vietsoul21

Archive for the ‘Liên Kết’ Category

Hà Sĩ Phu – Những “đứa con” lăng loàn

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2011/12/19 at 17:19

Nguồn: Dân Làm Báo

Bài “Mối quan hệ giữa Nhân quyền và sự ổn định chính trị” của tác giả Hạ Đình Nguyên đã gợi ra một vấn đề có tính hệ thống, vẫn tồn tại bấy lâu nay trong xã hội ta.

Tác giả nêu 2 khẩu hiệu nhân ngày Quốc tế Nhân quyền được treo ở đường phố Sài gòn: “Nhân quyền phải đảm bảo ổn định chính trị và trật tự xã hội”“Nhân quyền là giá trị chung của các dân tộc”.

Sau những phân tích chặt chẽ và sáng tỏ, tác giả kết luận: Nói như câu khẩu hiệu số 1 là “nói ngược”, đáng lý phải hô: “Ổn định chính trị phải đảm bảo (thực thi) Nhân Quyền”! mới đúng. Bởi vì, vẫn lời tác giả, “Không thể thay đổi Nhân Quyền để ổn định Chính trị, mà thay đổi Chính trị để phù hợp Nhân Quyền”, bởi vì “Nhân quyền là giá trị CHUNG của các dân tộc”, như câu thứ hai đã nêu” (Hạ Đình Nguyên). Chính khẩu hiệu thứ 2 như một chân lý chung đã vạch rõ cái sai lầm của khẩu hiệu thứ 1 (như một “chân lý” riêng ở Việt Nam).

Tôi thích cái ý này của tác giả Hạ Đình Nguyên: TRIẾT LÝ tự dưng cũng phải xuống đường (như một sự biểu tình) để phản biện lại cái VÔ LÝ đang sờ sờ ngự trên đường…phố! Triết học ở đây là phạm trù quan hệ giữa cái CHUNG và cái RIÊNG, giữa cái đơn lẻ đặc thù và cái phổ biến.

Cái RIÊNG (như chính sách nhất thời của một thể chế, của một quốc gia) dù có “đậm đà” muôn vàn màu sắc riêng thì cũng vẫn phải nằm trong cái chung, nghĩa là không thể phủ định những đặc tính căn bản của cái CHUNG, nếu phủ định hay “vô hiệu hóa” cái CHUNG thì nó không còn lý do gì để nằm trong cái CHUNG ấy nữa.

Các Chính phủ (tức là cái riêng) chỉ là Chính phủ khi nó được lập ra để đảm bảo cho sự thực thi những Nhân quyền tự nhiên và phổ quát (tức cái chung) mà nhân loại tiến bộ đã đồng thanh quyết nghị, trong đó có Việt Nam. Nếu chính sách của một chính phủ dẫn đến sự vô hiệu hóa những nguyên tắc phổ quát của Nhân quyền (mà HĐN đã nhắc lại trong bài của ông) thì tự chính phủ đã làm mất tính chính thống của mình trước nhân loại. Khi một cái RIÊNG nào đó xuất hiện mà đối kháng với cái CHUNG thì phải dùng cái CHUNG làm chuẩn để điều chỉnh, để “xét lại”, để “gọt” cái RIÊNG chứ không thể làm điều ngược lại.

Thế mà đã bao lâu nay, xã hội ta đã quen làm những điều ngược lại với chân lý đương nhiên ấy: Luật CON thì vô hiệu hóa luật MẸ (Hiến pháp), MẸ Hiến pháp đã long trọng ban bố mọi quyền tự do như tự do tư tưởng, tự do lập hội, tự do biểu tình, tự do cư trú, …nhưng những đứa CON (tức các điều luật) thậm chí những đứa CHÁU (các nghị định, chỉ thị, nghị quyết) chỉ cần vin vào cái đuôi “các quyền ấy phải được thực hiện trong khuôn khổ quy định của Luật pháp” là thỏa sức đặt ra những quy định làm cho những lời của MẸ Hiến pháp chẳng còn một gam trọng lượng nào. Các CON được đẻ ra đáng lẽ để biến lời MẸ thành hiện thực thì lại gây khó, lại biến MẸ thành bù nhìn, thành vật trang sức, thành lá chắn…, con cháu như vậy thật là lăng loàn!

Quan hệ giữa Dân tộc và “chủ nghĩa Xã hội”, giữa Đảng với Tổ quốc và Nhân dân cũng vậy. Chủ nghĩa là để phục vụ Nhân dân, không thể ngang hàng với Nhân dân. Độc lập Dân tộcChủ nghĩa Xã hội cũng không phải là cặp đôi ngang hàng, Độc lập Dân tộc là yếu tố vững bền tiền định, bất khả nhượng, trong những điều kiện lịch sử cụ thể nếu thấy việc thực hiện “Chủ nghĩa” có phương hại đến Độc lập dân tộc thì Dân có quyền điều chỉnh và xét lại. Trên thực tế, vì yếu tố “Dân tộc, Tổ quốc, Nhân dân” bị “lép vế” nên những người yêu nước, biểu tình chống Trung quốc xâm lược mới dễ dàng bị lực lượng “chỉ biết còn Đảng còn mình” coi là phản nghịch. Vế thuộc về “CON” đã lấn át vế thuộc về “MẸ”.

Đảng là con sinh ra từ Mẹ Tổ quốc phải nằm trong và đứng dưới Tổ quốc và Nhân dân. Nếu “Con” đứng ngang mặt Mẹ như hai lá cờ đã là khó coi, huống chi lấy tiêu chuẩn của “Con” để áp dụng sự phân loại, xét duyệt, sàng lọc, đào thải đối với “cha mẹ” như quan điểm trong bài của một đại tá tiến sĩ trên báo QĐND mới đây, thì gia đình như vậy thật không hổ danh là một gia đình…vô phúc!

Dùng CON vô hiệu hóa MẸ, lấy RIÊNG qua mặt CHUNG, lấy NGỌN phủ định GỐC thì chữ “mất gốc hoàn toàn” của ông Dương Trung Quốc xem ra quả không ngoa.

20-12-2011

Nguồn: Dân Luận

Dân mất đất kêu than, “quan” biến thành địa chủ!

In Liên Kết, Việt Nam on 2011/12/14 at 15:45

Mạc Hồng Kỳ

Theo Người Cao Tuổi

 

Thật không sao tin nổi, tại một địa phương trên mảnh đất cực Nam đất nước, một đội ngũ cán bộ đông đảo trong bộ máy Nhà nước được “ban phát”, chia chác đất đai. Từ đó xuất hiện hàng trăm vị “quan”, những công bộc của dân – khoác áo “địa chủ”, phát canh thu tô…

Kì I: Những nông dân mất đất

Tâm thư của ông Nguyễn Văn Thôn

Trước mặt chúng tôi là người đàn ông (ngụ tại ấp Ranh Hạt, xã Bình Giang, huyện Hòn Đất) có vóc dáng nhỏ bé, khắc khổ. Ông cho biết, gia đình ông là gia đình cách mạng, bởi thân mẫu ông là Bà mẹ Việt Nam anh hùng hiến thân vì Tổ quốc. Còn anh trai ông là lính Tiểu đoàn 307 nổi tiếng… Ông ngồi đọc thật to cho nhà báo nghe bản viết tay dài 4 trang giấy khổ lớn mà ông gọi là “tâm thư tố cáo cán bộ tham nhũng”. Xin tóm lược: Trước năm 1975, gia đình ông khai phá được hơn 160 công ruộng (16 ha) và chính mảnh đất này mẹ ông đã đào hầm nuôi giấu cán bộ. Thế nhưng, đang canh tác ổn định, có sổ thuế hẳn hoi thì năm 1996, cùng với hàng trăm hộ nông dân khác, toàn bộ số ruộng ấy bỗng bị tỉnh lấy giao cho Cty Kiên Tài Đài Loan mà không hề có quyết định thu hồi và bồi hoàn thiệt hại. Năm 2001, Kiên Tài giải thể, lẽ ra đất phải trả cho dân để “dân cày có ruộng” thì “người ta” lại chia cho cán bộ huyện, tỉnh để họ sang bán, cho thuê mỗi người thu lợi hàng trăm triệu đồng… “Tức quá, gần 200 hộ dân chúng tôi khiếu nại thì huyện và tỉnh cố tình không giải quyết, từ năm 1996 đến nay đã 15 năm… Phải chăng quan ăn đất quá đông và quan tham quá nhiều nên không thể giải quyết? Tôi khẩn thiết yêu cầu cán bộ và nhà báo TƯ về điều tra, xác minh. Nếu tố cáo sai tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật, còn tố cáo đúng thì phải xử lí quan ăn đất?” – Càng về sau, giọng người đàn ông ở độ tuổi xưa nay hiếm càng trở nên đanh lại!

“Thưa bác, bác có biết đất của bác được chia cho cán bộ nào không?”. Giở tấm sơ đồ khu đất hình tam giác rộng tới 300 ha, trên các thửa (4-5 ha) được chia đều tăm tắp có ghi rõ tên từng “quan” được cấp đất… Ông Nguyễn Văn Thôn (tên người đàn ông) nói: “Đây, đất của tôi được cấp cho 3 người con của ông Lê Văn Hồng, Trưởng Ban quản lí vùng tứ giác Long Xuyên. Họ đã có sổ đỏ vào năm 2003 và hai năm sau bán cho ông Ba, giá 41 triệu đồng/ha”…

Vợ chồng bà Lượm (bên phải): Mất đất gia đình tôi khốn đốn…

Tuy không đọc “tâm thư” như ông Thôn, nhưng ông Nguyễn Hoàng Em (cựu chiến binh, ngụ cùng ấp, cha là liệt sĩ) cũng “vanh vách”: Gia đình ông có 9 ha đất (3 ha đã xạ lúa được 10 ngày) nhưng cũng bị lấy hết không bồi thường. Toàn bộ diện tích ấy hiện cán bộ tỉnh cho dân nơi khác thuê…

“Dân chúng tôi khổ lắm”…

Cách khu đất 300 ha chia cấp cho 73 cán bộ tỉnh chừng 15 phút ghe chạy là khu đất 200 ha. Đưa tay chỉ những đám đất hoang um tùm cỏ mọc, bà Đinh Thị Bích (71 tuổi, ngụ tại ấp Kênh 9, xã Bình Giang, vợ liệt sĩ chống Mỹ), bức xúc: “Đó là phần đất gần 7 ha mà khi chồng tôi đi đánh giặc, tôi dắt díu các con về đây chặt cây, múc đất… Năm 1996 tỉnh lấy hết, không có giấy tờ gì và hứa sẽ giao đất khác nhưng chờ hoài không thấy. Tôi có 6 đứa con, chúng nó còn khổ quá…”. Cũng theo bà Bích, hiện gia đình phải vay ngân hàng hơn trăm triệu đồng, lãi mẹ đẻ lãi con không biết khi nào trả nổi. Tiếp lời mẹ, ông Lê Văn Phụng, 41 tuổi cho hay, do thấy thu hồi đất trái luật nên ông không chịu giao đất thì bị ông Ngà, công an xã bắt trói, nhốt vô hầm tối…

Cũng tại khu đất ngút ngàn hoang hóa này, ông Trần Văn Ngọc, gay gắt: “Gia đình tôi có 5 ha, năm 1996 cùng với 19 hộ khác ở ấp Kênh 9, chúng tôi bị tỉnh lấy hết đất. Họ chỉ nói miệng và không bồi hoàn… Trong khi dân chúng tôi không có đất mần thì họ bỏ đất hoang suốt 16 năm qua. Chúng tôi ra mần thì họ không cho!”…

Cũng bị công an “ra tay” như ông Lê Văn Phụng nhưng bà Trần Thị Lượm (61 tuổi, ngụ cùng ấp Kênh 9) tuy không bị nhốt vào hầm song lại phải đi cấp cứu. Trước máy thu của nhà báo, bà kể: Gia đình bà có 6 ha đất, năm 1996 khi đang sạ lúa, bỗng có người cho máy đến phá. Bà ra ngăn, hỏi thì họ trả lời, “xã mấy bà bán đất, tui mua về xã mà giải quyết”… Trong khi chưa kịp khiếu nại gì thì ngày 12-1-1996 bà nhận một lúc hai giấy mời (một của công an huyện, một của UBND xã) 9 giờ sáng 13-1 phải có mặt để “làm việc về vụ tranh chấp ruộng đất với Kiên Tài”. Chấp hành, sáng hôm sau bà bỏ cả hai giấy vào túi áo rồi tất tả lên xã. Nhưng khi đến gần kênh 8 thì có 5 người mặc sắc phục công an chặn lại, bắt giữ. Hoảng quá, bà vùng vẫy rồi ngất xỉu, sau đó được chồng đưa lên Bệnh viện Chợ Rẫy ở TP Hồ Chí Minh cấp cứu. “Tiền viện phí hết đâu 1,2 triệu đồng. Tôi nghi bà nhà tôi bị chích roi điện” – Chồng bà Trần Thị Lượm nói!…

Sau vụ mất đất, vợ chồng bà Lượm liên tục khiếu nại nhưng không ai giải quyết. “Người ta khuyên nên nhận tiền bồi hoàn… hai trăm ngàn đồng cho mỗi ha(!), bà nói.

Thấy chúng tôi nhìn quanh căn nhà nền đất gồ ghề, ẩm ướt; vách lá trống huơ, không cửa nẻo, không có một cái giường của gia đình, giọng bà Lượm nghẹn lại: “Hơn 10 năm rồi, dân chúng tôi khổ lắm…”!

* * *

Rõ ràng, tại Kiên Giang đã “hiển hiện” một “phong trào” chia, cấp đất rầm rộ. Theo đó, nhiều vùng đất rộng lớn đã được ban phát, vung tay… Vậy, đối tượng nào được giao tới hàng ngàn ha đất màu mỡ, phì nhiêu?…

Kì II: Những ai là “địa chủ”?

Đối tượng được giao đất

Ông Nguyễn Văn Sáng (54 tuổi, ngụ tại ấp Ranh Hạt, xã Kiên Bình, huyện Hòn Đất) người bị tỉnh thu hồi 5 ha vào năm 1996 và chuyển sang hành nghề “cò” sang nhượng đất cho các quan chức nên biết rất rõ từng khu vực, thửa đất được cấp cho ai, đã bán hay cho thuê, thực trạng canh tác thế nào?…

Đưa chúng tôi đến khu đất 420 ha cấp cho 108 CBCNV của Sở TN-MT ở xã Vĩnh Phú, huyện Giang Thành, vừa chỉ từng thửa đất, ông Sáng vừa đọc vanh vách cán bộ (CB) đứng tên. Để minh chứng, ông đưa ra sơ đồ cấp đất và cả sổ đỏ (cấp năm 2002) của một số người. Tương tự, tại khu 300 ha xã Bình Giang, huyện Hòn Đất cũng được cấp hết cho 73 CB tỉnh. Cũng tại xã này, một khu đất khác rộng 630 ha được cấp cho 313 người, trong đó có khá nhiều đối tượng là CB tỉnh, huyện.

Còn tại huyện Kiên Lương, gần 150 ha khu vực kênh T4, xã Kiên Bình được giao cho 30 CB huyện, tỉnh. Tương tự, khu vực kênh T5 rộng tới hơn 1.000 ha cũng được xẻ thành 320 lô. “Mỗi thửa đất mặt tiền kênh có diện tích 10 ha, còn mặt hậu 5 ha. Rất nhiều CB đã cho dân mướn lại dưới danh nghĩa nông trường.” – ông Sáng nói. Chưa hết, theo thương binh Hoàng Văn Hưng, tại khu vực kênh Một Ngàn, xã Hòa Điền, có 208 CB tỉnh được cấp đất, mỗi người 4 ha. Và, cũng tại huyện Kiên Lương, có đến 353 CB các cấp được giao 5 ha/người ở xã Bình Trị. Còn khu vực gần cầu Lung Lớn, xã Kiên Bình 22 “quan” tỉnh có đất tại đây, mỗi “quan” 10 ha. Riêng hai khu vực cầu 85B và cây xăng Trung Nho có 222 đối tượng được cấp (bình quân 7.000 m2/người), trong đó có 187 sĩ quan quân đội, 35 CB huyện, xã (19 vị có từ 1 đến 3 ha)…

Đại “phong trào” xẻ đất?!

Có thể nói, tại Kiên Giang tồn tại một đại “phong trào” cấp đất cho CB: Rất nhiều CB, từ huyện đến tỉnh, từ đơn vị công quyền đến cơ quan đoàn hội được “chia xôi”… Sơ bộ, chỉ riêng số đất giao cho CB cấp tỉnh đã lên đến hàng nghìn ha (Văn phòng UBND tỉnh 186 ha, Sở TN-MT 420 ha, Liên đoàn Lao động tỉnh 200 ha, Bộ đội Biên phòng 200 ha…). Thậm chí, theo một đồng nghiệp của chúng tôi, không ít nhà báo (có cả PV báo TƯ ở tận Cần Thơ) cũng được chia đất!

Như vậy, nếu tính cả CB cấp xã và thân nhân họ thì con số 10.000 ha đất “cấp sai đối tượng, mục đích” (như lời ông Trương Quốc Tuấn, nguyên Bí thư Tỉnh ủy) không phải là không có cơ sở. Điều đáng nói, theo tố cáo của thương binh Hoàng Văn Hưng, chỉ “vẻn vẹn” 16 CB đã “ôm” đến 769 ha, có vị “chơi” 156 ha (đã bán 6 ha), và xem ra, đây cũng là một kỉ lục, bất ngờ!

Căn nhà của một nông dân mướn đất.

Để thấy được kết quả của đại “phong trào” chia đất, hãy thử hình dung: Một vạn ha là một mảnh đất có bề ngang 1 km và bề dài 100 km, tức bằng tuyến đường Hà Nội – Hải Phòng (hay Sài Gòn – Vũng Tàu) nhưng không phải rộng 15-20 m mà là 1 km! Một so sánh khác: Cả TP Hà Đông (tỉnh Hà Tây cũ) cũng chỉ rộng 16 km2, TP Ninh Bình 46 km2, TP Mỹ Tho 50 km2, TP Biên Hòa 130 km2… Như thế, diện tích đất giao “nhầm địa chỉ” ở Kiên Giang lớn gấp 6 lần TP Hà Đông, hơn 2 lần TP Ninh Bình và gần bằng đô thị công nghiệp Biên Hòa!

Quan chức là “địa chủ”?!

Rõ ràng việc giao hàng nghìn ha đất cho các “quan”, những người chỉ chuyên “cấy cày” trên bàn giấy, tất yếu dẫn đến việc sang nhượng hoặc cho thuê lại “ẵm” tiền (và, dường như đây cũng là mục tiêu cốt lõi của cả người giao đất cũng như kẻ được nhận?)!

Trong hồ sơ của chúng tôi, hiện có không ít sổ đỏ, hợp đồng… sang nhượng đất của CB. Chẳng hạn, gia đình ông Lê Văn Hồng bán cho vợ chồng ông Nguyễn Văn Ba 12 ha với giá 41 triệu đồng/ha vào năm 2005. Ông Nguyễn Quốc Vinh, ông Trần Trương Hiển, bà Phạm Kim Mai bán cho gia đình ông Phạm Văn Đúng hơn 11 ha, giá hơn 90 triệu đồng/ha vào năm 2008 (giá bán hiện tại không dưới 220 triệu đồng/ha), ông Lê Văn Mót, ông Lê Văn Kiệt bán 9 ha cho bà Trần Thị Ngoan năm 2006…

Đó là bán đất, còn cho thuê? Ông Nguyễn Trí Nguyện cho bà Lê Thị Tuyết Lan ở Hòn Đất thuê 10 ha (Bà Lan cho ông Trương Minh Cường thuê lại với giá 60 giạ lúa/ha), ông Đoàn Phú Thỉnh cho ông Nguyễn Văn Chính ở Kiên Lương thuê 10 ha (60 giạ/ha), Bà Phan Thị Hằng cho ông Nguyễn Lâm ở An Giang thuê 10ha (15 triệu đồng/ha/năm). Ông Trương Thái Hiền cho bà Sáu Hoàng ở Sóc Soài thuê 10 ha (4 triệu đồng/ha), v.v…

Trên chiếc vỏ lãi (xuồng lá), ông Sáng cùng “đồng nghiệp” đưa chúng tôi đến từng thửa đất, nơi các quan chức biến thành “địa chủ” qua việc “phát canh thu tô”, để gặp những người nông dân mướn đất. Trong căn nhà lụp xụp, nhỏ bé giữa mênh mông đồng nước, ông Trần Văn Quang, 53 tuổi, cho hay: Do thiếu đất ở quê (An Giang) nên năm 2008 vợ chồng ông dắt díu nhau đến đây mướn 10,6 ha đất của CB tỉnh Nguyễn Thạnh qua “cò” đất Hoàng Long. Khi ấy vẫn là đất hoang, tràm mọc như rừng nên ông phải khai mở, bang múc… Tuy bỏ bao mồ hôi, công sức nhưng sau khi trừ “tô” (năm đầu 30 giạ/ha, năm sau 40 giạ và năm nay 60 giạ) số lúa còn lại cũng chẳng đáng là bao, chỉ đủ sống đắp đổi qua ngày. “Căn nhà này cũng đâu phải của tui” – ông nói! Tương tự, ông Trương Minh Cương, 52 tuổi, người thuê đất của hai “địa chủ” trên tỉnh tâm sự: “Cực chẳng đã mới phải đi mướn đất nhà báo ạ. Bởi, không mướn biết phải làm gì”?

Mạc Hồng Kỳ

Người Buôn Gió – Đi tù và đi cải tạo

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Việt Nam on 2011/12/11 at 11:29

 

Đi cải tạo là đi gì ? Nhiều người vẫn nghĩ là đi cải tạo thì nhẹ hơn đi tù, đi cải tạo là ngồi trong lớp học về đạo lýđược các cán bộ tận tâm, có tấm lòng, tức là những thầy giáo trong bộ quần áo công an. Giảng và cư xử với học trò với những tấm lòng yêu mến, cảm hóa học trò bằng tình nghĩa để sau này các học trò trở thành người tốt. Những câu chuyện thường có trên mặt báo nhất là những số báo Tết cuối năm về ơn nghĩa của người thầy, người quản giáo trong trại giam. Thêm hình ảnh người học trò giờ đã có cuộc sống thành đạt, có ích cho xã hội. Thật ra thì những người tù trở về sống đời lương thiện là rất ít số với những số tái tù.

Làm người lương thiện ở Việt Nam khó hơn làm tiến sĩ cả vạn lần. 100 người bảo vệ luận án tiến sĩ hầu như đạt cả 100. Nhưng 100 thằng tù mà trở về xã hội, may lắm chỉ có 1 hay 2 thằng trở thành người tử tế, nghĩa là tìm công việc tử tế sống cuộc đời lương thiện đến cuối đời. Nếu bạn không tin, bạn hãy nhìn quanh nhà bạn xem những thành phần đi tù, đi cai nghiện có bao nhiêu người trở thành người tử tế. Sau đó bạn hãy phản bác lại tôi chưa muộn.

Trại cải tạo và nhà tù là một. Nhà tù thì có hai loại, nhà tù giam cứu và nhà tù cải tạo. Nhà tù giam cứu là giam phạm nhân còn đang trong giai đoạn điều tra củng cố hồ sơ, cáo trạng, hay phạm nhân đã kết thúc hồ sơ chờ tòa xử. Sau khi có án phạt của tù , phạm nhân từ trại giam cứu đợi có đợt là chuyển đến trại tù cải tạo. Còn phạm nhân đi theo diện cải tạo là do chính quyền địa phương xét thấy hư hỏng nhiều lần, nhưng chưa có lần nào đủ để đưa ra tòa kết án tù thì họ đề nghị cho đi cải tạo. Hư hỏng theo kiểu chính quyền đánh giá thì vô cùng, nhiều khi chỉ ngồi hàng nước tán láo, thấy cán bộ không chào, tóc tai quần áo nhìn ngứa mắt, tụ tập đàn đúm ôm đàn ca hát cũng đủ yếu tố đi cải tạo. Đi cải tạo thì thời hạn tính theo từng lệnh, trước kia là lệnh cải tạo thường là 5 năm, giờ xuống 2 năm. Nếu trong trại cải tạo mà chưa được ưng lòng cán bộ, thì chuyện giữ thêm lệnh tiếp theo và tiếp theo nữa là thường tình. Bởi vậy nhiều tù cải tạo mòn mỏi quá, tiếc nuối than rằng thà cứ phạm tội còn có hạn tù, còn có ngày về. Chứ đi cải tạo thì mịt mù ngày về quê mẹ luôn.

Ở trại cải tạo chuyện học viên ngồi trên bàn ghế, thầy giáo giảng bài là chỉ có trong phim tuyên truyền. Chứ con người mới CNXH là phải lao động, lao động, lao động mới  cải tạo được thành người lương thiện. Cho nên ở nhà tù cải tạo chỉ có công việc duy nhất là lao động đủ mức khoán là thước đo duy nhất đánh giá sự tiến bộ của phạm nhân. Thời bao cấp trại cải tạo chỉ chú trọng đến việc giam giữ tù nhân, lao động không nặng nề lắm, bởi thời cuộc lúc đó thì cũng chả có việc gì mà làm. Ngoài xã hội công nhân đi làm cũng vật vờ, có máy móc, có phát triển nhiều đâu mà có việc để làm. Sau này thời mở cửa từ năm 90 trở đi, xã hội mở mang tạo ra nhiều công việc, cần đến nhiều nguồn nhân lực xã hội. Người ta nhận thấy các tù nhân ( tù có án và tù cải tạo) là một nguồn lao động khổng lồ đầy tiện lợi, Việc tái đầu tư vào lực lượng lao động này rất rẻ mạt, một năm 2 bộ quần áo, mỗi tháng mươi cân gạo, mươi cân rau và vài lạng thịt.

Ở trung tâm  trại cải tạo người ta chỉ giữ lại một vài đội tù như đội bếp, đội vệ sinh, đội rau xanh, đội đan lát, mộc để làm cảnh cho các đoàn tham quan đến chiêm ngưỡng. Thường những tù cải tạo ở đội rau xanh, vệ sinh là tù mà gia đình đã lo lót hay có quan hệ. Những tù này có điều kiện gia đình khá giả, lao động nhàn lại có đố tiếp tế nên họ sạch sẽ, có da có thịt hơn. Khách tham quan , đoàn công tác đến nhìn đều tấm tắc khen trại cải tạo chăm lo đời sống phạm nhân tốt….

Nhưng cuộc sống thật của trại cải tạo ở đằng xa hơn đó vài cây số hoặc vài chục cây. Đó là những khu, những đội lẻ. Nơi mà trại cải tạo nhận hợp đồng với những công ty, cá nhân bên ngoài để lấy việc cho tù nhân làm. Nếu những việc có thể gia công tại trại, nhận vật liệu về gia công rồi chuyển lại cho cơ sở kinh doanh thì được làm gần trại. Còn những viêc mà đối tác đòi hỏi làm tại nơi của họ thì trại cải tạo lập ra những đội tù lẻ, có quản giáo, lính gác đi kèm đến hiện trường làm việc, trường hợp này thường là lò gạch, bến phà, mỏ đá. Làm ở những nơi này tù khổ nhất, vì lao đông nặng nhọc, mọi quyền hạn đều tất ở trong tay quản giáo và đám lính vũ trang. Quản giáo lại được doanh nghiệp thưởng thêm nếu đốc thúc tù làm đủ hay vượt năng suất, hoặc quản giáo là người trực tiép ký hợp đồng nhận việc với doanh nghiệp, với phía trại cải tạo thì quản giáo cũng nhận mức khoán trên đầu phạm nhân. Ví dụ quản giáo nhận 50 phạm nhân thì mỗi tháng nộp về trại 50 đồng. Còn chuyện quản giáo ký với doanh nghiệp về số lượng sản phẩm hoàn thành thu lại bao nhiêu , chênh lệch thế nào…thì là chuyện quản giáo với doanh nghiệp thuê lao động.

Tù có án và tù cải tạo ở chung với nhau, mức sống, lao động như nhau. Đều trong hoàn cảnh cải tạo như vậy. Cho nên nhiều tù cải tạo vẫn chửi câu cửa miệng rằng.

– Đời có lắm thằng ngu, bố đi tù nó bảo đi cải tạo.

 

Nguồn: Người Buôn Gió
Cùng tác giả:

Người Buôn Gió – Tái cơ cấu thần chưởng

Người Buôn Gió – Đêm dài biên ải

Người Buôn Gió: 18-3 trại Thanh Hà

Người Buôn Gió – Người Nông Dân Nổi Dậy

Người Buôn Gió – Hóa ra đều ăn cắp hết

Người Buôn Gió – Đi tù và đi cải tạo

Người Buôn Gió – Con trâu của ai?

Người Buôn Gió – Hà Nội trong mắt ai

Loạt bài Đại Vệ Chí Dị:

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị – Mọi sự quái đản đều là do… thế lực thù địch

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị: Cứ đổ cho thế lực thù địch xúi dục là OK!

Giờ phẫn nộ!

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2011/12/03 at 01:10

Giờ phẫn nộ![*]

VietSoul:21

Huỳnh Ngọc Tuấn – Thục Vy – Trọng Hiếu (Nguồn: Dân Làm Báo)

Tôi không còn tin vào mắt mình khi đọc được những giòng tin tức về gia đình họ Huỳnh trên mạng. Một gia đình người Việt Nam cùng quê hương xứ sở mà tôi tuy chưa từng gặp lại có mối đồng cảm và chưa có duyên để tỏ bày. Nhưng tôi vẫn xem là bạn—những người bạn thầm lặng của tôi đã từng bị quấy nhiễu, hành hung và trong giờ phút này bị cô lập, cưỡng bức, cướp bóc tài sản, đánh đập dã man, vu khống, chế tài bằng “luật lệnh”[1] và khủng bố[2].

Tôi phải lên tiếng.

Tôi phải gào thét, căm phẫn cùng các bạn.

Tôi phải tỏ lòng mình cho các bạn biết. Bạn bị cô lập nhưng không bao giờ cô đơn đâu. Vì chúng tôi vẫn bên cạnh bạn.

Họ muốn bịt miệng các bạn. Chúng tôi sẽ lên tiếng.

Họ muốn đày đọa các bạn. Chúng tôi sẽ nâng đỡ và an ủi.

Đúng, cái ác bao giờ cũng đáng sợ, nhưng đáng sợ hơn là sự dửng dưng.[3]

Giờ phút này thì tôi có thể tin gì và làm được những gì?

Tôi tin vào Chúa Giêsu. Tôi tin vào Phật Thích Ca. Hai đấng cách mạng nhân bản cho thế giới trần tục này. Đấng rao giảng bình đẳng, công bằng, bác ái. Đấng rao giảng giải phóng bản ngã, cứu khổ, vị tha.

Tôi tin vào Mahatma Ghandi, Martin Luther King Jr., hai nhà cách mạng bất bạo động, phản kháng các thế lực áp bức, bất công. Cuộc đời họ là thông điệp cho hậu thế.

Tôi tin vào Nguyễn Trãi – Bình Ngô Đại Cáo, Lý Thường Kiệt – Nam Quốc Sơn Hà.

Tôi hoài nghi về các tuyên ngôn và chủ thuyết. Nhưng tôi tin là có những nỗi đau. Tôi tin vào em Kim Tiến, em Thanh Tuyền trong “hành trình đi tìm công lý”[4]. Tôi tin vào cái cảm giác sợ hãi, lòng thương xót và cảm xúc phẫn nộ. Tôi tin vào tấm lòng cô Phương Bích và cô Bùi Hằng.

Tôi tin vào bác Lê Hiền Đức và dân oan An Giang trong nỗi oan khiên mất đất, mất nhà với khẩu hiệu nguệch ngoạc “Bỏ mạng, không bỏ đất”, “Thà chết không bỏ đất”, “Dân tình An Giang, Tức nước vỡ bờ, Vật giá leo thang, Nhân gian khổ ải, Giải tỏa cưỡng chế, Đói nghèo công nô”.

Độc Lập, Tự Do, Nằm co vệ đường

Tôi tin vào linh mục, tu sĩ, và giáo dân Thái Hà đang chịu hành hung, đánh đập, trấn áp, bắt giam khi biểu tình phản đối chính quyền “mượn” và cướp đất nhà thờ.

Tôi tin vào ông Nguyễn Văn Lía, tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo, sáng lập khối PGHH Truyền Thống, vì đấu tranh đòi hỏi quyền tự do tôn giáo nên đang bị cầm tù, bị ép cung đánh gãy xương sườn, và tin cô con gái Nguyễn Thị Luạ đi thăm nuôi đã phẫn nộ gào thét “xin sự xót thương của mọi người, cứu cha tôi” và chắp hai tay, ngước mặt lên trời van xin “Kính Đức Phật, Đức Thầy và Trời cao xin hãy cứu cha con”[5].

Tôi tin vào những con người của một thời cương quyết nay chai lạnh vì “đã mỏi mòn, cái mỏi mòn của những con người đành nuốt nước mắt vào trong” và cũng có người phải chọn “tự quản thúc mình”[6].

Tôi vẫn còn nghi ngại về những buổi tiệc ê hề rượu bia tràn ly nhưng lại đặt trọn niềm tin với một chút tình chưa cạn trong giờ hoạn nạn.

Tôi chẳng mảy may hoài mộng về cõi vĩnh hằng, chốn niết bàn nhưng tôi tin vào cuộc đời và cuộc sống này.

Tôi tin vào các bạn, những người tử tế, những người biết sợ nhưng vẫn lên tiếng và hành động vì các bạn biết rằng “khi ta câm lặng ta vẫn ôm nỗi sợ”[7]

Tôi tin vào “những điều không thể quên, những sức mạnh tiềm tàng”[8] mà tất cả các bạn đã đặt trọn niềm tin vào. Để phẫn nộ và dấn thân.

© 2011 Vietsoul:21


[*] Indignez Vous! Time for outrage! “There are unbearable things all around us. You have to look for them; search carefully. Open your eyes and you will see. This is what I tell young people: If you spend a little time searching, you will find your reasons to engage. The worst attitude is indifference.” (Hãy phẫn nộ! Đây là lúc nỗi thiên đình! Chung quanh ta đầy rẫy bao điều không thể chịu đựng nổi. Hãy để ý đến các điều ấy, sục sọi cho cẩn thận nhé. Bạn sẽ thấy liền nếu mở mắt ra. Tôi thường khuyên các bạn trẻ như thế này: chỉ cần để tâm một chút thì bạn sẽ tìm ra lý lẽ để dấn thân. Thói dửng dưng là thái độ tồi nhất) ― Stéphan Hessel

[1] Luật Lệnh, Vietsoul21.net

[3] “The world is a dangerous place, not because of those who do evil, but because of those who look on and do nothing.” (Thế gian này là một chốn hiểm nguy, không phải bởi những người gây ra tội ác, nhưng vì những ai người trớ mắt nhìn và không làm gì cả) ― Albert Einstein

“Washing one’s hands of the conflict between the powerful and the powerless means to side with the powerful, not to be neutral.” (Khi phủi tay với những xung đột giữa cường quyền và người cô thế thì đồng nghĩa với chuyện ta đứng về phía kẻ cường quyền, không còn vô thiên vị nữa) ― Paulo Freire

“I swore never to be silent whenever and wherever human beings endure suffering and humiliation. We must always take sides. Neutrality helps the oppressor, never the victim. Silence encourages the tormentor, never the tormented.” (Tôi thề là sẽ không bao giờ câm lặng trong bất cứ lúc nào ở bất cứ nơi nào mà con người bị khổ nạn và sỉ nhục. Chúng ta luôn phải chọn đứng về một phía. Trung lập chỉ giúp kẻ đàn áp, chẳng trợ giúp gì cho nạn nhân. Im lặng chỉ khuyến khích kẻ tra tấn thêm, không hề động viên người bị nhục hình.) ― Elie Wiesel

[4] Hành Trình Đi Tìm Công Lý, Nguyễn Thị Thanh Tuyền – Đàn Chim Việt

[6] Tôi sẽ tự “quản thúc” mình, Đỗ Trung Quân – Dân Luận

[8] The only dream worth having…

“The only dream worth having…
is to dream that you will live while you’re alive and die only when you’re dead…
which means exactly what?’…
To love. To be loved.
To never forget your own insignificance.
To never get used to the unspeakable violence and vulgar disparity of life around you.
To seek joy in the saddest places.
To pursue beauty to its lair.
To never simplify what is complicated or complicate what is simple.
To respect strength, never power.
Above all, to watch.
To try and understand.
To never look away.
And never, never to forget.”

Duy ước mơ đáng có …

Một ước mơ đáng có
là mơ được thực sự sống khi còn và chỉ chết khi lìa đời …
mơ thế để làm gì?! …
Để yêu. Để được yêu.
Để không bao giờ quên mình mỏng manh vô nghĩa.
Để không bao giờ trơ chai với bạo lực vô ngôn và cách biệt thô bỉ trong đời quanh bạn
Để tìm ra niềm vui khi tận cùng trong chốn thảm buồn
Để theo đuổi cái đẹp đến tận cùng hang ổ nó
Để không bao giờ đơn giản hoá những gì phức tạp hay tạo rối rắm cho những giản đơn
Để trân trọng sức mạnh, không nề quyền lực
Và trên hết, dõi nhìn
Để gắng hiểu
Để không bao giờ ngoảnh mặt quay lưng.
Và không bao giờ, không đời nào quên.

Arundhati Roy

Bút Gà (chấp bút) Đinh Thế Huynh gởi các cô cậu Nghị

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2011/11/30 at 08:37

IQ cao - Dân trí thấp (Nguồn: Dân làm báo)

Tớ, Bút Gà, chấp bút cho (thủ) anh Đinh Thế Huynh của bộ hầu đồng (BCT) bình vôi[1] đảng CSVN, gởi lời phán của bà đến các cô/cậu Nghị. Phán đây là cho các cô/cậu Nghị (viên) Quốc Hội (quốc hủi) ấy, chứ không phải cậu Nghị cầu tự của Bà được sắp xếp đến nơi đến chốn, ghế mát bát vàng[2].

Bà phán rằng các cô/cậu Nghị chỉ cần làm đúng một việc với chức năng “gật” là đủ rồi. Chứ đừng mồm miệng mắm tôm phát biểu linh tinh, lang tang thối hoăng làm ô uế phủ bà. Bà bảo cậu Phước có hung hăng con bọ xít tung hô vạn tuế bà thì cũng chả thêm miếng lộc nào đâu. Thóc bà chỉ có ngần ấy. Chia hết cho các cô, các cậu ở bao cơ chế trong ngoài Đảng nên chẳng còn thừa để cậu ta mót.

Cậu Phước có to tiếng hơn cái phèng la (Đông La) chém gió vào lịch sử bôi nhọ cụ Phan Bội Châu thì cậu cũng giữ chân thủ nhang cho phủ bà thôi. Thế cũng là hơn cái phèng la (Đông La)[3] ngậm cứt phun (người) vào tay Cù Huy Hà Vũ chỉ súng sính cái chân lính anh, lính chị hầu bà. Cậu nói leo rằng thì là “Người Việt Nam yêu sự công bằng nên không ai chấp nhận đa đảng” làm gì? Anh Đinh Thế Huynh của bà đã nhắn cậu để độc quyền bảo kê, cầu chứng tại phủ bà câu “Việt Nam không có nhu cầu đa đảng”[4] rồi. Chớ có mà lẻo mép bị ăn tát sái quai hàm đấy nhá!

Bà thì phán thế nhưng riêng cá nhân tớ, Bút Gà, thấy cậu Phước cũng được việc đấy. Quốc hội thì phải có phát biểu tranh luận qua lại chứ “gật” mãi thì chai mặt à. Phải có kẻ tung, người hứng thì mới gọi là sân khấu chứ lị. Ngay cả anh Tấn Dũng, Tấn Sang cũng đang lấn sân Tấn Tài, vị “Hoàng đế đĩa nhựa” cải lương để ca những bài mùi hết biết chứ lỵ. Anh Ba ca sáu câu vọng cổ trích đoạn “Luật biểu tình” trong tuồng “Dân chủ đầu mưng mủ” làm mủi lòng giới mộ điệu. Các fan Tấn Dũng tụ tập reo hò bị fan Công An với số đông áp đảo hốt trọn về trại phục hồi nhân phẩm[5]. (he he, ta tước hết nhân phẩm của chúng, rồi ta lại bắt chúng vào trại phục hồi. Chẳng phải là đôi ngã sang ngang, điếm đàng đểu cáng nhất đảng à!)

Anh Ba tài thật, ca đếch chê đâu được. Ca ầu ơ ví dầu, cả trái lẫn phải đều mù tịt mà nội ngoại lại đề huề. Vừa vuốt ve xoa dịu bức xúc giới trí thức đòi hỏi quyền biểu tình khi tung chước giải trình trước quốc hội và đề nghị “gật” thông qua chương trình xây dựng “Luật biểu tình” mà anh Ba đã giao bộ Công An soạn thảo. Vừa trấn an anh cả là đàn em vẫn tùng phục “trên căn cứ thoả thuận mọi nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề mà ta và Trung Quốc ký mới đây trong chuyến thăm của TBT Nguyễn Phú Trọng.” Anh Ba ở tận trung ương thoải mái vận vai kép độc ca sáu câu vọng cổ, mặc tay chân đàn em địa phương chịu trách nhiệm “dân của mày thì mày về mà giải quyết”[6], mày hốt tùy tiện.

Bút gà tớ thì được giao trách nhiệm soạn tuồng. Các cậu đừng tưởng tớ làm chấp bút là lề mề chỉ ngồi ngoáy hũ cáy đấy à. Tớ bận không kể xiết. Bà bảo tớ phải khảo cứu, điểm báo bọn “tư bản giãy chết” để điều nghiên, viết tuồng cho mấy anh không chệch hướng dân chủ, tự do. Các cậu không thấy khi mợ Doan ngẫu hứng tự biên tự diễn ca đoạn “dân chủ … khác hẳn về bản chất và cao hơn gấp vạn lần dân chủ tư sản …” nhưng cũng rất hơi bị cùng tuồng “Dân chủ đầu mưng mủ” của anh Ba mình.

Rằng cao quả thật là cao, nhân dân cứ việc mơ phào tào lao.

Đây này, để tớ kể chuyện buồn cười. Tớ vừa đọc được bài báo về chuyện ông Thống đốc Tiểu bang Kansas tận bên Mẽo xin lỗi cô học sinh trung học, quả là bọn chúng hâm thật:

Đọc tiếp »

Bạch Hầu

In Liên Kết, Việt Nam, Văn Chương on 2011/11/26 at 14:11

( Trích trong cuốn ĐẠI NAM BỊA TRUYỆN – NXB NGỌC DƯƠNG TRUNG SƠN )

Sau khi dâng đất Hà Tiên cho Chúa Nguyễn ( 1708 ), Mạc Cữu được  phong chức Tổng Binh Quan, được cấp 100 lính và khí giới để giữ thành Hà Tiên, được đúc tiền riêng và hàng năm chỉ cống nộp sản vật như ngà voi, sáp ong, cao hổ cốt, mật gấu, lúa gạo. Một hôm, Chúa Nguyễn Phúc Chu ngồi xem chương trình thế giới động vật trên tivi, thấy rừng Hà Tiên có nhiều con vượn trắng, gọi là bạch hầu, Chúa thấy mê quá, bèn gọi điện cho Mạc Cữu phán rằng: “Năm nay, nhà ngươi phải nộp cho ta 100 con bạch hầu, không cần ngà voi hay sáp ong gì cả”.

Mạc Cữu liền ra lệnh cho đám kiểm lâm đi gài bẫy, vừa tổ chức thu mua ròng rã mấy tháng liền, cuối cùng cũng kiếm đủ 100 con bạch hầu mang ra Phú Xuân cống nộp. Cũng như hàng năm, khi thuyền buồm đi qua Hội An, Mạc Cữu cùng thuộc hạ là Trương Cầu cho dừng lại một ngày một đêm để ăn chơi, trà đình tửu điếm. Hôm ấy, khi thuyền chuẩn bị nhổ neo thì bất thần, một con bạch hầu xổng chuồng chạy mất. Mạc Cữu treo giá cao cho những ai bắt được, nhưng chờ cả ngày trong vô vọng, bèn than thở với Trương Cầu: “Ngươi nghĩ coi phải làm cách nào đây, thiếu một con thì không thể nào mang ra dâng lên Chúa, hay là ta gọi điện về bảo chúng nó tìm một con khác để mang ra, ta cứ ở đây mà chờ, nhưng tìm được một con bạch hầu đâu phải là chuyện dễ, rồi đường xá từ Hà Tiên ra đây phải qua mấy núi mấy sông . . .”

Trương Cầu ngẫm nghĩ một lát, đôi mắt bỗng sáng lên: “ Ngài yên tâm, Trương nầy đã có cách”, vừa nói, y vừa nhảy thót lên bờ rồi mất hút. Một giờ, hai giờ trôi qua, Mạc Cữu ngồi chờ đến sốt ruột. Đến xế chiều, Trương Cầu trở về với nét mặt hớn hở, hai tay ẳm con chó cò trắng phếu. Mạc Cữu vừa mừng vừa lo: “Lỡ Chúa mà biết được thì có khi ta với ngươi không có đường về vì cái tội lừa đảo”. Trương Cầu tự tin nói: “Làm sao mà Chúa phân biệt được bạch hầu với chó cò, cũng như những năm trước, mình nộp cao bò cao trâu mà nói là cao hổ cốt vậy thôi”. Mạc Cữu nói: “Bởi vậy Chúa nghi ngờ nên sau nầy bắt mình phải mang hổ sống ra nấu cao tại chỗ, ngươi không hiểu à ?”. Trương Cầu đáp: “Biết, nhưng cuối cùng thì cao thật cũng bị bọn ngự y đánh tráo cao giả, Chúa có biết đâu, triều đình bây giờ mà ngài tưởng là còn kỷ cương à, ngài đâu biết rằng bọn thái giám vẫn còn nguyên si ấy , chúng nộp toàn là dái chó, chúng như gươm lạc giữa rừng hoa , gái trinh vừa tiến cung là chúng hưởng trước rồi thuê bọn ngự y vá trinh đem nộp cho vua”. Nói rồi, Trương Cầu ném con chó cò vào chuồng, đúng là không phân biệt được, Mạc Cữu gật đầu rồi cho thuyền xuất bến.

Ra đến kinh thành, Chúa Nguyễn đã cho đóng một cái chuồng khổng lồ trong khuôn viên rộng lớn, chuẩn bị sẵn một đống trái cây. Mạc Cữu cho thả đàn bạch hầu vào chuồng, chúng ùa đến hốt trái cây, vừa ăn vừa múa lung tung, Chúa ngồi vỗ tay khoái chí, thỉnh thoảng vỗ vai Mạc Cữu mà khen lấy khen để, Mạc Cữu sung sướng vô cùng.

Trong khi đám bạch hầu vừa ăn vừa múa lung tung thì con chó cò nằm chèo queo một góc. Chúa hỏi Mạc Cữu: “Ủa, sao con đó không ăn không múa gì hết vậy ?”. Mạc Cữu ấp úng: “Dạ bẩm, con đó . . . con đó nó . . . nó . . . là . . . là . . . con . . .” sợ Mạc Cữu nói “là con chó cò” thì bể mánh nên Trương Cầu vội đỡ lời: “Dạ, nó là con lãnh đạo mấy con kia”. Chúa ngạc nhiên hỏi : “À, thì ra là vậy ! Thế nó ăn cái chi ?”. Mạc Cữu đáp: “Dạ bẩm, nó ăn cứt ạ”

Nguồn: Đắc Danh Miền Tây

Nguyễn Thị Thanh Tuyền – Hành Trình Đi Tìm Công Lý

In Liên Kết, Việt Nam on 2011/11/23 at 12:49

 

BBT: Công lý không còn nữa cho người miền Nam từ ngày “đổi đời”. “Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý, Đồng Khởi lên rồi mất Tự Do”.


Ngày đầu tiên bước chân đến Hà Nội trời hơi se lạnh, cảm giác trong lòng tôi thật khó tả. Mọi vật xung quanh tôi điều rất lạ, và tôi thấy dường như lòng mình đang nghi ngại khi phải đứng trước nhiều khó khăn không tên ở lúc sắp bắt đầu cuộc hành trình đi tìm chân lý trong cuộc sống lần này.

Tôi thấy mình ngơ ngác như một đức trẻ khi nghĩ trong lòng mình không biết rồi hai mẹ con tôi sẽ đi đến đâu về đâu giữa thủ đô đất lạ quê người.

Sáng ngày 17 tháng 11, hai mẹ con tôi đã đến Bộ Công An để nộp đơn kêu oan cho chồng nhưng ở đây không nhận đơn. Tình cờ tôi cũng gặp nhiều người khác đi kêu oan. Hoàn cảnh mà giống tôi nhất là em Trịn Kim Tiến.

Thật là đau lòng biết bao!

Tôi đi kêu oan cho chồng bị Công an Bình Dương đánh chết còn em Tiến thì đi kêu oan cho Bố bị Công an Hà Nội đánh chết.

Tôi nghĩ mình hiểu rất rõ cảm giác bị mất đi một người yêu thương là như thế nào, tôi mất chồng, Tiến mất cha. Có lẽ đó là lý do duy nhất khiến chúng tôi, dù không nói nhiều với nhau, nhưng đủ hiểu và cùng im lặng đồng hành đi trên một con đường.

Con đường mà chúng tôi đi tìm là con đường “công lý “.

Chúng tôi đã chầm chậm bước đi qua những con đường của Hà Nội, những tiếng xì xầm xung quanh chúng tôi:

– “Bị sao thế ? À, vụ ông Tùng đó à? Thật là tội nghiệp cho cái Tiến!”

– “Còn ai thế kia?”

Có một người khác trả lời: “Đây là vụ anh Nguyễn Công Nhựt bị Công an Bình Dương đánh chết, hai mẹ con lặn lội hàng ngàn cây số để ra đến tận Hà Nội đi kêu oan cho con, cho chồng đấy. Thật là tội mẹ con họ…!”

Khi nhận được chia sẻ của bà con đi trên đường, tôi thấy lòng mình đỡ bớt hiu quạnh. Giữa thành phố Hà Nội không một ai thân thích nhưng ở đây ít nhiều tôi đã được thông cảm, an ủi bởi những con người có tấm lòng bác ái.

Tuy được mọi người chỉ dẫn nhiệt tình đi đến Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao, nhưng đến đây tôi thấy bảng treo trước cửa hôm nay không có tiếp dân. Hai mẹ con tôi lại tiếp tục lặng lẽ bước đi cùng em Tiến đi qua biết bao nhiêu con đường để đến Tòa án Thành phố Hà Nội vì theo tin trên báo đưa hôm nay là ngày xử vụ án của bố Tiến.

Khi không nhận được thông tin chính thức về phiên tòa, tôi biết nỗi lòng của em hiện giờ như thế nào.

Đến đây biết bao nhiêu con người đi qua đi lại nhìn chúng tôi trước tòa án. Họ nhìn chúng tôi bằng đôi mắt thương cảm, Họ bảo chúng tôi cố gắng vượt qua nỗi dau mất mát này, những chặng đường chúng tôi đi tìm công lý còn dài lắm… phải cố gắng.

Đáp lại những lời động viên của bà con là những giọt nước mắt chạy dài trên đôi má của Mẹ và tôi.

Nhìn thấy mẹ khóc lòng tôi đau biết chừng nào, Tôi tự nhủ trong lòng”Con xin lỗi mẹ vì chuyện chồng con mà mẹ phải khóc. Con hứa sẽ lấy lại nước mắt mà Mẹ đã khóc cho chồng con.”

Đứng im lặng trước tòa án một hồi lâu, chúng tôi lại đi tiếp đến phòng Thanh Tra của Bộ Công An để nộp đơn kêu oan.

Đến đây tôi đã vào được phòng tiếp nhận hồ sơ, các anh công an hứa sẽ chuyển lên cấp trên giải quyết rồi nói tôi ra về.

Vậy là đơn khiếu nại và tố cáo khẩn cấp lần 11 của tôi đã được nhận sau một hành trình xa xôi từ Bình Dương. Dù không biết là những lá đơn của tôi có thực sự đến tay của người cần đến không, tôi và gia đình luôn đặt niềm hy vọng là công lý sẽ được thực thi.

Sáng 8h30 ngày 18/11/2011, tôi đến VKSND Tối Cao rất nhiều người ở đó cũng đang chờ nộp đơn kêu oan như tôi.

Hầu hết những lá đơn kêu oan là về đất đai: Có một bác trạc khoảng 65 tuổi đã nộp đơn kêu oan đến lần 155 nhưng vẫn không được giải quyết dù đến đây nhiều lần nhưng chưa một lần gặp bất kỳ một lãnh đạo nào ở đây, Bác ấy nói rất bức xúc. Nhiều người khác cũng giống như Bác.

Mọi người nghe mẹ con tôi nói giọng miền Nam nên họ đã biết chúng tôi từ Sài Gòn ra. Nhiều người đến hỏi thăm và chia sẻ và họ cũng bức xúc trước cái chết của anh Nhựt. Đến đây tôi cũng nhận được sự chia sẻ của chị Ngọc làm trong Văn phòng tiếp nhận hồ sơ của VKSND Tối Cao. Chị hứa sẽ chuyển hồ sơ của tôi lên cho ông Nguyễn Hòa Bình Viện Trưởng VKSNDTC. Nghe chị nói thế tôi cũng thấy yên tâm và tin rằng mình sẽ gặp được người tốt.

Sau đó tôi qua Văn phòng Quốc Hội nhưng qua đây người trực cổng bảo ở đây không tiếp nhận đơn mà phải về số 01 Ngô Thị Nhậm, Hà Đông, Hà Nội cách đây khoản 20 cây. Tôi đón xe để đi đến đường 01 Ngô Thị Nhậm nhưng Anh Taxi chở một vòng thả chúng tôi xuống bảo đến chỗ đó nhìn xung quanh tôi không thấy đường Ngô Thị Nhậm đâu mà tôi thấy đường Ngô Quyền.

Thế là tôi bị lừa rồi.

Tôi tiếp tục đón xe đến Văn phòng Chính Phủ, Các Anh Công An bảo ở đây không có tiếp nhận đơn phải về số 01 Ngô Thị Nhậm, Hà Đông, Hà Nội cách đây hơn 15 cây nhưng bây giờ là 10h45 thì đi không kịp rồi giờ này đến đó là hết giờ làm việc.

Thế là hết một buổi sáng tôi chỉ nộp được một đơn tại VKSNDTC. Tiếng thở dài của Mẹ tôi làm tôi chạnh lòng. Tôi an ủi và nói với Mẹ đi tìm công lý là vậy đó Mẹ à. Mẹ đừng buồn nữa Mẹ.

13h trưa, tôi và Mẹ đón taxi đi đến 01 Ngô Thị Nhậm, Hà Đông. Cuộc hành trình lại tiếp tục gian nan.

Người lái xe chở tôi đến Ngô Thị Nhậm, Hai Bà Trưng. Tôi bảo: “Ở đây không phải, ở tận Hà Đông cơ? Tại sao chở tới chổ này??

Thật ra tôi đâu biết Hà Đông là chỗ nào đâu.

Thế là tiếp tục hành trình đi đến Hà Đông, khi đến văn phòng Trung Ương Đảng và Nhà Nước là gần 15h, tôi đã mất hai tiếng đồng hồ đi taxi.

Tôi đã lỡ khóc lỡ cười lại bị lừa một lần nữa.

Khi đến đây tôi không đem theo CMND, anh tiếp dân không đồng ý tiếp nhận đơn của tôi, tôi đã giải thích hết lời vì tôi đã đưa cho khách sạn giữ rồi.

Tôi đã khóc vì tốn quá nhiều thời gian vậy mà xuống đây lại bị như thế này tôi chứng minh cho anh: “Tôi là Nguyễn Thị Thanh Tuyền, vợ của anh Nguyễn Công Nhựt bị Công an Bình Dương đánh chết”. Nói đến thế những giọt nước mắt của tôi tuôn ra cũng làm động lòng một anh trong phòng tiếp dân và anh ấy nói đã biết vụ án của tôi. Anh bảo tôi bình tĩnh và sẽ giải quyết cho tôi. Anh vào hỏi cấp trên sau đó mời tôi làm việc. Khi được các anh tiếp đón một cách nhiệt tình và được chia sẻ nỗi đau mất mát của tôi.

Các anh ấy bảo vụ này các anh cũng đang theo dõi và các anh đã hướng dẫn tôi nhiệt tình sau đó cho tôi giấy hẹn bảo tôi sáng thứ 2 đến phòng tiếp dân của cơ quan Văn Phòng Quốc Hội nộp đơn. Bởi vì chiều nay Văn phòng Quốc hội nghỉ làm.

Thế là tôi phải ra về vừa vui và vừa buồn.

Vui vì đã có giấy hẹn cho sáng thứ 2, buồn vì chiều nay không kịp đến cục điều tra VKSNDTC cùng luật sư Trần Đình Triển. Chuyến này tôi không chọn taxi làm phương tiện nữa mà tôi chọn xe bus làm phương tiện để tôi đo đoạn đường như thế nào để thứ 2 tiếp tục hành trình. Sự thật là tôi chỉ tốn 6.000 đồng đi xe bus và đi bộ một đoạn đường mới về đến khách sạn. Trên đường đi tôi gặp chú xe ôm hỏi đường, chú đã nhận ra tôi là Tuyền, tôi hỏi: “Sao chú biết cháu?”. Chú nói: “Vụ chồng cháu là Nguyễn Công Nhựt bị Công An Bình Dương đánh chết chú đang theo dõi vụ này mà”.

Lúc ấy nhiều chú xe ôm kế bên cất giọng: “Cháu là Tuyền à, cháu phải cố lên đòi công lý cho chồng cháu, các chú luôn bên cạnh cháu và ủng hộ tinh thần cháu.”

Nghe các chú nói thế tôi cũng thấy vui vui làm sao, dù không hề quen biết nhưng các chú nói chuyện giống như tôi là người thân của các chú ấy.

Đi đến ngõ tư tôi gặp một cô gái tôi đoán chắc là sinh viên tôi đã hỏi đường, Em đã nhận ra tôi và hỏi: “Chị là Tuyền vợ Anh Nhựt đúng không? Em đọc báo và biết hoàn cảnh của chị, Chị cố gắng lên chị nhé!”.

Tôi về ghé qua một quán ăn nhỏ trên lề đường, tôi không ngờ ở đây cô bán quán ăn này cũng nhận ra tôi và cô đã chia sẽ nỗi buồn cùng tôi.

Khi về đến khách sạn tôi đã ngồi yên lặng và suy nghĩ việc anh Nhựt chồng tôi bị Công an Bến Cát, Bình Dương đánh chết, sau hơn 7 tháng chờ đợi câu trả lời công bằng nghiêm mình của pháp luật, điều mà tôi nhận được là sự im lặng của các cơ quan chức năng tỉnh Bình Dương cũng như VKSNDTC – Cục 6 phía nam.

Thì ở đây, tại thủ đô Hà Nội, nhiều tầng lớp trong xã hội điều biết sự việc này, tôi mong rằng Văn phòng Quốc Hội và các cơ quan chức năng cấp cao hơn hãy vào cuộc đem lại sự công bằng cho Anh Nhựt để cho những người dân như tôi luôn luôn có niềm tin vào công lý

Theo Facebook