vietsoul21

Archive for the ‘Cộng Đồng’ Category

Nhập nhằng sinh hoạt cộng đồng Việt TB WA

In Cộng Đồng, LittleSaigon - Seattle on 2009/07/14 at 18:20

Chuyện cộng đồng rối rắm đã bao năm nay chưa bao giờ được mở gỡ. Cận đây nhất là một vài sự kiện nhập nhằng cần được đưa ra dưới ánh sáng.

Vi Nhân ♦ 14.07.2009

Buổi họp mặt giữa các “lãnh đạo” cộng đồng Seattle với đại sứ Hoa-kỳ Michael Michalak (18-6-2009)

 

Tình cờ chúng tôi biết tin có một buổi họp mặt kín giữa đại sứ Hoa-kỳ ở Việt Nam ông Michalak và một số người Mỹ gốc Việt được mời tại nhà hàng Tea Palace lúc 2:30 đến 4:00, thứ năm ngày 18 tháng 6 năm 2009. Theo thông tin cho biết trước thì Tuần báo Người Việt Tây Bắc được yêu cầu đứng ra tổ chức buổi họp nói trên để đ/s gặp mặt các “lãnh đạo cộng đồng” để tìm hiểu về người Mỹ gốc Việt trong vùng. Họ dự trù có khoảng 30 người tham dự.

Gần 2 tuần trước, vào ngày thứ Bảy 6 tháng 6, ông đ/s đã tham dự buổi hội luận về Nhân Quyền Ngày Nay do đài truyền hình SBTN tổ chức tại quận Cam, miền Nam Cali. Cuộc hội luận này có sự tham dự rất nhiều chính giới và mở rộng cho công chúng. Ngỡ rằng buổi họp giữa ông đ/s và cộng đồng người Việt Seattle/Washington cũng nằm trong khuôn khổ trên. Thế nhưng thông tin về tổ chức và nội dung tinh thần buổi họp nhập nhằng chồng chéo của riêng và chung. Một thắc mắc đầu tiên là “ai (hội đoàn hay cá nhân) là người đứng ra tổ chức buổi họp mặt này?” Tiếp là câu hỏi “những ai được mời đến tham dự buổi họp mặt này?” và “Đây là một buổi họp mở rộng cho công chúng hay một cuộc gặp gỡ riêng lẻ?”

Theo thông tin thì tinh thần và nội dung buổi họp mang tính chất cộng đồng vì đ/s sẽ gặp mặt các “lãnh đạo cộng đồng” để tìm hiểu về người Mỹ gốc Việt tại Seattle và vùng lân cận. Có lẽ rằng các vị “lãnh đạo cộng đồng” này sẽ đến tham dự buổi họp mặt với tư cách đại diện cho người Mỹ gốc Việt. Những vị này sẽ nêu lên các vấn đề gì của cộng đồng? Thế nhưng buổi họp mặt này được tuyên bố là buổi họp riêng tư.

Viện lẽ đây là buổi họp riêng nên không có thông báo/phổ biến rộng rãi cho công chúng và không giải trình cho hội viên và đồng hương về chi tiết cũng như kết quả buổi họp. Thiết nghĩ nếu một nhân vật đại diện cho tổ chức và hội đoàn nào đó dù có đi họp riêng nhưng về một vấn đề chung thì cũng cần phải tường trình cho hội viên và công chúng về sinh hoạt nói lên được điều gì, làm được cái chi và ích lợi thế nào để từ đó được đạt được sự tin tưởng cũng như chứng tỏ sự minh bạch trong việc làm.

Hình chụp ĐS Michael Michalak và một số khuôn mặt được “chọn lựa” để tham dự cuộc họp mặt kín tại nhà hàng Tea Palace

Hình chụp ĐS Michael Michalak và một số khuôn mặt được “chọn lựa” để tham dự cuộc họp mặt kín tại nhà hàng Tea Palace–lãnh thổ của thương gia Trần Đức, người làm ăn với CSVN từ nhiều năm.

Được biết hai phóng viên báo Người Việt Ngày Nay (NVNN) và Bia Miệng, người thì được đuổi khéo là “you’re not invited” còn người thì bị/được điểm mặt “mời” ra khỏi phòng họp. Họ không được phép biết chi tiết để thông tin trên diễn đàn đại chúng.

Các nhân vật tham dự quả là “đặc biệt” đủ mọi thành phần tuổi tác từ già tới trẻ; từ bắc chí nam; mọi giới từ bác sĩ, luật sư, chủ chợ/nợ, tới dân biểu; từ chống cộng tới chống phá. Theo hình ảnh và tường trình thì có những cá nhân sau: Người Việt Tây Bắc (Phạm Kim, Julie Phạm hay Phạm Hoài Hương–con gái Phạm Kim, Don Phạm–con trai Phạm Kim), Nghiêm Hoà, Trần Đức, Nguyễn Xuân Dũng, Nguyễn Trọng Nghị, Nguyễn văn Thảo, Phan Rang, Hứa Yến Lến, Lê Vũ (SBTN), Dân biểu Trần Thái Văn (California), Vũ Quốc Thùy, Trí Võ, Huỳnh Thi (Hội luật sư đoàn VABWA), Ty Hồ (Hội luật sư đoàn VABWA), Quang Nguyễn (Phòng Thương Mại TBWA), Thu-Vân Nguyễn, Trần Tươi, Phan Thúy Hằng, Aaron Trần, v.v… (sẽ bổ túc danh sách thêm sau). Thế là không thiếu một ai, ngoại trừ sót mất một tên dân đen.

Theo báo NVNN thì báo NVTB tổ chức để treo bằng khen/vinh danh cho một số cá nhân, tổ chức nào đó. Chúng ta không biết ai làm được gì đáng khen, đáng thưởng và nhân danh ai để khen, để thưởng. Hoá ra ngoài tiền bạc và chức vị, khá người cũng muốn được các bằng khen từ giới tai to mặt lớn (hay là hình ảnh dựa dẫm) làm tín chỉ chứng thực và đánh bóng hồ sơ cá nhân. Nhưng theo một số người khác thì họ lại nghĩ có thể đây là buổi tiệc gây quỹ cho d/b Trần Thái Văn, hoặc giả là móc nối chào hàng với ông đ/s (sắp mãn nhiệm kỳ) Michalak để liên kết làm ăn buôn bán với doanh gia, tư bản t/b Washington và Việt Nam.

Xin quý vị giải thích, giải bày, giải mã, giải trừ cái nhập nhằng tư/công này.

Video liên hệ:

Video Sinh Hoạt Cộng Đồng

Các bài liên hệ:

Bài kế tiếp: Thị trưởng Seattle đã tiếp xúc với những ai trong Cộng Đồng người Việt [Nhập nhằng sinh hoạt cộng đồng Việt TB WA (2)]

Đã đăng Talawas: Những cái nhập nhằng không tên (Chuyện cộng đồng rối rắm sau ba mươi năm)

Tham khảo: Chỉnh trang đô thị–một dạng phân biệt chủng tộc mới.

Bài mới: Thư cho chủ bút báo International Examiner: “Phản hồi bài của Quang Nguyễn ngày 8/8/2009″

Thư ngỏ Anh ngữ cho giới trẻ (A letter to the second-generation Vietnamese Americans): “Critical Reflection with Vietnamese Young Readers”

Chỉnh trang đô thị, một dạng phân biệt chủng tộc mới

In Cộng Đồng, Thế giới on 2009/07/12 at 09:28

BBT Bài tiểu luận của ông Joe Debro được dịch dưới đây là một bài mô tả rất chính xác về vấn đề chỉnh trang đô thị tại thành phố San Francisco, tiểu bang California, Hoa-kỳ. Hiện tượng này xảy ra ở rất nhiều đô thị, không ngoại trừ thành phố Seattle, TB Washington. Thị trưởng Seattle, ông Greg Nickels, có tiếng về việc đẩy mạnh chỉnh trang đô thị, tạo điều kiện dễ dàng (phê chuẩn, giảm thuế) cho các nhà thầu xây cất trục lợi.


Đây là một chính sách gây tác hại xua đuổi người nghèo và ảnh hưởng đến người thuộc các sắc tộc thiểu số ra khỏi nơi họ sinh sống và làm ăn buôn bán. Đề án xây cất Dearborn/Goodwill gần khu Tiểu Sài Gòn (Little Saigon) được đề xướng bởi tập đoàn Ravenhurst và được ủng hộ mạnh mẽ của văn phòng Thị Trưởng từ năm 2006. Đề án này đe dọa phá hoại cảnh quang, tắc nghẽn đường phố, tăng giá mặt bằng nơi thương nhân Việt Nam thuê mướn. Nhóm Hoạt Động Dân Chủ Xã Hội vùng Tây Bắc Hoa-kỳ đã đấu tranh chống lại dự án vào giai đoạn cuối từ năm 2007 đến nay. Kết quả thiết thực là nhà thầu đành hủy bỏ đề án vào tháng 5 vừa qua.


Gentrification ... Just say No

Joe Debro – Ngày 9/7/2009

Từ Fillmore, Hayes Valley and Western Addition ở thành phố San Francisco, người Mỹ da đen và nhiều người trong các xóm nghèo khác đã bị xua đẩy đi. Sự xua đẩy này là một hình thức phân ly và kỳ thị chủng tộc mới. Trong xã hội học thì tên gọi định nghĩa cho sự xua đẩy này đã và vẫn là chỉnh trang đô thị (gentrification).

Cư dân San Francisco, thật ra là toàn dân California, sẽ chống đối phân ly và kỳ thị dưới bất cứ hình thức nào. Vì thế phân ly và kỳ thị phải hoạt động tầm ngầm thì mới thành công. Trong lịch sử cận đại, những thoả ước hạn chế cư sinh (homeowner covenant) đã được áp dụng để kỳ thị. Cử tri đã loại trừ thói lệ đó một khi chúng bị phơi bày ra ánh sáng.

Chỉnh trang đô thị—một dạng phân ly mới—rất hiệu quả vì người ta không hay/biết về hiện trạng bệnh lý của nó. Hệ thống truyền thông không hề loan tin mô tả loại dạng thực thi này. Truyền thông chính thống thì âm mưu toa rập che đậy không để cho những cử tri nào không thiên vị biết.

Dưới nhiệm kỳ hiện tại của thị trưởng San Francisco, chỉnh trang khu phố đang được tăng tốc. Địa hình cư dân đang dần thay đổi. Chỉ còn sót lại 2 khu Hunters Point và Visitacion để có thể khai triển đồ sộ. Dời đẩy cư dân nghèo đang trở thành/theo kỹ nghệ cấp cao. Tiến trình dời đẩy càng ngày càng rối rắm, phức tạp.

Chung cư công cộng thì đang bị tấn công. Bất hạnh nhất là khu chung cư công cộng thường nằm ở vị trí vùng địa ốc hạng ưu. Sở Nhà Đất (Housing Authority), Cơ Quan Tái Phát Triển (Redevelopment Agency) và Văn Phòng Phát Triển Cộng Đồng của Thị Trưởng là những tay chủ chốt trong quá trình Chỉnh Trang Đô Thị này. Họ xử dụng các khoảng tài khoản không phải đưa ra phê chuẩn để thuần hoá/trung hoà (co-opting) công tác nhẽ ra dùng để phát huy kỹ năng lãnh đạo tạo những đổi thay thực sự..

Vào thập niên 70, khi chỉnh trang đô thị được khởi xướng ở SF, Cơ Quan Tái Phát Triển dưới quyền một người Mỹ trắng, ông Justin Herman. Justin mướn vài người Mỹ đen có học để làm bình phong giữa ông ta và cộng đồng. Những người Mỹ đen này được mang danh hiệu giám đốc của khu vực. Họ là những người đã hứa hão với cộng đồng. Họ cũng thực sự tin rằng những người chủ nhà bị dời đẩy trong lúc xây cất sẽ được phép trở lại khu vực.

Cơ quan Tái Phát Triển này cho phép các giao kèo xây cất giả hiệu vờ diễn sự tham gia của cộng đồng. Cả văn phòng thị trưởng lẫn các cơ quan khác thì không ai tài trợ cho các tổ chức dựa gốc cộng đồng (CBOs, community-based organizations). Các công đoàn về xây cất thì chẳng cần giả bộ trong việc nhận người da đen hoặc người da trắng không “tay chân” với họ. Chuyện gọi là “phát triển nhân lực” thì chẳng có gì để kỳ vọng.

Nhà thầu người da đen và da màu là phương tiện còn sót lại cung cấp công ăn việc làm trong cộng đồng. Sảnh đường mướn người công đoàn của họ đã lộ rõ cách thức phân biệt.

Trò chơi nay đã thay đổi. Những kẻ điều hành thành phố càng ngày càng tinh vi. Các công đoàn lao động chuyên nghệ đang tìm đủ mọi kiểu để loại bỏ những kẻ thất nghiệp muốn kiếm thẻ công đoàn để đi làm.

Khi công trình xây cất bùng phát, sảnh đường mướn người công đoàn của họ đã mời gọi các công nhân không-công-đoàn (non-union workers) từ các nơi khác đến làm thay vì huấn nghệ cho người thất nghiệp ở địa phương. Nhân công ùn vào từ những tiểu bang có luật “right-to-work” [i] . Họ đã được cấp thẻ lưu động cho phép có công việc làm trong khi thanh niên trẻ ở địa phương thì bị loại ra khỏi lực lượng lao động, ngồi nhậu nhẹt hút sách nhìn người khác làm việc. Dẫu cách thức mướn người đó đang chậm dần trong hiện tại nhưng thanh niên địa phưong vẫn không có việc.

Các công đoàn ngành xây dựng như điện, nước, thép, kỹ sư và các chuyên nghệ khác thì “bán vịt trời” cho các giới chính quyền một chương trình trì hoãn việc làm. Thêm vào đó họ đã và đang đùa tiếu lâm một chuyện với tên gọi là thoả ước lao động công trình. Những ai khác nếu có khả năng và thực sự muốn giúp người thất nghiệp thì hỗ trợ chương trình tiền tập sự (pre-apprenticeship).

Cái giá mà các công đoàn lao động trả cho các chính trị gia là lời hứa tái cử. Hiện thời, nếu muốn có thẻ làm nghề điện từ công đoàn số 6 thì phải qua một khoảng thời gian dài hơn so với một người đạt được bằng bác sĩ ngoại khoa ở trường đại học California hay San Francisco. Thẻ công đoàn có được nhiều lợi hơn. Không phải trả nợ tiền mượn đi học. Lương khởi đầu là 85 đô la Mỹ một giờ. Nếu làm giờ phụ trội hoặc đóng vai trò lãnh đạo thì một người thợ điện có thể kiếm tới 200.000 đô la Mỹ một năm.

Những chương trình như thế là các cách thức mới để thuần hóa/trung hoà những ai cổ động cho các thay đổi thật dựa vào nền tảng cộng đồng. Các chương trình này lại đem hy vọng đến người vô vọng nữa. Thành phố thì quyết định ai được hỗ trợ và ai không thèm đếm xĩa tới. Thành phố chỉ hậu thuẫn những chương trình mang tính phô trương nhất..

Những chương trình nào mà trao quyền tự trị cho cộng đồng thì bị bỏ rơi cho chết đói. Những chương trình phát triển lực lượng lao động bị đẩy ra lề. Chỉ vài chương trình lẻ tẻ đem lại đồng lương đủ sống. Đa số các chương trình thì gieo hy vọng và hứa hẹn.

Thanh thiếu niên bỏ học sớm không có kỹ năng hay học vấn là người phạm pháp nhiều nhất ở SF cũng như tại các thành phố đô thị khác. Thay vì chỉ bảo cho họ các kỹ năng, chúng ta nên chuẩn bị để họ biết cách tập biết để học các kỹ năng. Các em thanh niên vô hình chung nhúng tay vào tội phạm và trở thành nguồn cung cấp phế thải cho một guồng máy tội phạm bất công khi không có kỹ năng và học vấn.

Cột bình luận này trong vòng vài tuần tới sẽ dùng để nêu danh và dẫn chứng cụ thể về các ví dụ hối lộ thối nát liên quan đến việc xua đẩy người nghèo ra khỏi đô thị. Vì đây là một vấn đề toàn tiểu bang, tôi dự định sẽ đem vấn đề này đến vài chính khách miền Nam California. Hạ nghị viên Maxine Waters và Thượng nghị sĩ Rod Wright là hai người tôi đang nghĩ đến.

Ông Joe Debro là người đồng sáng lập Liên Hiệp Nhà Thầu Thiểu Số Toàn Quốc, và vừa là một kỹ sư công trường và sinh hóa học. Mọi người có thể liên lạc với ông ta tại địa chỉ điện thư Transbayd@aol.com.
Đọc tiếp »

Hồn ma và xương khô

In Cộng Đồng on 2009/06/08 at 05:22

Ghi chú:  Bài viết này đã được gởi đến cuộc hội thoại trên mạng toàn cầu mà tạp chí Da Màu đã kêu gọi. Như một số quý vị vẫn còn nhớ, cuộc triển lãm “F.O.B. II: Art Speaks / F.O.B. II: Nghệ Thuật Lên Tiếng” của Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (VAALA) đã gây ra các tranh cãi cộng với nhiều cuộc biểu tình nên đành đóng cửa sớm trước cuối tuần ngày 17 tháng giêng năm 2009 tại thành phố Santa Ana (quận Cam, tiểu bang California). Sau đó vào ngày 30/1/2009 thì tạp chí Da Màu đã chính thức công bố mở cuộc hội thoại trên mạng. Vì thế, chúng tôi đã tham gia bằng bài viết dưới đây qua lăng kính của chủng tộc, giai cấp, đặc ân, sự ngăn cách giữa các thế hệ, đàn áp, và ký ức kỷ niệm.

Đọc tiếp »

The ghosts in the room & skeletons in the closet

In Cộng Đồng on 2009/06/08 at 05:20

Note: This essay was written as a response to a call for dialogue from Da Màu (Colored Skin)–an online Vietnamese Literature Magazine. As some of you might recall, the Multi-Art Show “F.O.B. II: Art Speaks / F.O.B. II: Nghệ Thuật Lên Tiếng” organized by the Vietnamese American Arts & Letters Association (VAALA) became too controversial with many public protests to remain open for the weekend of January 17, 2009 in Santa Ana (Orange County, California). Da Màu Magazine then invited people participate in a writing dialogue on January 30, 2009. So we engaged via the below essay from the lens on race, class, privilege, generational gap, oppression, and memory.

the dead haunt the living…

Michel de Certeau

There are many comments about the protestors. But it’s rather cavalier to conclude that “… angry protesters unwilling and incapable of dialogue” because that assumption is completely missing the point. The protesters do not care about arts. The protestors do not seek dialogue with VALAA. Their aim and motivation are purely political as has been in many protests in the past and would be in the future. Generally speaking, each dialogue has a purpose and invited participants. In this case, it turned out that the would-be participants didn’t agree with the agenda or format, so came the boycott and protest. For the protester’s purpose, the dialogue between Vietnamese Americans do not further any changes in Vietnam, nor address the wound of the past, or create any progress in the transnational political field. If there is any dialogue it should then come directly from the in-power who needs to willingly disavow their power and come to the table.

The protesters want the in-power to acknowledge the ghosts in the room and skeletons in the closet. [The ghosts in the room are dictatorship and oppression. The skeletons are crimes committed before, during, and after the war: from political assassination to mass civilian killing, from land reform executions to re-education camps]. Only then there would be productive results and things could move forward. Any other ways are merely promoted illusions of dialogue and reconciliation.

One often evokes the silent majority to be on their side. In the context of the Vietnamese American community, what silent majority one refers to? Who are they? The middle-class, the upper-class, the educated elites, the technocrats, the acculturated, or rather, assimilated. Most (almost all) of my friends belong to that group, including me. But definitely we’re not such a majority. There are “others”, invisible, marginalized, and not counted. They would never amount to a majority since they are invisible, no matter how many they are. The “so-called” silent majority chose not speak up and purportedly felt intolerable for being silenced by a vocal minority. But, it’s not so “intolerable” as one so thought. That intolerable is the bourgeois histrionic malaise. That silence is so tolerable as much as a comfort of a lie — an assuagement of self-deceit — in order to be safe in the middle of the herd, letting others on the margin vulnerable.

Such silence is not only tolerable but also justifiable. There is nothing to gain but much to lose so silence is the best prescription for the “so-called” majority. There is also an advantage for being in this “so-called” silent majority in order to judge the protests as “reactive”, “illogical”, “un-democratic”, and “uncivilized”, as well as the protesters fanatics and extremists. Being considered as losers and spoilers, the protesters are presumptuously viewed as the hindrance to a “normalized” situation, an unwelcome third party in a dialogue between the (self-)anointed. These protesters are not regarded as engaging participants, and at most, merely spectators. So then comes a view of a silent majority who supposedly support peaceful dialogue and participate in the discussion. Together with a mix of naivete and ignorance this “so-called” majority forgets the invisible majority who neither has the means to participate nor the language to speak. Who sets the agenda, who frames the question? Who decides what and how to participate? Who speaks? Why would the protesters have to be “peaceful” and “orderly” in their objection? The “progressive” intellectuals who were sitting-in, demonstrating, burning flags, blocking roads, defacing public properties once touted their acts as “civil disobedience”, but ironically now labeled the recent Vietnamese American protests as “fanatic” and “barbaric”!?

There are ghosts (the invisible ominous presence) which possessed objects, symbols, space, and place. The red flag with yellow star and statue of Ho Chi Minh are such symbols/objects. Their presence evokes the invisible manifestation of ghostly horror of deaths and sufferings. More than the swastika which represents the Nazi party, a forgone regime no longer exists, the red flag with yellow star represents the continuing suffering, humiliation, and oppression, then, now, and ongoing. Regardless how those symbols and objects morphed or disguised into educational tools, communicative art or commercial items, they remain possessed. The protesters screamed out to the ghosts at which others turn a blind eye and ignore. Such disregard is often achieved by forgetting, by excluding, and by craftily framing. In contrast, the protesters want to dig out the skeletons in the closet, hidden and buried for many years without acknowledgment.

Very often people curse the hungry ghosts who possessed an area and demanded payment. Metaphorically and materially. In Vietnam, they are the local gangsters, often supplanted by local police, traffic police, and special police. People give bribes so the hungry ghosts don’t raise hell. People avoid them at all cost in order to keep on living but ultimately one wants to rid them permanently. There is an aura of ominous and imminent danger in their ghostly presence that evokes fear and abhorrence in the living regardless of how well the hungry ghosts are dressed and sophistically presented. The evil spirits in disguise as “reform” and “progress” have offered pacts to global hungry bidders. Who could take advantage but the privileges’, many are self-claimed “liberal progressive”. One could be very progressive in the mainstream framework but exploitative and internalized neo-colonialist in the faraway third world countries—those political identities are not mutually exclusive. Many have unwittingly (or rather strategically) abetted in making blood pacts, facilitating the red capital mixed with new found capital abroad in order to wash out the blood stains. Old money, new money. Old elites, new elites. Blood are also mixed to create an elixir for eternal power and privileges. One doesn’t have to look far to see. The daughter of current PM Nguyen Tan Dung married the son of an ex-RVN deputy minister. America, the land of opportunity no longer offers quick rich whereas the ancestral homeland bestows a much fertile ground for wealthy repatriates to exploit. They hid under the façade of heart-tugging call to rebuild Vietnam.

The privileged Vietnamese Americans have power of language, media, access, security, and capital accumulation on their side for expressing their thoughts and feelings, even if only in the confine of an ethnic enclave. Moreover, they set the agenda, frame the discussion, speaking on other behalf while the wounded just react based on their feelings in deep-seated experiences. Even in this “open” forum in the public space, I still doubt that any of the invisibles (even if not surreal or imagined) have a voice. Who speaks then?

Vi Nhân

http://damau.org/archives/3949

Vietnamese Translated Version: Hồn ma và xương khô

Đề án xây cất 300 triệu tại Goodwill đã bị hủy bỏ

In Cộng Đồng, LittleSaigon - Seattle on 2009/05/12 at 14:12

Lời bàn:

Đây là một tin vui lớn xin được chia xẻ đến tất cả đồng hương, nhất là các quý vị đã thực hiện quyền công dân của mình, can đảm không sợ hù dọa, theo dõi cập nhật tin tức xác đáng, và tự động hợp lực tham gia góp chữ ký của mình từ tháng 5/2008 cho đến nay để chống đối dự án siêu thị khổng lồ Dearborn tại khu Goodwill.

Tin đề án hủy bỏ này đã xảy ra lập tức sau một số cuộc gặp gỡ quan trọng trong ba ngày từ đầu tuần từ ngày 21 đến 23-4-2009, giữa thành viên Nhóm Hoạt Động Xã Hội Dân Chủ vùng Tây Bắc Hoa-Kỳ cùng một vài cá nhân năng nỗ của cộng đồng VN với các vị nghị viên thành phố. Đây là một số cuộc nói chuyện quan trọng mà chúng ta đã xúc tiến cùng họp lực ủng hộ nhóm CARD–Community Alliance for Responsible Development –để tiếp xúc với đa số các nghị viên thành phố Seattle.

Sự kiện quan trọng đã tạo được áp lực chính trị để chuẩn bị cho các cuộc gặp gỡ với các nghị viên này là buổi hội thoại mà Báo Bia Miệng tổ chức vào ngày 4-4-2009 từ 1 đến 5 giờ chiều tại thư viện Columbia. Cuộc hội thoại tự phát vì nhiều người trong đám đông thầm lặng chúng ta đã bất bình chuyện các hội đoàn mang danh quốc gia nhưng thật ra đã đồng lõa và tự mãn nhiều tháng ngày, thêm nữa chúng ta cũng không chấp nhận việc làm tiếm danh của Phòng Thương Mại. Đây cũng là một cuộc hội thoại dân chủ lần đầu tiên với sự tham gia tích cực của các nhà hoạt động xã hội Hoa Kỳ và thuộc cộng đồng thiểu số bạn cũng như thành phần sinh viên. Cả hai sự kiện này cho chúng ta thấy sức mạnh cộng đồng, sự thật chính nghĩa và lẽ phải đã thắng.

Một trong những điều chính được đề cập trong các cuộc tiếp xúc này là chuyện Quang Nguyễn/Phòng Thương Mại và các phe phái cũng như cố vấn của họ đã tiếm danh cộng đồng Việt Nam ở Seattle. Hơn thế nữa, như bài báo đã viết dưới đây, ông Darrell Vange của tập đoàn xây cất Ravenhurst cũng nhận ra các áp lực chính trị từ đám đông thầm lặng của chúng ta và nhóm CARD để “dự đoán là sẽ có một cuộc đấu ‘khó khăn và tranh chấp’ để được nhượng quyền bán thí đường phố.” Không những ông Vange mà cả Quang Nguyễn /Phòng Thương Mại và các cá nhân, nhóm, tổ chức, hội đoàn sau lưng đã thất bại nặng nề trong việc làm không minh bạch của họ.

Quang Nguyễn, Trang Từ (tư vấn cho Thành Phố và cố vấn cho Quang Nguyễn), cùng nhân viên cơ quan Sage đã vận động hành lang gặp gỡ hai nghị viên thành phố vào ngày 29-5-2008. Mục đích cuộc gặp gỡ là để thuyết phục nghị viên phê chuẩn và chi một phần tiền của tổng số tiền bán thí đường phố trên 10 triệu cho “cộng đồng” VN ở Seattle. Họ đã tự động quyết định, không tham khảo mà cũng không cần biết cộng đồng VN thật sự muốn gì, và đã đánh bóng Little Saigòn thành một món hàng để thương lượng. Do đó, họ lấy cớ cộng đồng người Việt cần một “nhà văn hóa” khi xin tiền này. Họ có thể đã nghĩ là sẽ thành công do bắt chước công thức mà Thảo Trần và Trang Từ đã thực hiện với đề án xe điện ở khu Martin Luther King trong quá khứ!

Vào ngày 20-9-2008, ông Tăng Phước Trọng đã cùng Phạm Huy Sảnh, Lê Thiện Ngọ lập ra một ủy ban với tên gọi là “Hội Bảo vệ Little Saigon” tại thư viện Columbia để cùng làm việc với Quang Nguyễn. Hai ngày sau đó, vào sáng 22-9-2008 ông Trọng đã xử dụng danh nghĩa hội tư của mình dưới tên gọi CĐNVQG/TBWA của mình ra thề trong buổi điều trần tại tòa thị sảnh thành phố là ủng hộ Phòng Thương Mại. Ông thề không chống đề án Dearborn của tập đoàn xây cất. Một tuần sau đó, vào ngày 30 tháng 9, 2008, ông Trọng đã được “dự phần” chè chén với ba nghị viên thành phố vì đã chuyển hướng đứng về phía Phòng Thương Mại tự tiếm danh cộng đồng tại buổi điều trần. Ông đã hân hoan đến dự tiệc khoản đãi cho bà nghị viên Jean Godden, ông Tim BurgessBruce Harrell tại nhà hàng Saigon Bistro.

Điều ngồ ngộ là bà nghị viên Jan Drago và ông Tim Burgess–hai người nghị viên còn lại trong tổng số chín–đã lần lữa và cho tới nay vẫn chưa cho hẹn tiếp xúc. Họ đã thối thoác cuộc tiếp xúc với cộng đồng VN và nhóm CARD trong thời gian vừa qua. Tưởng cũng nên nhắc lại bà nghị viên Jan Drago là thành viên cố vấn cho hội “hữu nghị” Greater Seattle VN Association của Michael Sơn Phạm . Cộng đồng người Việt Seattle cũng không còn xa lạ gì mấy nữa về Michael Sơn Phạm, một thành viên trong Hội đồng quản trị của Phòng Thương Mại, và là đầu mối trung gian giữa Seattle và VN trong (1) vấn đề giao thương với CSVN qua công ty tư vấn riêng là US-Asia Gateway ; và (2) các đề án “từ thiện”, “nhân đạo” như Kids Without Borders, Humanitours , v.v…

Xin lưu ý về đoạn cuối cùng của bài viết tường thuật do phóng viên Emily Heffter thuộc tờ báo Seattle Times này. Khi họ đề cập đến “một nhóm chống đối khác” là một dẫn nhập bóng gió về cơ quan Sage liên hệ đến nghiệp đoàn lao động và Phòng Thương Mại người Mỹ gốc Việt tiểu bang Washington (WaVA) của Quang Nguyễn. Họ đã qua mặt tiểu thương sinh hoạt trong khu Little Saigon, tiếm danh cộng đồng Việt Seattle, và coi thường nhiều cộng đồng hội đoàn chung quanh khu vực. Điều tệ nữa là họ đã thông đồng với báo chí—Hoa Kỳ, Á và cả Việt Nam—để cố tình đưa tin thất thiệt là mọi chuyện đã xong, nghị viên đã chấp thuận, và không gì thay đổi được. Dù đã thất bại trong mưu lợi riêng, họ vẫn không biết hổ thẹn tiếp tục tự vỗ ngực xưng danh là đã cố thực hiện “một khuôn mẫu sáng tạo để đảm bảo phát triển có trách nhiệm với những người đại diện cộng đồng.” “Trách nhiệm hay tiếm danh cộng đồng?” là câu hỏi cần đặt ra để tất cả đồng hương tự tìm câu trả lời và các hành động thỏa đáng sắp tới.

Đọc tiếp »

Những cái nhập nhằng không tên

In Cộng Đồng, Chính trị (Politics), LittleSaigon - Seattle, talawas, Việt Nam on 2009/05/10 at 05:03

Vi Nhân

(bài đăng ngày 10/5/2009 trên diễn đàn Talawas, http://www.talawas.org/?p=4258)

BBT: Đây là một bài viết tập hợp các suy nghĩ trăn trở về cộng đồng Việt hải ngoại. Bài viết này chúng tôi–anh em Nhóm Hoạt Động Dân Chủ Xã Hội vùng Tây Bắc–trao đổi đàm đạo với nhau sau khi đã hợp lực tranh đấu giúp Little Saigon Seattle không bị xóa tên trên bản đồ thành phố trong vòng ba năm từ 2007-2009. Xin xem thêm một số chi tiết dữ liệu quan trọng về công cuộc đấu tranh ngăn cản dự án xây dựng trung tâm siêu thương mại (Dearborn Mall) tại khu phố International District trong khu downtown Seattle tại https://vietsoul21.net/vi%E1%BB%87t-nam/

Chúng ta kinh hoàng nhận thấy rằng–kể từ khi người anh em của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa xã hội bị chính thức khai tử–thì chủ nghĩa tư bản bắt đầu hoành hành vô độ do chứng vĩ cuồng thúc đẩy nên lập diễn những lầm lạc của người anh em tưởng đã tuyệt giống ấy. 

(Günter Grass – Diễn từ Nobel Văn chương 1999)

Capitalism-Socialism_Günter Grass_E_1

Kể từ ngày quốc nạn 30 tháng 4 đến nay là đã hơn ba mươi năm. Lớp người chạy trốn CS bỏ nước ra đi đợt đầu tiên (1975) và làn sóng vượt biên, vượt biển đợt hai (1979-1980s) cho đến nay thì đã già/non suýt soát một thế hệ. Gần nhất nữa là đợt tỵ nạn nhân đạo của các nhóm HO, con lai, cũng như đoàn tụ gia đình vào thập niên 90 cho đến hiện tại. Hơn 30 năm đủ để thế hệ con cháu của những người ra đi đầu tiên và đợt vượt biên trưởng thành và bắt đầu sự nghiệp.

Các em thuộc thế hệ thứ nhì nay bắt đầu hội nhập vào cuộc sống. Việc con em người Việt tỵ nạn hoà đồng sinh hoạt rộng hơn trong các hội sinh viên Việt Nam và tổ chức thiện nguyện tùy thuộc vào hai nguyên nhân chính: (1) không tham gia nếu bị cô lập do không quen thuộc với ngôn ngữ mẹ đẻ và đã quen lối sống riêng trong dòng chính trọng cá nhân chủ nghĩa và mãi băn khoăn đi tìm cái tôi; hoặc (2) có tham gia vì đã từng sinh sống ở môi trường đa sắc dân hay do cơ hội đưa đẩy trong lúc cảm thấy trống vắng.

Trong môi trường đại học, một đội ngũ giới hàn lâm thiên tả với nhãn quan da trắng sinh sôi lớn mạnh và tiếp tục sứ mệnh lên lớp bài học lịch sử lệch lạc về cuộc chiến Việt Nam. Ngoài đời thường, hàng ngày, hàng giờ các em học hỏi giao tiếp và đi cùng nhịp với mạch điệu thiên vị chính thống đầy thiên lệch. Dĩ nhiên, khi cách thức sinh hoạt này trở thành cơm bữa thì việc cư xử đi ngược với văn hóa và cách sinh hoạt của cộng đồng người Việt tỵ nạn là chuyện tất nhiên. Kết quả là từ đó mầm mặc cảm tự ti vô thức gieo trồng lần lần vào đầu óc các em. Đến khi bị đồng hóa và tiếp thu tiềm ẩn phân biệt chủng tộc mà cũng không biết. Cụ thể nhất là cái vô thức đen tối thăm thẳm này đã ảnh hưởng đến cách ứng xử và hành động khi liên hệ với cộng đồng và Việt Nam.

Các em dấn thân làm việc cho các tổ chức, cơ quan phục vụ xã hội bất vụ lợi (non-profit) vì mang ước vọng phục vụ xã hội nhất là đóng góp cho “cộng đồng”. Oái ăm thay, các tổ chức này vì cần ngân quỹ để hoạt động và để bảo tồn sự sống còn của riêng mình nên họ làm việc cầm chừng và phục vụ quyền lợi riêng (self-interest) nhưng luôn nghĩ vị trí “ban ơn” của mình to tác. Họ nhất định không đi xa hơn giới hạn của công việc và từ khước các phản kháng chống lại áp bức bất công. Hậu quả là các cơ quan này, dù biết hay không, trở thành một công cụ trong một guồng máy tiếp tục duy trì hệ thống cấu trúc không công bằng nằm sẵn trong các chính sách công cộng và phúc lợi xã hội (public and welfare policies). Mọi hoạt động của các tổ chức này không khác gì hơn là dán băng tạm vào vết thương sâu. Tuy nhiên họ không (muốn) tìm hiểu vì sao và ai gây ra các vết thương sâu hay tấy đau đó. Đây là cái nhập nhằng thứ nhất: cơ quan bất vụ lợi và duy trì cơ cấu bất công.

Đi xa hơn nữa là công tác từ thiện và gây quỹ giúp đồng bào khốn khổ Việt Nam không chỉ với lớp trẻ thế hệ thứ hai. Bao nhiêu câu ca dao tục ngữ của truyền thống nhân hậu “máu đổ ruột mềm”, “lá lành đùm lá rách” đã ăn sâu vào tâm khảm người Việt. Thêm vào đó là việc làm công quả, làm phước mong được hưởng ân phước kiếp sau, hoặc hứa hẹn thiên đàng ở nước trời. Vừa có tiếng thơm, lại vừa có phước thì ai lại chẳng muốn làm! Nhưng đặc biệt hơn, không ít người đứng ra lập hội từ thiện cốt để dựng lên cột tín chỉ đạo đức, và tạo gạch nối cho những công việc liên quan đến nghề nghiệp riêng tư. Một hình thức mua tín chỉ cho người có khả năng tài chánh mộng làm “trùm”. Dường như lại có khá nhiều người trong đám đông bị ám ảnh từ nhu cầu cần cả hai tín chỉ, một là học vị và hai là đạo đức, để hãnh tiến. Đó là cái nhập nhằng thứ hai: tổ chức từ thiện và tín chỉ đạo đức.

Người ta dễ dàng núp sau tấm khiên “từ thiện” và chiếc áo giáp “văn hóa” để không dính dáng gì cả về mặt “chính trị” và giúp cho họ được an toàn địa vị. Nhưng nói thế mà không phải vậy. Những việc làm từ thiện và văn hoá luôn chứa đựng một hàm ý chính trị thực tiễn. Chúng ta có thể không tham gia chính trị “đảng phái” nhưng tất cả mọi hành vi–dù ít dù nhiều và thậm chí ngay cả nếu “bình chân như vại”–của mình cũng đều mang tính chính trị liên hệ đến quyền công dân và xã hội dân sự. Đó là quyền và trách nhiệm của một công dân trong một nước và là con người sống trên trái đất.

Yêu đất nước không đồng nghĩa với yêu chính quyền hoặc mến mộ chính sách của nước đó. Yêu nước là phải biết phản kháng lại khi chứng kiến khổ đau ngày càng tích tụ không đếm kể do các chính sách bất công, chính sách độc tài, chính sách nước lớn, chính sách kỳ thị — dù ở nội địa hay đối với nước ngoài. Yêu nước là năng nổ xốc vác để tranh thủ và cổ súy cho phong trào tự do, dân chủ, dân quyền, nhân quyền cho mọi người. Yêu nước là không mù quáng theo tiếng gọi cảm tính mang màu sắc phe phái, cục bộ, địa phương, dân tộc hẹp hòi. Đây là cái nhập nhằng thứ ba: “phi chính trị” và yêu tổ quốc chung chung (lung tung).

Thử đọc một bài báo của Tuổi Trẻ Online tại Việt Nam tường thuật về buổi trại hè với một nhóm thanh niên Việt hải ngoại được gọi là “trại sinh” tham dự chương trình “Hành trình di sản quê hương”:

Cũng tại buổi chia tay, Bí thư thường trực Trung ương Đoàn Lâm Phương Thanh khẳng định: “Công tác thanh niên ở nước ngoài là một trong những nội dung được Trung ương Đoàn đặc biệt quan tâm. Trung ương Đoàn sẽ tiếp tục phối hợp với các đơn vị, Đài truyền hình Việt Nam thực hiện các chương trình dành cho bạn trẻ Việt Nam ở nước ngoài…”. Chia sẻ thêm với các bạn trẻ kiều bào có mặt hôm nay, Bí thư Thành đoàn TP.HCM Tất Thành Cang gửi gắm thông điệp: “Quê hương Việt Nam chúng ta rất đỗi yêu thương, dung dị, nghĩa tình và sẵn sàng đón nhận các bạn trở về đất mẹ”.

“Suốt hành trình 15 ngày dọc chiều dài đất nước, các trại sinh đã được tham quan những danh lam thắng cảnh của quê hương. Hơn thế nữa, các bạn còn bày tỏ niềm xúc động khi được tham gia các hoạt động truyền thống như hành hương về đất tổ Vua Hùng, viếng nghĩa trang Trường Sơn, giao lưu “Những đóa hoa bất tử” về 10 cô gái đã hi sinh trên tuyến lửa tại ngã ba Đồng Lộc. Nhưng có lẽ nhiều bạn cũng sẽ in sâu dấu ấn về tinh thần anh dũng, mưu trí của người dân đất thép Củ Chi khi tham quan đền Bến Dược, chui địa đạo Củ Chi…”

Chỉ qua hai đoạn trên thì ta cũng thấy rõ hoạt động chính trị vận, kiều bào vận, sinh viên vận luôn sát kèm vào tất cả sinh hoạt để họ có thể lấp liếm vàng thau lẫn lộn: đem những cái của đảng và “chính trị bộ” ráp gắn với văn hóa và truyền thống dân tộc. Di sản quê hương bị tiếm đoạt làm món hàng đánh bóng cho truyền thống “đánh giặc cứu nước” của “đảng ta”. Những kẻ chóp bu ấy luôn chỉ đạo các nhóm cấp dưới làm nhiệm vụ tuyên truyền vẽ vời không ngừng một đất mẹ huyền thoại bên kia bờ đại dương với chiêu bài “xây dựng đất nước” để dụ dỗ kích thích các em bằng các hình ảnh đói khổ nghèo nàn do hậu quả chiến tranh. Lời mời chào “yêu tổ quốc và yêu quê hương” lẫn lộn với yêu xã hội chủ nghĩa, yêu chính quyền và chính sách cai trị của đảng Cộng Sản Việt Nam hiện hành. Một nhập nhằng yêu nước của kẻ bịp bợm.

Sau ba mươi năm một thế hệ người Việt hải ngoại đã thành đạt trong khoa cử, thương mại, và chính trường. Vì tâm thức “tước hữu ngũ, sĩ cư kỳ liệt – dân hữu tứ, sĩ vi chi tiên” [1] tạo nhu cầu tiến thân vượt trội, nên “cờ mũ cân đai” gây ảnh hưởng hay đạt vị thế xã hội cũng tăng dần. Nhu cầu này đi song song với một đòi hỏi bất khả thi trong khá nhiều đổi chác. Cái giá phải trả cho các đổi chác này là sự “im lặng”. Im lặng dù biết mình đồng lõa với bất công, che mắt với dối trá, làm ngơ với áp bức bóc lột. Sự đổi chác này không chỉ qua các thoả ước bằng lời mà còn từ những “luật chơi” ngầm được tự động thi hành. Các luật chơi này hoàn toàn có tính cách “tự hiểu” do đã ăn sâu trong suy nghĩ và không cần bị mua chuộc, áp lực hay bắt buộc. Do đó các luật chơi này được tuân thủ răm rắp. Những người “thức thời” luôn là kẻ cặp kè với người quyền thế, để được bao chống, nâng đỡ, vừa có ô che lại được bệ đỡ không sợ mưa nắng, không sợ té ngã. Đây không phải chỉ là những người hay cơ sở sợ “bể nồi cơm”. Đây còn là giới trí thức “thức thời” luôn nhìn xuống đám dân đen, người lao động, người phục vụ như là công cụ để lèo lái, để ban phát ân huệ và tự cảm là người tốt bụng rộng rãi.

“Há miệng mắc quai” và “Ngậm miệng ăn tiền”, hai câu tục ngữ tuy hai là một. Há miệng để ăn nên không ngậm miệng thì cũng đành ú ớ. Chúng ta đã thấy lắm “chuyện dài cộng đồng tỵ nạn” nhan nhãn ở địa phương mình và thở dài thất vọng. “Phân” [2] xanh “phân” tươi, vừa thấy là tranh giành chụp giựt. Thực ra cũng không đáng phải quá thất vọng khi thấy hiện tượng này xảy ra trong một xã hội xô bồ. Nhưng nó xảy ra như cơm bữa thành ra có người phải lên tiếng là “cái cộng đồng mình nó là như thế đấy!” Và kẻ “thức thời” hăm hở vin vào mà thốt lên rằng, “thế thời thời phải thế!”. Phải chăng đám đông thầm lặng đều thức thời, theo mô hình cho một cộng đồng “gương mẫu” (model minority) là chăm chỉ hạt bột, tuân thủ, tòng phục, cúi mặt làm ngơ? Đó là cái nhập nhằng thứ tư: sự “thức thời” của giới trí thức và đám đông thầm lặng.

Những năm gần đây ta thấy có một làn sóng ngầm của người di dân từ Việt Nam sang hải ngoại, từ du học sinh đến tạm thời ngắn hạn hoặc ở dài hạn với giao kèo việc làm, đến lao động xuất khẩu trá hình dưới các hình thức khác nhau. Đã thấy các cơ sở thương mại dần dần đổi chủ sang tên không liên hệ gì đến cộng đồng người Việt tỵ nạn.

Bắt đầu đã có người đứng đầu hay mang nhiệm vụ liên hệ cho hội “đồng hương” không còn là người Việt tỵ nạn. Rõ hơn hết trong đợt “di dân” này là số du học sinh các trường đại học cộng đồng và hậu đại học. Nhờ làn sóng này không ít người Việt hải ngoại được thăng quan tiến chức do nhu cầu phục vụ hay xử dụng du học sinh. Và cũng không thiếu người đã thấy được thành phần này sẽ trở thành nguồn lợi nhuận lớn từ khâu A đến khâu Z cho đến khi họ đạt được mảnh bằng “con” (và có thể kéo dài nếu họ quyết định không về nước).

Ngoài việc trở thành nguồn lao động nghiên cứu rẻ cho các học giả “hàn lâm” (để thâu thập tin tức dữ kiện từ các chốn sinh hoạt cộng đồng Việt hải ngoại như chùa chiền nhà thờ), du học sinh còn trở thành món hàng công khai bán chạy. Vì họ có nhiều chất xám (chẳng hạn sinh ngữ và kiến thức) hơn diện lao động ở chui hay bán thân. Món hàng hấp dẫn mới nhất này được rao mời, và đưa vào một mạng lưới dây chuyền lao động trong nhà hàng ăn tiền mặt, qua nơi thuê trọ. Dịch vụ cũng có thể bao gồm cả hệ thống hút sách tiêu pha đàn đúm nếu là con cán bộ giàu có. Đàn đúm không chỉ trong vòng nội bộ du học sinh. Họ đang dần dần bành trướng trong phương sách “sinh viên vận” để tạo sinh hoạt thân thiện gần gũi trong khi xâm nhập vào các hội sinh viên người Việt hải ngoại thuộc thế hệ thứ hai.[3].

Trong khi đó, thị trường Hoa-kỳ không còn hấp dẫn cho đầu tư. Chất xám thì không được trưng dụng hay mua rẻ mạt. Lý do là kỳ thị chủng tộc vẫn còn nằm sâu gốc rễ trong xã hội. Số lượng tư bản và trí tuệ Việt hải ngoại do đó chuyển hướng quay đầu trở về quê cha đất tổ. Họ xăng xái đầu tư, “xây dựng” đất nước. Họ viện cớ không mắc cở câu “đất nước mình đã thay đổi nhiều”. Có thay đổi chăng chỉ là cái bộ mã tự do thương mại để đầu sỏ đảng bộ tự tung, tự tác lạm quyền đổi chác, bán đổ, bắt tay với kẻ cơ hội làm giàu riêng. Cái bình phong quái thai “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” do thiểu số chóp bu Đảng Cộng Sản Việt Nam dựng lên để che đậy lấp liếm cho chính sách độc tài, bán nước, hại dân, tiêu tan đạo đức, phá hủy môi trường, vét sạch tài nguyên.

Thế nhưng đau đớn thay vẫn có hết loạt này đến loạt khác về Việt Nam không những cố quên lịch sử mà còn nhắm mắt trước những đàn áp bất công trước mắt. Họ lao vào vầng hào quang cá nhân thành “người đương thời” để ăn trên, ngồi trốc. Họ cứ sống chết mặc bay và tiếp tay với quan quyền bản xứ như kẻ thực dân mới. Nếu người “đương thời” có được đưa lên tận mây xanh qua truyền thông báo chí mà lại bị vừa đập vừa xoa trước mặt khán thính giả để chửi khéo và làm nhục rằng “anh đã mất gốc” thì cũng vẫn làm. [4]

Tư bản xanh chạy vào, tư bản đỏ chạy ra. Tiền máu, tiền mồ hôi lẫn lộn ai nào biết được! Bóc lột thực dân mới, bóc lột giai cấp với đảng trị được vận chuyển xoay vần trên danh nghĩa thị trường mở cửa. Một môi trường cho người bóc lột người trong hổ lốn của chế độ đảng quyền, tư bản rừng rú, và tri thức vô tâm. Lần là, những liên hệ tình cảm, đối tác thương mại, và hoạt động trong mạng lưới tổ chức phi-chính-phủ (NGO hay Non-Government Organizations) tạo ra các ràng buộc khiến các cá nhân hay nhóm này (dù vô thức hay có ý thức) xuôi lòng thoả hiệp—dưới danh nghĩa hoà giải—với chính sách độc tài, hại dân, bán nước.

Mới đây, vào ngày 14 tháng 10 năm 2008 tổ chức từ thiện phi-chính-phủ PeaceTrees Vietnam đã khoản đãi Đại Sứ CS Lê Công Phụng tại Câu Lạc Bộ Thể Thao Washington (Washington Athletic Club hay WAC) thuộc thành phố Seattle. Bốn tổ chức bảo trợ chính cho buổi khoản đãi này là tập đoàn luật gia DuBois Law Firm, hãng máy bay Boeing, công ty đầu tư Russell Investments, và WAC. Tổ chức phi-chính-phủ nhưng lại có các hoạt động hoàn toàn không phi chính trị, phi vụ lợi. Một cuộc giao hữu thuần túy hay để đánh bóng phô trương bề ngoài cho chính quyền CS, và cò mồi cho các đối tác thương mại (tư vấn luật pháp, máy bay, và đầu tư) gặp nhau? Tiền máu cũng dễ dàng tẩy rửa và trao tay để sạch và mới như toanh.

Hai tuần sau đó, Bà Jerilyn Brusseau, đồng sáng lập viên và chủ tịch tổ chức PeaceTrees Vietnam, lại được trân trọng mời làm diễn giả chính trong buổi dạ tiệc hàng năm của Hội Luật Gia Người Mỹ Gốc Việt TB Washington (VABAW) tổ chức ngày 28 tháng 10 năm 2008.[5] Đây là cái nhập nhằng đa tầng trong/ngoài, tư/công rối rắm: phát triển và xây dựng hay là bóc lột thực dân mới và bóc lột giai cấp đảng trị?.

Những nhập nhằng không tên với biên giới mỏng manh giữa cái thiện và cái ác nên dễ lầm lẫn hoặc lấp liếm. Cái ác bao giờ cũng được tô điểm mỹ miều và bọc đường ngọt ngào; con quỷ đỏ luôn mặc áo choàng lấp lánh chói lòa. Sau khi chiêm nghiệm về những nhập nhằng đã điểm mặt nêu tên, thiển nghĩ rằng chúng ta sẽ phân biệt được thực được hư để khỏi vướng vào thoả hiệp với cái ác mà hành động theo tình người và lẽ phải.

© 2010 Vietsoul:21

CHÚ THÍCH:

[1] “Trong năm chức tước làm quan thì kẻ Sĩ là oanh liệt, trong bốn nghề nghiệp thì kẻ Sĩ cũng là trên hết.” Trích thơ “Kẻ sĩ” và “Tiến sĩ giấy” của Nguyễn Công Trứ (1778-1858).

[2] “Fund” là nguồn ngân quỹ–công hoặc tư–xuất ra để trợ cấp cho các hoạt động an sinh xã hội, văn hoá, nghệ thuật, v.v…

[3] Mới đây nhất là sự kiện mừng xuân Kỷ Sửu 2009 tại hội Tết in Seattle (mà BS Kiet Ly hay Lý Anh Kiệt là giám đốc điều hành) tại Seattle Center. Thành phần du học sinh Việt Nam từ trường Seattle Central Community College và một số trường cộng đồng khác đã tham gia đề án “Tuổi trẻ và Ước mơ” do bà Judith Henchy, nhân viên thư viện của Trung Tâm Đông Nam Á tại trường đại học UW, cùng phối hợp với nhân viên Seattle Public Library phụ trách. Vì “nhầm lẫn” nên cờ đỏ CSVN đã chễm chệ đính lên trên bản đồ nước Việt treo trong phòng triễn lãm. Chỉ đến khi các vị HO đến xem chợ Tết thấy và phản đối thì cờ này mới được gỡ xuống.

Một vài sự kiện khác không kém quan trọng về hiện tượng du học sinh trà trộn vào hội sinh viên người Việt hải ngoại thuộc thế hệ thứ hai:

(1) tại khuôn viên trường đại học UW này, du học sinh Việt Nam khắp Seattle thường hội tụ họp hành để tham gia tích cực vào đề án Kids Without Borders;

(2) năm nay hội sinh viên UW (VSAUW) thuộc thế hệ thứ hai người Việt hải ngoại cũng đã nối tiếp bước đường “thành công” qua cuộc thi hoa hậu “Miss Vietnam Washington” tại hội Tết in Seattle. Họ đã gây quỹ cho một bệnh xá “lưu động” Việt Nam và đang muốn đạt chỉ tiêu 20.000 USD. Họ sẽ cử sinh viên trong hội về cùng với cơ quan thiện nguyện trung gian Wellness Global Foundation (www.wellnessglobalfoundation.org) của một bà “Việt Kiều Yêu Nước” và “công dân danh dự” của VN nhiều năm bị chống đối ở Bỉ. Hai thành viên hội đồng quản trị ở Hoa Kỳ giúp đỡ là bà con của bà ở tiểu bang Colorado, và ông BS Giáo sư Y Khoa của đại học UW, Khu Tiêu Hóa tại nhà thương VA Puget Sound, Seattle. Hội sinh viên UW đã gây quỹ hai kỳ:

(2a) ngày 28-2-2009 tại nhà hàng Tea Palace được 10.000 USD; và

(2b) cuộc thi Hoa Khôi Liên Trường ngày 18-4-2009 tại trường UW. Trong khi đó, không biết lý do gì mà các tin tức điện thư nhờ chuyển gởi cho các thành viên của hội sinh viên UW để các em có cơ hội am tường về các vấn nạn thiết kế đô thị tại Little Saigon Seattle đã bị ngăn cản, bưng bít gần một năm nay. Các sinh viên UW đã vướng vào các hoạt động nhập nhằng này.

[4] Henry (Hoang) Nguyen hay Nguyễn Bảo Hoàng–con trai út của Nguyễn Bang, một cựu phụ tá thứ trưởng chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, đã được Tạ Bích Loan–¬người điều khiển chương trình–cho ăn “củ chuối” vào phần mở đầu của cuộc phỏng vấn trong chương trình “Người đương thời” trên đài VTV1 phát hình ngày 07-05-2006 tại VN.

(Trích: http://topviet.blogspot.com/2008/11/daugher-of-srv-prime-minister-nguyen.html hay tại YouTube: http://www.youtube.com/watch?v=6OEfwNIC-6I&feature=related )

Trái chuối là một ẩn dụ ám chỉ người Mỹ gốc Á châu bên ngoài thì vẫn da vàng nhưng trong ruột thì trắng tượng trưng việc chọn lối sống suy nghĩ coi trọng văn hóa người Anglo Saxon. Đây là những người, vì đã bị hay muốn được đồng hóa, không gìn giữ văn hóa của các thế hệ đầu tiên của họ mang theo khi mới di dân đến Mỹ.

Tuy nhiên, chương trình “Người đương thời” này vẫn mệnh đề cho Nguyễn Bảo Hoàng là “Ẩn số đến từ Harvard”, và là “thế hệ Việt kiều thứ 2 về đóng góp, làm giàu cho quê hương.” Trong khi đa số tất cả các đóng góp ý kiến sau khi xem chương trình TV đông nhất người biết đến này đều cho anh Henry (Hoang) Nguyen là thần tượng, một quý khán thính giả với bút danh “Con Quốc Quốc” đã phát biểu như sau:

“Ẩn số đến từ Harvard Nguyễn Bảo Hoàng có lẽ là một trong những đáp số chính xác nhất cho nghị quyết 36 về người VN ở nước ngoài của ban BTTƯ đảng CSVN.”

(Trích: http://nguoiduongthoi.com.vn/Desktop.aspx/NhanVatNDT/Nhan_vat/An_so_den_tu_Harvard/)

[5] VABAW’s Fourth Annual Banquet (http://vabaw.com/annualbanquet.aspx) was held on October 28, 2008 at the Triple Door. The theme for the evening was “Ambassadors to Our Communities.” (Xin tạm dịch: Đêm dạ tiệc lần thứ tư của Hội Luật Sư Người Mỹ Gốc Việt tiểu bang Washington đã được tổ chức vào ngày 28 tháng 10, 2008 tại nhà hàng Triple Door. Chủ đề của đêm ấy là “Những sứ giả của cộng đồng chúng ta.”)

Bản tiếng Anh: The Unspoken Ambiguities

 

Capitalism-Socialism_Günter Grass

Mời xem thêm các bài viết sau đây:

Phần 1: Chuyến viếng thăm riêng của Đại sứ Hoa Kỳ Michalak [Nhập nhằng sinh hoạt cộng đồng Việt TB WA]

Phần 2: Thị trưởng Seattle tiếp xúc với những ai trong Cộng Đồng người Việt [Nhập nhằng sinh hoạt cộng đồng Việt TB WA (2)]

Tham khảo: Chỉnh trang đô thị–một dạng phân biệt chủng tộc mới.

Bài viết mới trong tháng 9/2009:

Bài phản biện (The Rebuttal in Vietnamese): “Thư gởi chủ bút báo International Examiner vì bài viết không trung thực của Quang Nguyễn (Phòng Thương Mại)”

Bài phản biện Anh ngữ (The Rebuttal) vì bài viết không trung thực của Quang Nguyễn (Phòng Thương Mại): “Letter to the International Examiner Editor in Chief regarding Quang Nguyen’s article”

Thư ngỏ Anh ngữ cho giới trẻ (A letter to the second-generation Vietnamese Americans): “Critical Reflection with Vietnamese Young Readers re: an International Examiner article by Quang Nguyen (Vietnamese Chamber of Commerce)”

Các bài liên hệ khác đã đăng trên talawas:

Chứng quên tập thể

Bịt miệng nạn nhân

Chúng tôi (Tự trào – Trí Thức – Tâm Tài)

Tôi là người Việt Nam

Thời cửu vạn, ôsinThe Age of Day Laborer and Housemaid

Lết tới “thiên đường”

Phản bội hay trung thành với lý tưởng?

Các bài trên Tạp chí Da Màu:

Tháng Tư Câm

Hồn ma và xương khô

Dialogue: “Where Strengths & Truths of Little Saigon Seattle Come From?”

In Cộng Đồng, LittleSaigon - Seattle on 2009/05/07 at 16:16

Letter to Supporters of April 4, 2009 Dialogue: “Where Strengths and Truths of Little Saigon Seattle Come From?”

April 4th, 2009 Dialogue - Little Saigon Seattle

April 4th, 2009 Dialogue - Little Saigon Seattle


Tue, 05 May 2009


To:


Panelists of April 4, 2009 Dialogue: “Where Strengths and Truths of Little Saigon Seattle Come From?”


Vietnamese Americans of Seattle and vicinities


Supporters of Northwest Neighborhood Activists for Democracy & Social Justice


Hi all,


First of all, on behalf of the Little Saigon activists, we deeply appreciate your continuous support and action. As promised, here are the latest info about Little Saigon Seattle in the International District.


The huge-scaled and out-of-charactered Dearborn Mall Project (at Goodwill site) were CANCELLED officially last Friday, April 24th, 2009, resulting after the three-day intense discussions with many City Council members from April 21st to 23rd. Below is the Seattle Times article.


These discussions with City Council were initiated by the Neighborhood Activist for Democracy & Social Justice – Northwest Region together with CARD – Community Alliance for Responsible Development [right after the April 4th grassroots dialogue conducted with the Vietnamese community at Columbia Library, and its news & video have been posted on You-Tube and many internet links].


To be exact, our discussions with the City Council were about:


(1) our firm commitment to preserve the cultural characteristics and political identity of Little Saigon;


(2) our concerns of the lack of civic participation of Vietnamese merchants and the majority during the planning process; and


(3) our critical feedback on urban development issues which were related to Sage and WaVA (Vietnamese Chamber of Commerce) non-transparent conducts.


This project failure proved the community strength–when we collectively believe in unity and integrity AND not allowing any paralysis due to indifference, ignorance and fear.


Again, thank you very much for your effort!


Best,


quynh-tram & hieu nguyen


Note:


(1) As mentioned in previous correspondences, the mantra that “this project was a done deal” was the attempt to mislead the intelligent mass! Also, the news (in Vietnamese) and some You-Tube videos regarding the April 4 grassroots dialogue have been posted at the below–among so many Internet links:


http://seattlels.blogspot.com/


http://www.vietnamexodus.org/vne0508/modules.php?name=News&file=article&sid=2432


ALL the video segments of the April 4 Dialogue are at the below link:


http://www.youtube.com/results?search_type=&search_query=Bia+Miệng,+Little+Saigon+Seattle&aq=f


(2) In the last paragraph of the below Seattle Times article, “another group of opponents” was addressed without mentioning names. As you already knew, the two well-known groups who secretively signed the deal with the developers are Sage and WaVA. Although their attempt to mislead/misrepresent the community without consent was failed, the two groups still insisted that they created “a groundbreaking model for making development accountable to community stakeholders”! What kind of “accountability” would you think in this case?

$300M project at Seattle Goodwill site canceled


By Emily Heffter – Seattle Times staff reporter

http://seattletimes.nwsource.com/html/localnews/2009116421_webgoodwill24.html”