vietsoul21

Archive for the ‘Tạp văn’ Category

Tương Lai – Nghĩ về hiện tượng Trần Độ

In Chính trị (Politics), Lịch Sử, Tạp văn, Việt Nam on 2013/08/08 at 11:37

Nói như vậy, vì người viết muốn nhìn ra ở đây “một hiện tượng lịch sử” có ‎ nghĩa biểu tượng.

Lịch sử đi tới theo đội hình hình thoi chứ không “dàn hàng ngang mà tiến”. Bao giờ những người đi trước cũng thuộc số ít. Càng ít hơn nữa là những ngươi có tầm mắt vượt lên phía trước, nhìn thấu được những điều mà nhiều người đồng hành chưa nhìn ra, hoặc nhìn nhưng chưa thấy, hoặc thấy nhưng chưa rõ. Và càng sát cái điểm đầu chóp hình thoi ấy thì càng đơn độc! Trần Độ là một hiện tượng, đúng hơn, là một bằng chứng rất sống động về sự “đơn độc của tia chớp” đang dẫn dắt suy tư của người viết nhân ngày mất của ông, 9. 8. 2002.

Nhận thức là một quá trình, điều này chẳng có gì mới đáng nói. Cái đáng nói hơn vào thời điểm này là: với sự kiểm nghiệm của thời gian, có những con người đã trở thành một  hiện tượng lịch sử vì nó là biểu tượng sống động về sự oái oăm của lịch sử trong nhận thức về lịch sử. Mà trớ trêu thay, chính sự oái oăm đó làm nên lịch sử. Làm nên bằng chính cái tầm vươt lên phía trước ấy. Chẳng thế mà Voltaire từng khuyến cáo rằng “Lch s không nên đ cp đến s thăng trm ca các ông vua mà là trào lưu tiến hoá ca dân tc, không nên đ cp đến tng quc gia riêng r mà là toàn th nhân loi, không nên đ cp đến chiến tranh mà là đ cp đến s phát trin ca tư tưởng. Nhng trn đánh, nhng đoàn quân chiến thng hoc chiến bi, nhng thành ph b chiếm đi hoc ly li là nhng s kin quá tm thường, không nói lên điu gì quan trng. Điu quan trng là con người sng và suy nghĩ như thế nào qua các thi đi… qua nhng giai đon nào con người đi t trng thái man r đến trng thái văn minh”.* 

Không hiểu có phải lẩn thẩn không mà người viết bài này những cứ muốn bạo gan đặt ra câu hỏi với nhà Khai sáng Pháp : liệu dưới tác động nào đó, trong một thời đoạn đau thương nào đó, có thể có quá trình ngược lại, một cơ chế phi lý‎ đẩy con người đi từ trạng thái văn minh trở lại với trạng thái man rợ ? Trần Độ có bốn câu thơ dưới dạng “tự bạch” :

Nhng mơ xoá ác trên đi

                                            Ta phó thân ta vi đt tri

                                         Ng ác xóa ri thay cc thin

                                           Ai hay, biến đi, ác luân hi.

Liệu nỗi niềm “ ai hay, biến đi, ác luân hi” có chút bóng dáng nào của cái cơ chế phi lý kia không? Vì rằng, nếu cứ nhìn về nhân thân và sự nghiệp theo một nếp hằn rất chi là “lập trường quan điểm” từng chi phối đời sống tinh thần xã hội gần hai phần ba thế kỷ nay, thì con người này là một mẫu mực sáng giá, một điểm son chói lọi trong những trang sử hiện đại : Đi làm cách mạng từ năm 16 tuổi, vào đảng năm 17 tuổi, vào tù, cắn răng chịu tra tấn trong các nhà tù đế quốc , vượt ngục về hoạt động bí mật vào những ngày “tiền khởi nghĩa”, góp phần vào Cách Mạng tháng 8.1945, đảm nhiệm vai trò chính ủy Mặt trận Hà Nội “cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh” những ngày Thủ đô rực lửa năm 1946, tiếp đó là chính ủy trung đoàn, chính ủy đại đoàn, chính ủy quân khu, rồi phó chính ủy và phó bí thư quân ủy, được phong hàm thiếu tướng rồi trung tướng, được bầu làm Phó Chủ tịch Quốc hội, ủy viên BCHTƯĐCSVN, Trưởng ban văn hóa văn nghệ TƯ.

Dù được quy chiếu theo những hệ thống giá trị nào thì cuộc đời dấn thân hết mình cho tổ quốc, nằm gai nếm mật, vào tù ra tội, luôn đứng ở mũi nhọn của cuộc chiến tranh cứu nước, con người này có một cuộc sống thật đẹp! Càng đẹp theo kiểu “ta phó thân ta vi đt tri” chứ không chỉ vì những chức vụ, danh vọng mà ông có được bằng sự dấn thân kia !

Ấy thế mà khi con người ấy nằm xuống, người ta quyết không cho cuộc đời “thương tiếc” ông. Dùng một con rôbốt vô hồn để thực hiện một công vụ táng tận lương tâm là kể tội ông trong điếu văn đọc trước linh cữu người quá cố, người ta đã chà đạp lên truyền thống “nghĩa t là nghĩa tn” trong đời sống dân tộc. Cái đáng sợ nhất, khủng khiếp nhất chính ở chỗ này đây.

Một giải pháp vô văn hóa, phản tâm linh được thực thi một cách triệt để theo lối “đào tn gc, trc tn r” khi người ta “trả nghĩa” cho ông “Trưởng ban Văn hóa Văn nghệ Trung ương” của đảng bằng hành động vô văn hóa đó. Một hành động được hoạch định kỹ càng và đóng dấu ở nơi cao cấp nhất! Từ cách công bố tin ông mất sát kề ngày tang lễ để đồng chí, đồng đội của ông không đến kịp nhằm giảm tối đa số người “thương tiếc” ông tại nhà tang lễ đến chuyện xé bỏ những băng tang đính trên vòng hoa nếu có chữ “vô cùng thương tiếc” và rồi bài điếu văn phản nhân văn, ráo cạn nhân tình không tiền khoáng hậu đi vào lịch sử như một vết nhơ không sao xóa mờ đi được!

Xin chen vào đây một mẩu chuyện : vòng hoa của người viết bài này nhờ một người bạn vốn là lính của tướng Độ mang đến nhà tang lễ. Hai vị CA chặn lại, yêu cầu gỡ bỏ mấy chữ “Vô cùng thương tiếc” .Vị cựu chiến binh là thương binh chiến đấu ở chiến trường Miền Tây cố làm nhẹ sự căng thẳng bằng một đề nghị hóm hỉnh :” thế tôi sa li là “thương tiếc va va đng chí Trn Đ nhé“. CA trừng mắt, quát. Xô xát có cơ xảy ra vì anh thương binh “quân của tướng Độ” đã xắn tay áo. Ánh mắt đang đổ dồn về đây. Một vị đeo lon trung tá vừa lịch lãm vừa xử sự rất “có nghề” đã nhanh chóng xin lỗi người cựu chiến binh, vừa gạt tay thuộc cấp định gỡ vòng hoa, rồi mời người cựu chiến binh mang nó cùng đi. Nhưng khi đến gần bậc thềm nhà tang lễ thì anh ta nói ” theo quy đnh, chúng tôi phi trc tiếp chuyn vòng hoa, đng chí c đng đây“. Thế rồi y nhấc bổng vòng hoa đi vòng ra phía sau, mất hút!

Gọi điện kể lại, người cựu chiến binh tự hào là “quân ca tướng Đ” đó an ủi : “thôi chú , thế là mình cũng đã th hin được tm lòng và ý chí trn nghĩa vn tình vi ông y, người s đi vào lch s. Đến vòng hoa ca Đi tướng Võ Nguyên Giáp mà chúng nó cũng đòi bóc, đi tá Huyên quyết lit đu tranh, cui cùng cũng đành ch còn hai chthương tiếc“, phi b hai chvô cùng” trên vòng hoa tang ca bc công thn, người anh c ca quân đi c H gi viếng mt v tướng tng ch huy Mt trn quyết t ca Hà Ni m đu cuc chiến tranh gi nước đ ri có mt trên tt c các mt trn nóng bng nht cho đến khi kết thúc chiến tranh, mà chú!

Có thể ai đó khi hạ lệnh gỡ bỏ những dòng chữ “vô cùng thương tiếc” trên vòng hoa tang đã cạn nghĩ, hoặc mê muội trong nguyên lý khủng khiếp từng thuộc nằm lòng về sự chuyên chính đối với kẻ thù giai cấp, đã không lường trước được hệ lụy cũng khủng khiếp không kém của quyết định dại dột bất cận nhân tình ấy. Trong tâm thức của dân tộc, vết nhơ kia sẽ không có cách gì rửa sạch được. Và nếu như ông cha ta dạy “gươm dơ ly nước làm sch, nước dơ ly máu làm sch” thì rồi đây lấy gì để rửa vết nhơ lịch sử kia đây? Xét cho cùng, vết nhơ lịch sử này chính là ni đau văn hóa.

Đây là điều mà M.Gorki, một thời được mệnh danh là “nhà văn vô sản vĩ đại” từng chiếm lĩnh trọn vẹn các giáo trình lý luận văn học của các trường đại học và sách dạy phổ thông ở nước ta đã từng quyết liệt cảnh báo ngay từ những năm 1917-1918 [đương nhiên là người ta dấu nhẹm sự cảnh báo này] : “Cách mng đã đánh đ nn quân ch, điu đó đúng! Nhưng điu đó có l cũng có nghĩa rng cuc cách mng đã mang chng bnh ngoài da vào bên trong ni tng. Người ta không được phép tin rng cách mng đã cha tr và làm phong phú cho nước Nga v mt tinh thn. Chính vì vậy, M.Gorki viết : “Đi vi tôi, li kêu gi T quc lâm nguy cũng không đáng s hơn li kêu gi Hi các công dân! Văn hóa b lâm nguy”!**

Sư suy thoái đạo đức đích thực, chứ không phải sự gán ghép tùy tiện do sự lú lẫn đầy ác ý, là biểu hiện dễ thấy của “s lâm nguy” này. Sự lâm nguy bắt đầu từ khi người ta “đã mang chng bnh ngoài da vào bên trong ni tng” của cả dân tộc. Càng nguy hiểm hơn khi, thay vì “phi được trui rèn trong ngn la cháy không bao gi dt ca văn hóa, tinh thn nô l đã hn sâu trong nó phi b ty sch đi“, thì người ta làm ngược lại, tàn phá văn hóa.

Sẽ quá dài nếu phải liệt kê ra đây sự tàn phá đó khi mà chỉ lẩy riêng ra “mt hin tượng Trn Đ“, nói chính xác hơn, cách ứng xử với ông Trưởng Ban Văn hóa Văn Nghệ Trung Ương Trần Độ khi ông nằm xuống, cũng đã quá đủ để minh họa một cách sống động về điều này.

Trong một bài gần đây trên tạp chí “Văn Hóa Ngh An” ngày 31.7.2013, giáo sư Nguyễn Minh Thuyết lưu ý‎ rằng : “quan sát trong xã hi, đo đc suy thoái, đúng là chưa bao gi đt nước vào tình trng như hin nay. Nói cách khác, trong lch s ch thi mt mi xut hin nhng chuyn như thế…”. Ông dẫn trong “Hoàng Lê Nht thng chí” lời học trò của L‎ý‎ Trần Quán trả lời thầy khi bị ông mắng về tội bắt Chúa Trịnh Tông nộp cho Tây Sơn : “S thy không bng s gic, yêu chúa không bng yêu thân” để đưa ra nhận định : “Có th nói đó là câu nói đin hình cho s suy thoái…. Còn v các nước, có th nói, nếu so sánh, phi thy là nhng xã hi có hin tượng như thế này là xã hi kém phát trin. Xã hi văn minh cũng có nhng hin tượng này nhưng nó không b rc, không ph biến như thế“….Quả đúng vậy. Nhưng để cho trọn vẹn hơn thì xin mạo muội đề nghị giáo sư Thuyết trích thêm một dòng nữa ở trang 106 trong sách nói trên, con người “la thy phn chúa” ấy rồi “được phong làm Tráng Nghĩa hu thêm chc Trn th Sơn Tây“! Chính cái “được” này mới là động cơ mãnh liệt thôi thúc những chuyện lừa thầy, phản chủ mà giáo sư gọi là “suy thoái” kia.

Những con “rô bốt” vô hồn, dù là cao sang quyền quý, danh gia vọng tộc hay lưu manh chính trị mạt hạng đang nhan nhản khắp nơi, hoặc tác oai tác quái với dân, hoặc lên mặt đạo đức giả đi rao giảng đạo đức lấy đó làm cái lá nho để che đi những xấu xa thối nát quá lộ liễu, hoặc nói một đằng làm một nẻo mất hết liêm sỉ mà dân gian gọi là đã đứt giây thần kinh xấu hổ …xét đến cùng chính là vì cái được ấy! Ngay cả những người đang theo lý thuyết “mắc-kê-nô”, tạm bằng lòng với ngôi nhà vừa tậu, chiếc ô tô đời mới hay cái công ty của con đang làm ăn yên ổn đang xua tay “không muốn động đến chuyện chính trị” thì trong sâu thẳm tâm hồn họ, cái động cơ mãnh liệt kia vẫn đang khởi động.

Xét đến cùng, vâng, xét đến cùng, cái “được” kia, nói chữ nghĩa ra là li ích nhận được từ cái cơ chế sản sinh ra những “rôbốt” vô hồn kia chính là chất xi măng gắn kết chúng với nhau vì lợi ích, và cái đem lại lợi ích nhanh chóng nhất chính là quyn lc. Trong bài viết cách đây chưa lâu, người viết này đã nói về quy luật này : Quyn lc thúc đy vic m rng vô hn đ quyn lc, và hu như không có đim dng. Nhưng “quyn lc li có xu hướng tha hóa và quyn lc tuyt đi thì tha hóa cũng tuyt đi(Power tends to corrupt and absolute power corrupts absolutely, có người dịch từ “corrupt” là “tham nhũng” trong những văn cảnh nhất định nào đó).Chế độ toàn trị phản dân chủ là nguyên nhân sâu xa cho cái chuyện “quyn lc tuyt đi thì tha hóa cũng tuyt đi ” ấyLiệu lịch sử loài người đã biết có bao nhiêu thứ “quyền lực tuyệt đối” như chê độ toàn trị hiện hành?

Thật ra thì vào cuối những năm 50 của thế kỷ trước, Milovan Dijlas, tác giả của “Giai cp mi“, một tác phẩm viết trong tù  được bí mật gửi ra nước ngoài và được in ở New York năm 1957 từng phân tích rất rành mạch về chyện này :

Đng sinh ra giai cp. Sau đó giai cp t phát trin bng chính ngun lc ca mình và s dng đng như là cơ s đây, mun tr thành ch s hu hay đng s hu thì cn phi len được vào hàng ngũ ca b máy quan liêu chính tr“.

Ông chỉ ra rằng : “Giai cp mi ging như mt hình kim t tháp : đáy to, càng lên trên càng hp dn. Đ đi lên, ch ý chí không chưa đ, còn cn phi hiu và “vn dng lý lun na”, cn phi quyết lit trong cuc đu tranh vi k thù, phi cc k khôn khéo khi xy ra các cuc tranh chp trong ni b đng, phi nm được ngh thut, thm chí tài năng trong vic cng c v trí cho giai cp na“.

Vì thế, “cùng vi vic cng c giai cp mi, khi b mt ca nó càng th hin rõ, thì vai trò ca đng cũng ngày càng gim đi. Ht nhân và cơ s ca giai cp mi đã hình thành bên trong cũng như trên đnh quyn lc ca đng cũng như ca b máy nhà nước. Cái đng tng có lúc là mt t chc sinh đng đy sáng kiến, thì nay, đi vi nhng người cm đu ca giai cp mi, đng đã biến thành mt vt trang trí, càng ngày ch càng kéo vào hàng ngũ ca mình nhng k hãnh tiến, nhng k mun nhp vào hàng ngũ ca giai cp mi và đy nhng người vn còn tin vào lý tưởng ra“.***

“Hiện tượng Trần Độ” liệu có phải là minh chứng sống động về“nhng người vn còn tin vào lý tưởng” bị đẩy ra một cách quyết liệt, quá sức phũ phàng, cạn tàu ráo máng? Mà phải đẩy ra bằng được, vì lý tưởng cao đẹp của con người ấy đang là vật cản cho quá trình “cng c giai cp mi bên trong cũng như trên đnh quyn lc ca đng, cũng như ca b máy nhà nước“.

Chẳng có gì khó hiểu và ví ( bí?) ẩn trong chuyện phũ phàng, cạn tàu ráo máng với Trần Độ. Đây là diễn biến logic về sự tha hóa của quyền lực. Nó đồng thời cảnh báo một nguyên lý sẽ được đẩy tới ngày càng hung dữ và bất chấp đạo lý cũng như luật pháp : quyền lực tuyệt đối thì tha hóa cũng tuyệt đối! Chuyện chà đạp lên đời sống tâm linh trong đạo lý nghĩa tình dân tộc chẳng là gì so với chuyện củng cố bộ máy quyền lực khi “cn phi quyết lit trong cuc đu tranh vi k thù, phi cc k khôn khéo khi xy ra các cuc tranh chp trong ni b đng, phi nm được ngh thut, thm chí tài năng trong vic cng c v trí cho giai cp mi đang nm quyn”!***

Thế thì làm sao chấp nhận được một ủy viên trung ương đảng, một phó chủ tịch Quốc hội, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, lại đòi hỏi :” Đng Cng sn phi t mình t b chế đ đc đng, toàn tr, khôi phc vai trò, v trí vn có ca Quc hi, Chính ph. Phi thc hin đúng Hiến pháp, tc là sa cha các đo lut chưa đúng tinh thn Hiến pháp. Đó là phi có nhng đo lut ban b quyn t do lp hi, lp đng, t do ngôn lun, lut báo chí, xut bn. Sa cha các lut bu c ng c t do, t b quyn quyết đnh ca cơ quan t chc Đng…”.

 

Càng không thể nào dung nạp được một cách tư duy quyết liệt khi vạch ra rằng :” Không nên lm dng ch cách mng. Ta bây gi không phi là cách mng chng ai c, không phi đánh đ ai c. Xây dng hoà bình thì phi đoàn kết, có gì tr ngi thì hoá gii nó đ tiến lên…không th lúc nào cũng phi có chương trình hot đng cách mng, lúc nào cũng phi hành đng cách mng…

 

Chính quyn bây gi không phi là chính quyn cách mng. Điu đó ch có ý nghĩa khi cách mng va mi thành côngNgày nay chính quyn phi là chính quyn xây dng. Chính quyn xây dng thì phi có nhng ch trương, chính sách làm cho mi người dân đu được t do làm ăn. Và t đó người dân phi có t do nói, t do tìm thông tin và trao đi thông tin. Như thế t do làm ăn mi thc hin được…  rt nhiu nơi, nhiu lúc, không cn đến cách mngNhưng tt c các nơi đu cn có t do, và ln nht là t do làm ăn phi có t do hưởng li ích ca kết qu s làm ăn đó.

Nhân dân ch mun tiến hoá, ch không mun cách mng bo lc! Đt nước ta đã tri qua mt thi k lch s kéo dài gm nhng cuc chiến đu chng xâm lược giành đc lp, hoà bình xây dng, ri li b xâm lược. Và li chiến tranh chng xâm lược. Qua quá trình đó mà đt nước ta trưởng thành và phát trin. Cho đến nay, đt nước đã được hoà bình đc lp, thng nht.

Không biết tương lai loài người s phát trin, tiến b thế nào và do đó đt nước ta s gp nhng tình hung thế nào ? Nhưng chc chn là nhng bước đi sp ti ca ta cũng không có th lp li y nguyên nhng tình hình trước đây

“Động trời” hơn nữa khi Trần Độ tuyên bố không úp mở : ” Chiến tranh ln và các hot đng bo lc, lt đ càng ngày càng tr nên lc hu li thi…Đ có t do và hnh phúc, không nht thiết phi có bo lc, không nht thiết phi đánh đ ai. Thm chí ngày nay có nhng nn đc lp giành được cũng không cn có bo lc và chiến tranh“!

Và rồi, người đứng đầu cơ quan lãnh đạo văn hóa văn nghệ mà lại công khai nói thẳng cái sự thật nghiệt ngã mà hơn nửa thế kỷ qua người ta cố né tránh, bưng bít : “Văn hóa mà không có t do là văn hóa chết. Văn hóa mà ch còn có văn hóa tuyên truyn cũng là văn hóa chết. Càng tăng cường lãnh đo bao nhiêu, càng bóp chết văn hóa by nhiêu, càng hiếm có nhng giá tr văn hóa và nhng nhà văn hóa cao đp”.

 

Cách chức, khai trừ đảng là chuyện quá dễ hiểu, không thế mới lạ! Thì chẳng phải đã có một ví dụ quá rõ nét khi Đảng và nhà nước Nam Tư đã bỏ tù tác giả của “Giai cp mi“, người đã từng được bầu làm Phỏ Tổng thống Liên bang Nam Tư, “cây lý luận hàng đầu” của Đảng Cộng sản Nam Tư đó sao?

Milovan Dijlas từng tuyên bố : “Tôi, mt trí thc đã đi trn con đường mà mt đng viên cng sn có th đi. T nhng chc v thp nht, t các t chc cơ s cho đến quc gia và quc tế, t vic thành lp mt đng cng sn chân chính, chun b cách mng, đến vic tham gia xây dng cái gi là chế đ xã hi ch nghĩa. Không ai buc tôi phi tham gia hay t b ch nghĩa cng sn c. Tôi đã t quyết, theo nim tin ca mình, mt cách t do…Càng ri xa ch nghĩa cng sn, tôi càng tiến gn đến lý tưởng ca ch nghĩa xã hi dân ch“…

Tư tưởng bình đng và bác ái tn ti cũng lâu như chính loài người, được ch nghĩa cng sn ng h trên li nói, vn mang trong mình nó sc hp dn vĩnh hng đi vi nhng chiến sĩ tranh đu cho t do và tiến b. Sc hp dn mang tính nhân bn ca nhng lý tưởng đó đã làm cho vic phê phán chúng tr thành không ch phn đng mà còn trng rng và vô nghĩa na”.

Chính vì thế, người trí thức “đã đi trn con đường mà mt đng viên cng sn có th đi” ấy đã “tp trung mô t đc trưng ca ch nghĩa cng sn hiến đi…Tt c ch là sn phm ca thế gii mà tôi đang sng và đang phê phán. Tôi đã thy và đã trình bày tt c mà không ngượng ngùng khi thú nhn rng mình đã là sn phm ca nó, có lúc đã là người tham gia xây dng nó và bây gi là người phê phán nó“. ***

Phải chăng đây là sự” phê phán nó” khi “” đã tự tha hóa, tự biến mình thành công cụ trong tay “giai cp mi” với lợi ích của chính nó, củng cố chế độ toàn trị phản dân chủ, quay lưng lại với nhân dân? Trong những bức thư Trần Độ gửi lãnh đạo của, đặc biệt là bức thư viết vào cuối năm 1974 dưới bút danh Chín Vinh, đã có bóng dáng của sự phê phán nói trên :” nhiu hin tượng tiêu cc trong xã hi và trong tt c các t chc Đng, trong b máy chính quyn…Điu đó ai cũng thy. Thế nhưng vn đ là ti sao nó li chuyn biến chm chp. S biến chuyn chm chp này đã to ra mt tình trng gim sút lòng tin trong cán b, đng viên, trong nhân dân và đáng ngi nht là trong thanh niên…Nhng hin tượng tiêu cc ca xã hi ( và trong Đng, trong chính quyên) làm vn đc s trong sáng và đp đ ca nhng lý tưởng, đu đc nhng lòng say mê hăng hái có tính cht lãng mn cách mng, “sng tiêu cc”, to nên “mt thế lc xã hi” bao vây và xua đui nhng tâm hn trung thc”…mi người trung thc đu nóng lòng mong đó mt cái gì đi mi, chuyn biến gì mnh m…”.****

Phải chuyển nhanh, phải đổi mới nhanh để khỏi phải chứng kiến những điều đau lòng mà ông nghe được từ người bạn cũ cùng xóm lần ông từ chiến trường về quê sau mười năm xa cách :”cuc sng nhà tht khn kh, khn kh nhưng không ai dám kêu. Đói đy phi bo là no. Có ai hi đu nói ” cám ơn bác cũng đ ăn. Nếu kêu đói tc là thành phn xu. Ông hỏi người bạn cũ : Được my cháu ri?– Nh ơn cách mng được ba đa- Sao li nh ơn cách mng?-  chiến trường không biết ch nhà cái gì ch nh ơn cách mng. Nuôi được con ln to, cưới được v cho con, nht nht là ơn ca cách mng c“!

Là người lăn lộn ở chiến trường cùng với chiến sĩ, lặng lẽ ghi những hiện thực thất đáng buồn ở hậu phương, câu chữ ngọn bút ghi lại chạy trên trang giây mỏng hoàn toàn là sự thật, tướng Trần Độ day dứt : “Nếu s tht này tin tuyến người lính biết được hoàn cnh sng ca cha m v con thì cp trên biết nói thế nào vi h“? **** Trung thực với chính mình, trung thực với cuộc sống, trung thực với lịch sử, chính cái đó tạo ra “hiện tượng Trần Độ”, ở đây “sc hp dn vĩnh hng đi vi nhng chiến sĩ tranh đu cho t do và tiến b. Sc hp dn mang tính nhân bn ca nhng lý tưởng đó” bị chính sự dối trá lọc lừa của “quyn lc b tha hóa” làm cho băng hoại. Bằng sự trải nghiệm của cả cuộc đời dấn thân trọn vẹn cho lý‎ tưởng nhân văn cao đẹp, Trần Độ tỉnh táo nhận ra sự băng hoại khủng khiếp đó.

Trong Nhật ký viết vào những năm cuối đời mà ông gọi “đây là mt tc lòng “đ tng người đi và cuc đi. Đây là nhng ý nghĩ nung nu trong nhng tháng cui năm Rng và đu năm Rn, và cũng là nhng ý nghĩ nung nu trước đó hàng chc năm và s còn nung nu tiếp đến c khi sang thế gii bên kia. Đây là ni nim cay đng ca mt cuc cách mng, và ca mt kiếp người“.

Vấn đề Trần Độ đặt ra đâu chỉ là ý nghĩ của riêng ông. Mt xã hi mà công dân không được quyn sng tht, nói tht, nhà văn cũng không được quyn bc bch tâm s riêng tư ca mình trên trang giy là mt xã hi không có chân móng. Câu này Nguyễn Khải viết trong “Đi tìm cái tôi đã mât“. Thật đau đớn khi “mt dân tc đã làm nên chiến thng Đin Biên Ph mà mt người dân nám đen, mt nhìn ngơ ngác, đi đng long rom như mt k bi trn. Qu tht dân tc Vit Nam đã thng ln trong phong trào chiến tranh gii phóng nhưng li thua đm trong công cuc xây dng mt xã hi t do và dân ch. Thoát ách nô l ca thc dân li t nguyn tròng vào c cái ách ca mt hc thuyết đã mt hết sc sng. Dân mình sao li phi chu mt s phn nghit ngã đến vy! Vẫn là Nguyễn Khải dăn vặt trong “Đi tìm cái tôi đã mt“.

Mà đâu chỉ nhà văn Nguyễn Khải có nỗi dắn văt đó, nhà thơ Chế Lan Viên trong bài “Trừ Đi” cũng từng nói lên nỗi đau dằng xé tâm can :

Sau này anh đc thơ tôi nên nh

Có  phi tôi viết đâu! Mt na

Cái cn đưa vào thơ, tôi đã giết ri

Giết mt tiếng đau – giết mt tiếng cười

Giết mt k nim – giết mt ước mơ – tôi giết

Cái cánh sp bay – trước khi tôi viết

Tôi giết bão ngoài khơi cho được yên n trên b

Và giết luôn mt tri lên trên bin – Giết mưa

Và giết c c trong mưa luôn th

Cho nên câu thơ tôi gy còm như thế

Tôi viết bng xương thôi, không có tht ca mình

Và thơ này rơi đến tay anh

Anh bo đy là tôi.

                             Không phi!

Nhưng cũng chính là tôi – Người có li

Đã phi giết đi bao nhiêu cái

Có khi không có ti như mình 

                                             

Chính vì thế, Trần Độ thẳng thắn chỉ rõ :

T do là chìa khoá ca phát trin.

Tôi nghĩ thế này: nước Vit Nam ta hin nay, sau bao nhiêu năm đu tranh và chiến tranh gian kh, cn phi hoà bình phát trin và cn phi phát trin nhanh, đ bù li nhng thi gian đã mt, và đ theo kp các nước chung quanh. Đó là mc đích và yêu cu quan trng nht ca đt nước. Nhng cái khác là ph. Do đó, đ phát trin đt nước thì rõ ràng ta phi tìm đường li nào, hc thuyết nào phc v được yêu cu đó. Nếu tht s coi phát trin đt nước là quan trng nht thì Đi đoàn kết dân tc là quan trng hơn đu tranh giai cp; trí thc quan trng hơn công nhân và nông dân; phát trin sc sn xut là quan trng hơn mi th; đ dân làm ch mi lĩnh vc quan trng hơn các trò chuyên chính đàn áp; nghe và thu thp được nhiu ý kiến khác nhau và trái ngược nhau k c v đường li chính sách, quan trng hơn là bt mi người phi tuân theo mt quan đim, mt ý kiến“.

Cho nên, đúng là không có gì khó hiểu khi người ta phải khai trừ Trần Độ ra khỏi đảng, rốt raó đến độ khi ông mất lại cạn tào ráo máng cấm không được “thương tiếc ông“. Đây là kế tục thực hiện một nguyên lý‎ cai trị. Thì chẳng thế sao ? Từ những năm 1955, ngay sau giải phóng Thủ đô, thay vì “Khi đoàn quân tiến v là đêm tan dn” như Văn Cao mơ ước, người ta đã “…đem bc công anh đt gia tim người/ Bt tình cm ngược xuôi/ theo lut đi đường nhà nước“. [Thơ Lê Đạt] Chẳng những thế, “phi to ra mt tình hình chính tr luôn căng thng (mt cuc chiến tranh có th xy ra, mt cuc bo lon có th xy ra) đ buc các công dân phi sng trong nhng quy chế nghiêm ngt ca thi chiến, các chế đ toàn tr ch có hai cơ quan mà quyn uy bao trùm c xã hi. Đó là cơ quan tư tưởng, tuyên truyn và cơ quan công an. Mt đ chn, mt đ chng. 

Còn khi đã có chuyn bt thường xy ra thì ch có mt bin pháp: đàn áp, bt gi, lp toà án xét x nhng k cm đu. Cách gii quyết va nhanh gn li mau n đnh, không dây dưa, phin toái vì có quá nhiu lut l, qua nhiu lý l như các nước tư bn. Nhng ri lon vt vãnh tht ra là nước là không khí ca các nhà cm quyn đc tài. 

H đâu có s lon. H còn bày ra nhng cuc chiến cung đình như Liên Xô và các nước Đông Âu, hay mt cuc chiến gia nhân dân vi nhau như đã làm Trung Quc. Không có mùi v ca thuc súng, ca máu người và nhng tiếng la hét cung n ca đám đông thì người cm quyn biết th bng gì“…Những câu này là của tác giả “Đi tìm cái tôi đã mất”.

Chính vì thế mà phải ” Nói di lem lém, nói di lì lm, nói không biết xu h, không biết run s vì người nghe không có thói quen hi li, không có thói quen lưu gi các li gii thích và li ha đ kim tra. Hoc gi hi li và kim tra là không được phép, là ti k, d gp tai ho nên không hi gì cũng là mt phép gi mình. Người nói nói trong cái trng không, người nghe tuy có mt đy nhưng cũng ch nghe có nhng tiếng vang ca cái trng không. Nói đ giao tiếp đã tr thành nói đ không giao tiếp gì hết, nói đ mà nói, ch l làm người li không nói .

 Tht ra nói thế mà vn hiu nhau c. Người cm quyn thì biết là nhân dân đang rt bt bình v nhiu chuyn, nhân dân thì biết người cm quyn đang nói di, nhìn vào thc tin là biết ngay h đang nói di. Nhưng hãy mc h vi nhng li l di trá ca h, còn mình là dân ch nên hi li nói thế là tht hay không tht

Mi cái khác vi chính thng đu b lên án, mi cái ging nhau đu được tuyên dương. Vì nhng cái khác nhau rt khó to ra s nht trí, còn nhng cái ging nhau s d nghe theo, làm theo mi mnh lnh.

Nhà văn Nguyễn Khải đau đớn đặt ra một câu hỏi : “mt môi trường xã hi ngt ngt vì cái bóng quyn lc ph lên tt c, quyết đnh tt c thì s phn nhng cá nhân s ra sao? Vị tướng Trần Độ trả lời câu hỏi đó trong những trang Nhật ký viết ở chặng sắp kết thúc một cuộc đời dấn thân trọn vẹn cho lý tưởng cao cả từ thuở đầu xanh cho đến lúc tóc bạc để đúc kết vào chỉ mỗi một câu thôi :

 Đây là ni nim cay đng ca mt cuc cách mng, và ca mt kiếp người“.

Tôi mượn câu này làm một nén hương lòng thắp trước di ảnh của ông nhân ngày Giỗ của người mà tôi kính mến. Tôi là kẻ hậu sinh, quen biết ông quá muộn, được ông xem là bạn vong niên đã là một niềm cảm kích lớn, xin chỉ gợi lại một kỷ niệm nhỏ với ông. Hôm ông đến chơi, ông trách tôi : “anh tệ thật, không thèm gửi sách cho tôi”, vừa nói ông vừa đến bên giá sách và chỉ vào cuốn “Kho sát xã hi hc v phân tng xã hi” đã in cách đó 5 năm. Tôi choáng người, vội xin lỗi và thanh mình : “Chết tôi ri, tôi đã gi biếu anh ngay sau khi nhn được t nhà xut bn v. Tôi còn nh rõ, cun đánh s 4“. “Sao? Đánh s? li s 4″, ông ngạc nhiên hỏi.

“Vâng, chính vì thế mà tôi nhớ rõ mà. Duyên do là cuốn sách ấy chỉ là toàn bộ bản báo cáo về cuộc khảo sát xã hội học ở Thái Bình mà Anh đã hỏi chuyện tôi khi gặp anh tại nhà khách tỉnh ủy sau đó một năm nay hoàn chỉnh lại về văn phong, câu chữ để đưa in. Tuy đã được Hội đồng nghiệm thu cấp Nhà nước chấp thuận, nhưng khi đưa in thì Nhà xuất bản đòi bỏ một số đoạn. Tôi từ chối. Giằng co mãi, cuối cùng anh Nguyễn Duy Quý xử lý một cách rất cao tay : in và lưu hành nội bộ. Tôi đồng ý ngay. Chỉ cần in, còn lưu hành nội bộ thì càng tốt, đó là một cách quảng cáo cho sách. NXB chơi chua : chỉ in 100 cuốn và đánh số từ 1 đến 100, gửi cho ai thì phải ghi tên người đó và số của cuốn sách (!). Cuốn này, tôi gửi cho anh HTK, sau khi anh ấy mất, tình cờ đến chơi nhà, thấy cuốn sách nằm lăn lóc trong đống sách cũ, tôi xin lại đem về đặt vào đây, cuốn sách mà anh đang cầm trong tay đó, vì còn cuốn cuối cùng trên giá sách này thì một người bạn thân cầm về rồi “quên” chưa trả”.

Ông trầm ngâm đưa trả cuốn sách không nói gì. Một lần khác, cùng ông lên chơi nhà Thu Bồn ở “Suối Lồ Ồ”, đến nơi thì đã tối tròi, khi bước xuống xe thấy ánh đèn flash lóe sáng. Ông cầm tay tôi nói to với các bạn cùng xuống xe : “đng li đ người ta chp nh đã, chp xong ri hãy vào nhà“, mọi người cười ồ. Lúc ăn cơm, tôi nhắc với ông để in lỗi vì chưa đi photo cuốn sách để gửi đến ông nhưng nói thêm là sách lạc hậu rồi, anh đứng mất thì giờ đọc làm gì. Ông cười và yêu cầu gửi gấp, câu này ông nói hơi to. Thế là, sáng hôm sau, một người học trò cũ của tôi, nay là “nhà báo”, người ngồi cạnh tôi tối qua ở nhà Thu Bồn và bả lả vui vẻ : “em tình c thy thy và theo vào đây, vui quá, thy cho phép em ngi ch“, bỗng bất ngờ đến chơi. Thầy trò gặp nhau vui vẻ, anh ấy xuống bếp mươn mấy cái đĩa, lôi từ trong túi giấy ra mấy thứ bánh lá “em biết thy vn thích loi bánh này nên mang đến thy dùng ba sáng“. Vừa ăn bánh, vừa hàn huyên bao chuyện cũ, anh học trò hạ giọng, “thầy ơi, cuốn sách thầy đinh photo biếu bác Độ, thấy có thể cho em xem được không ạ”.Biết việc anh ấy phải làm và mục đích của bữa ăn sáng, tôi kéo anh ta đến giá sách, lôi cuốn sách ra đưa cho anh và nói : “Mình nh cu đi photo giúp mình, qu tht mình cũng đang đnh làm chuyn này nhưng bn quá. Cu photo cho mình 2 cun, mt mình gi li, mt đưa biếu ông Đ, còn li cu mun photo y bn đ cho công vic ca cu thì tùy“! Người ta “chăm sóc” ông Độ thật chu đáo.

Nhưng rồi bộ sách”Trần Độ. Tác Phẩm tập 1, 2,3″ do NXB Hội Nhà Văn in rất đẹp cũng đã ra mắt bạn đọc. Dành thì giờ đọc lướt qua mấy nghìn trang sách, nhưng những lời, những đoạn tôi trích ra trong bài viết này thì không có ở trong đó.Thôi thì chăc là ai đó đang sực nghĩ đến những bước đi của lịch sử và sự sòng phẳng của lịch sử. Ngạn ngữ phương tây có câu : “Không có vĩ nhân dưới con mt ca k hu phòng“. Người hầu phòng mẫn cán và thông thạo nghiệp vụ chỉ cần đánh giá khách hàng của anh ta thông qua đẳng cấp căn phòng mà khách thuê và số tiến bo anh ta sẽ nhận được từ hầu bao của vị khách.

Sực nhớ đến “Li” trong “Bơ vơ Đông đo” của Việt Phương :

Nhng người lính tr ngã xung Lng Sơn

                   không liên quan gì đến ngày hôm nay na

Ch còn lo toan nhng ghế nh lên ghế to

                    xe cúp lên ô tô chung cư lên bit th

                              trong cuc đòi bơ sa mà thôi. 

Vậy thì người lính Trần Độ, tướng Trần Độ, nhà văn hóa Trần Độ liệu có “bơ vơ” giữa cuộc đời “đông đo” này không nhỉ?

Tôi tìm thấy trong tâp thơ “Nng” của Việt Phương với đề từ “đi đang đón đi đ đong đy” vừa nhận được hôm qua hai câu :

Mong sao được là người mê mui

Ln xung sâu đm đui gp chân tri

Sài Gòn 8.8.2013

_______________________

Roger Pearson, (2005), Voltaire Almighty, London: Bloombury Publishing. Tr. 66 – 67.

** Maxim Gorky Nhng ý tưởng không hp thi đăng trên nhật báoNovaja Žizn (Đời Mới) trong những năm 1917-1918.  NXB Surkamp               taschenbuch của Đức ấn hành năm 1974.

***Những đoạn có *** đều trích trong “Giai Cấp Mới” của Milovan Dijlas

**** Những đoạn có **** đều trích trong “Chuyện Tướng Độ” của Vũ Bá Cường. NXB Quân Đội Nhâ dân

 

Nguồn: blog Quê Choa

Thanh Nghiên – Chúng ta sẽ không bao giờ mất anh

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn on 2013/07/24 at 15:59

Tự do cho Điếu Cày – Free blogger Điếu Cày

Nhà tù không hẳn là địa ngục nhưng phận tù đày là kiếp đày đọa nhất của mọi kiếp người.
Và trong kiếp đày đọa ấy, vẫn có thêm một sự đọa đày.
Nếu anh Điếu Cày Nguyễn Văn Hải vẫn bị biệt giam trong buồng kỷ luật thì có nghĩa, anh đã bước sang ngày thứ 32 tuyệt thực trong “nhà tù của nhà tù”.
Còn tôi, ngồi đây để gõ mấy con chữ vô nghĩa này, để nói về sự may mắn của mình.

Tôi may mắn cả khi là một người tù.
Tôi đã không phải bỏ mạng như người tù lương tâm Nguyễn Văn Trại, Trương Văn Sương sau hàng chục năm bị giam cầm. Hay người tù lương tâm, linh mục Nguyễn Văn Vàng, khi chết vẫn đang bị cùm và bị bỏ đói.

Tôi không phải thoi thóp để nhìn quỹ thời gian của mình đang dần vụt mất như người tù thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu gần bốn mươi năm trời không nhìn thấy ngày trở về.

Tôi may mắn hơn rất nhiều những người trong một khoảnh khắc bại trận đã bị biến thành tù nhân chỉ vì không biết dùng thủ đoạn và sự tàn ác với dân tộc mình để chiến thắng. Trong số những cựu quân nhân cán chính dưới thời Việt Nam Cộng Hòa, có người bị cầm tù đến tận hôm nay, đã hàng chục năm trời sau cái lần gọi là “giải phóng” ấy. Có người đã gửi lại thân xác (nguyên vẹn hoặc không nguyên vẹn) nơi chốn ngục tù. Nhiều đồng đội của họ vẫn còn bị cầm tù nơi nghĩa trang lạnh lẽo.

So với những người tù hình sự (có tội hoặc không có tội), tôi cũng may mắn hơn. Họ, hầu hết không dám nhìn thẳng vào mặt những tên cai tù.

Và nhìn sang những đứa trẻ phải theo mẹ vào tù để chung kiếp đọa đày, nhiều bé đã ra đời trong bốn bức tường giam, vẫn còn may mắn hơn nhiều bào thai khác không có cơ hội cất tiếng khóc chào đời dù trong chốn ngục tù. Tôi may mắn hơn các bé vì tôi là người tù đã ngoài ba mươi tuổi.

Còn trước anh, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, tôi thấy mình tầm thường và nhỏ bé.

Trong buồng biệt giam, nơi có thể nghe rõ cả tiếng thở dài của người bạn tù buồng bên cạnh, Điếu Cày đối mặt với sự tĩnh lặng đến ghê người. Và lắng nghe cơ thể của mình – một hình hài đã trở nên quá mong manh – thay đổi qua từng ngày tuyệt thực. Nhưng anh đâu chỉ đối mặt với nỗi cô đơn tinh thần. Để đánh bại anh, chúng sẽ “lôi” Điếu Cày ra khỏi những suy tưởng của riêng mình, bắt anh chấp nhận một cuộc đấu cả bằng sức (vốn đã không còn) lẫn bằng trí. Một người luôn “dị ứng” và mẫn cảm với mọi sự sỉ nhục như Điếu Cày, hẳn sẽ không tiếc dù là chút sức lực cuối cùng để ném sự khinh bỉ và ghê tởm vào những tên cai tù, đang lăm lăm dùi cui và bản nhận tội viết sẵn dành cho anh.

Tất cả chúng ta đang hướng về anh, tôi cũng như bạn. Nhưng tôi sẽ làm cái việc lần đầu tiên tôi làm: Kết thúc bài viết khi nó vẫn đang dang dở. Và tin rằng, chúng ta sẽ không bao giờ mất anh. Anh đã chiến thắng và anh sẽ sống.

Nhà tù đã quỳ gối quy hàng trước anh, một người tù kiên gan và bền chí.
Và chính anh, đang nâng đỡ chúng ta trong những phút giây yếu đuối này.

Nguồn: FB Thanh Nghiên

Tưởng Năng Tiến – Điếu Cầy Tuyệt Thực

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn on 2013/07/24 at 07:17

“Từng phút một, hình hài đáng quý trọng ấy có thể giã từ chúng ta, làm thế nào loại trừ để khả năng đáng ân hận ấy không thể xảy ra, không được xảy ra?”

Hà Sĩ Phu


Dù chưa bao giờ tuyệt thực nhưng cái đói thì tôi chả xa lạ gì. Lắm người Việt Nam (e) cũng thế. Mà nghĩ cho cùng thì đói ăn, thiếu mặc đều là những chuyện rất bình thường đối mọi công dân nơi đất nước theo chủ nghĩa cộng sản – chứ chả riêng chi ở xứ sở mình.

Chỉ có điều không bình thường là chúng tôi – những sĩ quan của quân lực miền Nam, phần lớn khi tuổi đời vừa mới đôi mươi – đã phải đối diện với sự đói rách một cách hơi quá bất ngờ và vô cùng khắc nghiệt.

Chúng tôi chỉ được chuẩn bị vài ngày thức ăn nhưng lại phải trải qua một chương trình cải tạo kéo dài đến vài năm, hoặc cả chục năm. Và chịu đói là bài học đầu tiên, cũng là bài học duy nhất mà chúng tôi được dậy, và đây cũng là bài học kéo dài mãi cho đến ngày … mãn khóa!

Ở vào hoàn cảnh này khi vớ được mấy củ khoai đào sót, một con nhái chậm chân, một nắm rau rừng cấu vội, hay một vốc gạo thừa – vét được sau những lần tạp dịch dọn kho – mà có sẵn cái lon Guigoz bên mình thì tiện lắm. Nó đòi hỏi rất ít nhiên liệu khi nấu nướng, và gọn nhẹ khi di chuyển hay hay cần cất dấu.

Hằng đêm chúng tôi đều được nghe giảng dậy về một cuộc sống mới không giai cấp, mình vì mọi người, mọi người vì mình, không ai bóc lột ai, mọi sản phẩm đều là của chung, làm việc theo khả năng và hưởng thụ theo nhu cầu … Chúng tôi tiếp thu tốt, thảo luận tốt, viết thu hoạch tốt, với tinh thần nhất trí rất cao về tất cả mọi khía cạnh tươi đẹp của cuộc sống mới.

Tuy nhiên, ngay sau đó thì mọi người đều lục đục mang cái lon Guigoz của riêng mình đi nấu nướng, rồi tìm một góc khuất ngồi cắm cúi ăn. Hay còn gọi là “sột sệt” theo như cách nói riêng của người tù Bùi Ngọc Tấn.

Kiểu sống này rõ ràng (ngó) hơi kỳ và đáng phải hổ thẹn!

Điều may mắn là đói mãi rồi cũng hoá quen thôi. Cùng lúc, thời gian đã cho chúng tôi cái khoảng cách cần thiết tối thiểu để nhìn lại chính mình, và thay đổi dần thái độ. Những bài học (trời biển) hằng đêm không còn được lắng nghe chăm chú nữa. Những cái lon Guigoz cũng bị dẹp bỏ từ từ, và chỉ còn dùng để cất dấu thực phẩm đun nước pha tra – nếu có.

Lần lượt, chúng tôi họp thành từng nhóm nấu nướng và “sột sệt” chung. Vừa ăn, vừa nói chuyện giễu về những nét khôi hài của chủ nghĩa xã hội và thế giới đại đồng – nơi mà nhà cửa không cần khoá, và của rơi không có người nhặt vì toàn dân không ai có nhu cầu cần thêm một cái cuốc hay cái … thẻ cử tri.

Cuốc, nếu hư, chỉ việc xin thay cái khác. Còn thẻ cử tri thì lại quá dầy, và cũng quá nhỏ, không tiện cho việc vệ sinh thân thể! Chúng tôi đã cố gắng khôi phục lại con người bình thường của mình, bằng những nụ cười lém lỉnh như thế, hằng đêm.

Tất nhiên, cũng có những chiến hữu … một đi không trở lại. Họ vẫn cứ tiếp tục sống lủi thủi và lặng lẽ với cái lon Guigoz của (riêng) mình. Họ trở nên cô đơn và lầm lũi. Họ đâm ra sợ hãi và nghi kỵ tất cả mọi người xung quanh. Họ không bao giờ cười nữa, dù chỉ cười chơi giữa đám bạn bè đồng cảnh. Họ đã tận dụng Chủ Nghĩa Ăn Gô để đối phó với Chủ Nghĩa Cộng Sản (Guigozism v.s Communism) như một phương cách để sinh tồn.

Chúng tôi, tất nhiên, không phải là những tù nhân đầu tiên của chế độ hiện hành. Hơn nửa thế kỷ trước, ngay sau khi nửa nước rơi vào tay của người cộng sản, cũng đã có không ít người phải đi … cải tù.

Tương tự như hoàn cảnh của chúng tôi, họ cũng bất ngờ phải đối diện với cái đói nhưng phản ứng của những bậc tiền bối (xem ra) đáng kính trọng hơn nhiều – theo như lời kể của người tù Kiều Duy Vĩnh:

Chánh giám thị Nguyễn Quang Sáng tỏ ra quyết liệt hơn, cứng rắn hơn, dấn tới một bước nữa.Cấm triệt để làm dấu thánh trước khi ăn cơm. Nhưng lần này thì Nguyễn Quang Sáng phải chịu thua. “Ai cho các anh ăn?” chúng tôi. Chúng tôi cho các anh ăn chứ không có Chúa nào cho các anh ăn cả.” “Cấm cầu kinh, các anh vẫn lén lút cầu kinh vậy bây giờ trước khi ăn, tôi cấm các anh làm dấu. Các anh phải cảm ơn người cho các anh ăn. Đúng lắm, nhưng đó là chúng tôi đây chứ không có chúa nào hết. Không có con mẹ Maria, thằng Jê su nào cả. Biết chưa?” (Nguyên văn như vậy, tôi xin lỗi các vị phải viết đúng, không dám xuyên tạc, bịa đặt, báng bổ gì). Và đến bữa ăn. Quản giáo đứng đó. Mọi lần thì cửa mở, chúng tôi bê cơm vào trong phòng. Đóng cửa lại. Chúng tôi chia nhỏ từng xuất một và ăn. Không có sự hiện diện của ai cả. Nhưng hôm ấy, bê cơm vào, cửa vẫn mở, Quản Giáo đứng đó kiểm soát và nhắc lại lệnh cấm của Ban Giám Thị. Tất cả, cả tôi, không ai phải bảo ai, không chia cơm ra ăn. Đứng mãi chán, Quản Giáo đóng cửa lại đi về. Đến chiều, tù nhà bếp đến lấy thùng. Cơm canh vẫn nguyên. Cơm canh đều chia vào hai cái thùng gỗ to, chứ không chia thành một phần như ở xà lim. Buổi chiều, đích thân Chánh Giám Thị xuống, mọi việc lại diễn ra đúng như buổi sáng. Mặt tái vì giận dữ. Nhưng làm thế nào mà bắt họ ăn cho được? Không có khí thế hừng hực đấu tranh như những người Cộng Sản ở Sơn La, Côn Đảo tuyệt thực, không có hô khẩu hiệu, tất cả đều lặng lẽ ngồi im. Không thể dùng lưỡi lê và sức mạnh để nhét cơm vào mồm họ được. Họ không ăn, thế thôi. Không hò reo, không gõ bát, gõ đĩa, không ai diễn thuyết, kích động, yêu sách điều gì. Im lặng, ai ngồi chỗ ấy. Giám thị Sáng đứng đó, không một ai thèm nhìn vào mặt ông ta cả. Tất cả đều quay mặt đi chỗ khác. Giám thị Sáng đành phải ra về. ……………..


Sáng hôm thứ hai của sự tuyệt thực, tù lại khênh cơm lên.

Quản giáo lại đứng đấy để giám sát. Không ai nhúc nhích gì. Không ai ăn cả, kể cả tôi. Lúc ấy tu sĩ Chính đứng dậy cầm bát chia cơm canh của tôi ra cái thùng gỗ của nhóm năm người, tôi vẫn ăn cùng với tu sĩ. Tu sĩ Chính xúc vào bát của tôi, cơm canh đầy đặn và lặng lẽ bê đến trước mặt tôi.

“Đây phần của anh, anh ăn đi” và về ngồi lại ở chỗ mình.

Một lần nữa tôi lại xin các vị cố hiểu cho tôi và bỏ qua cho tôi.

Tôi không theo đạo Thiên Chúa và không làm dấu thánh bao giờ.

Tôi ăn. Hà tất gì tôi lại nhịn không ăn. Không có điều gì thúc đẩy buộc tôi bắt tôi không ăn cả.

Tôi nghĩ đúng như vậy.

Nhân cơ hội ấy. Quản Giáo bèn lên tiếng:

“Đấy các anh thấy không? Anh Vĩnh, anh ấy ăn cơm không cần làm dấu thánh. Có sao đâu nào. Anh ấy vẫn ăn được một cách ngon lành, thế thì tại sao các anh lại không ăn?

Các anh là đồ ngu dốt, cuồng trí, dại dột dám chống lại Đảng và Chính phủ.

Rồi các anh sẽ biết.”

Không một tu sĩ nào trả lời đáp lại.

Có tôi lên tiếng:

“Xin lỗi ông, chắc ông đọc lý lịch của tôi thì ông đã rõ, tôi không theo đạo nào cả? Phật không, chúa cũng không, mà lệnh của các ông thì chỉ có cấm làm dấu thánh trước khi ăn mà thôi. Tôi, tôi từ thuở cha sinh mẹ đẻ chưa làm dấu thánh bao giờ. Vì vậy tôi ăn có thế thôi.”

Đứng cho đến lúc tôi ăn xong. Quản giáo thấy trơ trẽn quá, quay gót khóa cửa ra về.

Đến buổi chiều không thấy mặt ai cả. Cả Giám thị, cả Quản giáo cả lính coi tù.

Tu sĩ Chính đứng dậy chia cơm cho một mình tôi. Tôi ăn.

Các đấng bậc và kể cả T.H Liệu cũng không ăn.

Hai ngày trôi qua.

Sáng hôm thứ ba tù khênh các thùng cơm canh nguội lạnh còn nguyên xuống nhà bếp và rồi lại khênh lên với cơm canh mới hãy còn nóng.

Không có ai đi kèm.

Ban Giám thị không.

Quản giáo không.

Khênh cơm canh vào buồng. Khóa cửa lại.

Chia đều.

Và các đấng bậc tu sĩ lại làm dấu thánh trước khi ăn.

Chẳng ai cười cợt, nói năng, hát hò, reo vui gì trước cuộc đấu tranh đã dành được thắng lợi lẫy lừng và vang dội đó …

Và cuộc sống của chúng tôi lại lặng lẽ trôi như thế cho đến khi tôi được về và các vị còn lại chết hết.

Viết tại Hà Nội, Ngày 1 Tháng 8, Âm lịch, năm 1994


Kiều Duy Vĩnh

 

Ông Kiều Duy Vĩnh qua đời vào năm 2012. Qua năm sau, trên trang Bauxite Việt Nam người ta đọc được một bản tin ngăn ngắn:

“Sáng nay 21/6/2013, sau khi gặp chồng mình tại Trại giam số 5, Thanh Hóa, bà Nguyễn Thị Dương Hà cho  biết do Trại giam số 5 Bộ Công an cuối cùng đã phải ra văn bản giải quyết đơn của Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, nên từ 9 giờ sáng hôm nay ông đã kết thúc tuyệt thực. Từ nhà tù, Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ gửi thư cảm ơn đến tất cả mọi người đã ủng hộ cuộc đấu tranh của ông.”

Tiếp theo đó là một bản tin khác của BBC, nghe được vào hôm 21 tháng 7 năm 2013:

“Ông Nguyễn Văn Hải, tức blogger Điếu Cày, hiện đã tuyệt thực sang ngày thứ 29 và ở trong tình trạng ‘rất yếu’.

Con trai ông Hải, anh Nguyễn Trí Dũng, vừa có cuộc tiếp xúc kéo dài chưa đầy 5 phút với cha mình hôm thứ Bảy 20/7 tại trại giam số 6, xã Hạnh Lâm, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Anh cho hay ông Hải tuyệt thực là để phản đối việc Viện Kiểm sát Nhân dân Nghệ An không giải quyết đơn khiếu nại của ông. Lý do khiếu nại là ông Nguyễn Văn Hải bị quản lý trại giam ép ký vào một bản nhận tội và khi ông không ký thì bị quyết định biệt giam ba tháng.”

Ảnh: Dân Luận

Về những “tội danh” của Điếu Cầy, ông Hà Sĩ Phu đã bình luận như sau:

“Qua thực tiễn, nghiệm ra rằng chỉ có mấy ‘tội’ này là nặng nhất, bị nhà nước ta ‘ghét’ nhất: thứ nhất là tội xúc phạm đến tình hữu nghị 16+4 , hai là tội lập tổ chức ‘ngoài sự lãnh đạo’, ba là tội bướng – nhất định giữ khí phách, lương tâm và danh dự cá nhân, không chịu phục tùng. Ba ‘tội’ hàng đầu này Điếu Cày đều dính cả, trọng tâm là tội thứ nhất, nói nôm là ‘tội chống Tàu xâm lược’!

Hơn nửa thế kỷ trước những tu sĩ công giáo đã thắng, sau một cuộc tuyệt thực để bảo vệ đức tin của họ, trong trại Cổng Trời. Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ cũng vừa thành công sau một cuộc tuyệt thực đòi bảo vệ nhân phẩm và sức khoẻ của tù nhân, tại trại giam số 5 –  Thanh Hoá.

Ở trại giam số 6, Nghệ An, cuộc chiến đấu của Điếu Cầy – rõ ràng – gian nan và phức tạp hơn. Ông không chỉ phải đối địch với cái nhà nước toàn trị hiện hành mà còn cả với đất nước “hữu nghị” láng giềng nữa. Ý chí của Điếu Cầy có thể dư nhưng thể lực của ông thì lại là chuyện khác:

Từng phút một, hình hài đáng quý trọng ấy có thể giã từ chúng ta, làm thế nào loại trừ để khả năng đáng ân hận ấy không thể xảy ra, không được xảy ra?”

Tưởng Năng Tiến

Người Buôn Gió – Đất nước điên

In Liên Kết, Tạp văn on 2013/07/12 at 12:19

Đất nước bạn bị giặc ngoại xâm lấn chiếm, đóng quân, bắn giết người dân nước bạn. Bạn biểu tình ôn hòa phản đối hành động xâm lược ấy tại thủ đô. Lập tức báo chí, truyền hình đưa tin hành động ấy của bạn là gây rối, hoang tưởng chính trị. Nhiều người dân nước bạn thấy bạn đi biểu tình, họ buông câu.

– Bọn điên.

Hàng xóm bạn bị nhiều người an ninh hỏi dò về bạn nhiều quá. Họ bực tức cho rằng bạn là thằng điên. Thằng điên mới làm những việc mà công an phải hỏi nhiều như vậy, canh gác bạn như vậy. Chẳng những hàng xóm mà đồng nghiệp, họ hàng nhà bạn nữa họ cũng nghĩ bạn điên. Mọi người nghĩ bạn điên khi bạn lo lắng, quan tâm đến những việc lớn lao mà chỉ có Đảng và Chính Phủ mới giải quyết được.

Bạn không quan tâm đến chuyện lớn lao đó nữa. Bạn đi đường thấy đèn đỏ, bạn dừng lại trước vạch đường. Những người đằng sau chửi bạn.

– Đm thằng điên, đường có ai đâu mà dừng lại.

Bạn ăn xong quả chuối, bạn cầm trên tay mãi, đi qua bao nhiêu con phố để tìm thùng rác công cộng vất. Người đồng hành với bạn nói.

– Ông điên mẹ nó rồi, vất đâu chả được.

Bạn lên phường xin dấu xác nhận cho con đi học. Người phụ trách chưa đến, mặc dù đã 9 giờ 30 sáng. Khi người đó đến bạn hỏi tại sao người đó không đến đúng giờ. Người đó giải thích phải đi giao ban, đi họp, đi dự lễ khai mạc, tổng kết…gì đó. Bạn chất vấn nếu đi thì phải có người trực thay, không thể cứ có lý do là bỏ việc trực mà đi. Người đó có thể chưa kịp nói gì, nhưng những người xếp hàng sau bạn cũng đi xin dấu sẽ mắng bạn là  thằng điên.

Nếu bạn phê phán chính sách của chính quyền, thì bạn chỉ một trong hai loại người mà xã hội xếp hạng bạn. Một là phản động khi bạn bị bắt, còn chưa bị bắt thì bạn ở loại thứ hai là thằng điên.

Cũng tương tự như thế, nếu bạn đi họp phụ huynh. Nhà trường thông báo đóng tiền cho một chương trình mà nhà trường phát minh ra, ví dụ như tiền mua máy tính cho giáo viên giảng dạy. Lẽ ra  máy tính là công cụ giảng dạy mà bộ giáo dục phải cấp cho giáo viên. Bạn thắc mắc điều đó, các phụ huynh khác nhìn bạn với con mắt khó chịu, kèm những câu lầm bầm đủ cho bạn nghe rõ.

– Thằng điên.

Đôi khi thằng điên không phải là bạn. Thằng điên là một sĩ quan công an hiếp dâm phụ nữ hàng loạt, hoặc thằng điên là một quan chức nhận tham nhũng 500 triệu. Người ta suy luận rằng nếu chỉ có những thằng điên mới đi chỉ trích chính phủ và đảng. người bình thường không ai để ý đến đảng và chính phủ làm gì. Thì tất nhiên, chỉ có thằng điên mới đi hiếp dâm nhiều phụ nữ khi mình là công an, vì chỉ có người bình thường mới đi hiếp dâm nhiều như vậy. Và chỉ có quan chức điên khùng mới đòi nhận hối lộ 500 triệu, vì quan chức bình thường phải liêm khiết không ai đi đòi hối lộ, chỉ có dân thường mới đi đòi hối lộ thôi.

Thế đấy, đất nước có vô số tiêu chuẩn để đánh giá bạn là thằng điên, mặc dù những điều bạn phản đối hoặc bạn làm thì bất kỳ người dân ở nước cũng làm và cho đó là điều bình thường.

Vậy là sao.? Phải chăng đất nước bạn đang là một đất nước điên.

Nguồn: FB Người Buôn Gió

Trần Trung Đạo – Một tuyên bố chung Việt-Trung có 29 lần “nhất trí”

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn on 2013/06/22 at 09:11

Nguồn: voanews.com

Đọc tuyên bố chung giữa Tập Cận Bình và Trương Tấn Sang ký ngày 21 tháng Sáu vừa qua mới thấy số phận chùm gởi CSVN phụ thuộc sâu xa vào cây cổ thụ già Cộng Sản Trung Quốc đến mức độ nào. Sự khiếp nhược và ươn hèn thể hiện rõ đến mức chỉ trong một văn bản gồm 8 điểm nhưng có tổng cộng 29 lần “nhất trí”.

Hai bên “nhất trí” không chỉ các chính sách đối nội nhằm duy trì quyền lãnh đạo tuyệt đối của đảng CS mà còn “có lập trường tương tự và gần nhau trong nhiều vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm” trong đó có cả vấn đề Đài Loan, một vấn đề thuộc nội bộ Trung Quốc không dính líu gì đến Việt Nam.

Tưởng cũng nên nhắc lại. Năm 1958, vì quá nhiệt tình nịnh bợ đàn anh CSTQ trong tranh chấp với Mỹ về vấn đề Đài Loan,  Bộ Chính Trị đại hội II của đảng CSVN đã chỉ thị Phạm Văn Đồng viết công hàm “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.” So sánh nội dung của tuyên bố chung lần này với các văn bản  theo đuôi Trung Quốc của các thập niên 1950, 1960 không khác nhau nhiều. Thời gian cách nhau hơn nửa thế kỷ nhưng mức độ khiếp nhược của CSVN đối với đàn anh CSTQ vẫn không thay đổi.

Vấn đề tranh chấp biển Đông là vấn đề nóng bỏng nhất, Trương Tấn Sang thay vì khẳng định việc quốc tế hóa, mở rộng vấn đề biển Đông sang các diễn đàn quốc tế như Philippines đang làm, lại cũng “nhất trí” thu hẹp vấn đề trong phạm vi hai nước “nhất trí giữ bình tĩnh và kiềm chế, không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp, đồng thời sử dụng tốt đường dây nóng quản lý, kiểm soát khủng hoảng trên biển giữa Bộ Ngoại giao hai nước, xử lý thỏa đáng các vấn đề nảy sinh với thái độ xây dựng, không để các vấn đề này ảnh hưởng đến đại cục quan hệ Việt-Trung cũng như hòa bình, ổn định tại Biển Đông.”

“Hòa bình” và “ổn định” là hai thuật ngữ ngoại giao bắt đầu từ chủ trương Đặng Tiểu Bình “giấu mình để bước tới” đã được lập đi lập lại trong hầu hết các văn bản về chính sách đối ngoại của CSTQ.

Từ nhiều năm nay, Trung Quốc một mặt kêu gọi “hòa bình” và “ổn định” nhưng mặt khác đã cho dời từng cây cọc trên vùng biên giới, lấn chiếm từng thước đất, từng bãi san hô, từng hòn đảo nhỏ trên biển Đông. Cái hèn hạ và tin tiện của đám lãnh đạo CSTQ là chúng chỉ biết ăn hiếp những đám lãnh đạo cũng hèn hạ và ti tiện tương tự, trong trường hợp này là CSVN  và chỉ biết ăn cắp vặt để các cường quốc không đủ lý do đặt vấn đề và các biến cố do chúng gây ra không đủ tầm vóc để được quốc tế quan tâm.

Bài học chính trị, kinh tế, quân sự từ thời thượng cổ đến nay đều cho thấy, đương đầu với kẻ thù lớn mạnh, chọn lựa cần thiết của các quốc gia nhỏ yếu là liên kết chặt chẽ với nhau và đồng minh với các nước lớn khác có quyền lợi mâu thuẫn với kẻ thù.

Dĩ nhiên giới lãnh đạo CSVN biết chiến lược quen thuộc đó nhưng tham vọng quyền lực của đảng CS và túi tham cá nhân, băng đảng không đáy đã làm mờ mắt họ, che mất tầm nhìn của họ vào các thế hệ tương lai con cháu giòng giống Việt.

Sau khi Liên Xô sụp đổ, Đảng Cộng sản Trung Quốc là chỗ dựa duy nhất và cũng là cuối cùng của đảng CSVN. Từ đó đến nay, các chính sách của đảng, từ các đổi mới kinh tế, xã hội cho đến các quan điểm chính trị, tư tưởng gần như rập khuôn Trung Quốc.

Giới lãnh đạo CSVN quá lo cho nồi cơm riêng của họ đến nỗi quên rằng Trung Quốc cũng có nhiều thách thức kinh tế xã hội và hạn chế chính trị nội bộ cần phải vượt qua để có thể duy trì tốc độ phát triển kinh tế hiện nay và tiếp tục cạnh tranh với Mỹ, Nhật, Đức.

Kỹ thuật quân sự của Trung Quốc  tiến xa so với thời kỳ chiến tranh với Việt Nam tháng Giêng 1979 nhưng điều kiện kinh tế toàn cầu ngày nay cũng đã làm cho các cường quốc phụ thuộc vào nhau nhiều hơn so với 30 năm trước. Ngoài ra, các vấn đề môi sinh, ô nhiễm, khan hiếm năng lượng đang là những mối đe dọa trầm trọng tại Trung Quốc và ảnh hưởng lớn đến cán cân thương mại quốc gia trong tương lai gần.

Quốc gia nào cũng cần ổn định để phát triển nhưng Trung Quốc cần ổn định hơn bất cứ quốc gia nào khác trong vùng.

Mặc dù viện trợ 2 tỉ đô la hàng năm để nuôi dưỡng chế độ độc tài man rợ của gia đình họ Kim nhưng chính Trung Quốc lại là một trong những nước lo lắng nhất khi họ Kim ra lệnh thử đầu đạn hạt nhân bất chấp lời can gián của Bắc Kinh. Bởi vì, nếu chiến tranh Nam Bắc Hàn lần nữa xảy ra, ngoài làn sóng tỵ nạn khổng lồ sẽ tràn ngập biên giới phía đông bắc Trung Quốc, hạ tầng kinh tế gầy dựng bấy lâu nay của Trung Quốc sẽ sụp đổ và có thể cả toàn bộ thượng tầng kiến trúc chính trị cũng sẽ tiêu vong theo. Giới lãnh đạo Trung Quốc còn ôm mối lo canh cánh khác bên lòng rằngTrung Quốc tuy là một nước lớn nhưng thường bị các nước nhỏ xâm lăng và cai trị nhiều chục năm, thậm chí hàng trăm năm như dưới các triều đại Mãn Thanh. Sự tan rã của đế quốc CSTQ chỉ là vấn đề thời gian.

Tuyên bố Việt-Trung mang nội dung ươn hèn và khiếp nhược của lãnh đạo đảng CSVN trước thiên triều CSTQ là lời cảnh tỉnh cuối cùng đối với những người đang còn ngóng cổ trông chờ, còn đang van xin thỉnh nguyện đảng CS sớm hồi tâm, hướng thiện mà còn là tiếng chuông gõ nhịp vào lương tri của cả dân tộc.

Như kẻ viết bài này kết luận trong bài “Ai giết 9 ngư dân Thanh Hóa ?” trước đây, chỉ có một Việt Nam văn minh dân chủ với một nền kinh tế cường thịnh, một hệ thống khoa học kỹ thuật hiện đại là phương pháp hữu hiệu nhất để ngăn chận không những Trung Quốc mà bất cứ một thế lực xâm lăng nào muốn thách thức đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam. Do đó, thay vì van xin, thỉnh nguyện đảng CS, những ai quan tâm đến đến tiền đồ đất nước nên dứt khoát tập trung toàn lực vào việc thay đổi cơ chế chính trị độc tài CSVN hiện nay.

Nếu không làm được thế, rồi không chỉ 9 ngư dân Thanh Hóa, không chỉ Hoàng Sa, Trường Sa, mà cả dân tộc lại sẽ chìm đắm trong họa đồng hóa của thời đại mới. Và khi đó, đừng đổ thừa cho Trung Quốc mà chính sự nhu nhược, yếu hèn, mê muội trong mỗi chúng ta đã giết chết 9 ngư dân Thanh Hóa, giết chết chính chúng ta và dân tộc Việt Nam.

Nguồn: FB Trần Trung Đạo

BS Hồ Hải – Chuyện ngược đời trong giáo dục

In Liên Kết, Tạp văn, Văn Hóa on 2013/06/18 at 15:50

Theo blog BS Hồ Hải

Về mặt triết học, như tôi đã viết, tư hữu và quyền lực là bản chất của muôn loài, từ thực vật đến động vật, trong đó có con người. Cái cây, ngọn cỏ muốn sinh tồn rễ và táng cây cũng phải chiếm lĩnh một không gian bên dưới và bên trên mặt đất để kiếm ăn mà sống, huống hồ con người. Một thực thể sống nửa thánh thiện, người, và nửa ác quỷ, con. Ngôn ngữ tiếng Việt trong sáng cho ta thấy rõ điều này.

Chính vì thế mà, không ở đâu trên thế giới này chấm dứt được tình trạng tha hóa và tham nhũng, chỉ có ít hoặc nhiều do thể chế chính trị góp sức nó tăng hoặc giảm mà thôi.

Nên chuyện tha hóa có nguồn gốc từ bản chất của con người. Ở người dân không có quyền lực, tha hóa sẽ làm cho họ phá vỡ lớp vỏ đạo đức mà bản thân, gia đình, nhà trường và xã hội đã dày công hun đúc tạo nên nhân cách của họ. Khi tha hóa đủ sức bào mòn lớp vỏ đạo đức nhân cách này, một người bình thường sẽ không còn là người nữa, mà là con.

Khi là con, một người bình thường sống theo bản năng động vật. Bốn bản năng sinh tồn của động vật có cả nghĩa đen và nghĩa bóng của nó – ăn, ngủ, quan hệ tình dục và giải quyết những gì gọi là chất thải có độc hại với cơ thể, còn tồn đọng sau khi đã ăn vào, tiêu hóa và chuyển hóa.

Bình thường, việc ăn uống của con người là thuốc để dinh dưỡng và nuôi sống một cơ thể cường tráng chứa đựng một tinh thần minh mẫn. Khi tha hóa, một con người bình thường ăn bất cứ cái gì có thể ăn được, kể cả thịt đồng loại – mồ hôi, nước mắt và kể cả máu của người khác.

Lúc tha hóa, ăn uống được xem là thuốc độc và cũng là chất thải cho bản thân và cho gia đình họ.

Hai hoạt động bản năng còn lại cũng vậy, tồi tệ hơn cả việc ăn uống và thải ra. Họ không chỉ ngủ và quan hệ tình dục với người trăm năm mà ngủ lang chạ với bất kỳ ai, kể cả hãm hiếp con ruột của mình.

Nhưng khi là một con người có chức quyền trong xã hội, tha hóa được mô tả thăng hoa lên một cấp cao hơn – gọi là tham nhũng. Không có quyền lực thì không được gọi là tham nhũng, mà chỉ gọi là tha hóa đạo dức và nhân cách sống.

Về mặt xã hội học, chỉ có những tầng lớp tinh hoa – elite – thì mới được dùng từ tham nhũng. Hay nói cách khác, tham nhũng chỉ có ở những con người ưu tú. Họ có quyền lực, có mưu sâu, kế hiểm để nắm vận mệnh quốc gia dân tộc. Nhưng khi lớp vỏ đạo đức nhân cách của họ mỏng, không đủ sức chịu đựng với những cám dỗ của quyền lực ở đời, để bản năng động vật trổi dậy phá vở, và họ trở thành kẻ tham nhũng.

Lúc tham nhũng, mọi hành động không chỉ vượt qua vỏ dày đạo đức và nhân cách, mà còn lách qua kẻ hở hoặc ngồi trên luật pháp để thực hiện bốn bản năng động vật, nhờ vào tầng lớp ưu tú sở hữu được quyền lực, mà không ai chạm tới được.

Ăn và thải của tham nhũng được nâng lên một bậc cao ngang tầm với tầng lớp ưu tú. Chất độc lúc họ ăn và thải ra không chỉ độc với bản thân và gia đình họ như một người bình thường, mà còn độc cho cả môi trường giáo dục và xã hội.

Hai hoạt động bản năng còn lại của tham nhũng còn ghê gớm hơn nhiều. Lang chạ với kẻ thù của những con người ưu tú được xem là họa mất nước. Nên tham nhũng mới được xem là giặc nội xâm.

Do vậy mà, vấn đề phòng và chống tham nhũng là vấn đề không chỉ tạo ra một con người có lớp vỏ đạo đức nhân cách cao, mà còn đòi hỏi một nền chính trị tốt có cấu trúc vững vàng. Một nền chính trị tốt có cấu trúc vững vàng là một nền chính trị có chế độ tản quyền cao, chứ không phải một nền chính trị có chế độ tập quyền cao như ở Việt Nam hiện nay.

Vì mọi quyền hành hiện nay trong chế độ ở Việt Nam đều tập trung vào trong tay của tầng lớp ưu tú của đảng cầm quyền. Nên tham nhũng ngày càng nặng nề, nhưng với cái cách phê và tự phê, cùng nhau bỏ phiếu tín nhiệm trong đảng như vừa qua, thì xem như một hành động bất lực với tham nhũng. Ai đâu dại gì phải tự chặt đi cánh tay của mình? Đó là lý do tại sao việc phòng chống tham nhũng thất bại.

Song, tất cả những điều trên là đối với người trưởng thành, do điều kiện khách quan của nhà trường, gia đình và xã hội tác động vào để điều kiện chủ thể bị tha hóa hoặc tham nhũng tùy theo tầng lớp thấp cao trong xã hội.

Đối với trẻ con thì khác, nhân tri sơ tính bổn thiện, đó là nguyên lý và là xuất phát điểm của tâm lý con người. Nếu trẻ sống trong một môi trường gia đình tốt. Nhà trường không dạy cho học sinh tha hóa. Xã hội không có những tấm gương tha hóa và tham nhũng, thì chắc chắn trẻ sẽ không hoặc ít tha hóa.

Vì trẻ con và ngay cả người bình thường không phải là người có chức quyền, cũng không là thành phần ưu tú của xã hội, nên trẻ con và người bình thường không thể tham nhũng, mà chỉ có thể tha hóa. Khi người lớn tha hóa, để trẻ con bắt chước.

Nhưng trẻ con có thể là thành phần ưu tú của tương lai nắm vận nước, nên trẻ con cần những tấm gương tốt hiện thực ngay trong đời sống của chúng. Cha mẹ, anh chị, ông bà chiếm 80% thời gian sống gần gủi và lớn lên của một đứa trẻ. Nhà trường, xã hội và bạn bè chiếm 20% sống và gần gủi với trẻ trước khi vào đời. Nhưng tỷ lệ này đảo ngược lại khi trưởng thành.

Một đứa trẻ có đạo đức và nhân cách tốt khi vào đời làm việc trong một môi trường toàn tha hóa và tham nhũng, nó sẽ bị xem là một kẻ tâm thần, nếu nó không biết thoát ra khỏi môi trường ấy để tạo dựng một môi trường riêng thực sự trong sạch, ắt nó phải phá vỡ đạo đức và nhân cách của mình để hòa tan với tha hóa và tham nhũng.

Trẻ con không cần dạy phòng và chống tham nhũng như cái đề án 137 thí điểm giáo dục, mới vừa được ký quyết định để đưa vào chương trình học phổ thông trung học, và lồng ghép vào chương trình các cấp học từ năm học 2013 – 2014.

Trẻ con chỉ cần dạy khái niệm, định nghĩa thế nào là thoa hóa, thế nào là tham nhũng. Không cần dạy cả một chương trình đồ sộ vì người lớn có chức quyền làm bậy. Sau khi có khái niệm đúng, tự cuộc sống sinh động quanh trẻ sẽ giúp trẻ hiểu và thực hành đúng những gì nó học. Tự cuộc sống quanh trẻ sau khi bước vào đời, đời sẽ minh chứng cho trẻ cái nào nên giữ, cái nào nên từ bỏ. Đó là quy luật bàn tay vô hình trong cuộc sống.

Cái cần để tha hóa và tham nhũng giảm thiểu là chế độ chính trị minh bạch và tản quyền cao, để kiểm soát tốt mọi hành vi của quan lại triều đình sai trái. Không thể đánh tráo khái niệm từ chuyện tham nhũng của người lớn có chức có quyền, thành trò đem trẻ ra làm cái sọt rác, để thí nghiệm hết thế hệ này đến thế hệ khác như 70 năm qua.

Người cần dạy phòng chống tham nhũng là thành phần ưu tú trong xã hội đang nắm lấy vận mệnh quốc gia và dân tộc. Vì tham nhũng chỉ có ở tầng lớp này. Như vậy, cái đề án 137 có phải là sự ngược đời của nền giáo dục Việt Nam hiện nay không?

Tôi đã từng viết, đất nước mình hòa bình và thống nhất rồi, dân không ai muốn giành quyền lãnh đạo, mà dân chỉ muốn có cơm ăn áo mặc, đêm ngủ không gặp ác mộng vì cơm áo gạo tiền. Nên ngành giáo dục Việt Nam hiện nay không cần sáng kiến hay tối kiến làm gì nữa để tốn tiền của dân, chỉ cần đem nền giáo dục khai phóng của Việt Nam Cộng Hòa áp dụng thì nước Việt sẽ hùng cường, văn hóa Việt sẽ phục hồi. Nều không, tình trạng không chỉ văn hóa giáo dục mãi suy đồi, mà còn mãi tình trạng tiến thoái lưỡng nan trong kinh tế chính trị như ông phó thủ tướng bảo rằng, khó khăn khi tái cơ cấu vì không có nhân lực.

Asia Clinic, 10h28′ Chúa nhựt, 16/6/2013

Tưởng Năng Tiến – Chỉ một góc nhìn Duy Nhất

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2013/06/15 at 10:36

“Trước một thông tin, trước một tác phẩm, một bài viết, một cây bút, một góp bàn phản biện, chỉ được phép dùng chính phương cách truyền thông “tham chiến”, chứ không được phép dùng đến cái còng số 8, nòng súng và nhà giam.”, Trương Duy Nhất

Sau quyết định (“Nghỉ Báo Viết Blog”) của Trương Duy Nhất, có độc giả “bình” rằng đây là một “cáo phó” cho báo bổ thời bao cấp. Ông Mặc Lâm thì mô tả hành động này như là một phương cách “thoát khỏi vòng kim cô” của nhà báo nổi tiếng này.

Trương Duy Nhất, nói nào ngay, không phải là người đầu tiên có quyết định ngon lành như thế. Hơn nửa thế kỷ trước, Nguyên Hồng còn tuyên bố một câu (ngon) hơn thế:

“Đủ, đủ lắm rồi. Ông đéo chơi với chúng mày nữa.”

Ấy thế nhưng chả bao lâu sau, vẫn theo lời kể của Tô Hoài:

“Hội Nhà văn Đức tặng Hội Nhà văn Việt Nam 200 cái xe đạp Diamant mới cứng. Nguyên Hồng được điện khẩn mời xuống công tác. Ấy là việc dắt chiếc xe đạp đứng vườn hoa Cửa Nam trò chuyện với người qua đường. Vô tuyến truyền hình của Việt, của Đức quay giới thiệu nhà văn với tặng phẩm hữu nghị quốc tế.

Nguyên Hồng hồi ấy mới để râu, rõ ra phong thái học giả phương Đông. Tuyên truyền thế thôi, cả hội chẳng được sờ vào vành bánh chiếc xe nào. Hai trăm cái xe lăn cả vào kho Bộ Thương nghiệp”. (Tô Hoài. Cát Bụi Chân Ai. Wesminster, CA: Hồng Lĩnh, 1993.)

Tôi nghe nói, Bộ Thương Nghiệp, vào thời điểm vàng son của nó, quản luôn cả đến cây kim và sợi chỉ nữa cơ. Nhờ thế, nhà nước cột chặt được tất cả mọi người, không xót một ai. Muốn “đéo chơi” (với chúng nó) nữa cũng chả phải là chuyện dễ dàng gì.

Cái thời hoàng kim (thổ tả) đó, của chúng nó, may quá, đã qua. Bây giờ, cả ông hai ông Hữu Thỉnh và Đinh Thế Huynh dù có tam cố thảo lư, và khiêng đủ “200 chiếc xe đạp Diamont mới cứng” đến tận nhà (chắc) cũng không cách chi thuyết phục được Trương Duy Nhất trở lại cái “Hợp Tác Xã Tư Tưởng” của nhà nước nữa.

Nhất đã đi rồi.

“Hợp Tác Xã Tư Tưởng” là chữ dùng (riêng) của Trương Duy Nhất để mô tả những sinh hoạt có liên quan đến sách báo thời bao cấp. Cái thời mà blogger Đào Tuấn đặt tên, một cách (vô cùng) lãng mạn, là “Thời Đại Buông Rèm.” Tôi vốn sính Tây nên gọi cái thứ của nợ này là một loại ghetto, dành cho những người cầm viết, ở Việt Nam.

Trong Thế Chiến Thứ II, ghettos được Đức Quốc Xã tạo nên (ở nhiều thành phố Đông Âu) để làm nơi tập trung người Do Thái. Với thời gian, hạn từ ghetto được phổ biến theo một nghĩa rộng rãi hơn – để chỉ những nơi biệt cư, thường là nghèo nàn và chật hẹp, của một nhóm người (nào đó) trong lòng phố thị:Black Ghetto, Mexican Ghetto, Chinese Ghetto, Student Ghetto, Gay Ghetto…

 

Nguồn ảnh: http://www.whutupdoe.

Từ hơn nửa thế kỷ qua, nhà đương cuộc Hà Nội cũng thiết lập một loại ghetto bẩn chật (tương tự) để làm nơi quần tụ cho những người cầm viết. Kẻ nào lỡ bước qua (hay bị đẩy ra) khỏi lằn ranh của cái ghetto văn hoá này là sẽ bị rơi ngay vào “bước đường cùng” – theo như (nguyên văn) lời của Bùi Ngọc Tấn:

“Có một ý kiến (hay chỉ thị) không thành văn nhưng mạnh hơn văn bản mà tất cả các báo, các nhà xuất bản đều thực hiện rất triệt để và nghiêm chỉnh là không in bài của Mặc Lân, Lê Bầu. Nếu hạn hữu có in cũng không được ký tên hai người… không được in đã hẳn, nhuận bút cũng không có nốt.

Túng thiếu. Mà phải có tiền. Phải sống. Đang loay hoay với kế mưu sinh thì Dương Tường đến. Nào ai ngờ được chính anh chàng lơ ngơ này lại là người giải quyết cho Mặc Lân vấn đề cực kì khó khăn ấy: Đi bán máu…

Lân mừng như người chết đuối vớ được cọc… Tiền tính theo cc còn tem phiếu thì đồng loạt. Mỗi người được lĩnh tem 2 cân đường, 4 cân đậu phụ, 2 kí thịt, 2 hộp sữa. Thế là mất đi một ít màu nhưng túi nằng nặng tiền và tem phiếu. Cho nên những ngày đi bán máu rất vui…

Bán máu êm ả là thế mà nhiều lúc vẫn giật mình. Ví như đang ngồi nhìn cả vào người y tá chờ gọi tên mình thì người ấy bỗng bật ra những cái tên bất ngờ nhất:

Chính Yên!

Phan Kế Bảo!

…..

Phương Nam!

Toàn những người quen. Toàn những trí thức. Ngượng nghịu nhìn nhau. Rồi cũng quen dần. Lương thiện thì rõ ràng là lương thiện rồi. Nhưng nó tố cáo bước đường cùng.” (Bùi Ngọc Tấn. “Thời gian gấp ruổi“. Viết về bè bạn. Virginia: Tiếng Quê Hương, 2006. 65 – 67)

Và đến “bước đường cùng” thì mới thấm thía hương vị của một tô phở, cho dù là phở quốc doanh. Nó có thể làm cho khách qua đường phải ứa nước miếng, và (đôi khi)… nước mắt:

“Ngày ấy từ quê ra đèo nhau qua hiệu phở, ngửi mùi thơm ngào ngạt, quyến rũ, hai vợ chồng cùng thấy đói, thấy thèm và bảo nhau vào ăn phở. Nhưng khi lục túi chỉ còn ba trăm. Đúng một bát phở chín. Không hơn. Ai ăn? Bà bảo ông ăn vì trông ông gầy quá. Ông bảo bà ăn. Bà bảo thế thì không ai ăn cả. Cùng về. Nhưng ông biết bà đã nhịn thèm nhịn nhạt, nhường chồng con bao nhiêu năm rồi. Ông quát lên khe khẽ, bắt bà phải ăn. Bà vâng lời ông. Ông còn dặn bà: Nửa bát đầu cứ thế ăn, nửa bát sau hãy cho chanh ớt. Như vậy em được ăn hai thứ phở.” (Bùi Ngọc Tấn. Vũ trụ không cùng. Fall Church,Virginia: Tiếng Quê Hương, 2007).

 

Tranh: Babui

Ở trong vòng ghetto, tuy bẩn chật nhưng được cái an toàn. Nó an toàn đến độ khiến không ít kẻ sinh tật múa gậy vườn hoang – theo như lời than phiền của tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, về một cây viết và một tờ báo tăm tiếng (và tai tiếng) nhất hiện nay:

“Vì sao Nguyễn Như Phong và báo An Ninh Thế Giới dám tự tung tự tác, ngang nhiên hoành hành, đổi trắng thay đen, ngậm máu phun người như vậy? “

An Ninh Thế Giới không phải là tờ báo duy nhất chuyên ngậm máu (hay ngậm cứt) phun người như thế. Ngày 31 tháng 10 năm 2009, qua một bài báo (“Bán dâu – Hủ tục man rợ vẫn hoành hành”) tờ Tiền Phong cũng đã ngang hiên xỉ nhục người dân ở huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh, về điều mà họ mô tả là “tập tục vô luân” nơi địa phương này: ”Thích thì bỏ tiền cưới vợ, khi ‘bực mình’ thì rao bán cả vợ cả con, bố mẹ chồng cũng có quyền bán con dâu và cháu nội…”

Một tuần sau, cũng báo Tiền Phong, số ra ngày 8 tháng 11, đăng lời “xin lỗi nhân dân và chính quyền xã Phong Dụ cùng bạn đọc…” vì “tác giả bài báo đã xào xáo và không hiểu biết gì về tập tục và đời sống bà con đồng bào dân tộc, thêm thắt, thổi phồng sự việc…” 

Xin lỗi quấy quá, cho có lệ vậy thôi, chứ “đổi trắng thay đen” hay “thêm thắt, thổi phồng sự việc” để phỉ báng thiên hạ – đối với những người cầm viết trong ghetto Việt Nam – chỉ là chuyện nhỏ, không đáng để họ phải bận tâm. Họ còn được dung túng để thay mặt cho cả ngành tư pháp của xứ sở này kết án hết người này, đến người nọ về tội danh này hay tội danh khác nữa cơ.

Qua một cuộc phỏng vấn, do Lê Thị Thái Hoà thực hiện, đọc được ở Thanh Niên Online vào ngày 30 tháng 4 năm 2008, nhà văn Trần Đăng Khoa cho biết:

“Tôi nói thật, chưa bao giờ tôi viết có xúc cảm hết. Thời trẻ con cũng thế và sau này cũng vậy. Thấy cần viết là tôi viết. Họ đặt ký tôi viết về người này người kia thì tôi viết. Thế là có tập Chân dung và Đối thoại đấy”.

Thế … đấy” nhưng tập Chân Dung Và Đối Thoại vẫn được tái bản đều đều. Lý do: ghetto chữ nghĩa ở VN là một loại công ty độc quyền, không có đối thủ, miễn có cạnh tranh, và thường kín như bưng. Bởi vậy, khi Trần Đăng Khoa hé mở cho chút xíu ánh sáng (sự thật) soi rọi vào một vài mảng tối thui ở đất nước này là tác phẩm của ông liền được đón chào nhiệt liệt.

Dù thế, chỉ hơn một năm sau, qua một cuộc phỏng vấn khác – đọc được vào hôm 13 tháng 7 năm 2009, do Hồng Thanh Quang thực hiện – Trần Đăng Khoa đã nói khác ngay. Ông không đề cập đến chuyện “viết không cần cảm xúc” hay “viết theo đơn đặt” nữa. Thay vào đó, ông nêu lên“thiên chức của nhà văn” bằng những lời lẽ hết sức trang trọng và cảm động:

“Bởi vì ở Phương Đông cũng như ở Việt Nam, văn chương đích thực, phải tải Đạo, như cụ Đồ Chiểu nói: Chở bao nhiêu Đạo, thuyền không khẳm. Vì thế, trong con mắt của xã hội, nhà văn là cao quí, là đại diện cho giá trị đạo đức và văn hoá xã hội.”

Cảm ơn Trần Đăng Khoa, và cảm ơn Trời. Thế thời, rõ ràng, đã đổi. Và đổi nhanh ngoài sức tưởng tượng của tất cả mọi người. Mới bữa nào người dân Việt còn thi thoảng uống cà phê chui, nay thì họ ngồi đầy những tiệm cà phê internet.

Cái phương tiện truyền thông (tân kỳ) này đã làm cho quả địa cầu nhỏ lại. Nhân loại nhích lại gần nhau hơn. Việt Nam không còn là một nơi biệt cư, dành riêng cho một dân tộc hoàn toàn mù thông tin, như trước nữa. Bây giờ mà vẫn cứ “viết theo đơn đặt hàng” thì rách việc như không. Và điều này thì Trương Duy Nhất biết rõ hơn rất nhiều người.

Cuối bài “Viện Sĩ Tự Sướng” (viết ngày 4 tháng 2 năm 2011) ông cho biết: “Tôi post bài này lên lúc 14 giờ 57, xong đi một vòng chúc Tết. Chưa đầy 2 tiếng sau về mở lại thì thấy báo Nhân Dân đã tháo bài này xuống khỏi trang Nhân Dân điện tử.”

Trước đó không lâu, báo Pháp Luật cũng bị một tai nạn tương tự vì bài báo “Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng Xuất Sắc Nhất Châu Á” của ông hay bà Phượng Lê nào đó. Nó cũng được “tháo xuống” tức thì.

Hệ thống truyền thông quốc doanh, rõ ràng, không còn là nơi để có thể múa gậy vườn hoang (như xưa) nữa. Dù nấp dưới bút danh nào, và trong ngõ ngách nào chăng nữa, hễ cứ nói bậy hay nói láo là bị chúng “vả” vào mồm – khiến mặt mũi sưng vù – ngay tức khắc.

Cái ghetto chữ nghĩa Việt Nam bây giờ, ví von mà nói, là một con thuyền lủng. Nó sắp đắm đến nơi. Bởi thế, khi Trương Duy Nhất tuyên bố “bỏ thuyền” thì ai cũng lấy làm mừng. Đây là một tin vui. Một người ngay thoát nạn!

Nhất đã đi rồi!

Tưởng là đi đâu, ai dè ổng đi… vô hộp, theo như tin loan của Thanh Niên On Line, đọc được vào hôm 26 tháng 5 năm 2013:

“Bộ Công an vừa tiến hành bắt giữ ông Trương Duy Nhất (49 tuổi, ngụ tại TP.Đà Nẵng) về hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước Việt Nam, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân theo điều 258, Bộ luật Hình sự.”

Nguyên Hồng, rõ ràng, vẫn may mắn hơn Trương Duy Nhất. Thời của ông nhà văn ở miền Bắc Việt Nam ngày trước – nói nào ngay – cửa tù không mở rộng (hết cỡ) như thời của ông nhà báo hôm nay, trên toàn lãnh thổ. Bởi vậy, nhiều người cầm bút ở Việt Nam đã chọn cuộc sống trong ghetto (được lúc nào hay lúc đó) thay vì ở trong tù. Cái trước, khách quan mà xét, vẫn rộng rãi thoải mái hơn cái sau nhiều lắm. Thiệt đúng là một xứ sở chỉ có một góc nhìn duy nhất.!

Nguồn: blog Tưởng Năng Tiến