vietsoul21

Archive for the ‘Liên Kết’ Category

Tuyên bố bỏ Đảng Tà Ác nhất trong vũ trụ, Đảng Cộng sản Trung Quốc

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Thế giới on 2011/06/07 at 10:59

Tác giả: Đại Kỷ Nguyên

http://vietdaikynguyen.com/v2/china/1075-tuyen-b-b-ng-ta-ac-nht-trong-v-tr-ng-cng-sn-trung-quc

Ban Biên tập (Dân Chủ – Nhân Quyền Cho Việt Nam) – Đại Kỷ Nguyên phát hành ở đây bản dịch trực tiếp báo cáo bởi người dân Trung Quốc ‘từ bỏ’ Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) và các tổ chức lệ thuộc của nó. Báo cáo này được nộp cho một trang web liên kết với các phiên bản tiếng Trung của Đại Kỷ Nguyên, Dajiyuan. Các phong trào từ bỏ, hoặc rút ​​khỏi ĐCSTQ, gọi là ‘tuidang’ trong tiếng Trung, bắt đầu vào cuối năm 2004, ngay sau khi Anh ngữ thời báoThe Epoch Times xuất bản sách Cửu Bình về Đảng Cộng sản [Nine Commentaries on the Communist Party], một loạt các bài bình luận tìm hiểu bản chất, lịch sử của ĐCSTQ. Các báo cáo đưa ra một cái nhìn hiếm thấy và thẳng thắn về lịch sử khiến cho người dân Trung Quốc quay lưng lại với Đảng Cộng sản, trong sự chọn lựa lương tâm đối lại chủ nghĩa thực dụng, và một cách hòa bình xây dựng một Trung Quốc tương lai không bị đảng cai trị.

Tuyên bố từ bỏ cái Đảng ác tà nhất trong vũ trụ, Đảng Cộng Sản Trung Quốc

Tôi đã bị Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) tẩy não kể từ khi tôi mới sinh ra đời. Tôi đã thấm nhuần khái niệm của ĐCSTQ chống lại sự thật và đạo đức. Tôi đã từng tin rằng ĐCSTQ là một lãnh đạo tuyệt vời. Nhưng bây giờ tôi xấu hổ vì sự thiếu hiểu biết quá khứ của tôi.

Nhà lãnh đạo đầu tiên của Trung Cộng, Mao Trạch Đông, đã rất tàn ác, đã làm rất nhiều điều ác hại và gây tổn hại cho người dân trong một thời gian dài. Một người ác như thế không thể được coi là một con người. Những điều ác ông gây ra đã làm cho những ai chia sẻ tên gia đình họ Mao xấu hổ.

Khi cuộc kháng cáo Thiên An Môn năm 1989 nổ ra, ác cảm của tôi với ĐCSTQ đạt đến một mức cao mới. Tôi cảm thấy thương hại cho các sinh viên và cũng hết sức bất bình về những hành động tàn ác và vô nhân đạo của ĐCSTQ. Làm thế nào Đảng tấn công người vô tội theo cách như vậy! Nó vẫn còn cất giấu những hành động xấu xa của nó. Nó phản ảnh ĐCSTQ như là một tà giáo của thế giới tàn bạo ở cỏi thấp hèn.

Ngay cả những người làm việc khó nhọc cho nhân dân Trung Quốc và cho đạo đức, như Zhao Lianhai và Ai Weiwei, đang bị giam cầm bởi ĐCSTQ. Điều đó nói với tôi là Trung Cộng có thể biến Trung Quốc thành một nơi không có đạo đức.

Tôi tin rằng Trung Cộng sẽ bị hủy diệt bởi Trời. Các sự cố Thiên An Môn sẽ được chứng minh là đúng bởi vì có công lý trong trời và đất. Ở đây tôi kêu gọi các đảng viên ĐCSTQ ly khai khỏi ĐCSTQ càng sớm càng tốt cho bản thân, cho công lý, và thậm chí nhiều hơn, cho tất cả mọi người và vong linh những người bị mất mạng sống của họ vì những hành động độc ác của ĐCSTQ tà ác. Thiên Chúa tiêu diệt đảng Cộng sản!

Mao Shuying,
Bắc Kinh, Ngày 5 tháng 5, 2011

Nguồn: Dân Chủ – Nhân Quyền Cho Việt Nam

Nội xâm

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Việt Nam on 2011/06/03 at 09:53

Nguyễn Xuân Bình

Theo blog Nguyễn Xuân Bình

Pốt lại bài viết từ ngày 20-12-2007

Phim yêu quý, bài học thứ hai bố muốn dạy con có nội dung: Nội xâm.

Từ lần này bố muốn mẹ con và em Bút cùng học được chứ? Những ngày qua, Mẹ thì biểu lộ tình cảm kín đáo hơn. Bút nhỏ quá chưa đi biểu tình được. Nhưng hơn lúc nào hết bố muốn trái tim mỗi thành viên trong gia đình mình cùng đập chung một nhịp yêu Tổ Quốc, cùng hồng hào gương mặt và vạm vỡ thân thể Việt Nam.

Đã bốn ngày sau cuộc biểu tình lần thứ hai. Cơ may hiếm hoi khi Tổ Quốc hiện lên trong mắt bố với biết bao hình thái sống động, yêu thương. Lá cờ Tổ Quốc, những gương mặt sinh viên đầy nhiệt huyết và cả hình ảnh của bố và Phim lại rực đỏ trên các mạng điện tử, blog… Nhiều cô chú tán tỉnh, bốc thơm Phim ra phết. Ghen tỵ.

Nhưng hào khí đó vẫn chưa đủ mạnh mẽ để xóa tan nỗi buồn trong bố. Biết bao thành viên cuộc biểu tình ngày 16-12 nhắc bố hãy viết bài thể hiện cảm xúc, suy nghĩ, nhận định mới. Vậy mà sao bố chần chừ mãi không viết được?

Hai bố con tham dự biểu tình trước cửa tòa đại sứ TQ tại Hà Nội

Ngay khi hô vang Trường Sa- Hoàng Sa- Việt Nam, có gì giục bố lướt nhanh qua những cánh tay giơ cao, những ánh mắt hừng hực. Bên cạnh dòng người biểu tình rực đỏ đi trên đường Tôn Đức Thắng lại là dòng người đen đen, xam xám đi ngược chiều. Phía trước, vì khẩu trang bịt kín nên không ai rõ mặt họ. Phía sau chỉ thấy những cái mũ bảo hiểm trơ lì, nhẵn bóng, lạnh lùng. Không ai ngoảnh lại. Một vài người ghếch chân lên vỉa hè giống như thói quen khi đi chợ cóc và tò mò: biểu tình gì đấy? Tâm trạng chung là thờ ơ, xa lạ.

Bố tự hỏi những người đi đường kia đang suy nghĩ gì?

Tại sao chỉ cách đây mấy chục năm, cha ông họ những chàng trai Hà Nội ra đường mua thuốc lá, khi nghe tiếng súng nổ đã không ngần ngại bỏ nhà lên chiến khu? Vì sao khi bom rơi, đạn nổ tơi bời, bao chiến sỹ đã ngã xuống mà anh em họ vẫn cùng thanh niên cả nước hát vang bài ca: đường ra trận mùa này đẹp lắm? Vì sao ngày trước bị đàn áp dã man, bạn bè họ vẫn hừng hực lời ca: dậy mà đi đồng bào ơi, dậy mà đi hỡi đồng bào ơi?

Vậy mà hôm nay đây, khi Tổ Quốc một lần nữa tổn thương, vì sao người cựu binh đang bán nươc chè trên hè phố Giảng Võ vẫn ngơ ngác nhìn theo đoàn biểu tình và buông lửng một câu: “bọn trẻ rách việc”?

Khi đoàn biểu tình dừng lại ở phố Trần Huy Liệu, Phim hỏi: Bố đang tìm ai? Thực lòng bố muốn nhìn thấy bạn bố – nhà văn, nhà báo Trần Chiến. Bác ấy là con trai ông Trần Huy Liệu, người từng tham gia và viết lại lịch sử cuộc biểu tình hào hùng 19 tháng 8 năm 1945.

Bố cũng đang tìm bác Phạm Xuân Nguyên. Giá như lúc này bác ấy sang sảng đọc bài thơ của một chiến sỹ Trung đoàn Thủ Đô:

Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng
Hồn mười phương vấn vương cờ đỏ thắm
Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm
Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa

Sau biểu tình, một người quen của bố, phó tổng biên tập một tòa báo, em trai nhà thơ Lưu Quang Vũ gọi điện tới, giọng nghe lạnh người: dạo này thêm nghề biểu tình à?

Lại cũng có rất nhiều bạn văn chương, báo chí nhắn tin: chủ nhật tới anh đừng đi biểu tình nữa. Không có lợi cho anh đâu…..

Điều này khiến bố càng thêm hoài nghi: trí thức VN đâu rồi? Thành chim quyên làm cảnh nhà quyền quý hay hóa ó đen bay lẫn hết vào núi đá rồi?

Ngoài việc lướt web sao không xuống đường sát cánh các sinh viên trẻ khích lệ họ biết quan tâm hơn tới những công to việc lớn của đất nước, có nhiều dũng khí khi biểu lộ chính kiến, đồng thời khuyên bảo họ đừng manh động, xô xát với cảnh sát, đối đầu với chính quyền.

Trong cuộc chiến chống ngoại xâm chúng ta cần có thêm nhiều lực lượng và đồng đội phía chiến hào của mình. Theo con chắc chúng ta còn cần có thêm nhiều siêu nhân áo đỏ, áo xanh, áo trắng, áo nâu… nữa đúng không?

Từ những lược ghi trên bố tạm thời chẩn đoán xã hội chúng ta đang mắc một căn bệnh trầm kha: nội xâm.

Virus nào đây? Liệt kháng? Vô cảm? Lãnh cảm? Bảo trọng? ly tán? Sợ hãi?

Điện não đồ thấy não trạng… đờ đớ đơ nằm chờ en tơ?

Điện tâm đồ kỹ hơn hình như trái tim Việt bây giờ có nhiều nhịp đập khác nhau quá? Dòng máu Việt loạn sắc tố rồi? Động mạch chủ thiếu máu trầm trọng, huyết áp tụt, hồng cầu uể oải đẩy ôxy? Máu đen, máu xanh, máu xam xám đầy ứ tĩnh mạch?

Sáng nay ngồi uống cà phê ở Nhà hát lớn, có người vẫn hỏi bố: biểu tình thì làm được gì? Tình hình sẽ tiến triển thế nào? Có người lại bàn rằng nội xâm đang khu trú ở đâu?

Việt Tân thì cho nội xâm là chính quyền. Bố lại nghĩ khác một chút. Cần phải cay đắng nhận thức rằng “Nội xâm” đang nằm sẵn trong mỗi người dân chúng ta. Cũng như các triều đại phong kiến, đảng chỉ nhất thời. Để trở thành một dân tộc lớn, cường tráng, bản thân mỗi chúng ta phải tự diệt hết virus Nội xâm. Với từng đảng viên cộng sản, công việc này chắc chắn còn nặng nề ghê gớm.

Cả gia đình bố là cộng sản. Cách đây hơn 20 năm trước khi tự từ bỏ hàng ngũ ấy bố đã hiểu: khó khăn lớn nhất với những người cộng sản là nhiều năm qua họ kiên trì xây dựng hệ thống cai trị, kiểm soát nhân dân chặt chẽ ở khắp nơi nhưng tiếc rằng lại không có nhiều cơ chế và công cụ để kiểm soát bản thân.

Cơ chế cai trị nhân dân như hiện nay chỉ liên tục làm tăng quỹ vốn sợ hãi của xã hội. Ngay trong gia đình mình, ông nội con một lão thành cách mạng, một sỹ quan cao cấp trong quân đội, cho đến nay vẫn chưa dám nhận bố đẻ của mình. Chữ “lý lịch” vẫn như lưỡi mác kề cổ ông con. Bố đau đớn vì chúng ta trở thành vô loài.

Không có cơ chế kiểm soát nội bộ, những người cộng sản mất đi những cơ hội để tìm kiếm những thủ lĩnh giỏi. Thời lập nghiệp, không ít người “hắc thế tâm” nhưng không thể phủ nhận rằng họ rất tài. Nhiều năm gần đây, giới lãnh đạo toàn những người tài thì nông, đức không mạnh. Có phải vận nước suy? Tuy nhiên bố nghĩ rằng lịch sử vẫn còn ưu ái giành cho những người cộng sản nhiều cơ hội để chứng tỏ rằng họ có thể xứng đáng với sự lựa chọn của nó.

Hai lần vừa rồi thời cuộc mượn những người biểu tình để nói toạc ra, đọc váng lên điều ấy. Nhưng thêm một lần nữa có nhiều người lại không hiểu và không thèm nắm bắt cơ hội này. Sinh viên và nhân dân đã chìa tay mà đảng không mặn mà.

Bởi thế chủ nhật này chúng ta sẽ không đi biểu tình nữa. Bố đang nghĩ đến những việc thiết thực hơn.

Bài học sau có tên: Ngoại xâm.

Nguồn: Dân Luận (http://danluan.org/node/8956)

Nguyễn Thị Từ Huy – Nhật ký ngày 12/5/2011

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Việt Nam on 2011/05/13 at 14:09

Sáng nay vị cán bộ quản lý đó lại gọi cho tôi. Ông nói rằng ông mệt mỏi quá, vì bên công an lại đề nghị ông phải làm việc với tôi. Ông nói rằng tôi phải viết một cái đơn gửi lên trường trong đó nói rõ rằng tôi đã ký vào Kiến nghị trả tự do cho Cù Huy Hà Vũ. Tôi trả lời ông là tôi không hiểu tại sao tôi lại phải viết cái đơn đó. Và tại sao lại phải gửi cho trường, vì trường không liên quan gì đến việc này cả. Tôi suy nghĩ và suy nghĩ, và cuối cùng cũng vẫn không hiểu được. Tôi từ chối gặp ông, vì trong tư cách một người làm khoa học, tôi không muốn làm việc gì trái với nguyên tắc. Và tôi hiểu mọi việc chưa dừng lại ở đây. Còn đi tới đâu thì tôi không biết. Nhưng tôi không có gì phải sợ hãi. Tôi không làm gì sai, tôi không làm gì vi phạm pháp luật.

Tại sao không được phép làm điều đúng? Tại sao không được phép làm điều tốt?

Có lẽ chú Phạm Toàn nói đúng, rằng cuộc sống vẫn nói to với ta là không thể ảo tưởng, rằng hình như xung quanh ta, mọi thứ đang có màu máu và mùi vị thuốc súng.

Tuy nhiên, chú Toàn ơi, cháu vẫn phải tiếp tục ảo tưởng, vì cháu không thể nghĩ rằng ta đang tồn tại không phải giữa những con người, rằng ta đang tồn tại cùng với những kẻ đã mất hết tính người. Chú có nhắc đến Javert, thật là hay. Đó là một ví dụ rất đẹp trong văn chương cho thấy rằng tính người là một cái gì rất khó hủy diệt. Sắt đá và máy móc trước pháp luật đến như cảnh sát Javert mà cuối cùng đã chọn cái chết. Tất cả chúng ta còn nhớ rằng chính Javert đã tự tử sau khi tha cho Jean Valjean, kẻ mà hắn đã theo đuổi suốt đời mới bắt được. Tác giả không phân tích một lời nào về tâm lý nhân vật, không nói một lời nào về việc tại sao nhân vật tự tử. Độc giả không được giải thích vì sao Javert tự chọn cho mình cái chết. Nhưng độc giả hoàn toàn hiểu rằng, cái chết của Javert chính là sự chiến thắng của nhân tính.

Tất nhiên, chỉ có nhân vật văn học mới chết thôi. Chúng ta không cần ai phải chết, chúng ta chỉ hy vọng lòng nhân có thể chiến thắng sự phi nhân.

Tuyệt đối ngây thơ, tôi tin rằng những người đang gây áp lực cho trường tôi, những người đang muốn tôi phải sợ hãi, hoặc có thể muốn cả những điều mà tôi không biết, họ cũng là những con người, họ cũng có một bộ óc để nhận thức điều sai đúng và họ cũng có một trái tim người để xúc động và để hướng dẫn hành động của họ.

Tôi vẫn tin như vậy, dù tôi có phải trả giá cho niềm tin của mình.

N. T. T. H.

Nguồn bauxitevn

Nguyễn Thị Từ Huy – Nhật ký ngày 9/5/2011

In Cộng Đồng, Liên Kết on 2011/05/11 at 12:45
Nguyễn Thị Từ Huy
 

Từ Huy yêu quý,

Chú đọc một hơi “nhật ký” ngày 9 của Từ Huy. Đọc được hai phần ba thì nức nở một mình. Sau đó thì phải lau mắt vài lần để đọc cho hết bài. Cám ơn Từ Huy đã cho chú đọc trước khi chuyển BVN.

Hy vọng những ai đọc bài này với mục đích xa lạ, những ai đọc không để đồng cảm mà chỉ cốt vạch lá tìm sâu, cách đọc của những ai đang theo dõi Từ Huy, những ai đang tự xếp mình vào một chiến lũy đối địch với Từ Huy cùng những tâm hồn như Từ Huy, hy vọng rằng các “tay súng” đó sẽ NGỘ ra cái thông điệp gửi trong những dòng nhật ký này.

Đất nước này đang bị chia rẽ sâu sắc. Không chỉ là sự chia rẽ giàu nghèo. Mà đang có sự chia rẽ vô cùng lớn về văn hóa. Có mấy người trong đội ngũ những chú Javert sẽ hiểu nổi và đồng cảm nổi với những dòng nhật ký của một cô gái luôn luôn bé bỏng, mặc dù đã có trong tay những công trình triết học và văn học của cô đáng để những ai thèm khát văn bằng phải nản lòng.

Chú cũng thấy mình được Từ Huy ngấm ngầm khuyên không nên bi quan và hãy tin vào phần tốt đẹp của con người. Về lý trí, chú vẫn muốn được như thế lắm! Nhưng cuộc sống vẫn đang nói to với chú là ta chớ nên vấn vương với ảo tưởng. Chú chỉ lo những kẻ nghèo trí tưởng tượng đã làm cho nền văn hóa Việt Nam đồi trụy đi sẽ tiếp tục trổ tài để định nghĩa văn hóa theo cách của họ, như thể chỉ là những gì mang màu của máu và mùi vị thuốc súng.

Dẫu sao, cháu vẫn làm chú không hết ngưỡng mộ cháu.

Phạm Toàn

Chiều nay tôi gặp một vị cán bộ quản lý của trường nơi tôi làm việc, do trước đó ông có gọi điện và hẹn gặp tôi. Ông rất nhã nhặn và tỏ ra lúng túng khi bắt đầu câu chuyện. Rút cục thì ông cũng nói rằng chuyện liên quan đến việc ký vào bản kiến nghị trả tự do cho Cù Huy Hà Vũ, rằng công an đã gọi điện đến và yêu cầu ông kiểm tra xem tôi có ký hay không. Tôi nói rằng tên tôi có trong bản danh sách, chuyện đó kiểm tra rất dễ, sao còn làm phiền ông. Và tôi xin lỗi ông vì lẽ ra họ phải gọi trực tiếp cho tôi, vì việc ký kiến nghị là một lựa chọn cá nhân, là quyết định của cá nhân tôi, không liên quan gì đến trường. Trường chỉ quản lý tôi về phương diện công việc. Còn mọi hoạt động khác của tôi ngoài phạm vi cơ quan, tôi phải chịu trách nhiệm, vì tôi là một công dân có đủ quyền công dân, và có đủ các trách nhiệm và nghĩa vụ của một công dân. Họ đã làm phiền ông, đã làm mất thời gian của ông, tôi thực sự áy náy vì điều đó. Tôi còn áy náy với ông hơn vì việc làm của tôi không vi phạm pháp luật, không vi phạm đạo đức cá nhân, cũng không vi phạm đạo đức nghề nghiệp, thế mà lại khiến ông phải mất thời gian quý báu của ông cho tôi. Thời gian đó đáng lẽ phải được dành cho các hoạt động chuyên môn của ông, đáng lẽ phải được dành cho các công việc vốn rất bận rộn của trường. Sau đó, chúng tôi nói chuyện với nhau về những nỗi khổ tâm của các trí thức. Trí thức, từ xưa đến nay, muôn đời đều có những khổ tâm đặc thù của họ. Chúng tôi nói chuyện về Marx, về các lý tưởng và mơ ước của Marx. Rút cục thì có vẻ như thời gian của cuộc gặp gỡ cũng không đến nỗi vô ích.

Một vài người xung quanh nói rằng vì việc ký bản kiến nghị mà có thể tôi bị theo dõi. Tại sao lại theo dõi một người như tôi? Một người không bao giờ làm hại ai (mà cũng không đủ khả năng làm hại ai, một phụ nữ đơn độc, chân yếu tay mềm). Một người đang cố gắng thực hiện truyền thống của một gia đình công dân bình thường nhưng không tầm thường. Cụ nội tôi là chánh tổng Lai Thạch nhưng vì ủng hộ cách mạng nên bị cách chức; và cụ đã tự vẫn, tự quyết định số phận theo ý mình, không chịu rơi vào tay thực dân Pháp. Một người con của cụ là ông Nguyễn Huy Lung, một nhân vật có ảnh hưởng quan trọng trong phong trào 30-31 ở Nghệ Tĩnh, bị bắt giam tháng 12/1930. Do các ảnh hưởng và hoạt động của ông ở trong tù, nên Pháp đã liên tục thuyên chuyển ông từ nhà lao Hà Tĩnh vào nhà lao Đồng Hới rồi vào Kon Tum. Ở đó, tháng 12/1931, ông bị bắn chết khi cùng anh em tù phản đối bị chuyển đi Dak Pek. Một người con khác của cụ là ông nội tôi, cũng là đảng viên 30-31, khi nhận được công văn của tổ chức, không một phút chần chừ, đã đem các con nhỏ gửi cho anh em (bà nội tôi, vốn cũng bị tù đày trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, lúc đó đã mất), gửi lại nhà cửa, vườn ruộng, đi sang hoạt động ở vùng khác theo sự điều động của cách mạng. Ba tôi, vì lý tưởng, đã bỏ công việc ở ngân hàng, vốn rất ổn định và đảm bảo, lên Điện Biên tìm hiểu thực tế, tham gia vào đời sống và tìm cảm hứng sáng tạo. Và sau này, khi đất đai trở thành đối tượng của sự tham nhũng hoặc là bằng chứng của một kiểu ân huệ, ông đã từ chối không nhận mảnh đất do cơ quan cấp.

Gia đình tôi không có gì đặc biệt hơn những gia đình Việt Nam khác. Và chúng tôi cũng có một truyền thống như bao gia đình Việt Nam khác. Truyền thống đó cần phải được tiếp nối, dưới hình thức này hay hình thức khác. Cuộc sống luôn có những lựa chọn khác nhau. Tôi tin rằng tổ tiên của tôi sẽ ủng hộ lựa chọn của tôi hiện nay. Tôi đã lựa chọn ba triệu đồng một tháng (đấy là số tiền công lao động hàng tháng hiện nay được chuyển vào tài khoản của tôi) để làm công việc mà tôi cho là có ích, thay vì tìm một công việc được trả thù lao xứng đáng với bằng cấp, với trình độ và với nhân phẩm của tôi. Tôi, và những viên chức như tôi, không nợ nần gì ai cả, không ăn cơm của ai cả. Chúng tôi được trả một đồng lương không xứng đáng với những gì mà chúng tôi cống hiến, không xứng đáng với thân phận người của chúng tôi. Để sống chúng tôi phải bán sức lao động để làm nhiều việc khác. Tổ tiên của tôi hiểu rằng tôi chấp nhận trả giá để thực hiện công việc mà tôi cho là có ý nghĩa với các thế hệ sau. Đó cũng là một cách để tiếp nối truyền thống gia đình.

Ký vào kiến nghị trả tự do cho Cù Huy Hà Vũ là việc tối thiểu mà một trí thức có thể làm. Có thể cụ nội tôi, ông nội tôi hay ông Nguyễn Huy Lung sẽ thất vọng về tôi, thất vọng vì tôi có thể làm nhiều điều hơn thế mà tôi chỉ làm được cái điều tối thiểu. Nhưng có lẽ tổ tiên cha ông tôi cũng thất vọng nếu vì hành vi đúng đắn đó mà tôi bị nghi kỵ, bị theo dõi. Và họ còn tủi hổ hơn nếu tôi cảm thấy sợ hãi vì việc làm đúng của mình.

Tại sao làm điều đúng lại phải sợ? Tại sao làm điều tốt lại phải sợ?

Xã hội này có phải đã mất hết ý thức về các giá trị làm người rồi không, mất hết ý thức về các giá trị nhân đạo rồi không, mất hết ý thức về công lý, lẽ phải rồi không? Không, tôi không tin là như vậy. Tôi không tin là những người làm nhiệm vụ theo dõi đã mất hết tính người, chỉ còn biết hoạt động như những công cụ, như những cỗ máy. Tôi đã xem một bộ phim của Đức: Cuộc sống của những người khác (The lives of the others). Bộ phim đạt giải phim nói tiếng nước ngoài hay nhất Oscar 2007, phim hay nhất châu Âu 2006, phim hay nhất nước Đức 2006.

Một trong các nhân vật chính của bộ phim đó là Wiesler, nhân viên an ninh, làm công việc theo dõi những người có tinh thần tiến bộ. Và từ một kẻ lạnh lùng, sắt đá, chỉ biết có yêu cầu của công việc và thực hiện răm rắp nghĩa vụ với những kỹ năng thuần thục, chuyên nghiệp, quá trình theo dõi đã biến nhân vật thành một người có cảm xúc và biết phân biệt những gì là nhân văn với những gì là phi nhân, phân biệt được cái gì là thiện và cái gì là ác. Kết cục là anh ta đã giúp đỡ những người bị anh ta theo dõi, và bản thân anh ta thì bị cách chức, đuổi việc. Bộ phim có một kết thúc rất đẹp: sau ngày bức tường Berlin sụp đổ, nhân vật bị theo dõi đã vào viện lưu trữ tìm lại những tài liệu về quãng đời cũ của mình, và tình cờ phát hiện ra rằng người theo dõi đã cứu sống anh ta. Anh ta dò hỏi và tìm được địa chỉ của người ấy, giờ đây đang làm nghề đưa thư. Anh ta ngồi trong ô tô từ xa nhìn ân nhân của mình trên chiếc xe đạp chở đầy thư, bưu kiện. Anh ngập ngừng rồi quay đi, không đến gặp ông ấy nữa. Một thời gian sau, người đưa thư đi qua hiệu sách nhìn thấy áp phích quảng cáo cuốn sách mới của nhà văn Dreyman, người ông ta từng theo dõi nên biết rất rõ. Ông ta bước vào hiệu sách, cầm cuốn tiểu thuyết của Dreyman có nhan đề Bản sonate của những người tốt. Ông mở ra và đọc được lời đề tặng dành cho mã số: HGW XX/7. Đấy chính là mã số của ông hồi còn là nhân viên an ninh. Khi ông ta mua cuốn sách, người bán hàng hỏi ông có muốn gói quà không, ông trả lời: “Không, nó dành tặng tôi”.

Cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn không phải chỉ nhờ việc những người đấu tranh cho chính nghĩa và cho các giá trị tốt đẹp biết hy sinh, mà còn nhờ việc những người chống lại chính nghĩa và chống lại các giá trị tiến bộ biết nhận ra rằng họ cần ủng hộ lẽ phải. Và nghệ thuật đích thực bảo vệ nhân tính, phát hiện nhân tính kể cả ở những nơi, những lúc, ở những người tưởng như không còn nhân tính.

Nếu giả sử (chỉ là giả sử mà thôi) có ai đó theo dõi tôi thì tôi tin rằng người đó cũng sẽ chuyển biến theo chiều hướng như vậy. Tôi tin ở các giá trị mà tôi đang cố gìn giữ và xây dựng. Tôi tin rằng lương tri và tính thiện có sức cảm hóa. Người Việt Nam là người, trước khi là người Việt Nam. Tức là chúng ta cũng mang các giá trị phổ quát của nhân loại. Chúng ta có bộ óc để nhận thức, để nhận biết lẽ phải, chúng ta có trái tim để biết xúc động, biết yêu quý những gì cần yêu quý và căm ghét những gì cần căm ghét. Chúng ta cũng có đủ phẩm chất trí tuệ và sức mạnh như những dân tộc khác để xây dựng một xã hội nhân bản như chúng ta mong muốn, nếu chúng ta thực sự mong muốn.

Có thể là tôi ảo tưởng. Nhưng ảo tưởng cũng là một đặc điểm chỉ có ở con người. Đặc điểm này có thể khiến cho con người thất bại, nhưng đó là sự thất bại có giá trị. Còn ai có thể ảo tưởng hơn những kẻ xưa kia mơ ước thảm bay và mơ ước lên mặt trăng. Tuy nhiên nếu không có những kẻ ảo tưởng về một đồ vật có khả năng di chuyển trên không trung với tốc độ kỳ diệu ấy, thì chắc chắn sẽ không có máy bay, tên lửa…

Con người có bộ óc và trái tim không phải để trở thành một cỗ máy, và cũng không thể trở thành một cỗ máy trừ khi nó không còn có ý thức rằng nó là người.

N. T. T. H.

Nguồn bauxitevn

Văn tế Dân Oan – Võ Thị Hảo

In Liên Kết, Việt Nam on 2011/03/21 at 18:13

Lời tác giả : Cho tôi gửi tặng những người dân Việt Nam đã oan, còn oan hoặc đã chết dưới cường quyền, bạo lực và bất công và vì những lý do ngụy biện – Nhà văn Võ Thị Hảo*

Thương thay

Một ngày
Người ra ngõ
Người xuống đường
Bước dân lành lụm cụm con sâu cái kiến.

Một ngày
Trong vô tội
Người bị đánh đạp bỏ mạng nơi công đường
Cổ  gẫy
Tứ chi liệt rũ
Đớn đau quặn mình tiếng nấc tắt thở

Một ngày chẳng như mọi ngày
Mẹ gần đất xa trời không kịp nhìn con lần cuối
Nhận xác con nơi công đường
Mẹ già đứt ruột.

Mẹ ơi!
Thôi đừng khóc
Nước mắt mẹ đã cạn
Con đâu phải người chết oan đầu tiền trên xứ sở này!

Kìa vợ, kìa con!
Tiếc thương cha
Thì cứ để xác cha nằm trong đá lạnh.
Xác thân ta lời chứng
Những vết chém từ trái tim lựu đạn.

Này mẹ này vợ này con
Hãy khum bàn tay cần lao
Che gió
Nến hắt hiu nhỏ giọt nước mắt trắng

Cha về!

Kìa mẹ!
Lưng còng mẹ úp mặt trên xác con
Mai này mẹ xuống suối vàng được không?
Hồn con quẩn quanh đời đời phố lạnh

Con  gái ơi!
Cúng cơm cha ư?

Thôi này con,
Hãy nấu cháo lá đa
Con hãy vung tay ngang trời những trận mưa gạo và muối
Rắc khắp bốn phương trời  nước Việt
Còn chưa đủ đâu !

Vì cha không thể ăn một mình
Cha đi nhập dòng hồn oan đông đàn dài lũ
Thiên hạ ơi! Hãy gửi cho những oan hồn chúng tôi mỗi người một hạt muối!

Đồng bào ơi!
Tôi ra đi  nguyên lành với tiếng cười
Trở về chỉ còn linh hồn dật dờ đầu ngõ.

Tôi con ma mới
Nhập vào dòng ma oan cũ
Dài như sông.

Đồng loại ơi!
Chúng tôi đã tan nát xác thân
Chúng tôi chết oan bởi người ta, bởi ngàn vạn cớ
Như con sâu cái kiến bị dí nát dưới gót giầy
Không một lời kêu van nào không một giọt nước mắt nào không một công lý nào làm mềm nổi những trái tim lựu đạn.

Hồn chúng tôi dật dờ luẩn quẩn cổng công đường.

Đòi mạng.

Kìa, người Việt !
Chúng tôi chết tức tưởi bởi những kẻ bạo ngược
Những kẻ ăn lộc dân để hành hạ giết dân!

Kìa ngẩng lên xem
Nơi nào đục khoét tiệc tùng bán tước mua quan lễ hội tưng bừng trộm cướp
Cuộc hành lễ ma quái của những trái tim lựu đạn
Những tua lưỡi bạch tuộc.

Gục mặt xuống coi
Có thấy chúng ta đông đàn dài lũ
Từ miền xuôi miền ngược đến ngõ hẻm hang cùng
Dân oan đi thành rừng  không còn nước mắt để khóc

Tiếng kêu tắc nghẹn cổ họng
Mỗi tiếng nói khạc ra từng ngụm máu
Trăm vạn lời vốc máu ai người đáp lại?!

Kẻ có lương tâm hãi sợ
Báo chí lặng câm với lưỡi hái trên đầu.

Ôi những mặt héo tim héo linh hồn rực rỡ
Những hồn oan những hồn oan hồn oan
Rạch trời tiếng kêu xé ruột!

Biết không? Biết không có biết không?
Hỡi dòng người vô cảm
Rùng rùng đi mê loạn
Đàn kiến khốn khổ quằn quại  kiếm ăn
Câm lặng nhìn đồng bào mình chết
Dưới bàn tay bạo tàn

Hỡi ôi!

Này lễ cầu hồn

Ai kia

Người người

Xin đừng vờ ngủ

Đừng giả điếc
Rồi đến lượt mình
Một ngày tức tưởi nhập dòng oan.

Hãy gửi cho chúng tôi đông đàn dài lũ mỗi người một hạt muối
Đốt cháy triệu ngọn lửa

Trên lễ cầu hồn

Lúc rạng đông

 

Võ Thị Hảo

nguồn: danlambao

Phó thường dân (8): Gió mưa là chuyện của trời …

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2011/03/06 at 13:31

Vietsoul:21

Phó thường dân (8): Gió mưa là chuyn ca tri …

[tiếp theo kỳ trước: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu (9) Vô liêm sỉ – man rợ (10) Phế-anh-hùng (11) Luật Lệ(nh) … (12) Nhà em có nuôi một con két … (13) Cái nhà là nhà của ta … (14) Mèo – thỏ  (15) phố vẫy (16) Mít tờ Đàm và Bác Hồ (17) Nín thở qua cầu]

“Gió mưa là chuyện của trời
Nước non là chuyện của người công dân”

(Phỏng thơ Nguyễn Bính)

Cả hơn tuần nay phó thường dân tôi nằm bẹp ở nhà. Chẳng buồn đi đâu vì trời hết mưa xong chuyển sang đổ tuyết. Mưa ở vùng Tây Bắc Hoa-kỳ này nhiều đến nỗi người dân địa phương thường tự trào rằng “Đã là người Seattle thì nắng không đủ sạm màu da, chỉ dầm mưa cho rỉ sét.” (Seattlite don’t tan, we rust).

Nói thì nói vậy thôi chứ trung bình lượng nước mưa rơi ở Seattle vẫn còn thấp so với các nơi khác trên toàn quốc. Seattle đứng hạng thứ 44 sau cả New York, Miami, và Boston. Nhưng (cái nhưng đáng kể này) số ngày mưa ở Seattle thì có thể được cho là “hơi bị” cao. 158 ngày trong năm, gần như là 50 phần trăm. Tạm coi là ngày nắng, ngày mưa cứ thay phiên nhau.

Nhưng được một cái là mưa ở đây lai rai theo kiểu mưa phùn lất phất. Không nặng hột như mưa rào, mưa trôi nồi thủng rế, mưa trắng trời trắng đất, hay mưa lút mặt lút mày. Hồi mới sang đây phó thường dân tôi mấy năm đầu còn che dù khi đi mưa.  Rồi vì tật hay bỏ quên, làm mất, nên riết cũng quen, và thế là từ hai mươi mấy năm cho tới giờ chẳng bao giờ bận tâm che dù hoặc mặc áo mưa.

Ở đây nếu năm nào mà không có tuyết và mưa ít thì các viên chức thành phố–giới chức tiểu bang, công ty điện, sở cung cấp nước—liên tục cảnh báo và giáo dục người dân tiết kiệm.  Chuyện kêu gọi điều tiết giảm thiểu sử dụng điện nước để hầu bảo đảm cung cấp nhu cầu cho tư nhân và hảng xưởng nhất là thời gian cao điểm mùa hè. Họ nói dzậy phòng hờ chứ phó thường dân tui thấy cũng tùy. Vì vẫn có nhiều người xài xả láng chẳng giữ gìn gì ráo trọi, và bù lại cũng nhiều người để ý xử dụng điện nước cẩn thận. Tựu chung hơn mấy chục năm nay tui hổng bao giờ thấy ai phải chịu thiếu nước, thiếu điện.

Ủa, gió mưa là chuyện của trời … nói tới nói lui làm chi hè!

Ừa, mưa thì mới có nước … hổng có mưa thì “lạy trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày, lấy đầy bát cơm, lấy rơm đun bếp.”

Thiếu nước là thấy thở ngáp ngáp rồi. Thời vượt biên ngày nào làm sao quên nổi!  Không có nước thêm vài hôm nữa thì phó thường dân tui đã há miệng cá ngáp ngoài Thái bình dương rồi!

Nhưng nguy nhất giờ là mất nước tuốt luốt, là tiêu tùng vạn vạn con cháu vua Hùng à nghe…

Thiếu nưc, tha nưc, mt nưc

Nói tới từ ngữ c thì phó thường dân tui thiệt tình hổng làm sao hiểu nổi những chuyện cắc cớ thiếu nước, thừa nước, mất nước ở cái đất Việt Nam thời “hiện đại” này.

Năm nào cũng hạn hán, thiếu nước nghiêm trọng dẫn đến việc mùa màng thất bát. Thiếu nước thì đưa đến thiếu điện. Điện cúp lia chia bất kể đêm ngày, chẳng chừa nơi đâu, có đến chết người.

Thiếu điện thì lập tức có thiên tài đảng ta no, có xây đập thủy điện. Mỗi tỉnh mỗi vùng mạnh ai nấy làm, xây đập thủy điện để tăng trữ lượng nước và công suất điện. Có nước đâu mà trữ! Nước ở trên trời rơi xuống, ở thượng nguồn chảy ra chứ đâu phải cứ xây lên là có nước, có điện.

Cả hai miền đất nước lệ thuộc vào nguồn nước chính từ sông Mê-kông và sông Hồng. Hai nguồn nước đó giờ đã cạn kiệt, giảm lưu lượng một cách kinh hoàng. Sông Tiền, sông Hậu có những đoạn nước cạn tàu bè không chạy được. Còn sông Hồng thì trơ bãi cát ngang sông.

Vì sao? Chuyện gì ở đầu nguồn? Ai cản ai ngăn? Hay chăng là chuyện “lạ”?

Thiệt lạ hết sức nghen. Ở Việt Nam bây giờ thì gần như đụng phải chuyện gì cũng là chuyện “lạ”. Tàu “lạ”, rau quả “lạ”, hoá chất “lạ”, gạo “lạ”, công nhân “lạ” … riết rồi dám Việt Nam cũng thành nước “lạ”.

Chưa xong. Hết thiếu nước thì đến thừa nước. Toàn trò cắc cớ. Cứ mỗi lần mưa xuống thì thành phố ta tha hồ ngập nước[1]. Ngập từ mắt cá, ngập lên đầu gối, ngập tới thắt lưng. Ngập cống, ngập đường, ngập chợ, ngập thả dàn (thả bè).

Triều cường đó mà. Nghe mà bắt mệt. Hoa mỹ chơi chữ làm chi cho má nó khi.

Ngập nước thì nói đại là ngập nước cho nó gọn, chứ đừng có đổ thừa cho sông cho biển. Rồi thì thau chậu, phao chảo, thùng phi, thùng xốp, tất cả các phương tiện di chuyển chiến lược trong hai thành phố mang tên (cá) ngừ và thủ đâu Hà Nậu. Nẩu nói thâu rầu?

Thiếu nước và thừa nước mà không sang qua, sớt lại cho toại lòng nhau được. Nghiệt dzậy! Nhưng chịu vậy sao? Thôi thì còn nước còn tát chớ biết sao giờ.

À mà phó thường dân tui có nghe ở cả thế giới chỉ có mỗi Việt Nam là từ ngữ “nước” để chỉ cho đất Việt Nam. Đất đi kèm với nước thành “đất nước”, nghĩa là “nước” bao hàm cả đất và nước. Nước đối với người Việt Nam rất quan trọng, bắt nguồn từ nền văn minh lúa nước. Văn minh của những người xâm mình chống thuồng luồng, của Lạc Long Quân, vị thủy thần huyền tổ giống Lạc Việt. Lạc cũng là nước. Tức là khi nói về Việt Nam là nói đến nước.

Thế nên điều đáng sợ là Việt Nam đang dần dần mất nước – mất biển, mất đảo, mất đất, mất chủ quyền – Tại làm sao? Còn ai bứng (trồng) khoai đất này! Đó là đám nội-thực-dân Đảng CSVN.

Cóc kêu vi tri!

Nói tới nước thì phó thường dân tui nhớ lại câu chuyện con cóc là cậu ông trời. Cóc chỉ nghiến răng kêu là trời mưa. Nhiều người chắc ai cũng quên đầu đuôi câu chuyện rành mạch ra sao mà chỉ nhớ đến đoạn “cóc nghiến răng trời mưa”. Nhưng mà có phải thật vậy không? Hay là cóc cứ nghiến răng kêu trời mà trời vẫn cóc thèm để ý?

Cóc kêu với trời thì nhằm nhò gì. Hãy đọc vài dòng về số phận Phan Khôi, con cóc tía dưới thời VNDCCH năm 1954-1960:

“… Tiếng thở dài và tiếng chép miệng của ông trong những ngày cuối cùng như còn vọng lại. Sinh thời, mỗi lần ông nói đến một nỗi oan khuất nào đó của người đời, ông vẫn thường nhắc đến tiếng cóc kêu với trời! Gió mưa là do chuyển hoá Đông – Tây của thời tiết, nhưng vẫn có người tốt bụng tin rằng: Trời mưa nhờ có cóc kêu.” (Trần Duy, Tưởng niệm về Phan Khôi đăng trên Talawas ngày 18/6/2008)

Còn thời CHXHCNVN thế kỷ 21 thì sao? Một con cóc kêu trời cũng chẳng được chi. Con cóc tía Cù Huy Hà Vũ đã chạm tới thiên đình nhưng thượng hoàng đã sai đám thiên lôi chỉ đâu đánh đó dương búa sấm sét, đóng gông vào cùm.

Cóc con thì dzậy, còn trời (con) thì sao?

Thượng hoàng bộ chính trị đã chẳng ra rả ca ngợi cái “thiên đường cộng sản” đó sao? Có gì mà than vãn.

Phó thường dân nghĩ lại thì thấy cũng hổng trật. Thiên đường cho tập đoàn tội phạm vì họ tự tung, tự tác muốn làm gì thì làm, muốn vơ vét, lam nham, lũng lạm cỡ nào cũng được.

Họ nói “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu” cũng trúng phóc luôn. Năng lực họ hổng có, họ yếu/thiếu khả năng thì họ chỉ làm lam nham thôi. Nhu cầu thì ngược lại rất cao, nên họ cần vơ vét hết để thỏa mãn chúng. Để tui nhớ nha: nhu cầu xây đền thờ họ[2], nhu cầu đi xế khủng, nhu cầu rau sạch[3], nhu cầu nhất dạ đế vương[4].

Chỉ có đám nô-lệ-mới (phó) thường dân thì đối với họ là không có nhu cầu nhiều, lại có năng lực lao động cao nên phải được tận dụng hết cỡ trăm phần trăm. Người nô lệ thì bù đầu cắm cổ làm việc, đâu có thời giờ hoặc cần tiêu khiển nên cơm hẩm, cà thiu, cháo rau qua ngày là quá lẽ phải rồi.

Thử coi nè. Ai đời có cái anh chàng lao động xuất khẩu con thằng cha mắc dịch nào đó hổng biết. Vừa học (hộc xì ke), vừa làm (lừa) xong hai ba bằng cấp trong vòng mấy năm ngắn hổng rõ. Nhưng đến giờ thứ 25 đăng đàn vào ủy viên Trung Ương sánh vai với người (S)ang kẻ (T)rọng. Giữ lề mề vai công nhân làm chi cho mệt cái thân! Hãy đình công lãng việc rồi từ đó phấn đấu thay tên thành Tuấn, đổi họ là Nông, để thoát đời công nhân vô sản. Tự nhiên thành chàng Nông tuấn kiệt[5] dzô quyền, dzô tiền là chắc ăn nhứt.

Chưa hết. Gã cha của thiếu chủ Nguyễn Thanh Nghị[6] thì lấy của thiên (hạ) trả địa cho tên này xài xả láng. Y được (ngao) du học ở trường cha già đế quốc Mỹ George Washington, hổng phải trường ĐH Đảng (cha già dân tộc) Hồ Chí Minh à nha. Mới học ra trường (2006) “phục hổ, tàng long” chờ vài năm sau (2009) “được” bổ nhiệm Phó hiệu trưởng ĐH Kiến Trúc TP HCM. Rồi úm ba la ùm bà là thành là ủy viên trung ương (2011).

Tui nghĩ các sinh viên trẻ có khả năng, năng lực chắc còn hơn tay này nhiều. Nhưng tiếc thay là các bạn không làm sao “phấn đấu” để được lọt vào giai cấp COCC, CCCC (con ông cháu cha, con cháu các cụ). Các bạn nằm trong giới vô sản cccc (con cóc cái cò) thành ra cứ nghiến răng kêu trời và lặn lội bờ ao kiếm ăn đi thôi. Bạn nào không việc đúng nghề thì đi làm cửu vạn, công nhân vệ sinh vận dụng sức cơ bắp. Trọng trách quyền lợi thì để “trời con” BCT tự nhiên no giùm.

Thi phế anh hùng (anti-heroic)

Các dân mạng thông rành thời cuộc, tình hình thế giới hơn phó thường dân tui thì ai cũng biết. Những cuộc cách mạng bạo lực, chuyên chính giai cấp hay ý thức hệ đang gần như bất khả thi trong hoàn cảnh thế giới hiện giờ. Thời bây giờ coi như là thời phế-anh-hùng (anti-heroic). Thời một mình, một ngựa Kinh Kha đã tàn, chỉ để tán trong trà dư tửu hậu. Thời bây giờ không chờ một lãnh tụ, một thánh Gióng xuất hiện khai lộ, dẫn đường.

Giờ là thời của người cùng khổ, không ý thức hệ, không phân biệt giai cấp, chính kiến. Thời của nông dân mất đất, của công nhân lương chế đói, của ngư dân không biển chài bắt, của sinh viên không việc, của phụ nữ đi làm ôsin, của tráng niên đi làm cửu vạn, của trẻ em/cụ già lang thang bán vé số, của người rơm/người rừng lưu lạc phương trời, của thiếu nữ cô Kiều bán thân đợ nợ.

Giờ là thời số phận con giun cái kiến quằn lên đòi làm người, làm công dân với đủ nhân quyền dân quyền.

Tất cả những người đang thiếu nước, thiếu cơm, không có chủ quyền, hay đang dần dần mất nước cũng phải biết tụ tập đoàn kết đồng cảm với nhau.

Không chóng thì chầy họ cũng theo gương cóc tía nhỏ bé cùng các chị cua ôsin, anh gấu cửu vạn, đàn ong công nhân, ông cọp dân oan, cô cáo sinh viên náo động thiên đường đòi mưa, có nước làm ăn, có đường sinh sống.

Nước là nước của nhân dân, của đồng bào chứ đâu phải nước mang tên XHCN hay độc tài cộng sản. Đồng bào sống trong nước nhưng oái ăm thay nước thì đã mất vào tay nội-thực-dân. Sao đồng bào buộc đành làm người nô-lệ-mới khát nước mà lại phải phục vụ đám bạo quyền tập đoàn tội phạm bộ chính trị Đảng CSVN?

Phải đòi bằng được quyền công dân và quyền làm người và cho một xã hội chuyển đổi trở nên tử tế, lương thiện. Quyết không sống chung với “lũ”, với “đồ đểu”, với “chuyện thường ngày ở huyện”.

Sinh viên đòi quyền có công ăn việc làm dựa vào khả năng chứ không dựa vào thân thế con ông cháu cha, con cháu các cụ, hoặc phe nhóm . Công nhân đòi quyền lãng công, đình công để đòi hỏi và đạt được cải thiện điều kiện công việc và lương bổng tương xứng. Nông dân đòi quyền hiệp hội, được tín dụng, bình ổn giá cả phân, giống. Ngư dân đòi được sự bảo vệ của hải quân trong vùng lãnh hải quốc gia không bị khủng bố từ tàu “lạ”. Thương nhân đòi hỏi được tự do buôn bán hợp pháp không bị nhũng nhiễu bởi các quan thuế, quan thanh tra, quan thổ, quan quân …

Đồng loạt, đồng lòng, đồng hành sát cánh đòi lại quyền chính đáng. Nếu cóc nghe lời bàn qua, tán lại thì cóc đã nhảy về đáy giếng cạn nghiến răng ken két than trời trách phận. Nếu cóc một mình một thân thì gà trời đã mổ cho lòi óc. Cóc kết hợp với những con vật khác đem dũng khí và trí thông minh sáng tạo để lên tới thiên đình đòi mưa, có nước, đem sức sống cho vạn vật. Cóc vận dụng trí khôn dùng sở trường của từng con vật để chống đỡ lại thiên lôi (công an còn đảng còn mình, chỉ đâu đánh đó), gà trời (gà thiến gáy to từ các kèn đồng thau/Đông La), và chó (chánh án) nhà trời. Cóc kiên cường, dũng cảm đã quyết tâm cứu mình và cứu cả muôn loài.

Cha ông chúng ta đã sống nhẫn nhục bao năm và ta còn phải sống nhẫn nhục bao năm nữa?

Đã có những ngày mà con người lương tâm táng tận, con tố cha, cháu tố bà, bạn bè tố nhau. Đã có những ngày mà phẩm giá con người bị bôi nhọ, chà đạp, xoá tên và xóa dấu vết người (Phan Khôi, Lưu Quang Vũ, Nguyễn Hữu Cầu, Trần Văn Sương). Đã có những ngày mà họ trở thành người lưu đày trên chính nước họ (Trần Đức Thảo, Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Lê Trần Luật) và là “kẻ mất phép thông công” (Nguyễn Mạnh Tường, Cù Huy Hà Vũ). Đang có những ngày mà sự đểu cáng, lừa đảo trắng trợn là điều hiển nhiên cho thời kỳ “đồ đểu” khi hàng loạt tiến sĩ mác giả nắm chức vụ quyền năng quan trọng còn tiến sĩ hàng thật thì xách cặp, soạn bài cho quan “tiến sĩ giấy”.

Cha ông chúng ta đã sống nhẫn nhục bao năm và ta còn phải sống nhẫn nhục bao năm nữa?

Đang có những ngày mà chính quyền dùng phân, dùng bao cao su để bôi bẩn, bôi nhọ nhân phẩm con người. Đang có những ngày mà nhà nước dùng đầu gấu, tội phạm hành hung, gây hấn, đả thương những công dân yêu nước. Đang có những ngày mà “trung với Đảng” tội phạm để được quyền hành, bổng lộc. Đang có những ngày mà “hiếu với dân quan (đầy tớ)” đem lại ô dù bao che tội ác.[7] Những ngày dài lặng chìm trong đau khổ vẫn tiếp tục …

Cha ông chúng ta đã sống nhẫn nhục bao năm và ta còn phải sống nhẫn nhục bao năm nữa?

Có dăm người luận bàn về thời cơ và phương án. Thời cơ ở đâu? Đến khi nào thì đủ điều kiện? Chờ đợi minh quân lãnh đạo nào xuất hiện? Ai là người quyết định thời điểm cơ hội? Ai là người xác quyết điều kiện chủ quan/khách quan, cần và đủ? Chính trị gia nào phất cờ? Bình luận gia, chuyên gia nào phân tích rạch ròi lên hiệu bật đèn xanh? Phương án nào và ẩn số nào tối ưu? Chuyện lớn hay chuyện nhỏ? Chuyện thật hay chuyện giả?

Phải chăng chuyện sẽ đơn giản hơn khi mỗi chúng ta chọn lựa ứng xử và hành động tự cứu mình và cứu muôn loài như chàng cóc bé nhỏ. Có dũng khí để tranh đấu dành lại quyền lợi nhân phẩm khi sinh ra đã có. Biết hợp quần để tạo sức mạnh. Đem trí tuệ vận dụng mọi phương tiện trong cuộc đấu tranh. Ngày mai còn nước là do kết quả những gì bạn làm không ít thì nhiều hôm nay.

Có cần bảo hộ cái tuyên đoán điều gì sẽ xảy đến khi các luật gia lên tiếng đòi lại nhân phẩm và tự do cho đồng nghiệp Lê Công Định, Cù Huy Hà Vũ, Lê Trần Luật?… Khi các sinh viên và công nhân vận động đòi trả lại tự do cho những nhà đấu tranh bảo vệ giới lao động Đoàn Huy Chương, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đỗ Thị Minh Hạnh … Khi các giáo dân công giáo, phật giáo, tin lành vùng lên đòi trả lại nơi thờ phượng, chốn cầu nguyện. Khi các nông dân dân oan đòi đền bù, trả lại đất đai bị cưỡng chế. Và khi thế hệ trẻ tận dụng trí tuệ, tự tìm nhiều phương thức khác nhau để hợp quần, hiệp thông, hỗ trợ, chia vai, nương tựa lẫn nhau đấu tranh đòi lại quyền làm chủ đất nước?

Chúng ta không còn nước sống.[8]

Thế kỷ này là thế kỷ của trí tuệ trẻ vạn năng, của những người cùng khổ, cùng vươn lên đánh đổ độc tài toàn trị, dành lại đất dành lại nước.

Sức mạnh của thế kỷ ở trong chính bạn.

© 2011 Vietsoul:21

[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu – (8) Gió mưa là chuyện của trời … – (9) Vô liêm sỉ – man rợ – (10) Phế-anh-hùng – (11) Luật Lệ(nh) … – (12) Nhà em có nuôi một con két … – (13) Cái nhà là nhà của ta … – (14) Mèo – thỏ]


[6] Xem 5


Con cóc là cậu ông trời

Ngày xửa ngày xưa, con cóc vẫn sần sùi xấu xí như ngày nay. Nhưng cóc nổi tiếng giữa muôn loài là một con vật tuy bé nhỏ nhưng rất gan dạ, gan cóc tía mà lại. Vào một năm không nhớ rõ năm nào, trời làm hạn hán khủng khiếp, nắng lửa hết tháng này đến tháng khác thiêu cháy cây cối, hút cạn nước sông ngòi, đầm hồ. Muôn loài không còn một giọt nước để uống. Các con vật to lớn hùng mạnh xưa nay tác oai tác quái trong rừng đều nằm lè lưỡi mà thở để đợi chết, không ai nghĩ được kế gì để cứu mình, cứu muôn loài. Sức mạnh của chúng chỉ để bắt nạt nhau thôi chứ đâu có thể làm gì nổi ông trời. Duy có anh chàng Cóc tía bé nhỏ, xấu xí kia là có gan to. Anh tính chuyện lên thiên đình kiện Trời làm mưa cứu muôn loài.

Khởi đầu chỉ có một mình nhưng anh không nản. Ði qua một vũng đầm khô, Cóc tía gặp Cua càng. Cua hỏi Cóc đi đâu, Cóc bèn kể rõ sự tình và rủ Cua cùng đi kiện Trời. Ban đầu Cua định bàn ngang, thà chết ở đây còn hơn chứ Trời xa thế đi sao tới mà kiện với tụng, nhưng những con vật ở quanh Cua nghe Cóc nói lại tranh nhau mà bàn ngang bàn lùi, làm cho Cua nổi giận. Nói ngang bàn ngang là chuyện ngang của Cua thế mà họ lại dám tranh mất cái quyền ấy, cái quyền được phép ngang như cua cơ mà. Thế là Cua làm ngược lại, Cua tình nguyện cùng đi với Cóc.

Ði được một đoạn nữa, Cóc lại gặp Cọp đang nằm phơi bụng thở thoi thóp, Gấu đang chảy mỡ ròng ròng và khát cháy họng. Cóc rủ Gấu và Cọp đi kiện trời, Cọp còn lưỡng lự thì Gấu đã gạt đi mà nói rằng:

– Anh Cóc nói có lý, chẳng có lẽ chúng mình cứ nằm ở đây đợi chết khát cả ư? Ta theo anh Cóc thôi! Ðến ngang như anh Cua còn theo anh Cóc được thì tại sao chúng mình không theo.

Cả bọn nhập lại thành đoàn. Ði thêm một chặng nữa thì gặp đàn Ong đang khô mật và con Cáo bị lửa nướng cháy xém lông. Cả hai con vật này cũng hăng hái nhập vào đoàn loài vật đi kiện Trời do Cóc dẫn đầu.

Cóc dẫn các bạn đi mãi, đi mãi đến tận cửa thiên đình. Khi đi trên đường cả bọn đều hăng hái nhưng đến trước cửa Trời oai nghiêm, bọn Cọp, Gấu, Cáo, Ong, Cua đều sợ, duy chỉ có Cóc là gan liền dõng dạc ra lệnh:

– Bây giờ các anh phải nghe lời tôi. Kia là chum nước của Trời, anh Cua vào nấp trong ấy. Anh Cáo nấp ở phía bên trái tôi, anh Gấu nằm ở phía bên phải tôi, còn anh Cọp chịu khó nằm đằng sau tôi. Các anh có nghe lệnh của tôi thì mới thắng được Trời.

Tất cả đều nghe lệnh của Cóc. Sắp đặt xong đâu đấy Cóc mới nhảy lên mặt trống trờ đánh ba hồi trống ầm vang như sấm động.

Ngọc Hoàng đang ngủ trưa một cách lười biếng bị tiếng trống lôi đình đánh thức dậy nên bực tức, bắt Thiên lôi ra xem có chuyện gì. Thiên lôi lười biếng vội phủi bụi và mạng nhện giăng đầy trên lưỡi búa tầm sét cắm cổ chạy ra. Thiên lôi ngạc nhiên vì ở ngoài cửa thiên đình chẳng thấy có một người nào cả chỉ thấy mỗi một con Cóc xù xì xấu xí đang ngồi chễm trệ trên mặt trống của nhà Trời. Thiên lôi hết nhìn con Cóc lại nhìn lưỡi búa tầm sét khổng lồ của mình và thở dài vì cái búa to quá mà Cóc bé quá, đánh chưa chắc đã trúng được. Thiên lôi bèn vào tâu Ngọc hoàng, Ngọc hoàng nghe xong bực lắm bèn sai con gà trời bay ra mổ chết chú Cóc hỗn xược kia.

Gà trời vừa hung hăng bay ra thì Cóc đã nghiến răng ra hiệu, lập tức chàng Cáo nhảy ra cắn cổ gà tha đi mất. Cóc lại đánh trống lôi đình. Ngọc hoàng càng giận giữ sai Chó nhà trời xổ ra cắn Cáo. Chó vừa xồng xộc chạy ra thì Cóc lại nghiến răng ra hiệu. Lập tức anh Gấu lừng lững xổ ra đón đường tát cho chó một đòn trời giáng. Chó chết tươi.

Cóc lại thúc trống lôi đình đánh thức Ngọc hoàng. Ngọc hoàng bèn sai Thiên lôi ra trị tội gấu. Thiên lôi là vị thần trời có lưỡi tầm sét mỗi lần vung lên thì thành sét đánh ngang trời, thành sấm động bốn cõi. Sức mạnh của Thiên lôi không có ai bì được. Ngọc hoàng yên trí lần này cử đến ông Thiên lôi ra quân thì cái đám Cóc, Cáo ắt hẳn là tan xác. Vì thế khi ông Thiên lôi vác lưỡi tầm sét đi là Ngọc hoàng lại co chân nằm trên ngai vàng mà ngủ tiếp.

Thiên lôi vừa hùng hổ vác búa tầm sét ra đến cửa thiên đình thì Cóc đã nghiến răng ra lệnh, lập tức đàn Ong nấp trên cánh cửa bay vù ra và cứ nhè vào mũi Thiên lôi mà đốt. Nọc ong đốt đau lắm, mũi Thiên lôi rát như phải bỏng. Nhớ là ở cửa trời có một chum nước. Thiên lôi vội vàng vứt cả búa tầm sét nhảy ùm vào chum nước chạy trốn. Nào ngờ vừa nhảy ùm vào trong chum nước thì anh Cua càng nấp trong đó từ bao giờ đã chờ sẵn để giương đôi càng như đôi gọng kìm cắp chặt lấy cổ. Thiên lôi đau quá gào thét vùng vẫy vỡ cả chum nước nhà Trời. Thiên lôi tìm đường chạy trốn thì Cóc tía lại nghiến răng ra lệnh. Lập tức Cọp nấp sau Cóc tía nhảy bổ ra gầm lên một tiếng vang động xé tan xác Thiên lôi thành hai mảnh.

Ngọc hoàng thấy thế sợ quá bèn xin giảng hoà với Cóc, và xin Cóc cho nhận lại xác của Thiên lôi để cứu chữa. Cóc bằng lòng ngay. Theo lệnh nghiến răng của Cóc, Cọp và Gấu vác xác Thiên lôi về xếp lại ở giữa sân điện thiên đình. Ngọc hoàng phải ra tay làm phép tưới nước cam lồ vào cái xác đầy thương tích đó. Nhờ phép của Ngọc hoàng, Thiên lôi mới được sống lại. Ngọc hoàng nghĩ mình đường đường là một ông Trời mà lại chịu thua Cóc thì thật là điều sỉ nhục, nên tính lật lọng, sai Thiên lôi vác búa tầm sét chống lại Cóc và các bạn của Cóc. Biết thế nào Ngọc hoàng cũng tính chuyện lật lọng nên Cóc lại nghiến răng. Lập tức các bạn của Cóc dàn trận. Ong giương nọc, Cáo giương nanh, Cọp giương vuốt, Cua giương càng, Gấu giương cánh tay đầy sức mạnh… Thiên lôi vừa mới thoát chết hoảng quá lui lại không dám tiến lên, mà thụt vào nấp sau chiếc ngai vàng của Ngọc hoàng. Các tướng nhà Trời oai phong lẫm liệt thấy đến ông Thiên lôi còn sợ sệt như thế thì hoảng quá tìm kế thối lui.

Thấy tướng nhà trời của mình như vậy, Ngọc hoàng biết không thể thắng nổi Cóc và các bạn của Cóc. Ðến lúc bấy giờ Ngọc hoàng mới thực bụng giảng hoà, và hỏi Cóc lên tận thiên đình có việc gì. Cóc oai phong nhảy hẳn lên tay ngai vàng và dõng dạc thưa:

– Ðã bốn năm nay ở dưới trần gian hạn hán kéo dài, không một giọt mưa. Muôn cây khô héo, vạn vật chết khát. Cứ tưởng Ngọc hoàng bận gì hoặc là Ngọc hoàng giận gì trần gian mà ra phúc họa, ai ngờ lên đây mới biết Ngọc hoàng và các tướng nhà trời ngủ quên không nhớ đến việc làm mưa cứu muôn vật muôn loài dưới trần thế. Chúng tôi phải lên tận đây đánh thức Ngọc hoàng, xin Ngọc hoàng làm mưa ngay cho trần gian được nhờ.

Thấy Cóc nói giọng oai phong và bạn bè Cóc lại đằng đằng sát khí, Ngọc hoàng vội cuống quýt chống chế:

– Cóc với ta là chỗ thân thích, việc gì mà cậu phải mất công đến như vậy, ta sẽ sai thần mưa, thần gió xuống hạ giới làm mưa ngay bây giờ. Cậu Cóc có bằng lòng thế không nào.

Cóc gật gù thưa:

– Muôn tâu Ngọc hoàng trần gian được một trận mưa cứu khát thì còn gì bằng nữa. Anh em tôi vô cùng đội ơn Ngọc hoàng. Nhưng nếu ở hạ giới mà hễ bị hạn hán là bọn anh em chúng tôi lại lên đây kêu với Ngọc hoàng đấy.

Nghe Cóc hẹn lại lên thiên đình, Ngọc hoàng hoảng hồn rối rít lắc đầu xua tay:

– Thôi khỏi, thôi khỏi phải bận đến cậu như thế. Chỗ cậu và ta là tình thân thích, cậu chả nên bầy vẽ vất vả mệt nhọc như vậy làm gì. Cậu không phải lên thiên đình nữa, khi nào có hạn hán cậu muốn ta làm mưa, cậu chỉ cần ngồi dưới đất nghiến răng là ta nghe thấy liền.

Ðể chứng tỏ lòng thành thật không lật lọng của mình, Ngọc hoàng sai rồng đen bay xuống phun mưa, và đưa Cóc cùng các bạn về hạ giới. Cơn mưa cứu hạn làm cây cối tươi tốt, muôn loài nhảy múa chào đón anh em Cóc trở về. Từ đó hễ Cóc nghiến răng là trời lập tức đổ mưa nên đồng dao của trẻ nhỏ ngàn năm vẫn có câu hát rằng:

Con Cóc là cậu ông Trời
Ai mà đánh nó thì Trời đánh cho.

Phó thường dân (7): (Vô) Hậu

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Thế giới, Việt Nam on 2011/02/22 at 00:38

Vietsoul:21

Việt Nam là một trong những quốc gia hậu-thuộc-địa và đã có một số phận không may mắn lãnh nhận “nghĩa vụ quốc tế” làm “tiền đồn chủ nghĩa cộng sản” và con bài domino “ngăn chặn làn sóng đỏ”. Hậu quả là huynh đệ tương tàn, thằng sứt trán, đứa bể đầu. Rồi thì “giải phóng” thống nhất một nhà nhưng độc lập chủ quyền thì chẳng thấy và nào biết dân chủ, tự do. Cái chủ nghĩa (giáo) mác (lưỡi) lê đã chặt đứt đầu mầm móng dân chủ và đâm thủng lòng ước vọng tự do của toàn dân.

[tiếp theo kỳ trước: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng]

Vượt thoát

Vượt thoát (nguồn: dân làm báo)

Tết nguyên đán vừa qua, ngoài những rộn ràng ba ngày Tết thì phó thường dân tôi cũng hứng khởi theo dõi các diễn biến ở Tunisia, Ai-cập, Yemen, Algeria, Libya, Iran, và Bahrain hơn ba tuần qua. Cuối cùng thì sức mạnh của người dân đã thắng thế vượt lên trên cái chai lì của chế độ độc tài trên 30 năm cầm quyền của Mubarak. Toàn dân Ai-cập đã thực hiện giấc mơ lật đổ được một chế độ độc tài. Họ hy vọng tràn đầy với ý thức công dân và thực thi quyền đó trong một số cơ chế xã hội dân sự hiện hữu mong đất nước mình tiến đến một thể chế tự do dân chủ thực sự. Phong trào dân quyền giải (nội) thực (dân) khởi phát tại Tunisia đã bùng nổ và đang lan dần đến các quốc gia láng giềng xa gần.

Hậu-thuộc-địa (post-colonialism)

Các quốc gia nói trên hầu hết cùng chia sẻ chung một đặc thù lịch sử: hậu-thuộc-địa. Phong trào giải thực thập niên 50, 60 của thế kỷ 20 đã giúp cho người dân các nước này thoát khỏi xiềng xích nô lệ thực dân Pháp, Anh, Đức, Bỉ, Tây-ban-nha, và Hoa-kỳ. Dẫu thế, địa chính trị (geopolitics) đã đưa đẩy đa số các quốc gia này hoặc về phe Cộng sản hoặc vào phía Tư bản. Chỉ một số ít quốc gia khéo léo, lèo lái giữ vững được vị thế của mình không để bị lôi cuốn vào vòng đối lập này.

Sau khi giành được độc lập từ thực dân, các quốc gia hậu-thuộc-địa đã cùng nhau hội họp với tiên đề xây dựng đất nước để hậu thuẫn lẫn nhau. Hội nghị Á-Phi năm 1955 (Bandung Conference in Indonesia) khởi xướng phong trào các quốc gia không liên kết (Non-Aligned Movement, NAM). Phong trào này thành hình năm 1961 nhằm giúp các nước mới có độc lập kháng cự lại ảnh hưởng của hai khối quyền lực chính trị Tư bản và Cộng sản. Tuy nhiên, ý thức hệ chính trị và điều kiện xã hội của các quốc gia nằm trong phong trào không liên kết quá đa dạng và khác biệt nên không tạo được đoàn kết. Phong trào này rốt cuộc không đạt được kết quả như vạch ra trong chính sách và đề cương.[1]

Việt Nam là một trong những quốc gia hậu-thuộc-địa và đã có một số phận không may mắn lãnh nhận “nghĩa vụ quốc tế” làm “tiền đồn chủ nghĩa cộng sản” và con bài domino “ngăn chặn làn sóng đỏ”.  Hậu quả là huynh đệ tương tàn, thằng sứt trán, đứa bể đầu. Rồi thì “giải phóng” thống nhất một nhà nhưng độc lập chủ quyền thì chẳng thấy và nào biết dân chủ, tự do. Cái chủ nghĩa (giáo) mác (lưỡi) lê đã chặt đứt đầu mầm móng dân chủ và đâm thủng lòng ước vọng tự do của toàn dân.

Mầm dân chủ trong thời hậu-thuộc-địa bị chặt móng ngay lập tức khi giới trí thức lên tiếng đòi tự do ngôn luận, độc lập báo chí qua phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm. Họ bị ngược đãi, phỉ báng, trù dập, cô lập cho đến chết. Phan Khôi khi mất chỉ có một người cô và người cháu đưa tang, mộ bị mất không kiếm được. Triết gia Trần đức Thảo thì chết một mình trong căn nhà xập xệ và hài cốt để ở dưới gầm cầu thang. Nguyễn Hữu Đang lúc gần chết thì sợ không có chỗ chôn. Nhà thơ Hữu Loan phải về quê Thanh Hóa thồ đá để không phải chung đụng với phường bất nhân. Luật sư Nguyễn Mạnh Tường thì đành làm “kẻ bị mất phép thông công”[2]. Một thế hệ tinh hoa dân tộc bị vùi vào tro bùn quên lãng.

Lòng ước vọng tự do của toàn dân thì bị (đâm) thủng ruột trong cái đói và bần hàn. Đói với tem phiếu trong xã hội chủ nghĩa–với “xếp hàng cả ngày” rồi “xuống hố cả nước”. Cùng cực vì đã làm “tiền đồn XHCN” nên khi Cu-ba ngủ thì Việt Nam thức (trắng mắt). Đói với hợp tác xã “gõ kẻng” đi làm trên những hoang tưởng không tự vẽ vời của “cánh đồng năm tấn” để bị thu thóc như “Cái đêm hôm ấy… đêm gì!”.[3] Đói, đói, và đói.  Đói như thế thì làm gì có ước vọng tự do mà chỉ mơ cơm trắng[4].

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, một nhà nước “chuyên chính vô sản” búa liềm đã siết chặt gọng cùm trên cổ người dân từ khi thành lập nằm 1946 cho đến khi cả nước sắp bị chết đói cuối thập niên 80 thì “đổi mới”. Chuyển tiếp đến là cuộc tiếm quyền của tập đoàn tội phạm Bộ chính trị Đảng CSVN—một thể chế độc tài, độc tôn, tự bầu bán, tự tung, tự tác, thao túng, tham nhũng và áp đặt quyền lực của bè đảng trong mọi lãnh vực. Người dân không có một tiếng nói, không có mảy may quyền công dân nào cả. Mọi người dân trở thành tù nhân dự bị, sẳn sàng bị bỏ tù bất cứ khi nào thực hiện quyền công dân của họ.

Tập đoàn quyền lực này thay ngôi đổi vị với thực dân ngoại xâm để trở thành nội-thực-dân. Chúng vẫn tham tàn không kém mà còn áp bức dã man hơn vì chúng đã học chuyên được phương sách, thủ đoạn cả Đông lẫn Tây để áp dụng cai trị dân. Chúng dùng cùm, dùng còng, dùng hơi cay, dùng chó nghiệp vụ, dùng báo chí (chó nghiệp vụ thời thượng), dùng loa phát thanh, truyền hình, dùng cả bao cao su (thời trước thì trùm bao bố cho mò tôm), dùng thủ anh và thủ nhang (bình vôi – bái vật – bà đồng) hội văn vẻ tuyên (huấn) sớ tế sống. Chúng điều kiện hoá và nô lệ hóa nhân dân với cái “sợ” qua thủ tục hành (là) chính “đầu tiên” (tiền đâu?). Vì hằng hà sa số “chuyện thường ngày ở huyện”[5] như thế nên xã hội đã biến thái trở thành vô cảm khi ngày một ngày hai phải ra vào sống với “lũ” (người ngợm) và “sống trong sợ hãi”.  Một xã hội không biết mình tụt hậu trong khi các quốc gia khác đã chọn đường đoạn tuyệt với chế độ cộng sản.

Hậu-cộng sản (post-communism)

Đã hơn 30 năm từ khi cuộc cách mạng nhung của phong trào đoàn kết công đoàn Ba-lan đứng lên phất ngọn cờ tiên phong giải phóng đất nước. Chế độ cộng sản tại Đông Âu và cả thành trì Liên Bang Sô Viết sau đó cũng đã nối nhau sụp đổ, tan rã. Các quốc gia này bước vào thời kỳ hậu-cộng-sản xây dựng đất nước theo mô hình dân chủ tự do. Con đường này tuy không phải thẳng băng, và có gập ghềnh nhưng vẫn định hướng về một chân trời mới.

Không ít các nước hậu-thuộc-địa Á-Phi thử nghiệm với chủ nghĩa xã hội nhưng họ không ngu dại ôm lấy cái chuyên chính vô sản kiểu Mao, Lenin, Stalin, Pol Pot, Kim, và Hồ. Rồi dần dần họ cũng vất bỏ nó không thương tiếc. Chỉ còn sót lại vài tên cai thầu nô lệ mới trung thành với chủ (thuyết) để nô dịch hoá đồng bào chúng.

Như có đề cập ở trên, hội nghị Á-Phi Bandung đã đơm hoa cho Phong trào không liên kết của các nước hậu-thuộc-địa vào năm 1955. Nhưng mãi đến hơn năm mươi năm sau, khi thiên niên kỷ mới lật những trang đầu thì thế giới mới chứng kiến một phong trào giải nội-thực-dân của nhân dân Phi châu vùng dậy chống áp bức lật đổ những nhà độc tài và thể chế toàn trị.

Cũng thế mới đây, phong trào cách mạng hoa lài từ Tunisia sang Egypt lan đến Lybia và Bahrain là phong trào liên kết của những người cùng khổ. Họ liên kết với nhau trong một không gian mạng, không biên giới, không đảng phái, không ý thức hệ, và không phân biệt giai cấp.

Mục tiêu của các cuộc cách mạng nhân dân này là đòi hỏi quyền công dân, được sống trong một xã hội tự do dân chủ. Họ đã vượt qua rào cản tâm lý sợ hãi mà các chính quyền nô dịch này áp đặt trong đầu họ trên mấy chục năm. Ông Hosam Khalaf, một kỹ sư 50 tuổi nói dân Ai-cập đã nhận được thông điệp từ Tunisia là “Đừng tự thiêu mà hãy thiêu đốt nỗi lo sợ trong lòng bạn. Đó là những gì đã xảy ra ở đây. Đây là một xã hội từng sống trong sợ hãi, và nỗi sợ hãi đã bị thiêu đốt ra tro tàn.[6]

Một thiếu nữ khác nói “Đây là cuộc cách mạng cho ông của tôi. Họ đã nhẫn nhục bao nhiêu năm dưới chế độ độc tài này.” Anh Ghonim phát biểu “… Chúng tôi không phải là người phản quốc, chúng tôi yêu đất nước Ai-cập này. …Đây không phải là lúc chia chác nữa.  Tôi nghĩ là các nhà chính khách biết tôi nói điều gì…”. Anh còn nói thêm, “Ngay sau khi tôi ra khỏi tù, tôi đã viết một mẩu tin rằng chúng tôi sẽ thắng, bởi vì chúng tôi không hiểu chính trị, bởi vì chúng tôi không hiểu những trò chơi bẩn thỉu của họ. Chúng tôi sẽ dành chiến thắng bởi vì những giọt nước mắt của chúng tôi xuất phát từ trái tim. Chúng tôi sẽ dành chiến thắng bởi vì chúng tôi có một giấc mơ. Chúng tôi sẽ dành chiến thắng bởi vì chúng tôi tin rằng nếu có ai đó ngăn chặn giấc mơ của chúng tôi, chúng tôi sẵn sàng chết để bảo vệ nó”.[7]

Ngọn lửa cách mạng nhân dân (kiểu 2.0) đang lan truyền đến các quốc gia láng giềng xa gần từ Phi đến Á. Những “con dân” Tunisia và Ai-cập đang giành lấy lại quyền công dân của họ để được sống trong xã hội dân chủ, tự do.

Từ cuộc cách mạng đó, họ đã dạy cho tất cả chúng ta 4 bài học sau: (1) Ý chí của nhân dân. Trước hết và trên cùng đó là: nhà nước và chính phủ hiện hữu từ nhân dân mà ra chứ không phải ngược lại (như ngụy biện loại đảng trên cả tổ quốc và đảng là tổ quốc); (2) Chìa khóa để chiến thắng luôn luôn nằm trong tay của người dân – không phải lệ thuộc vào một ngoại bang (Hoa-kỳ hay bất cứ thế lực nào); (3) Tự do không phải dễ định nghĩa (và thường hay bị bóp méo như “tự do đi theo lề phải”) nhưng bạn biết ngay khi bạn có tự do hay không; (4) Tiếng nói vang dội nhất là tiếng của luân lý. Mọi phương tiện không thể biện minh cho cứu cánh – thực ra phương tiện giúp xác định cái cứu cánh và kết cuộc. Thử hỏi điều gì sẽ xảy ra nếu người Ai Cập, thay vì tuân thủ kỷ luật biểu tình phản kháng trong ôn hòa, lại dùng bạo lực khủng bố chống trả các quân lính và kẻ ủng hộ nhà độc tài để đạt được một kết thúc chính trị?[8]

Việt Nam trong thời “kinh tế thị trường” “định hướng xã hội chủ nghĩa” có khác gì chăng?

Mầm mống dân chủ vừa mới nhú lên và lòng khát vọng tự do mong được giọt hồi sinh thì đã bị yểu mệnh khai tử với đôi còng số 8 trong cái gọi là “tuyên truyền chống nhà nước” (điều 88, Bộ luật Hình sự) và “âm mưu lật đổ chế độ” (điều 79, BLHS). Một số trí thức tranh đấu cho dân chủ tự do lần lượt bị bắt giữ giam cầm trong tù đày không biết ngày về (hết hạn tù này bị treo hạn khác).

Trong nhà tù lớn, những đói khát về vật chất qua bao năm “tem phiếu” thời bao cấp, hợp tác xã, ngăn sông cấm chợ nay bùng nổ chuyển sang thèm muốn những chú dế, con xế (siêu dế, xế hộp, siêu xế, xế khủng) để lắc để quậy. Song song đó là một nền giáo dục xơ cứng trong giáo điều “hồng” chuyên chính vô sản, vô gia đình để phục vụ đảng. Những lý tưởng phục vụ nhân sinh, dân sinh đã gần như bị tuyệt giống, lạc giọng trong xã hội vật chất xô bồ của thời kỳ “đồ đểu”. Cũng cùng lúc, bè nhóm tập đoàn cầm quyền đảng CSVN như con ma đói không ngừng lam nham, lũng lạm ngân quỹ, khai thác cạn kiệt tài nguyên, hủy diệt môi trường, vơ vét cho riêng chúng.

Có hy vọng gì cho tương lai đất nước Việt Nam?

Phó thường dân tôi có quen một người anh xứ Quảng luôn khắc khoải về tương lai vận mệnh của đất nước. Anh rất bi quan về đất nước hiện nay nhưng ngược lại rất lạc quan tin tưởng vào thế hệ trẻ. Anh có một niềm tin tuyệt đối vào thế hệ trẻ vì anh cho rằng không ai khác hơn là thế hệ này nắm chìa khoá tương lai vận mệnh đất nước, được thịnh hay suy.

Dân tộc Việt Nam khó thoát ra được khổ nạn chế độ độc tài nếu thế hệ trẻ không dấn thân. Những người đã từng tạo ra lịch sử trước đây thì đa số cũng đã ra thiên cổ hoặc đang đứng bên vỉa hè lịch sử. Thế hệ kế tiếp (Nguyễn Tiến Trung, Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, AnhbaSG Phan Thanh Hải, LS Lê Trần Luật, LS Lê Thị Công Nhân, TS Cù Huy Hà Vũ, KS Đỗ Nam Hải, Nguyễn Ngọc Quang, Trần Khải Thanh Thủy, Trần Đức Thạch, Phạm Văn Trội, Vũ Văn Hùng, Đoàn Huy Chương, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đỗ Thị Minh Hạnh, Lê Trí Tuệ, Vũ Quang Thuận, người buôn gió Bùi Thanh Hiếu, mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, … kể sao cho hết) đã/đang lót đường, làm bản lề, và đòn bẫy cho thế hệ tiếp nữa nhảy vượt qua rào cản trì trệ, trơ lì, phản động của độc tài cộng sản.

Giới trẻ Việt Nam chắc chắn sẽ sánh vai ngang hàng với thế hệ trẻ Tunisia và Ai-cập đầy năng động, đoàn kết và phát kiến những chương trình và phương thức hành động bất bạo động tuyệt vời kêu gọi được quần chúng tham gia “vượt qua nỗi sợ” lật đổ chế độ độc tài áp bức.

Vì mệ Việt Nam đã quá chán ngán, cạn lời tán thán cộng sản là “cái quân vô hậu!”. Mẹ Việt Nam đang mong chờ tuổi trẻ khởi động toàn dân cùng đứng dậy đem cái hậu của tự do, dân chủ, phú cường về cho đất nước Việt Nam hậu-thuộc-địa, hậu-cộng sản.

© 2011 Vietsoul:21

[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi (2) Nôị-thực-dân (3) Sợ (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông (5) Con dân – con cá – cò mồi (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng (7) (Vô) Hậu (8) Gió mưa là chuyện của trời … (9) Vô liêm sỉ – man rợ – (10) Phế-anh-hùng (11) Luật Lệ(nh) … (12) Nhà em có nuôi một con két … (13) Cái nhà là nhà của ta … (14) Mèo – thỏ (15) phố vẫy (16) Mít tờ Đàm và Bác Hồ (17) Nín thở qua cầu]


CHÚ THÍCH:

[1] Non-aligned Movement, wikipedia

[2] Kẻ bị mất phép thông công, Nguyễn Mạnh Tường

[3] Cơm trắng, Phạm Lưu Vũ

[4]Cái đêm hôm ấy… đêm gì?”, Phùng Gia Lộc

[6] Speaker’s corner on the Nile, Thomas L. Friedman. Bản tiếng Việt “Dòng sông Nile