vietsoul21

Posts Tagged ‘blogger’

Thư gởi RFA về Cuộc phỏng vấn của Việt Hà và vấn đề chuyển ngữ của Vũ Hoàng với tác giả cựu phóng viên chiến trường Uwe Siemon-Netto qua bài “Ký ức về cuộc chiến Việt Nam của một phóng viên Đức”

In Cộng Đồng on 2015/02/15 at 18:11

BBT (3/5/2015): Ban điều hành đài Á Châu Tự Do (RFA) đã sửa chữa các vấn đề, nhất là tựa đề sách và cho đăng tải phần hai của cuộc phỏng vấn, mặc dù không trả lời chúng tôi. Đây là các vấn đề mà chúng tôi nêu ra trong lá thư dưới đây.

BBT (2/16/2015): Hôm qua, sau khi chúng tôi cho đăng lá thư viết cho ban điều hành của đài RFA than phiền về việc phiên dịch sai sót (mang tầm ảnh hưởng nghiêm trọng trong việc định hướng dư luận tiêu cực) qua cuộc phỏng vấn của Việt Hà với một cựu phóng viên chiến trường người Đức từng có mặt tại Việt Nam trong thập niên 1960 và 1970 trước biến cố tháng 4 1975, có thể sẽ có người sau khi đọc lá thư này sẽ nghĩ là chúng tôi quá cẩn thận.

Chúng tôi thiển nghĩ lá thư này không phải là chuyện phản ứng một cách “cực đoan”, chi li hay “vạch lá tìm sâu”.

Lý do? Chúng tôi đã viết như sau trong đoạn kết của lá thư:

“… dù vô tình hay cố ý, việc chuyển ngữ mang tính chủ đích này đã làm lợi cho nghị quyết 36 của ĐCSVN.

Nói một cách khác, ngôn ngữ thì không tránh khỏi tính chính trị dù ta cố tìm cách bào chữa và cho nó chỉ là “từ vựng” mang tính trung lập. Dịch thuật, do đó, bị giới hạn vì bản sắc và phẩm chất của bản dịch cuối cùng chịu ảnh hưởng của người mang trách nhiệm chuyển dịch–không những chỉ ở mức độ khả năng và trình độ mà còn do thành kiến định chế từ kinh nghiệm sống và bối cảnh văn hóa và không gian chính trị–nơi mà từ đó họ đã sinh trưởng.”

Điều độc hiểm xảo quyệt trong chủ đích lựa chọn hay cắt xén ngôn từ này đã từng được chứng minh.

Ví dụ, mới đây ông Thomas Bass, một phóng viên nghiên cứu đang giảng dạy tiếng Anh và báo chí tại Đại học tiểu bang New York ở Albany và người đã làm một cuộc thí nghiệm để nghiên cứu kiểm duyệt ở Việt Nam, đã từng nhận định như sau trong bài viết mang tựa đề, “Vietnam’s concerted effort to keep control of its past” (Nỗ lực của Việt Nam để giữ quyền kiểm soát về lịch sử quá khứ)

“In fact, the most insidious changes occur at the level of language.” (Trong thực tế, những thay đổi độc hiểm nhất xảy ra ở cấp độ ngôn ngữ.)

(Xin xem toàn bộ bài viết của ông đã được chúng tôi phiên dịch tại https://vietsoul21.net/2015/02/02/no-luc-cua-viet-nam-de-giu-quyen-kiem-soat-ve-lich-su-qua-khu/)

Chuyện nhỏ nhưng không phải nhỏ là vậy.

Nếu chúng ta coi thường tầm ảnh hưởng mang tính chính trị của ngôn ngữ qua hành động các con chữ được gạn lọc và bị cắt xén theo một chủ thuyết mục đích tuyên truyền nào đó, chúng ta vô hình chung đã rơi vào bẫy độc hiểm xảo quyệt nhất trong tiến trình tạo ra và củng cố diễn luận (discourse) của kẻ nhóm/tập đoàn thống trị.

Diễn luận thì đã xảy ra rất nhiều và cả người làm báo/truyền thông cũng không miễn nhiễm. Chúng tôi do đó cũng đã phân tích tầm ảnh hưởng của diễn luận ví dụ như qua loạt bài về “bất bạo động” trên blog của mình, https://vietsoul21.net/2014/06/07/bat-bao-dong-trong-dien-luan-phan-i/

Chuyện gì xảy ra khi đã rơi vào bẫy tròng diễn luận này? Lú lẫn lãng quên!!!

Chuyện gì xảy ra khi trò chơi qua ngón đòn “lú lẫn lãng quên” thành công? Quý bạn đã có thể tự trả lời rồi đấy.

**************************************************
Re: Cuộc phỏng vấn của Việt Hà và vấn đề chuyển ngữ của Vũ Hoàng với tác giả cựu phóng viên chiến trường Uwe Siemon-Netto qua bài “Ký ức về cuộc chiến Việt Nam của một phóng viên Đức
Kính gởi ban điều hành Đài Á Châu Tự Do/chương trình Việt Ngữ [Radio Free Asia(RFA)/Vietnamese program]:

cc: vietweb@rfa.org; siemon-netto@siemon-netto.org; uwesiemon@mac.com; uwesiemon@me.com; quyvanly@aol.com

Chúng tôi rất thất vọng về việc dịch thuật của nhân viên đài phát thanh RFA cho tựa sách xuất bản lần thứ ba của tác giả/cựu phóng viên chiến trường người Đức, ông Uwe Siemon-Netto. Nguyên tựa đề của quyển hồi ký tái xuất bản lần thứ hai và thứ ba này là, “Triumph of the Absurd: A reporter’s love for the abandoned people of Vietnam”.

Cuộc phỏng vấn của Việt Hà/RFA này đã được chia ra thành hai kỳ và cho phát thanh phần một trong Chương trình 9:00 tối 12-02-2015 ở phút thứ 30′:13“, và phần hai trong Chương trình 6:30 sáng 13-02-2015 ở phút 11′:22″.

Chúng tôi nhận định việc sai sót này không thật sự liên quan đến trình độ phiên dịch của Vũ Hoàng và Việt Hà—hai nhân viên gốc gác sinh trưởng và lớn lên tại miền Bắc Việt Nam và đã được quý đài tuyển mộ trong một thời gian tương đối khá dài.

Quyết định cố ý dịch tựa sách thành “Đức: Thâm tình của một phóng viên với thương binh Việt Nam” tuy nhìn trên bề mặt chỉ như một sai sót thật ra là nghiêm trọng và có liên quan đến các vấn đề sau đây:

(1)          Sai sót lớn trong chuyển ngữ:

(1a).       Chúng tôi muốn biết vì lý do gì tựa đề của quyển hồi ký xuất bản lần thứ ba là “Triumph of the Absurd: A reporter’s love for the abandoned people of Vietnam” đã bị chuyển dịch thành “Đức: Thâm tình của một phóng viên với thương binh Việt Nam”?

Nếu dựa vào tựa sách lần xuất bản đầu tiên, “Đức: A Reporter’s Love For a Wounded People” thì ít ra cũng phải được tạm dịch là “Đức: Thâm tình của một phóng viên dành cho một dân tộc nhiều đau thương”. Nếu dựa vào tựa sách lần hai và ba thì phải dịch là “Sự Vinh Quang Phi Lý: Thâm tình của một phóng viên dành cho một dân tộc bị bỏ rơi”.

Khi cố ý dịch từ “dân tộc” thành “thương binh Việt Nam” và xóa từ “đau thương” hay “bỏ rơi” cho tựa đề của hồi ký thì việc chuyển ngữ này mà Vũ Hoàng và Việt Hà đã làm với chủ đích gì? Đây không phải là việc sai sót nhỏ. Tại sao giảm thiểu tựa đề của quyển hồi ký xuống chỉ còn nhắm đến thành phần “thương binh” thay vì một “dân tộc”? “Thương binh Việt Nam” nào trong bối cảnh nào được đề cập?

Nếu e có sự ngộ nhận trong từ ngữ “dân tộc” trong quyển hồi ký này thì điều cần thiết là phải có chú thích/giải thích về chữ “dân tộc” mà tác giả đề cập đến và nhấn mạnh trong hồi ký này là dân miền Nam Việt Nam trong thời kỳ trước tháng 4 năm 1975. Thật ra, theo thiển nghĩ của chúng tôi, ông Siemon-Netto đã nghĩ rộng hơn nữa, “dân tộc” là cả một dân tộc Việt Nam đã bị bỏ rơi và chịu đau khổ cho đến ngày hôm nay vì một cuộc chiến oái ăm do những kẻ phi lý được Liên Xô và Trung Cộng hỗ trợ cả tiền và vũ khí.

Như đã đề cập ở trên, hồi ký của ông Siemon-Netto đã xuất bản ba lần. Chúng tôi chú ý đến các hoạt động liên quan đến quyển hồi ký này từ khi khởi đầu, và đã có các bài dịch thuật đăng tải liên quan đến quyển hồi ký này trên trang blog của VietSoul:21. Đây là một sản phẩm văn hóa/giáo dục hiếm hoi quan trọng ra đời trong khoảng thời gian gần đây đồng loạt với một vài tác phẩm (ví dụ như Lan Cao với “Hoa Sen và Bão Tố” hay bộ phim của Rory Kennedy “Những Ngày Cuối Cùng tại Việt Nam”) mang tính khôi phục các góc cạnh lịch sử đã bị bóp méo/bôi xóa, cũng như tôn trọng sự thật từ lăng kính và kinh nghiệm sống của kẻ/nhóm không có tiếng nói và đã/đang bị bịt miệng vì nhiều lý do mang tính chính trị. Tại sao hiếm có? Vì đây là một sản phẩm hoàn toàn đưa ra góc nhìn phản kháng khác hẵn 700 sản phẩm văn hóa thiên tả–từ phim ảnh Hollywood đến sách nghiên cứu hàn lâm–khác tại Hoa Kỳ đã ra đời chất chứa nhiều định kiến và sai lệch về cuộc chiến Việt Nam.

Do đó, việc cố tình dịch thuật méo mó tựa sách sẽ ảnh hưởng tầm nhìn của những cá nhân và thành phần nào? Chắc chắn là không phải là những ai theo dõi xuyên sát về các sản phẩm mang giá trị quan trọng về lịch sử và chính trị, chẳng hạn những bloggers như chúng tôi.

(1b) Sau khi có cuộc phỏng vấn của Việt Hà với chính tác giả, phần I của cuộc phỏng vấn này đã được dịch và đăng tại link của RFA sau đây, http://www.rfa.org/vietnamese/SpecialTopic/40years-april30/memory-vn-war-b-german-reporter-02132015130158.html?searchterm:utf8:ustring=Uwe+Siemon-Netto.

Chúng tôi muốn biết tại sao phần hai (từ phút 11’22” đến 17’44”) không được chuyển ngữ và đăng tải trên blog của đài? Đây là đoạn phỏng vấn không kém phần quan trọng khi Việt Hà đặt các câu hỏi thường được đặt để bởi các ký giả/giáo sư/chính trị gia thuộc thành phần thiên tả.

Thật ra cách phỏng vấn thuộc phần hai này không phải là chuyện không nên làm, nhưng cũng giúp chúng tôi có thể nhận định rõ ràng về các chủ ý phi dân chủ của các tác giả/người làm việc liên quan đến truyền thông báo chí cũng như các giới hạn của ngôn ngữ và dịch thuật. Điều này ông Siemon-Netto cũng đã đề cập tới trong quyển hồi  ký để phê phán các chủ đích và hành động không trung thực của giới truyền thông cánh tả tại Hoa Kỳ trong thập niên 1970.

Tóm lại, đây là việc làm với các quyết định không thiếu tính chính trị. Chúng tôi sẽ đề cập rõ điều này thêm trong phần 3.

(2)          Trách nhiệm dịch thuật và phỏng vấn:

Qua nhận xét mà chúng tôi đã đưa ra trong phần 1(b), câu hỏi cần được đặt ra là làm thế nào để tạo sự cân bằng chính xác trong vấn đề dịch thuật/phỏng vấn? Ai là người đảm nhiệm giám sát cho việc chỉnh sửa/sắp xếp nhân viên cho các công việc phỏng vấn/phỏng vấn/chuyển dịch này? Tại sao việc dịch thuật này lại đi ngược với tôn chỉ hoạt động—nhất là “không bè phái”—mà chương trình phát thanh lặp đi lặp lại hằng ngày trên sóng? Việc giám sát dịch thuật/phỏng vấn thuộc các vị điều hành nào?

Chúng tôi thiết nghĩ các quý vị đã từng có kinh nghiệm sống tại miền Nam Việt Nam và thuộc cấp cao hơn hai nhân viên này chẳng lẽ không có trách nhiệm giám sát kiểm chứng nhằm gắn liền với tôn chỉ “độc lập” và Quy tắc đạo đức nghề nghiệp hay sao? Hơn thế nữa, tại sao không có sự sắp xếp giúp cho một ký giả miền bắc có thể làm việc với một nhân viên miền nam thuộc thế hệ thứ nhất hay 1.5 đã từng sống hoặc hiểu kinh nghiệm của người miền Nam trước năm 1975 để cùng trao đổi đối thoại và tra dò kiểm chứng trước khi cho ra đời các chuyển dịch và phỏng vấn mang tính lịch sử và chính trị như thế này?

(3)          Tầm ảnh hưởng của viêc chuyển ngữ sai sót lớn này:

Như đã đề cập ở trên, đám đông thính giả mà quý đài nhắm vào là đa số dân chúng trong nước tức là nhữnng ai không biết hoặc không rành Anh ngữ hay/và không hề biết về các sản phẩm văn hóa/lịch sử đề cập đến cũng như kinh nghiệm sống của kẻ bị trị và đàn áp bởi CSVN trong vòng 70 năm nay. Điều đó đồng nghĩa với một tầm ảnh hưởng tiêu cực của truyền thông trong việc định hướng dư luận và mang tính phi dân chủ. Ngoài ra, dù vô tình hay cố ý, việc chuyển ngữ mang tính chủ đích này đã làm lợi cho nghị quyết 36 của ĐCSVN.

Nói một cách khác, ngôn ngữ thì không tránh khỏi tính chính trị dù ta cố tìm cách bào chữa và cho nó chỉ là “từ vựng” mang tính trung lập. Dịch thuật, do đó, bị giới hạn vì bản sắc và phẩm chất của bản dịch cuối cùng chịu ảnh hưởng của người mang trách nhiệm chuyển dịch–không những chỉ ở mức độ khả năng và trình độ mà còn do thành kiến định chế từ kinh nghiệm sống và bối cảnh văn hóa và không gian không gian chính trị–nơi mà từ đó họ đã sinh trưởng. Hơn nữa, người điều hành trong giới truyền thông phải chịu một trách nhiệm lớn một khi việc định hướng dư luận đã trở thành tiêu cực và ở mức độ nghiêm trọng.

Bản Anh ngữ của lá thư này sẽ được chuyển đến đài RFA và các tác giả/dịch giả liên quan đến hồi ký này trong vài ngày tới. Chúng tôi hy vọng sẽ sớm có phúc đáp của ban điều hành chương trình RFA/Việt Ngữ về vấn đề nghiêm trọng này.

Kính thư,

VietSoul:21

Advertisements

Thanh Nghiên – Chúng ta sẽ không bao giờ mất anh

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn on 2013/07/24 at 15:59

Tự do cho Điếu Cày – Free blogger Điếu Cày

Nhà tù không hẳn là địa ngục nhưng phận tù đày là kiếp đày đọa nhất của mọi kiếp người.
Và trong kiếp đày đọa ấy, vẫn có thêm một sự đọa đày.
Nếu anh Điếu Cày Nguyễn Văn Hải vẫn bị biệt giam trong buồng kỷ luật thì có nghĩa, anh đã bước sang ngày thứ 32 tuyệt thực trong “nhà tù của nhà tù”.
Còn tôi, ngồi đây để gõ mấy con chữ vô nghĩa này, để nói về sự may mắn của mình.

Tôi may mắn cả khi là một người tù.
Tôi đã không phải bỏ mạng như người tù lương tâm Nguyễn Văn Trại, Trương Văn Sương sau hàng chục năm bị giam cầm. Hay người tù lương tâm, linh mục Nguyễn Văn Vàng, khi chết vẫn đang bị cùm và bị bỏ đói.

Tôi không phải thoi thóp để nhìn quỹ thời gian của mình đang dần vụt mất như người tù thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu gần bốn mươi năm trời không nhìn thấy ngày trở về.

Tôi may mắn hơn rất nhiều những người trong một khoảnh khắc bại trận đã bị biến thành tù nhân chỉ vì không biết dùng thủ đoạn và sự tàn ác với dân tộc mình để chiến thắng. Trong số những cựu quân nhân cán chính dưới thời Việt Nam Cộng Hòa, có người bị cầm tù đến tận hôm nay, đã hàng chục năm trời sau cái lần gọi là “giải phóng” ấy. Có người đã gửi lại thân xác (nguyên vẹn hoặc không nguyên vẹn) nơi chốn ngục tù. Nhiều đồng đội của họ vẫn còn bị cầm tù nơi nghĩa trang lạnh lẽo.

So với những người tù hình sự (có tội hoặc không có tội), tôi cũng may mắn hơn. Họ, hầu hết không dám nhìn thẳng vào mặt những tên cai tù.

Và nhìn sang những đứa trẻ phải theo mẹ vào tù để chung kiếp đọa đày, nhiều bé đã ra đời trong bốn bức tường giam, vẫn còn may mắn hơn nhiều bào thai khác không có cơ hội cất tiếng khóc chào đời dù trong chốn ngục tù. Tôi may mắn hơn các bé vì tôi là người tù đã ngoài ba mươi tuổi.

Còn trước anh, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, tôi thấy mình tầm thường và nhỏ bé.

Trong buồng biệt giam, nơi có thể nghe rõ cả tiếng thở dài của người bạn tù buồng bên cạnh, Điếu Cày đối mặt với sự tĩnh lặng đến ghê người. Và lắng nghe cơ thể của mình – một hình hài đã trở nên quá mong manh – thay đổi qua từng ngày tuyệt thực. Nhưng anh đâu chỉ đối mặt với nỗi cô đơn tinh thần. Để đánh bại anh, chúng sẽ “lôi” Điếu Cày ra khỏi những suy tưởng của riêng mình, bắt anh chấp nhận một cuộc đấu cả bằng sức (vốn đã không còn) lẫn bằng trí. Một người luôn “dị ứng” và mẫn cảm với mọi sự sỉ nhục như Điếu Cày, hẳn sẽ không tiếc dù là chút sức lực cuối cùng để ném sự khinh bỉ và ghê tởm vào những tên cai tù, đang lăm lăm dùi cui và bản nhận tội viết sẵn dành cho anh.

Tất cả chúng ta đang hướng về anh, tôi cũng như bạn. Nhưng tôi sẽ làm cái việc lần đầu tiên tôi làm: Kết thúc bài viết khi nó vẫn đang dang dở. Và tin rằng, chúng ta sẽ không bao giờ mất anh. Anh đã chiến thắng và anh sẽ sống.

Nhà tù đã quỳ gối quy hàng trước anh, một người tù kiên gan và bền chí.
Và chính anh, đang nâng đỡ chúng ta trong những phút giây yếu đuối này.

Nguồn: FB Thanh Nghiên

Tưởng Năng Tiến – Điếu Cầy Tuyệt Thực

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn on 2013/07/24 at 07:17

“Từng phút một, hình hài đáng quý trọng ấy có thể giã từ chúng ta, làm thế nào loại trừ để khả năng đáng ân hận ấy không thể xảy ra, không được xảy ra?”

Hà Sĩ Phu


Dù chưa bao giờ tuyệt thực nhưng cái đói thì tôi chả xa lạ gì. Lắm người Việt Nam (e) cũng thế. Mà nghĩ cho cùng thì đói ăn, thiếu mặc đều là những chuyện rất bình thường đối mọi công dân nơi đất nước theo chủ nghĩa cộng sản – chứ chả riêng chi ở xứ sở mình.

Chỉ có điều không bình thường là chúng tôi – những sĩ quan của quân lực miền Nam, phần lớn khi tuổi đời vừa mới đôi mươi – đã phải đối diện với sự đói rách một cách hơi quá bất ngờ và vô cùng khắc nghiệt.

Chúng tôi chỉ được chuẩn bị vài ngày thức ăn nhưng lại phải trải qua một chương trình cải tạo kéo dài đến vài năm, hoặc cả chục năm. Và chịu đói là bài học đầu tiên, cũng là bài học duy nhất mà chúng tôi được dậy, và đây cũng là bài học kéo dài mãi cho đến ngày … mãn khóa!

Ở vào hoàn cảnh này khi vớ được mấy củ khoai đào sót, một con nhái chậm chân, một nắm rau rừng cấu vội, hay một vốc gạo thừa – vét được sau những lần tạp dịch dọn kho – mà có sẵn cái lon Guigoz bên mình thì tiện lắm. Nó đòi hỏi rất ít nhiên liệu khi nấu nướng, và gọn nhẹ khi di chuyển hay hay cần cất dấu.

Hằng đêm chúng tôi đều được nghe giảng dậy về một cuộc sống mới không giai cấp, mình vì mọi người, mọi người vì mình, không ai bóc lột ai, mọi sản phẩm đều là của chung, làm việc theo khả năng và hưởng thụ theo nhu cầu … Chúng tôi tiếp thu tốt, thảo luận tốt, viết thu hoạch tốt, với tinh thần nhất trí rất cao về tất cả mọi khía cạnh tươi đẹp của cuộc sống mới.

Tuy nhiên, ngay sau đó thì mọi người đều lục đục mang cái lon Guigoz của riêng mình đi nấu nướng, rồi tìm một góc khuất ngồi cắm cúi ăn. Hay còn gọi là “sột sệt” theo như cách nói riêng của người tù Bùi Ngọc Tấn.

Kiểu sống này rõ ràng (ngó) hơi kỳ và đáng phải hổ thẹn!

Điều may mắn là đói mãi rồi cũng hoá quen thôi. Cùng lúc, thời gian đã cho chúng tôi cái khoảng cách cần thiết tối thiểu để nhìn lại chính mình, và thay đổi dần thái độ. Những bài học (trời biển) hằng đêm không còn được lắng nghe chăm chú nữa. Những cái lon Guigoz cũng bị dẹp bỏ từ từ, và chỉ còn dùng để cất dấu thực phẩm đun nước pha tra – nếu có.

Lần lượt, chúng tôi họp thành từng nhóm nấu nướng và “sột sệt” chung. Vừa ăn, vừa nói chuyện giễu về những nét khôi hài của chủ nghĩa xã hội và thế giới đại đồng – nơi mà nhà cửa không cần khoá, và của rơi không có người nhặt vì toàn dân không ai có nhu cầu cần thêm một cái cuốc hay cái … thẻ cử tri.

Cuốc, nếu hư, chỉ việc xin thay cái khác. Còn thẻ cử tri thì lại quá dầy, và cũng quá nhỏ, không tiện cho việc vệ sinh thân thể! Chúng tôi đã cố gắng khôi phục lại con người bình thường của mình, bằng những nụ cười lém lỉnh như thế, hằng đêm.

Tất nhiên, cũng có những chiến hữu … một đi không trở lại. Họ vẫn cứ tiếp tục sống lủi thủi và lặng lẽ với cái lon Guigoz của (riêng) mình. Họ trở nên cô đơn và lầm lũi. Họ đâm ra sợ hãi và nghi kỵ tất cả mọi người xung quanh. Họ không bao giờ cười nữa, dù chỉ cười chơi giữa đám bạn bè đồng cảnh. Họ đã tận dụng Chủ Nghĩa Ăn Gô để đối phó với Chủ Nghĩa Cộng Sản (Guigozism v.s Communism) như một phương cách để sinh tồn.

Chúng tôi, tất nhiên, không phải là những tù nhân đầu tiên của chế độ hiện hành. Hơn nửa thế kỷ trước, ngay sau khi nửa nước rơi vào tay của người cộng sản, cũng đã có không ít người phải đi … cải tù.

Tương tự như hoàn cảnh của chúng tôi, họ cũng bất ngờ phải đối diện với cái đói nhưng phản ứng của những bậc tiền bối (xem ra) đáng kính trọng hơn nhiều – theo như lời kể của người tù Kiều Duy Vĩnh:

Chánh giám thị Nguyễn Quang Sáng tỏ ra quyết liệt hơn, cứng rắn hơn, dấn tới một bước nữa.Cấm triệt để làm dấu thánh trước khi ăn cơm. Nhưng lần này thì Nguyễn Quang Sáng phải chịu thua. “Ai cho các anh ăn?” chúng tôi. Chúng tôi cho các anh ăn chứ không có Chúa nào cho các anh ăn cả.” “Cấm cầu kinh, các anh vẫn lén lút cầu kinh vậy bây giờ trước khi ăn, tôi cấm các anh làm dấu. Các anh phải cảm ơn người cho các anh ăn. Đúng lắm, nhưng đó là chúng tôi đây chứ không có chúa nào hết. Không có con mẹ Maria, thằng Jê su nào cả. Biết chưa?” (Nguyên văn như vậy, tôi xin lỗi các vị phải viết đúng, không dám xuyên tạc, bịa đặt, báng bổ gì). Và đến bữa ăn. Quản giáo đứng đó. Mọi lần thì cửa mở, chúng tôi bê cơm vào trong phòng. Đóng cửa lại. Chúng tôi chia nhỏ từng xuất một và ăn. Không có sự hiện diện của ai cả. Nhưng hôm ấy, bê cơm vào, cửa vẫn mở, Quản Giáo đứng đó kiểm soát và nhắc lại lệnh cấm của Ban Giám Thị. Tất cả, cả tôi, không ai phải bảo ai, không chia cơm ra ăn. Đứng mãi chán, Quản Giáo đóng cửa lại đi về. Đến chiều, tù nhà bếp đến lấy thùng. Cơm canh vẫn nguyên. Cơm canh đều chia vào hai cái thùng gỗ to, chứ không chia thành một phần như ở xà lim. Buổi chiều, đích thân Chánh Giám Thị xuống, mọi việc lại diễn ra đúng như buổi sáng. Mặt tái vì giận dữ. Nhưng làm thế nào mà bắt họ ăn cho được? Không có khí thế hừng hực đấu tranh như những người Cộng Sản ở Sơn La, Côn Đảo tuyệt thực, không có hô khẩu hiệu, tất cả đều lặng lẽ ngồi im. Không thể dùng lưỡi lê và sức mạnh để nhét cơm vào mồm họ được. Họ không ăn, thế thôi. Không hò reo, không gõ bát, gõ đĩa, không ai diễn thuyết, kích động, yêu sách điều gì. Im lặng, ai ngồi chỗ ấy. Giám thị Sáng đứng đó, không một ai thèm nhìn vào mặt ông ta cả. Tất cả đều quay mặt đi chỗ khác. Giám thị Sáng đành phải ra về. ……………..


Sáng hôm thứ hai của sự tuyệt thực, tù lại khênh cơm lên.

Quản giáo lại đứng đấy để giám sát. Không ai nhúc nhích gì. Không ai ăn cả, kể cả tôi. Lúc ấy tu sĩ Chính đứng dậy cầm bát chia cơm canh của tôi ra cái thùng gỗ của nhóm năm người, tôi vẫn ăn cùng với tu sĩ. Tu sĩ Chính xúc vào bát của tôi, cơm canh đầy đặn và lặng lẽ bê đến trước mặt tôi.

“Đây phần của anh, anh ăn đi” và về ngồi lại ở chỗ mình.

Một lần nữa tôi lại xin các vị cố hiểu cho tôi và bỏ qua cho tôi.

Tôi không theo đạo Thiên Chúa và không làm dấu thánh bao giờ.

Tôi ăn. Hà tất gì tôi lại nhịn không ăn. Không có điều gì thúc đẩy buộc tôi bắt tôi không ăn cả.

Tôi nghĩ đúng như vậy.

Nhân cơ hội ấy. Quản Giáo bèn lên tiếng:

“Đấy các anh thấy không? Anh Vĩnh, anh ấy ăn cơm không cần làm dấu thánh. Có sao đâu nào. Anh ấy vẫn ăn được một cách ngon lành, thế thì tại sao các anh lại không ăn?

Các anh là đồ ngu dốt, cuồng trí, dại dột dám chống lại Đảng và Chính phủ.

Rồi các anh sẽ biết.”

Không một tu sĩ nào trả lời đáp lại.

Có tôi lên tiếng:

“Xin lỗi ông, chắc ông đọc lý lịch của tôi thì ông đã rõ, tôi không theo đạo nào cả? Phật không, chúa cũng không, mà lệnh của các ông thì chỉ có cấm làm dấu thánh trước khi ăn mà thôi. Tôi, tôi từ thuở cha sinh mẹ đẻ chưa làm dấu thánh bao giờ. Vì vậy tôi ăn có thế thôi.”

Đứng cho đến lúc tôi ăn xong. Quản giáo thấy trơ trẽn quá, quay gót khóa cửa ra về.

Đến buổi chiều không thấy mặt ai cả. Cả Giám thị, cả Quản giáo cả lính coi tù.

Tu sĩ Chính đứng dậy chia cơm cho một mình tôi. Tôi ăn.

Các đấng bậc và kể cả T.H Liệu cũng không ăn.

Hai ngày trôi qua.

Sáng hôm thứ ba tù khênh các thùng cơm canh nguội lạnh còn nguyên xuống nhà bếp và rồi lại khênh lên với cơm canh mới hãy còn nóng.

Không có ai đi kèm.

Ban Giám thị không.

Quản giáo không.

Khênh cơm canh vào buồng. Khóa cửa lại.

Chia đều.

Và các đấng bậc tu sĩ lại làm dấu thánh trước khi ăn.

Chẳng ai cười cợt, nói năng, hát hò, reo vui gì trước cuộc đấu tranh đã dành được thắng lợi lẫy lừng và vang dội đó …

Và cuộc sống của chúng tôi lại lặng lẽ trôi như thế cho đến khi tôi được về và các vị còn lại chết hết.

Viết tại Hà Nội, Ngày 1 Tháng 8, Âm lịch, năm 1994


Kiều Duy Vĩnh

 

Ông Kiều Duy Vĩnh qua đời vào năm 2012. Qua năm sau, trên trang Bauxite Việt Nam người ta đọc được một bản tin ngăn ngắn:

“Sáng nay 21/6/2013, sau khi gặp chồng mình tại Trại giam số 5, Thanh Hóa, bà Nguyễn Thị Dương Hà cho  biết do Trại giam số 5 Bộ Công an cuối cùng đã phải ra văn bản giải quyết đơn của Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, nên từ 9 giờ sáng hôm nay ông đã kết thúc tuyệt thực. Từ nhà tù, Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ gửi thư cảm ơn đến tất cả mọi người đã ủng hộ cuộc đấu tranh của ông.”

Tiếp theo đó là một bản tin khác của BBC, nghe được vào hôm 21 tháng 7 năm 2013:

“Ông Nguyễn Văn Hải, tức blogger Điếu Cày, hiện đã tuyệt thực sang ngày thứ 29 và ở trong tình trạng ‘rất yếu’.

Con trai ông Hải, anh Nguyễn Trí Dũng, vừa có cuộc tiếp xúc kéo dài chưa đầy 5 phút với cha mình hôm thứ Bảy 20/7 tại trại giam số 6, xã Hạnh Lâm, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Anh cho hay ông Hải tuyệt thực là để phản đối việc Viện Kiểm sát Nhân dân Nghệ An không giải quyết đơn khiếu nại của ông. Lý do khiếu nại là ông Nguyễn Văn Hải bị quản lý trại giam ép ký vào một bản nhận tội và khi ông không ký thì bị quyết định biệt giam ba tháng.”

Ảnh: Dân Luận

Về những “tội danh” của Điếu Cầy, ông Hà Sĩ Phu đã bình luận như sau:

“Qua thực tiễn, nghiệm ra rằng chỉ có mấy ‘tội’ này là nặng nhất, bị nhà nước ta ‘ghét’ nhất: thứ nhất là tội xúc phạm đến tình hữu nghị 16+4 , hai là tội lập tổ chức ‘ngoài sự lãnh đạo’, ba là tội bướng – nhất định giữ khí phách, lương tâm và danh dự cá nhân, không chịu phục tùng. Ba ‘tội’ hàng đầu này Điếu Cày đều dính cả, trọng tâm là tội thứ nhất, nói nôm là ‘tội chống Tàu xâm lược’!

Hơn nửa thế kỷ trước những tu sĩ công giáo đã thắng, sau một cuộc tuyệt thực để bảo vệ đức tin của họ, trong trại Cổng Trời. Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ cũng vừa thành công sau một cuộc tuyệt thực đòi bảo vệ nhân phẩm và sức khoẻ của tù nhân, tại trại giam số 5 –  Thanh Hoá.

Ở trại giam số 6, Nghệ An, cuộc chiến đấu của Điếu Cầy – rõ ràng – gian nan và phức tạp hơn. Ông không chỉ phải đối địch với cái nhà nước toàn trị hiện hành mà còn cả với đất nước “hữu nghị” láng giềng nữa. Ý chí của Điếu Cầy có thể dư nhưng thể lực của ông thì lại là chuyện khác:

Từng phút một, hình hài đáng quý trọng ấy có thể giã từ chúng ta, làm thế nào loại trừ để khả năng đáng ân hận ấy không thể xảy ra, không được xảy ra?”

Tưởng Năng Tiến

Han Times – Tuyên ngôn Blogger

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Văn Hóa on 2013/03/13 at 18:06

Ba Sàm vừa có bài đăng “Phản phản biện“. Có thể nói đây là bài viết mà Ba Sàm đã dành khá nhiều tâm huyết và nó liên quan trực tiếp tới cái gọi là “đặc khu thông tin” do blogger này đề xuất. Tuy nhiên nội dung bài viết có một số điểm không thỏa đáng như việc chủ trang này đã áp đặt một số tiêu chí để phân loại blogger, hay việc hình thành cái gọi là “đội quân thứ 4” phản phản biện một cách có văn hóa và khoa học hơn.

1. Phải – Trái hai lề

Một bên Lề Phải với đầy đủ ban nọ bệ kia, với tiền của Nhà nước (xin nói thẳng là cả tiền công dân đóng thuế), với quá nhiều nhà báo, quá nhiều những kẻ mang danh là nhà lý luận. Bản thân TBT Nguyễn Phú Trọng cũng phải thốt lên đại ý rằng: Chưa bao giờ chúng ta có được bộ máy tuyên truyền đồ sộ với trang thiết bị hiện đại như thế này.

Phía bên này Lề Trái, phần đa là dân blogger. Họ (chúng ta, tôi) biên blog theo đúng cái kiểu tay trái: không mấy người sống được nhờ biên blog phản biện (công kích) Nhà nước – càng không có mấy người mạo hiểm kiếm sống từ “nghề” này.

Không phải ai cũng làm nghề viết rồi trở thành blogger phản biện.

Blogger chỉ có tay không, không tiền đài thọ, không thế lực, không che chắn và phải đối mặt với một tương lai bị hăm dọa. Thứ duy nhất mà chúng ta có được đó là cái đầu và trái tim của mình.

Nhưng tao ngộ chiến Lề Phải – Lề Trái nhiều lần rồi, Lề Phải tỏ ra không phải là đối thủ xứng tầm của Lề Trái. Bài cùn cuối cùng mà Lề Phải bung ra sẽ là ca ngợi Đảng Quang Vinh, nhân dân chọn lựa, còn bên kia là thù địch, kích động lôi kéo.

Cả một bộ máy tuyên truyền đồ sộ, tốn tiền tốn của nhưng lại thường xuyên phải chịu thất bại thảm hại trước blogger (những kẻ tay không biên blog). Đó là tại sao? Là tại công cụ tuyên truyền của Nhà nước đã trở nên quá thiểu năng, phiến diện và cạn đáy về tư duy.

Nhìn ở chiều sâu hơn, điều này chỉ biểu thị tư duy đã cạn kiệt của chính những người cầm quyền.

Thời gian gần đây xuất hiện cái gọi là “Dư luận viên” nhưng cá nhân tôi tin rằng chẳng mấy chốc họ sẽ bị đào thải. Lào xào có đấy, cũng sẽ xôm tụ chút ít nhưng cuối cùng họ với sự non yếu về lý luận của mình cũng sẽ chỉ tụ lại với nhau thành từng nhóm và không làm việc gì hoàn hảo hơn là tự diễu cợt chính mình, qua đó diễu cợt ngay cả người đài thọ cho họ

Cơ chế không cho phép có được người tài trong “bộ máy Dư luận viên”. Một thực tế rất hiển nhiên, nhiều người vốn dĩ từ Lề Phải (báo chính thống) đã chuyển sang thành Lề Trái hoặc không lề. Đơn giản khi ham đọc, ham hiểu, ham khám phá thì sẽ tìm ra chân lý và khát khao được nói tiếng nói của mình.

2. Tuyên ngôn blogger

Blog hay không blog?

Blog hay không blog?

Chúng ta là blogger, những kẻ tay không viết log và đầu óc mơ về một thứ tưởng như điên rồ cho cả xứ sở này: Dân Chủ – Thịnh vượng. Chúng ta không có gì ngoài cái đầu và trái tim của mình, chúng ta không có gì ngoài sự trải nghiệm những buồn vui và cả nước mắt của mình.

Chúng ta có quyền phát ngôn theo ý riêng của mình, chúng ta có cái đầu để tư duy, có con tim để yêu cái phải, cái đúng, ghét cái ác, cái giả dối.

Chúng ta là blogger chúng ta trịnh trọng tuyên bố về quyền bình đẳng, quyền dân chủ, quyền được nói của chính mình. Bằng tiếng nói của mình, chúng ta chiến đấu để bảo vệ quyền đó cho không chỉ riêng chúng ta.

Thứ quyền mà không một thế lực nào, một quyền lực nào có thể cướp đoạt được.

Và chúng ta bình đẳng như nhau.

Và do vậy mọi áp đặt phân vai đều là không thể chấp nhận được. Tôi – blogger do vậy tôi nói tiếng nói của tôi. Đó là quyền của blogger, quyền của cá nhân blogger. Đừng tự đẻ ra luật và áp đặt những tiêu chí dị hợm của bất cứ một vị nào lên tôi.

Chỉ có bình đẳng, đa chiều ngôn luận và mở rộng tranh luận thì mới có dân chủ, và blogger sống trên cộng đồng Internet này là vì điều đó.

3. Đội quân thứ 4: Phản phản biện.

Ba Sàm đề xuất việc ra đời của “đội quân thứ 4” phản phản biện một cách khoa học và có văn hóa. Tôi nói thẳng với tôi đó là điều quái thai và dị hợm, nó không khác gì đội quân “Dư luận viên” cả – có chăng cũng chỉ là ở tầm cao hơn, chuyên nghiệp hơn.

Hình thành đội quân này có nghĩa là phải có tiền, có công sức để đầu tư cho đội quân ấy. Tiền ấy ở đâu ra? Xin thưa rằng từ thuế của tôi – Của công dân. Với tư cách người đóng thuế, tư cách công dân tôi thì một xu tôi cũng không cho đội quân phản phản biện, dù cho nó có văn hóa và khoa học như thế nào đi chăng nữa.

Gần bẩy trăm tờ báo, sáu bẩy chục nhà đài hàng chục vạn người sống nương theo đó chưa đủ à? Qua những gì mà chúng ta đã được trải nghiệm qua các lần tao ngộ chiến giữa Lề Phải với Lề Trái thì việc hình thành được đội quân thứ 4 như BS nói (hay việc báo chí chính thống có thể làm được điều này) là viễn mơ, không thực tế.

Cá nhân tôi không cần “đội quân thứ tư”, tôi không có nhu cầu đóng thêm thuế.

Thay vì hình thành ra đội quân phản phản biện thì Nhà nước hãy đối thoại với công dân. Hơn lúc nào hết nhà nước cần có một tư duy đối thoại với công dân. Còn khi nhà nước từ chối đối thoại thì có nghĩa công dân còn tiếp tục công kích, tiếp tục xa rời nhà nước, rời xa những người cầm quyền.

Con gà và quả trứng, con gà có trước, hay quả trứng có trước?

Mong cầu đối thoại dân chủ, cởi mở trên không gian hiện đại, bắt đầu từ việc Nhà nước và Công Dân đối thoại, bắt đầu từ việc dẹp bỏ luôn và ngay những quy chụp vớ vẩn, lố bịch từ không ít báo chính thống. Chứ không phải từ đặc khu thông tin, hay “từ đội quân thứ 4” phản phản biện văn hóa và khoa học.

Nguồn: blog Han Times