vietsoul21

Archive for the ‘Việt Nam’ Category

Văn tế Dân Oan – Võ Thị Hảo

In Liên Kết, Việt Nam on 2011/03/21 at 18:13

Lời tác giả : Cho tôi gửi tặng những người dân Việt Nam đã oan, còn oan hoặc đã chết dưới cường quyền, bạo lực và bất công và vì những lý do ngụy biện – Nhà văn Võ Thị Hảo*

Thương thay

Một ngày
Người ra ngõ
Người xuống đường
Bước dân lành lụm cụm con sâu cái kiến.

Một ngày
Trong vô tội
Người bị đánh đạp bỏ mạng nơi công đường
Cổ  gẫy
Tứ chi liệt rũ
Đớn đau quặn mình tiếng nấc tắt thở

Một ngày chẳng như mọi ngày
Mẹ gần đất xa trời không kịp nhìn con lần cuối
Nhận xác con nơi công đường
Mẹ già đứt ruột.

Mẹ ơi!
Thôi đừng khóc
Nước mắt mẹ đã cạn
Con đâu phải người chết oan đầu tiền trên xứ sở này!

Kìa vợ, kìa con!
Tiếc thương cha
Thì cứ để xác cha nằm trong đá lạnh.
Xác thân ta lời chứng
Những vết chém từ trái tim lựu đạn.

Này mẹ này vợ này con
Hãy khum bàn tay cần lao
Che gió
Nến hắt hiu nhỏ giọt nước mắt trắng

Cha về!

Kìa mẹ!
Lưng còng mẹ úp mặt trên xác con
Mai này mẹ xuống suối vàng được không?
Hồn con quẩn quanh đời đời phố lạnh

Con  gái ơi!
Cúng cơm cha ư?

Thôi này con,
Hãy nấu cháo lá đa
Con hãy vung tay ngang trời những trận mưa gạo và muối
Rắc khắp bốn phương trời  nước Việt
Còn chưa đủ đâu !

Vì cha không thể ăn một mình
Cha đi nhập dòng hồn oan đông đàn dài lũ
Thiên hạ ơi! Hãy gửi cho những oan hồn chúng tôi mỗi người một hạt muối!

Đồng bào ơi!
Tôi ra đi  nguyên lành với tiếng cười
Trở về chỉ còn linh hồn dật dờ đầu ngõ.

Tôi con ma mới
Nhập vào dòng ma oan cũ
Dài như sông.

Đồng loại ơi!
Chúng tôi đã tan nát xác thân
Chúng tôi chết oan bởi người ta, bởi ngàn vạn cớ
Như con sâu cái kiến bị dí nát dưới gót giầy
Không một lời kêu van nào không một giọt nước mắt nào không một công lý nào làm mềm nổi những trái tim lựu đạn.

Hồn chúng tôi dật dờ luẩn quẩn cổng công đường.

Đòi mạng.

Kìa, người Việt !
Chúng tôi chết tức tưởi bởi những kẻ bạo ngược
Những kẻ ăn lộc dân để hành hạ giết dân!

Kìa ngẩng lên xem
Nơi nào đục khoét tiệc tùng bán tước mua quan lễ hội tưng bừng trộm cướp
Cuộc hành lễ ma quái của những trái tim lựu đạn
Những tua lưỡi bạch tuộc.

Gục mặt xuống coi
Có thấy chúng ta đông đàn dài lũ
Từ miền xuôi miền ngược đến ngõ hẻm hang cùng
Dân oan đi thành rừng  không còn nước mắt để khóc

Tiếng kêu tắc nghẹn cổ họng
Mỗi tiếng nói khạc ra từng ngụm máu
Trăm vạn lời vốc máu ai người đáp lại?!

Kẻ có lương tâm hãi sợ
Báo chí lặng câm với lưỡi hái trên đầu.

Ôi những mặt héo tim héo linh hồn rực rỡ
Những hồn oan những hồn oan hồn oan
Rạch trời tiếng kêu xé ruột!

Biết không? Biết không có biết không?
Hỡi dòng người vô cảm
Rùng rùng đi mê loạn
Đàn kiến khốn khổ quằn quại  kiếm ăn
Câm lặng nhìn đồng bào mình chết
Dưới bàn tay bạo tàn

Hỡi ôi!

Này lễ cầu hồn

Ai kia

Người người

Xin đừng vờ ngủ

Đừng giả điếc
Rồi đến lượt mình
Một ngày tức tưởi nhập dòng oan.

Hãy gửi cho chúng tôi đông đàn dài lũ mỗi người một hạt muối
Đốt cháy triệu ngọn lửa

Trên lễ cầu hồn

Lúc rạng đông

 

Võ Thị Hảo

nguồn: danlambao

Con tin lương tâm

In Chính trị (Politics), Tạp văn, Việt Nam on 2011/03/13 at 22:11

Vietsoul:21

Có lẽ chưa bao giờ hết cần phải có một sự thay đổi về nhận thức và hành vi: để chuyển hoá nỗi sợ thành hành động cũng như để hoá giải những đểu cáng bằng điều tử tế. Khi cái “đểu” lên đến tột điểm cùng lúc với sự tử tế bị vùi dập dưới bùn nhơ thì đó cũng là điểm bộc phát. Những hoa sen sẽ trổi dậy từ đáy bùn trong hồ và hương thơm của của những đóa hoa sẽ át cả mùi bùn.

 


Không biết với các bạn thì sao chứ tháng Ba là tháng chấn động trong cuộc đời của tôi. Nó là tháng “khúc ngoặc” giữa đi và ở, giữa sống và chết, giữa còn và mất. Tôi may mắn nên được ở vế bên trái: đi, sống, còn. Tháng Ba mở đầu cho những biến chuyển kỳ lạ không lý giải được trong đời tôi. Vì thế tháng Ba đến như con chim báo bão cho những cảm xúc cuồn cuộn, dâng trào và bất chợt.

Những ngày tháng Ba

Tháng Ba (gãy súng) năm 1975 là tháng thọ nạn của miền Trung. Chiến trường sôi sục vùng cao nguyên và cực bắc miền Trung. Gia đình tôi di tản từ Qui Nhơn vào Cam Ranh đến Phú Quốc và trở lại Sài Gòn sau 30/4. Trốn chết.

Tháng Ba năm 1979, chiến trường Cam Bốt chưa chấm dứt thì chiến tranh biên giới Trung-Việt bùng nổ. Chuyến vượt biên lần thứ ba của tôi cuối cùng đã thành, tàu đánh cá LA1234 rời nước ra đi vượt biển. Sau một tuần lênh đênh trong bão tố, mưa giông tàu đã tấp vào một đảo hoang Mã Lai. Thoát chết.

Tháng Ba năm 2011, cuộc cách mạng hoa nhài đã nở hoa trên Tuisinia, Egypt và hương thơm lan toả khắp bắc Phi, Trung Đông, đến Á châu. Tháng Ba là tháng giao mùa. Liệu hoa nhài có nở trên đất khổ, nơi “tháng Ba bà già chết cóng”? Trố chết!

Tháng Ba với những oan khiên, khổ nạn đang diễn ra trước mắt. Người thì đang bị cầm tù (Cù Huy Hà Vũ, Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng) và sẽ ra toà sắp tới[1]. Người thì bị hành lên, hành xuống, chất vấn, đe dọa qua các giấy/lệnh mời “làm việc” (Nguyễn Đan Quế, Tạ Phong Tần, Mẹ Nấm, Cha Lý). Người thì bị đánh đổ máu (Nguyễn văn Hướng), gãy cổ tử vong (Trịnh Xuân Tùng)[2]. Người thì bị cưỡng chế, hành hung không cho hành đạo (Giáo Hội Tin Lành Mennonite, MS Nguyễn Thành Nhân, MS Thân Văn Trường)[3]. Người thì bị bịt miệng để che chở những tội phạm vô luân của quan quân tập đoàn tội phạm từ Ủy viên TW Đảng chủ tịch tỉnh, phó chủ tịch huyện, công an tỉnh, cán bộ hải quan, đến giám đốc ngân hàng  (Nguyễn Trường Tô, Đinh Xuân Hùng, …)[4]

Tháng Ba, tháng của lễ hội và một ngày âm lịch trọng đại gần kề, “Dù ai đi ngược về xuôi. Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng Ba”. Lễ hội chi cho hổ ngươi dòng giống Lạc Hồng nếu con cháu vua Hùng chưa quyết dành lại quyền làm chủ đất nước và để lũ nội-thực-dân CSVN bán cho nước “lạ”

Tù nhân lương tâm (Prisoners of conscience)

Những người thọ nạn vì đất nước, đồng bào kể trên chỉ là một số nhỏ trong những người còn lương tâm, có lý tưởng vì nước, vì dân, vì chính nghĩa. Họ bị bạo quyền vô lương đày đọa, giam cầm với những “án”, “tội” từ các điều “luật”  xử bởi toà án (nhân dân) luật rừng (kangaroo court). Bất kể những cái án “chính trị” hay “hình sự” nào mà toà án luật rừng gán cho những người này đi nữa thì họ cũng cùng chung một phận người: tù nhân (của) lương tâm. Lương tri họ không cho phép im lặng hoặc dửng dưng không hành động khi thấy những điều sai trái, những bất công, những áp bức hằng ngày tái diễn ra trước mắt.

Họ lên tiếng. Họ hành động. Và họ bị bịt miệng, cùm tay.

Họ là ai? Họ có khác thường gì với chúng ta?

Họ là sinh viên, nhà báo, luật gia, nhà giáo, cựu chiến binh, công nhân, nông dân … Họ cũng như chúng ta.

Những anh chị em, chú bác, cô cậu của chúng ta đã trong vòng lao lý. Các người thân nhân quyến thuộc của họ cũng chịu những áp lực, cô lập, sách nhiễu không kém.

Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại. Trong lao tù họ bị áp lực tâm lý rất mạnh. Thiếu thốn vật chất từ miếng ăn, nước uống, chỗ ngủ, thuốc men thì con người cũng có thể tự điều chỉnh để cầm cự và thích nghi. Nhưng thiếu sự giao tiếp, trao đổi, và động viên với đồng bạn dễ đưa đến suy sụp tinh thần. Không gì tạo áp lực chấn động tâm lý mạnh hơn là cảm giác bị bỏ rơi trong từng ngày quên lãng. Và không gì gây phấn chấn nâng đỡ tinh thần hơn là biết được mọi người vẫn quan tâm, lo lắng, và đồng tình.

Những người tù nhân lương tâm này luôn mong được lương tri của xã hội và nhân loại đưa lưng để dựa vào. Lương tri của nhân loại là lương tâm của bạn và ta, của mỗi thành viên trong cộng đồng, xã hội, quốc gia, thế giới.

Con tin lương tâm (Hostages of conscience)

Oái ăm thay có những nơi mà lương tri thì thui chột và bị bán chác cho sự yên ổn cá nhân, cho an toàn nghề nghiệp, cho hãnh tiến thanh danh.

Có nơi mà quyền lực bạo hành đã buộc mọi người thành con tin (của) lương tâm dưới dùi cui, chó săn, còng cùm, hoặc miếng cơm manh áo.

Bạn bè, anh chị em, cô cậu, chú bác của chúng ta đang là tù nhân lương tâm. Bạn với ta là những con tin lương tâm. Chúng ta bị buộc phải mù, phải câm, phải điếc, phải làm ngơ.

Bạn và ta cần thoát ra cảnh đời làm con tin, tự giải thoát cho mình, và giải thoát cho các bạn tù.

Làm thế nào để thoát gọng kềm bạo lực?

Có lẽ chưa bao giờ hết cần phải có một sự thay đổi về nhận thức và hành vi: để chuyển hoá nỗi sợ thành hành động cũng như để hoá giải những đểu cáng bằng điều tử tế. Khi cái “đểu” lên đến tột điểm cùng lúc với sự tử tế bị vùi dập dưới bùn nhơ thì đó cũng là điểm bộc phát. Những hoa sen sẽ trổi dậy từ đáy bùn trong hồ và hương thơm của của những đóa hoa sẽ át cả mùi bùn.

Khi vui thì vỗ tay vào, đến khi hoạn nạn thì nào thấy ai. Những người tù lương tâm có phải cám cảnh với hoàn cảnh như thế chăng? Bạn và ta có cảm thấy mình cùng chung hoạn nạn đó chăng? Có sự khác biệt gì chăng giữa người tù nhân lương tâm và một con tin lương tâm?

Bạn và ta nhận thức được rằng chúng ta (gồm cả họ) là một.

Bạn và ta đã sống trong sợ hãi. Bạn và ta sống với “lũ”, sống với “chuyện thường ngày ở huyện” đã quá lâu thành thử các hành vi đã bị điều kiện hoá thích nghi với nhận thức đó.

Nhận thức – hành động

Từ nhận thức đến hành động là khoảng cách hố sâu của nỗi sợ quán tính. Bước nhảy là sự chuyển hoá.

Hành động (hành vi) của con người không chỉ hoàn toàn điều khiểu bởi cái đầu theo tinh thần duy lý nhưng bởi con tim, bởi thói quen, và tục lệ. Không những chỉ có ý chí trội vật chất (will over matter, mind over body) mà ngược lại thân thể tiềm đựng thông tin (information) và trí tuệ (inteligence) nên cũng ảnh hưởng cảm nghĩ và nhận thức. Khi các hành vi, hành động thay đổi thì nó sẽ chuyển lối suy nghĩ.

Bạn và ta cùng làm những thay đổi nhỏ trong hành động để chuyển dời tâm điểm của nhận thức từ sợ hãi đến tử tế.

Những hành vi tương thân, đồng cảm nhỏ nhất sẽ chuyển hoá bạn và ta thành một khối sức mạnh vô bờ. Sức mạnh của sự tử tế, của tình người. Sức mạnh của chính nghĩa để (mà) thắng (thay) cường bạo.

Đã có một số người làm những hành vi (không) nhỏ ấy. Người buôn gió và các bạn hữu thăm viếng tặng hoa vợ hiền anh Cù Huy Hà Vũ. Em đường-đời-sỏi-đá viết tâm thư kêu gọi lương tri con người không quên ba người bạn trẻ.

Bạn và ta có thể làm những điều (không) nhỏ tử tế đấy không? Bạn và ta có thể dành một chút thời gian nào chăng cho các bạn trong cơn hoạn nạn? Bạn và ta đi qua nhà các bà mẹ, người vợ, thân nhân của những người đấu tranh dân chủ ngả mũ, gật đầu chào tỏ sự cảm thông cho hoạn nạn trong gia đình họ. Bạn và ta gởi những thiệp thư (postcard) với vài hàng thăm hỏi. Bạn và ta hãy đến thắp nén nhang cho người oan khuất. Bạn và ta đến tụ tập nơi các phiên toà sắp tới. Bạn và ta chuyển ngân giúp đỡ các gia cảnh bị cô lập không phương tiện kinh tế.[5] Bạn và ta không phân biệt trọng khinh người đấu tranh bị cùm gông hay kẻ thấp cổ bé miệng bị hà hiếp.

Những hành động (không) nhỏ tử tế ấy của một cá nhân là lời phản kháng hùng hồn nhất với bạo quyền. Nhưng khi ngàn ngàn hành động ấy gộp lại thì cái thiện sẽ vượt lên làm cái đểu cáng chùn bước, chột dạ, hổ ngươi. Nó sẽ tạo sinh một hiệu ứng đám đông dây chuyền với tác động như những con sóng tựa đầu nhau thành ngọn sóng thần.

Bạn và (chúng) ta là một. Sẽ có sự chuyển hoá nào khi bạn và ta cùng biểu lộ tình người tình thân và cùng đồng lý tưởng xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, bác ái.

Bạn và ta có thể tự tin rằng tất cả những hành vi (không) nhỏ tử tế ở các góc chợ, khu phố, ngõ hẻm, đường mòn sẽ dẫn bạn và ta qua ngã ba đến con đường cái quan. Con đường của lương tri Việt Nam, dân chủ, công bằng và bác ái.

© 2011 Vietsoul:21

Phó thường dân (8): Gió mưa là chuyện của trời …

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2011/03/06 at 13:31

Vietsoul:21

Phó thường dân (8): Gió mưa là chuyn ca tri …

[tiếp theo kỳ trước: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu (9) Vô liêm sỉ – man rợ (10) Phế-anh-hùng (11) Luật Lệ(nh) … (12) Nhà em có nuôi một con két … (13) Cái nhà là nhà của ta … (14) Mèo – thỏ  (15) phố vẫy (16) Mít tờ Đàm và Bác Hồ (17) Nín thở qua cầu]

“Gió mưa là chuyện của trời
Nước non là chuyện của người công dân”

(Phỏng thơ Nguyễn Bính)

Cả hơn tuần nay phó thường dân tôi nằm bẹp ở nhà. Chẳng buồn đi đâu vì trời hết mưa xong chuyển sang đổ tuyết. Mưa ở vùng Tây Bắc Hoa-kỳ này nhiều đến nỗi người dân địa phương thường tự trào rằng “Đã là người Seattle thì nắng không đủ sạm màu da, chỉ dầm mưa cho rỉ sét.” (Seattlite don’t tan, we rust).

Nói thì nói vậy thôi chứ trung bình lượng nước mưa rơi ở Seattle vẫn còn thấp so với các nơi khác trên toàn quốc. Seattle đứng hạng thứ 44 sau cả New York, Miami, và Boston. Nhưng (cái nhưng đáng kể này) số ngày mưa ở Seattle thì có thể được cho là “hơi bị” cao. 158 ngày trong năm, gần như là 50 phần trăm. Tạm coi là ngày nắng, ngày mưa cứ thay phiên nhau.

Nhưng được một cái là mưa ở đây lai rai theo kiểu mưa phùn lất phất. Không nặng hột như mưa rào, mưa trôi nồi thủng rế, mưa trắng trời trắng đất, hay mưa lút mặt lút mày. Hồi mới sang đây phó thường dân tôi mấy năm đầu còn che dù khi đi mưa.  Rồi vì tật hay bỏ quên, làm mất, nên riết cũng quen, và thế là từ hai mươi mấy năm cho tới giờ chẳng bao giờ bận tâm che dù hoặc mặc áo mưa.

Ở đây nếu năm nào mà không có tuyết và mưa ít thì các viên chức thành phố–giới chức tiểu bang, công ty điện, sở cung cấp nước—liên tục cảnh báo và giáo dục người dân tiết kiệm.  Chuyện kêu gọi điều tiết giảm thiểu sử dụng điện nước để hầu bảo đảm cung cấp nhu cầu cho tư nhân và hảng xưởng nhất là thời gian cao điểm mùa hè. Họ nói dzậy phòng hờ chứ phó thường dân tui thấy cũng tùy. Vì vẫn có nhiều người xài xả láng chẳng giữ gìn gì ráo trọi, và bù lại cũng nhiều người để ý xử dụng điện nước cẩn thận. Tựu chung hơn mấy chục năm nay tui hổng bao giờ thấy ai phải chịu thiếu nước, thiếu điện.

Ủa, gió mưa là chuyện của trời … nói tới nói lui làm chi hè!

Ừa, mưa thì mới có nước … hổng có mưa thì “lạy trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày, lấy đầy bát cơm, lấy rơm đun bếp.”

Thiếu nước là thấy thở ngáp ngáp rồi. Thời vượt biên ngày nào làm sao quên nổi!  Không có nước thêm vài hôm nữa thì phó thường dân tui đã há miệng cá ngáp ngoài Thái bình dương rồi!

Nhưng nguy nhất giờ là mất nước tuốt luốt, là tiêu tùng vạn vạn con cháu vua Hùng à nghe…

Thiếu nưc, tha nưc, mt nưc

Nói tới từ ngữ c thì phó thường dân tui thiệt tình hổng làm sao hiểu nổi những chuyện cắc cớ thiếu nước, thừa nước, mất nước ở cái đất Việt Nam thời “hiện đại” này.

Năm nào cũng hạn hán, thiếu nước nghiêm trọng dẫn đến việc mùa màng thất bát. Thiếu nước thì đưa đến thiếu điện. Điện cúp lia chia bất kể đêm ngày, chẳng chừa nơi đâu, có đến chết người.

Thiếu điện thì lập tức có thiên tài đảng ta no, có xây đập thủy điện. Mỗi tỉnh mỗi vùng mạnh ai nấy làm, xây đập thủy điện để tăng trữ lượng nước và công suất điện. Có nước đâu mà trữ! Nước ở trên trời rơi xuống, ở thượng nguồn chảy ra chứ đâu phải cứ xây lên là có nước, có điện.

Cả hai miền đất nước lệ thuộc vào nguồn nước chính từ sông Mê-kông và sông Hồng. Hai nguồn nước đó giờ đã cạn kiệt, giảm lưu lượng một cách kinh hoàng. Sông Tiền, sông Hậu có những đoạn nước cạn tàu bè không chạy được. Còn sông Hồng thì trơ bãi cát ngang sông.

Vì sao? Chuyện gì ở đầu nguồn? Ai cản ai ngăn? Hay chăng là chuyện “lạ”?

Thiệt lạ hết sức nghen. Ở Việt Nam bây giờ thì gần như đụng phải chuyện gì cũng là chuyện “lạ”. Tàu “lạ”, rau quả “lạ”, hoá chất “lạ”, gạo “lạ”, công nhân “lạ” … riết rồi dám Việt Nam cũng thành nước “lạ”.

Chưa xong. Hết thiếu nước thì đến thừa nước. Toàn trò cắc cớ. Cứ mỗi lần mưa xuống thì thành phố ta tha hồ ngập nước[1]. Ngập từ mắt cá, ngập lên đầu gối, ngập tới thắt lưng. Ngập cống, ngập đường, ngập chợ, ngập thả dàn (thả bè).

Triều cường đó mà. Nghe mà bắt mệt. Hoa mỹ chơi chữ làm chi cho má nó khi.

Ngập nước thì nói đại là ngập nước cho nó gọn, chứ đừng có đổ thừa cho sông cho biển. Rồi thì thau chậu, phao chảo, thùng phi, thùng xốp, tất cả các phương tiện di chuyển chiến lược trong hai thành phố mang tên (cá) ngừ và thủ đâu Hà Nậu. Nẩu nói thâu rầu?

Thiếu nước và thừa nước mà không sang qua, sớt lại cho toại lòng nhau được. Nghiệt dzậy! Nhưng chịu vậy sao? Thôi thì còn nước còn tát chớ biết sao giờ.

À mà phó thường dân tui có nghe ở cả thế giới chỉ có mỗi Việt Nam là từ ngữ “nước” để chỉ cho đất Việt Nam. Đất đi kèm với nước thành “đất nước”, nghĩa là “nước” bao hàm cả đất và nước. Nước đối với người Việt Nam rất quan trọng, bắt nguồn từ nền văn minh lúa nước. Văn minh của những người xâm mình chống thuồng luồng, của Lạc Long Quân, vị thủy thần huyền tổ giống Lạc Việt. Lạc cũng là nước. Tức là khi nói về Việt Nam là nói đến nước.

Thế nên điều đáng sợ là Việt Nam đang dần dần mất nước – mất biển, mất đảo, mất đất, mất chủ quyền – Tại làm sao? Còn ai bứng (trồng) khoai đất này! Đó là đám nội-thực-dân Đảng CSVN.

Cóc kêu vi tri!

Nói tới nước thì phó thường dân tui nhớ lại câu chuyện con cóc là cậu ông trời. Cóc chỉ nghiến răng kêu là trời mưa. Nhiều người chắc ai cũng quên đầu đuôi câu chuyện rành mạch ra sao mà chỉ nhớ đến đoạn “cóc nghiến răng trời mưa”. Nhưng mà có phải thật vậy không? Hay là cóc cứ nghiến răng kêu trời mà trời vẫn cóc thèm để ý?

Cóc kêu với trời thì nhằm nhò gì. Hãy đọc vài dòng về số phận Phan Khôi, con cóc tía dưới thời VNDCCH năm 1954-1960:

“… Tiếng thở dài và tiếng chép miệng của ông trong những ngày cuối cùng như còn vọng lại. Sinh thời, mỗi lần ông nói đến một nỗi oan khuất nào đó của người đời, ông vẫn thường nhắc đến tiếng cóc kêu với trời! Gió mưa là do chuyển hoá Đông – Tây của thời tiết, nhưng vẫn có người tốt bụng tin rằng: Trời mưa nhờ có cóc kêu.” (Trần Duy, Tưởng niệm về Phan Khôi đăng trên Talawas ngày 18/6/2008)

Còn thời CHXHCNVN thế kỷ 21 thì sao? Một con cóc kêu trời cũng chẳng được chi. Con cóc tía Cù Huy Hà Vũ đã chạm tới thiên đình nhưng thượng hoàng đã sai đám thiên lôi chỉ đâu đánh đó dương búa sấm sét, đóng gông vào cùm.

Cóc con thì dzậy, còn trời (con) thì sao?

Thượng hoàng bộ chính trị đã chẳng ra rả ca ngợi cái “thiên đường cộng sản” đó sao? Có gì mà than vãn.

Phó thường dân nghĩ lại thì thấy cũng hổng trật. Thiên đường cho tập đoàn tội phạm vì họ tự tung, tự tác muốn làm gì thì làm, muốn vơ vét, lam nham, lũng lạm cỡ nào cũng được.

Họ nói “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu” cũng trúng phóc luôn. Năng lực họ hổng có, họ yếu/thiếu khả năng thì họ chỉ làm lam nham thôi. Nhu cầu thì ngược lại rất cao, nên họ cần vơ vét hết để thỏa mãn chúng. Để tui nhớ nha: nhu cầu xây đền thờ họ[2], nhu cầu đi xế khủng, nhu cầu rau sạch[3], nhu cầu nhất dạ đế vương[4].

Chỉ có đám nô-lệ-mới (phó) thường dân thì đối với họ là không có nhu cầu nhiều, lại có năng lực lao động cao nên phải được tận dụng hết cỡ trăm phần trăm. Người nô lệ thì bù đầu cắm cổ làm việc, đâu có thời giờ hoặc cần tiêu khiển nên cơm hẩm, cà thiu, cháo rau qua ngày là quá lẽ phải rồi.

Thử coi nè. Ai đời có cái anh chàng lao động xuất khẩu con thằng cha mắc dịch nào đó hổng biết. Vừa học (hộc xì ke), vừa làm (lừa) xong hai ba bằng cấp trong vòng mấy năm ngắn hổng rõ. Nhưng đến giờ thứ 25 đăng đàn vào ủy viên Trung Ương sánh vai với người (S)ang kẻ (T)rọng. Giữ lề mề vai công nhân làm chi cho mệt cái thân! Hãy đình công lãng việc rồi từ đó phấn đấu thay tên thành Tuấn, đổi họ là Nông, để thoát đời công nhân vô sản. Tự nhiên thành chàng Nông tuấn kiệt[5] dzô quyền, dzô tiền là chắc ăn nhứt.

Chưa hết. Gã cha của thiếu chủ Nguyễn Thanh Nghị[6] thì lấy của thiên (hạ) trả địa cho tên này xài xả láng. Y được (ngao) du học ở trường cha già đế quốc Mỹ George Washington, hổng phải trường ĐH Đảng (cha già dân tộc) Hồ Chí Minh à nha. Mới học ra trường (2006) “phục hổ, tàng long” chờ vài năm sau (2009) “được” bổ nhiệm Phó hiệu trưởng ĐH Kiến Trúc TP HCM. Rồi úm ba la ùm bà là thành là ủy viên trung ương (2011).

Tui nghĩ các sinh viên trẻ có khả năng, năng lực chắc còn hơn tay này nhiều. Nhưng tiếc thay là các bạn không làm sao “phấn đấu” để được lọt vào giai cấp COCC, CCCC (con ông cháu cha, con cháu các cụ). Các bạn nằm trong giới vô sản cccc (con cóc cái cò) thành ra cứ nghiến răng kêu trời và lặn lội bờ ao kiếm ăn đi thôi. Bạn nào không việc đúng nghề thì đi làm cửu vạn, công nhân vệ sinh vận dụng sức cơ bắp. Trọng trách quyền lợi thì để “trời con” BCT tự nhiên no giùm.

Thi phế anh hùng (anti-heroic)

Các dân mạng thông rành thời cuộc, tình hình thế giới hơn phó thường dân tui thì ai cũng biết. Những cuộc cách mạng bạo lực, chuyên chính giai cấp hay ý thức hệ đang gần như bất khả thi trong hoàn cảnh thế giới hiện giờ. Thời bây giờ coi như là thời phế-anh-hùng (anti-heroic). Thời một mình, một ngựa Kinh Kha đã tàn, chỉ để tán trong trà dư tửu hậu. Thời bây giờ không chờ một lãnh tụ, một thánh Gióng xuất hiện khai lộ, dẫn đường.

Giờ là thời của người cùng khổ, không ý thức hệ, không phân biệt giai cấp, chính kiến. Thời của nông dân mất đất, của công nhân lương chế đói, của ngư dân không biển chài bắt, của sinh viên không việc, của phụ nữ đi làm ôsin, của tráng niên đi làm cửu vạn, của trẻ em/cụ già lang thang bán vé số, của người rơm/người rừng lưu lạc phương trời, của thiếu nữ cô Kiều bán thân đợ nợ.

Giờ là thời số phận con giun cái kiến quằn lên đòi làm người, làm công dân với đủ nhân quyền dân quyền.

Tất cả những người đang thiếu nước, thiếu cơm, không có chủ quyền, hay đang dần dần mất nước cũng phải biết tụ tập đoàn kết đồng cảm với nhau.

Không chóng thì chầy họ cũng theo gương cóc tía nhỏ bé cùng các chị cua ôsin, anh gấu cửu vạn, đàn ong công nhân, ông cọp dân oan, cô cáo sinh viên náo động thiên đường đòi mưa, có nước làm ăn, có đường sinh sống.

Nước là nước của nhân dân, của đồng bào chứ đâu phải nước mang tên XHCN hay độc tài cộng sản. Đồng bào sống trong nước nhưng oái ăm thay nước thì đã mất vào tay nội-thực-dân. Sao đồng bào buộc đành làm người nô-lệ-mới khát nước mà lại phải phục vụ đám bạo quyền tập đoàn tội phạm bộ chính trị Đảng CSVN?

Phải đòi bằng được quyền công dân và quyền làm người và cho một xã hội chuyển đổi trở nên tử tế, lương thiện. Quyết không sống chung với “lũ”, với “đồ đểu”, với “chuyện thường ngày ở huyện”.

Sinh viên đòi quyền có công ăn việc làm dựa vào khả năng chứ không dựa vào thân thế con ông cháu cha, con cháu các cụ, hoặc phe nhóm . Công nhân đòi quyền lãng công, đình công để đòi hỏi và đạt được cải thiện điều kiện công việc và lương bổng tương xứng. Nông dân đòi quyền hiệp hội, được tín dụng, bình ổn giá cả phân, giống. Ngư dân đòi được sự bảo vệ của hải quân trong vùng lãnh hải quốc gia không bị khủng bố từ tàu “lạ”. Thương nhân đòi hỏi được tự do buôn bán hợp pháp không bị nhũng nhiễu bởi các quan thuế, quan thanh tra, quan thổ, quan quân …

Đồng loạt, đồng lòng, đồng hành sát cánh đòi lại quyền chính đáng. Nếu cóc nghe lời bàn qua, tán lại thì cóc đã nhảy về đáy giếng cạn nghiến răng ken két than trời trách phận. Nếu cóc một mình một thân thì gà trời đã mổ cho lòi óc. Cóc kết hợp với những con vật khác đem dũng khí và trí thông minh sáng tạo để lên tới thiên đình đòi mưa, có nước, đem sức sống cho vạn vật. Cóc vận dụng trí khôn dùng sở trường của từng con vật để chống đỡ lại thiên lôi (công an còn đảng còn mình, chỉ đâu đánh đó), gà trời (gà thiến gáy to từ các kèn đồng thau/Đông La), và chó (chánh án) nhà trời. Cóc kiên cường, dũng cảm đã quyết tâm cứu mình và cứu cả muôn loài.

Cha ông chúng ta đã sống nhẫn nhục bao năm và ta còn phải sống nhẫn nhục bao năm nữa?

Đã có những ngày mà con người lương tâm táng tận, con tố cha, cháu tố bà, bạn bè tố nhau. Đã có những ngày mà phẩm giá con người bị bôi nhọ, chà đạp, xoá tên và xóa dấu vết người (Phan Khôi, Lưu Quang Vũ, Nguyễn Hữu Cầu, Trần Văn Sương). Đã có những ngày mà họ trở thành người lưu đày trên chính nước họ (Trần Đức Thảo, Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Lê Trần Luật) và là “kẻ mất phép thông công” (Nguyễn Mạnh Tường, Cù Huy Hà Vũ). Đang có những ngày mà sự đểu cáng, lừa đảo trắng trợn là điều hiển nhiên cho thời kỳ “đồ đểu” khi hàng loạt tiến sĩ mác giả nắm chức vụ quyền năng quan trọng còn tiến sĩ hàng thật thì xách cặp, soạn bài cho quan “tiến sĩ giấy”.

Cha ông chúng ta đã sống nhẫn nhục bao năm và ta còn phải sống nhẫn nhục bao năm nữa?

Đang có những ngày mà chính quyền dùng phân, dùng bao cao su để bôi bẩn, bôi nhọ nhân phẩm con người. Đang có những ngày mà nhà nước dùng đầu gấu, tội phạm hành hung, gây hấn, đả thương những công dân yêu nước. Đang có những ngày mà “trung với Đảng” tội phạm để được quyền hành, bổng lộc. Đang có những ngày mà “hiếu với dân quan (đầy tớ)” đem lại ô dù bao che tội ác.[7] Những ngày dài lặng chìm trong đau khổ vẫn tiếp tục …

Cha ông chúng ta đã sống nhẫn nhục bao năm và ta còn phải sống nhẫn nhục bao năm nữa?

Có dăm người luận bàn về thời cơ và phương án. Thời cơ ở đâu? Đến khi nào thì đủ điều kiện? Chờ đợi minh quân lãnh đạo nào xuất hiện? Ai là người quyết định thời điểm cơ hội? Ai là người xác quyết điều kiện chủ quan/khách quan, cần và đủ? Chính trị gia nào phất cờ? Bình luận gia, chuyên gia nào phân tích rạch ròi lên hiệu bật đèn xanh? Phương án nào và ẩn số nào tối ưu? Chuyện lớn hay chuyện nhỏ? Chuyện thật hay chuyện giả?

Phải chăng chuyện sẽ đơn giản hơn khi mỗi chúng ta chọn lựa ứng xử và hành động tự cứu mình và cứu muôn loài như chàng cóc bé nhỏ. Có dũng khí để tranh đấu dành lại quyền lợi nhân phẩm khi sinh ra đã có. Biết hợp quần để tạo sức mạnh. Đem trí tuệ vận dụng mọi phương tiện trong cuộc đấu tranh. Ngày mai còn nước là do kết quả những gì bạn làm không ít thì nhiều hôm nay.

Có cần bảo hộ cái tuyên đoán điều gì sẽ xảy đến khi các luật gia lên tiếng đòi lại nhân phẩm và tự do cho đồng nghiệp Lê Công Định, Cù Huy Hà Vũ, Lê Trần Luật?… Khi các sinh viên và công nhân vận động đòi trả lại tự do cho những nhà đấu tranh bảo vệ giới lao động Đoàn Huy Chương, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đỗ Thị Minh Hạnh … Khi các giáo dân công giáo, phật giáo, tin lành vùng lên đòi trả lại nơi thờ phượng, chốn cầu nguyện. Khi các nông dân dân oan đòi đền bù, trả lại đất đai bị cưỡng chế. Và khi thế hệ trẻ tận dụng trí tuệ, tự tìm nhiều phương thức khác nhau để hợp quần, hiệp thông, hỗ trợ, chia vai, nương tựa lẫn nhau đấu tranh đòi lại quyền làm chủ đất nước?

Chúng ta không còn nước sống.[8]

Thế kỷ này là thế kỷ của trí tuệ trẻ vạn năng, của những người cùng khổ, cùng vươn lên đánh đổ độc tài toàn trị, dành lại đất dành lại nước.

Sức mạnh của thế kỷ ở trong chính bạn.

© 2011 Vietsoul:21

[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu – (8) Gió mưa là chuyện của trời … – (9) Vô liêm sỉ – man rợ – (10) Phế-anh-hùng – (11) Luật Lệ(nh) … – (12) Nhà em có nuôi một con két … – (13) Cái nhà là nhà của ta … – (14) Mèo – thỏ]


[6] Xem 5


Con cóc là cậu ông trời

Ngày xửa ngày xưa, con cóc vẫn sần sùi xấu xí như ngày nay. Nhưng cóc nổi tiếng giữa muôn loài là một con vật tuy bé nhỏ nhưng rất gan dạ, gan cóc tía mà lại. Vào một năm không nhớ rõ năm nào, trời làm hạn hán khủng khiếp, nắng lửa hết tháng này đến tháng khác thiêu cháy cây cối, hút cạn nước sông ngòi, đầm hồ. Muôn loài không còn một giọt nước để uống. Các con vật to lớn hùng mạnh xưa nay tác oai tác quái trong rừng đều nằm lè lưỡi mà thở để đợi chết, không ai nghĩ được kế gì để cứu mình, cứu muôn loài. Sức mạnh của chúng chỉ để bắt nạt nhau thôi chứ đâu có thể làm gì nổi ông trời. Duy có anh chàng Cóc tía bé nhỏ, xấu xí kia là có gan to. Anh tính chuyện lên thiên đình kiện Trời làm mưa cứu muôn loài.

Khởi đầu chỉ có một mình nhưng anh không nản. Ði qua một vũng đầm khô, Cóc tía gặp Cua càng. Cua hỏi Cóc đi đâu, Cóc bèn kể rõ sự tình và rủ Cua cùng đi kiện Trời. Ban đầu Cua định bàn ngang, thà chết ở đây còn hơn chứ Trời xa thế đi sao tới mà kiện với tụng, nhưng những con vật ở quanh Cua nghe Cóc nói lại tranh nhau mà bàn ngang bàn lùi, làm cho Cua nổi giận. Nói ngang bàn ngang là chuyện ngang của Cua thế mà họ lại dám tranh mất cái quyền ấy, cái quyền được phép ngang như cua cơ mà. Thế là Cua làm ngược lại, Cua tình nguyện cùng đi với Cóc.

Ði được một đoạn nữa, Cóc lại gặp Cọp đang nằm phơi bụng thở thoi thóp, Gấu đang chảy mỡ ròng ròng và khát cháy họng. Cóc rủ Gấu và Cọp đi kiện trời, Cọp còn lưỡng lự thì Gấu đã gạt đi mà nói rằng:

– Anh Cóc nói có lý, chẳng có lẽ chúng mình cứ nằm ở đây đợi chết khát cả ư? Ta theo anh Cóc thôi! Ðến ngang như anh Cua còn theo anh Cóc được thì tại sao chúng mình không theo.

Cả bọn nhập lại thành đoàn. Ði thêm một chặng nữa thì gặp đàn Ong đang khô mật và con Cáo bị lửa nướng cháy xém lông. Cả hai con vật này cũng hăng hái nhập vào đoàn loài vật đi kiện Trời do Cóc dẫn đầu.

Cóc dẫn các bạn đi mãi, đi mãi đến tận cửa thiên đình. Khi đi trên đường cả bọn đều hăng hái nhưng đến trước cửa Trời oai nghiêm, bọn Cọp, Gấu, Cáo, Ong, Cua đều sợ, duy chỉ có Cóc là gan liền dõng dạc ra lệnh:

– Bây giờ các anh phải nghe lời tôi. Kia là chum nước của Trời, anh Cua vào nấp trong ấy. Anh Cáo nấp ở phía bên trái tôi, anh Gấu nằm ở phía bên phải tôi, còn anh Cọp chịu khó nằm đằng sau tôi. Các anh có nghe lệnh của tôi thì mới thắng được Trời.

Tất cả đều nghe lệnh của Cóc. Sắp đặt xong đâu đấy Cóc mới nhảy lên mặt trống trờ đánh ba hồi trống ầm vang như sấm động.

Ngọc Hoàng đang ngủ trưa một cách lười biếng bị tiếng trống lôi đình đánh thức dậy nên bực tức, bắt Thiên lôi ra xem có chuyện gì. Thiên lôi lười biếng vội phủi bụi và mạng nhện giăng đầy trên lưỡi búa tầm sét cắm cổ chạy ra. Thiên lôi ngạc nhiên vì ở ngoài cửa thiên đình chẳng thấy có một người nào cả chỉ thấy mỗi một con Cóc xù xì xấu xí đang ngồi chễm trệ trên mặt trống của nhà Trời. Thiên lôi hết nhìn con Cóc lại nhìn lưỡi búa tầm sét khổng lồ của mình và thở dài vì cái búa to quá mà Cóc bé quá, đánh chưa chắc đã trúng được. Thiên lôi bèn vào tâu Ngọc hoàng, Ngọc hoàng nghe xong bực lắm bèn sai con gà trời bay ra mổ chết chú Cóc hỗn xược kia.

Gà trời vừa hung hăng bay ra thì Cóc đã nghiến răng ra hiệu, lập tức chàng Cáo nhảy ra cắn cổ gà tha đi mất. Cóc lại đánh trống lôi đình. Ngọc hoàng càng giận giữ sai Chó nhà trời xổ ra cắn Cáo. Chó vừa xồng xộc chạy ra thì Cóc lại nghiến răng ra hiệu. Lập tức anh Gấu lừng lững xổ ra đón đường tát cho chó một đòn trời giáng. Chó chết tươi.

Cóc lại thúc trống lôi đình đánh thức Ngọc hoàng. Ngọc hoàng bèn sai Thiên lôi ra trị tội gấu. Thiên lôi là vị thần trời có lưỡi tầm sét mỗi lần vung lên thì thành sét đánh ngang trời, thành sấm động bốn cõi. Sức mạnh của Thiên lôi không có ai bì được. Ngọc hoàng yên trí lần này cử đến ông Thiên lôi ra quân thì cái đám Cóc, Cáo ắt hẳn là tan xác. Vì thế khi ông Thiên lôi vác lưỡi tầm sét đi là Ngọc hoàng lại co chân nằm trên ngai vàng mà ngủ tiếp.

Thiên lôi vừa hùng hổ vác búa tầm sét ra đến cửa thiên đình thì Cóc đã nghiến răng ra lệnh, lập tức đàn Ong nấp trên cánh cửa bay vù ra và cứ nhè vào mũi Thiên lôi mà đốt. Nọc ong đốt đau lắm, mũi Thiên lôi rát như phải bỏng. Nhớ là ở cửa trời có một chum nước. Thiên lôi vội vàng vứt cả búa tầm sét nhảy ùm vào chum nước chạy trốn. Nào ngờ vừa nhảy ùm vào trong chum nước thì anh Cua càng nấp trong đó từ bao giờ đã chờ sẵn để giương đôi càng như đôi gọng kìm cắp chặt lấy cổ. Thiên lôi đau quá gào thét vùng vẫy vỡ cả chum nước nhà Trời. Thiên lôi tìm đường chạy trốn thì Cóc tía lại nghiến răng ra lệnh. Lập tức Cọp nấp sau Cóc tía nhảy bổ ra gầm lên một tiếng vang động xé tan xác Thiên lôi thành hai mảnh.

Ngọc hoàng thấy thế sợ quá bèn xin giảng hoà với Cóc, và xin Cóc cho nhận lại xác của Thiên lôi để cứu chữa. Cóc bằng lòng ngay. Theo lệnh nghiến răng của Cóc, Cọp và Gấu vác xác Thiên lôi về xếp lại ở giữa sân điện thiên đình. Ngọc hoàng phải ra tay làm phép tưới nước cam lồ vào cái xác đầy thương tích đó. Nhờ phép của Ngọc hoàng, Thiên lôi mới được sống lại. Ngọc hoàng nghĩ mình đường đường là một ông Trời mà lại chịu thua Cóc thì thật là điều sỉ nhục, nên tính lật lọng, sai Thiên lôi vác búa tầm sét chống lại Cóc và các bạn của Cóc. Biết thế nào Ngọc hoàng cũng tính chuyện lật lọng nên Cóc lại nghiến răng. Lập tức các bạn của Cóc dàn trận. Ong giương nọc, Cáo giương nanh, Cọp giương vuốt, Cua giương càng, Gấu giương cánh tay đầy sức mạnh… Thiên lôi vừa mới thoát chết hoảng quá lui lại không dám tiến lên, mà thụt vào nấp sau chiếc ngai vàng của Ngọc hoàng. Các tướng nhà Trời oai phong lẫm liệt thấy đến ông Thiên lôi còn sợ sệt như thế thì hoảng quá tìm kế thối lui.

Thấy tướng nhà trời của mình như vậy, Ngọc hoàng biết không thể thắng nổi Cóc và các bạn của Cóc. Ðến lúc bấy giờ Ngọc hoàng mới thực bụng giảng hoà, và hỏi Cóc lên tận thiên đình có việc gì. Cóc oai phong nhảy hẳn lên tay ngai vàng và dõng dạc thưa:

– Ðã bốn năm nay ở dưới trần gian hạn hán kéo dài, không một giọt mưa. Muôn cây khô héo, vạn vật chết khát. Cứ tưởng Ngọc hoàng bận gì hoặc là Ngọc hoàng giận gì trần gian mà ra phúc họa, ai ngờ lên đây mới biết Ngọc hoàng và các tướng nhà trời ngủ quên không nhớ đến việc làm mưa cứu muôn vật muôn loài dưới trần thế. Chúng tôi phải lên tận đây đánh thức Ngọc hoàng, xin Ngọc hoàng làm mưa ngay cho trần gian được nhờ.

Thấy Cóc nói giọng oai phong và bạn bè Cóc lại đằng đằng sát khí, Ngọc hoàng vội cuống quýt chống chế:

– Cóc với ta là chỗ thân thích, việc gì mà cậu phải mất công đến như vậy, ta sẽ sai thần mưa, thần gió xuống hạ giới làm mưa ngay bây giờ. Cậu Cóc có bằng lòng thế không nào.

Cóc gật gù thưa:

– Muôn tâu Ngọc hoàng trần gian được một trận mưa cứu khát thì còn gì bằng nữa. Anh em tôi vô cùng đội ơn Ngọc hoàng. Nhưng nếu ở hạ giới mà hễ bị hạn hán là bọn anh em chúng tôi lại lên đây kêu với Ngọc hoàng đấy.

Nghe Cóc hẹn lại lên thiên đình, Ngọc hoàng hoảng hồn rối rít lắc đầu xua tay:

– Thôi khỏi, thôi khỏi phải bận đến cậu như thế. Chỗ cậu và ta là tình thân thích, cậu chả nên bầy vẽ vất vả mệt nhọc như vậy làm gì. Cậu không phải lên thiên đình nữa, khi nào có hạn hán cậu muốn ta làm mưa, cậu chỉ cần ngồi dưới đất nghiến răng là ta nghe thấy liền.

Ðể chứng tỏ lòng thành thật không lật lọng của mình, Ngọc hoàng sai rồng đen bay xuống phun mưa, và đưa Cóc cùng các bạn về hạ giới. Cơn mưa cứu hạn làm cây cối tươi tốt, muôn loài nhảy múa chào đón anh em Cóc trở về. Từ đó hễ Cóc nghiến răng là trời lập tức đổ mưa nên đồng dao của trẻ nhỏ ngàn năm vẫn có câu hát rằng:

Con Cóc là cậu ông Trời
Ai mà đánh nó thì Trời đánh cho.

Phó thường dân (7): (Vô) Hậu

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Thế giới, Việt Nam on 2011/02/22 at 00:38

Vietsoul:21

Việt Nam là một trong những quốc gia hậu-thuộc-địa và đã có một số phận không may mắn lãnh nhận “nghĩa vụ quốc tế” làm “tiền đồn chủ nghĩa cộng sản” và con bài domino “ngăn chặn làn sóng đỏ”. Hậu quả là huynh đệ tương tàn, thằng sứt trán, đứa bể đầu. Rồi thì “giải phóng” thống nhất một nhà nhưng độc lập chủ quyền thì chẳng thấy và nào biết dân chủ, tự do. Cái chủ nghĩa (giáo) mác (lưỡi) lê đã chặt đứt đầu mầm móng dân chủ và đâm thủng lòng ước vọng tự do của toàn dân.

[tiếp theo kỳ trước: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng]

Vượt thoát

Vượt thoát (nguồn: dân làm báo)

Tết nguyên đán vừa qua, ngoài những rộn ràng ba ngày Tết thì phó thường dân tôi cũng hứng khởi theo dõi các diễn biến ở Tunisia, Ai-cập, Yemen, Algeria, Libya, Iran, và Bahrain hơn ba tuần qua. Cuối cùng thì sức mạnh của người dân đã thắng thế vượt lên trên cái chai lì của chế độ độc tài trên 30 năm cầm quyền của Mubarak. Toàn dân Ai-cập đã thực hiện giấc mơ lật đổ được một chế độ độc tài. Họ hy vọng tràn đầy với ý thức công dân và thực thi quyền đó trong một số cơ chế xã hội dân sự hiện hữu mong đất nước mình tiến đến một thể chế tự do dân chủ thực sự. Phong trào dân quyền giải (nội) thực (dân) khởi phát tại Tunisia đã bùng nổ và đang lan dần đến các quốc gia láng giềng xa gần.

Hậu-thuộc-địa (post-colonialism)

Các quốc gia nói trên hầu hết cùng chia sẻ chung một đặc thù lịch sử: hậu-thuộc-địa. Phong trào giải thực thập niên 50, 60 của thế kỷ 20 đã giúp cho người dân các nước này thoát khỏi xiềng xích nô lệ thực dân Pháp, Anh, Đức, Bỉ, Tây-ban-nha, và Hoa-kỳ. Dẫu thế, địa chính trị (geopolitics) đã đưa đẩy đa số các quốc gia này hoặc về phe Cộng sản hoặc vào phía Tư bản. Chỉ một số ít quốc gia khéo léo, lèo lái giữ vững được vị thế của mình không để bị lôi cuốn vào vòng đối lập này.

Sau khi giành được độc lập từ thực dân, các quốc gia hậu-thuộc-địa đã cùng nhau hội họp với tiên đề xây dựng đất nước để hậu thuẫn lẫn nhau. Hội nghị Á-Phi năm 1955 (Bandung Conference in Indonesia) khởi xướng phong trào các quốc gia không liên kết (Non-Aligned Movement, NAM). Phong trào này thành hình năm 1961 nhằm giúp các nước mới có độc lập kháng cự lại ảnh hưởng của hai khối quyền lực chính trị Tư bản và Cộng sản. Tuy nhiên, ý thức hệ chính trị và điều kiện xã hội của các quốc gia nằm trong phong trào không liên kết quá đa dạng và khác biệt nên không tạo được đoàn kết. Phong trào này rốt cuộc không đạt được kết quả như vạch ra trong chính sách và đề cương.[1]

Việt Nam là một trong những quốc gia hậu-thuộc-địa và đã có một số phận không may mắn lãnh nhận “nghĩa vụ quốc tế” làm “tiền đồn chủ nghĩa cộng sản” và con bài domino “ngăn chặn làn sóng đỏ”.  Hậu quả là huynh đệ tương tàn, thằng sứt trán, đứa bể đầu. Rồi thì “giải phóng” thống nhất một nhà nhưng độc lập chủ quyền thì chẳng thấy và nào biết dân chủ, tự do. Cái chủ nghĩa (giáo) mác (lưỡi) lê đã chặt đứt đầu mầm móng dân chủ và đâm thủng lòng ước vọng tự do của toàn dân.

Mầm dân chủ trong thời hậu-thuộc-địa bị chặt móng ngay lập tức khi giới trí thức lên tiếng đòi tự do ngôn luận, độc lập báo chí qua phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm. Họ bị ngược đãi, phỉ báng, trù dập, cô lập cho đến chết. Phan Khôi khi mất chỉ có một người cô và người cháu đưa tang, mộ bị mất không kiếm được. Triết gia Trần đức Thảo thì chết một mình trong căn nhà xập xệ và hài cốt để ở dưới gầm cầu thang. Nguyễn Hữu Đang lúc gần chết thì sợ không có chỗ chôn. Nhà thơ Hữu Loan phải về quê Thanh Hóa thồ đá để không phải chung đụng với phường bất nhân. Luật sư Nguyễn Mạnh Tường thì đành làm “kẻ bị mất phép thông công”[2]. Một thế hệ tinh hoa dân tộc bị vùi vào tro bùn quên lãng.

Lòng ước vọng tự do của toàn dân thì bị (đâm) thủng ruột trong cái đói và bần hàn. Đói với tem phiếu trong xã hội chủ nghĩa–với “xếp hàng cả ngày” rồi “xuống hố cả nước”. Cùng cực vì đã làm “tiền đồn XHCN” nên khi Cu-ba ngủ thì Việt Nam thức (trắng mắt). Đói với hợp tác xã “gõ kẻng” đi làm trên những hoang tưởng không tự vẽ vời của “cánh đồng năm tấn” để bị thu thóc như “Cái đêm hôm ấy… đêm gì!”.[3] Đói, đói, và đói.  Đói như thế thì làm gì có ước vọng tự do mà chỉ mơ cơm trắng[4].

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, một nhà nước “chuyên chính vô sản” búa liềm đã siết chặt gọng cùm trên cổ người dân từ khi thành lập nằm 1946 cho đến khi cả nước sắp bị chết đói cuối thập niên 80 thì “đổi mới”. Chuyển tiếp đến là cuộc tiếm quyền của tập đoàn tội phạm Bộ chính trị Đảng CSVN—một thể chế độc tài, độc tôn, tự bầu bán, tự tung, tự tác, thao túng, tham nhũng và áp đặt quyền lực của bè đảng trong mọi lãnh vực. Người dân không có một tiếng nói, không có mảy may quyền công dân nào cả. Mọi người dân trở thành tù nhân dự bị, sẳn sàng bị bỏ tù bất cứ khi nào thực hiện quyền công dân của họ.

Tập đoàn quyền lực này thay ngôi đổi vị với thực dân ngoại xâm để trở thành nội-thực-dân. Chúng vẫn tham tàn không kém mà còn áp bức dã man hơn vì chúng đã học chuyên được phương sách, thủ đoạn cả Đông lẫn Tây để áp dụng cai trị dân. Chúng dùng cùm, dùng còng, dùng hơi cay, dùng chó nghiệp vụ, dùng báo chí (chó nghiệp vụ thời thượng), dùng loa phát thanh, truyền hình, dùng cả bao cao su (thời trước thì trùm bao bố cho mò tôm), dùng thủ anh và thủ nhang (bình vôi – bái vật – bà đồng) hội văn vẻ tuyên (huấn) sớ tế sống. Chúng điều kiện hoá và nô lệ hóa nhân dân với cái “sợ” qua thủ tục hành (là) chính “đầu tiên” (tiền đâu?). Vì hằng hà sa số “chuyện thường ngày ở huyện”[5] như thế nên xã hội đã biến thái trở thành vô cảm khi ngày một ngày hai phải ra vào sống với “lũ” (người ngợm) và “sống trong sợ hãi”.  Một xã hội không biết mình tụt hậu trong khi các quốc gia khác đã chọn đường đoạn tuyệt với chế độ cộng sản.

Hậu-cộng sản (post-communism)

Đã hơn 30 năm từ khi cuộc cách mạng nhung của phong trào đoàn kết công đoàn Ba-lan đứng lên phất ngọn cờ tiên phong giải phóng đất nước. Chế độ cộng sản tại Đông Âu và cả thành trì Liên Bang Sô Viết sau đó cũng đã nối nhau sụp đổ, tan rã. Các quốc gia này bước vào thời kỳ hậu-cộng-sản xây dựng đất nước theo mô hình dân chủ tự do. Con đường này tuy không phải thẳng băng, và có gập ghềnh nhưng vẫn định hướng về một chân trời mới.

Không ít các nước hậu-thuộc-địa Á-Phi thử nghiệm với chủ nghĩa xã hội nhưng họ không ngu dại ôm lấy cái chuyên chính vô sản kiểu Mao, Lenin, Stalin, Pol Pot, Kim, và Hồ. Rồi dần dần họ cũng vất bỏ nó không thương tiếc. Chỉ còn sót lại vài tên cai thầu nô lệ mới trung thành với chủ (thuyết) để nô dịch hoá đồng bào chúng.

Như có đề cập ở trên, hội nghị Á-Phi Bandung đã đơm hoa cho Phong trào không liên kết của các nước hậu-thuộc-địa vào năm 1955. Nhưng mãi đến hơn năm mươi năm sau, khi thiên niên kỷ mới lật những trang đầu thì thế giới mới chứng kiến một phong trào giải nội-thực-dân của nhân dân Phi châu vùng dậy chống áp bức lật đổ những nhà độc tài và thể chế toàn trị.

Cũng thế mới đây, phong trào cách mạng hoa lài từ Tunisia sang Egypt lan đến Lybia và Bahrain là phong trào liên kết của những người cùng khổ. Họ liên kết với nhau trong một không gian mạng, không biên giới, không đảng phái, không ý thức hệ, và không phân biệt giai cấp.

Mục tiêu của các cuộc cách mạng nhân dân này là đòi hỏi quyền công dân, được sống trong một xã hội tự do dân chủ. Họ đã vượt qua rào cản tâm lý sợ hãi mà các chính quyền nô dịch này áp đặt trong đầu họ trên mấy chục năm. Ông Hosam Khalaf, một kỹ sư 50 tuổi nói dân Ai-cập đã nhận được thông điệp từ Tunisia là “Đừng tự thiêu mà hãy thiêu đốt nỗi lo sợ trong lòng bạn. Đó là những gì đã xảy ra ở đây. Đây là một xã hội từng sống trong sợ hãi, và nỗi sợ hãi đã bị thiêu đốt ra tro tàn.[6]

Một thiếu nữ khác nói “Đây là cuộc cách mạng cho ông của tôi. Họ đã nhẫn nhục bao nhiêu năm dưới chế độ độc tài này.” Anh Ghonim phát biểu “… Chúng tôi không phải là người phản quốc, chúng tôi yêu đất nước Ai-cập này. …Đây không phải là lúc chia chác nữa.  Tôi nghĩ là các nhà chính khách biết tôi nói điều gì…”. Anh còn nói thêm, “Ngay sau khi tôi ra khỏi tù, tôi đã viết một mẩu tin rằng chúng tôi sẽ thắng, bởi vì chúng tôi không hiểu chính trị, bởi vì chúng tôi không hiểu những trò chơi bẩn thỉu của họ. Chúng tôi sẽ dành chiến thắng bởi vì những giọt nước mắt của chúng tôi xuất phát từ trái tim. Chúng tôi sẽ dành chiến thắng bởi vì chúng tôi có một giấc mơ. Chúng tôi sẽ dành chiến thắng bởi vì chúng tôi tin rằng nếu có ai đó ngăn chặn giấc mơ của chúng tôi, chúng tôi sẵn sàng chết để bảo vệ nó”.[7]

Ngọn lửa cách mạng nhân dân (kiểu 2.0) đang lan truyền đến các quốc gia láng giềng xa gần từ Phi đến Á. Những “con dân” Tunisia và Ai-cập đang giành lấy lại quyền công dân của họ để được sống trong xã hội dân chủ, tự do.

Từ cuộc cách mạng đó, họ đã dạy cho tất cả chúng ta 4 bài học sau: (1) Ý chí của nhân dân. Trước hết và trên cùng đó là: nhà nước và chính phủ hiện hữu từ nhân dân mà ra chứ không phải ngược lại (như ngụy biện loại đảng trên cả tổ quốc và đảng là tổ quốc); (2) Chìa khóa để chiến thắng luôn luôn nằm trong tay của người dân – không phải lệ thuộc vào một ngoại bang (Hoa-kỳ hay bất cứ thế lực nào); (3) Tự do không phải dễ định nghĩa (và thường hay bị bóp méo như “tự do đi theo lề phải”) nhưng bạn biết ngay khi bạn có tự do hay không; (4) Tiếng nói vang dội nhất là tiếng của luân lý. Mọi phương tiện không thể biện minh cho cứu cánh – thực ra phương tiện giúp xác định cái cứu cánh và kết cuộc. Thử hỏi điều gì sẽ xảy ra nếu người Ai Cập, thay vì tuân thủ kỷ luật biểu tình phản kháng trong ôn hòa, lại dùng bạo lực khủng bố chống trả các quân lính và kẻ ủng hộ nhà độc tài để đạt được một kết thúc chính trị?[8]

Việt Nam trong thời “kinh tế thị trường” “định hướng xã hội chủ nghĩa” có khác gì chăng?

Mầm mống dân chủ vừa mới nhú lên và lòng khát vọng tự do mong được giọt hồi sinh thì đã bị yểu mệnh khai tử với đôi còng số 8 trong cái gọi là “tuyên truyền chống nhà nước” (điều 88, Bộ luật Hình sự) và “âm mưu lật đổ chế độ” (điều 79, BLHS). Một số trí thức tranh đấu cho dân chủ tự do lần lượt bị bắt giữ giam cầm trong tù đày không biết ngày về (hết hạn tù này bị treo hạn khác).

Trong nhà tù lớn, những đói khát về vật chất qua bao năm “tem phiếu” thời bao cấp, hợp tác xã, ngăn sông cấm chợ nay bùng nổ chuyển sang thèm muốn những chú dế, con xế (siêu dế, xế hộp, siêu xế, xế khủng) để lắc để quậy. Song song đó là một nền giáo dục xơ cứng trong giáo điều “hồng” chuyên chính vô sản, vô gia đình để phục vụ đảng. Những lý tưởng phục vụ nhân sinh, dân sinh đã gần như bị tuyệt giống, lạc giọng trong xã hội vật chất xô bồ của thời kỳ “đồ đểu”. Cũng cùng lúc, bè nhóm tập đoàn cầm quyền đảng CSVN như con ma đói không ngừng lam nham, lũng lạm ngân quỹ, khai thác cạn kiệt tài nguyên, hủy diệt môi trường, vơ vét cho riêng chúng.

Có hy vọng gì cho tương lai đất nước Việt Nam?

Phó thường dân tôi có quen một người anh xứ Quảng luôn khắc khoải về tương lai vận mệnh của đất nước. Anh rất bi quan về đất nước hiện nay nhưng ngược lại rất lạc quan tin tưởng vào thế hệ trẻ. Anh có một niềm tin tuyệt đối vào thế hệ trẻ vì anh cho rằng không ai khác hơn là thế hệ này nắm chìa khoá tương lai vận mệnh đất nước, được thịnh hay suy.

Dân tộc Việt Nam khó thoát ra được khổ nạn chế độ độc tài nếu thế hệ trẻ không dấn thân. Những người đã từng tạo ra lịch sử trước đây thì đa số cũng đã ra thiên cổ hoặc đang đứng bên vỉa hè lịch sử. Thế hệ kế tiếp (Nguyễn Tiến Trung, Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, AnhbaSG Phan Thanh Hải, LS Lê Trần Luật, LS Lê Thị Công Nhân, TS Cù Huy Hà Vũ, KS Đỗ Nam Hải, Nguyễn Ngọc Quang, Trần Khải Thanh Thủy, Trần Đức Thạch, Phạm Văn Trội, Vũ Văn Hùng, Đoàn Huy Chương, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đỗ Thị Minh Hạnh, Lê Trí Tuệ, Vũ Quang Thuận, người buôn gió Bùi Thanh Hiếu, mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, … kể sao cho hết) đã/đang lót đường, làm bản lề, và đòn bẫy cho thế hệ tiếp nữa nhảy vượt qua rào cản trì trệ, trơ lì, phản động của độc tài cộng sản.

Giới trẻ Việt Nam chắc chắn sẽ sánh vai ngang hàng với thế hệ trẻ Tunisia và Ai-cập đầy năng động, đoàn kết và phát kiến những chương trình và phương thức hành động bất bạo động tuyệt vời kêu gọi được quần chúng tham gia “vượt qua nỗi sợ” lật đổ chế độ độc tài áp bức.

Vì mệ Việt Nam đã quá chán ngán, cạn lời tán thán cộng sản là “cái quân vô hậu!”. Mẹ Việt Nam đang mong chờ tuổi trẻ khởi động toàn dân cùng đứng dậy đem cái hậu của tự do, dân chủ, phú cường về cho đất nước Việt Nam hậu-thuộc-địa, hậu-cộng sản.

© 2011 Vietsoul:21

[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi (2) Nôị-thực-dân (3) Sợ (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông (5) Con dân – con cá – cò mồi (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng (7) (Vô) Hậu (8) Gió mưa là chuyện của trời … (9) Vô liêm sỉ – man rợ – (10) Phế-anh-hùng (11) Luật Lệ(nh) … (12) Nhà em có nuôi một con két … (13) Cái nhà là nhà của ta … (14) Mèo – thỏ (15) phố vẫy (16) Mít tờ Đàm và Bác Hồ (17) Nín thở qua cầu]


CHÚ THÍCH:

[1] Non-aligned Movement, wikipedia

[2] Kẻ bị mất phép thông công, Nguyễn Mạnh Tường

[3] Cơm trắng, Phạm Lưu Vũ

[4]Cái đêm hôm ấy… đêm gì?”, Phùng Gia Lộc

[6] Speaker’s corner on the Nile, Thomas L. Friedman. Bản tiếng Việt “Dòng sông Nile

Khối 8406: Tuyên bố và Kêu gọi nhân các cuộc cách mạng dân chủ tại Bắc Phi và Trung Đông

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Việt Nam on 2011/02/21 at 16:47

 

Kính thưa toàn thể Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước!

Cuộc cách mạng nhân quyền dân chủ của thế kỷ 21, khởi đầu từ vụ tự thiêu của ngọn đuốc sống Mohamed Bouazizi ngày 17-12-2010, đã kết thúc với thành công thứ nhất tại Tunisia ngày 14-01-2011, với thành công thứ hai tại Ai Cập ngày 11-02-2011, và đang tiếp diễn mạnh mẽ tại nhiều nước Bắc Phi và Trung Đông như Bahrain, Iran, Jordan, Lybia, Yemen….

I- Trước những biến động long trời lở đất này, Khối 8406 hân hoan chúc mừng nhân dân Tunisia và Ai Cập cũng như nhiệt liệt ủng hộ nhân dân các nước Bahrain, Iran, Jordan, Lybia, Yemen… Đồng thời chúng tôi cũng nhận định như sau:

1- Các cuộc cách mạng đã và đang lật đổ nhiều chế độ tại Bắc Phi và Trung Đông thực sự đáp ứng khát vọng công bằng xã hội và tự do dân chủ của người dân vốn đã từ lâu gánh chịu “triều đại” của các lãnh đạo bảo thủ già nua, nhũng nhiễu độc tài và tham quyền cố vị.

2- Các cuộc cách mạng dân chủ nhân quyền ấy là chỉ dấu rõ ràng cho thấy: Quyền lực của nhân dân, sức mạnh của giới trẻ, hiệu quả của phương pháp đấu tranh bất bạo động cùng một đường lối cách mạng đúng đắn, tích cực và triệt để… đã là những nhân tố chính dẫn tới thành công, quật ngã được bất cứ chế độ chuyên chế độc tài nào, dù nó có ngoan cố và tàn bạo đến đâu chăng nữa.

3- Các cuộc cách mạng ấy vừa thành công là nhờ tinh thần trách nhiệm cao với đất nước và ý thức bảo vệ nhân dân cao của quân đội, quyết không biến mình thành công cụ cho chế độ hay lãnh đạo độc tài, trái lại đã tích cực hỗ trợ khát vọng chính đáng của toàn dân và quyết tâm giữ gìn trật tự ổn định đích thực cho xã hội.

4- Các cuộc cách mạng ấy vừa thắng lợi cũng là nhờ sự ủng hộ của các quốc gia chuộng tự do, sự hỗ trợ của công luận yêu dân chủ, sự nhanh nhạy của các cơ quan truyền thông quốc tế, nhất là nhờ sự hữu hiệu của các kỹ thuật thông tin hiện đại, vốn đã được giới trẻ sử dụng cách thông minh, can đảm và nhiệt tình.

5- Tiếp nối tinh thần cuộc Cách mạng dân chủ tại Tây Âu năm 1789, cuộc Cách mạng nhân quyền tại Đông Âu năm 1989, các cuộc cách mạng trong thế giới Hồi giáo tại Bắc Phi và Trung Đông hiện giờ đã khẳng định lần nữa rằng: một trong những đặc điểm lớn nhất của thời đại ngày nay là sự sụp đổ của tất cả các chế độ chuyên chế độc tài dưới mọi hình thức trên phạm vi toàn thế giới. Thay vào đó là những chế độ dân chủ, đa nguyên, đa đảng và pháp trị. Đây là những giá trị phổ quát và đích thực, không phân biệt truyền thống văn hóa, tôn giáo, địa lý, chủng tộc, mà loài người tiến bộ đã phải bỏ ra rất nhiều thời gian, công sức, kể cả xương máu mới có được.

II- Nhân cơ hội này, trong hoàn cảnh đất nước Việt Nam còn dưới ách độc tài toàn trị Cộng sản, với vô vàn bất công xã hội, thảm trạng dân sinh, tệ nạn tham nhũng, cường quyền đàn áp gấp nhiều lần các quốc gia Trung Đông lẫn Bắc Phi nói trên, và nhất là nguy cơ mất văn hóa, mất đất nước vào tay giặc Tàu, Khối 8406 chúng tôi kêu gọi:

1- Toàn thể Đồng bào Việt Nam trong nước hãy rũ bỏ thái độ dửng dưng, vượt qua tâm lý sợ hãi, dũng cảm đứng lên làm cuộc Cách mạng thực sự của Dân tộc, nhằm quật ngã chế độ độc tài cộng sản đã gây ra vô vàn tội ác và lừa mỵ nhân dân suốt bao năm trường! Đồng bào hãy mạnh dạn bày tỏ thái độ của mình bằng nhiều cách, nhất là bằng các cuộc biểu tình khắp cả nước trong ôn hòa, trật tự nhưng quyết liệt và triệt để.

2- Toàn thể Giới trẻ Việt Nam hãy rũ bỏ ý thức an phận, mặc cảm tự ti để đứng lên làm lịch sử, theo tấm gương chói lọi của bao anh hùng trẻ tuổi của Dân tộc từ Hai Bà Trưng đến Trần Quốc Toản, Nguyễn Thái Học… Các Bạn hãy vận dụng chí khí can đảm, trí tuệ thông minh, sự thành thạo các kỹ thuật truyền thông hiện đại để phá vỡ bức tường bưng bít và nhiễu loạn của chế độ độc tài, phổ biến tin tức tài liệu, truyền đơn biểu ngữ hầu lôi kéo toàn dân nhập cuộc tranh đấu.

3- Tầng lớp trí thức tôn giáo và dân sự hãy xứng với tinh thần kẻ sĩ, ý thức “quốc gia hưng vong thất phu hữu trách”, đứng lên lãnh đạo các tập thể quần chúng trong phạm vi và quyền hạn của mình (như tại các quốc gia Đông Âu những năm 1989-1991), để các cuộc biểu tình được xảy ra trong ôn hòa, trật tự, kỷ luật chặt chẽ, nhằm đạt được thắng lợi đích thực cuối cùng.

4- Lực lượng công an và quân đội hãy trở về với nghĩa vụ giúp đỡ và bảo vệ nhân dân, vốn đã sinh ra và nuôi nấng mình. Hãy ý thức rằng “an ninh xã hội và ổn định đất nước không phát xuất từ sự đàn áp của dùi cui và họng súng theo lệnh lãnh đạo độc tài, nhưng từ sự đồng thuận và góp sức của mọi công dân trong tự do”, để đứng về phía nhân dân khi nhân dân biểu tình bày tỏ những khát vọng chính đáng về nhân quyền của họ.

5- Các đảng viên Cộng sản nói chung, Bộ Chính trị lẫn Ban Chấp hành trung ương Cộng sản nói riêng hãy sớm trả lại cho nhân dân những gì thuộc về nhân dân: những tài sản tinh thần (các nhân quyền và dân quyền) cũng như các tài sản vật chất (tài nguyên quốc gia, đất đai tư hữu…) nếu Quý vị còn muốn sự tha thứ của toàn dân, còn muốn hiện diện giữa lòng dân tộc, còn muốn lưu tiếng thơm trong lịch sử.

6- Đồng bào Việt Nam hải ngoại, các Chính phủ dân chủ toàn cầu, các Tổ chức nhân quyền thế giới, các Cơ quan truyền thông quốc tế, công luận yêu tự do khắp năm châu, xin nhiệt tình hỗ trợ cuộc đấu tranh chính nghĩa của Dân tộc Việt Nam chống chế độ độc tài Cộng sản cho đến ngày toàn thắng, để Đất nước và Nhân dân chúng tôi thực sự góp phần vào hòa bình và thịnh vượng, văn minh và tiến bộ chung của toàn thể nhân loại.

Làm tại Việt Nam ngày 21 tháng 02 năm 2011

Ban Đại diện lâm thời Khối 8406:

1. Kỹ sư Đỗ Nam Hải – 441 Nguyễn Kiệm, P. 9, Q. Phú Nhuận, Sài Gòn, Việt Nam.

2. Giáo sư Nguyễn Chính Kết, đang vận động dân chủ tại hải ngoại.

3. Linh mục Phan Văn Lợi – 16/46 Trần Phú, Thành phố Huế, Việt Nam.

4. Linh mục Nguyễn Văn Lý, đang bị quản thúc tại 69 Phan Đình Phùng Tp Huế. (Nhà Chung Tổng giáo phận Huế).

Trong sự hiệp thông với cựu quân nhân Trần Anh Kim, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa và nhiều tù nhân chính trị, tôn giáo khác đang ở trong lao tù cộng sản.

Kính gởi đến toàn thể Đồng bào Việt Nam và Thân hữu quốc tế. Xin vui lòng phổ biến rộng rãi và dịch ra ngoại ngữ để rộng đường dư luận. Chúng tôi chân thành cảm ơn.

Khối 8406

Nguồn danlambao

Phó thường dân (6): Bình vôi – Bái vật – Bà đồng

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2011/02/03 at 14:39

Vietsoul:21

[tiếp theo kỳ trước: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi]

Thời gian trôi qua hơn 35 năm tôi mới dám nghĩ lại đến phận đời phó thường dân của mình. Chuyện cũ, chuyện mới, chuyện ngắn, chuyện dài, chuyện bên ni, bên nớ.

Bình vôi

Bình vôi

Đầu năm mới phó thường dân tôi rảnh rỗi chẳng có việc gì làm nên bắt chước các nhà văn nho xưa tập tành khai bút đầu xuân. Tết nhất nên trong đầu phó thường dân tôi chỉ đặc kín bánh chưng, bánh tét, dưa món, củ kiệu, thịt đông, dưa hành, chè kho, và những món mứt. Thảo nào ngồi mạy mọ mãi chẳng ra chữ nào!

Không rặn ra một chữ nên phó thường dân tôi bỏ giấy bút sang một bên, ngồi gác chân rồi bò càng đọc sách mong chờ sẽ tìm ra nguồn cảm hứng. Ngờ đâu khi đi tìm những bài viết, truyện kể về mùa xuân thì gặp được một tài liệu khá thú vị.

Cũng vào muà xuân năm ấy, cách đây tròn 55 năm, một số nhà văn và trí thức Bắc Hà quần tụ với nhau và cho ra đời hai đặc san có tên là Nhân Văn – Giai Phẩm. Chắc hẳn ai đã sống lớn lên vào thời đó hay tìm tòi nghiên cứu thì vẫn nhớ hoặc nghe bàn về chuyện sóng gió sau khi hai đặc san ấy chào đời. Cuộc bể dâu đã giáng xuống nhiều người – không chỉ những người thai nghén, trực tiếp tham gia xuất bản mà cả những ai gián tiếp và không ít người chẳng liên quan gì đến hai tác phẩm này. Năm ấy, năm Bính Thân, là năm con khỉ nên sau đó rất nhiều chuyện khỉ xảy ra.

Giai Phẩm Mùa Xuân được ấn hành nhân dịp Tết nguyên đán năm Bính Thân 1956. Những số tiếp theo sau đó là Giai Phẩm Mùa Thu 1-2-3, và Giai Phẩm Mùa Đông. Bên cạnh tác phẩm (bài thơ) “Nhất định thắng” nổi bật “có vấn đề” nhất của Trần Dần là bài thơ Bình Vôi ngắn gọn súc tích của nhà thơ Lê Đạt.

Bài thơ “Nhất định thắng” được truyền miệng, rỉ tai vào tận cả các vùng hẻo lánh miền Trung. Thập niên trước 75 thì phó thường dân “Bắc di cư” chúng tôi đang học trung học phổ  thông cũng đã được nghe được những câu thơ ấn tượng: “Tôi bước đi, không thấy phố, không thấy nhà.Chỉ thấy mưa sa, trên màu cờ đỏ.”

Chỉ đến mãi sau này khi thời đại “mạng” rộng mở, nhất là khi diễn đàn talawas đăng loạt bài khảo cứu chuyên đề Nhân Văn – Giai Phẩm, thì phó thường dân chúng tôi mới biết đến bài thơ Bình Vôi:

“Những kiếp người sống lâu trăm tuổi
Y như một cái bình vôi
Càng sống càng tồi
Càng sống càng bé lại.”

Nhà thơ Lê Đạt đã dùng hình tượng bình vôi như một ẩn dụ. Ông ám chỉ và phê phán tệ nạn sùng bái cá nhân lãnh tụ. Tệ nạn này tương tự với với hiện tượng văn hóa thờ ông bình vôi ở miền Bắc và miền Trung.

Theo tục này, những bình vôi hoặc lâu cũ, hoặc mẻ vỡ không còn dùng được nữa thì được đem ra đặt ở gốc cây cổ thụ, cây đa để thờ. Riêng phó thường dân tôi cũng chưa từng thấy hoặc nghe ai trực tiếp bình về tục thờ ông bình vôi này dù định cư ở miền Trung. Bây giờ không biết tập tục này còn hay mất nữa?

Chủ nghĩa cộng sản cũng giống như cái bình vôi thôi. Sau một thời gian dài hơn bẩy thập niên đem ứng dụng ở thành trì cách mạng Liên Bang Sô Viết và hơn 40 năm áp đặt ở Đông Âu, thì người ta đã thất vọng khi nghiệm được rằng nó không khác gì hơn là một chủ nghĩa không tưởng, vô nhân.

Vậy là những người dân sống trong các nước cộng sản Liên Sô và Đông Âu cuối cùng cũng không sống nổi với chủ nghĩa cộng sản. Họ quyết định làm cuộc cách mạng phá vỡ độc tài chuyên chính để xây dựng đất nước tự do, dân chủ. Họ đã tự vạch ra và lên án những tội ác của CS cho mọi người trên thế giới để tránh khỏi hậu họa về sau.

Thế nhưng ở nước Việt Nam ta thì lại khác. Cái bình vôi “thời kỳ quá độ chủ nghĩa xã hội” tiến lên “thiên đường cộng sản” đã bị đa số mọi người vất bỏ vào thùng rác của lịch sử thì lại được đảng CSVN trịnh trọng đem ra gốc cây đa của đảng và lập bàn thờ tổ quốc để vái thờ. Đây là một hành động cực kỳ phản động: hoàn toàn đi ngược với cao trào tiến bộ của nhân loại, làm kỳ đà cản mũi cản trở tiến trình phát triển xã hội của đất nước VN, và tự tách biệt mình ra khỏi cộng đồng thế giới. Đó là tội lỗi mà không tiền nhân và hậu thế nào có thể tha thứ được.

Phó thường dân tôi cảm thấy ngại ngùng khi sử dụng từ “nô lệ”, “ăn mày” để gán cho tập đoàn tội phạm Bộ Chính Trị, Trung Ương Đảng CSVN. Bởi lẽ sự có mặt người nô lệ và ăn mày thì chủ yếu là do ngoại cảnh của áp bức và bất công xã hội bắt buộc họ phải kẹt nằm ở vị thế đó. Còn tập đoàn này thì hồ hởi tự nguyện làm nô lệ và ăn mày. Nô lệ cho chủ thuyết ngoại lai và ăn mày với dĩ vãng “bách chiến bách thắng” (ăn cắp) từ những mồ hôi nước mắt hy sinh xương máu của toàn dân và dân tộc.

Chủ nghĩa Cộng sản là bình vôi quá cũ, mẻ vỡ lại được tôn thờ để mụ mị thiên hạ. Đảng CSVN là kẻ lừa đảo đánh tráo “dân tộc” với “xã hội chủ nghĩa”. Không gì hùng hồn hơn để lột trần sự lừa đảo trắng trợn đó bằng lời tuyên cáo của Luật sư Cù Huy Hà Vũ qua các phương tiện thông tin đại chúng khẳng định “ … người Việt Nam chỉ có một Tổ Quốc là Việt Nam. Chủ nghĩa xã hội không phải là Tổ Quốc của người Việt Nam.”[1]

Bái vật

Bình vôi là một bái vật được thờ cúng bởi tập tục người Việt Nam xưa. Cây đa với tàn lá xum xuê, với rễ to lớn che mát ban ngày và âm u ban đêm nên tạo ấn tượng huyền bí, uy nghi. Vì lẽ đó dễ làm con người, nhất là những ai yếu bóng vía, trở nên sợ và phải cúng thờ để được thần thánh bảo vệ cũng như tránh bị quở phạt. Ngoài bình vôi còn vô số các hình tượng và vật dụng khác được thờ cúng sử dụng làm bái vật. Tựu chung thì người ta cảm nhận cái “thiêng” trong bái vật đó.

Đảng CSVN đã cổ súy chủ thuyết vô thần, đả phá các tập tục truyền thống, đập phá đền, chùa, nhà thờ và hủy hoại các di tích lịch sử nào chúng đánh giá là không phục vụ cho chủ nghĩa cộng sản của họ. Thay vào đó họ sử dụng hình tượng búa liềm và đặt để các ông Mác, Nin, Hồ làm bái vật rồi bắt buộc toàn dân phải (tôn) thờ.

Cả mấy thế hệ đã bị tẩy não, nhồi sọ, ép buộc trong sợ hãi để tôn thờ những bái vật đó. Ở đâu cũng có những bái vật đó được trưng bày trịnh trọng. Rất nhiều nơi trong và ngoài nước hình tượng Hồ phải ngang hàng với bàn thờ Phật và Tổ Tiên. Từ nhà trẻ, nhà trường, công sở, đầu đường, xó chợ nào cũng có những bái vật này. Thêm vào đó các loa phường, các làn sóng (kênh) truyền hình hàng ngày ra rả ngợi ca xướng tụng tôn vinh các bái vật đó.

Sang đến thời kinh tế thị trường mở cửa hiện nay thì Đảng CSVN vẫn tiếp tục thòng cái đuôi “xã hội chủ nghĩa” sử dụng bái vật lở loét biến dạng này làm bùa hộ mạng. Dù không còn có một người dân nào tin hoặc hiểu nổi cái “quá độ chủ nghĩa xã hội” này là cái quái gì nhưng Đảng CSVN cứ bất chấp và ép buộc.

Ở Việt Nam, không một trường nào sản xuất nhiều “tiến sĩ” bằng trường Chính trị đảng Nguyễn Ái Quốc. Những ai học tốt nghiệp thầy mo cho bái vật này thì được phong vị “Tiến sĩ Chính trị học”, kiểu chương trình “Bồi dưỡng Lý luận Mác – Lê Nin” hoặc “Xây dựng Đảng” theo hệ “tại chức”.

Nói thế nhưng thật ra cái bình vôi “Chủ Nghĩa Xã Hội” là một bái vật giả. Bái vật thực sự được tôn thờ hiện nay là đồng Đô-la. Tư bản đỏ của (tập đoàn) Đảng (mafia) CSVN bề ngoài thì tôn thờ cái bình vôi CNXH nhưng bên trong thì bọn chúng lại suy tôn và vơ vét bái vật mới tích trữ cho bản thân, gia đình và đồng bọn. Ai còn lạ gì vô số chuyện “con ông cháu cha”, “con cháu các cụ” sử dụng bái vật này để ăn chơi trác táng, phung phí như thế nào.

Đem một bái vật để thờ trong phạm vi cá nhân thì không gì đáng ngại lắm. Khi bái vật đó được dùng để mê hoặc hay rủ rê thuyết phục người khác tham gia thì đã có vấn đề. Đáng ngại nhất là khi nào toàn bộ tập thể dân chúng bị ép buộc và tẩy não để tôn thờ một bái vật. Đấy trở thành một quốc nạn.

Bà đồng

Ngày xưa mẹ tôi có dắt phó thường dân tôi đi xem một buổi lên đồng. Khi đến đền thì tôi thấy rất đông người, chật như nêm với khối đứa trẻ con. Tôi nghe chiêng trống, thấy áo mũ, mâm quả mọi người chộn rộn, chờ bà lên đồng. Đám trẻ con chúng tôi thì nào biết chuyện linh thiêng, thần thánh. Chỉ thấp thỏm chờ đợi cho xong để được phát lộc có oản, có bánh ăn mà chẳng phải làm gì. Đó là ngày xưa. Bây giờ thì sao nhỉ?

Phong trào “đồng bóng” ở thời cửu vạn, ô sin ngày nay xem ra đang trở thành “mốt” có vẻ rất thịnh hành. Những người muốn đạt được quyền lợi và danh vọng luôn mong được “thần thánh” siêu hình tạo thuận lợi cho mình.

Theo một phóng sự thì “Lao vào thế gii đó, ngoài nhng người làm ăn buôn bán, còn có c nhng người được gi là trí thc, thm chí, có c nhng người đang nm quyn chc b n, ngành kia…” và trong danh sách của một cậu đồng thì “Danh hiu đng đu thuc v mt quan chc ca ngành hàng không tên Đ. Mi ln m ph ch tính khách thôi thì mi người cũng đã được chiếu lc không dưới bc triu/người. Ngoài ra còn tin bi dưỡng cho thy đng và đoàn hát văn.”[2]

Muốn giữ được quyền chức họ cần có thêm sức lực “cõi âm” phù trợ thêm. Đảng CSVN cầm quyền cũng muốn như thế. Miệng họ tuy lúc nào cũng bô bô “duy vật biện chứng” nhưng lại rất “mê tín” vào bái vật, bà đồng. Một lần phó thường dân tôi tình cờ gặp được Thầy Ba ở miền Trung đã khoe khoang với mảnh bằng khen lộng kiếng và thiệp chúc Tết của chủ tịch nước Trần Đức Lương vì giúp ông này phát tài bằng múa võ lên đồng và xử dụng bùa chú ngãi thiêng.

Trong buổi hầu đồng mở phủ lần thứ XI tại Hà Nội vừa qua, “cô” cu Bộ chính trị (BCT) đã lên cơn, đổi suất hết nhập vong Mác, vong Nin, đến vong Hồ. “” lẩm nhẩm khấn bằng tiếng “mọi” và phán những là “thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” và “hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Còn mọi người tham dự thì xuýt xoa van lạy hầu mong được hưởng (bổng) lộc.

Đối với những tư nhân muốn có được một buổi hầu đồng trang trọng thì thân chủ phải bỏ ra bao nhiêu tiền mua mã, sắm lễ, trang bị quần áo, thuê phường hát văn. Nhưng trong các buổi hầu đồng hoành tráng của Đảng CSVN thì khổ chủ chính là nhân dân Việt Nam. Nếu trong lúc nhảy múa thì đồng cô đồng cậu phát lộc cho khách dự thì tương tự có bao nhiêu (bổng) “lộc” cu đồng BCT đã đem ra chia chác cho những đại biểu tham dự. Nhân dân ta cứ è cổ, còng lưng nộp “thóc” (tiền) cho cu.

Trong mỗi buổi hầu đồng mở phủ thì đoàn hát chầu văn cũng rất quan trọng. Muốn có một buổi nhảy đồng lôi cuốn mê hoặc thì không thể thiếu được đoàn hát văn với đầy đủ nhạc cụ: đàn, sáo, trống, nhị. Theo phóng sự “Tham gia trong buổi hầu đồng này, toàn là những nghệ sỹ chơi nhạc cụ dân tộc xuất sắc của các đoàn nghệ thuật truyền thống có tiếng của Trung ương, và người chỉ huy hát văn cũng là một nghệ nhân mà cách đây mấy năm đã đoạt giải cao trong cuộc thi hát văn toàn quốc. Nghệ nhân này vừa làm người hát vừa là pháp sư tuyên sớ.”[3] Bên cạnh đó thì cũng có thủ nhang, đồng đền, thủ anh, lính chị xun xoe phụ hầu.

Chắc mọi người chưa quên màn xuất sắc trước buổi hầu đồng XI vừa qua. Thủ anh Đinh Thế Huynh—Chủ tịch Hội nhà báo Việt Nam—tuyên sớ ““Ở Việt Nam không có nhu cầu đa nguyên, đa đảng và dứt khoát không đa nguyên đa đảng.”

Chưa dứt, mới đây cái phèng la (Đông La) đồng thau của Hội Nhà Văn một mặt thì bôi nhọ Cù Huy Hà Vũ[4], mặt khác gài khung (framing)[5] để hướng dẫn dư luận trước khi nhà nước truy tố CHHV. Cái phèng la này đon đả tiếp thị lý(hý) luận với trích dẫn lời Tây (đa) để tuyên sớ nhất nhật phủ nhận bầu cử dân chủ trực tiếp và nhu cầu đa đảng:

Tiến trình dân chủ và tự do trong một nước tùy thuộc rất nhiều yếu tố xã hội, không thể nhập cảng từ ngoài vào. Yếu tố chính là trình độ dân trí. Trong cuốn “Bàn Về Tự Do” (On Liberty, 1859), John Stuart Mill có viết: “Giáo dục phổ quát phải đi trước quyền công dân, đặc biệt là quyền bỏ phiếu phổ quát” [Universal teaching must precede universal enfranchise ement (sic recte enfranchisement)], và “Tự do chỉ có thể trở thành hiện thực trong một cộng đồng văn minh [sic]”…

Thiệt tình, anh thủ nhang này vớ được một câu tưởng là đắt giá “ăn tiền” để bảo kê cho luận điểm của mình nhưng anh chỉ biết một mà không biết hơn. Ai đời một câu nói từ đời tám hoánh nào, về một xã hội gần hai thế kỷ trước mà đem nói chuyện thời nay. Sao không trích dẫn luôn câu “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung” (Vua xử tôi chết, tôi không chết là không trung thành) cho nó đủ bộ Đông-Tây kim cổ hài hoà?

Không cần nghe chi kỹ cũng nhận ra tiếng phèng la này là lý luận con trời. Loại lý luận của thực dân, của nhóm phân biệt chủng tộc (người da đen không được đi bầu vì không đủ trí thông minh), của những người phân biệt giới tính (phụ nữ không được đi bầu vì họ chỉ quanh quẩn nội trợ phục vụ cho các ông) để đưa cá nhân mình lên trong cùng lúc loại bỏ quyền phổ quát của những người khác.

Có phải ông Đông La cho rằng nhân dân VN là đám ngu dân, chưa thể thực hiện quyền công dân của mình. Giời ơi là giời! ngu ơi là ngu, đến bao giờ đây hở giời? Hóa ra hơn 65 năm dưới chế độ XHCN thì hệ thống giáo dục “siêu việt” chỉ tạo dựng được những ngu dân hay sao? Nếu vậy thì càng phải lật đổ cái đảng CSVN đã và đang ngu dân hoá và nô lệ hóa đồng bào.

Bọn thực dân Pháp đã từng xem người thuộc địa An Nam là đám ngu dân cần khai hoá để cai trị dân bản xứ. Ông cũng muốn (làm “cai thầu văn hoá nô dịch “) theo đám nội-thực-dân, Đảng CSVN, để tiếp tục cai trị? Hay ông tự nhận mình là ngu dân không đủ “trí tuệ” để được vào trong đám thiểu số “đỉnh cao trí tuệ” tự bầu bán với nhau, ăn chia bổng lộc.

Những bình vôi bể vỡ thì phải vất đi. Các bái vật mê muội cần đem quẳng bỏ. Người dân Việt Nam quyết không nộp “thóc” hầu đồng (Đảng) CS.

Nhân dân Tunisia, Egypt, Jordan đang vượt qua sợ hãi tự vùng lên đòi lại quyền công dân chấm dứt tôn thờ các bình vôi bái vật của chế độ độc tài.

Đã đến lúc xá hầu, chấm dứt chế độ độc tài Cộng Sản trên đất nước Việt Nam.

© 2010 Vietsoul:21

[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi (2) Nôị-thực-dân (3) Sợ (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông (5) Con dân – con cá – cò mồi (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng (7) (Vô) Hậu (8) Gió mưa là chuyện của trời … (9) Vô liêm sỉ – man rợ (10) Phế-anh-hùng (11) Luật Lệ(nh) … (12) Nhà em có nuôi một con két … (13) Cái nhà là nhà của ta … (14) Mèo – thỏ (15) Phố Vẫy (16) Mít tờ Đàm và Bác Hồ (17) Nín thở qua cầu]


Chú thích:

[1] Quan điểm của tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ gửi tới báo chí trong và ngoài nước, Dân luận

[2] Lạc vào thế giới hầu đồng, Việt báo

[3] cùng nguồn 2

[4] Một sự thật khác về Cù Huy Hà Vũ, Đông La

[5] Framing, a term used in media studies, sociology and psychology, refers to the social construction of a social phenomenon by mass media sources or specific political or social movements or organizations. It is an inevitable process of selective influence over the individual’s perception of the meanings attributed to words or phrases. A frame defines the packaging of an element of rhetoric in such a way as to encourage certain interpretations and to discourage others.

Bình vôi-Bái vật-Bà đồng (Nguồn:danlambao)

Các bài liên hệ:

Chứng quên tập thể

Collective Amnesia and Rhetoric of Mobilized Participation

Tôi là người Việt Nam

Chúng tôi (Tự trào – Trí Thức – Tâm Tài)

Những cái nhập nhằng không tên

The Unspoken Ambiguities

Thời cửu vạn, ôsin The Age of Day Laborer and Housemaid

Lết tới “thiên đường

Chúng tôi (Tự trào – Trí Thức – Tâm Tài)

Bịt miệng nạn nhân

Tháng Tư Câm

Phản bội hay trung thành với lý tưởng?

Chúc Mừng Năm Mới – Tết Con Mèo

In Cộng Đồng, Việt Nam on 2011/01/30 at 22:57

Đầu xuân Tân Mão thân/kính chúc ông bà, cô bác, bạn hữu xa gần một năm mới tràn đầy hy vọng, an khang, thịnh vượng, và hạnh phúc. Chúc dân tộc Việt Nam sớm thoát xiềng xích độc tài, khỏi lầm than cơ cực, được tự do dân chủ, có mọi quyền làm người, sánh vai cùng nhân loại.

Mừng xuân mới xin đừng quên tinh thần dũng cảm của nhân dân Ai Cập. Họ đang kiên trì lên tiếng và tiếp tục cam chịu nhiều đau đớn vì bạo lực của chính quyền trên đường phố. Họ chỉ đòi hỏi cải cách dân chủ và những quyền làm người căn bản sau 30 năm sống với bạo quyền.

Quý vị và các bạn có thể theo dõi tin tức và hình ảnh cập nhật tại “Chống Chế Độ Độc Tài – Giải Nội-Thực-Dân

 

____________________________________________________

BBT: 2/17/2011

Vui hưởng xuân mới cũng không quên tinh thần đấu tranh xốc vác can đảm của nhóm Thanh Niên Hành Động Vì Đất Nước.  Xin cảm ơn nhóm Talamot vì được xem những video clips minh họa rất đẹp của các bạn.

Trường Sa – Hoàng Sa – Ta Là Một

Talamot: HS.TS.VN – Hoàng Sa & Trường Sa CỦA Việt Nam

Tuổi Trẻ Ai Cập – Tuổi Trẻ Việt Nam

Sau 18 ngày biểu dương lòng yêu nước, Tuổi Trẻ và Nhân Dân Ai Cập đã dành được quyền làm chủ vận mệnh và tương lai của chính mình. Tổng Thống Hosni Mubarak đã phải ra đi.

2011 – Tuổi Trẻ Ai Cập đã như thế.

2011 – Tuổi Trẻ Việt Nam ĐANG NGHĨ GÌ? – ĐẾN KHI NÀO?

Nguồn: Talamot