vietsoul21

Archive for the ‘Tạp văn’ Category

Vặt lông con Nông

In Tạp văn on 2010/08/08 at 11:26

Giữa ba con chim đồng quê quen thuộc thì con Cò được nhắc đến nhiều nhất. Cò được dùng làm biểu tượng cho số phận lận đận, long đong, bần hàn, khổ cực. Cò phải đi sớm về khuya dầm sương chịu lạnh kiếm ăn cho chồng cho con. Bao nhiêu oan khiên cò đều gồng gánh hết.

Cái cò đi đón cơn mưa,
Tối tăm mờ mịt ai đưa cò về.

Cái cò lặn lội bờ sông,
Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non.

Cò con phải chịu cảnh đời bất hạnh, mồ côi thiếu vắng hoặc mất mẹ.

Cái cò là cái cò con,
Mẹ đi xúc tép để con ở nhà.
Mẹ đi một quãng đường xa,
Mẹ sà chân xuống phải mà con lươn.

Cái cò là cái cò vàng,
Mẹ đi đắp đàng, con ở với ai?
Con ở với bà, bà không có vú,
Con ở với chú, chú là đàn ông.

Con cò mà đi ăn đêm,
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.
Ông ơi, ông vớt tôi nao,
Tôi có lòng nào ông hãy sáo măng.
Có sáo thì sáo nước trong,
Đừng sáo nước đục đau lòng cò con.

Cò lại phải chịu nhiều tiếng oan trong khi con Nông thì im ỉm béo mình chẳng ai nói tới.

Cái cò cái vạc cái nông,
Sao mày dẵm lúa nhà ông hỡi cò.
Không, không, tôi đứng trên bờ,
Mẹ con nhà nó đổ ngờ cho tôi.
Chẳng tin thì ông đi đôi,
Mẹ con nhà nó còn ngồi đây kia.

Con cò con vạc con nông,
Ba con cùng béo vặt lông con nào ?
Vặt lông con vạc cho tao,
Hành răm nước mắm bỏ vào mà thuôn.

Hãy đem lại một chút công bằng cho số phận những con cò, con vạc khốn khó mất đất, mất nhà phải làm “người rơm”, “người rừng” lưu lạc, lang thang kiếm ăn nơi xứ người. Nên vặt lông con Nông. Con Nông[i] cắp lúa, bán đất, bán rừng cha con béo tốt.

——————————–

[i] Nông Quốc Tuấn (con trai Nông Đức Mạnh) trở thành bí thư tỉnh ủy Bắc Giang



Tales from the two cities

In Tạp văn on 2010/07/09 at 15:12

Vi Nhân

 

We traveled to Philladelphia last month for a conference. We usually rent a car while travel but this time we decided to take public transportation. We used the subway, train, bus, and trollies for commuting between our stay at the Days Inn hotel by the Philladelphia airport and our destinations (the conference center, downtown Philladelphia and its landmarks, NY). Philladelphia public transportation is quite good. However, it takes time to go places, particularly if one doesn’t know the schedule well enough. We were surprised with many encounters while using public transportation. It offers us many opportunities to see things which we would not be able to have if being well confined within a rented car on a defined route. Stripped off our confinement of comfort and priveleges we see more of the real.

On the Saturday that I took the bus (Megabus) from Philly to NY to see my son, I got to the bus station quite early so I walked inside the 30th street station to take cover instead of waiting on the JFK/Market street corner under the hot and humid weather. This is an old-time big city train station, beautiful and enormous. It houses Amtrak station and Philly’s regional rails and subway. Inside, on the main concourse there are pairs of long wooden benches facing each other for people in waiting, for departure or for pick-up. I sat on one corner of a bench, in the middle is a Caucasian mother and her daughter, and on the other corner is a fourty something Black man. The mother is probably mid-fifty with an adult daughter, looking like a college student. She was plugged with earphones and using a computer. On the opposite bench, empty from across my corner, in the midde is a White couple in the fifty, and at the other end is an African American mother and her late teen daughter. There was a White lady in late fifty, crutch under one arm and a removable cast for the foot on the other leg walking to our benches. She was neatly dressed and clean. She really looked like a person just down on her luck. She approached the mother and daughter next to me asking for help with food and meal, saying that she was out of job since March. She went across to opposite bench asking the couple, who just sat down a few minutes earlier holding two fast food bags and drinks. They shook their heads, did not say a word. She walked away. I turned around watching her approached another White lady from the bench behind with same result, no one give a handout. She did not ask me, an Asian American, neither the African American mother and daughter nor the Black man. I did not know how to act. I was thinking of approaching her to help, but afraid of offending with unsolicited help. A few minutes later, I looked back behind me again but she had disappeared. I should have approached her earlier, regardless.

The next day, I went back from NY to Philly. I took the subway from 30th street terminal back to the end of the line, the 69th street terminal, before taking another 40-minute bus ride back to the hotel. This terminal is in Darby, west of Philly, a small working class town, predominantly blacks with low-income families. The subway line passes through rows of run-down old houses along the track. Those houses seem to be built around the same time period with almost identical facing, two-stories brick houses, nice looking at one time but now with broken windows, boarded up, patched up roofs, damaged gutters, ruined by time without repairs. The 69th street terminal is a pretty small enclosure up the stairs from the subway. It has large glass windows on two sides and two short benches looking out to the bus stop outside. There was a White gruff-looking man with disheveled oily hair and dirty clothes. He looks like an old-time panhandler. He darted inside the terminal and asked for changes. I gave him whatever changes in my pant pocket. He walked to the Black man next to me and asked the same. The Black man gave him a dollar bill. He then went to two more persons sitting and standing around the benches but without result. He ran to the bus stop outside asking from a Black lady and she gave him a bill. He went to a couple of people outside then darted back inside the terminal and ran down the stairs to the subway. Within a few minutes he got some changes from three out of 7-8 persons that he asked.

I ponder on the race and class of people who ask, who being asked, and who help.

 

Philladelphia, 06.20.2010



Chúng tôi (Tự trào – Trí Thức – Tâm Tài)

In Cộng Đồng, talawas, Tạp văn, Việt Nam on 2010/06/15 at 14:52

” Để xoa dịu dị ứng của lương tâm, chúng tôi cũng làm việc thiện, việc phước đức đóng góp cho hội thập tự, bỏ thùng phước sương, giúp xây trường học, giúp quỹ xây cầu, v.v… Nó tạo một khoảng cách tình cảm an toàn giữa chúng tôi và đối tượng. Chúng tôi sống ở chốn bình an, không phải là những người khốn khó đó. Chúng tôi và “họ” là hai thực thể tách biệt. Người làm phước và người được ban phát. Những việc làm đó dần dà tăng sức đề kháng với dị ứng và đến một lúc nào đó chúng tôi được miễn nhiễm.”

—————

Vi Nhân

The opposite of courage is not cowardliness, it is conformity.”

(Anonymous)

The opposite of love is not hate, it’s indifference.  The opposite of art is not ugliness, it’s indifference.  The opposite of faith is not heresy, it’s indifference. And the opposite of life is not death, it’s indifference.”

(Elie Wiesel, Holocaust Survivor)

Cái Tôi của tôi rất lớn nhưng trên diễn đàn mạng thì xin phép các bác cho tôi ôm/vơ/dựa vào đám đông xưng là chúng tôi để thưa chuyện.

Chúng tôi lớn lên trong buổi giao thời, chưa đủ tuổi để tham gia vào cuộc chiến tương tàn cốt nhục. Nhưng dẫu sao chúng tôi cũng đã nghe những tiếng đạn pháo kích nửa khuya và hoảng hốt chui xuống hầm tránh đạn. Chúng tôi thấy dấu máu và tường sập do bị đặt chất nổ ở rạp xi nê mà bạn bè chúng tôi đã nhiều lần cúp cua đi xem phim hồi hộp. Chúng tôi thấy những chiếc xe cam nhông nhà binh chở đầy quan tài phủ cờ quốc gia. Chúng tôi đưa tang, làm giỗ chạp cho anh, cho chú. Chúng tôi cũng bao lần bỏ nhà, bỏ cửa để chuộc mạng di tản, chạy giặc. Rồi chúng tôi trôi dạt tới đất “xin nhận nơi này làm quê hương” thứ hai, kẻ đeo càng trực thăng, người leo lưới nhảy tàu, ai bọc giấy thông hành, và bao người chôn dầu vượt biển. Có hề gì, hãy quên đi cái mảng đời ấy.

Đất nước ngày xưa của chúng tôi bây giờ thì lại đang tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc vào thời kỳ đồ đểu. Đểu qua sự dối trá của chữ nghĩa. Ông láng giềng to kềnh trở thành người “lạ”. Hữu hảo là bảo gì gật ấy. Đầy tớ nhân dân là đày đọa đồng bào. Diễn tiến hoà bình là tiến trình “phản động” cần đề cao cảnh giác. Quốc Hội là cơ quan lập pháp tối cao đại biểu nhân dân nhưng mọi việc phải chờ chủ trương của ban chấp hành trung ương của Đảng CSVN chỉ đạo. Đồng thuận đồng nghĩa với đồng im lặng, đồng gật đầu. Chúng tôi cùng nhau đi theo lề phải, cùng tung hứng nhịp nhàng với loa to, miệng gang miệng thép, để quan lộ hanh thông chứ. Chúng tôi thức thời biết sống với đểu. Chúng tôi là những người sành điệu. Vui thôi mà!

Dù bên này hay bên kia đại dương thì chúng tôi vẫn vui vẻ đánh đu với chữ nghĩa. Chúng tôi thích làm xiếc với phạm trù (triết học, mỹ học, văn học, sử học, v.v…) Hơn thế nữa, chúng tôi dùng mọi khả năng tri thức để tìm chỗ ẩn nấp cho lương tri. Vì mang sứ mệnh trí thức nên chúng tôi không bao giờ muốn để lương tri mình ở nơi thấp kém như gầm cầu, xó chợ. Nó phải được trịnh trọng bưng vào an tọa trong nơi kinh các, thư phòng, hí viện cho xứng đáng nhân thân.

Tâm của chúng tôi thì tròn trịa như viên bi, được dũa mài, được đánh bóng, lóng lánh muôn màu. Bi có thể lăn khắp mọi nơi, mọi hướng, không nằm yên một chỗ vì chỉ động đậy một chút là nó lăn theo hấp dẫn trọng lực (quyền lực). Tâm của chúng tôi được đong đếm, so sánh, cân nhắc với Tài để xem chữ Tâm có được bằng ba chữ Tài.

Chúng tôi thầm kín đắn đo mọi suy nghĩ và hành động vì Tài thì mọn mà Tâm thì mỏng. Trong chúng tôi có kẻ cố rèn luyện kỹ năng chuyên nghiệp và đồng thời mài dũa tâm cho đến một lúc nào đó thì tài cao học hẹp và lương tri tròn trụi. Chúng tôi cùng tự nhận với nhau là trí thức nhưng Tài thì nhỉnh nhỉnh cỡ một bồ và Tâm thì xình xình đâu một rổ. Toàn những chuyên viên chuyên cần chăm chỉ hạt bột. Thế nhưng cái Ngã thì to đùng. Chúng tôi ôm lấy cái chức vị, cái học vị như danh tánh bản thể (personal identity) không thể tách rời hoặc cắt đứt. Chúng tôi sợ chết lắm. Nhưng còn sợ hơn là sống mà bị mất chức danh. Như thể đời tàn. Chúng tôi cố bám lấy cái danh trông vẻ mỹ miều ấy. Nhất quyết phải che chở bao bọc và bán đổi nhiều thứ để an phận giữ lấy “danh”. Ai như cái ông Hữu Loan nào ấy dấm dớ chỉ vì thật mà bỏ tất cả về quê đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi thồ đá. Cứ nhũn đi một tí, cứ dối đi một tị thì chả việc gì! Đúng là con nhà tá điền, nhà nông, quê mùa chả biết gì. Thế đấy, cái Tâm của một người chất phát yêu, ghét quá rõ ràng, chẳng biết màu mè hay dấu diếm. Nên chỉ thiệt thân!

Trong giới chúng tôi nghe đâu có một chàng đeo càng sang đây, xấp xỉ tuổi “anh Ba”[1], mạnh mồm miệng ông Triết (gia). Cũng ngang hàng với người ta, cũng nói năng đúng mức đàng hoàng … Cũng biết cách tư vấn “… vấn đề này là khó lắm đó … chúc ông nỗ lực làm được việc này … vừa động viên … vừa phân hoá” …[2] Ông có viễn kiến tiến trình dân chủ hoá đất nước và chuyện bỏ tù dăm ba người hoạt động dân chủ cũng là chuyện nhỏ. Vì theo cái nhìn biện chứng và sử tính thì mạng con giun cái kiến chả là gì! Con giun cái kiến chẳng thể nhìn xa hiểu rộng—không phân biệt hiện tượng và bản chất, không phóng chiếu tư duy, không nắm được tất yếu của lịch sử, của thời kì quá độ (quá đáng) nên bao nhiêu cũng bị “hy sinh” tế sống cho một đảng “bách chiến bách thắng”. Nhằm nhò chi. Run rủi sao chúng tôi (kể cả ông ấy) đã làm chuyện “phản động”, “phản bội tổ quốc”, bỏ nước ra đi nên bây giờ được hưởng tự do, có nhà (không) cao (nhà trệt), cửa rộng (theo tiêu chuẩn). May là lúc đó đổ khùng “phản động” chứ chờ bây giờ lò mò ra đi theo hạng xuất khẩu lao động làm người rơm, người rừng[3] còn gian truân hơn kiểu “Bác Hồ ra đi tìm đường cứu đói”. Có dại gì mà làm chuyện “chống phá nhà nước”!!!

Chúng tôi có đủ tri thức để tán hươu Đông Tây kim cổ. Tri thức này được trang bị với tinh thần duy lý của hệ thống giáo dục Tây phương nên mọi việc, mọi thứ đều có thể được miêu tả, đong đếm, phân loại, sắp hạng, so sánh, phân tích, và tổng hợp. Mọi luận án, đề án đều có phần kết luận gần như bất khả thi hay tránh né thực hiện. Đó không phải là việc của chúng tôi! Chúng tôi có đủ khả năng lý luận ngụy biện cho mọi việc, với người khác, với nhau, và với cả bản thân. Điều đó không có gì khó vì chúng tôi là những chuyên gia tỉnh lẻ, quen thói tuân thủ nên rất dễ được thuyết phục.

Sinh ra và lớn lên ở Việt Nam vùng Đông Nam Á nên chúng tôi được nghe rất nhiều triết lý Phật giáo và Thiền. Chúng tôi bảo nhau đừng nhìn cái ác và cái thiện trong con mắt của người phàm, từ ý thức trần thế, mà phải nhìn từ ngoài thuyết lưỡng phân. Thiện Ác thì mắt phàm sao thấy được cho nên đừng có mà lên tiếng, chớ có mà hành động để tránh được nhiều phiền toái và thân tâm an lạc. Hơn nữa chúng tôi tin vào cái nghiệp. Chúng tôi có mặt ở xứ tự do, được cuộc sống an lành đó là phước đức ông bà để lại. Còn những đồng bào bị áp bức, bị khổ đau thì cũng là tại cái nghiệp của họ. Cái nghèo, cái đói, cái ngu nào phải do chính quyền thối nát, xã hội đảo điên gây ra. Họ phải chịu trách nhiệm cho bản thân họ như thế thôi. Chúng tôi còn nhắn nhủ nhau nên nhìn vấn đề như những công án thiền—lục lạo và đối chiếu xem cái nào hợp với lý của mình. Chúng tôi cười trên huyên náo của thời cuộc, với cái nhìn của “thức giả” nằm ngoài sự việc và hiện thực, cho rằng mọi hành động chỉ là trò đời, rốt cuộc sự việc trên đời rồi vậy vẫn vậy. Kế sách của chúng tôi là án binh bất động. Chúng tôi lý luận cả hai mặt của một vấn đề (two sides of a coin) (chớ vu là ba phải, vì chỉ mới có hai) nhưng chỗ đứng của chúng tôi thì nhất định phải nằm ở mặt nào (mặt dày) sinh lợi, ít ra là không có hao hụt quyền lợi và danh tánh tùy thuộc vào hoàn cảnh, thời gian. Cùng quá thì ghạt ngang, mắc mớ chi để bàn cãi, tranh luận vì đồng tiền một mặt, hai mặt đã nằm trong túi của tui.

Thật lòng mà nói thì chúng tôi cũng cảm thấy khó chịu và dị ứng với những áp bức, bất công, và giới hạn tự do. Chúng tôi loay hoay, ngứa ngáy do tác động dị ứng và đi tìm liều thuốc xoa dịu. Rất may, chúng tôi có một kho thuốc trị liệu truyền thống: tư tuởng Khổng giáo, Lão giáo, và Phật giáo. Mỗi dị ứng đều có một toa thuốc trị liệu. Nước có minh quân thì ta phò, hôn quân thì ta về ở ẩn. “Con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa phải quét lá đa” có gì mà thắc mắc. Vô vi lão luyện trường sinh. “Đời là bể khổ” và mỗi người có cái nghiệp riêng. Để xoa dịu dị ứng của lương tâm, chúng tôi cũng làm việc thiện, việc phước đức đóng góp cho hội thập tự, bỏ thùng phước sương, giúp xây trường học, giúp quỹ xây cầu, v.v… Nó tạo một khoảng cách tình cảm an toàn giữa chúng tôi và đối tượng. Chúng tôi sống ở chốn bình an, không phải là những người khốn khó đó. Chúng tôi và “họ” là hai thực thể tách biệt. Người làm phước và người được ban phát. Những việc làm đó dần dà tăng sức đề kháng với dị ứng và đến một lúc nào đó chúng tôi được miễn nhiễm.

Miễn nhiễm lương tâm.

Miễn bàn.

© 2010 Vi Nhân

© 2010 talawas, http://www.talawas.org/?p=21341

_________________________________________________________

CHÚ THÍCH:

[1] anh Ba Dũng, Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng

[2] Nguyễn Minh Triết “lòe” Việt Kiều

[3] Những bước chân đổi đời gian nan …

Các bài liên hệ:

(Phản) Phản Biện và Sự Thật

Tôi là người Việt Nam

Những cái nhập nhằng không tênThe Unspoken Ambiguities

Các bài trên Tạp chí Da Màu:

Tháng Tư Câm

Hồn ma và xương khô

Đọc tiếp »

Làm người chân thật

In Chính trị (Politics), Tạp văn, Việt Nam on 2010/06/10 at 23:18

Vi Nhân

“Việt Nam muôn năm!”, “Việt Nam muôn năm!”, “Việt Nam muôn năm!”[1] …

Mười ba tiếng hô dũng cảm của anh hùng Nguyễn Thái Học và mười hai liệt sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng trước giây phút vị quốc vong thân. Một câu khẩu hiệu được hô to mười ba lần là mười ba tiếng chuông dóng vào lòng toàn dân việt. Có tiếng hô quyết liệt, có tiếng vang khẳng định, có tiếng lời di chúc, có tiếng câu tâm nguyện …

Họ không hô “Quốc Dân Đảng muôn năm!”, và cũng không ai “Nguyễn Thái Học muôn năm!”. Đồng nhất, đồng lòng mọi tiếng hô chung “Việt Nam muôn năm!”. Những người yêu nước dũng cảm này đều cùng một tâm nguyện đấu tranh dành độc lập, tự do cho tổ quốc, cho dân tộc Việt Nam. Không vì đảng phái riêng, không sùng bái cá nhân lãnh tụ. Một lòng vì tổ quốc, vì dân tộc. Bài học này có còn nằm lòng trong trái tim con dân đất Việt?

Bài học lịch sử này còn được trân trọng và giảng dạy trong học đường hay không? Hay thay vào đó là những giáo điều thối rữa, lai căng, phục vụ cho một phe nhóm vụ lợi, đang ra rả qua những chiếc loa tuyên truyền, mị dân, bán nước.

Chúng tuyên truyền, tẩy não dạy cho người yêu nước hô khẩu hiệu “Hồ Chí Minh muôn năm!”

Chúng dạy dỗ mầm non ca hát “Việt Nam. Hồ Chí Minh.”

Chúng tiếp tục nhồi ép chủ nghĩa Mác-xít – Lê-nin-nít và “tư tưởng” Hồ Chí Minh vào đầu giới trẻ trung học, đại học dù chủ thuyết Cộng Sản đã bị lên án là diệt chủng và mọi tư tưởng, hành động của Hồ Chí Minh đều một mực theo Mao, theo Stalin. Chính Hồ Chí Minh đã nói rằng “Tôi không có tư tưởng gì, tất cả những gì do Ông Mao Ông Stalin nghĩ ra”.

Chúng đòi hỏi “Trung với đảng” và công an nhân dân đã tuân hành trung với đảng, “hiếp” với dân. Rồi chúng giăng khẩu hiệu “Đảng Cộng Sản Quang Vinh Muôn Năm. Chỉ biết còn đảng còn mình.”

Chúng bảo “Hãy nhắm thẳng vào quân thù mà bắn!” Thế nhưng không một tiếng súng nào bảo vệ những ngư dân mất mạng, mất thuyền trên biển Đông vùng Hoàng Sa, Trường Sa. Không một hành động nào đối phó với tàu “lạ” xâm phạm lãnh thổ, hà hiếp đàn áp ngư dân. Quả là hữu hảo cho kẻ “lạ”. Những viên đạn nhắm thẳng từ công an đã cướp đi mạng sống của cháu bé Lê Xuân Dũng và anh Lê Hữu Nam ở Nghi Sơn – Thanh Hoá. Bổng dưng đồng bào trở thành kẻ thù hay sao? Quân Đội Nhân Dân, Công An Nhân Dân bảo vệ nhân dân hay bảo kê cho băng đảng CSVN!?

Chúng chỉ cho phép tuổi trẻ hô to khẩu hiệu “Việt Nam! Việt Nam!” trong những cuộc đấu bóng, trong những buổi thi hoa hậu, những trò chơi giao hữu. Trong khi đó chúng lại dùng dùi cui, còng, gông cùm, tù đày cho những người yêu nước dám lên tiếng Hoàng Sa – Trường Sa – Việt Nam.

Đã có một thế hệ (1955-1975) ở miền Bắc và sau này hơn một thế hệ (1975-2010) thuộc cả Bắc lẫn Nam đã trưởng thành và lớn lên trong nền giáo dục mị dân yêu nước phục tùng dưới ngọn cờ Đảng. Những nhiệt tình lý tưởng tuổi trẻ yêu nước đã bị bán tráo với một Đảng bịp bợm. Người ta không còn thề trung với nước nữa mà bị ép buộc phải trung với đảng. Những người tòng phục vô điều kiện các quá trình bị điều kiện hoá, tẩy não, ngu muội nên mới hô câu “Hồ Chí Minh muôn năm!” như máy tự động thay vì “Việt Nam muôn năm!”. Nếu họ không tự động thì cũng ngàn lần phải hô to trong sợ hãi và lẫn nấp trong đám đông. Còn “người” thì đã muốn nằm sâu trong lòng đất, muốn được hoá kiếp vãng sinh nhưng thân xác vẫn bị phơi bày trong lồng kiếng. Có người cho rằng đó là nghiệp quả dành cho người rất ác lúc sinh thời, vì thế thân xác không được trở về với cát bụi mà phải bị lôi ra cắt xẻ, lắp dán, tô vẽ, gọt đắp mỗi năm. Không có nghiệp nào nặng hơn vậy.

Chúng đã “trồng cấy” người như thế thì liệu sau hai thế hệ nữa sẽ có còn ai hô to khẩu hiệu “Việt Nam muôn năm!” cho đất mẹ. Và bao giờ mới vực dậy được một thế hệ Việt Nam tự do, dân chủ, được tỏ lòng yêu nước, yêu nguồn cội, yêu đồng bào theo ý nghĩa của nó mà không bị tráo trở bởi chính trị độc tài, phục vụ cho phe nhóm đặc quyền. Phải chăng ngay bây giờ mọi người cần học lại “Lời mẹ dặn”[2] rằng “Phải làm một người chân thật”, “chân thật trọn đời”. Yêu nước thì cứ tỏ lòng yêu nước.

Hoàng Sa – Trường Sa – Việt Nam

Việt Nam muôn năm!

——————————–

CHÚ THÍCH:

[1] Các liệt sĩ trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái hô khẩu hiệu “Việt Nam vạn tuế!” trước khi bị hành quyết. Chúng tôi dùng “Việt Nam muôn năm!” cho phù hợp với ngôn phong hiện nay.

[2]“Lời mẹ dặn” thơ Phùng Quán

 

Nhạc minh hoạ: Sự thật ơi  – Phan văn Hưng

Năm Cọp Nói Chuyện Cá – Tưởng Năng Tiến

In Chính trị (Politics), Lịch Sử, Liên Kết, talawas, Tạp văn, Việt Nam on 2010/02/19 at 09:05

Chuyện láu cá của CSVN liên quan đến nghị quyết 36 của Trung Ương Đảng CSVN được vạch ra qua bài viết “Năm Cọp Nói Chuyện Cá” của Tưởng Năng Tiến. Dưới đây là trích dẫn vài đoạn:

… Từ năm 1978 cho đế năm 1990, bằng hình thức này hay hình thức khác, Việt Cộng đã “thả” ít nhất là hai triệu người dân ra biển. Người ta ước tính rằng trên bước đường lưu lạc cứ ba con cá hồi rời bến sông ra đi thì ít nhất cũng có một con bỏ mạng. Nó trở thành mồi săn cho loài người, cho loài chim, hoặc những loài cá khác. Tương tự, trong số hai triệu người Việt phiêu lưu vào biển cả – tối thiểu – cũng phải một phần ba đã vong mạng.

Những kẻ may mắn thoát nạn đều sẽ biến thành cá hồi (theo tinh thần của Nghị quyết 36) của nhà đương cuộc Hà Nội. Đám dân trôi sông lạc chợ này sẽ bị tận tình khai thác, và khai thác dài dài, cho đến khi tắt thở, bằng nhiều cách.

Tuổi Trẻ Online, đọc được vào ngày 7 tháng 1 năm 2010, cho biết: “Theo Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 31-12-2009 kiều hối chuyển về đạt 6,283 tỉ USD, giảm 12,8% so với năm 2008. Riêng tại TP.HCM, kiều hối năm 2009 đạt 3,2 tỉ USD. Như vậy, kiều hối đã không giảm mạnh do suy thoái kinh tế như dự báo trước đó.
Hà Nội có lý do để hãnh diện về thành quả này – thành quả kinh tế duy nhất (thực sự) vượt chỉ tiêu – về kỹ nghệ xuất và nhập cảng người, sau hơn nửa thế kỷ mà họ đã nắm được quyền bính ở Việt Nam. Họ đẩy ra khỏi nước những con nguời cùng quẫn và sôi sục bất mãn, rồi “thu về” những Việt kiều yêu nuớc và giàu sang.

Đọc nguyên bài Năm Cọp Nói Chuyện Cá

Các bài liên hệ: Cò, Xáo, Viễn Xứ và Viễn Ý

Đại Vệ Chí Dị – Người Buôn Gió

In Tạp văn, Việt Nam on 2009/11/23 at 17:02

BBT: Dưới đây là trích dẫn một đoạn trong chương Đại Vệ Chí Dị của Người buôn gió, nhà báo mạng ở VN.

– Trước tiên lấy đất ruộng đẹp, bán cho thương gia nước ngoài, đền bù cho dân. Theo ý thần nên đền bù cao để dân hưởng ứng. Không nên rẻ mạt quá dân lại khiếu kiện như mọi lần. Dân được đền bù thoả đáng không có ý gì để mà kêu ca. Đó là xong một việc.

Cả triều lao xao, Vệ vương hỏi.

– Trả cho dân cao thì còn lấy đâu ra lãi mà chia.?

Hào Đức Vị, vốn có dòng dõi trâm anh, ông nội cũng từng là đại thần nghị sự, dáng vóc khôi ngô sáng sủa nói.

– Xin để đại thần kinh đô nói tiếp việc sau.

Đại thần quản kinh đô quê ở châu Ái tên chữ là Sáng Quyết, vốn không là dòng dõi,nhưng thiếu thời ham học, lại tinh thông thời thế nên tiến thân vùn vụt. Gật đầu tỏ ý cám ơn Vị và nói rằng.

– Người xưa có câu “rừng xanh còn lo chi thiếu củi đốt’’ tiền ở trong dân thiếu gì cách để các quan tự lấy. Để các quan tự tìm cách mà lấy có phải là hơn tăng lương cho các quan không ? Làm quan có cơ hội như thế tôi nào mà chả trung. Như thế vừa rèn luyện, đạo tạo ngón nghề cho các quan có nghiệp vụ. Chả phải làm một mà lợi hai ư.

Các đại thần đều gật gù, cho rằng kế đó hay. Đại thần thanh tra là Chu khuyến cáo.

– Nhưng lấy của dân thì lấy thế nào đừng để lộ liễu.

Sáng Quyết trả lời ngay.

– Việc này là một quá trình diễn biến theo đúng quy luật đã được đại thần Tôn Dưa nghiên cứu và tổng kết, xin đại thần Tôn Dưa có lời.

Tôn Dưa bước ra giữa triều tâu.

– Dân ta vốn chỉ biết làm ruộng, làm thủ công. Nay có đống tiền thì làm gì. Gửi vào ngân hàng thì sợ lạm phát, thực hiện đổi tiền như xưa nên bọn dám gửi chắc không có mấy. Đứa nào đầu tư làm ăn gì thì phải qua cửa các quan thuế, hành chính, các cấp địa phương xin giấy phép thủ tục này nọ trăm thứ giấy má. Mỗi lần xin thế các quan phải tự biết làm gì, sau đó hàng tháng lại thanh tra, kiểm tra hàng trăm quy định, tự bọn dân lại phải biết làm gì.

Còn đứa nào không biết làm ăn, có tiền sẽ nảy sinh ăn chơi. Các quan cho các nơi mở ăn chơi, bài bạc, gái mú. Để khuyến khích chúng ăn chơi tiêu pha, thần cho bộ truyền thông phát động những cuộc thi người đẹp, nhà đẹp, xe đẹp các trò vui chơi tốn kém để chúng đua nhau lao đầu tiêu pha, triều đình đánh thuế những loại hàng xa xỉ này không ai mà kêu ca cho được. Lại nữa ta cho bọn cung ứng các trò đó ăn chơi, tệ nạn làm ăn bước đầu dễ dàng, thu tiền cống nạp. Sau khi dân bán đất tiêu hết tiền, chúng ta quay sang bắt tội và lên án bọn cung cấp dịch vụ tệ nạn, trực tiếp thu lợi nhuận từ những trò như xới bạc, lầu xanh. Bọn này tất phải nôn oẹ hết những gì chúng kiếm được của dân cho các loại quan để thoát thân. Thế có phải là vừa thoả lòng căm hận của dân với bọn chúng hút , lại vừa có miếng cho các quan. Chung quy tiền bạc lại về các quan cả, kế này hoàn mỹ như “Châu về Hợp Phố”.

Đọc nguyên bài Đại Vệ Chí Dị

Bài liên hệ Cả nước cùng cờ bạc?

Cò – Tưởng Năng Tiến

In Chính trị (Politics), Tạp văn, Việt Nam on 2009/11/17 at 17:39

Con cò, con vạc, con nông. Ba con cùng béo vặt lông con nào. Đám cò người, cò bauxite, và cò biển đảo của CSVN thì cần phải vặt trụi lông. Dưới đây là trích dẫn bài viết “” của Tưởng Năng Tiến.

Cò là một loài chim nước có mỏ, cổ và chân cẳng đều dài – sống bằng tép, hến, ốc, cá… – thường quanh quẩn nơi ao hồ hay sông rạch. Cò cũng là tên gọi của một giới người, mới xuất hiện ở Việt Nam, chuyên lo việc môi giới dịch vụ – như cò máu, cò bệnh, cò mả, cò nhà, cò việc…

Ðã thế – ở xứ sở của chúng ta – bên cạnh cò thật còn có thêm cò … giả, cò đểu và cò mồi. Những con cò chuyên cung cấp những dịch vụ … thừa. Nói cách khác, chúng tạo ra nhu cầu (không có thật) và dùng mánh khóe hay bạo lực bắt mọi người phải sử dụng những dịch vụ (không cần thiết) của mình. Chính loại cò này mới là thủ phạm của tội ác, đáng bị chỉ tên và kết án.

Chuyện lừa lọc của lũ cò giả, như cò lợn (thực ra) không có gì mới mẻ, và chỉ là chuyện nhỏ – của đám cò con – tại thôn quê. Ở bình diện quốc gia, nước Việt còn nhiều thứ cò đểu khác “vĩ đại” (và đáng ngại) hơn nhiều.

Cò chiến thuộc loại này. Sau Thế chiến thứ Hai, khi phong trào giải thực lan rộng trên toàn cầu (và việc trao trả độc lập cho những quốc gia bị trị trở thành một xu hướng không thể đảo ngược ở khắp mọi nơi) thì đám cò chiến ở Việt Nam vẫn cố tạo ra một cuộc chiến “đánh đuổi thực dân để giành độc lập.”

Sau đó, họ tiến hành một cuộc chiến tranh khác bằng cách hô hoán lên là đất nước bị xâm luợc, rồi bắt ép nửa phần dân tộc Việt đi chém giết nửa phần còn lại. Trong cả hai cuộc chiến (rất) “thần thánh” và (hoàn toàn) không cần thiết đó, đám cò đểu đều thắng lợi một cách vẻ vang. Chỉ có nhân dân là (đại) bại – theo như cách nói của thi sĩ Nguyễn Duy.

Dù đã thua te tua, và thua thê thảm liên tiếp qua mấy thế hệ nguời như thế, dân chúng vẫn chưa được để yên. Sau 1975, ở Việt Nam bỗng xuất hiện một loại cò giả khác – gọi là cò người. Ðám cò đểu này tạo ra đủ thứ áp lực khắc nghiệt khiến hàng triệu người Việt phải quyết định bỏ nước ra đi, và chính chúng đứng ra “bán bãi thu vàng” cho những chuyến phiêu lưu nát lòng và hãi hùng này.

Đọc nguyên bài

Bài liên hệ (cò hải ngoại): Little Saigon (Seattle) yêu cầu thị trưởng …