vietsoul21

Posts Tagged ‘Lê Duẫn’

Sức mạnh của chủ nghĩa ngu dân – Dương Thu Hương

In Cộng Đồng, Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2016/03/12 at 18:33

Vốn thích nhạc không lời nhưng đôi khi tôi vẫn nhớ về một câu hát cũ, “Anh ở đầu sông, em cuối sông. Chung nhau dòng nước Vàm Cỏ Đông…” Lãng mạn sao, những cặp tình nhân cùng uống chung một dòng nước. Và hạnh phúc thay những kẻ có thể sống cả đời bên một con sông êm đềm, qua những mùa lúa chín không tiếng súng, những trưa hè có thể nép mình dưới bóng các rặng cây. Nhưng đó là chuyện cổ tích.

Lịch sử cận đại của người Việt Nam đã diễn ra trong khói bom và tiếng nổ của đạn pháo. Cuộc chiến tranh Việt-Mỹ chia cắt đến tận lòng sâu của mỗi gia đình. Sự nhầm lẫn, cự bất khả tri không chỉ xẩy ra giữa hai nền văn hoá Đông-Tây mà còn xẩy ra ngay giữa lòng dân tộc Việt, giữa các thành viên trong một gia đình, một dòng họ, giữa miền Bắc và miền Nam, giữa bên thắng cuộc và bên thua cuộc, giữa người trong nước và những người sống ngoài biên giới… Tóm lại, những người Việt cũng bị chia cách bởi những con sông. Những con sông thiếu vắng những cây cầu.

Khoảng cách giữa người với người có thể còn dài rộng hơn sông, sâu hơn vực thẳm, thế nên, dù trên địa hạt văn chương, tôi coi Albert Camus cao hơn hẳn Jean Paul Sartre, tôi vẫn phải công nhận câu nói nổi tiếng của Sartre là một nghiệm sinh có tính nhân loại, “Tha nhân là địa ngục của ta.”

Đây là kinh nghiệm của chính tôi.

Năm 1994, tôi sang Pháp lần đầu, được một nhóm “Việt kiều yêu nước” đón tiếp. Có lẽ tên ấy được đặt ra khi nhóm này tham gia vào phong trào chống chiến tranh và người cầm đầu nhóm ấy đã từng là phiên dịch cho ông Lê Đức Thọ trong các hội nghị đàm phán hưu chiến ở Paris. Khoảng năm 1990, cũng nhóm này đứng lên lấy chữ ký của Việt kiều trí thức ở Mỹ, Đức, Úc và Pháp trong bản kiến nghị yêu cầu nhà nước và đảng cộng sản Việt Nam mở rộng dân chủ. Sau bản kiến nghị ấy, họ bị cấm về nước một thời gian khá dài, thậm chí còn bị gọi là “các phần tử phản động”.

Như thế, phải hiểu là giữa nhóm Việt kiều này với tôi có chung mục đích tranh đấu cho quyền sống của người dân Việt Nam. Có lẽ cũng vì lý do ấy, họ đón tôi, ít nhất đấy là điều tôi nghĩ. Cuộc đón tiếp diễn ra nồng nhiệt, dường như mang mầu sắc bạn hữu. Tuy nhiên, chỉ một thời gian sau, tôi nhận thấy giữa họ với tôi có rất nhiều điểm bất đồng, đặc biệt là sự nhìn nhận về cuộc chiến tranh Việt-Mỹ.

Tôi tự nhủ,
“Người ta sống trên đời, thường tụ thành bè, còn bạn là thứ quý hiếm, nó còn quý hiếm hơn tình yêu vì không có bệ đỡ tình dục. Tình bạn đòi hỏi một sự cảm thông sâu sắc, những phẩm chất tương đồng, và cơ duyên để có thể cùng nhìn về một hướng, cùng đi theo một ngả. Vì lẽ đó, tình bạn không thể có được một cách dễ dãi. Không có thứ tình cảm nào không cần thử thách, cho dù là tình yêu, tình bạn hay tình đồng đội, tất thảy đều cần phải nung qua lửa mới biết vàng thau”.

Nghĩ thế, tôi chọn thái độ im lặng, lảng tránh các cuộc tranh cãi, vì nếu không là bạn, hà tất phí nước bọt để đôi co?

Tôi biết rõ rằng, đối với nhóm Việt kiều này cuộc chiến tranh chống Mỹ là cần thiết, là niềm kiêu hãnh, là đài vinh quang của dân tộc Việt Nam. Đối với tôi, đó là sự nhầm lẫn lớn nhất trong lịch sử, là cuộc chiến tranh ngu xuẩn nhất, tàn khốc nhất đã xảy ra trong một tình thế đen trắng lẫn lộn, các khái niệm bị đánh tráo, kẻ tham gia cuộc chiến ở phía Bắc nhầm lẫn do trói buộc bởi ngôn từ, kẻ tham chiến ở phương Nam bị cuốn vào dòng chảy của cuộc Chiến tranh Lạnh, và cả hai bên đều bị đặt vào thế đã rồi.

Cuộc chiến tranh Việt-Mỹ là bài học đau đớn nhất, nhục nhã nhất cho dân tộc Việt Nam, mà kẻ chịu trách nhiệm không chỉ là người Mỹ mà còn là chính những người lãnh đạo cộng sản phía Bắc. Trong cuộc chiến tranh ấy, dân tộc Việt tự biến mình thành vật đệm giữa hai toa tầu, là đám lính đánh thuê cho hai hệ thống tư tưởng trái chiều đang tiến hành cuộc chiến tranh Lạnh. Trong suốt một thập kỷ, nước Việt Nam đã thực sự biến thành cái cối xay thịt khổng lồ nhất trong lịch sử của toàn thể loài người.
Năm 2005, tôi trở lại Pháp.

Nhóm “Việt kiều yêu nước” chủ động mời tôi đến ăn cơm tối với họ để trao đổi tình hình. Tôi nhận lời. Bữa cơm ấy diễn ra ở một quán ăn thuộc quận 13. Trước khi đến Paris, tôi đã ở Turin (Ý) một tuần. Trong tuần lễ đó, khá nhiều báo Ý đã phỏng vấn tôi và đã đăng bài tức khắc. Một trong số các bài báo ấy, có đề tựa “Mười triệu người chết trong cuộc chiến Việt Nam”.

Trong các cuộc phỏng vấn tại Turin, tôi đã kể lại hai điều:

– Thứ nhất, khi làm người viết thuê cho các ông tướng, tôi được nghe họ nói với nhau: Chúng ta chỉ công bố con số thật sự khi người Mỹ bồi thường chiến tranh. Như thế, con số phía Mỹ đưa ra (khoảng 5 triệu tử vong) lẫn con số chính quyền Việt Nam đưa ra (hai triệu rưỡi) đều là số sai sự thật.

– Thứ hai, chỉ khi đến Turin tôi mới biết lính các nước chết ra sao và nhờ có sự so sánh ấy, tôi mới biết thân phận người lính và người dân Việt Nam đau khổ đến mức nào. Năm 2005, cuộc chiến tranh đang xảy ra ở Iraq. Báo mỗi ngày đều đăng tin bao nhiêu lính Mỹ, bao nhiêu lính Iraq tử vong. Nếu con số đó chạm tới năm chục đã khiến các nhà báo làm rộn lên, chất vấn tổng thống. Khi số tử vong chạm đến số 100 thì sự căng thẳng trong chính trường đã khiến Nhà Trắng điên đầu. Trong chiến tranh Việt-Mỹ, mỗi lần B52 bay qua, chỉ hai ba phút, dân thường, thanh niên xung phong chết hai trăm, ba bốn trăm, thậm chí nơi đông hơn sáu trăm người nhưng không có một dòng trên báo, không một câu trên đài phát thanh. Không ai hay biết, kể cả người Việt lẫn người nước ngoài.

Tôi nói với các nhà báo Ý:

“Tới tận năm nay, gần sáu mươi tuổi tôi mới thấm thía sự khác biệt giữa kiếp người. Nhờ đọc báo phương Tây, tôi mới biết là người Mỹ và người Iraq chết như người, chết theo kiểu người. Chúng tôi, những người Việt Nam, chúng tôi chết như kiến, chúng tôi chết như ruồi, chúng tôi chết như lá khô rụng, cái chết của chúng tôi hoà lẫn bùn đen, và tan trong câm lặng.”

Vì ở Turin có những Việt kiều liên hệ chặt chẽ với nhóm “Việt kiều yêu nước” ở Paris và gửi báo cho họ nên trong bữa cơm tối hôm ấy, tôi bắt buộc phải bàn cãi với họ về chủ đề chiến tranh Việt-Mỹ. Tôi đã thuật lại cho họ nghe sự tổn thất to lớn của dân tộc khi những người lãnh đạo mắc chứng vĩ cuồng. Rất nhiều trận xảy ra khi lực lượng trinh sát thăm dò địa hình địa vật không kỹ, bộ phận hậu cần chuẩn bị khí tài chưa đủ nhưng cấp chỉ huy ham lập thành tích nên cứ đẩy lính ra chiến trường, kết quả là đại bại. Trong khi ở chiến trường xác lính chết ngập suối, nước không chảy được, chim cắt chim kền kền ăn thịt no đến mức không bay lên nổi, lệnh ở Hà Nội vẫn tiếp tục giục tấn công. May mắn là còn có những vị tướng biết thương dân, thương lính, khóc đỏ mắt, quyết định rút quân và làm báo cáo giả để gỡ tội.

Hồi ấy, tổng tư lệnh của cuộc chiến là Lê Duẩn, đã đưa ra khẩu hiệu:
“Dân tộc chúng ta là dân tộc anh hùng, chỉ có thắng không có thua.
Quân đội chúng ta là quân đội anh hùng, chỉ có tiến không có lùi.”
Điều đó có nghĩa: Chỉ tiến công, không phòng thủ!

Xưa nay, trong lịch sử ngàn năm chống ngoại xâm của dân tộc, bao giờ chúng ta cũng lùi về rừng núi để chờ thời gian mài mòn lòng kiêu ngạo lẫn ý chí quân địch, cũng là để khí hậu nhiệt đới khắc nghiệt quật ngã chúng, cũng là để củng cố quân đội rồi chờ thời cơ thuận lợi mới huy động binh lính và dân chúng tổng tấn công. Khẩu hiệu của ông Lê Duẩn đưa ra là một sự sáng tạo thuần tuý, một ý thơ bay bổng, xuất phát từ tham vọng và lòng kiêu mạn cộng sản. Nhưng thơ phú là thứ chỉ để ngâm ngợi khi gió mát trăng thanh, thơ mà trà trộn với chiến tranh nó biến thành núi xương sông máu.

Đám tướng lĩnh không dám tuyên bố thẳng thừng, nhưng đều hiểu ngầm rằng lãnh tụ của họ là một kẻ vĩ cuồng.

Nhóm “Việt kiều yêu nước” ở Paris nghe tôi nói xong thì hai nhân vật chủ chốt phản ứng dữ dội. Ông X bảo:

– Mục tiêu biện minh cho phương pháp. Muốn thắng cuộc trong chiến tranh thì phải chấp nhận tất cả.

Ông Y phản ứng với con số Mười triệu:
– Con số đó không thật. Ở nước Pháp chúng tôi có các biện pháp khoa học về dân số để chứng mình là con số ấy sai. Làm sao chị có thể nghe theo mấy thằng tướng ngu ấy được?

Tôi im lặng không đáp. Nhưng hôm sau, tôi có nhờ ông Phan Huy Đường, lúc đó còn dịch sách của tôi, nói lại với ông Y:

– Nhờ Đường nói với ông bạn của Đường là về Việt Nam chớ mở mồm mà bảo mấy ông tướng là ngu. Bởi vì, rất nhiều hạ sĩ quan thời đó (trung uý, đại uý, thiếu tá…) biết rõ rằng sinh mạng họ được bảo tồn là nhờ những ông tướng thực sự thương lính và không ham thành tích như tướng Vũ Lăng. Bây giờ, nếu không giải ngũ họ cũng đã leo lên đại tá hoặc thiếu tướng. Nếu ông Y mở mồm bảo tướng của họ là thằng ngu hẳn họ sẽ cho một báng súng vào đầu, hiền hoà nhất họ cũng khạc vào mặt.

Đấy là phản ứng duy nhất của tôi. Trong thâm tâm, tôi quyết định chia tay.

Tôi nghĩ, đám người này cần cuộc chiến tranh chống Mỹ như người đàn bà cần son phấn. Giữa họ với ta chẳng còn điều gì đáng nói. Một cuộc chia tay vĩnh viễn là điều hợp lý hơn cả. Không cần kiệt xuất thông minh, chỉ cần chịu khó quan sát sẽ thấy ngay rằng cộng đồng người Việt ở nước Pháp là một cộng đồng không bản sắc, sống co cụm, một bầy thỏ ngoan ngoãn đối với chính quyền. Họ không gây ra các vụ lộn xộn như người da đen và người Arab theo đạo Hồi, nhưng họ cũng chẳng có tiếng nói, chẳng có một gương mặt nào trên các diễn đàn quyền lực. Vì bản chất nhẫn nhịn, chịu thương chịu khó nên họ thành công ở mức trung bình, trở thành kỹ sư, bác sĩ, nha sĩ, giáo viên đã là giấc mơ tột đỉnh. Hội nhập vào xã hội Pháp chưa lâu, sự tự tin vào bản thân chưa đủ, họ lại bị ám ảnh bởi thân phận lớp người Việt Nam nhập cư trước họ, những người lính thợ bị thực dân cưỡng bức rời quê hương sang Pháp phục vụ tại một số nhà máy làm thuốc súng để thay thế cho các công nhân Pháp ra chiến trường.

Năm 1937, để dự phòng chiến tranh, bộ trưởng Bộ Thuộc Địa và Quân Đội (ministre de la Colonie et de la Défense) Georges Mandel dự tính tuyển 80.000 người Đông Dương. Tháng 6 năm 1940 đám thanh niên Việt Nam được dẫn đến hải cảng Pháp gồm: 10.750 người trung kỳ, 7.000 người miền Bắc, 2.000 người miền nam. Đám lính thợ này đã bị đối xử như những con vật, bị dồn vào sống trong những khu nhà tồi tàn, không điện và thiếu nước, không nơi vệ sinh, không lò sưởi và thức ăn không đủ nửa khẩu phần. Mùa đông, những kẻ khốn khổ ngủ trên sàn, đại tiểu tiện ngay bên ngoài cửa, người nọ dẫm vào phân người kia. Đói khát, họ phải đào rễ củ và hái rau dại về ăn. Cái sự thật tàn nhẫn này bị vùi trong câm lặng. Cho đến đầu thế kỷ XXI, mới có vài nhà báo Pháp lên tiếng. Sau đó, Bernard Kouchner, vốn là một ngôi sao cánh tả nhưng sau thất bại của Ségolen Royal trong cuộc tranh cử 2007, đã nhận lời làm bộ trưởng bộ ngoại giao cho chính phủ Sarkozy mới chính thức lên tiếng xin lỗi vì: “Nước Pháp đã đối xử với những người lính thợ Việt Nam như đối với súc vật.”

Trong thực tiễn, nước Pháp đã đối xử với đám lính thợ Việt Nam còn tệ hơn súc vật bởi khi cưỡng chế thanh niên Việt Nam sang Pháp, họ dồn đám người này xuống hầm tầu còn tầng trên, thoáng mát hơn thì để dành cho… những con bò. Cái kinh nghiệm tồi tệ ấy được cấy trong tim như một quá khứ sầu thảm, cộng đồng người Việt không thể tránh khỏi mặc cảm của những kẻ vừa là dân nhập cư, vừa mang nhãn hiệu “Được lôi ra từ vùng đất thuộc địa”. Thế nên, cuộc sống tinh thần của họ dường như đột ngột khởi sắc, bừng bừng ánh sáng khi cuộc chiến tranh Việt-Mỹ xẩy ra. Tại sao?

Dễ hiểu thôi, tinh thần “Bài Mỹ” là chất xi-măng gắn kết một số đông quốc gia trên thế giới, không chỉ các nước thuộc phe Xã hội chủ nghĩa nhưng ngay cả các nước phương Tây. Hành vi của nước Mỹ không chỉ gợi lên lòng căm thù nhưng kèm theo đó cả sự sợ hãi. Nếu có tiền lệ một nước nhược tiểu bị Mỹ chà nát thì sẽ đến lượt các nước khác theo thành ngữ, “Không bao giờ có lần thứ nhất, lần thứ hai mà lại không có lần thứ ba”.

Vả chăng, về mặt lý, cuộc chiến này không thể biện minh, “Không một người Việt Nam nào mang bom sang giết người Mỹ.”

Dù cộng sản hay không cộng sản thì sự thực là không có một người Việt Nam nào cầm dao hoặc cầm súng sang tận nước Mỹ để giết một người Mỹ, hoặc ngay đến một con bò trong trang trại Mỹ cũng không.

Vì thế, lương tâm nước Mỹ phải thức tỉnh. Các vụ biểu tình phản đối chiến tranh trước toà Nhà Trắng của Mỹ điệp với các cuộc biểu tình trước sứ quán Mỹ tại các nước khác. Tiếng hát và ngọn lửa tự thiêu của trí thức Mỹ đốt nóng cả châu Mỹ La-tinh và châu Âu.

Vào thời điểm ấy, người Việt Nam nhập cư chống chiến tranh được hưởng một sự ưu đãi vô tiền khoáng hậu. Đi đến đâu họ cũng được thăm hỏi, giúp đỡ, được coi là người của “một dân tộc anh hùng”. Và, trên các diễn đàn chống chiến tranh, đại diện của “tổ chức Việt kiều yêu nước” được xuất hiện bên cạnh những nhân vật quan trọng bản xứ mà nếu không nhờ ân sủng của cuộc chiến này, không bao giờ họ có cơ hội và có tư thế tiếp xúc. Để ví von, có thể nói rằng: Những con chim vốn nép mình trong bóng tối nhờ ánh đạn lửa mà được nhô đầu ra và há mỏ cất tiếng kêu.

Thế nên, họ cần cuộc chiến tranh Việt-Mỹ.

Lòng ích kỷ, cái kiêu ngã của con người quả là vô giới hạn. Những kẻ sống ở một phương trời, cần máu đồng bào phải đổ ở một phương trời khác để tô điểm cho cuộc sống tinh thần của chính mình.

Chiến tranh thật đẹp khi nó được tạo bằng máu xương kẻ khác!

Từ đây, tôi nghi ngờ hai từ “yêu nước”. Phía sau danh từ này có vô vàn tâm trạng, có vô số động cơ, hoặc xác thực, hoặc ngầm ẩn, hoặc có ý thức, hoặc vô thức.

Danh từ nào cũng lập lờ và cũng có khả năng phản lại nghĩa chính thống.

Như thế, giữa người Việt với người Việt cũng bị chia cách bởi những con sông vô hình. Chắc chắn cũng còn khá lâu mới bắc được cầu qua những con sông ấy.

Chiến tranh Việt-Mỹ đã qua, nhưng sau đó không lâu cái tên Việt Nam lại dội lên trên các kênh thông tin quốc tế. Lần này, là một thứ ồn ào dơ dáy. Chẳng còn là người anh hùng bé nhỏ dám đương đầu với đế quốc Mỹ mà là tác giả của Khổ nạn Thuyền nhân. Ở châu Âu, phái đoàn Việt Nam không còn được chào đón bằng cờ và hoa mà bằng cà chua và trứng thối. Tôi nhớ rằng lần đi châu Âu, ông Võ Văn Kiệt đã hứng trọn một quả trứng thối vào giữa mặt còn đến lượt ông Phan Văn Khải thì thoát nạn nhờ sự bố trí, dàn cảnh công phu của cảnh sát Pháp. Sự đời vốn đổi thay như các lớp tuồng. Điều khốn khổ cho người Việt Nam là dường như họ chỉ được biết đến trong các tình huống đau khổ. Kể từ khi làn sóng “Thuyền nhân” dịu đi, Việt Nam gần như chẳng còn gì để nhớ. Cứ nghe đài phương Tây thì biết, người ta chỉ nhắc tới hai từ Việt Nam khi nhắc tới cuộc chiến tranh Việt-Mỹ, bởi rất nhiều trí thức phương Tây, đặc biệt là các văn nghệ sĩ đã tham gia vào phong trào chống chiến tranh và tuổi trẻ của họ gắn bó với những kỷ niệm của một thời sôi động. Tuy nhiên, ngay cả những người kiên nhẫn nhất và hiểu biết Việt Nam nhiều nhất cũng chưa dám quả quyết rằng họ nắm được sự thực về cuộc chiến tranh này. Điều đó, quá khó khăn.

Một lần, một nhà văn Pháp hỏi tôi:
– Cái gì tạo nên sức mạnh của chúng mày trong cuộc chiến tranh Việt-Mỹ?
Tôi đáp:
– Một nửa là thói quen của hàng ngàn năm chống xâm lược. Nửa kia là sức mạnh của chủ nghĩa ngu dân.
Anh bạn chưng hửng:
– Mày không đùa đấy chứ? Ai có thể tin nổi một thứ lý thuyết quái gở như thế.
Tôi cười:
– Rất nhiều thứ quái gở ở phương Tây lại là sự thực đơn giản ở phương Đông. Và ngược lại.
Bây giờ, tôi xin giải thích “thứ lý thuyết quái gở” này.

Cuộc chiến tranh Việt-Mỹ được đảng cộng sản phát động với lời tuyên bố: Đánh đuổi quân xâm lược Mỹ.

Năm 1964, tôi mười bẩy tuổi. Vào tuổi ấy, tất thảy thanh niên ở miền Bắc không có quyền nghe đài nước ngoài, không có ti-vi, không có máy quay đĩa, không có bất cứ nguồn thông tin nào ngoài báo chí cộng sản và đài phát thanh trung ương. Lần đầu tiên, tôi được nghe những bài hát nước ngoài là năm tôi mười sáu tuổi. Mùa hè năm 1963, anh họ tôi là phiên dịch tiếng Nga dẫn tôi cùng đứa em trai đến nhà ông chuyên gia mỏ thiếc Tĩnh Túc ở Hà Nội. Ông bà ấy đón tiếp rất tử tế, ngoài việc chiêu đãi bánh ngọt và nước trà chanh, còn mở máy quay đĩa cho chúng tôi nghe. Cảm giác của tôi lúc đó là choáng váng, như muốn chết. Đó là cảm giác thật sự khi con người lạc vào một thế giới mà họ vừa cảm thấy ngây ngất vừa cảm thấy như ngạt thở. Đĩa nhạc đó là của Roberto… (không nhớ họ), một giọng ca Ý tuyệt diệu nhưng chết trẻ. Những bài hát tôi nghe là các bài nổi tiếng cổ truyền: Ave Maria, Santa Lucia, Paloma, Sérénade, Histoire d’amour, Besame Mucho…

Ra khỏi cửa nhà ông chuyên gia Nga nọ, tôi bước đi loạng choạng. Lần đầu tiên, tôi hiểu rằng cuộc sống của chúng tôi là cuộc sống của những kẻ bị nhốt dưới hầm. Những bài hát kia là một thứ ánh sáng mà lần đầu tiên tôi được thấy. Ánh sáng đó rọi từ một thế giới khác, hoàn toàn ở bên ngoài chúng tôi. Kể lại chuyện này, để hậu thế nhớ rằng, thời đại của chúng tôi là thời đại của một thứ chủ nghĩa ngu dân triệt để. Một thứ chủ nghĩa ngu dân tàn bạo, nó buộc con người sống như bầy súc vật trong một hàng rào được xây nên bằng đói khát, hà hiếp và tối tăm.

Khi con người bị điều khiển cùng một lần bằng tiếng gào réo của dạ dầy và cái bỏng rát của roi vọt thì họ không thể là người theo nghĩa thực sự. Chủ nghĩa ngu dân là thứ lá chắn mắt ngựa, để con vật chỉ được quyền chạy theo chiều mà ông chủ ra lệnh. Khi tất cả những con ngựa đều chạy theo một hướng, ắt chúng tạo ra sức mạnh của “bầy chiến mã”, nhất là khi, trong máu chúng đã cấy sẵn chất kích thích cổ truyền “chống xâm lăng”.

Với lũ trẻ là chúng tôi thời ấy, danh từ Xâm lăng dùng để chỉ: quân Nguyên, quân Minh, quân Thanh, và bây giờ là quân Mỹ. Danh từ ấy đồng nghĩa với Tô Định, Mã Viện, Thoát Hoan… Tóm lại, Mỹ là lũ giặc phương Bắc nhưng mũi lõ, mắt xanh, tóc vàng.

Ngôn ngữ vốn là một nhà tù, mà chúng tôi không có điều kiện để tiếp cận với các nguồn thông tin khác, các ngôn ngữ khác, nên hiển nhiên chúng tôi là đám tù binh ngoan ngoãn sống trong nhà tù ấy, đinh ninh rằng mình ra đi là để bảo vệ non sông.

Bởi vì, tổ tiên chúng tôi đã quen chết hàng ngàn năm để chống lại những kẻ thù mạnh hơn họ bội phần, chúng tôi cũng sẵn sàng ra chiến trường chống quân xâm lược Mỹ theo đúng cách thức ấy.

Đó là lý do tôi nói, “sức mạnh của chủ nghĩa ngu dân”.

© Dương Thu Hương

Advertisements

An Hoàng Trung Tướng – Ai là Anh Cả Quânđội Nhânzân Xứ Lừa?

In Lịch Sử, Liên Kết on 2013/10/10 at 17:01

An Hoàng Trung Tướng

FB An Hoàng Trung Tướng

An Hoàng Trung Tướng là một trong những người tiên phong của trường phái Bựa, ở một góc độ nào đó ngôn ngữ Bựa đang ngày trở nên thông dụng. Điều đó được thể hiện ngay trong nhiều bài viết của những cây bút nhà nghề với câu chữ đặc trưng của dân Bựa, và quan trọng hơn cả là lối tư duy, nhìn nhận đánh giá sự kiện – hiện tượng của những người tự nhận là Bựa rất phóng khoáng, không câu nệ, không né tránh, xin được giới thiệu tới bạn đọc Dân Luận một vài bài viết đặc trưng phong cách Bựa liên quan đến tướng Giáp, nhân vật đang được quan tâm số 1 hiện nay. Để tôn trọng tác giả, xin được giữ nguyên cách trình bày và văn phong có phần khó đọc, khó hiểu của người viết. Bài được đăng trên FB của An Hoàng Trung Tướng

Ai là Anh Cả Quânđội Nhânzân Xứ Lừa?

1) Câuhỏi này tưởngchừng đơnjản, nhưng trảlời đéo zễ, kểcả với các sửviên hàngđầu Xứ Lừa.

Bởi nếu chúng nói thật, chúng sẽ thành nói zối. Các cô sẽ đéo chấpnhận any lời nói thật, thế mới là Lừa, quân búzù.

Trước tới nay, ngót một thếkỷ, jáokhoa Lừa luôn zậyzỗ các cô, rằng Anh Cả của quânđội các cô chính là anh Thốngchế (RIP anh).

Đcm còn ai khác nữa? Anh Thốngchế đẻ ra quânđội tháng 12 năm 1944. Anh đeo bao boọchoọc (bao only, không có cả súng lẫn đạn) sừngsững 1m50 trước đoànbinh 34 anh nôngzân bắnđòm, mão calô lệch trán, jơ tay lên đầulâu thềthốt hysanh xươngmáu.

Đành rằng quânđội của nhânzân Lừa đã có từ lâu trước anh Thốngchế. Quânđội chống Fáp Lợn cũng. Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thái Học.. đều triểnkhai binhlính đánh Fáp trước Ông Cụ nhiều năm. Nhưng vì những lýzo cánhân nhỏmọn, Ông Cụ đéo chấpnhận các lựclượng đó, zù chúng cũng cùng lýtưởng (chống Fáp) với cụ củ.

(2) Khi Ông Cụ từ China lẩn về Bắc Lừa tính chuyện binhbiến 1940, thì Nguyễn Bình, Chu Văn Tấn, đều đã triểnkhai quânđội, và địnhhướng fụctòng Ông Cụ.

Nguyễn Bình nguyên là tướng caocấp trong lựclượng Quốczânquân của Nguyễn Thái Học. Nhưng zo tranhjành quyềnbính với đồngnghiệp khi boss mới tèo, Bình bị đệ của Học đâm thủng mẹ một mắt, thành Bình Chột. Việc này khiến Bình hậnthù Quốczânquân rất, và xin theo Ông Cụ.

Quânđội (lykhai Quốczânquân) của Bình hoạtđộng từ 1936, khi anh Thốngchế còn đang làm mậtthám, mang-tên Bìnhthiênquân, rất janghồ hunghãn, đánh Fáp nhanh như rửa đít.

Chấpnhận theo Ông Cụ, Bình bị cụ củ buộc đổi tên Bìnhthiênquân thành Vệquốcđoàn, đồngthời vác toànbộ 3,000 chiếnbinh Vệquốcđoàn đấy nhập lựclượng anh Thốngchế, vốn kém Bình rất xa cả về tàinăng, bảnlãnh, thựclực, và kinhnghiệm, với vỏnvẹn ba chục anh bộđội thối mồm đéo anh nào biết bóp-cò súng mútcơtông.

Việc này khiến Bình cáukỉnh bứcxúc, và bỏ vào Nambộ theo lãnhtụ Ba Zuẩn.

Tại chiếntrường Nambộ, Bình khinh luôn anh Ba Zuẩn, và bị anh này đập chết tươi.

Khi chết, Bình đang đeo hàm trungtướng bộđội Ông Cụ (trungtướng zuynhất 194x, không có thượngtướng), nghĩa là chứcvụ chỉ sau anh Thốngchế (đạitướng) trong Quânđội Nhânzân, trên cả các anh Nguyễn Sơn (cựu-tướng của anh Mao China), Chu Văn Tấn, Văn Tiến Dũng, Hoàng Văn Thái, Trần Đại Nghĩa, etc. Anh Nguyễn Chí Thanh năm nẳm thậmchí còn chưa thành bộđội.

(3) Chu Văn Tấn nguyên là tướng thổphỉ miền fùzung anhtúc, lẫylừng một thuở. Tấn thậmchí có quânđội chống Fáp riêng trước cả Nguyễn Bình, vào quãng 1934. Bộđội của Tấn đánh Fáp nhanh như rửa đít cũng, tên là Cứuquốcquân.

Khi Ông Cụ thufục được Tấn 194x (x<1), thì cụ củ buộc Tấn làm đệ cho anh Phùng Chí Kiên, lúc đó cũng đang là sếp của anh Thốngchế.

Việc này khiến Tấn điênkhùng và zọa lykhai Việtminh. Ông Cụ xoazịu Tấn bằng cách hứa tặng Tấn chức bộtrưởng quốcphòng tươnglai. Ông Cụ buộc fải hứa, vì Cứuquốcquân của Tấn chính là vệbinh ngựlâm bảovệ cụ củ trước vụ cướp chínhquyền 1945. Không có chúng, cụ củ chết chắc đừng lèonhèo. Mà cụ củ năm nẳm (1940-1941) nếu không vuốtve Tấn cẩnthận thì Tấn cũng đập chết ăn thịt luôn, bởi anh ý là toọc.

Và Cứuquốcquân của Tấn (với Kiên) mới chính là quânđội cáchmạng đầutiên zưới triềuđại Ông Cụ, chứ đéo phải Giảiphóngquân của anh Thốngchế, thànhlập tháng 12 năm 1944.

Ông Cụ sau đã jữ lời hứa với Tấn, nghiêmtúc fết. Tấn chính là bộtrưởng quốcphòng đầutiên của Lừa cộngsản. Anh Thốngchế bị tống sang bộ nộivụ.

Việc này khiến anh Thốngchế caycú rất, nhưng anh ý đéo zám bật. Suy cho cùng, Tấn cũng lại là hạng vượt rất xa anh Thốngchế cả về tàinăng, bảnlãnh, thựclực, và kinhnghiệm.

(4) Phùng Chí Kiên mới là nhânvật quantrọng nhất của loạt cồng này đcm thế mới tài. Anh ý làm đảolộn mẹ câu trảlời cho câuhỏi Zì đã đặt từ cồng đầu.

Trong đám đệ Ông Cụ, Kiên thuộc hàng râmran giàhói, tấtnhiên không tính bọn Thắng Đần aka Tôn Đức Thắng (1888), Bùi Tồ aka Bùi Bằng Đoàn (1889), và các thểloại búpbê ngộnghĩnh khác. Đám này chưa baogiờ nhận là đệ Ông Cụ. Ông Cụ cũng đéo chấpnhận các anh ý làm đệ. Các anh ý gọi Ông Cụ bằng Cụ chứ đéo gọi bằng Bác. Đó hầunhư là một sỉnhục.

Kiên (1901) chỉ kém tuổi Hồ Tùng Mậu (1896), nhưng hơn tuổi cả những anh được coi là bôlão côngthần bậusậu như Lê Hồng Phong aka Phong Bần (1902), Nguyễn Lương Bằng aka Anh Cả Đỏ (1904), Trần Phú aka Chú Lé (1904).

Ông Cụ fongcách jatrưởng bầnnông trungkỳ nhỏmọn, chỉ khoái bọn tintin nonnớt, chứ đéo ưa bọn jàhói. Đệ thântín của Ông Cụ chỉ có Phạm Văn Đồng aka Đồng Vều (1906) là jà nhất hiếmhoi. Anh Kiên kém Ông Cụ tận chục tuổi, mà vẫn bị cụ củ coi là quá jànua nhănnhúm.

Ông Cụ rất sợ bọn đệtử jàhói sẽ tinhtướng ngôngnghênh gànbướng mà ảnhhưởng côngnghiệp cụ củ. Nên anh Kiên cũng như anh Phong, anh Phú, anh Mậu, chắcchắn sẽ bị cụ củ mượn tay Fáp Lợn tỉn chết sớmsủa. Anh Bằng quá hãm và nhát, đéo tính.

Cụ củ sẽ chỉ tuyểnzụng những nhiđồng ngoanngoãn bảo sao nghe vậy, tầmcỡ anh Thốngchế (1912), anh Lê Quảng Ba (1914), thậmchí anh Phùng Thế Tài (1920). Thậntrọng vậy mà cụ củ vẫn bị anh Ba Zuẩn (1907) đập chết ăn thịt, thế mới cún.

Đây là thuật zùng-người truyềnthống của các lãnhtụ tàinăng hạnchế. Vì kém-tài, các anh ý cần trauzồi một fongđộ bềtrên kẻcả, lấy thâmniên tuổitác làm uytín chánhtrị, Lừa kêu là Đức (đứcđộ) và Thần (thầnthái).

Ông Cụ jàzặn hơn bọn đệ ruột đến 20 năm, mà vẫn nuôi râu bờmxơm quá ngực, bận áo cánh bàba, xỏ chân guốc lộccộc, đéo cưới phunhân, đéo nhận nhiđồng, nhằm thêm fần chachú.

Ông Cụ không là lãnhtụ Lừa đầutiên thựchành chiếnlược đó. Lê Lợi đã từng, rồi Trần Thủ Độ, Nguyễn Nhạc (anh ruột Hồ Thơm), vài anh nữa. Các anh ý có điểm chung: đều là bậc khaiquốc, chẳng được truyền ngôi.

Anh khaiquốc nào tinzùng bọn đệ jàhói ngangfân thường bị chúng đập chết ăn thịt luôn, như Lê Hoàn, Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh. Anh Lê Lợi cũng suýt tiêutòng với vụ zùng anh Nguyễn Trãi, nhưng maymắn kịp sửa sai.

Anh Kiên được chính các lãnhtụ Sô Liên lẫn China bảolãnh và tiếncử. Về mứcđộ trungthành với lýtưởng cộngsản, anh ý là số 1, từng thamgia cả hồngquân Sô Liên lẫn hồngquân China Mẹ, đóng sĩquan caocấp, và zứtkhoát đéo đầuhàng bọn Nhật, bọn Fáp, và cả bọn Tàu Tưởng.

Các cô thấy, lãnhtụ cần đéo jì các cô trungthành với lýtưởng? Lãnhtụ chỉ cần các cô trungthành với chính lãnhtụ.

Các cô nghĩ các cô cứ lýtưởng lýtưởng lýtưởng thì được thăngtiến nên côngtrạng hoànhtráng à? Ngu đéo jì ngu thế hehe. Anh Kiên là một người như vậy.

PS. Sorry ở một cồng fía trên Zì ghi nhầm năm anh Thốngchế thànhlập Giảiphóngquân là 1941. Đínhchính fát cho hànlâm nhẻ.

(5) Kiên Phùng tuy bầnnông trungkỳ nhưng họchành khá chỉnchu chuyênnghiệp. Anh ý từng học trường sĩquan lụcquân Hoàngphố lừngzanh bên Mẹ China, sưfụ của anh tuyền caothủ gộc: thốngchế Tưởng (Giới Thạch), chuẩntướng Diệp (Kiếm Anh), chínhủy Chu (Ân Lai), cùng nhiều anhem quanlại Sô Liên khác nữa.

Kiên học bộbinh là chính, nhưng thựchành cả fáobinh và cơjới. Trần Canh, một đồngchí Khựa được Ông Cụ coi như “thánh cốvấn lụcquân”, tổng chỉhuy chiếnzịch Điện Biên Phủ, chính là một bạn đồnghọc của Kiên. Anh Lê Hồng Phong, tìnhđịch Ông Cụ, cọcchèo của anh Thốngchế, cũng đồnghọc Kiên luôn.

Học xong trường Hoàngphố, Kiên thamja bộđội anh Mao tấncông luôn thày của mình aka anh Tưởng, thành một trungđoàn-trưởng. Anh đánh vài trận, có thua có thắng, rồi được tuyển vào đảng Mao China (hệt các anh Lê Hồng Phong, Nguyễn Sơn, etc), rồi sang Sô Liên thụjáo các đạica vôsản trong Đôngfương Họcviện và vài trường khác. Tại Sô Liên, anh học tiếp ngành tácchiến lụcquân và học thêm ngành chuyênchính vôsản, trongkhi anh Phong học lái tàubay.

Đầu 1940, Kiên chính là tưlệnh (commander) của Ông Cụ. Anh zắt Ông Cụ bươnchải khắp China qua Bắc Lừa sang Hạ Lào, vào hang rồi lên núi, lội suối rồi leo cây, cỡi ngựa rồi săn gái (mama anh Mạnh sinh anh trúng zịp này nha), everything everywhere.

Không có Kiên thì Ông Cụ bốc cứt nhai vã và đếm jun jải khuây hàng ngày. Kiên màymò tổchức một trungđội toọc liềumạng, lúc nào cũng lận đầy thủfáo trong bụng, loanhquanh hầuhạ Ông Cụ.

Saukhi anh Hoàng Văn Thụ thufục được Cứuquốcquân của anh Chu Văn Tấn, Ông Cụ bắt Tấn và tậpđoàn anhem Cứuquốcquân fụctòng Kiên mọi nhẽ. Tấn cũng được fâncông làm fótướng cho Kiên. Tấn khá cáukỉnh, nhưng Ông Cụ cũng zànxếp okay.

Đúng lúc này, anh Thốngchế thôi hợptác với phòng-nhì Deuxième Bureau, chínhthức theo Ông Cụ. Đươngnhiên anh ý fải làm fótướng cho Kiên, như anh Tấn Toọc.

Rõràng, xét trên mọi khíacạnh, thì Kiên Phùng chính là thốngsoái đầutiên của bộđội Ông Cụ.

Nhưng đéo hiểu sao Ông Cụ không tin Kiên. Cụ củ zùng Kiên như zùng chó săn. Nhẽ cụ củ nghi Kiên trungthành với quốctế cộngsản (với Linh Sôliên, với Mao China) hơn với mình?

Đươngnhiên, đến một mùa nhạtmáu, chó săn fải thăngthiên. Kiên trong liền 3 ngày zính liền 3 trận fụckích của bộđội Fáp, mộtcách ngẫunhiên bíhiểm. Kiên đéo chống được, bị tóm sống, và bị chặt mẹ đầulâu.

Hơn 3 năm sau, anh Thốngchế và Ông Cụ mới hoànhồn, lọmọ thànhlập một đạobinh khác, cuối 1944. Ông Cụ khăngkhăng, đó mới là quânđội nhânzân đầutiên.

Sảnfẩm của Ông Cụ, cụ củ đặt tên đéo nào chả được? Cụ củ ban côngzanh cho anh Thốngchế, thì anh ý được hưởng mưamóc. Kiên Phùng đéo maymắn, đến mạng cũng đéo còn, fải chịu trầnjan quênlãng thôi.

Nhưng mọi chuyện đéo zừng ở đấy.

(6) Thảoluận chútđỉnh zịkhảo nha, trước khi theozõi tiếp vụ anh Phùng Chí Kiên.

Anh Thốngchế theo cáchmạng Ông Cụ rất muộn. Mãi cuối 1940 anh ý mới bám chân anh Phạm Văn Đồng aka Đồng Vều bỏ Hanoi lên chiếnkhu mò Ông Cụ. Cũng trong năm nẳm, chị Quang Thái vợ anh bị bọn Fáp Lợn tóm và tống jam, gòi tèo.

Năm nẳm anh Thốngchế đã trungniên, tròmtrèm tamthập, đang làm jáovụ tại một trường tiểuhọc nộithành Hanoi, thuộc sởhữu của anh Hoàng Minh Giám, một thanhniên tâyhọc tiếngtăm.

Jáokhoa Lừa chép anh Thốngchế làm jáosư (môn lịchsử) trường trưởng. Chả có jáosư jáosãi nào đâu. Fịa đấy. Vụ này anh Giám đã vài lần thanhminh, nhưng không zám côngbố rộngrãi.

Hãy so tuổi theo cáchmạng của các côngthần Ông Cụ như anh Đồng Vều (20), Trường Chinh aka Chinh Khu (22), Lê Duẩn aka Ba Zuẩn (22), Lê Đức Thọ aka Sáu Búa (19), Phạm Hùng (18), Trần Quốc Hoàn (18), Chu Huy Mân (17), Nguyễn Chí Thanh (23), Nguyễn Lương Bằng (25), Hoàng Quốc Việt (24), thậmchí các vàngson Quang Thái (15), Minh Khai (20), Thị Thập (23), etc, thì thấy anh Thốngchế không yêu Ông Cụ sớm, nếu không muốn nói là hehe quá muộn, theo fongcách “trở-cờ”. Đời cáchmạng anh chỉ tươngđương các anh Xuân Thủy (30), Lê Trọng Tấn (30), không khác mấy các anh Trần Đại Nghĩa (43), Hoàng Minh Giám (41), Nguyễn Bình (40), aka đám “trở-cờ” kinhđiển.

Như vậy, các cô thấy, ngay trong đảng mình, anh Thốngchế chưa baojờ được coi là bậc tiềnbối. Những bộđội thuộccấp của anh như Hoàng Văn Thái (23 @1938), Lê Thiết Hùng (22 @1930), Lê Hiến Mai (22 @1940), Hoàng Sâm (18 @1933), Văn Tiến Dũng (20 @1937), đều tiềnbối hơn anh nhiều boong, cả về thâmniên, lẫn thờiđiểm, lẫn tuổi thamja cáchmạng.

Vì nhẽ đó, anh Thốngchế rất hay bị thuộccấp bật như tôm, chưởi đù mẹ đù cha là thường. Nhưng anh cũng chẳng để-bụng thậmchí chẳng fànnàn. Đó hầunhư là một ưuđiểm, và được nhiều chiếnbinh lìutìu thánfục. Chúng nể anh ở chữ Nhẫn.

Anh Sáu Búa khi họp lãnhtụ chỉ gọi anh là Anh Văn, chả baojờ gọi anh bằng chứczanh mà anh khoái: đạitướng tổngtưlệnh. Anh cũng chẳng fiền.

Đáng tiếc, chữ Nhẫn không thể là fẩmchất của bậc zanhtướng. Anh Thốngchế, RIP anh, nhưng anh có hiểu điều đó không?

(7) Tiếptục thảoluận chút zịkhảo trước khi theozõi tiếp vụ anh Phùng Chí Kiên.

Cuối 1944, Ông Cụ chỉđạo anh Thốngchế cùng anh Hoàng Văn Thái thànhlập Đội Vietnam Tuyêntruyền Giảiphóng.

Ngay cách đặt tên mớimẻ này (so với Cứuquốcquân, Vệquốcđoàn hàonhoáng trước đấy), cùng với việc jao tráchnhiệm cho anh Thốngchế nontơ chả kinhnghiệm chiếntranh mẹ, đã cho thấy Ông Cụ đéo tintưởng lắm vào thànhcông của cáchmạng, cũng đéo tintưởng những tay võbiền khoái đụngđộ đâmchém như Kiên Phùng.

Ông Cụ chỉ zám gọi lựclượng vệbinh mới của mình là Đội (Team), và cẩnthận thêm chữ Tuyêntruyền (Propaganda) vào trước chữ Giảiphóng (Liberation), hàmý, lựclượng này chỉ làm nhiệmvụ tuyêntruyền là chính, và quymô nhonhỏ xinhxinh thôi.

Biênchế Đội của anh Thốngchế cũng khiêmtốn hơn Quân của anh Kiên anh Tấn nhiều boong, vỏnvẹn 34 chiếnbinh toọc, aka 3 tiểuđội. Các anh cũng đéo trangbị võkhí. Súng boọchoọc anh Thốngchế đeo bên sườn chỉ có vỏ chứ không có ruột. Anh Thái thậmchí chỉ đeo gươm. Các anh ý cần đéo jì đến súng fỏng. Các anh khác cũng.

Jảzụ Ông Cụ không thànhcông lần nữa, năm 1945 đéo cướp được chánhfủ của anh Trần Trọng Kim, thì anh Thốngchế cũng lên đường theo anh Kiên thôi. Ông Cụ tàihoa vụ này nhất. Và đươngnhiên một quânđội khác sẽ được thànhlập, với những biênchế mới, nhiệmvụ mới, chiếnlược mới.

(8) Kếtthúc vụ anh Phùng Chí Kiên nhẻ.

Anh Kiên bị bọn Fáp chặt đầulâu, Cứuquốcquân tantành, anh Chu Văn Tấn lánh mẹ sang Choang Khựa. Ông Cụ sai anh Thốngchế lập quânđội mới, 3 tiểuđội toọc chân trần mắt xếch tuổi 18-20.

Anh Thốngchế rốtcuộc thànhcông, anh Tấn thì kịpthời zây-máu-ăn-fần bởi lời hứa vộivàng của Ông Cụ. Nhưng anh Kiên Phùng hoàntoàn bị quênlãng.

Nếu Zì không kể lại trong loạt cồng này, Zì đoanchắc 50% số văncông ở đây đéo biết anh Kiên là ai, thậmchí chưa baojờ nghe tên anh. Jáokhoa của đảng không nhắc anh một lần nào. Anh thậmchí đéo lừngzanh bằng Nông Zền, Lê Tám, hay Văn Đàn, Đình Jót, Bá Ngọc, Viết Xuân, những huyềnthoại vănchương thuầntúy. Các đồngđội anh, hàng trăm chú toọc bị bổ gươm jữa gáy hoặc buộc thép thả sông, không một ai được ghicông liệtsĩ. Về các anh, chỉ còn lại nhõn hùngca Bắc Sơn của thợ-nhạc Văn Cao.

Hanoi có fố Phùng Chí Kiên, nhưng 99% cưzân nơi đó đéo biết Kiên là gã chăn trâu bỏmẹ nào.

Zì đôibận nghĩ lẩnthẩn rằng, nhẽ Ông Cụ sợ anh Kiên Phùng bẻmmép vụ mama anh Mạnh, nên quyết xóa sạch anh ý, hay chăng? Jảthiết thôi, nhưng cũng không hẳn không cólý.

Mãi 199x, anh Kiên Phùng mới được truytặng Huânchương Chiếncông Hạng Ba, còn kém papa Zì một hạng, kém đạitá Tai Vuông hai hạng. Cả hai anh bộđội vănfòng này đéo có chiếncông cặc nào, thậmchí suốt đời binhnghiệp các anh đéo bóp-cò súng-lục nhát nào. Tên fố Hanoi cho Kiên Phùng cũng xuấthiện sau những năm đó.

Tận 200x, cách nay tầm chục năm, bỗngzưng some lãnhtụ nhớ ra Kiên, và chúng quyếtđịnh fong cho anh hàm tướng.

Thật hàihước, chúng đéo nói rõ hàm tướng của Kiên Phùng là mấy sao. Năm sao nhẽ nhiều quá, mà bốn sao thì hóa ra công của anh còn thua công anh Thốngchế à?

Nhưng điều hàihước hơn, và khôngthể không khiến các cô cười sặc-sằng-sặc, là việc Kiên Phùng đang là người zuynhất trầnjan đeo lon sĩquan caocấp của một quânđội thànhlập sau khi anh chết.

Zì sẽ không ngạcnhiên, nếu vài năm nữa lãnhtụ các cô sẽ fong anh Trần Hưng Đạo hàm trungtá, hoặc anh Lý Thường Kiệt hàm đạiúy, của quânđội nhânzân các cô. Các anh ý cũng chết trước khi anh Thốngchế khaisinh quânlực, ychang Kiên Phùng bạcmệnh, đó thôi?

____________________________________________________

Thốngchế Vănfòng

Có con nào còn bàochữa anh Thốngchế vụ anh ý làm tướng nhưng đéo thèm ra trận? Aka Thốngchế Vănfòng?

Thuở tiềnbối xaxăm, lãnhtụ mà đéo vác gươm cỡi ngựa ra trận thì gọi là Quan (vănquan). Còn lãnhtụ ra trận thì gọi là Tướng (võtướng). Điều jảnđơn này mà Zì còn fải jảng cho các cô nữa, thì các cô hàng ngày cắn cứt thay cơm à?

Tào Tháo bạn Zì không fải là một Quan. Anh ý hoàntoàn là một Tướng, thậmchí mãnhtướng. Văncông có nhớ trong bài Luận Anhhùng, Zì kể chuyện anh Tháo cỡi ngựa trắng bước thảnnhiên trong làn đạn không? Anh Điển Vi với anh Hứa Chử fải lonton vác mộc đỡ đạn cho anh ý.

Tần Thủy Hoàng bạn Zì cũng vậy. Là quânvương, nhưng anh ý đồngthời là mãnhtướng. Các cô cóthể kiểm lại Sửký. Ở Lừa, anh Quang Trung hay anh Lê Lợi đều là những anh Tướng thựcthụ.

Đạitướng Eisenhower khi thốnglãnh Mẽo Quân tại WW2 đặt hànhzinh cách bãi fáo Đức Fátxit vỏnvẹn 5Km.

Đạitướng MacArthur khi thốnglãnh liênquân Mẽo & Co tại chiếntranh Korea ngủ luôn trong chiếnhào. Năm nẳm anh ý đã 73 tuổi.

Tướng mà đéo nghe được tiếng súng, đéo ngửi được khói bom, đéo nhìn được các chiếnbinh của mình ngã nhào như chó, máu đổ như sông, khóc ròng như jun zế, thì tướng tướng cái đầu buồi jì?

Có 2 nghề buộc nghệnhân fải trải qua thựcđịa. Đó là nghề Y, vốn là nghề Cứu Người, và nghề Lính, là nghề Giết Người.

Các cô mà mổ cho bịnhnhân trên Gúc, chả baogiờ lâmsàng, thì ai gọi các cô là Bácsĩ? Các cô cóthể là jáosư ykhoa, hay jì đó mặclòng.

Cũng vậy, các cô mà đánh trận trên jường hay trong máy Playstation, thì ai gọi các cô là Tướng?

Việc “Tướng Playstation” nướng cả vạn bộđội trên bãi bom napal Vĩnh Yên, cũng chả có đéo jì lạ, ychang các “Bácsĩ Gúc” mổ nhầm vài chục bịnhnhân remotely thôi mà.

_________________________________________

Nhà anh Thốngchế vs nhà anh Ba Zuẩn

Nhà anh Thốngchế nằm số 30 đường Hoàng Diệu Hanoi, ziệntích khủng gấp 6 lần nhà lãnhtụ Ba Zuẩn số 6 cùng fố.

Đất nhà anh Thốngchế rộng ngang quãng 120m và sâu vôbiên. Có hai cổng sắt bự đốixứng, có bãi cỏ đá banh tắm nắng vôtư, có đường nhựa vòngvèo trong khuônviên xetăng T54 chạy thoảimái. Mấy ngày qua các cô đi viếng chánchê rồi, lạ đéo jì đâu. Zì nhắc cho vui.

Nhà anh Ba Zuẩn chỉ rộng hơn chútxíu nhà anh Văn Tiến Dũng, vốn cũng là côngthự đường Hoàng Diệu, nằm sát vách nhà anh Thốngchế.

Lýzo là anh Ba Zuẩn ra Bắc Kỳ muộn quá, tận cuối 195x, khi nhà ngon nhà đẹp Ông Cụ chia mẹ hết cho côngthần gộc rồi.

Nhà anh Ba Zuẩn không chỉ hẹp về ziệntích, mà còn xấu kinhhoàng về kiếntrúc, bởi đó vốn là nhà của một tưsản thuần Lừa. Còn nhà anh Thốngchế vốn là tưzinh của một anhem quanlại Fáp Lợn, tinhtế và hàohoa.

Building anh Ba Zuẩn nằm sát đường chứ không sâu trong khuônviên câytrái umtùm như building anh Thốngchế. Xâyzựng kiểu thuần Lừa nó fải vậy.

Vì nhẽ đó, suốt mấy chục năm, cửa building anh Ba Zuẩn không baojờ hé, zù chỉ một fút. Không những thế, anh ý còn cho zựng những tấm thép zày 4cm bịt toànbộ cửa fía Hoàng Diệu. Nhà anh ý lúc đéo nào cũng tối mịtmùng, đéo thấy một ánh điện nào hắt ra, người không canđảm sởn mẹ gai bẹn như bước ngang nghĩađịa. Zì cũng.

Bôlão Zì jảng rằng, suốt thời chiếntranh, anh Zuẩn toàn hoạtđộng trong nhà mình, chứ đéo mấy khi sang côngsở bên Nguyễn Cảnh Chân hoặc Bộ Tưlệnh trong thànhnội. Anh sợ jánđiệp ngụyquân hoặc đốithủ tiềmtàng ámsát. Ngày và đêm, anh cứ lòngvòng sau những cửa thép 4cm, đi xuôi rồi đi ngược, tay bóp trán tay vê thuốc, suy mưu lượng kế đập chết ăn thịt bọn Nam Kỳ. Môi anh thâm đen như lồn trâu. Đcm Zì nghe mà hết hồn.

Zì bàn thêm chút về nhàcửa của côngthần Ông Cụ.

Thuở mới về thành 1954, Ông Cụ cho bộđội chiếm hết nhàcửa đấtcát của anhem quanlại Fáp. Sau đó anh côngthần nào thích nhà nào thì cứ zắt vợcon zọn vào, chả jấytờ mẹ jì. Đúng là thiênđàng nhẻ.

Anh Đồng Vều aka Phạm Văn Đồng với anh Chinh Khu aka Trường Chinh, đều là đạicôngthần, vaivế trên hạng anh Thốngchế, nhưng tínhtình cũng điềmđạm đànghoàng, đã chọn những biệtthự khiêmtốn fố Phan Đình Phùng. Nhà anh Đồng Vều bé tẹo bửnbửn. Anh ý bảo chỉ cần thế thôi, vì anh ý hiếm con (nhõn một nhiđồng), còn vện anh bệnh thầnkinh nặng, nhà to mà làm đéo jì.

Anh Tôn Đức Thắng với anh Nguyễn Lương Bằng thì thậmchí chọn biệtthự trong hẻm. Các anh thuộc ziện biếtđiều và nhìnnhận vấnđề nghiêmtúc.

Nhưng anh Thốngchế thì đéo. Anh zứtkhoát fải chọn quả nhà ngon nhất Hanoi thậmchí nhất Vietnam. Khuônviên anh rộng tới nỗi đứng ngoài đường đéo nhìn zõ building fía trong. Nhà anh là nhà côngthần zuynhất có cả đường nhựa nộibộ.

Nhà anh Ba Zuẩn là nhà tịchthu của tưsản mạibản. Anh ý nhận nó khá muộnmàng, nên chả fànnàn đéo jì. Anh ý cũng đéo cần tranh nhà của anh Thốngchế, nhưng anh ý zất ghét cái cách anh Thốngchế chơi ngông.

Nguồn: Dân Luận

Có nhiều điều đáng giá trong quyển “Cuộc chiến của Hà Nội”

In Chính trị (Politics), Lịch Sử, Thế giới, Việt Nam on 2013/04/18 at 22:36

“chiến thắng của Hà Nội không phải vì kiên trì và ngoan cường, không phải vì họ chinh phục được con tim và trí óc người dân miền Nam, không phải do những hy sinh to lớn của quân đội và nhân dân miền Bắc Việt Nam, và cũng không phải vì nội tình chính trị nước Mỹ trói tay và làm suy yếu các nỗ lực của Mỹ, nhất là dưới thời Nixon. Chiến thắng của Hà Nội chính là do sức ép không khoan nhượng và không thể cưỡng lại của khối quốc gia hậu thuộc địa, các quốc gia thế giới thứ ba, và nhiều quốc gia phản chiến cũng mong muốn dạy cho Mỹ một bài học và đã bị dẫn dắt bởi tuyên truyền và ngoại giao khôn ngoan của Hà Nội”

Richard Coffman

Phòng Thủ Tốt Nhất – Văn phòng về chiến tranh Việt Nam

Cuộc chiến của Hà Nội là một cuốn sách quan trọng dựa vào các hồ sơ lưu trữ bí mật của chính phủ và Đảng Cộng sản Việt Nam. Cuốn sách này biên niên về cách Hà Nội lên kế hoạch và tiến hành chiến tranh ở Việt Nam sau khi Pháp thua trận và rút khỏi Đông Dương năm 1954.

Hơn thế nữa, cuốn sách làm nổi rõ các bất đồng nghiêm trọng ở cấp cao nhất tại Hà Nội về ưu tiên, chiến lược, và các nguồn lực bên cạnh những thứ khác đã làm hỏng sự chuẩn bị cho cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân năm 1968 và dẫn đến vụ bắt giữ và thanh trừng. Nếu Washington và Sài Gòn có một bức tranh rõ ràng hơn về điều này lúc đó thì cuộc chiến chắc chắn sẽ được tiến hành khác đi và kết quả cũng có thể là thuận lợi hơn. Có thể công bằng để nói rằng chúng ta chẳng biết nhiều về lãnh đạo của Hà Nội lúc đó như chúng ta biết gì về lãnh đạo Bắc Triều Tiên ngày hôm nay.

Như vậy, cuốn sách này cho thấy chiến dịch ném bom của Mỹ ở Bắc Việt Nam và các cuộc hành quân đường bộ vào các chiến khu, cơ sở cộng sản ở Campuchia và Lào đã gây thiệt hại khá nặng vào nỗ lực chiến tranh của Hà Nội. Nó tiếp tục cho thấy sự thất bại hoàn toàn và chi phí khổng lồ của những cuộc tấn công lớn của Hà Nội trong năm 1968, 1969, và năm 1972 đã buộc miền Bắc phụ thuộc nhiều hơn vào Liên Xô và Trung Quốc và cuối cùng là tham gia vào các cuộc đàm phán để cho lực lượng Mỹ rút quân.

Tác giả, Nguyễn T. Liên-Hằng, là người Hoa Kỳ gốc Việt Nam và là giáo sư tại Đại học Kentucky, được tiếp cận với vô số tài liệu lưu trữ chính thức bằng tiếng Việt, nhiều cá nhân, và bản thảo chưa được công bố. Trong số nhiều người, cô phỏng vấn ông Hoàng Minh Chính, lý thuyết gia cộng sản hàng đầu một thời của Bắc Việt Nam và cũng là nhà bất đồng chính kiến ​​bị thanh trừng. Cô đã truy cập cuốn hồi ký chưa được công bố của người vợ cả Bí thư đảng cộng sản Lê Duẩn, người đã hoạt động công tác ở đồng bằng sông Cửu Long trong nhiều năm

Cô Liên-Hằng không những chỉ khai phá lối đi mới nhưng sắp xếp tổ chức tốt, lập luận rõ ràng, cũng như xử lý trình tự thời gian các văn bản của cuộc chiến tranh Việt Nam và đường hướng của Hà Nội. Độc giả sẽ biết ơn khả năng viết và tổ chức của tác giả trong rừng các tài liệu cơ bản dày đặc này, và nhất là cô ấy đã tuyên bố rõ ràng rằng các tài liệu lưu trữ cô xem xét đã bị tẩy rửa và chắc chắn là không đầy đủ.

Đối với học sinh nghiên cứu về ý thức hệ cộng sản và chiến thuật, Cuộc chiến của Hà Nội mô tả sự thăng tiến đến đỉnh cao quyền lực của nhà lãnh đạo cộng sản Lê Duẩn và người thân tín là ông Lê Đức Thọ, và sự tụt thoái quyền lực ra bên lề của Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Thật vậy, hai anh hùng nổi tiếng thế giới với cuộc cách mạng cộng sản Việt Nam mà ai cũng tưởng rằng có quyền lực vô biên ở Hà Nội lại bị cho ra rìa trong cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân. Ông Giáp thì căm tức, cay cú ở Hungary còn ông Hồ thì ngồi chơi xơi nước tại Bắc Kinh.

Chúng ta được biết thêm rằng mặc dù Lê Duẩn liên tục thất bại cả về chiến lược và chiến thuật trong chiến tranh ở miền Nam, thiệt hại nặng nề nhân lực và phá nát gần như hoàn toàn nền kinh tế miền Bắc, ông vẫn nắm giữ quyền lực nhờ đàn áp dã man và không ngừng. Ngay cả trước khi Hà Nội Hilton nổi tiếng vì giam cầm phi công Mỹ,  nhà tù này chứa hàng chục đối thủ chính trị và bất đồng quan điểm ​​với Lê Duẩn, dù là thực sự hay tưởng tượng. Cuộc thanh trừng triệt hạ các sĩ quan quân đội cấp cao thân cận với Giáp và ngay cả một số người giúp kế hoạch cuộc Tổng tấn công.

Những điều trên và một số điểm khác tiếp theo trong cuốn sách này phải làm giới tình báo phương Tây, các quan sát viên ngoại giao, nhà báo, nhà sử học, các viện nghiên cứu, và phe cánh tả quốc tế nhún nhường, khiêm tốn hơn vì những người này có quá nhiều đánh giá sai lầm về Bắc Việt Nam lúc đó và những nhận định và giải thích sai lầm ấy vẫn tồn tại cho đến ngày nay.

Thật rõ ràng đây không phải là lịch sử xét lại. Phụ đề của cuốn sách tiết lộ cho chúng ta thấy chút đầu mối về thiên hướng của tác giả: “Lịch sử quốc tế về chiến tranh vì hòa bình ở Việt Nam.”

Tác giả vẫn kiên định để mô tả cuộc chiến tranh Việt Nam là “không thể thắng được” đối với Hoa Kỳ. Điều này chắc chắn phải là một tin nóng tới tai các sử gia đương đại nổi tiếng như Lewis Sorley và Mark Moyar, mà gần đây các nghiên cứu của họ dù không có tư liệu gốc về các lủng củng của Hà Nội, đã khẳng định rằng kết cuộc ở Việt Nam chưa hẳn đã phải là như vậy. Thêm vào đó, cô ấy có một ác cảm mãnh liệt đối với Richard Nixon và Henry Kissinger, ngay cả khi mô tả rất tinh tường và chi tiết cách họ cùng lúc ảnh hưởng cả Moscow và Bắc Kinh ép Hà Nội – và chống lại bản năng sâu bén của ông Lê Duẩn – để có được những thỏa thuận tốt nhất hầu tách Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam.

Thật vậy, Lê Duẩn chuộng những cuộc tấn công lớn để khích động cuộc tổng nổi dậy quần chúng ở miền Nam nên ông đã gửi Lê Đức Thọ, cánh tay phải của mình, đến Paris nhằm giữ kín các cuộc đàm phán. Điều này rập khuôn mẫu của Lê Duẩn luôn chỉ định các tướng đáng tin cậy để chỉ huy những người cộng sản miền Nam cứng đầu luôn tin rằng cuộc cách mạng của họ đã bị phản bội bởi Hiệp định Genève năm 1954. Thật là mỉa mai – hay ngoan cố – để xem rằng Lê Đức Thọ đã giành giải Nobel Hòa bình vì thành tích của ông ta ở Paris.

Cuối cùng, cô cho rằng chiến thắng của Hà Nội không phải vì kiên trì và ngoan cường, không phải vì chinh phục con tim và lý trí người dân miền Nam, không phải do những hy sinh to lớn của quân đội và nhân dân miền Bắc Việt Nam, và cũng không phải vì nội tình chính trị nước Mỹ trói tay và làm suy yếu các nỗ lực của Mỹ, nhất là dưới thời Nixon. Chiến thắng của Hà Nội chính là do sức ép không khoan nhượng và không thể cưỡng lại của khối quốc gia hậu thuộc địa, các quốc gia thế giới thứ ba, và nhiều quốc gia phản chiến cũng mong muốn dạy cho Mỹ một bài học và đã bị dẫn dắt bởi tuyên truyền và ngoại giao khôn ngoan của Hà Nội. Đấy có lẽ là di sản lớn nhất của cuộc chiến của Hà Nội và là khuôn mẫu cho những ai đang dự định các chiến dịch cách mạng trong tương lai chống lại quyền lực phương Tây.

Kết luận bay bổng trên chỉ hơi làm giảm đi những gì có thể được xem như là một đóng góp quan trọng và độc đáo cho sự hiểu biết của chúng ta về những gì chúng ta phải đối mặt tại Việt Nam. Sinh viên ngành lịch sử quân sự, chiến tranh Việt Nam, và chủ nghĩa cộng sản cách mạng có nhiều thứ để trông mong từ những tài liệu lưu trữ được khai thác đầy đủ hơn trong những năm tới.

Richard Coffman từng là sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến tại Chu Lai và Đà Nẵng, thời Việt Nam Cộng Hòa năm 1965-1966. Sau đó ông phục vụ ở cơ quan CIA trong 31 năm, chuyên phân tích về các lãnh đạo Bắc Việt từ năm 1967 đến năm 1972.

Nguồn: Foreign Policy (Tạp chí Chính Sách Ngoại Giao)

Bài liên hệ: Đập tan các huyền thoại về Việt Nam