vietsoul21

Posts Tagged ‘quyền lực’

Hồ Bất Khuất – “Nguyên lý mâm thịt chó”

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2012/10/17 at 12:23

(Nguồn: Dân Làm Báo)

Rất nhiều người đã chia sẻ cảm xúc, ý kiến về kết quả của Hội nghị Trung ương 6 của Đảng cộng sản Việt Nam. Nhiều người tỏ ra hụt hẫng, thất vọng. Tôi cho rằng, những người rơi vào trạng thái như vậy là do không chú ý đến nguyên lý mâm thịt chó”.

Lại một lần nữa “nguyên lý mâm thịt chó” được vận dụng hoàn hảo. Nếu ai chưa biết “nguyên lý mâm thịt chó”, tôi xin được nói cho rõ. Thực tế cuộc sống chỉ ra rằng, giữa những người cùng hội, cùng thuyến vẫn thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn vì xung đột quyền lợi và quan điểm. Những mâu thuẫn này nhiều khi rất gay gắt, dẫn đến những cuộc cãi vã nảy lửa. Tuy nhiên, khi họ gắn bó với nhau bằng một cái gì đó rất quan trọng thì người ta đều tìm cách thỏa hiệp với nhau được. Nói một các nôm na thế này. Có một hội bạn bè thân thiết với nhau, nhưng giữa họ vẫn có mâu thuẫn; thậm chí họ có thể khinh ghét nhau, nhưng khi tất cả những người này ngồi vào một mâm thịt chó thì dù họ có cãi nhau gay gắt đến mấy, họ cũng biết tự kiềm chế để không xẩy ra chuyện có người tức khí, hất đổ mâm thịt chó. Hất đổ thì mất ăn, mà tất cả mọi người đều muốn ăn.

Trước tình hình đất nước ngày càng khó khăn, dân chúng rất chờ mong Hội nghị Trung ương 6 đưa ra những quyết định mang tính đột phá để đất nước có sinh khí mới. Ở Hội nghị Trung ương 4, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đưa ra chiến dịch “phê và tự phê” theo tinh thần mới. Ông còn nói điều này liên quan đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Chính vì vậy lần này mọi người hồ hởi chờ đợi, âm thầm hi vọng.

Nhưng Hội nghị 6 đã kết thúc, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có bài phát biểu dài, nhưng chỉ làm mọi người thêm thất vọng. Chỉ cần đọc mấy câu này thì rõ: “Bộ Chính trị đã thống nhất 100% đề nghị Ban Chấp hành Trung ương cho được nhận một hình thức kỷ luật và xem xét kỷ luật đối với một đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị… Ban Chấp hành Trung ương đã… đi đến quyết định không thi hành kỷ luật đối với tập thể Bộ Chính trị và một đồng chí trong Bộ Chính trị…”Có người bình luận đểu: Thành công của Hội nghị chính là đây!

Tại sao Ban chấp hành Trung ương lại quyết định không thi hành kỷ luật đối với tập thể Bộ chính trị và một đồng chí trong Bộ chính trị? Tại vì “nguyên lý mâm thịt chó” đã được vận dụng, nghĩa là các ủy viên Trung ương Đảng không muốn quyền lợi của mình bị đe dọa.

Ở Việt Nam, Đảng cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, lại độc nhất nắm quyền nên tất cả những người trong Đảng có quyền lợi gắn bó với nhau (thật ra chỉ những người có chức, có quyền mới có quyền lợi, chức càng cao thì quyền lợi càng lớn), vì vậy họ phải bảo vệ lẫn nhau. Ví dụ, một người nào đấy được giữ chức Bộ trưởng, rất có thể con người này phải chịu ơn Thủ tướng hay Phó Thủ tướng nào đó. Tương tự, một người nào đó được giữ chức Bí Thư tỉnh ủy, chắc chắn là con người này gắn bó với một vài Ủy viên Bộ chính trị. Chính vì gắn bó với nhau về quyền lợi, biết rõ cái mạnh, cái yếu (thường thì cái yếu nhiều hơn) của nhau nên họ không thể “mạnh tay” với nhau được. Bởi đơn giản: Nếu anh tố cáo tôi, “chơi” tôi thì tôi cũng có cái để tố cáo anh, “chơi” lại anh. Để bảo vệ chính mình, các ủy viên trung ương Đảng không dám cùng nhau “mạnh tay’ với người khác, nhất là những người đó có chức vụ và thế lực lớn hơn.

Nhìn nhận từ góc độ này, Hội nghị Trung ương 6 kết thúc như vậy là điều tất yếu, hợp logic. Những ai hi vọng vào những điều tốt đẹp hơn thì thật ngây thơ và rõ ràng là không hiểu “nguyên lý mâm thịt chó”. “Nguyên lý mâm thịt chó” đơn giản và dễ hiểu như vậy, tại sao nhiều người vẫn không nhìn ra cái hiển nhiên và thô tục của nó để mà… đừng hi vọng?

P/S: Đêm 16/10/2012 những người còn hậm hực vì kết quả Hội nghị 6 của ĐCS Việt Nam khi xem trận bóng đá giữa Đức – Thụy Điển đều có cảm giác hai sự kiện này có đôi điều giống nhau. Đội tuyển Đức vốn được xem là đội bóng có bản lĩnh nhất thế giới; họ cứng rắn, lì lợm, “chiến đấu” đến cùng, kể cả trong những trường hợp tuyệt vọng nhất. Nhưng đêm 16/10 vừa qua, không có những điều như vậy! Đội tuyền Đức đá trên sân nhà, dẫn trước Thụy Điển 4:0, ấy thế mà để Thụy Điển gỡ hòa. Nếu điều này xẩy ra với các đội bóng Việt Nam, chắc chắn bị nghi là bán độ. Nhưng đây là đội tuyển Đức, không thể có chuyện bán độ được! Vậy điều gì đã xẩy ra? Mọi người không giải thích được, nhưng ngậm ngùi cho rằng: trận cầu này khá giống với Hội nghị 6 ĐCS Việt Nam vừa qua. Một “đội” (được yêu mến và hi vọng) đã dẫn trước rất nhiều điểm, hoàn toàn có thể giành thắng lợi để đáp ứng được sự mong đợi của nhân dân, nhưng cuối cùng lại để “đội” kia gỡ hòa vào những phút cuối.

Trong bóng đá bị gỡ hòa như đội tuyển Đức cũng là điều vô cùng khó hiểu và đáng tiếc. Còn trong chính trị, điều này không chỉ đáng tiếc mà còn đáng lo! Không biết cảm giác lo lắng có mang lại lợi lộc gì không? Thường thì những ai lo lắng chỉ hao gầy đi mà thôi.

Hồ Bất Khuất

http://blog.yahoo.com/_YPXJLYTBYRQHNDW25MKZEW2OOI/articles/813743/index

Phó thường dân (15): phố vẫy …

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2012/10/07 at 14:25

 

Mấy ngày trước đây là Trung Thu, trăng tròn, ở quê nhà thì tùng cắc tung lũ trẻ với lồng đèn chú cuội. Ở đây thì người ta gọi là trăng mùa gặt (harvest moon), cũng tròn như ở bên nhà chỉ có khác là không có đám trẻ con lăng xăng hớn hở rước đèn.

Nói đến trăng tròn thì phó thường dân tui chợt nhớ câu thơ “Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ, đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ nước Mỹ.”[1] trong tập thơ Cửa Mở của nhà thơ Việt Phương.  Riêng hai câu thơ này mới là cay đắng để đời nè nghe: “Tôi đã sống một phần hai thế kỷ. Ðể hôm nay làm đĩ với tâm hồn!

Nhà thơ Việt Phương tự thấy mình “làm đĩ tâm hồn” phục vụ cho cái chế độ cộng sản bịp bợm, thối nát khi đành đã bao năm nằm chung cái chăn đầy rận với các đồng “chí” chuyên nghề hút máu. Nhưng đáng tội hơn nữa nhà thơ ấy đã mở mắt, mở tâm hồn, mở cửa (“Mở đài địch như mở toang cánh cửa.”) nên sự nghiệp ông Thi sĩ kiêm thư ký của Thủ tướng Phạm Văn Đồng chưa bay qua cánh cửa thì đã bị treo bút “lặn không sủi tăm”.

Không riêng chỉ mỗi một nhà thơ này mới mở mắt, mở tâm hồn. Những người dù chỉ có một chút lương tâm rồi cũng không thể tự dối mình được nữa và thậm chí ân hận vì dây dưa với cái hủi cộng sản. Rất nhiều người (Hữu Loan, Hoàng Hữu Quỳnh, Hà Sĩ Phu, Bùi Tín, Tô Hải) ở lúc giữa đời hoặc chậm đến khi gần đất xa trời thì cũng bỏ đảng[2], lánh xa, tẩy rửa mặt nạ vô hình đã làm ô uế tâm hồn. Riêng nhà văn Dương Thu Hương thì tuyên bố thẳng “làm giặc” chống lại cái ác rồi từ chối cả “tự do ảo là khoảng sinh tồn của ngòi bút” và chấp nhận sống lưu vong. Gần đây hơn là TS Đỗ Xuân Thọ, anh Nguyễn Chí Đức, em Tô Hoài Nam bỏ đảng về với Nhân Dân[3]. Vì sao bỏ đảng – bộ phận quyền lực tuyệt đối trong nước?

Vì đảng ta vốn đã xây dựng được (XHCN) kỹ nghệ “đánh đĩ”[4]  nên ai ai phò cái bình vôi (BCT) cộng sản cũng đều phải học cho rành “Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề”. Mà thiệt là tội cho cái nghề làm đĩ, chẳng đặng đừng đành bán trôn nuôi miệng. Còn những tay chuyên gia đánh đĩ thì thiệt tình (và nhiệt tình) hồ hởi “bán miệng nuôi trôn”.

Đánh đĩ nên Giám đốc CA TP Hà-nội Nguyễn Đức Nhanh mới hôm trước phát ngôn “Biểu tình chống TQ là yêu nước” thì hôm sau đã nhất quyết đạp mặt, vặt khủy tay, tống lên xe buýt như lợn chở về trai “phục hồi nhân phẩm”.

Đánh đĩ nên TT Nguyễn Tấn Dũng lúc đăng đàn Quốc hội tuyên bố khẳng định Hoàng Sa-Trường Sa là của Việt Nam thì mới đây đi chầu TQ chẳng dám ọ ẹ một lời chủ quyền biển đảo.

Đánh đĩ nên vãi Doan nhà ta chả ngượng mồm “Dân chủ của chúng ta là rân chủ gấp vạn lần dân chủ các nước tư sản.”

Đánh đĩ nên Nguyễn Trần Bạt  mới “Tôi đã có một kết luận rằng nhân quyền không còn là quyền chính trị, nhân quyền là quyền phát triển và chống lại rủi ro của cuộc sống.”

Mà kể sao cho hết cái (nọc) nòi (cộng sản) đánh đĩ này[5].

Thế nên nhà thơ Việt Phương cũng phải thốt lời “Từ kỳ lạ đến bình thường rồi quá bình thường. Thứ chính trị không chính mà chỉ trị”.

Riêng phó thường dân tui thì hổng sao chịu nổi cái đánh đĩ chính sách “đại đoàn kết dân tộc” và “hòa giải” của đám chuyên gia trong “kỹ nghệ đánh đĩ” này.

Hổng biết “đại đoàn kết dân tộc” cái kiểu gì, chứ theo kiểu chính sách lớn đảng ta với búa liềm, cuốc chim trong Cải Cách Ruộng Đât với “trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ” rồi rần rần tới luôn bác tài trong “cải tạo thương nghiệp” đến mút mùa “học tập cải tạo” và “Đối với bọn Ngụy quân, Ngụy quyền, nhà của chúng: ta ở; vợ của chúng: ta xài; con của chúng: ta bắt làm nô lệ; còn bọn chúng nó: ta giam cho đến chết!” thì có mà đời tàn dân tộc.

Đại đoàn kết dân tộc gì mà sĩ-nông-công-thương thì thí bỏ thành phần sĩ-thương và thổi ống đu đủ giai cấp công-nông.

Đại đoàn kết chi mà đày đọa dân miền Nam (một nửa đất nước) làm phó-thường-dân, diện “lý lịch” có vấn đề.

Đại đoàn kết nào mà lại bóp mũi, khai tử đồng chí (rận) trẻ người non dạ (Thanh Niên Sinh Viên Học Sinh Tranh Đấu) Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Tấn tuồng “Hoàn tất sứ mệnh lịch sử” vừa hạ màn thì cho lũ trẻ xuống đường và nằm vùng chầu rìa, “dựa cột” coi bộ gọn ghê!

Còn cái loa “hòa giải” lại to chẳng thua gì “đại đoàn kết dân tộc”.

Chèng đéc ơi ai đời “hòa giải” với trò thủ tiêu Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ và đàn áp Cư sĩ Phật Giáo Hòa Hảo[6]… “hòa giải” bằng cách khai tử Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất rồi bắt giam Tăng thống Thích Huyền Quang và quản chế tại chùa[7] … “hòa giải” dùng cần cẩu giật sập thánh đường Giáo hội Mennonite (dù chỉ là chuồng bò tái tạo) của MS Dương Kim Khải[8] … “hòa giải” cướp nhà chung giáo phận Hà Nội và “thoái vị” Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt ra khỏi nước … “hòa giải” đem đàn áp tín đồ Cao Đài và trù dập giáo dân Con Cuông[9] … “hòa giải” triệt để áp lực chính quyền sở tại phá phá đổ tượng đài kỷ niệm thuyền nhân ở Galang và Bidong[10] hủy bỏ tang chứng trăm ngàn người chết trên biển, trên sông vì chính sách “hòa giải” trước đó v.v…

Mà thôi để chuyện chung, chuyện lớn ra một bên. Phó thường dân xin kể cái đời cá nhân lăn tăn, trầy trụa bà con nghe.

Số là tui được sanh trưởng ở miền Nam tự do, cũng được ăn (nhiều) học (ít) còn chơi thì lơ mơ thằng cù lần. Nghĩ lại đó cũng là cái phước vì chỉ biết ăn-học-chơi trong lúc tuổi thơ.

Không phải học căm thù người dân miền Bắc (như kiểu căm thù Mỹ-Ngụy), không phải học chém giết bộ đội CS trong phép toán cộng trừ (kiểu bắn bao nhiêu thằng Mỹ, thằng Ngụy) hoặc sát máu trong thơ ca (Giết, giết nữa bàn tay không phút nghỉ. Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong. Cho đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng,Thờ Mao Chủ tịch, thờ Sít-ta-lin bất diệt).

Phước đức nhất là không phải yêu, thờ ai ngoài thờ cha, kính mẹ và ông bà. Ai đời lại thương, thờ cái ông râu xồm tội phạm nhân loại ở tận đâu đâu (Tiếng đầu lòng con gọi Stalin! … Hỡi ơi, Ông mất! đất trời có không? Thương cha, thương mẹ, thương chồng. Thương mình thương một, thương Ông thương mười). Vừa mới thoát khỏi nạn học “tổ tiên chúng ta là người Gô-Loa (nos ancêtres étaient des Gaulois )” dưới thực dân Pháp thì lại đội đầu ông Mác-ông Nin hở trời!

Vì không bị tuyên truyền, tẩy não với thù hận chém giết nên phó thường dân tui chẳng có chút thù hận nào với cộng sản dù có thấy những thảm cảnh gây ra bởi cộng sản. Nhưng sợ thì có (thiệt) à nha.

Sợ cúp cua đi coi phim kiếm hiệp, phim chưởng Khương Đại Vệ, Lý Tiểu Long mà bị đặc công đặt mìn plastic chết lòi phèo, phọt óc, máu me đầy rạp hát.

Sợ đi xem đá banh bị ném lựu đạn người tung như bóng.

Sợ đón xe lam đi học từ quê ra thị xã 12 cây số mà lỡ cán phải mìn bị chết hoặc cụt tay, què giò, mù mắt thì chắc phải đi ăn xin hoặc ăn bám cha mẹ suốt đời.

Sợ nửa đêm đang ngủ bị pháo kích lạc đạn cả nhà đi chầu ông bà sớm.

Tuy sợ thì có sợ thiệt nhưng phó thường dân tui không có lòng thù hận gì vì có gì (cá nhân) mà thù ghét họ. Ngay khi lúc lơn lớn dậy thì, bắt đầu biết nghe ca nhạc nên cũng có lúc khuya hôm mở radio gặp nghe chương trình “sinh Bắc tử Nam”. Nghe xướng danh thì cũng ngậm ngùi thương những người đã chết không hương khói giỗ chạp.

Còn dối trá hả. Không có ai bắt tui phải học nằm lòng. Làm gì có bị buộc dối trá, giả hình trong cuộc sống. Có dối thì cũng chỉ là cái dối cha mẹ đi chơi, dối để thuê truyện chưởng trinh thám đọc lén, dối hút thuốc lá lấy le phong độ bạn gái. Còn bạn bè thì xạo sự chơi dzui thôi mà.

Đâu có phải sống trong cái “thời kỳ bao cấp” tem phiếu, phải sống “đăng ký hộ khẩu” đi thưa (xin giấy phép) về trình (báo) với công an phường, hay họp tổ dân phố, không phải nghe phổ biến nghị quyết trên cái loa phường. Mạnh ai nấy sống chẳng nghi kị, dòm ngó. Mười bẩy năm niên thiếu của tui hổng thấy cái ông chính quyền Việt Nam Cộng Hòa nào xen vào cái đời tư cá nhân của tui hết ráo.

Thế nhưng cuộc đời êm ấm của tui chấm dứt vào cái ngày 30 tháng 4 năm ấy.

Đó là khởi đầu cái học dối trá và thù hận. Học đấu tranh giai cấp, học ai thắng ai, học “xưa cha đào, nay con đắp”[11], học (tham gia) đánh tư bản mại sản, kiểm kê tiểu thương, v.v…

Trời đất quỷ thần ơi! Sống ở dưới chế độ CS mà không dối trá thì đi đoong cái đời. Hổng dám kết bè, kết bạn với ai vì chỉ nói thật điều mình không ưa là có ngày gặp họa. Tui còn nhớ rành rành câu “Lao động là vinh quang, lang thang là chết đói, hay nói là đi học tập.” Thành ra có gì thật thì giữ kín trong lòng, còn tất cả là giả vờ giả dối tung hô theo khẩu hiệu thì mới sống ngáp ngáp thôi. Họp hành ai nói gì thì nói cứ vỗ tay lớn là chắc ăn. Phải biết nói như con vẹt lập đi lập lại cái “ba giòng cách mạng”, “thời kỳ quá độ”. Phải “phấn khởi”, “hồ hỡi” thuộc long những câu trong nghị quyết làm bùa hộ mạng, làm lưới chống đạn B40.

Mà thôi, đó là chuyện cá nhân, nghe dài cũng oải. Mấy ổng đang vẫy gọi “hòa hợp hòa giải” nè!

Phó thường dân tui hổng biết gặp ai để nói chuyện “hòa giải”. Đi gặp ông Tổng (bí) hay ông Thủ (tiền)? Chắc chắn là tui hổng có thế, có lực để mà ngồi nói chuyện hòa giải với hai ổng.

Còn bà con chòm xóm láng giềng thì tui có gì xích mích mà hòa giải? Ngay cả người dưng ngoài ngõ đầu đường tui cũng hổng xích mích thì hòa giải cái nỗi gì.

Mà mẹ ơi, tui ở bên này (bên kia bờ đại dương) thì có ăn cái giải gì mà hòa hợp với lại hòa giải. Mấy ông vẫy tui lại để móc cái “khúc ruột ngàn dặm” coi còn sót đồng Đô nào chứ gì? Mỗi năm mấy ông ăn hớt cũng được bao nhiêu trên số kiều hối sấp xỉ mười tỷ đô la rồi chớ ít ỏi gì đâu mà còn bòn rút nữa mấy cha.

Khi nói tới “hòa giải” thì cũng có người bàn tới “thỏa hiệp” (compromise)[12]. Nói nghe cũng thủng lỗ nhĩ đó, vì trong đối thoại, từ đòi hỏi các phe nhóm, thì có lúc đi đến thỏa hiệp nhằm tránh sự bế tắc. Nhưng đó chỉ là chuyện của các thế lực (ba bẩy, tám mười) chứ cái cộng đồng và dân đen chung chung thì có thế lực gì. Chuyện “thỏa hiệp” giữa cá nhân với tập đoàn cộng sản thực chất là làm tay sai để đạt lợi ích riêng của họ. Mà thôi, để tôi chống mắt xem “Nhất định trong tương lai gần, người Cộng sản sẽ nhẹ nhàng ngồi vào bàn đàm phán đặt vấn đề ‘thỏa hiệp’ để vì lợi ích Dân tộc, Tổ Quốc.”[13] là tới khi nào.

Phó thường dân tui nghĩ mấy ổng nên hòa giải với dân chúng trong nước cho phải phép (pháp luật). Hòa giải với những người dân oan mất đất, trả đất đền bù thỏa đáng. Hòa giải với tín đồ các tôn giáo, tôn trọng tự do tín ngưỡng và trả lại tài sản giáo hội. Hòa giải với những người bất đồng chính kiến, không giam cầm, bắt bớ, sách nhiễu, tôn trọng quyền tự do ngôn luận, hội họp và chính trị của họ. Hòa giải bằng cách xóa bỏ độc quyền lãnh đạo, tạo bình đẳng cho mọi người thực thi quyền công dân xác đáng của họ trong việc chọn người tài giỏi xây dựng đất nước.

Mấy ông thực hành hữu hảo 4 tốt và 16 chữ vàng với dân trong nước thay vì với thằng láng giềng hung hăng trước đi.

Phó thường dân mới đọc đâu đây có cái giải thưởng Trần Nhân Tông[14] về hòa giải trao tặng cho hai vị: Tổng thống Myanmar, ông U Thein Sein và Chủ tịch Đảng đối lập NLD – bà Aung San Suu Kyi. Tui dám cá độ là mấy ổng mà làm được ba bốn điều hoà giải ở trên thì tui xin tiến cử và đài thọ chi phí đi lãnh giải kỳ tới liền (liền).

Tui nói thiệt nghe, coi bộ cái kỹ nghệ “đánh đĩ” của đoảng có nhiều hàng tồn kho nên cứ năm ba bữa rảnh rang là đem chào hàng món ế ẩm, câu khách tham bèo. Dzậy mà cũng có người dù không dám bỏ tiền túi mua nhưng lại rùm beng khen rẻ.

Phó thường dân tui lúc trước 75 có nghe phong phanh đến các “chị em” mua bán dâm ở ngã ba chú Ía nhưng chưa hề nghe vẫy chào quá cỡ thợ mộc kiểu này. Giờ thì nghe nói các “phố vẫy” nhan nhãn ở (Phan Đăng Lưu-Phạm Văn Đồng ) Hà Nội. Nghe rằng đặc điểm của phố vẫy là mờ mờ, ảo ảo phấn son, xiêm áo, mông má đắp vá, chuyên là đồ mã.

Còn phố vẫy khu Ba Đình thì sao? Thấy thì mát mắt. Sờ thì chắc cũng mát tay. Nhưng đụng trận là tới bến! Mụn cơm, mụn cóc, sùi mào gà, giang mai, hột xoài, HIV, HPV, SIDA vòng trong vòng ngoài khỏi kể. Ai xâm mình thì xin mời một quả “hòa hợp, hòa giải”, “đại đoàn kết dân tộc” dưới rốn.

Phó thường dân tui thì xin hai chữ bình an.

© 2012 Vietsoul:21


[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu  – (8) Gió mưa là chuyện của trời …  – (9) Vô liêm sỉ – man rợ – (10) Phế-anh-hùng – (11) Luật Lệ(nh) … (12) Nhà em có nuôi một con két … (13) Cái nhà là nhà của ta … (14) Mèo – thỏ (16) Mít tờ Đàm và Bác Hồ (17) Nín thở qua cầu (18) Bán Thân – Bán Thận – Bán Thần (19) Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm]


[1] NHÀ THƠ VIỆT PHƯƠNG RA MẮT TẬP THƠ “CỬA ĐÃ MỞ”
http://vanchuong.vnweblogs.com/post/2192…

Cuộc Đời Như Vợ Của Ta Ơi

Năm xưa ta nói rất nhiều “cực kỳ” và “hết sức”
Tội nghiệp nhất là ta nói chân thành rất mực
Chưa biết rằng “trời” còn xanh hơn “trời xanh”
Ta thiếu sự trầm lắng đúc nên bởi nhiệt tình.
Ta cứ nghĩ đồng chí rồi thì không ai xấu nữa

Người ta dạy tôi
Ðồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ
Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ
Tôi đã sống một phần hai thế kỷ
Ðể hôm nay làm đĩ với tâm hồn!

[2] Hồi ký “Tôi Bỏ Đảng”, Hoàng Hữu Quýnh – Tại sao bỏ Đảng, bỏ Bác mà chạy trốn?

[4] Đánh đĩ chính trị, blog Nguyễn Tường Thụy

[11] Sau 30-4-75, chính quyền CS bắt thanh thiếu niên con em “lính  Ngụy” vào Thanh Niên Xung Phong đi đào thủy lợi, đắp đê.

Đại Vệ Chí Dị – Thời của âm binh

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2012/06/10 at 10:25

Nước Vệ triều nhà Sản năm thứ 67.

Dân oan bị cướp đất kéo nhau đi kiện khắp nơi.

Kinh tế suy thoái, nợ nước ngoài chồng chất.

Quân Tề nhân cơ ấy, tung hoành ngoài lãnh hải, ngư thuyền đi đánh bắt hải sản dàn hàng ngang trên biển Vệ. Khiến cho ngư dân Vệ khiếp đảm không dám ra khơi hành nghề. Vì thế mà nước Vệ yên ổn, tránh được chuyện binh đao với Tề. Quả thật một điều nhịn chín điều lành như cha ông dạy. Triều Vệ nghị sự, các quan bàn rằng, chúng nó (ý nói bọn Tề) đánh hết hải sản, thu hết tài nguyên tức khắc phải kéo về. Cứ án binh bất động là kế hay nhất.

Trong nước người dân bất mãn, ca thán, tiếng vang động đến trời cao. Triều Vệ nghị, sự, các quan bàn rằng. Cứ cấm chúng nó than vãn, thì gần cũng chả nghe thấy, huống chi là trời cao vời vợi kia.

Bèn lựa lúc mùa hạ oi bức khiến bá tính khó chịu vô cùng, mới sai bọn truyền thông thanh tra những người hay phổ biến tin tức trong nhân dân để khép tội.

Lúc ấy ở kinh thành có tiến sĩ họ Nguyễn, Nguyễn nguyên người xứ Đoài, năm 38 tuổi đậu tiến sĩ khóa Mậu Tí đời Vệ Cường Vương, làm quan thủ thư tại viện Cổ Ngữ. Tay ấy rành kinh sử, hay chọn lọc được những tin tức quý giá trong dân phổ biến cho mọi người xem. Ước thiên hạ người đọc tin của tiến sĩ có đến hàng triệu.

Đại thần nghị chính kiêm phó tể tướng là Phước được triều đình tín nhiệm, giao cho xử việc trấn áp Nguyễn. Phước cầm lệnh bài triệu tập các bộ liên quan là bộ Lễ, bộ Hình lại, cắt đặt việc đâu ra đấy. Trước là dùng pháp lệnh để nắn Nguyễn tìm chứng cứ cho bộ Hình vào cuộc, tiếp nữa là dùng bọn bồi bút công kích hạ thấp uy tín của Nguyễn. Đồng thời lệnh cho những kẻ đặc tình cài trong hàng ngũ nhân dân hưởng ứng cuộc hạ uy tín này tạo thành hai mũi giáp công. Dọn đường khi trấn áp được Nguyễn, hạ được uy tín, reo rắc tiếng xấu cho những người đưa tin trong bốn cõi là đưa pháp lệnh xiết chặt việc truyền tin trong dân gian vào thi hành.

Nào ngờ mưu ấy bị lọt ra ngoài, làm mất đi cái chính danh của pháp lệnh. Khắp nơi đường chợ người ta đều hiểu đó là mưu để bịt miệng nhân dân, không để tiếng than vãn lọt đến trời xanh. Dân vì thế mà không phục.

Nhà Sản thấy khó, bèn xoay chuyển sang hướng khác. Đưa tin bọn ca kỹ, diễn viên bán dâm hàng chục lượng vàng tràn ngập khắp bảng tin trong nước. Dân trí Vệ còn thấp, nghe được tin lạ xúm xít vào bàn tán, làm thế cho loạn tin. Một cách làm bấy lâu nay vẫn thành công. Trước gây loạn có cớ dẹp, trong lúc dẹp thì mượn gió bẻ măng.

Bọn lưu manh kẻ chợ ngồi mách chuyện với nhau. Xưa nay chúng ta bảo kê chỗ nào như nhà hàng, quán chợ, bến bãi, trước tiên cho người vào hàng quán quậy phá, gây loạn cho lòng người hoảng sợ. Sau đó đứng ra bảo kê thu tiền với cớ là giữ gìn trật tự. Nay triều đình dùng kế đem mỹ nhân bán dâm gây loạn thiên hạ, sau đó chấn chỉnh việc truyền tin trong nhân dân. Liệu có giống nhau không nhỉ?

Có người nói:

– Giống phần nào thôi, chúng ta là lưu manh, côn đồ, chúng ta dùng vũ lực. Dù sao đi nữa chúng ta cũng là người ngay thật. Chứ dùng váy của đàn bà mà để làm chuyện đó thì xưa nay trong giới chúng ta không ai làm việc đó cả.

Dân kẻ chợ, nghe bọn đó nói chuyện, ai cũng ngao ngán nói với nhau.

– Đúng là thời của âm binh.

Theo blog Người Buôn Gió

Cùng tác giả:

Người Buôn Gió – Tái cơ cấu thần chưởng

Người Buôn Gió – Đêm dài biên ải

Người Buôn Gió: 18-3 trại Thanh Hà

Người Buôn Gió – Người Nông Dân Nổi Dậy

Người Buôn Gió – Hóa ra đều ăn cắp hết

Người Buôn Gió – Đi tù và đi cải tạo

Người Buôn Gió – Con trâu của ai?

Người Buôn Gió – Hà Nội trong mắt ai

Loạt bài Đại Vệ Chí Dị:

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị – Mọi sự quái đản đều là do… thế lực thù địch

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị: Cứ đổ cho thế lực thù địch xúi dục là OK!

Aung San Suu Kyi – Tự do khỏi nỗi khiếp sợ

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Thế giới on 2012/06/08 at 07:18

Lâm Yến dịch

Không phải quyền lực làm cho tha hóa, mà chính là sự khiếp sợ. Sự khiếp sợ đánh mất quyền lực làm tha hóa những kẻ đang nắm trong tay quyền lực và sự khiếp sợ bị quyền lực trừng phạt làm tha hóa những người đang nằm dưới tay quyền lực. Đại đa số người Miến quen thuộc với bốn gati, bốn hình thức của tha hóa. Changda-gati (Tham), sự tha hóa bắt nguồn từ lòng ham muốn, là sự từ bỏ chính đạo để tìm kiếm tặng vật bất chính hay những thứ mình thèm khát. Dosa-gati (Sân) là việc đi vào lạc đạo nhằm trừng phạt những người mà mình ghét bỏ, Moga-gati (Si) là sự sai lầm do si đần. Nhưng có lẽ cái tồi tệ nhất trong bốn hình thức tha hóa là Bhaya-gati (Úy), không phải chỉ vì bhaya (sự khiếp sợ) làm tê cứng và dần phá hủy tất cả các cảm giác về đúng-sai, mà nó thường là nguồn cơn của ba hình thức tha hóa còn lại. Giống như Tham, khi không bắt nguồn từ tính hám lợi thuần túy thì có thể là sản phẩm của sự khiếp sợ cảnh nghèo túng hoặc sợ làm phật lòng những người mình yêu quí, sự khiếp sợ bị vượt qua, bị lăng nhục hoặc thương tổn theo cách nào đó có thể xô đẩy con người đến những ác ý. Cũng khó có thể xua tan u mê trừ phi có tự do theo đuổi chân lý và không bị trói buộc bởi sự khiếp sợ. Với quan hệ gần gũi đến thế giữa sự khiếp sợ và tha hóa, không có gì phải ngạc nhiên là ở bất kỳ xã hội nào, khi sự khiếp sợ lan tràn, tha hóa dưới mọi hình thức sẽ bám rễ sâu trong lòng xã hội.

Việc công chúng không hài lòng với những khó khăn kinh tế vẫn được nhìn nhận là nguyên nhân chính dẫn tới phong trào đòi dân chủ ở Miến, được châm ngòi bởi những cuộc biểu tình của sinh viên năm 1988. Đúng là nhiều năm với những chính sách thiếu ăn nhập, các giải pháp sai lạc của chính quyền, lạm phát leo thang và thu nhập thực tế tụt giảm đã đưa đất nước đến tình trạng khủng hoảng kinh tế. Nhưng không phải những khó khăn trong việc nâng cao hơn mức sống – ở mức gần như không thể chấp nhận được – là lý do duy nhất xói mòn lòng kiên trì của người dân vốn đôn hậu và hiền lành, mà còn do sự lăng nhục bởi một lối sống bị biến dạng bởi tha hóa và khiếp sợ.

Các sinh viên đã đấu tranh không phải thuần túy vì cái chết của các đồng chí, mà còn chống lại sự phủ nhận quyền được sống của họ bởi chính thể toàn trị – một chính thể đã tước đi sự hiện diện của lẽ phải và không đem đến bất kỳ một hi vọng nào cho tương lai. Và vì các cuộc tranh đấu của sinh viên đã truyền tải rõ ràng sự thất vọng của công chúng, những cuộc biểu tình này lan nhanh thành một phong trào toàn quốc. Một trong những người ủng hộ nhiệt thành nhất cho phong trào là các doanh gia, những người đã hình thành những kỹ năng và quan hệ cần thiết để không chỉ tồn tại mà còn giàu có trong hệ thống. Nhưng sự giàu có không đem đến cho họ cảm nhận thực sự về an ninh và thành đạt, và họ không thể không nhận thấy rằng nếu họ và đồng bào họ, bất kể địa vị kinh tế, muốn có được một sự sinh tồn khả dĩ thì một bộ máy nhà nước khả tín ít ra phải là điều kiện cần, nếu không phải là điều kiện đủ. Người dân Miến đã lo ngại về tình trạng bấp bênh của kẻ nằm dưới sự trị vì của người khác, khi mà thân phận họ “như nước trong bụm tay” của những kẻ nắm quyền lực tối cao.

Chúng ta đẹp xanh như ngọc 
Trên bụm tay người 
Nhưng ôi, chúng ta cũng có khi là 
Những vụn gương vỡ nát 
Trên bụm tay người

Các vụn gương, những mảnh nhỏ nhất, óng ánh và sắc nhọn, có thể tự bảo vệ mình khỏi những bàn tay muốn nghiền nát chúng là một biểu trưng sống động của tinh thần can đảm, một phẩm chất cần thiết của những người muốn giải phóng mình khỏi sự kìm kẹp của bạo quyền. Bogyoke Aung San coi mình là một nhà giải phóng và không ngừng tìm kiếm câu trả lời cho những trở ngại mà Miến Điện gặp phải trong thời khắc thử thách của dân tộc. Ông hô hào đồng bào mình hãy can đảm hơn: “Hãy đừng lệ thuộc vào lòng can đảm và tinh thần dũng cảm của người khác, mỗi người trong các bạn hãy biết hi sinh để trở thành một anh hùng và tạo dựng sự dũng cảm và can đảm của chính mình. Chỉ đến khi đó chúng ta mới có thể cùng chung hưởng tự do thực sự”.

Nỗ lực cần thiết để tránh không bị tha hóa – trong một môi trường mà sự khiếp sợ là một phần máu thịt của sự tồn tại hàng ngày – không tức khắc rõ ràng với những người có may mắn sống trong những nhà nước có sự hiện diện của pháp quyền (rule of law). Luật pháp công minh không chỉ ngăn chặn sự tha hóa thông qua việc trừng phạt không thiên vị những kẻ phạm pháp. Luật pháp còn giúp tạo dựng một xã hội mà trong đó mọi người có thể thỏa mãn những yêu cầu căn bản-vốn thiết yếu cho việc bảo tồn nhân phẩm con người mà không cần phải cầu viện đến những hành vi tha hóa. Khi thiếu vắng luật pháp như thế, gánh nặng gìn giữ các nguyên tắc của công lý và sự đoan chính chuyển sang vai những con người bình thường. Chính hiệu ứng tích lũy những nỗ lực bền bỉ và sự nhẫn nại sẽ thay đổi một dân tộc – nơi lý trí và lương tri bị bóp méo bởi sự khiếp sợ – sang một xã hội mới- nơi luật pháp tồn tại là để đáp ứng khát vọng của con người về sự hòa hợp và công lý, trong khi giúp ngăn chặn những tính ác trong bản chất thiên bẩm của con người.

Trong một thời đại mà sự phát triển lớn lao của kỹ nghệ đã tạo ra những vũ khí chết người-những thứ có thể được, và đang được, những kẻ nắm quyền vô đạo dùng để thống trị kẻ yếu và không có khả năng tự vệ, có một đòi hỏi cấp thiết về mối quan hệ gần gũi hơn giữa chính trị và đạo đức, trên cả cấp độ dân tộc và quốc tế. Tuyên ngôn Nhân quyền Toàn cầu của Liên hợp Quốc khẳng định rằng tất cả mọi người và mọi hợp phần của xã hội phải đấu tranh nhằm thúc đẩy tự do và các quyền cơ bản mà theo đó mọi người, bất kể chủng tộc, quốc gia và tôn giáo đều được hưởng. Tuy nhiên, chừng nào còn tồn tại các chính quyền được thiết lập dựa trên sự áp bức thay vì sự chấp thuận của công chúng, chừng nào còn tồn tại các nhóm lợi ích chỉ biết đặt lợi ích trước mắt lên trên hòa bình và thịnh vượng lâu dài, thì hành động phối hợp quốc tế bảo vệ và phát huy quyền con người bất quá chỉ là một nửa cuộc đấu tranh. Vẫn sẽ có những đấu trường nơi các nạn nhân của bạo quyền phải tự dựa vào những nội lực của chính họ để bảo vệ các quyền bất khả nhượng với tư cách là những thành viên của gia đình nhân loại.

Cuộc cách mạng rốt ráo là cuộc cách mạng trong tinh thần, được khai sinh từ niềm tin trí tuệ về nhu cầu cần phải thay đổi các thái độ và các giá trị – những thứ định hình tiến trình phát triển của một dân tộc. Một cuộc cách mạng chỉ tập trung vào thay đổi các chính sách của nhà nước và các thể chế, với mục tiêu cải thiện các điều kiện vật chất, sẽ chỉ có rất ít cơ hội thành công thực sự.

Thiếu vắng cuộc cách mạng trong tinh thần, nguồn gốc tạo ra cái vô đạo của trật tự cũ vẫn sẽ tiếp tục vận hành, gây ra một đe dọa thường trực cho quá trình cải cách và phục hồi. Sẽ không đủ nếu chỉ cổ súy cho tự do, dân chủ và các quyền con người. Cần có quyết tâm thống nhất nhằm duy trì cuộc đấu tranh, chấp nhận hi sinh vì chân lý vững bền, chống lại các ảnh hưởng tha hóa của lòng ham muốn, của ác ý, của si đần và sự khiếp sợ.

Người ta từng nói rằng các vị Thánh là những tội nhân luôn cố gắng [rửa sạch lỗi lầm của mình]. Vì thế, người tự do là những người bị áp bức luôn cố gắng và trong quá trình đó, chuyển hóa mình để thích hợp với việc gánh vác các trách nhiệm và gìn giữ các nguyên tắc cho một xã hội tự do. Trong số những sự tự do cơ bản mà con người mong ước nhằm tạo dựng một cuộc sống tràn đầy và không bị trói buộc, tự do khỏi khiếp sợ nổi lên là một phương tiện, đồng thời là mục đích. Một dân tộc muốn xây dựng một đất nước mà trong đó các thể chế dân chủ mạnh được xây dựng bền vững như là một bảo đảm chống lại sự lạm quyền của nhà nước thì trước hết phải học cách giải phóng tâm mình khỏi sự vô cảm và sự khiếp sợ.

Luôn là một người thực hành những gì mình kêu gọi, bản thân Aung San luôn chứng tỏ sự can đảm – không chỉ là những biểu hiện bên ngoài, mà còn là sự can đảm cho phép ông nói lên sự thật, giữ lời, chấp nhận phê bình, thừa nhận những lỗi lầm mình có và sửa chữa, tôn trọng đối lập, hòa đàm với kẻ thù và để dân chúng vào vị trí quan tòa phán xét sự xứng đáng của ông trong vai trò lãnh đạo. Chính vì sự dũng cảm đạo đức như thế mà ông luôn được kính yêu ở Miến – không chỉ với tư cách là một chiến binh anh hùng mà còn với tư cách là nguồn cảm hứng và lương tri cho cả dân tộc. Những từ ngữ do Jawaharlal Nehru sử dụng khi nói về Thánh Gandhi có thể áp dụng tốt trong trường hợp của Aung San:

“Tinh hoa trong các bài giảng của ngài là sự không khiếp sợ và sự thật, cùng với các hành động thống nhất với hai yếu tố này [trong khi vẫn] luôn quan tâm đến phúc lợi của đám đông”.

Gandhi, nhà truyền giáo vĩ đại của tư tưởng bất bạo động, và Aung San, người sáng lập quân đội quốc gia, là hai người có tính cách rất khác nhau, nhưng cũng giống như có sự tương đồng hiển nhiên trong những thách thức của chế độ toàn trị ở bất kỳ đâu, bất kỳ lúc nào, thì cũng có những tương đồng trong các phẩm chất vốn có ở những người đứng lên đối mặt với những thách thức ấy. Nehru, người nhìn nhận việc lan truyền lòng can đảm trong dân chúng Ấn là một trong những thành tựu vĩ đại nhất của Gandhi, là một nhà chính trị canh tân, nhưng khi ông tiếp cận với các đòi hỏi của phong trào đòi độc lập trong thế kỉ hai mươi, ông đã nhận thấy là mình quay trở về với triết học cổ điển Ấn: “Món quà lớn nhất cho một cá nhân hay một dân tộc… là Abhaya, không khiếp sợ, không thuần túy là sự can đảm bề ngoài, mà còn là sự vắng bóng sự khiếp sợ trong tâm”.

Sự can đảm có thể là một món quà, nhưng có lẽ còn quý giá hơn nếu can đảm được khơi lên từ sự nỗ lực, thứ can đảm đến từ việc gieo trồng thói quen không để sự khiếp sợ kiểm soát hành vi của mình, thứ can đảm có thể được miêu tả bằng “tự tại trước áp lực” – sự tự tại được làm mới liên tục ngay khi đối mặt với những áp lực căng thẳng và dai dẳng.

Trong một hệ thống chính trị luôn chối bỏ sự tồn tại của các quyền con người cơ bản, sự khiếp sợ có vẻ như là thuộc tính nổi bật. Sợ tù đày, sợ tra tấn, sợ cái chết, sợ bị mất đi những bạn bè, gia đình, tài sản hay phương tiện sống, sợ đói nghèo, cô lập, trước thất bại. Hình thức quỷ quyệt nhất của sự khiếp sợ là hình thức ngụy trang dưới mặt nạ common sense (lẽ thường) hoặc thậm chí là sự thông thái, kết án những hành vi can đảm bé nhỏ thường nhật – những hành vi giúp bảo toàn niềm tự trọng và phẩm giá ẩn chứa trong mỗi con người – là [những hành vi] ngu ngốc, khinh suất, không đáng giá hoặc vô ích. Không dễ dàng để quần chúng đang khiếp sợ dưới sự cai trị hà khắc hiểu rằng họ có thể tự giải thoát mình khỏi bầu khí độc của sự khiếp sợ hãi đang làm họ kiệt sức. Ấy thế mà ngay cả khi dưới sự đàn áp của những bộ máy cai trị hà khắc nhất, tinh thần can đảm vẫn trỗi dậy hết lần này qua lần khác, vì sự khiếp sợ không phải là trạng thái tinh thần tự nhiên của một người văn minh.

Suối nguồn của lòng can đảm và sự vững vàng trước bạo quyền vô hạn độ thường là lòng tin son sắt vào các giá trị đạo đức thiêng liêng kết hợp với sự hiểu biết lịch sử rằng dù cho mọi khó khăn, lịch sử loài người được đặt trên một lộ trình duy nhất là sự tiến bộ cả về tinh thần lẫn vật chất. Chính khả năng tự cải biến và sửa sai là yếu tố quan trọng nhất phân biệt con người với con vật. Cội rễ của trách nhiệm người là khái niệm hoàn mỹ, sự khao khát đạt được nó, sự thông tuệ để tìm đường đến với nó, và sự sẵn lòng đi theo con đường đó cho tới đích cuối cùng, hoặc ít ra cũng đi được khoảng cách cần thiết để vượt lên trên các giới hạn cá nhân và các trở ngại của môi trường. Chính viễn kiến của con người về thế giới tương thích với nhân tính duy lý và văn minh đã dẫn chúng ta đến chỗ dám chịu đựng mất mát để xây dựng các xã hội tự do khỏi đói nghèo và khiếp sợ. Các khái niệm như sự thực, công lý và lòng trắc ẩn không thể bị loại trừ vì lặp đi lặp lại quá nhiều trong khi chúng thường là những bức tường thành duy nhất hiên ngang chống lại bạo quyền.

__________________

Tiểu Luận “Tự do khỏi nỗi khiếp sợ” của Aung San Suu Kyi lần đầu được phổ biến để xuất bản với mục đích kỷ niệm Giải thưởng Sakharov vì Tự do Tư tưởng mà Nghị viện Châu Âu trao tặng. Lễ trao giải diễn ra tại Strasbourg vào ngày 10 tháng Sáu 1991 mà không có sự hiện diện của bà.

Nguyên bản tiếng Anh: Freedom From Fear
Nhóm Duy Tân Trẻ giữ bản quyền của bản dịch tiếng Việt

Bài đã đăng trên talawas ngày 23.4.2005

Nguồn: pro&contra

Ngu