói thế nghe không được, triều nào thì triều cũng phải để đất cho dân làm ăn. Cũng phải để cho dân có đường sống. Những người làm ăn lương thiện, đổ mồ hồi, sôi nước mắt, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời để nuôi thân tự thân mình nuôi mình. Triều đại nào mà dân chả phải tự nuôi dân.

Quan nạt nộ:

– Mày định đi ngược đường lối, chinh sách đã đề ra à. Không nói nhiều, mai tao cho quân xuống tịch thu.

Nông dân về nhà, nhìn lúa đang nên, cây ăn quả giờ bắt đầu bén đất trổ hoa, cá giờ cũng quen nước nhởn nhơ thả tăm trong ao… mấy chục năm trước chàng đến đây chỉ có nước mặn xâm xấp rặt loài cây sú vẹt cho cò đậu. Tưởng không bao giờ sống được trên đất này, thế mà qua mấy chục năm cần cù, mẫn cán chàng cũng thắng được thiên nhiên để tạo nên cơ ngơi này. Chàng thức trắng đêm nhìn cái tờ lệnh của quan có triện đỏ. Than ôi, chỉ cái giấy này thôi, quan viết một nhoáng là xong mà đổi được cả cuộc đời, cả cơ nghiệp mồ hồi, máu, nước mắt của chàng. Nông dân thấy chua xót về phận của mình không được sống trong thời phong kiến hà khắc ở nước nào đó xa xôi như Trứ, may ra Vua có cố chấp thì cũng biết nhận ra sự thật, còn có tôi hiền như quan khâm sai trình lại cho vua rõ.

Chàng tính mai chấp hành lệnh quan, vợ chồng con cái dắt nhau ra đường kiếm sống, làm lại từ đầu khi mà mái tóc đã pha sương. Bệnh tật do những năm tháng dãi dầu mưa nắng trên đồng cộng với tuổi già, chàng dắt díu gia đình phiêu bạt, rồi hôm nao qua đây nhìn thấy một khu sinh thái, biệt thự ven biển của đại gia nào đó…

Chàng cứ nghĩ lan man chả mấy chốc gà đã gáy báo sáng…

Nguồn: Người Buôn Gió

Cùng tác giả:

Người Buôn Gió – Tái cơ cấu thần chưởng

Người Buôn Gió – Đêm dài biên ải

Người Buôn Gió: 18-3 trại Thanh Hà

Người Buôn Gió – Người Nông Dân Nổi Dậy

Người Buôn Gió – Hóa ra đều ăn cắp hết

Người Buôn Gió – Đi tù và đi cải tạo

Người Buôn Gió – Con trâu của ai?

Người Buôn Gió – Hà Nội trong mắt ai

Loạt bài Đại Vệ Chí Dị:

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị – Mọi sự quái đản đều là do… thế lực thù địch

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị: Cứ đổ cho thế lực thù địch xúi dục là OK!