vietsoul21

Archive for the ‘Chính trị (Politics)’ Category

Tưởng Năng Tiến – Nhìn Bẩy Tưởng Ba

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Thế giới, Việt Nam on 2011/12/23 at 19:36

Đến Bắc Hàn, du khách đều bàng hoàng vì cảnh tượng “nhìn bẩy tưởng ba.” Con nít ở xứ sở này, tuy đã 7 tuổi nhưng phần lớn trông cứ nhỏ tí như những đứa bé vừa mới … vừa lên ba!

Nhân loại, nói chung, ở đâu cũng vậy. Khi gặp phải nạn đói thì trẻ thơ bao giờ cũng là những nạn nhân đầu tiên. Tuy nhiên, đói tới cỡ “nhìn bẩy tưởng ba” thì trong lịch sử loài người (có lẽ) là một kinh nghiệm hoàn toàn mới, chỉ mới có ở Bắc Hàn, vào thời đại… văn minh đến độ tột cùng của chúng ta!

Đến Bắc Hàn, du khách đều bàng hoàng vì cảnh tượng “nhìn bẩy tưởng ba.” Con nít ở xứ sở này, tuy đã 7 tuổi nhưng phần lớn trông cứ nhỏ tí như những đứa bé vừa mới … vừa lên ba!

Nhân loại, nói chung, ở đâu cũng vậy. Khi gặp phải nạn đói thì trẻ thơ bao giờ cũng là những nạn nhân đầu tiên. Tuy nhiên, đói tới cỡ “nhìn bẩy tưởng ba” thì trong lịch sử loài người (có lẽ) là một kinh nghiệm hoàn toàn mới, chỉ mới có ở Bắc Hàn, vào thời đại… văn minh đến độ tột cùng của chúng ta!

Trẻ con Bắc Hàn. Nguồn ảnh: VOA

Đây là hậu quả của sự đói góp, trải dài qua đôi ba thế hệ liên tiếp, mới tạo ra hậu quả thảm thương (nhìn bẩy tưởng ba)như thế. Bất cứ ai, còn có chút từ tâm – chắc chắn – đều phải cảm thấy bất an (và hổ thẹn) vì một phần nhân loại phải chịu đói khát đến như vậy mà mình hoàn toàn dửng dưng, hay đành bất lực!

Tuy ở mức độ ít trầm trọng hơn nhưng nạn suy dinh dưỡng trầm trọng cũng đang xẩy ra tại Việt Nam mà nạn nhân đầu tiên, hiển nhiên,  cũng là những đứa bé thơ – ở rải rác nhiều nơi –  trên xứ sở này. Sau một chuyến đi thăm những trẻ em ở vùng cao, bà Phạm Thái Hà(Tổng Giám đốc Hệ thống lập trình viên Quốc tế Bachkhoa-Aptech) đã nói với phóng viên báo Giáo Dục Việt Nam rằng: “Nhìn cảnh một học sinh chẳng khác nào những đứa trẻ lớp 1 ở vùng quê nhưng hỏi ra mới biết em đã 11 – 12 tuổi mà lòng tôi quặn thắt.”

Nước mình nghèo nhưng có đến mức này không?

Người đặt câu hỏi thượng dẫn là tiến sĩ Trần Đăng Tuấn. Ông cũng là người tìm ra câu trả lời – không bằng thống kê, hay công trình nghiên cứu gì ráo trọi – qua một chuyến đi, vào hôm 23  tháng 9 vừa năm 2011vừa qua:

“Sáng nay, lần đầu tiên lên Suối Giàng (Yên Bái), xe lên đến trung tâm xã Suối Giàng, thế nào lại đỗ ngay trước cửa trường học. Mấy trăm đứa trẻ con đang tập thể dục. Ngay cạnh đó là mấy dãy nhà nội trú. Không hiểu sao, cứ nhìn thấy trẻ con miền núi là mình mê…

“ Cậu chủ  quán trước cửa trường, có vợ là giáo viên, cho biết: Trường tiểu học có 80 đứa nội trú. Phải có từ 100 đứa nội trú trở lên mới có chế độ hỗ trợ của nhà nước. Khu nội trú này dân nuôi hoàn toàn. Cha mẹ góp 2kg gạo/tuần, 5.000 đồng tiền thức ăn/tuần.”

Tuổi thơ trong lòng cách mạng. Ảnh: blog Trần Đăng Tuấn

“ Bọn mình không tin, cứ  lục vấn mãi: Sao lại 5.000đ thì chúng nó ăn uống kiểu gì?. Cậu ta cứ khăng khăng đúng thế, đúng thế. Vừa lúc có một bác H.Mông xách xô nước đi ngang, cậu chủ quán bảo: Đấy, ông này nấu cơm cho chúng nó đó.” 

“Thế là bọn mình đi theo luôn. Trèo tắt qua mấy dãy nhà trên đồi, đi thẳng vào cổng Ủy ban Xã Suối Giàng, rồi vòng ra sau nhà Ủy ban, thì có cái lều tường che gỗ ván, giữa có cái bếp đang đỏ lửa, ngoài cửa có cái chậu tắm lớn đầy những cái bát to bẩn chưa rửa. Trong bếp ngoài nồi cơm đang nấu, một nồi nữa chắc để nấu canh, còn thì chẳng có đồ đạc gì cả.” 

– 80 đứa chỉ ăn cái nồi cơm này đủ à?

 Bác H Mông: Nồi to lắm đấy, 13 – 14 cân gạo mới đầy đấy. 

– Thế ăn cơm với cái gì?

Bác H Mông: Với canh rau…  

Bây giờ mới nhìn ra chỗ tối tối, có mấy bó rau cải bé tẹo, mà lại đã úa vàng một nửa. Không hiểu canh nấu với gì, vì mắm muối giấu ở đâu, chứ không có trong bếp. 

 – Sao ít rau thế ? 

Bác H Mông: Ừ, không đủ đâu, phải mua thêm nữa đấy. 

– Thế có thịt cá ăn bao giờ không ?

 Bác H Mông: Không có đâu, bao giờ bố mẹ đóng thêm tiền thì mua cho ăn một bữa có thịt. 

Một nồi cơm (hy vọng là đủ) và một nồi canh rau cải (gồm xô nước vừa được xách lên, mấy bó rau, chắc ít muối, mắm, dầu mỡ cho vào nữa- nhưng quả thật bọn mình không thấy chúng được cất chỗ nào, chắc không có trong bếp vì sợ chó mèo hay ăn trộm chăng?) – Đó là bữa ăn trưa cho 80 mầm non của đất nước vào ngày 22 tháng 9 năm 2011, tức là khi đất nước đã bước vào thập kỷ thứ hai của thế kỷ 21, là sau một năm tưng bừng kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, là năm đầu của nhiệm kỳ Đại Hội 11…

“ Bọn mình nói: Trưa nay bác mua thịt cho chúng nó ăn được không? Bạn mình đưa ít tiền. Mình đưa thêm nữa. Sống thì chắc được thôi, nhưng mình nghĩ học khó vào lắm. Hồi đi học, lúc nào mình cũng muốn ăn, dù bố mẹ nuôi nấng đầy đủ hơn bọn trẻ con hàng xóm nhiều. Khi đi bắt đầu đi học đại học ở Thanh xuân, cả ngày thấy đói. Ăn tập thể, xong bữa, rửa bát cầm về, dọc đường từ nhà ăn đến phòng ở đã thấy thèm ăn nữa. Ngồi trên lớp ,lúc nào cũng nghĩ đến ăn…

Cái đói của thế hệ Trần Đăng Tuấn ai cũng có thể chỉ ra được nguyên nhân là vì đất nước đang ở vào thời chiến. Còn cái đói của người Việt hôm nay thì nguyên do, ngó bộ, hơi khó hiểu hơn. Mà nạn nhân cũng không nhất thiết chỉ là những trẻ thơ ở miền núi, theo như phản hồi của ông Nguyễn Khiêm Ý, bên dưới bài viết thượng dẫn:

“Tỉnh Quảng Nam cũng còn nghèo, nghèo lắm bạn ơi. Tuy không đến nỗi 5k một tuần nhưng những vùng miền núi vẫn có lắm lắm học sinh phải chịu cảnh ‘bụng đói đến lớp’. Nói chi xa, ngay cả trong các giáo viên ở TP Đà Nẵng vẫn có cảnh 3 người một quả trứng gà cơ.”

Trong lúc tiến sĩ Trần Đăng Tuấn ghé thăm Suối Giàng, ca sĩ Thái Thùy Linh cũng thực hiện một chuyến đi (khó quên) khác đến Nậm Mười:

“… chuyến đi đó đã thay đổi đáng kể cuộc sống của tôi.Những con số tôi biết được sau chuyến đi ngắn ngủi đã ám ảnh tôi từng giờ sau khi về Hà Nội. Tôi không phải là người dễ bày tỏ sự mềm yếu cho người khác biết. Nhưng sự thật là ngay đêm đầu tiên về nhà và nằm ôm con gái, tôi đã khóc. Nghẹn lòng khi nghĩ tới thằng cu Mấy hai tuổi rưỡi ở Nậm Mười, còn chưa bằng tuổi con gái tôi, ngày qua ngày ăn cơm độn sắn và một mình đi bộ 03 km đến trường. ..Tôi đã quay trở lại Nậm Mười sau chưa đầy hai tuần. Không phải với tư cách một người nổi tiếng.”

“Cùng với bốn người em, người bạn là dân nhiếp ảnh, chúng tôi đã có 03 ngày làm việc quần quật theo đúng nghĩa, lấy số liệu, chụp ảnh, ghi hình một cách chân thực nhất thực trạng cuộc sống, sự ĂN và HỌC của các em học sinh bán trú ở Nậm Mười, từ mầm non, tiểu học đến THCS, làm tư liệu chuẩn bị cho một chiến dịch vận động lâu dài mà tôi sẽ trình bày trong ít ngày tới đây.”

“Nhưng, ngay lúc này, có một sự thật, có một việc cần có phương án giải quyết ngay: 100% học sinh dân tộc tại xã Nậm Mười đang thiếu áo rét…

Các bạn mến,

Chỉ chưa đầy hai tuần nữa thôi, Nậm Mười sẽ rét. Và 561 học sinh nơi đây đang cần những áo ấm, những quần dài, những tất, những khăn, những mũ, những thứ đồ cũ trong tủ mà mỗi mùa đông các bạn chưa kịp ‘giải tán’, hoặc không mặc nữa nhưng vì thấy còn lành lặn nên chưa nỡ vứt đi.”

3 hay 7 ? Ảnh: Đỗ Doãn Hoàng

Người Việt đói rách cùng quẫn đến thế mà theo nhà văn Ngô Minh thì “chúng ta đang xẻ thịt tổ quốc của mình để sống”:

 “ 20 năm qua có rất nhiều ‘phong trào’ bán tài nguyên để ‘làm ngân sách’ xảy ra rầm rộ. Như khai thác gỗ rừng để xuất khẩu ồ ạt. Quốc doanh khai thác xuất khẩu, ‘hợp tác xã’ khác thác xuất khẩu, tư nhân núp bóng nhà nước khai thác, xuất khẩu…Gỗ cứ kìn kìn từ rừng miền Trung, rừng Tây Nguyên đổ về  các cảng biển. Các đầu nậu gỗ, những người cấp phép khai thác gỗ, cấp quota xuất khẩu gỗ giàu lên  từng ngày một. Đến khi ‘ngộ ra’, ban hành lệnh cấm, thì rừng đã bị ‘bán ăn’ gần hết. Thế là lại phải ‘làm dự án’ trồng 5 triệu hec-ta rừng gần chục năm nay vẫn không thành .”

Nguồn ảnh: ngominhblog

Nguồn ảnh: ngominhblog

“ Hết rừng rồi thì bán đất rừng. Hơn 300.000 héc ta rừng đầu nguồn đã bị các tỉnh bán cho doanh nhân Trung Quốc khai thác 50 năm. Nghĩa là  50 năm năm , chúng muốn biến  mảnh đất rừng đó thành căn cứ quân sự, lô cốt, hầm ngầm.v.v… là quyền của họ…”

“Người bán gỗ, bán than, thì  có kẻ lại bán núi, bán  đất ruộng làm giàu. Xem ra bán núi bán đất dễ giàu có hơn. Trong những chuyến đi thực tế ở vùng Đông Bác hay Thanh Hóa, Ninh Bình…, tôi thấy nhiều ngọn núi bị san bằng trơ trọi, để khai thác đá sản xuất xi măng, đá xây dựng. Bây gìờ tỉnh nào cũng hai ba nhà máy xi măng, hàng chục công trường  khái thác đá hàng ngày ra sức san phá núi. Có tỉnh bán luôn cả ngọn núi cho nước ngoài làm xi măng, không chỉ bán phần dương mà còn bán cả phần âm tới 30 mét sâu, nghĩa là 50 năm sau, núi thành hồ ! Hình sông thế núi Việt Nam ngàn đời hũng vĩ , bây giờ đang  bị xẻ thịt nham nhở.  Liệu con cháu  tương lai sẽ sống như thế nào, có còn hình dung ra nước non Việt tươi đẹp xưa nữa không, khi mà quanh chúng núi non bị  gậm nhấm, thân thể Tổ Quốc ghẻ lở, xác xơ ? Tài nguyên của mình, nước ngoài đến khai thác rồi chế biến thành sản phẩm xuất khẩu của họ, trong lúc hình hài non sông bị xâm hại. ‘Bán núi’ để ăn như thế có đau núi quá không? “ 

Trẻ em Bắc Triều Tiên. Ảnh chụp tháng 3/2011: RFI

Trẻ em Bắc Triều Tiên. Ảnh chụp tháng 3/2011: RFI

Sông núiđau đớn quá không ? Câu hỏi đớn đau này, một kẻ tha phương cầu thực (như tôi) không dám lạm bàn nhưng cứ theo những tường thuật nêu trên thì e rằng viễn ảnh nhìn bẩy tưởng ba (rồi ra) cũng sẽ xẩy ra ở Việt Nam –  trong tương lai gần, bất kể là vùng cao hay vùng thấp – nếu  Đảng (cướp) hiện nay vẫn tiếp tục “độc quyền lãnh đạo” ở đất nước này.

Chúng ta chỉ có thể tiếp tay làm chậm lại hiện tượng này bằng cách đáp ứng lời kêu gọi khẩn thiết cứu đói (và cứu rét)của nhà báo Dương Minh Phong, tiến sĩ Trần Đăng Tuấn, hay ca sĩ Thái Thùy Linh… để mua thêm (chút) thời gian – ở một vài nơi – thôi!

Tưởng Năng Tiến- RFA

Núp bóng (ma) nhau

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2011/12/19 at 17:40

Khởi đầu là… Bác. Ngày ấy, Bác núp bóng ông nhà báo Trn Dân Tiên vừa “đi đường va k chuyn” để hoàn tất tác phẩm vĩ đại “Nhng mu chuyn v đi hot đng ca H Ch tch”. Nhà báo Trần Dân Tiên rt sung sướng viết: “Nhiu nhà văn, nhà báo Vit nam và ngoi quc mun viết tiu s ca v ch tch nước Vit nam Dân ch Cng hòa, nhưng mãi đến nay, chưa có người nào thành công. Nguyên nhân rt gin đơn: ch tch H chí Minh không mun nhc li thân thế ca mình. Ngày 2-9-45, ln đu tiên tôi trông thy H ch tch. Đó là mt ngày lch s. Ngày hôm y, đng trước rt đông qun chúng hoan hô nhit lit, H ch tch trang nghiêm đc bn Tuyên ngôn đc lp ca nước Vit nam Dân ch Cng hòa. Ngày th hai tôi viết thơ xin phép được gp H ch tch. Ngay chiu hôm y, tôi rt sung sướng tiếp được thư tr li ca H ch tch viết như thế này…”.

Điều độc đáo và cũng cực kỳ vĩ đại là Bác không cần núp bóng ai khác. Bác là chủ tịch nước, là “cha già dân tộc”, Bác tự xưng Bác (phải viết hoa) với toàn dân già trẻ lớn bé, dưới Bác biết bao nhiêu nhà thơ, nhà văn vĩ đại với thiên tài đánh bóng lãnh tụ – cứ chụp một câu của đồng chí thi sĩ Tố Hữu bốc đồng chí Statin tận bên Nga là thấy ngay thiên tài trước mắt:

Thuở Anh chưa ra đời 

Trái đất còn nức nở

Nhân loại chửa thành người 

Đêm ngàn năm man rợ. 

Stalin mà đọc được đảm bảo phải sướng. Nhưng không! Bác Hồ không cần núp bóng đại văn hào, đại thi sĩ, đại nhà báo, đại bồi bút nào tất. Bác núp bóng của chính Bác và tự gửi thư trả lời chính mình, tự viết lên những dòng chữ “chủ tịch Hồ chí Minh không muốn nhắc lại thân thế của mình”. Từ ấy (trong tôi bừng nắng hạ) Bác cho ra lọt lòng tác phẩm có một không hai ký tên Trần Dân Tiên.

Từ cái thuở ban đầu lưu luyến núp bóng nhau đó, các đồng chí đảng ta mỗi ngày một hoàn chỉnh nghệ thuật núp, cho đến ngày hôm nay đã trở nên thần kỳ. Câu chuyện núp bóng chính mình của Bác Hồ ngày xưa tưởng đã thuộc hàng cao cấp, bây giờ con cháu Bác cho lọt xuống tầm sơ đẳng.

*

Trong suốt một thời gian, bắt đầu lúc đồng chí Tố Hữu chửa thành người cho đến khi từ khi Anh đứng dậy, trái đất bắt đầu cười, và loài người, từ đấy, ca bài ca Tháng Mười… cả đảng ta núp bóng thế giới Vô sản Đại đồng và Chủ nghĩa Cộng sản lẫn tư tưởng Mác xít Lê nin nít. Ngày 25.12.1991 thành trì XHCN Liên Xô sụp đổ, hưởng thọ 74 tuổi, kéo theo toàn bộ các nước Đông Âu xuống hố. Đảng ta hụt hẫng không còn nơi để núp. Kết quả của công cuộc kiếm tìm bụi rậm mới đã ra đời: tư tưởng Hồ Chí Minh. Nếu Bác thần kỳ với anh hùng núp Trần Dân Tiên thì các đồng chí hậu duệ của Bác đã kỳ thần gấp bội trong việc này. Một hệ tư tưởng được sáng tác và ra đời trong khi “tác giả”, từ lâu, đã là một xác ướp trong lăng. Không đồng ý với tư tưởng chỉ đạo của đảng ta đồng nghĩa với chống lại tư tưởng vĩ đại của Cha già Dân tộc, của Bác Vô vàn Kính yêu. Thế mới trên cả tuyệt vời.

Chính sách Núp thứ hai được thể hiện qua chiến dịch trường kỳ gọi là “sống chiến đấu học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Mọi sự tha hóa, đồi trụy, vô văn hóa được che đậy trong cái vỏ bọc đạo đức Bác Hồ này. Đạo đức của cán bộ, hay phình to hơn là phẩm chất đạo đức của toàn đảng, đã không được (và không nên) đo lường bởi hành vi của từng đảng viên nhưng thay vào đó là khẩu hiệu “sống, chiến đấu, học tập…”. Những chiến dịch áo rách vì mặc quá lâu được lập đi lập lại, được hà hơi tiếp sức bởi bộ máy truyền thông và các pano tả tơi khắp phố phường. Tất cả chỉ nhằm để quẹt lên, quẹt xuống, quẹt tới, quẹt lui bởi cây cọ đỏ gần hết sơn, mong tạo nên ấn tượng về hình ảnh đạo đức của khối đảng viên đang ngày đêm phấn đấu cắm đầu lết thếch đến bở hơi theo gương đạo đức của lãnh tụ Hồ Chí Minh/ Trần Dân Tiên.

Cả hai chính sách “Núp” này tạo ra một vấn nạn cho… Bác Hồ của các đồng chí CS. Chính đảng CS vì nhu cầu núp bóng Bác nên đã không để Bác chết. Cố chủ tịch Hồ Chí Minh của đảng CS vẫn đang là một phần của bộ máy cai trị hiện nay. Tất cả mọi điều, từ quan điểm chính trị cho đến hành vi cư xử đảng viên, đều nhân danh và núp bóng của Bác. Mọi nhà đều có sự hiện diện của Bác. Mọi diễn văn đều có Bác dự phần. Dân Oan biểu tình chống cường hào ác bá đảng viên CS đeo hình của Bác trước ngực. Cán bộ về hưu, lão thành cách mạng phê bình đảng cũng rủ rê Bác đi cùng để làm hộ pháp phòng thân. Bác đang yên ngũ gần đó cũng bị mang ra bờ Hồ – ảnh Hồ Chí Minh giơ cao đả đảo Hồ Cầm Đào. Bác Hồ không ở nằm yên giấc nghìn thu trong lăng. Bác hiện diện ở khắp mọi nơi và ảnh hưởng lên từng hơi thở, nhịp sống, vận mạng, tương lai của mọi người dân bởi chính sách núp của các đồng chí con cháu Bác. Bác Hồ chưa chết. Bác không được chết.

Chính vì thế mà nhu cầu tìm hiểu, phân tích, khen ngợi hay phê phán về ông vẫn cứ tiếp diễn cho mục tiêu phê phán, phê bình, góp ý hay ngay cả xây dựng hệ thống chính trị đương thời. Ngày nào đảng CSVN còn núp bóng ông Hồ Chí Minh để cai trị, ngày đó người ta vẫn còn tiếp tục viết về ông Hồ Chí Minh như là một thực thể của hiện tại, một phần không thể tách rời ra khỏi thể chế và bộ máy cai trị ngày hôm nay. Mọi nhân vật của quá khứ đóng vai trò quan trọng đối với đất nước đều được lịch sử phán xét. Theo dòng thời gian dân tộc sẽ tiến gần đến những kết luận khách quan và trung thực về ông. Tuy nhiên, đảng CSVN đã không cho phép ông Hồ trở thành một nhân vật lịch sử quá khứ. Ông phải tiếp tục “sống” và buộc phải đóng vai một tấm bình phong cho đảng núp.

*

Chính sách núp bóng khác, vĩ đại không kém còn có một tên gọi là “ăn mày dĩ vãng”. Đảng cộng sản ngày hôm nay đã biện minh cho vai trò độc quyền lãnh đạo của họ bằng những thành quả của quá khứ. Những người lãnh đạo ngày hôm nay không phải là những anh hùng Điện Biên ngày xưa trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Họ chỉ là một anh y tá quèn, một cán bộ cấp thấp, một bộ đội cấp trung trong cuộc chiến tranh Nam Bắc, một anh công an chuyên trị dọn bãi vượt biên thâu vàng đổi xác chết cho cá mập ngoài biển đông, sau ngày toàn cõi đất nước từ Ải Đã mất đến mũi Cà Mau được giải phóng khỏi sự giàu có của tư bản giãy chết. Bỏ qua việc tranh cãi về công lao giải phóng đất nước thật sự thuộc về ai, đảng CSVN ngày hôm nay không phải là đảng CSVN ngày xưa.

Ngược dòng lịch sử, không ai có thể chấp nhận vai trò chính thống của Việt gian Lê Chiêu Thống chỉ vì ông ta là hậu duệ của đức Lê Thái Tổ, người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chiến thắng quân Minh dành lại độc lập cho dân tộc. Ngay trong thời đại phong kiến, cha truyền con nối nhưng Lê Chiêu Thống đã không thể ăn bám hào quang quá khứ dòng họ nhà Lê và không thoát khỏi nhãn hiệu lịch sử gán cho là “cõng rắn cắn gà nhà”. Hào quang và công lao của vua ông Thái Tổ không bảo chứng được cho tư thế cầm quyền của đứa cháu bán nước đời sau. Những Lê Chiêu Thống ngày hôm nay cũng không khác. Tất cả mọi nỗ lực tuyên truyền về đảng lãnh đạo quang vinh, cách mạng thần thánh đều chẳng khác gì Lê Chiêu Thống đi ăn mày quá khứ thời Lam Sơn oanh liệt của tổ tiên.

Tương tự như việc núp bóng vào ông Hồ Chí Minh, hành động núp bóng và ăn mày dĩ vãng của đảng CS đã biến quá khứ thành một phần không thể tách rời với guồng máy cai trị hiện tại. Do đó không thể tránh được nhu cầu tiếp tục tìm hiểu sự thật của giai đoạn quá khứ ấy. Bởi vì không có gì đảm bảo rằng cái quá khứ khởi đi từ 1945 với nhiều bi hận, oan khiên của Cải Cách Ruộng Đất, Nhân Văn Giai Phẩm và… Trần Dân Tiên sẽ mang nét hào hùng của thời đại người anh hùng áo vải đất Lam Sơn.

*

Những chính sách Núp này đã hình thành văn hóa Núp, truyền thống Núp, hành xử Núp. Núp từ cơ cấu tổ chức đến thái độ cầm quyền đến hành vi trong cư xử. Đảng núp bóng của “tư tưởng”, “đạo đức” bác Hồ lẫn hào quang quá khứ để dựng nên vai trò chính thống. Đảng tạo ra bóng ma nhân dân để đem cơ cấu cai trị vào mà núp: Quốc Hội, Nhà Nước, Mặt Trận Tổ Quốc, Quân Đội Nhân Dân, Công An Nhân Dân, Tòa Án Nhân Dân. Đảng cưởi đầu, cưởi cổ Nhân dân, vừa núp bóng Nhân dân trong mọi ngôn từ, văn kiện (trừ Ngân Hàng) để thu tóm quyền lực, cai trị gần 90 triệu người như bạo chúa, phá hoại tài nguyên môi trường quốc gia, dâng đất dâng biển, tham nhũng, tham ô, hủ hóa, tiêu diệt dân phong dân khí và coi mạng sống, tự do của con người như cỏ rác…

Núp bóng (ma) nhau là chính sách xuyên suốt thế kỷ của đảng. Cho đến một ngày, sẽ chỉ còn những ống cống để núp.

Hà Sĩ Phu – Những “đứa con” lăng loàn

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2011/12/19 at 17:19

Nguồn: Dân Làm Báo

Bài “Mối quan hệ giữa Nhân quyền và sự ổn định chính trị” của tác giả Hạ Đình Nguyên đã gợi ra một vấn đề có tính hệ thống, vẫn tồn tại bấy lâu nay trong xã hội ta.

Tác giả nêu 2 khẩu hiệu nhân ngày Quốc tế Nhân quyền được treo ở đường phố Sài gòn: “Nhân quyền phải đảm bảo ổn định chính trị và trật tự xã hội”“Nhân quyền là giá trị chung của các dân tộc”.

Sau những phân tích chặt chẽ và sáng tỏ, tác giả kết luận: Nói như câu khẩu hiệu số 1 là “nói ngược”, đáng lý phải hô: “Ổn định chính trị phải đảm bảo (thực thi) Nhân Quyền”! mới đúng. Bởi vì, vẫn lời tác giả, “Không thể thay đổi Nhân Quyền để ổn định Chính trị, mà thay đổi Chính trị để phù hợp Nhân Quyền”, bởi vì “Nhân quyền là giá trị CHUNG của các dân tộc”, như câu thứ hai đã nêu” (Hạ Đình Nguyên). Chính khẩu hiệu thứ 2 như một chân lý chung đã vạch rõ cái sai lầm của khẩu hiệu thứ 1 (như một “chân lý” riêng ở Việt Nam).

Tôi thích cái ý này của tác giả Hạ Đình Nguyên: TRIẾT LÝ tự dưng cũng phải xuống đường (như một sự biểu tình) để phản biện lại cái VÔ LÝ đang sờ sờ ngự trên đường…phố! Triết học ở đây là phạm trù quan hệ giữa cái CHUNG và cái RIÊNG, giữa cái đơn lẻ đặc thù và cái phổ biến.

Cái RIÊNG (như chính sách nhất thời của một thể chế, của một quốc gia) dù có “đậm đà” muôn vàn màu sắc riêng thì cũng vẫn phải nằm trong cái chung, nghĩa là không thể phủ định những đặc tính căn bản của cái CHUNG, nếu phủ định hay “vô hiệu hóa” cái CHUNG thì nó không còn lý do gì để nằm trong cái CHUNG ấy nữa.

Các Chính phủ (tức là cái riêng) chỉ là Chính phủ khi nó được lập ra để đảm bảo cho sự thực thi những Nhân quyền tự nhiên và phổ quát (tức cái chung) mà nhân loại tiến bộ đã đồng thanh quyết nghị, trong đó có Việt Nam. Nếu chính sách của một chính phủ dẫn đến sự vô hiệu hóa những nguyên tắc phổ quát của Nhân quyền (mà HĐN đã nhắc lại trong bài của ông) thì tự chính phủ đã làm mất tính chính thống của mình trước nhân loại. Khi một cái RIÊNG nào đó xuất hiện mà đối kháng với cái CHUNG thì phải dùng cái CHUNG làm chuẩn để điều chỉnh, để “xét lại”, để “gọt” cái RIÊNG chứ không thể làm điều ngược lại.

Thế mà đã bao lâu nay, xã hội ta đã quen làm những điều ngược lại với chân lý đương nhiên ấy: Luật CON thì vô hiệu hóa luật MẸ (Hiến pháp), MẸ Hiến pháp đã long trọng ban bố mọi quyền tự do như tự do tư tưởng, tự do lập hội, tự do biểu tình, tự do cư trú, …nhưng những đứa CON (tức các điều luật) thậm chí những đứa CHÁU (các nghị định, chỉ thị, nghị quyết) chỉ cần vin vào cái đuôi “các quyền ấy phải được thực hiện trong khuôn khổ quy định của Luật pháp” là thỏa sức đặt ra những quy định làm cho những lời của MẸ Hiến pháp chẳng còn một gam trọng lượng nào. Các CON được đẻ ra đáng lẽ để biến lời MẸ thành hiện thực thì lại gây khó, lại biến MẸ thành bù nhìn, thành vật trang sức, thành lá chắn…, con cháu như vậy thật là lăng loàn!

Quan hệ giữa Dân tộc và “chủ nghĩa Xã hội”, giữa Đảng với Tổ quốc và Nhân dân cũng vậy. Chủ nghĩa là để phục vụ Nhân dân, không thể ngang hàng với Nhân dân. Độc lập Dân tộcChủ nghĩa Xã hội cũng không phải là cặp đôi ngang hàng, Độc lập Dân tộc là yếu tố vững bền tiền định, bất khả nhượng, trong những điều kiện lịch sử cụ thể nếu thấy việc thực hiện “Chủ nghĩa” có phương hại đến Độc lập dân tộc thì Dân có quyền điều chỉnh và xét lại. Trên thực tế, vì yếu tố “Dân tộc, Tổ quốc, Nhân dân” bị “lép vế” nên những người yêu nước, biểu tình chống Trung quốc xâm lược mới dễ dàng bị lực lượng “chỉ biết còn Đảng còn mình” coi là phản nghịch. Vế thuộc về “CON” đã lấn át vế thuộc về “MẸ”.

Đảng là con sinh ra từ Mẹ Tổ quốc phải nằm trong và đứng dưới Tổ quốc và Nhân dân. Nếu “Con” đứng ngang mặt Mẹ như hai lá cờ đã là khó coi, huống chi lấy tiêu chuẩn của “Con” để áp dụng sự phân loại, xét duyệt, sàng lọc, đào thải đối với “cha mẹ” như quan điểm trong bài của một đại tá tiến sĩ trên báo QĐND mới đây, thì gia đình như vậy thật không hổ danh là một gia đình…vô phúc!

Dùng CON vô hiệu hóa MẸ, lấy RIÊNG qua mặt CHUNG, lấy NGỌN phủ định GỐC thì chữ “mất gốc hoàn toàn” của ông Dương Trung Quốc xem ra quả không ngoa.

20-12-2011

Nguồn: Dân Luận

Người Buôn Gió – Đi tù và đi cải tạo

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Việt Nam on 2011/12/11 at 11:29

 

Đi cải tạo là đi gì ? Nhiều người vẫn nghĩ là đi cải tạo thì nhẹ hơn đi tù, đi cải tạo là ngồi trong lớp học về đạo lýđược các cán bộ tận tâm, có tấm lòng, tức là những thầy giáo trong bộ quần áo công an. Giảng và cư xử với học trò với những tấm lòng yêu mến, cảm hóa học trò bằng tình nghĩa để sau này các học trò trở thành người tốt. Những câu chuyện thường có trên mặt báo nhất là những số báo Tết cuối năm về ơn nghĩa của người thầy, người quản giáo trong trại giam. Thêm hình ảnh người học trò giờ đã có cuộc sống thành đạt, có ích cho xã hội. Thật ra thì những người tù trở về sống đời lương thiện là rất ít số với những số tái tù.

Làm người lương thiện ở Việt Nam khó hơn làm tiến sĩ cả vạn lần. 100 người bảo vệ luận án tiến sĩ hầu như đạt cả 100. Nhưng 100 thằng tù mà trở về xã hội, may lắm chỉ có 1 hay 2 thằng trở thành người tử tế, nghĩa là tìm công việc tử tế sống cuộc đời lương thiện đến cuối đời. Nếu bạn không tin, bạn hãy nhìn quanh nhà bạn xem những thành phần đi tù, đi cai nghiện có bao nhiêu người trở thành người tử tế. Sau đó bạn hãy phản bác lại tôi chưa muộn.

Trại cải tạo và nhà tù là một. Nhà tù thì có hai loại, nhà tù giam cứu và nhà tù cải tạo. Nhà tù giam cứu là giam phạm nhân còn đang trong giai đoạn điều tra củng cố hồ sơ, cáo trạng, hay phạm nhân đã kết thúc hồ sơ chờ tòa xử. Sau khi có án phạt của tù , phạm nhân từ trại giam cứu đợi có đợt là chuyển đến trại tù cải tạo. Còn phạm nhân đi theo diện cải tạo là do chính quyền địa phương xét thấy hư hỏng nhiều lần, nhưng chưa có lần nào đủ để đưa ra tòa kết án tù thì họ đề nghị cho đi cải tạo. Hư hỏng theo kiểu chính quyền đánh giá thì vô cùng, nhiều khi chỉ ngồi hàng nước tán láo, thấy cán bộ không chào, tóc tai quần áo nhìn ngứa mắt, tụ tập đàn đúm ôm đàn ca hát cũng đủ yếu tố đi cải tạo. Đi cải tạo thì thời hạn tính theo từng lệnh, trước kia là lệnh cải tạo thường là 5 năm, giờ xuống 2 năm. Nếu trong trại cải tạo mà chưa được ưng lòng cán bộ, thì chuyện giữ thêm lệnh tiếp theo và tiếp theo nữa là thường tình. Bởi vậy nhiều tù cải tạo mòn mỏi quá, tiếc nuối than rằng thà cứ phạm tội còn có hạn tù, còn có ngày về. Chứ đi cải tạo thì mịt mù ngày về quê mẹ luôn.

Ở trại cải tạo chuyện học viên ngồi trên bàn ghế, thầy giáo giảng bài là chỉ có trong phim tuyên truyền. Chứ con người mới CNXH là phải lao động, lao động, lao động mới  cải tạo được thành người lương thiện. Cho nên ở nhà tù cải tạo chỉ có công việc duy nhất là lao động đủ mức khoán là thước đo duy nhất đánh giá sự tiến bộ của phạm nhân. Thời bao cấp trại cải tạo chỉ chú trọng đến việc giam giữ tù nhân, lao động không nặng nề lắm, bởi thời cuộc lúc đó thì cũng chả có việc gì mà làm. Ngoài xã hội công nhân đi làm cũng vật vờ, có máy móc, có phát triển nhiều đâu mà có việc để làm. Sau này thời mở cửa từ năm 90 trở đi, xã hội mở mang tạo ra nhiều công việc, cần đến nhiều nguồn nhân lực xã hội. Người ta nhận thấy các tù nhân ( tù có án và tù cải tạo) là một nguồn lao động khổng lồ đầy tiện lợi, Việc tái đầu tư vào lực lượng lao động này rất rẻ mạt, một năm 2 bộ quần áo, mỗi tháng mươi cân gạo, mươi cân rau và vài lạng thịt.

Ở trung tâm  trại cải tạo người ta chỉ giữ lại một vài đội tù như đội bếp, đội vệ sinh, đội rau xanh, đội đan lát, mộc để làm cảnh cho các đoàn tham quan đến chiêm ngưỡng. Thường những tù cải tạo ở đội rau xanh, vệ sinh là tù mà gia đình đã lo lót hay có quan hệ. Những tù này có điều kiện gia đình khá giả, lao động nhàn lại có đố tiếp tế nên họ sạch sẽ, có da có thịt hơn. Khách tham quan , đoàn công tác đến nhìn đều tấm tắc khen trại cải tạo chăm lo đời sống phạm nhân tốt….

Nhưng cuộc sống thật của trại cải tạo ở đằng xa hơn đó vài cây số hoặc vài chục cây. Đó là những khu, những đội lẻ. Nơi mà trại cải tạo nhận hợp đồng với những công ty, cá nhân bên ngoài để lấy việc cho tù nhân làm. Nếu những việc có thể gia công tại trại, nhận vật liệu về gia công rồi chuyển lại cho cơ sở kinh doanh thì được làm gần trại. Còn những viêc mà đối tác đòi hỏi làm tại nơi của họ thì trại cải tạo lập ra những đội tù lẻ, có quản giáo, lính gác đi kèm đến hiện trường làm việc, trường hợp này thường là lò gạch, bến phà, mỏ đá. Làm ở những nơi này tù khổ nhất, vì lao đông nặng nhọc, mọi quyền hạn đều tất ở trong tay quản giáo và đám lính vũ trang. Quản giáo lại được doanh nghiệp thưởng thêm nếu đốc thúc tù làm đủ hay vượt năng suất, hoặc quản giáo là người trực tiép ký hợp đồng nhận việc với doanh nghiệp, với phía trại cải tạo thì quản giáo cũng nhận mức khoán trên đầu phạm nhân. Ví dụ quản giáo nhận 50 phạm nhân thì mỗi tháng nộp về trại 50 đồng. Còn chuyện quản giáo ký với doanh nghiệp về số lượng sản phẩm hoàn thành thu lại bao nhiêu , chênh lệch thế nào…thì là chuyện quản giáo với doanh nghiệp thuê lao động.

Tù có án và tù cải tạo ở chung với nhau, mức sống, lao động như nhau. Đều trong hoàn cảnh cải tạo như vậy. Cho nên nhiều tù cải tạo vẫn chửi câu cửa miệng rằng.

– Đời có lắm thằng ngu, bố đi tù nó bảo đi cải tạo.

 

Nguồn: Người Buôn Gió
Cùng tác giả:

Người Buôn Gió – Tái cơ cấu thần chưởng

Người Buôn Gió – Đêm dài biên ải

Người Buôn Gió: 18-3 trại Thanh Hà

Người Buôn Gió – Người Nông Dân Nổi Dậy

Người Buôn Gió – Hóa ra đều ăn cắp hết

Người Buôn Gió – Đi tù và đi cải tạo

Người Buôn Gió – Con trâu của ai?

Người Buôn Gió – Hà Nội trong mắt ai

Loạt bài Đại Vệ Chí Dị:

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị – Mọi sự quái đản đều là do… thế lực thù địch

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị: Cứ đổ cho thế lực thù địch xúi dục là OK!

Giờ phẫn nộ!

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2011/12/03 at 01:10

Giờ phẫn nộ![*]

VietSoul:21

Huỳnh Ngọc Tuấn – Thục Vy – Trọng Hiếu (Nguồn: Dân Làm Báo)

Tôi không còn tin vào mắt mình khi đọc được những giòng tin tức về gia đình họ Huỳnh trên mạng. Một gia đình người Việt Nam cùng quê hương xứ sở mà tôi tuy chưa từng gặp lại có mối đồng cảm và chưa có duyên để tỏ bày. Nhưng tôi vẫn xem là bạn—những người bạn thầm lặng của tôi đã từng bị quấy nhiễu, hành hung và trong giờ phút này bị cô lập, cưỡng bức, cướp bóc tài sản, đánh đập dã man, vu khống, chế tài bằng “luật lệnh”[1] và khủng bố[2].

Tôi phải lên tiếng.

Tôi phải gào thét, căm phẫn cùng các bạn.

Tôi phải tỏ lòng mình cho các bạn biết. Bạn bị cô lập nhưng không bao giờ cô đơn đâu. Vì chúng tôi vẫn bên cạnh bạn.

Họ muốn bịt miệng các bạn. Chúng tôi sẽ lên tiếng.

Họ muốn đày đọa các bạn. Chúng tôi sẽ nâng đỡ và an ủi.

Đúng, cái ác bao giờ cũng đáng sợ, nhưng đáng sợ hơn là sự dửng dưng.[3]

Giờ phút này thì tôi có thể tin gì và làm được những gì?

Tôi tin vào Chúa Giêsu. Tôi tin vào Phật Thích Ca. Hai đấng cách mạng nhân bản cho thế giới trần tục này. Đấng rao giảng bình đẳng, công bằng, bác ái. Đấng rao giảng giải phóng bản ngã, cứu khổ, vị tha.

Tôi tin vào Mahatma Ghandi, Martin Luther King Jr., hai nhà cách mạng bất bạo động, phản kháng các thế lực áp bức, bất công. Cuộc đời họ là thông điệp cho hậu thế.

Tôi tin vào Nguyễn Trãi – Bình Ngô Đại Cáo, Lý Thường Kiệt – Nam Quốc Sơn Hà.

Tôi hoài nghi về các tuyên ngôn và chủ thuyết. Nhưng tôi tin là có những nỗi đau. Tôi tin vào em Kim Tiến, em Thanh Tuyền trong “hành trình đi tìm công lý”[4]. Tôi tin vào cái cảm giác sợ hãi, lòng thương xót và cảm xúc phẫn nộ. Tôi tin vào tấm lòng cô Phương Bích và cô Bùi Hằng.

Tôi tin vào bác Lê Hiền Đức và dân oan An Giang trong nỗi oan khiên mất đất, mất nhà với khẩu hiệu nguệch ngoạc “Bỏ mạng, không bỏ đất”, “Thà chết không bỏ đất”, “Dân tình An Giang, Tức nước vỡ bờ, Vật giá leo thang, Nhân gian khổ ải, Giải tỏa cưỡng chế, Đói nghèo công nô”.

Độc Lập, Tự Do, Nằm co vệ đường

Tôi tin vào linh mục, tu sĩ, và giáo dân Thái Hà đang chịu hành hung, đánh đập, trấn áp, bắt giam khi biểu tình phản đối chính quyền “mượn” và cướp đất nhà thờ.

Tôi tin vào ông Nguyễn Văn Lía, tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo, sáng lập khối PGHH Truyền Thống, vì đấu tranh đòi hỏi quyền tự do tôn giáo nên đang bị cầm tù, bị ép cung đánh gãy xương sườn, và tin cô con gái Nguyễn Thị Luạ đi thăm nuôi đã phẫn nộ gào thét “xin sự xót thương của mọi người, cứu cha tôi” và chắp hai tay, ngước mặt lên trời van xin “Kính Đức Phật, Đức Thầy và Trời cao xin hãy cứu cha con”[5].

Tôi tin vào những con người của một thời cương quyết nay chai lạnh vì “đã mỏi mòn, cái mỏi mòn của những con người đành nuốt nước mắt vào trong” và cũng có người phải chọn “tự quản thúc mình”[6].

Tôi vẫn còn nghi ngại về những buổi tiệc ê hề rượu bia tràn ly nhưng lại đặt trọn niềm tin với một chút tình chưa cạn trong giờ hoạn nạn.

Tôi chẳng mảy may hoài mộng về cõi vĩnh hằng, chốn niết bàn nhưng tôi tin vào cuộc đời và cuộc sống này.

Tôi tin vào các bạn, những người tử tế, những người biết sợ nhưng vẫn lên tiếng và hành động vì các bạn biết rằng “khi ta câm lặng ta vẫn ôm nỗi sợ”[7]

Tôi tin vào “những điều không thể quên, những sức mạnh tiềm tàng”[8] mà tất cả các bạn đã đặt trọn niềm tin vào. Để phẫn nộ và dấn thân.

© 2011 Vietsoul:21


[*] Indignez Vous! Time for outrage! “There are unbearable things all around us. You have to look for them; search carefully. Open your eyes and you will see. This is what I tell young people: If you spend a little time searching, you will find your reasons to engage. The worst attitude is indifference.” (Hãy phẫn nộ! Đây là lúc nỗi thiên đình! Chung quanh ta đầy rẫy bao điều không thể chịu đựng nổi. Hãy để ý đến các điều ấy, sục sọi cho cẩn thận nhé. Bạn sẽ thấy liền nếu mở mắt ra. Tôi thường khuyên các bạn trẻ như thế này: chỉ cần để tâm một chút thì bạn sẽ tìm ra lý lẽ để dấn thân. Thói dửng dưng là thái độ tồi nhất) ― Stéphan Hessel

[1] Luật Lệnh, Vietsoul21.net

[3] “The world is a dangerous place, not because of those who do evil, but because of those who look on and do nothing.” (Thế gian này là một chốn hiểm nguy, không phải bởi những người gây ra tội ác, nhưng vì những ai người trớ mắt nhìn và không làm gì cả) ― Albert Einstein

“Washing one’s hands of the conflict between the powerful and the powerless means to side with the powerful, not to be neutral.” (Khi phủi tay với những xung đột giữa cường quyền và người cô thế thì đồng nghĩa với chuyện ta đứng về phía kẻ cường quyền, không còn vô thiên vị nữa) ― Paulo Freire

“I swore never to be silent whenever and wherever human beings endure suffering and humiliation. We must always take sides. Neutrality helps the oppressor, never the victim. Silence encourages the tormentor, never the tormented.” (Tôi thề là sẽ không bao giờ câm lặng trong bất cứ lúc nào ở bất cứ nơi nào mà con người bị khổ nạn và sỉ nhục. Chúng ta luôn phải chọn đứng về một phía. Trung lập chỉ giúp kẻ đàn áp, chẳng trợ giúp gì cho nạn nhân. Im lặng chỉ khuyến khích kẻ tra tấn thêm, không hề động viên người bị nhục hình.) ― Elie Wiesel

[4] Hành Trình Đi Tìm Công Lý, Nguyễn Thị Thanh Tuyền – Đàn Chim Việt

[6] Tôi sẽ tự “quản thúc” mình, Đỗ Trung Quân – Dân Luận

[8] The only dream worth having…

“The only dream worth having…
is to dream that you will live while you’re alive and die only when you’re dead…
which means exactly what?’…
To love. To be loved.
To never forget your own insignificance.
To never get used to the unspeakable violence and vulgar disparity of life around you.
To seek joy in the saddest places.
To pursue beauty to its lair.
To never simplify what is complicated or complicate what is simple.
To respect strength, never power.
Above all, to watch.
To try and understand.
To never look away.
And never, never to forget.”

Duy ước mơ đáng có …

Một ước mơ đáng có
là mơ được thực sự sống khi còn và chỉ chết khi lìa đời …
mơ thế để làm gì?! …
Để yêu. Để được yêu.
Để không bao giờ quên mình mỏng manh vô nghĩa.
Để không bao giờ trơ chai với bạo lực vô ngôn và cách biệt thô bỉ trong đời quanh bạn
Để tìm ra niềm vui khi tận cùng trong chốn thảm buồn
Để theo đuổi cái đẹp đến tận cùng hang ổ nó
Để không bao giờ đơn giản hoá những gì phức tạp hay tạo rối rắm cho những giản đơn
Để trân trọng sức mạnh, không nề quyền lực
Và trên hết, dõi nhìn
Để gắng hiểu
Để không bao giờ ngoảnh mặt quay lưng.
Và không bao giờ, không đời nào quên.

Arundhati Roy

Bút Gà (chấp bút) Đinh Thế Huynh gởi các cô cậu Nghị

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2011/11/30 at 08:37

IQ cao - Dân trí thấp (Nguồn: Dân làm báo)

Tớ, Bút Gà, chấp bút cho (thủ) anh Đinh Thế Huynh của bộ hầu đồng (BCT) bình vôi[1] đảng CSVN, gởi lời phán của bà đến các cô/cậu Nghị. Phán đây là cho các cô/cậu Nghị (viên) Quốc Hội (quốc hủi) ấy, chứ không phải cậu Nghị cầu tự của Bà được sắp xếp đến nơi đến chốn, ghế mát bát vàng[2].

Bà phán rằng các cô/cậu Nghị chỉ cần làm đúng một việc với chức năng “gật” là đủ rồi. Chứ đừng mồm miệng mắm tôm phát biểu linh tinh, lang tang thối hoăng làm ô uế phủ bà. Bà bảo cậu Phước có hung hăng con bọ xít tung hô vạn tuế bà thì cũng chả thêm miếng lộc nào đâu. Thóc bà chỉ có ngần ấy. Chia hết cho các cô, các cậu ở bao cơ chế trong ngoài Đảng nên chẳng còn thừa để cậu ta mót.

Cậu Phước có to tiếng hơn cái phèng la (Đông La) chém gió vào lịch sử bôi nhọ cụ Phan Bội Châu thì cậu cũng giữ chân thủ nhang cho phủ bà thôi. Thế cũng là hơn cái phèng la (Đông La)[3] ngậm cứt phun (người) vào tay Cù Huy Hà Vũ chỉ súng sính cái chân lính anh, lính chị hầu bà. Cậu nói leo rằng thì là “Người Việt Nam yêu sự công bằng nên không ai chấp nhận đa đảng” làm gì? Anh Đinh Thế Huynh của bà đã nhắn cậu để độc quyền bảo kê, cầu chứng tại phủ bà câu “Việt Nam không có nhu cầu đa đảng”[4] rồi. Chớ có mà lẻo mép bị ăn tát sái quai hàm đấy nhá!

Bà thì phán thế nhưng riêng cá nhân tớ, Bút Gà, thấy cậu Phước cũng được việc đấy. Quốc hội thì phải có phát biểu tranh luận qua lại chứ “gật” mãi thì chai mặt à. Phải có kẻ tung, người hứng thì mới gọi là sân khấu chứ lị. Ngay cả anh Tấn Dũng, Tấn Sang cũng đang lấn sân Tấn Tài, vị “Hoàng đế đĩa nhựa” cải lương để ca những bài mùi hết biết chứ lỵ. Anh Ba ca sáu câu vọng cổ trích đoạn “Luật biểu tình” trong tuồng “Dân chủ đầu mưng mủ” làm mủi lòng giới mộ điệu. Các fan Tấn Dũng tụ tập reo hò bị fan Công An với số đông áp đảo hốt trọn về trại phục hồi nhân phẩm[5]. (he he, ta tước hết nhân phẩm của chúng, rồi ta lại bắt chúng vào trại phục hồi. Chẳng phải là đôi ngã sang ngang, điếm đàng đểu cáng nhất đảng à!)

Anh Ba tài thật, ca đếch chê đâu được. Ca ầu ơ ví dầu, cả trái lẫn phải đều mù tịt mà nội ngoại lại đề huề. Vừa vuốt ve xoa dịu bức xúc giới trí thức đòi hỏi quyền biểu tình khi tung chước giải trình trước quốc hội và đề nghị “gật” thông qua chương trình xây dựng “Luật biểu tình” mà anh Ba đã giao bộ Công An soạn thảo. Vừa trấn an anh cả là đàn em vẫn tùng phục “trên căn cứ thoả thuận mọi nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề mà ta và Trung Quốc ký mới đây trong chuyến thăm của TBT Nguyễn Phú Trọng.” Anh Ba ở tận trung ương thoải mái vận vai kép độc ca sáu câu vọng cổ, mặc tay chân đàn em địa phương chịu trách nhiệm “dân của mày thì mày về mà giải quyết”[6], mày hốt tùy tiện.

Bút gà tớ thì được giao trách nhiệm soạn tuồng. Các cậu đừng tưởng tớ làm chấp bút là lề mề chỉ ngồi ngoáy hũ cáy đấy à. Tớ bận không kể xiết. Bà bảo tớ phải khảo cứu, điểm báo bọn “tư bản giãy chết” để điều nghiên, viết tuồng cho mấy anh không chệch hướng dân chủ, tự do. Các cậu không thấy khi mợ Doan ngẫu hứng tự biên tự diễn ca đoạn “dân chủ … khác hẳn về bản chất và cao hơn gấp vạn lần dân chủ tư sản …” nhưng cũng rất hơi bị cùng tuồng “Dân chủ đầu mưng mủ” của anh Ba mình.

Rằng cao quả thật là cao, nhân dân cứ việc mơ phào tào lao.

Đây này, để tớ kể chuyện buồn cười. Tớ vừa đọc được bài báo về chuyện ông Thống đốc Tiểu bang Kansas tận bên Mẽo xin lỗi cô học sinh trung học, quả là bọn chúng hâm thật:

Đọc tiếp »

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2011/11/17 at 09:38

Nước Vệ triều nhà Sản năm thứ 66.

Ngày Ất Hợi, Tháng Kỷ Hợi nhân lúc nửa đêm tối trời. Công sai tổng đốc kinh thành lựa lấy vài trăm quân tinh nhuệ, cho ăn no từ chiều, nai nịt gọn gàng ngậm tăm nhằm hướng Tây kinh thành tiến về ấp Thái Hà.

Đến giờ Hợi là giờ Hoàng Đạo quân lính tủa ra ngăn các ngả đường vào ấp Thái Hà, phong tỏa chặt chẽ đến con ruồi bay cũng không lọt. Bấy giờ công binh mới tiến vào làm công trình cát cứ trên đất của xứ Thái Hà.

Dân xứ Thái Hà điềm nhiên không có phản ứng, đám dân ấy tụ lại một chỗ cầu nguyện.

Quân triều đình thấy thuận lợi không ngờ, bèn cố sức mà làm tới, đến mờ sáng mọi việc đã êm êm. Các quan trên ai nấy cũng hài lòng, thở phào nhẹ nhõm, thấy thắng lợi dễ dàng không ngờ.

Nguyên nhân việc này kéo dài đã mấy tháng trước, dư luận ầm ĩ. Bên triều đình ỷ có tài lực, binh lính, ngày đêm ra rả khắp phố phường vu cho đám dân đạo Thái Hà là quân phản loạn, mượn cớ đòi đất mà tính chuyện làm càn.

Đám kia dân đen, thấp cổ bé họng, vốn nhút nhát từ xưa. Nay nghe loa triều đình rao khắp làng cuối xóm khoác tội vô cớ. Lúc đầu hoảng lắm, sau nhịn không nổi mới bèn cự lại triều đình rằng.

– Sao cái triều đình này lạ thế, cứ động lấy đất của người ta là vu người ta phản nghịch. Như thế há chẳng phải giống đời triều đình thực dân trước kia không ?

Nói rồi đám ấy tụm nhau lại mà dâng đơn cớ lên tận sân triều. Nhà Sản thấy phản ứng đó, bên ngoài giả bộ nhân từ, nhận đơn, phủ dụ bảo về chờ quan trên soi xét. Kỳ thực trong bụng uất lắm, nghĩ rằng đám dân kia làm thế là coi thường triều đình. Thế nên mới có chuyện một đằng nhận đơn, một đằng cho loa đi rêu rao mãi, rồi nhân lúc nửa đêm bất thình lình đưa quân đi cát cứ như vậy.

Trời vẫn còn chiều nhà Sản, đêm ấy quan quân triều đình thuận buồm, xuôi gió, công việc trót lọt không ngờ.

Sáng hôm sau thấy yên, nhưng ở trong phủ đầu não kinh thành lại bỗng loạn. Nguyên nhân bởi vì thấy thắng lợi quá bất ngờ, cho nên không biết công của bộ nào. Bên tuyên huấn trình đơn nhận công về mình, bên công sai cũng dâng sớ tấu công, bên bộ Lại, bộ Lễ cũng nhao nhao đòi công của mình…

Quan tuyên huấn nói

– Nguyên nhân đám ấy sợ, tự chung là do bên tuyên huấn dùng loa, lựa những lời đao búa phủ đầu, khiếp chúng khiếp nhược mà nằm im. Xin cho được chấm công đầu.

Quan công sai bước ra ngắt

Xưa nay mỗi khi có âm mưu loạn, đều do công sai bộ Binh, bộ Hình trấn áp thẳng tay khiến chúng khiếp hãi. Lần này các công sai ngày đêm rình rập, uy hiếp tinh thần đám ấy đến nơi, đến chốn, bắt kẻ này, triệu tập kẻ khác liên miên..khiến đám đó rã rệu tinh thần mà tan nhuệ khí. Nếu đêm đó không có 500 công sai đi , liệu việc có yên không.? Xin cho được nhận công đầu.

Bọn Sản địa phương  bấy giờ sợ mất phần,dăm ba đứa béo trắng lao nhao tranh nhau nói.

Không có Sản  chúng tôi chỉ đạo các ban ngành, đoàn thể đóng giả quần chúng nhân dân gây sức ép, liệu các người có thành công được không. Công này nhất phải về tay Sản địa phương.

Đầu phủ kinh thành không biết tính sao, bèn nói thác để tạm hoãn.

Công đầu được thưởng 1 triệu lạng, còn hạng thứ chia đều mỗi phần 500 nghìn lượng, mức định đã nói trước rôi,đợi vài hôm tra xét minh bạch sẽ trao.Đừng có vội lo.

Nói rồi bãi buổi chầu phủ, khi người các bộ về rồi. Quan phủ viết sớ tường trình sự việc, cho người hỏa tốc chạy sang phủ Chúa báo cáo.

Chúa Nguyễn vốn rộng lượng, xem xong phê rằng.

Cứ cho công đầu hết, nhưng gọi riêng lên mà trao, bên nào cũng tưởng mình công đầu, tất vui vẻ cả. Tiền bạc cứ thế mà chi, hết đâu phủ Chúa sẽ bù.

Mọi việc nhờ thế mà yên. Có kẻ biết chuyện than rằng.

Có dăm bọn phản loạn như đám dân Thái Hà kia nữa, là nhà Sản vỡ nợ vì chả còn tiền.

Nguồn: Người Buôn Gió