vietsoul21

Posts Tagged ‘quyền lực’

Nguyễn Hoàng Văn – Chính trị… hôi của

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn on 2013/12/20 at 23:33

Từ một tai nạn giao thông, đề tài “hôi của” vụt biến thành một câu chuyện thời sự, chuyện này nhắc lại chuyện kia, kéo dài, và, cuối cùng, là những tiếng thở dài ngao ngán về sự xuống cấp của đạo đức, sự biến mất của lòng tử tế, như câu hỏi nhức nhối trên một tờ báo: Phải chăng, “lòng tốt đã bị đánh cắp”. [1]

Ngày 4 tháng 12 một xe vận tải bị lật tại Biên Hoà, hàng ngàn thùng bia đổ ra và, sau đó, là cảnh nhốn nháo của đoàn quân hôi của. Ào ào, rần rần, không chỉ “hôi” bằng tay bằng túi, họ “hôi” cả bằng xe ba gác, “hôi” một cách thoải mái, hả hê: “hôi “ ngay trước mặt người tài xế đang khóc lóc van xin, “hôi” ngay trước mặt đứa con gái chớm lớn đang hổ thẹn thay cho người lẽ ra phải đáng yêu và khả kính của mình. Vân vân, rất nhiều hình ảnh tương tự và, không chỉ đê tiện với người sống, đoàn quân hôi của nhan nhản từ Nam ra Bắc còn giở trò vô lại với cả người chết. Ngày 18 tháng 9, phát hiện thi thể một người đàn ông dưới một gầm cầu ở Lào Cai, nhiều dân cư địa phương đã đến đây khấn vái thả tiền và, sau đó, cũng là cảnh hôi của nhốn nháo dưới gầm cầu, “hôi” cả những đồng tiền cúng cho người chết [2]. Những cảnh tượng như thế đã dồn dập tiếp nối nhau khiến có người thảng thốt bật lên câu hỏi, sau cái vụ cướp bia trước mặt người tài xế: Thực ra, đây là “hôi của” hay “cướp của”?

Như thế thì phải xem lại sự khác nhau giữa “hôi” và “cướp của”. Ngoài ý nghĩa “mót nhặt những gì còn sót lại” như là cách mưu sinh tội nghiệp của những người cùng đường thì “hôi của”, ở phần nghĩa xấu hơn, trong đa số từ điển tiếng Việt xưa cũ, đều được diễn đạt như là “lợi dụng sự lộn xộn” để “nhúng tay” vào nhằm “kiếm chác và chia phần”. Nhưng đến Từ điển tiếng Việt tường giải, liên tưởng của Nguyên Văn Đạm, xuất bản lần đầu vào năm 1993, thì “hôi của” đã trở thành “cướp của”: “thừa cơ cướp của trong một lúc lộn xộn.” [3]

Từ “thừa cơ kiếm chác” như một kiểu trộm cắp thiếu bản lĩnh đến “thừa cơ cướp của” là cả một chặng đường. Nếu “thừa cơ kiếm chác” là trò ruột của hạng lưu manh vặt thì cái gì đã đẩy đám đá cá lăn dưa ấy tiến gần đến mức độ táo tợn của giới đạo tặc chuyên ăn cướp như thế?

Nếu hạng đá cá lăn dưa chỉ dám xâm phạm quyền sở hữu người khác trong cảnh nhá nhem sáng tối của một tình thế lộn xộn thì kẻ cướp lại công khai xâm phạm dựa vào sức mạnh, sức mạnh “cứng” hoặc sức mạnh “mềm”. Cứng, sức mạnh đó có thể là nắm đấm hay họng súng trên tay một tên võ biền đơn độc, một đám lục lâm ô hợp hay một đội quân kỷ luật, của một băng mafia, một đảng v.v… Và mềm, nó có thể là uy lực giang hồ của một đàn anh tỉnh lẻ, một bố già cái thế hay “lịch sử vẻ vang” dày đặc thành tích trấn áp của một tổ chức, một đảng; thứ “uy lực – lịch sử” tự mình kiến tạo hay chỉ đơn giản là thừa kế, như một hình thức “tập ấm”, hoặc lập lờ nấp bóng, như là khỉ mượn hơi hùm.

Chăm chăm ăn cướp nhưng thiếu bản lĩnh, thiếu sự tự tin về “uy lực” hay “lịch sử” mà mình đang nắm hay chỉ đang kế thừa thì phải tạo ra những tình trạng lộn xộn, rối ren và thế, cũng có nghĩa là… chính trị. Chính trị là nghệ thuật của quyền lực. Nhưng chính trị còn là nghệ thuật gây ra sự lộn xộn bởi, chính những tình huống rối ren diễn ra theo kịch bản sẽ cho phép tay chơi vận dụng quyền lực một cách tốt nhất và dồn ép con mồi vào những tình thế lúng túng, bị động nhất. Như vậy thì lời đáp cho cái cái câu hỏi nhức nhối về sự “đánh cắp” lòng tốt nói trên không chỉ đơn giản là “bần cùng sinh đạo tặc” mà là cái lịch sử đau đớn của chúng ta. Cái lịch sử ở đó những biến động bi thiết nhất lại là những “kịch bản rối ren” hoành tráng nhất, thăng trầm theo nhu cầu cộng sinh giữa hạng đạo tặc thiếu bản lĩnh và đám đá cá lăn dưa sống bám vào sự rối ren lộn xộn.

Không muốn nhai lại chính mình nhưng tôi thấy khó mà tìm được điểm tựa nào đắt hơn để làm bật lại cái lịch sử đau đớn ấy bằng những chuyện đã nêu trong bài viết cách đây chín năm trên talawas về cái mẫu số chung giữa miếng ăn người lính chân đất ở chiến trường Việt Bắc năm 1950, ở chiến trường Tây Nguyên năm 1965 và những chiếc Mercedes bóng lộn của những quan chức bệ vệ của hệ thống toàn trị năm 2005. [4]

Đó là miếng thức ăn Mỹ trong miệng bộ đội giữa trận đụng độ Ia-Ðrăng khiến Chủ nhiệm Chính trị Mặt trận Ðặng Vũ Hiệp phải ra lệnh kiểm điểm. [5] Đó là những bánh kẹo Pháp mà bộ đội nhóp nhép trong miệng sau Chiến dịch Biên giới khiến Chính ủy Trung đoàn Trần Độ bị Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Trần Đăng Ninh, trong vai trò “Trưởng ban thu dọn chiến lợi phẩm”, yêu cầu Quân ủy Trung ương kỷ luật.

Nhưng tôi phải nói ngay rằng tôi không hề có ý miệt thị đó là hành động “hôi của” bởi, sau những trận đánh kéo dài, kiệt sức và đói lả người, người lính nào cũng có quyền tự tưởng thưởng cho mình bằng những chiến lợi phẩm thu được. Công bằng mà nói thì, trên phương diện chiến thuật, Chủ nhiệm Chính trị Đặng Vũ Hiệp đã có lý khi ra lệnh kiểm điểm bộ đội của mình bởi, ngay giữa một trận đánh, họ không thể để miếng ăn làm hao hụt xung lực của trận đánh. Nhưng khi bảo vệ cho lính mình cái quyền nhâm nhi chiến lợi phẩm sau trận đánh, Chính uỷ Trần Độ đã hoàn toàn chính đáng khi cãi lại cấp trên, như đã kể lại trong Hồi ký của ông:

“Hôm tôi đi qua Ðông Khê vừa giải phóng, thấy một nhóm chiến sỹ đang ngồi nhai bánh, ăn kẹo. Cán bộ thu dọn chiến trường đến quát tháo đòi kỷ luật, bắt anh em đưa nộp hết bất cứ thứ gì đã thu nhặt được với cái lẽ: chiến lợi phẩm lớn nhỏ đều là tài sản quốc gia, là chiến quả đổi bằng xương máu. Với máu thanh niên vốn sôi nổi, tôi rất ghét cái thói lên lớp dạy đời, nên đứng lên cãi lại. Tôi cũng nói ngang ngược không kém: Các anh có biết chiến thắng này do ai không? Và ai đổ xương máu ở chiến trường này. Có phải là những người lính không? Trước khi đi vào trận đánh họ vui vẻ ăn bưởi rừng, ổi ma thay cơm, măng rừng thay thịt cá. Bây giờ chiến thắng rồi, có tí chút chất tươi vui vẻ với nhau. Các anh phải lên lớp làm gì nặng nề thế! Thôi các anh đi đi. Ðây là đơn vị chúng tôi. Chúng tôi chịu trách nhiệm ở đây không cho ai lấy.” [6]

Miếng ăn “chiến lợi phẩm”, như thế, đã bị giật ngay từ trong miệng của người lính. Nó bị giật ngay trên trận địa mà họ đã đổ máu và bị giật bằng “quyền lực mềm” của hệ thống toàn trị, thứ quyền hách dịch “lên lớp” và quyền phán định đâu là “tài sản quốc gia”. Mà không chỉ có chiến lợi phẩm tại Đông Khê, một mặt trận đơn lẻ trong “chiến dịch lịch sử” mang tên “Biên giới” để nối liền chiến khu Việt Bắc với lãnh thổ Trung Quốc như một “hậu phương lớn”. Và không phải bậc chỉ huy nào cũng gắn bó chan hoà vói lính như chính ủy Trần Độ. Những “tài sản” thu dọn trong một cái cảnh lộn xộn sau “chiến dịch lịch sử” ấy đi đâu, về đâu, đã mang lại lợi ích chung nào cho “quốc gia”? Câu trả lời, ắt hẳn, chắng khác gì mấy lời đáp đã có về “tài sản quốc gia” lớn hơn rất nhiều là 16 tấn vàng dự trữ của chính quyền Việt Nam Cộng hoà sau đó 25 năm, trong cảnh rối ren lộn xộn sau “Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử”.

Sau một “chiến thắng lịch sử” là một vụ “hôi của lịch sử”. Thu dọn chiến lợi phẩm là quyền tự nhiên của kẻ thắng trận nhưng “tài sản quốc gia” là “tài sản quốc gia” và vấn đề ở đây là cung cách kiếm chác của những thành phần đặc quyền như một trò “hôi của” có tích có tuồng giữa những xáo trộn lịch sử.

Trong chiều hướng đó thì lịch sử của hệ thống toàn trị cũng chính là lịch sử của những vụ “hôi của” mang tầm… lịch sử. Những diễn biến mệnh danh “bước ngoặc lịch sử”, “thắng lợi vĩ đại” hay “thành công tốt đẹp”, hết thảy, đều là “thắng lợi” của những mưu toan gây lộn xộn mang tầm cỡ quốc gia” để mở ra những chiến dịch hôi mang tầm cỡ quốc gia. “Thắng lợi” của cuộc đấu tranh giai cấp ở nông thôn theo khẩu hiệu “Trí, phú, địa, hào đào tận gốc trốc tận rễ” vào thập niên 50 cũng là “thắng lợi” của sự cộng hưởng ở đó những thành phần đặc quyền đã xúi giục đám “cốt cán” đá cá lăn dưa, trong những cuộc đấu tố đầy tính đá cá lăn dưa và sự “thực phần” cũng không kém phần đá cá lăn dưa, ở đó quyền “hôi của” của được ban cấp một cách tương ứng theo nhiệt tình đóng góp công việc “đào gốc trốc rễ” những kẻ thù giai cấp. “Thắng” lợi của cuộc đấu tranh giai cấp mệnh danh “cải tạo công thương” ở thành thị vào thập niên 50 ở miền Bắc và thập niên 70-80 ở miền Nam cũng là “thắng lợi” những kẻ hôi của đầy quyền lực. Những “thành công” lớn kéo theo những chiến dịch hôi của lớn và những “thành công” nhỏ nhỏ vừa vừa của các chính sách kinh tế – xã hội như các đợt đổi tiền, chiến dịch san bằng sở hữu “Z-30” hay hợp doanh thương nghiệp v.v… chính là tiền đề của các vụ hôi của nhỏ nhỏ, vừa vừa. [7]

Cứ cho đó là những “sai lầm ấu trĩ” của “một thời bao cấp”, thế nhưng không chỉ có cái thời đã qua quýt thú nhận là “sai lầm” cho xong chuyện ấy. “Thành công tốt đẹp” của Hội nghị Thượng đỉnh Á – Âu (ASEM) 2005 tại Hà Nội là một dấu mốc cho thời kỳ “mở cửa – tiến ra biển lớn” nhưng cũng là “thành công tốt đẹp” của tầng lớp đặc quyền khi “hôi” được những 80 chiếc Mercedes miễn thuế. [8] “Thành công” của muôn vàn “dự án quy hoạch” nhân danh phát triển cũng là “thành công” của đám hôi của bằng chính sách, “hôi” từ những cánh rừng- thuỷ điện mênh mông đến những”bờ xôi ruộng mật” đã nuôi sống không biết mấy thế hệ nông dân.

Và khi “thành công” như vậy, nó đã “thành công” như một đạo tặc thiếu bản lĩnh, phải nép mình vào bóng tối để kiếm ăn. Bản lĩnh” của đạo tặc không chỉ thể hiện ở cái gan giết người hay cướp của mà còn là “khí phách đạo tặc”, cái tinh thần dám chơi dám chịu, dám thẳng thắn thừa nhận mình là kẻ cướp hay kẻ sát nhân. Còn những thành phần đặc quyền đặc lợi của hệ thống toàn trị thì hôi của bằng cái quyền “nhân danh”, và để thoải mái “nhân danh”, họ phải làm mọi cách để duy trì tình trạng rối ren và nhập nhằng về quyền sở hữu. [9]

Chính trị của hôi của, như đã nói, là chính trị của sự rối ren. Để bảo vệ độc quyền làm ông chủ của tình trạng rối ren, hệ thống toàn trị phải duy trì tình trạng bưng bít và nhập nhằng.

Bưng bít và nhập nhằng là bản chất cố hữu của chế độ toàn trị. Hệ thống toàn trị Đức Quốc xã đã bưng bít chân dung thật của Hitler, kẻ đã một thời chiếm ngự trái tim và khối óc người Đức bằng cách sách động sự thù hận với người Do Thái nhưng, mỉa may thay, lại có máu Do Thái trong người. Hệ thống toàn trị tại Việt Nam thì bưng bít từ ngày khai sinh thật đến ngày khai tử thật của Hồ Chí Minh, khoan nói những chuyện thâm cung hệ trọng khác. Bằng những tiểu sử nhập nhằng, hệ thống toàn trị đã tạo ra những hào quang thánh nhân cho những nhà độc tài phàm tục. Bằng những khái niệm nhập nhằng về dân chủ, như “dân chủ tập trung”, nó cướp đoạt gần hết quyền làm… dân của chính người dân. Và bằng sự nhập nhằng của khái niệm “sở hữu tập trung” đối với đất đai, nó thoải mái hôi của theo cung cách mà nhà từ điển học Nguyên Văn Đạm đã tổng kết trong bộ từ điển nói trên: “thừa cơ cướp của trong một lúc lộn xộn.”

“Thừa cơ cướp của” là hành động của hạng vô lại và, như những kẻ vô lại hoàn toàn không có chút tự trọng, hệ thống toàn trị cũng không chừa cả người chết.

Lần đầu tiên tôi cảm thấy xấu hổ, chung cho người Việt, là lần chứng kiến cảnh mặc cả giữa một người Việt và một viên chức lãnh sự Mỹ, trong một trại tỵ nạn ở Hồng Công. Với tấm thẻ bài của lính Mỹ mang theo trong hành trình vượt biển, người Việt nằng nặc đòi hỏi chính phủ Mỹ phải bảo đảm cho anh ta, và cả gia đình của anh ta còn ở tại Việt Nam, một tấm visa Mỹ hay, ít ra, là cái giá tính bằng đô la: phải bảo đảm điều đó thì mới cung cấp thông tin về bộ hài cốt mà gia đình đang giữ tại Việt Nam. Viên chức Mỹ thì lặp đi lặp lại rằng vấn đề là nhân đạo, nhân đạo và nhân đạo: việc thưởng tiền là tùy thuộc vào thân nhân người lính, chính phủ Mỹ tuyệt đối không chấp nhận việc mua bán hài cốt người chết.

Không ai chịu ai, và cuối cùng, chủ nghĩa nhân đạo đã đầu hàng, viên chức Mỹ ra về trắng tay, để lại tôi và những nhân chứng khác đăng đắng một cảm giác bẽ bàng, hổ thẹn. Nhưng xét cho cùng thì kẻ mặc cả ấy cũng không đáng trách nhiều lắm: ra đi, mang theo cái tấm thẻ mà gia đình đã rót vào đó bao nhiêu tiền bạc, gởi gắm vào đó như là vật bảo chứng cho cả một kỳ vọng đổi đời, làm sao anh ta có thể tự ý quyết định? Như thế thì vấn đề ở đây là “xác tín” của cả gia đình anh ta, không chỉ về cái giá mà một bộ hài cốt lính Mỹ có thể mang lại mà, quan trọng hơn, là “lẽ tự nhiên” trong việc đầu tư để kiếm lợi từ một bộ xương như thế.

Đó là thứ “xác tín” hình thành trong một chế độ mà việc mặc cả trên xương người chết đã trở thành một chủ trương chính trị, một chiến lược ngoại giao. Đầu tiên, chỉ một thời gian ngắn sau “Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử”, là mưu toan làm tiền trên hài cốt Mỹ với cái giá lịch sử là 3.2 tỷ Mỹ kim. Người Mỹ muốn tính sổ với 58.000 binh sinh tử trận và mất tích ư? Thì phải bình thường hoá quan hệ. Họ muốn bình thường hoá quan hệ ư? Thì phải bồi thường chiến tranh. Cũng như cuộc mặc cả mà tôi chứng kiến, một bên là chủ nghĩa nhân đạo”, một bên là chủ nghĩa “tiền trao cháo múc”, hai bên nhùng nhằng, chẳng ai hiểu ai và chấp nhận lý lẽ của ai. Chỉ có mặc cả và mặc cả, mặc cả cho đến lúc chưng hửng vì bỏ lỡ cơ hội để rồi phải chấp nhận giảm giá, giảm dần và giảm dần, mãi cho đến năm 1994, lúc được xoá lệnh cấm vận. [10]

Không chỉ thiếu tự trọng, nó còn man rợ nữa. Không nói đếu tiêu chí hiện đại thể hiện ở Geneva Convention 1949, nó thậm chí còn man rợ cả với tiêu chí của văn minh cổ đại đi trước mình đến mấy chục thế kỷ. Homer, cách đây trên 3.000 năm, khi diễn tả lại cuộc chiến thành Troy trong Illiad, đã cho thấy thần Zeus “kinh động” như thế nào trước cảnh những tử thi bị kên kên rỉa xác và “lời nguyền” mà những kẻ man rợ sau cái trò này phải nhận lãnh như thế nào. Và Homer đã cho thấy, rốt cuộc, sau 12 ngày hành hạ tử thi của Hector, Achilles đã thực sự ân hận như thế nào, không chỉ ân hận đến mức trả lại thi hài của Hector mà còn độ đồng ý thời hạn hưu chiến đến 12 ngày để thành Troy có thể tống táng binh sĩ của mình một cách tử tế trước trận tử chiến cuối cùng. Nếu Illiad là một truyền thuyết xa xưa nhuốm màu thần thoại thì gần hơn, và xác thực hơn, là những sử liệu rành rành về mệnh lệnh của Abu Bakr vào thế kỷ thứ 7, giáo lĩnh đầu tiên của đạo Hồi, khi nghiêm ngặt yêu cầu binh sĩ mình phải đối xử tử tế, không được xúc phạm đến thi thể đối phương.

Hơn hẳn bất cứ vận động nào khác, chiến tranh là một cuộc vận động với xác suất cao nhất về những yếu tố bất ngờ và bất toàn nên sự phát sinh của những hành động man rợ mang tính cá nhân trong tình thế nóng bỏng của chiến trường ở phía này hay phía kia là điều khó mà tránh khỏi. Cái đáng nói ở đây là thời bình, một chính sách của thời bình, mà là một chính sách kéo dài. Khi cái trò kinh doanh hài cốt thiếu tự trọng ấy được nâng lên như một chính sách quốc gia thì vấn đề không chỉ đơn thuần là hai bên, đơn thuần là Washington và Hà Nội, là những nhà ngoại giao thay mặt và những nhà quyết định chính sách đứng sau. Theo những cuộc đàm phán kéo dài thì, càng ngày, những thân nhân chờ đợi sẽ càng đau đớn khi chồng hay con em chưa thể yên nghỉ một cách tử tế. Và càng ngày, theo những cuộc mặc cả giá xương cốt kéo dài, công dân của các nhà cầm quyền tự xưng “đỉnh cao trí tuệ” sẽ càng quen dần và tin dần vào “lẽ tự nhiên” hay sự “chính đáng” của cái trò hôi của từ xương người chết hay kinh doanh trên nỗi đau đớn của thân nhân người chết.

Lòng tốt đã bị “đánh cắp” từ những chính sách như thế. Ít hay nhiều, con người chúng ta ai cũng có chút “máu tham” trong người nhưng vấn đề là cái máu tham tiềm ẩn ấy đã bị đè nén hay triệt tiêu bởi những chuẩn mực đạo đức hình thành từ một nền tảng giáo dục phân minh, từ những thí dụ sống phân minh và đầy cảm hứng để bất cứ ai cũng khát khao học hỏi và noi gương. Nhưng những thành trì của sự tử tế trong lòng của từng người Việt đã bị tấn công liên miên, tấn công một cách lớp lang bài bản, tấn công một cách không thương tiếc. Đầu tiên là các chiến dịch chỉnh huấn, giảm tô rồi cải cách ruộng đất vào thập niên 50 với chú trương kích động mâu thuẫn, xúi giục hận thù và khêu gợi sự tham sân si. Để yên thân và để tiến thân, đồng đội hay đồng chí phải tố cáo và vu cáo đồng đội hay đồng chí. Và cũng để yên thân hay để được “thực phần” từ gia sản của những kẻ bị đấu tố, như một cách hôi của, những nông dân lại phải học cách tố cáo và vu cáo láng giềng.

Xây dựng quyền lực một cách thiếu phân minh như thế, hệ thống toàn trị chỉ có thể tồn tại dựa trên một nền tảng của những giá trị nhập nhằng.

Nhập nhằng giữa “chế độ” và “đất nước”, nó đặt mối đe doạ của với chế độ lên trên mối đe doạ của đất nước, xem kẻ thù của đất nước là “bạn hữu nghị” trong khi đối xử với những công dân yêu nước như là kẻ thù. Nhập nhằng giữa khái niệm tư hữu và công hữu đối với đất đai, nó đặt quyền “sống còn và quyền mưu cầu hạnh phúc” của người dân lên trên quyền hôi của của thành phần đặc lợi, và để bảo vệ cái đặc quyền “hôi của” ấy, nó lại nhập nhằng giữa “quần chúng nhân dân” với đám côn đồ đá cá lăn dưa. Và, vậy là, như có thể thấy giữa những gì đang diễn ra ngày ngày, bất cứ chiến dịch cướp đất, chiến dịch dàn áp nông dân đòi đất hay đấu tố và đàn áp người bất đồng nào cũng có bóng dáng của đám côn đồ đá cá lăn dưa nhân danh “quần chúng”.

Đằng sau những chiến dịch lịch sử là những vụ hôi của lịch sử. Đằng sau những nhà cầm quyền già-đá-cá-lăn-dưa non-đạo-tặc là những “quần chúng” cực kỳ đá cá lăn dưa. Khi chính quyền chỉ là một giống ký sinh trùng bám vào tình trạng mập mờ để “Ăn của dân không từ thứ gì”, nó cũng không từ chối bất cứ phương tiện gì để bảo về cái quyền ăn bám đó, từ cứt cho đến mắm tôm. [11]

Từ chủ trương ngoại giao hài cốt đến biện pháp đàn áp mắm tôm chỉ là một khoảng cách rất ngắn. Và là một khoảng cách rất ngắn so với cái cảnh nhặt tiền phúng điếu dưới gầm cầu ở Lào Cai hay hôi bia tại Biên Hoà. Khi những nhà toàn trị cho rằng những hài cốt lính Mỹ đang nằm ở trong tầm tay, không dại gì vuột mất khoản lợi thì đám hôi của ở Lào Cai hay Biên Hoà cũng thế, đồng tiền hay thùng bia đang ở trong tầm tay, không ngu gì để vuột.

Lịch sử hết thăng thì lại trầm nhưng, luôn luôn, con người, như một tập thể cộng đồng, phải luôn luôn đứng vững với những phẩm cách cần có. Con người phải giữ vững bởi, ngày nào họ còn đứng vững, đất nước sẽ tiếp tục đứng vững và chính vì thế mà lịch sử của chúng ta trở nên đau đớn. Nó đau đớn vì, theo sự trượt dốc của đạo đức và sự biến mất của lòng tử tế như có thể thấy qua những thí dụ tràn lan trên mặt báo, người Việt ngày càng ác với nhau hơn, đê tiện với nhau hơn và nhưng ngờ nghệch và hèn hạ với kẻ thù truyền kiếp của mình hơn. Lịch sử hết trầm thì lại thăng và, sau cùng, lịch sử sẽ dành một chỗ đứng như thế nào cho cái hệ thống cầm quyền đã liên tiếp hạ thấp nhân phẩm và ngu muội hoá dân tộc mình như thế?

Tôi chợt nghĩ tới những bô cứt và những lọ mắm tôm thối đã ném vào những người bất đồng chính kiến, những nhà dân chủ, những nhà tranh đấu nhân quyền… [12]

18.12.2013

Tham khảo:

[1] Lê Thanh Phong, “Từ chuyện lòng tốt bị đánh cắp theo xe bia Tiger bị nạn”, Lao Động, 5.12.2013.

[2] “Hàng loạt vụ hôi của trắng trợn giữa ban ngày”, Vietnamnet 6.12.2013

[3] Nguyễn Văn Đạm. (1993), Từ điển tiếng Việt tường giải, liên tưởng, Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin, Hà Nội.

[4] Nguyễn Hoàng Văn, “Thịt hộp và Mercedes”, talawas 27.12.2004

[5] ÐặngVũ Hiệp (2002), Ký ức Tây Nguyên, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, tr. 82.

“Khuyết điểm thứ ba, công tác giáo dục và tổ chức cho bộ đội ý thức thu hồi chiến lợi phẩm, nhất là vũ khí trang bị chưa đầy đủ. Chưa tận dụng lấy vũ khí địch để diệt địch, còn nặng về lấy thức ăn. Có đồng chí đang đánh nhau vẫn ngồi ăn. Lại có anh em diệt địch xong, lấy thuốc lá vừa hút vừa xông lên đánh tiếp”.

[6] Hồi ký Trần Ðộ

[7] Có rất nhiều tài liệu về các vụ “hôi của” này, từ 16 tấn vàng vào năm 1975 đến các chiến dịch cải tạo công thương sau đó. Tài liệu mang tính “tổng kết” nhất là cuốn Bên thắng cuộc II: Quyền bính, của Huy Đức.

[8] Vì đưa việc này lên diễn đàn thảo luận của VnExpess và thu hút ý nhiều kiến phản đối vào cuối năm 2004, Tổng Biên tập Trương Ðình Anh đã bị cách chức. Có tin cho biết nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải muốn đóng cửa tờ báo ngay nhưng các viên chức văn hóa can thiệp, cho rằng mỗi tháng VnExpress có hàng chục triệu người đọc nên quyết định đóng cửa này ngay trước hội nghị ASEM là một điều không hay, chỉ nên dừng lại ở mức độ khiển trách.

[9] Tháng 1 năm 2013, 72 nhân vật nổi tiếng đã gởi “Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992”, trong đó đề nghị “ áp dụng quyền sở hữu cá nhân về đất đai” nhưng “Hiến pháp” đã được thông qua với khái niệm sở hữu toàn dân trong vấn đề đất đai.

[10] Xem Hồi ký Trần Quang Cơ, Chương 1: “Việt Nam trong thập niên của thế kỷ 20”

[11] Lê Kiên, Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan:”Ăn của dân không từ một cái gì

[12] Nguyễn Duy Vinh, “Cách dùng mắm tôm trong văn hóa đàn áp ở Việt Nam”, “Bùi Hằng bị ném mắm tôm, rác rưởi vào nhà” và “Ai là nhân dân của cộng sản?

© 2013 Nguyễn Hoàng Văn & pro&contra

Nguồn: pro&contra

Advertisements

Nguyễn Hưng Quốc – Ðùa nhảm

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn on 2013/11/20 at 17:13

Trong một bài viết có nhan đề “Đại biểu Quốc hội được dặn không phát biểu về tham nhũng” đăng trên báo Tuổi Trẻ số ra ngày 7 tháng 11 năm 2013, có đoạn viết: “Sáng nay 7-11, lên tiếng tại QH, đại biểu Lê Như Tiến lo ngại trước tình trạng lãnh đạo các địa phương ‘vận động’ đại biểu QH trước mỗi kỳ họp: ‘Có thể chất vấn, nói về bất cứ vấn đề gì, trừ tham nhũng ra, bởi việc đó chẳng khác nào vạch áo cho người xem lưng’.”

Sau khi bị một số blogger đưa lên facebook và blog, báo Tuổi Trẻ sửa nhan đề bài viết lại thành “Tham nhũng chưa bị sát thương”.

Dù có thay đổi nhan đề, riêng lời phát biểu của Lê Như Tiến, tự nó, đã tiết lộ được khá nhiều vấn đề:

Thứ nhất, trên nguyên tắc, đại biểu Quốc Hội là đại diện của dân, phát biểu các nguyện vọng của dân, giám sát ngành hành pháp và tranh đấu cho quyền lợi của dân, thế nhưng, ở Việt Nam, trên thực tế, các đại biểu lại thường xuyên được chính quyền địa phương dặn dò phải nói chuyện này và không được nói chuyện khác. Tư cách đại diện và tính chất độc lập của họ ở đâu?

Thứ hai, tại sao lại “trừ tham nhũng”. Ai cũng biết một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất ở Việt Nam là tham nhũng. Đảng cộng sản cố gắng thành lập ban này ban nọ để chống tham nhũng. Chính phủ cũng không ngớt rêu rao là họ quyết tâm diệt trừ tham nhũng. Thế nhưng tại sao trên diễn đàn Quốc Hội, các đại biểu lại không được quyền nói về tham nhũng? Tại sao? Như vậy, những cái gọi là nỗ lực chống tham nhũng của họ có thực hay không?

Thứ ba, tại sao lại sợ chuyện “vạch áo cho người xem lưng”? Chẳng lẽ lưng của chính quyền địa phương lại đầy những mụn nhọt tham nhũng?

Tuy nhiên, những vấn đề trên không quan trọng bằng cách lý giải của ông Dương Trung Quốc, nhà sử học kiêm đại biểu Quốc Hội, người vốn được dư luận khen là hay nói thẳng trong khá nhiều chuyện.

Trong bài phỏng vấn đăng trên báo Tuổi Trẻ, khi được hỏi ý kiến về lời phát biểu của Lê Như Tiến, Dương Trung Quốc, trước hết, xác nhận chính ông, với tư cách đại biểu Quốc Hội, cũng từng nghe những lời dặn dò như thế (“Chúng ta đều sống dưới một gầm trời và chịu những mối quan hệ đang chi phối hiện nay”). Sau đó, Dương Trung Quốc cho nguyên nhân của hiện tượng này là do “người ta e ngại trước các mối quan hệ, nhất là bộ phận các đại biểu Quốc hội hiện đang gánh vác công việc ở cơ quan hành pháp các cấp”.

Để cụ thể, ông nêu lên một ví dụ:

“có một con đường đi qua địa phương xuống cấp, muốn tu sửa đàng hoàng thì phải xin ngân sách trung ương, như vậy đại biểu Quốc hội là người có cương vị trong bộ máy chính quyền địa phương ngày nào đó sẽ phải ra Hà Nội gặp ông bộ trưởng này, ông bộ trưởng kia. Nếu chỉ vì phát biểu ở nghị trường mà không bằng lòng nhau thì ai cũng e ngại dẫn đến ảnh hưởng.”

Cuối cùng, Dương Trung Quốc đề ra biện pháp: Để xóa bỏ những e ngại của các đại biểu Quốc Hội trong việc phê phán tham nhũng, “gốc rễ là phải xóa bỏ dần quan hệ xin cho […] chừng nào còn quan hệ xin cho là còn nể nang, né tránh”.

Sai.

Sai cả trong việc phát hiện nguyên nhân lẫn giải pháp được đề nghị.

Về nguyên nhân, Dương Trung Quốc, không biết vô tình hay cố ý, đánh lạc hướng vấn đề: Vấn đề trung tâm trong lời phát biểu của Lê Như Tiến và cũng là vấn đề thu hút sự chú ý của dư luận nhất là việc chính quyền địa phương “vận động” hay “dặn dò” các đại biểu không được đề cập đến chuyện tham nhũng trong Quốc Hội chứ không phải là việc các đại biểu ấy “e ngại”. Hai vấn đề đó khác nhau. Cùng là “e ngại”, nhưng e ngại do sự tính toán của cá nhân khác với sự e ngại sau khi được “vận động”. Hơn nữa, bản thân việc “vận động” các đại biểu về những gì họ nên và không nên phát biểu trước Quốc Hội cũng là một vấn đề. Đó là chưa kể cái gọi là “vận động” ở Việt Nam thường được hiểu là bao gồm cả sự thuyết phục lẫn sự đe dọa.

Ngoài ra, vấn đề cũng không phải là “e ngại”. Trên 90% đại biểu Quốc Hội là đảng viên. Đã là đảng viên thì phải chấp hành chỉ thị của đảng: Cái gọi là “lãnh đạo địa phương” ấy cũng đồng thời là lãnh đạo đảng. Do đó không được đề cập đến chuyện tham nhũng không phải chỉ là chuyện “dặn dò” suông mà còn là vấn đề kỷ luật. Với lời dặn dò, người ta còn có thể có sự lựa chọn theo hay không theo. Với kỷ luật, người ta không còn lựa chọn nào khác ngoài việc chấp hành.

Bắt bệnh sai, phương pháp chữa trị cũng sai nốt.

Sai ở ba điểm:

Thứ nhất, đề nghị xóa bỏ dần quan hệ xin cho của Dương Trung Quốc, thực chất, cũng là một lời… xin. Xin đảng và chính phủ xóa bỏ. Mà không cần xóa bỏ ngay. Chỉ cần xóa bỏ dần. Đó không phải là một lời xin thì còn là gì nữa? Ở những nơi khác, hoặc với những người khác, nếu xem đó là nguyên nhân, người ta sẽ đề ra các biện pháp cụ thể để xóa bỏ hoặc để ngăn chận chứ không nói chung chung và yếu ớt như vậy.

Thứ hai, Dương Trung Quốc cũng, cố tình hay vô ý, làm lạc hướng vấn đề khi dùng chữ “quan hệ xin cho”. Trước đây, đề cập đến vấn đề tương tự, một số người đã dùng chữ khác, đúng hơn: “cơ chế xin cho”. Quan hệ và cơ chế khác nhau. Dùng chữ quan hệ là giới hạn trong phạm vi cá nhân và có tính chất chủ quan: Có người thế này, có người thế khác. Cơ chế, ngược lại, nằm ngoài tính cách cá nhân: Bất cứ người nào, dù tốt hay xấu, nằm trong cơ chế như thế thì cũng sẽ hành xử như thế. Ngoài sự khác biệt ấy, còn một sự khác biệt nữa: quan hệ thuộc phạm vi liên cá nhân và phạm trù đạo đức; cơ chế thuộc phạm vi tổ chức và phạm trù chính trị cũng như luật pháp.

Thứ ba, nếu xin cho là một cơ chế gây nên sự thỏa hiệp trước vấn đề tham nhũng, để thay đổi, cần nhất là thay đổi cơ chế. Xin lưu ý là, tự bản chất, nói theo Lord Acton, một giáo sư Sử tại Đại học Cambridge ở Anh vào cuối thế kỷ 19, “Tất cả quyền lực đều tham nhũng; quyền lực tuyệt đối tham nhũng một cách tuyệt đối” (All power corrupts; absolute power corrupts absolutely).

Không có hy vọng gì có thể xóa bỏ hết tham nhũng khi trên thế giới vẫn còn quyền lực. Không xóa bỏ hết, người ta chỉ hy vọng hạn chế nó. Cách hiệu quả nhất để hạn chế tham nhũng là hạn chế quyền lực. Đa đảng, tam quyền phân lập, tính chất độc lập của quân đội và cảnh sát, quyền đối lập và các quyền liên quan đến tự do ngôn luận… là những sự hạn chế ấy.

Không bàn một cách nghiêm túc đến việc hạn chế quyền lực; mải lải nhải về những cách thức hạn chế tham nhũng chỉ là những cách đùa dai.

Lại đùa nhảm.

Nguồn: blog Nguyễn Hưng Quốc

Người Buôn Gió – Nực cười toà án huyện Văn Giang – Hưng Yên

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn on 2012/11/30 at 09:57

Chuyện thứ nhất là ở khâu công an huyện Văn Giang.

Vụ án này có hai bị cáo được đưa ra xét xử, bốn bị cáo khác trốn thoát. Hai bị cáo được đưa ra xét xử là do họ đầu thú ( theo lời toà án). Vậy thì công an huyện Văn Giang đã làm được điều gì, khi không bắt được tội phạm nào trong vụ án này, nhờ có hai bị cáo ra đầu thú mà mới có được phiên toà này. Nếu không thì đến giờ cũng chưa xử được vì chưa bắt được bị cáo nào cả.

Chuyện thứ hai, chỉ có ở Việt Nam. Viện kiểm sát , toà án thành luật sư bào chữa cho bị cáo. Còn luật sư bị hại thành công tố viên.

http://www.youtube.com/watch?v=Gt0q4heI6Mo

Cáo trạng của VKS nói rằng nhóm bị cáo gồm vài chục người đến khu vực cưỡng chế để câu cá, sau khi bị chất vấn là tại sao lại đến khu vực cưỡng chế để câu cá, thì toà sửa cho rằng nhóm người này đến do Hà chủ đầu tư thuê. Hỏi có hợp đồng làm việc không, thì trả lời là thuê bằng miệng.

Bị hại nói rằng khoảng cách 300 mét, toà và viện kêu rằng 30 mét là xảy ra cãi cọ. Bị hại bảo họ ở hiện trường khoảng cách thế nào họ biết, toà bảo toà ngồi đây nghe nhân chứng kể ( nhân chứng vắng mặt ) toà biết là đúng 30 mét.

http://www.youtube.com/watch?v=DeVp-F6FpxQ

Viện kiểm sát nói cơ quan điều tra xác định có 6 người tham gia đánh dân. Luật sư nói các nhân chứng cho biết là khoảng 30 người, số vũ khí thu ở hiện trường là 16 gậy, 2 vỏ chai bia. Không thể 6 người dùng được số vũ khí đó. VKS nói công an nói có 6 người nên viện nói 6, toà bảo viện nói 6 nên toà đủ căn cứ là 6 người. ( chắc bọn này 3 đầu 6 tay mới dùng hết vũ khí ấy..?)

Toà nói số vũ khí gậy gộc là cây mục bị cáo nhặt dọc đường. Bị hại và luật sư bị hại nói rằng 12 chiếc gậy có sơn vạch như dùi cui dân phòng và quãng đường đó là đường bê tông lấy đâu ra củi mục, cành cây khô mà nhặt. Toà và viện nói rằng công an bảo thế thì đúng là thế, thậm chí VKS còn biện minh là cây ngô. Huuu cây ngô mà oánh chấn thương sọ não người thì là cây ngô gì vậy .?

Luật sư nhắc lại tình tiết vụ án, vài chục thanh niên mang gây gộc đuổi đánh bị hại, bị hại chạy đến về đến làng, chui vào nhà dân, gục ngã ở thềm nhà. Các bị cáo chạy vào sân leo lên thềm lôi bị hại ra đánh tiếp, vụt gậy gộc tới tấp vào bị hại là ông già 73 tuổi ( là người già theo luật ). Hành vi đó là hành vi giết người, luật sư đề nghị toà làm rõ động cơ, mục đích của nhóm tội phạm này. Vì giữa bị cáo và bị hại không quen biết, không thù hằn..

Toà bảo đó là do bức xúc với bị hại vì chửi nhau. Hết chuyện, viện thì bảo không ý kiến nữa.

Dân bên ngoài nói, chả có thằng thanh niên nào tự nhiên đi chửi nhau với ông già hơn 70 tuổi, dù có bị chửi cũng nhịn. Đằng này mấy chục thằng thanh niên chửi nhau với ông già, rồi đuổi theo rùng rùng cả đám, dùng gậy vụt từ ngoài đường vào đến tận thềm nhà vẫn đánh. Mà chỉ do bức xúc câu qua câu lại là sao.?

Bên trong toà bảo lỗi do bị hại chửi bị cáo.

Thế này bị hại thật khoẻ, dù ở khoảng cách 30m ( như toà nói ) ở tuổi 73 mà chửi nhau qua lại cho bọn mấy chục thanh niên nghe thấy thì tai và giọng  và sức khoẻ của bị hại Lê Thạch Bàn phải ngang tầm Lý Đức.

Mặc dù nhiều tình tiết không được toà làm rõ hay tranh luận làm rõ, thế nhưng đến 11 giờ 45 phút toà tuyên án sau khi nêu nhiều tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.

Bản án của toà án huyện Văn Giang ngày 30/11/2012 đã nhận được đông đảo sự ủng hộ của đồng bọn bị cáo cũng như các cấp, các ngành đoàn thể huyện Văn Giang. Nói nên tinh nhân đạo của pháp luật nhà nước CHXHCNVN.

Còn đối với phản ứng của quần chúng dân đen thì mời xem clip này.

http://www.youtube.com/watch?v=S3xVahaTVag

Phiên toà kết thúc cho thấy sức mạnh của nhà nước pháp quyền XHCN, cũng như cho thấy sự chuyên chính chắc chắn không có gì lay chuyển nổi của giai cấp lãnh đạo đất nước. Khiến nhiều người hoài nghi về sức mạnh của nhà cầm quyền phải tỉnh ngộ sớm, thay đổi lập trường lung lay bấy lâu. Mau chóng từ bỏ ý định chống đối, sớm quay đầu thần phục trước quyền uy của chính quyền các cấp. Góp phần làm ổn định chính trị, an ninh trật tự xã hội và quan trọng là các cuộc cưỡng chế, thu hồi đất của nông dân giao cho các chủ đầu tư được diễn ra thuận lợi hơn.

Nguồn:  Người Buôn Gió

Nô dịch đỏ

In Chính trị (Politics), Lịch Sử, Liên Kết, Triết Học, Việt Nam on 2012/11/16 at 22:37

Nguồn: Dân Làm Báo

Phong kiến → Thực dân → Nô dịch đỏ

Việt Nam là một nước (hậu thuộc địa) có lịch sử lập nước, giữ nước đầy gian truân với nước mắt và máu. Xấp xỉ một ngàn năm dưới Bắc thuộc, phải triều cống làm nô lệ cho quyền lực của nhiều triều đại phương Bắc. Kế tiếp là cả trăm năm thuộc địa của Pháp. Phận nô lệ tôi đòi cho ngoại bang vừa chấm dứt, chưa được hưởng chút tự do, thì cái ách búa liềm của chủ nghĩa cộng sản lại đặt vào cổ người dân miền Bắc suốt gần 70 năm. Còn cái tự do dân chủ non trẻ chưa kịp đơm hoa kết trái ở miền Nam Việt Nam thì đã bị khai tử bởi người anh em vào “giải phóng”.

Lịch sử Việt Nam hầu như không ngớt chứng minh người Việt Nam muốn thoát ách nô lệ. Oái ăm thay, một trong những hệ lụy của lịch sử Việt Nam là tâm thức người nô lệ.

Nô dịch dưới các triều đại phong kiến và đô hộ giặc Tàu, nô dịch bởi chính sách thực dân Pháp, và tiếp tục nô dịch dưới chế độ chuyên chính bạo lực của đảng cộng sản cầm quyền.

Đại tự sự (grand narrative) – Chiếm hữu/thuần dụng (appropriation/co-optation)

Triều đại nhà Sản từ khi nắm quyền đã thêu dệt một đại tự sự và đan may hàng trăm tự sự (narratives) khác nhằm tô son điểm phấn cho mình và đồng thời cấy vào tâm thức người dân để huy động họ cùng một hướng phò Đảng.

Họ chiếm hữu/thuần dụng dòng đại tự sự “truyền thống chống ngoại xâm” của tổ tiên dân tộc trong quá trình chống thực dân Pháp giành lại độc lập và đánh đế quốc Mỹ thống nhất đất nước. Tất cả các đảng phái quốc gia, nhân sĩ yêu nước nếu không phủ phục dưới ngọn cờ Việt Minh và miền Bắc XHCN đều bị thủ tiêu, ám sát, tiêu diệt.

Họ lại đánh tráo chế độ (chính phủ) và đảng CSVN với dân tộc: “Yêu nước là yêu XHCN”, “Trung với Đảng”, “Còn Đảng còn mình”.

Họ vẫn tiếp tục ăn mày dĩ vãng với giòng đại tự sự đó qua các tự sự tuyên truyền dối trá “Bác Hồ tìm đường cứu nước”, “Tư tưởng Hồ Chí Minh”, và xây dựng tượng đài “Mẹ Anh hùng”, Viện tư tưởng Hồ Chí Minh v.v…

Khi đã “xuống hố cả nước” triều đại Sản đành phải “đổi mới” kinh tế nới lỏng (đặc quyền cho tầng lớp hạt giống đỏ, nhân thân tốt, hoặc bè phái móc nối) có thể tự làm, tự ăn khấm khá, nhất là vào giai đoạn chuyển sang thời kỳ hội nhập WTO thì họ khai trương dòng đại tự sự “ổn định xã hội” và “phát triển”.

Tất cả các hạt giống tự sự đó được gieo trong tính toán cân nhắc để cấy vào tâm thức hầu hết những người dân sợ “máu đỏ đầu rơi” nên tuân thủ vào quyền lực tuyệt đối.

Một thể chế “do dân” và “vì dân” (by the people, for the people) là một chính thể dân chủ. Còn chính quyền CSVN này “do ai” thì khỏi cần phải hỏi. Câu hỏi còn lại là “cho ai?” đúng ra cũng không cần phải hỏi (với chế độ độc tài CSVN) vì nó quá hiển nhiên.

Tuy nhiên vì dòng tự sự “nhân dân” làm chủ (cái bánh vẽ) và đảng lãnh đạo (vàng ròng SJC) ngày càng thấm nhuần, cấy sâu trong tim óc mọi người qua ngôn ngữ hàng ngày, nên tâm thức bao thế hệ nặng cưu mang não trạng nô dịch thể hiện qua trong tương quan “xin-cho”.

Do đó khi nghe, đọc, thấy tất cả những diễn ngôn và các dòng tự sự hào nhoáng mị dân từ cái loa phường, trên tấm biển đỏ, và “thời sự” trên các báo, các đài thì ta cần phải đặt câu hỏi là các diễn ngôn đó (có lợi) “cho ai?” và “vì ai?”.

Ổn định xã hội và phát triển (có lợi) cho ai?

Ổn định xã hội để hàng hóa độc hại, rẻ tiền từ nước lạ tự do thao túng trong thị trường. Cho ai? Cho vừa lòng quan thầy Bắc phương. Cho chủ quản bộ Công Thương và Hải quan.

Ai là người chịu thiệt thòi và ai là người hưởng lợi? Tiểu thương thì điêu đứng, phá sản. Người tiêu thụ nghèo với thu nhập thấp (dân lao động, nông dân, nhân viên nhà nước, sinh viên) mang tật bệnh chẳng lường trước khi nào triệu chứng mới lòi ra và lúc đó thì đã là quá trễ.

Ổn định xã hội để khai thác tài nguyên vô tội vạ phá hủy môi trường, rừng môi sinh, rừng đầu nguồn. Cho ai? Cho tập đoàn nhà nước (bè phái lợi ích nhóm) bòn rút tài sản đất nước. Người dân tộc, người thiểu số bị di dời tiệt gốc, mất tài sản văn hóa, mất môi trường sống, vào danh sách tuyệt chủng. Người dân cuối nguồn vùng hạ lưu bị thiên tai đe dọa, bị ô nhiễm bám ám.

Phát triển bằng thu hồi đất nông nghiệp làm sân gôn, khu công nghiệp bỏ hoang, khu đô thị “xanh”[1]. Cho ai? Cho trao (tráo) tay chuyển sở hữu làm trắng tay dân nghèo và đong đầy hầu bao cổ phần, trái phiếu đại gia quan lớn.

Phát triển bằng xây dựng các khu nghỉ dưỡng (resort) cho khách du lịch ngoại quốc, cho giới thượng lưu rửng mỡ, cho con ông cháu cha, cho Việt kiều áo gấm. Làm co cụm khoảng không gian công cộng (public space) thường dân vốn có, đẩy dồn họ vào phòng trọ góc hẻm và bến bãi ô đọng tù bít. Dân nghèo chỉ biết cúi đầu nhắm mắt còng lưng trong dịch vụ cắt cỏ, dọn phòng, đổ rác hoặc sang hơn là trơ mặt tiếp viên cung phụng “thượng đế” rởm đời thời thượng.

Kẻ cướp ngày thường “vừa ăn cướp vừa la làng” để đánh lạc hướng dân làng, hàng xóm của nạn nhân. Đảng CSVN cũng như thế khi ăn cắp (chiếm hữu) ngôn từ làm của riêng cho họ. Họ độc quyền xử dụng những từ ngữ: phản động, chống phá nhà nước, thế lực thù địch. Thật ra ai thuộc thành phần phản động này?

Cái quyền lực (cực kỳ phản động) vô nhân tính tự cho mình quyền độc tôn qua điều 4 hiếp pháp để đàn áp dân lành, chiếm hữu toàn bộ tài sản đất nước và gán ép cho bất cứ ai không đồng tình, phản đối đường lối chính sách của họ là thành phần “phản động”.

Cũng cái quyền lực vô cùng bạo động đó dùng hơi cay, chó nghiệp vụ, dùi cui, súng ống khủng bố người dân thuộc mọi tầng lớp. Đấy là quyền gán ghép cho những nông dân chống lại cưỡng chiếm đất, giáo dân đòi công lý tự do tín ngưỡng, nhà báo tự do đòi quyền ngôn luận và đấu tranh chống tham nhũng hối lộ, thi sĩ mở miệng, nhân sĩ lên tiếng là thành phần manh động, “chống phá nhà nước”, “bị xúi dục” bởi “thế lực thù địch”.

Cái quyền lực này tuy thế lại khiếp nhược trước ngoại bang, trơ tráo bán nước không dám vạch mặt kẻ xâm lược. Trên báo chí thì tập đoàn độc đảng e dè từ ngữ “nước lạ” còn bộ Giáo dục thì lại sửa đổi cả bài học sử[2] dấu tên nước ngoại xâm đô hộ ngàn năm. Ngược lại, hệ thống độc tài này sẵn sàng chụp mũ bỏ tù người tay không một tấc sắt (Phạm Thanh Nghiên, Điếu Cày Nguyễn văn Hải, Tạ Phong Tần) lên tiếng phản đối TQ xâm phạm lãnh hải Hoàng Sa-Trường Sa và kết tội họ tuyên truyền “chống phá nhà nước”

Cái quyền lực chuyên chế đấy thành lập “tập đoàn kinh doanh” bảo kê cho “nhóm lợi ích” bè phái đục khoét ngân quỹ mới chính là thế lực thù địch phá hoại nền kinh tế và đất nước.

Cái quyền lực chuyên chế chiếm hữu ngôn từ và áp đặt giá trị lên những từ ngữ—khởi đầu bằng “công hữu” đến “sở hữu toàn dân” rồi “cổ phần hóa”—để đút vào cái hầu bao riêng của gia đình, dòng họ, và bè phái.

Con dân tương lai của đất nước tha hồ hưởng công ích xã hội ở các trường học không nhà xí, không vách, không sân chơi “sở hữu toàn dân”. Người bệnh nghèo thoải mái chung giường, chung chiếu chia sẻ vi khuẩn mầm bệnh, hành lang, băng ghế ở bệnh viện “sở hữu toàn dân”. Và cả cái loa phường “sở hữu toàn dân” rác tai không muốn nghe cũng bị nhét vào lỗ nhĩ từng giờ.

“Theo mô hình Chủ-Nô (‘Master-Slave’ paradigm) của Georg Wilhem Friedrich Hegel thì quan hệ giữa chủ và nô thể hiện mối quan hệ một chiều trong đó người nô lệ vì sợ hãi đe dọa bạo lực nên phải công nhận và chấp nhận cả quyền lực cùng hiện thân của chủ từ ngôn ngữ, ý tưởng, giá trị cho đến niềm tin.

Cuộc đấu tranh về ngôn ngữ và tư tưởng của người bị trị với chủ nô phát sanh từ mô hình Chủ-Nô có thể quan sát được qua tiến trình bá quyền (hegemonic process)—một quá trình trong đó kẻ thống trị chủ tâm giữ quyền kiểm soát ý nghĩa một cáchchặt chẽ từng con chữ lẫn diễn ngôn (discourse) để áp đặt và tạo điều kiện đảm bảo cho quyền lực chuyên chế qua ngôn ngữ sử dụng thường ngày.”[3]

Những tên cai thầu nô dịch văn hóa và tư tưởng sẵn sàng hợp lực với bộ máy tuyên truyền qua phương tiện thông tin đại chúng thi hành nhiệm vụ nuôi dưỡng, gìn giữ mô hình Chủ-Nô đó.

Người phản kháng một khi tâm thức không ngừng tìm khai sáng sẽ luôn cảnh giác và giải mã/mở toang (unpack) những từ ngữ áp đặt bởi giới quyền lực để phá vỡ vòng kim cô của mô hình Chủ-Nô đó. Trong đám đông đã bị thuần hóa thì dần dà cũng có người bắt đầu học “cách nhận diện các khái niệm bị đánh tráo”[4] để khỏi bị lừa bịp mang gông nô lệ trong não trạng mãi.

Nhưng nhìn vào toàn cảnh thì không có gì để ngạc nhiên khi tâm thức xin-cho vẫn tồn tại trong sinh hoạt hàng ngày vì cơ chế xin-cho (nói một cách khác là mô hình Chủ-Nô) chính là cơ chế của quyền lực hiện hành.

Nô dịch đỏ

Một nền kinh tế thị trường bình thường thì vận hành theo điều tiết của thị trường trong một xã hội tự do nhưng đã bị biến thái dị dạng với tàn tích của cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa”. Dị dạng từ đó trở thành tế bào ung thư, di căn khắp ngõ ngách, ngốn hết chất dinh dưỡng và hủy hoại các phần tử lành mạnh chung quanh.

Tất cả công sức mồ hôi, nước mắt, và xương máu của người dân đã bị họ tóm trọn gói và ăn chia xí phần trong nội bộ đảng CSVN, chính xác hơn là BCT và BCH Trung ương.

Giới cầm quyền ĐCSVN không thể tự nó quản lý, điều hành tất cả thế nên tổ chức đảng (3 triệu đảng viên) và bộ máy chính quyền “nhân dân” cồng kềnh được sử dụng để vận hành hệ thống chuỗi ký sinh ăn bám vào sức lực tạo của cải từ người dân và tài nguyên quốc gia.

Khế ước xã hội (social contract) bị vất bỏ và được thay thế bằng cam kết đồng thuận của Đảng và tập đoàn tư bản đỏ qua bè phái lợi ích nhóm. Người dân bị đẩy ra bên lề, nằm ngoài rìa lại phải cạnh tranh mới mót mét được một chút cặn thừa thải để sống qua ngày.

Các cơ chế trong một chế độ pháp trị thì tương đối tạm đủ (và luôn được điều chỉnh để đáp ứng với sinh động xã hội) cho công dân và cư dân có thể thực thi dân quyền của mình. Người ta có thể xử dụng các phương pháp khác nhau tùy theo mức độ và tầm vóc tạo được ảnh hưởng đến cá nhân, nhóm, cộng đồng.

Còn trong chế độ độc tài chuyên chế nô dịch đỏ thì chính sách cai trị được thực hành qua “luật lệnh”[5] và “nghị quyết” trên thượng tầng cơ sở và luật rừng, luật miệng “tao là luật”, “hành (là) chính” ở hạ tầng cơ sở mà người dân hàng ngày trực tiếp gánh chịu. Vậy thì các phương cách nào đã và đang được thực thi trong chế độ độc tài ấy?

Ta thấy hiện nay có rất nhiều thỉnh nguyện thư. Đây là loại văn bản do một (nhiều) cá nhân hay nhóm là một phương thức khả thể. Khi có các vấn đề hoặc mâu thuẫn giữa công dân và chính quyền (thành phố, quận, tỉnh, tiểu bang, quốc gia) thì người ta sử dụng đường dây chính thức (official administrative channel) trước khi hoặc cùng lúc với phương tiện pháp lý. Tuy nhiên, mức độ không hiệu quả của loại văn bản này trong một thể chế toàn trị thì chả ai nghi ngờ. Thỉnh nguyện thư chỉ có tính tượng trưng trừ khi đi với biện pháp pháp lý song hành.

Quyền tự do cá nhân ăn sâu vào tâm thức người dân trong chế độ pháp trị ở nước tự do. Ngay cả đứa trẻ bậc trung học khi cảm thấy quyền tự do cá nhân bị xâm phạm chúng cũng cùng nhau hoặc kiếm sự hỗ trợ của cha mẹ phản đối hoặc thưa kiện (vì bị buộc đọc lời cầu nguyện của kinh thánh trong buổi lễ ra trường, vì tìm kiếm thông tin trong chương mục facebook cá nhân, vì để trái đất nóng)[6].

Còn chuyện (thỉnh nguyện thư) kiến nghị ở nhà nước CHXHCN Việt Nam thì sao? Việc làm này hoàn toàn chỉ có tính biểu tượng và dấm dớ nửa vời vì từ trước tới giờ tất cả các kiến nghị đều rơi vào sọt rác, không được hồi đáp.

Trong vòng hơn năm nay thì các kiến nghị, thư ngõ liên tục gởi đi, hết Chủ tịch nước tới Quốc hội và Văn phòng Chính phủ. Dù ngay chính các người ký tên tự biết rằng đó chỉ là một hành động tượng trưng. Thế nhưng chẳng lẽ mọi người cứ mãi giả vờ ăn bánh vẽ (như thật)?

Lại có cả chuyện luật sư gởi “Kiến nghị chấn chỉnh lại hoạt động bắt giam và hỏi cung của cơ quan điều tra”[7] cho Chủ tịch Nước (và cả Thủ trưởng Cơ quan điều tra). Rồi ngay cả ĐB Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Bé cũng kiến nghị “Tôi kiến nghị sớm ban hành luật đất đai sửa đổi, trong đó, những vấn đề cụ thể phải ghi rõ trong luật để hạn chế sự quá tải văn bản dưới luật”. Ai cũng ngoan ngoãn xin-cho (phép) được thực hiện chức năng của mình.

Ở nước dân chủ tự do thì luật sư cứ đường đường làm chức năng của mình là đâm đơn khiếu kiện đối tượng vi phạm pháp luật (bất kể ai và cơ quan nào) và ĐB Quốc Hội thì tự họp nhau lại soạn thảo dự luật rồi bỏ phiếu thông qua cho Tổng thống phê chuẩn hoặc phủ quyết. Chẳng ai lại phải “kiến nghị” xin phép được làm công việc của mình.

Việc lên tiếng theo kiểu kiến nghị là tiếp tục nuôi dưỡng một tiền lệ của lối mòn tâm thức xin-cho chỉ tiếp sức cho quyền lực hiện hành tiếp tục xử dụng cơ chế và hệ thống sắt bọc nhung áp đặt tư tưởng lên người nô lệ. Tác hại của nó là mọi người tiếp tục đi vào vết bánh xe đổ của nô dịch. Nó không khác gì việc các con chuột đất vàng (hamster) chạy trong vòng quay (wheel) không đích, không ngừng đặt ra bởi người chủ để rồi giống như những chú chuột lemming theo nhau lao đầu xuống vực thẳm.

Đấy chính là tâm thức nô dịch. Tâm thức nô dịch đó đã được ông Steve Biko, một nhà đấu tranh chống phân biệt chủng tộc tại Nam Phi trong các thập niên 60 và 70 đã từng hùng hồn cảnh báo, “Vũ khí mạnh mẽ hiệu nghiệm nhất trong tay kẻ chủ nô đàn áp là não trạng của người đang bị nô lệ.” (“The most potent weapon in the hands of the oppressor is the mind of the oppressed.”). Quan hệ chủ nô trong bối cảnh hậu thuộc địa hiện nay thì không cần thuộc dạng khác biệt về mặt chủng tộc vì nô đã được tự tạo trở thành cai thầu nô lệ và thực dân mới sau khi bị thuần hóa từ vị trí nô lệ.

Nói một cách khác, người nô lệ không phải là đã thoát ra cảnh đời nô lệ khi được thăng cử lên thành cai thầu nô lệ (slavemaster). Những ai trong giới trí thức và tầng lớp ưu đãi (privileges) Việt Nam (trong và ngoài nước) vẫn ôm ấp công việc, chức vụ dưới dạng cai thầu nô lệ và thực dân mới? Đây là những người sẵn lòng dùng vô số cái vỏ bọc và hoán đổi chúng để phủ chụp cái ruột thực dân mới và che đậy cái tâm cai thầu nô lệ bẩn thỉu bên trong.

Người ta không thể phá vỡ vòng nô dịch bằng các phương tiện được cho phép bởi chủ nô. Người bị nô dịch chỉ có thể thoát khỏi kiếp nô lệ khi họ xử dụng các phương tiện tự giành lại được hoặc chính mình sáng tạo ra. Martin Luther King, Jr đã nhắn nhủ “các bạn hãy tự viết lên bản tuyên ngôn giải phóng nô lệ …”[8]

Bản tuyên ngôn giải phóng đó (từ nghìn xưa tới nay) được thể hiện qua đại cáo[9], băng rôn[10], kháng thư, tờ rơi, bài hát[11], và lời thơ …

Trong thời đại toàn cầu hóa và thực dân mới thì người nô lệ bị đưa đẩy nhưng cai thầu nô lệ thì gần như là tự nguyện nhập vào vai trò của họ. Những tên chủ nô tư bản đỏ (BCT, TW đảng và nhóm lợi ích) cùng thực dân mới (neo-colonialists, global capitalists), các tay cai thầu nô lệ (Quốc Hội, Mặt Trận, Bộ, Ngành) và người nô lệ (nông dân, công nhân, lao động xuất khẩu, nhân viên hành chánh, giáo viên) là các tác nhân của chế độ nội-thực-dân nô dịch đỏ.

Thử hỏi xem phát ngôn “Duy nhất một chất vấn cho Thủ tướng”[12] chẳng phải là lời thưa thốt của tên cai thầu nô dịch hay là gì? Như Tùng Lâm đã bày tỏ trong bài viết “Những bài học lớn từ một cuộc đối thoại” thì “Những ‘kẻ làm thuê có chữ’ đó nếu không có chính kiến và/hoặc không trung thực bảo vệ chính kiến (cho dù chính kiến chưa đồng thuận hay khác biệt) thì chẳng khác gì những tên lưu manh giỏi dao súng hay những gã đồ tể lành nghề làm công cụ cho những kẻ thống trị tàn bạo và ngu dốt …

Xảo thuật của cai thầu nô dịch rất tinh vi trong khi nhập vai. Có lúc thì ngọt giọng vuốt giận người nô lệ để họ không nổi loạn “Vừa qua, việc chống tham nhũng tựa như đánh trận giả, kế hoạch tác chiến rất hoành tráng, lực lượng huy động rất hùng hậu, mệnh lệnh ra quân rất dứt khoát và lại được nhân dân cổ vũ mạnh. Vậy mà khi lâm trận thì súng nổ rất to mà không sát thương được ai vì đạn không có đầu. Quan trọng hơn là quân xanh hay quân đỏ đều là quân ta cả”. Khi khác lại bợ đỡ cho chủ nô của mình “Thông điệp của Thủ tướng làm an lòng dân[13] nhằm tiếp tục giữ công việc khấm khá, người trung gian cho giới chủ nô.

Những tên thực dân mới trong thời đại toàn cầu hóa không còn là kẻ khác màu da nhưng là người đồng chủng, cùng tiếng nói (hoặc ít gì cũng cùng một sinh ngữ toàn cầu là Anh ngữ). Họ đồng tình kết cấu với tư bản đỏ dùng các dòng tự sự “phát triển”, “văn minh” để khai thác tài nguyên, nhân lực địa phương trục lợi cho riêng mình. Vậy, làm sao ta tránh khỏi nhập vai thực dân mới hay cai thầu nô lệ?

Thử thách của giải thực “tâm thức nô lệ”

Giải thực tâm thức nô lệ là một quá trình, ngắn hay dài, tùy thuộc vào cá nhân (tập thể) và môi trường sinh hoạt.

Môi trường sinh hoạt có tác động rất lớn đến tâm thức vì cái thực thể sinh động hàng ngày liên tục tạo dấu ấn, cả tích cực và tiêu cực, đến nhận thức và tư duy. “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” vì đó là trọng lực điều-kiện-hóa (conditioning) của xã hội lên cá thể.

Tuy nhiên con người vốn có ý thức nên chính họ có thể chọn (dù trong giới hạn nào đó) để khởi đầu bằng khai sáng tư duy độc lập, và gầy tạo cho mình cuộc sống tự do. Đồng thời họ cũng không coi trọng cái tôi (bản ngã hay phương diện tâm lý thường đòi hỏi sự tách biệt do khao khát sáng tạo độc lập và chỗ đứng riêng do trải qua nhiều thăng trầm nô lệ tập thể) vì hậu quả phản ứng ngược, và không quên dấn thân vào công cuộc tận dụng sức mạnh liên đới tranh đấu cho tự do hợp lực của mọi người. Đó là tinh thần “Tôi không có tự do cho đến khi nhân dân (mọi người) được tự do” (I’m not free until people/everyone is free)[14] của Aung San Suu Kyi và “Bất công ở bất cứ nơi nào đều là mối đe dọa cho công lý ở mọi nơi” (Injustice anywhere is a threat to justice everywhere) của Martin Luther King Jr.

Không thiếu gì người tự cho mình có được tự do và độc lập trong lồng kiếng hoặc tháp ngà kỹ năng của tầng lớp chuyên gia. Những “vĩ nhân tỉnh lẻ” chăm chỉ hạt mít tự an ủi với chút quyền lợi được ban cho và quyết nhắm mắt làm ngơ trước thế sự nhiễu nhương tác hại cho những người bần cùng khốn khổ chung quanh mình.

Trong chế độ chuyên chế, độc tài thì vấn nạn điều-kiện-hóa và nỗi sợ đè bẹp hầu hết nụ mầm tư duy độc lập và cuộc sống tự do trong liên đới lành mạnh dân chủ. Thường quyền lực chuyên chính dùng nhiều thể thức bạo lực khác nhau: cả trực tiếp (cảnh sát, công an, an ninh) lẫn gián tiếp (tổ dân phố, UBND, mặt trận TQ, sở thuế, phòng kiểm tra, công sở làm việc, cơ sở giao dịch, v.v…) chưa kể đến việc sử dụng xã hội đen.

Quyền lực chuyên chính cũng không ngớt rao hàng mời chào và ban bố chút quyền (cai thầu nô lệ) cho những ai chấp nhận phục tùng nó. Vì thế cởi bỏ nỗi sợ và tâm thức nô lệ đòi hỏi sự chọn lựa chấp nhận hy sinh khi phải đối đầu với nó và rũ bỏ cái tôi, chút địa vị, lợi ích cám dỗ.

Tự bao lâu quyền lực chuyên chế đã chiếm hữu ngôn từ cũng như dòng tự sự, diễn luận và áp đặt ý nghĩa riêng phục vụ cho họ. Vì vậy, người bị áp bức, người phản kháng phải cùng nhau giải mã, phải chất vấn cái ý nghĩa và sự thật nằm trong ngôn từ rồi vẽ ra con đường mới để thoát khỏi dòng tự sự định sẵn.

Phải chăng “Đường ta rộng thênh thang tám thước[15] thì chỉ là con đường đi vào “trại súc vật[16] của hợp tác xã nông trường. Còn lời phát biểu “”Các nước có chỉ số IQ cao đều xây đường sắt cao tốc. Ra nước ngoài, tôi đi thử rồi. Tốc độ nhanh, an toàn, trẻ em đi học, bà mẹ đi chợ… Việt Nam không phải nước nghèo, với quyết tâm chính trị, tôi đề nghị phải xây” về dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam, “Việt Nam chưa phải là siêu cường kinh tế để có thể đài thọ cho một sự ô danh”[17]cho đề xuất luật biểu tình và “dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận”[18], “thủy điện sông Tranh” cũng chỉ là tiếng kèn của dàn giao hưởng cho đại tự sự “phát triển”, “ổn định xã hội” của quyền lực chuyên chế.

Không phải ai cũng là thiên tài để viết, vẽ lên được kiệt tác trong đó sự thật là trọng tâm. Ta đã khâm phục biết mấy một danh hào Aleksandr Solzhenitsyn với tác phẩm “Quần đảo ngục tù”, một nhà soạn kịch, nhà văn Oscar Wilde với kịch bản “The Important of Being Earnest”, hay nhà thơ Nguyễn Chí Thiện với “Hoa Địa Ngục” và những nhà đấu tranh khác đã dám nói lên sự thật của của kinh nghiệm sống, xã hội và chế độ. Dĩ nhiên, họ biết cái giá rất đắt phải trả một khi cởi trói mình ra khỏi ách nô lệ và can đảm lên tiếng đó.

Oscar Wilde đã từng nói “Nếu bạn muốn nói lên sự thật với người khác thì phải làm cho họ cười, bằng không họ sẽ giết bạn” (If you want to tell people the truth, make them laugh, otherwise they’ll kill you). Tương tự, triết gia Friedrich Nietzsche cũng than thở “Có lúc người ta không muốn nghe sự thật bởi vì họ không hề muốn những ảo tưởng của họ bị tiêu hủy” (Sometimes people don’t want to hear the truth because they don’t want their illusions destroyed.)

Bạn (và ta) có muốn đối diện với sự thật hay không?

Bạn (và ta) có đang làm thân nô lệ hay không?

Bạn (và ta) có muốn tự viết lên bản tuyên ngôn giải phóng nô lệ cho mình hay không?

© 2012 Vietsoul:21


[2] Hai Bà Trưng đánh giặc nào?, blog Tâm Sự Y Giáo

[3] Yellow Bird, M. (2008). Postscript Terms of endearment: A brief dictionary for decolonizing social work with indigenous peoples. In M. Gray, J. Coates & M. Yellow Bird (Eds.), Indigenous social work around the world:  Towards culturally relevant education and practice (pp. 275-292). Aldershot, Hants, England; Burlington, VT: Ashgate.

[5] Luật Lệnh, Vietsoul21.net

[9] Tham nhũng đại cáo, J.B Nguyễn Hữu Vinh

[11] Việt Nam Tôi Đâu, Việt Khang – Asia Channel

[15] Ta đi tới, Tố Hữu

[16] Animal Farm, George Orwell

Đại Vệ Chí Dị – Vàng và đậu phụ

In Chính trị (Politics), Kinh Tế, Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2012/11/02 at 16:47

Nước Vệ triều nhà Sản năm thứ 67. Vệ Kính Vương năm thứ hai.

Mùa thu, có cơn bão đổi hướng không dự đoán được, tàn phá nặng nề vùng duyên hải, cây cối hoa màu ngoài đồng không kịp thu hái dập nát, tả tơi.

Năm ấy nhà Sản chỉnh đốn quan lại, kiểm kê nợ nần, số nợ thật là khủng khiếp. Mọi việc đều đổ tại cho phủ Chúa quản lý không ra gì mới đến nỗi vậy. Chúa là người cơ mưu ứng biến tài giỏi, trước việc khó vẫn tươi cười như không. Khi xưa còn thưở là cai đội ở miền heo hút tận cùng đất nước, đã hiểu được chuyện kinh tài rành rẽ. Lại từng canh cửa biển ngăn chặn bọn vượt biên, nên ngài nắm được trong dân còn có nhiều vàng lắm.

Chúa họp bầy tôi lại phán.

– Giữ cho dân trong rọ, cũng như giữ được vàng trong túi. Nay lệnh cho bộ Hình tăng cường xiết chặt không để cho dân chúng dám có ý khác. Sau đó sẽ có kế lấy vàng thanh khoản nợ công.

Bộ Hình ra tay khắp nước, bắt bớ, xét xử lại bắt bớ. Dân chúng cúi đầu im thin thít, người đi đường không dám ngẩng đầu chào nhau. Ai cũng lo việc nhà nầy. Động một lời phàn nàn cũng thành tội nói xấu triều đình. Bởi thế không ai dám nói gì đến chính sự.

Rồi Chúa ra lệnh cấm vàng trong dân, ai có phải mang bán cho triều đình lấy tiền giấy. Rồi lại khuyên dân mang tiền giấy ấy mà gửi ngân khố triều đình. Cầm giấy chứng nhận mà hàng tháng đi lấy tiền lời.

Dân có ý thăm dò, nhìn nhau. Một tháng trôi qua, chả ai mang vàng đến bán.

Bầy tôi coi kho bạc đến gặp Chúa hiến kế  như vầy, như vầy.

Chúa cấp tốc xuất kho, cho người cầm vàng đi ra thương điếm bán. Đồng thời lại sai bộ Hình đi theo nhằm lúc bán mà bắt. Rồi phao tin trong thiên hạ có kẻ bị bắt tich thu trắng cả mấy trăm lượng vàng. Thiên hạ nghe ai cũng xót xa nghĩ đến phận mình, ruột gan bồn chồn thấp thỏm lo lắng nếu ai có chút vàng giữ trong nhà.

Lúc này quan coi kho mới cho người cầm vàng, lẻn cổng sau đến cổng trước xếp hàng. Rồi lấy đó mà tiếng rằng mỗi ngày kho bạc triều đình mua đến cả xe vàng.

Chúa lại lệnh rằng quyết tâm giữ không để lạm phát, mất giá đồng tiền.

Lác đác người dân thấy giao dịch bên ngoài thì lỡ công sai thấy thu trắng mất,bèn  đem bán cho kho bạc kém giá một chút nhưng an toàn,vả lại Chúa cam kết thế rồi lo gì tiền mất giá, đem tiền ấy gửi cho ngân khố lấy lời có hơn là để vàng chôn dưới đất.

Có mụ đi chợ thấy miếng đậu phụ ngoài chợ bỗng bé hơn bình thường. Lúc về phàn nàn với chồng. Gã chồng nói.

– Cái mẹo người bán đầu tiên cho bé dần đi để người mua không để ý. Đến khi bé lắm rồi, mới chợt làm to bằng như cũ với giá cao hơn. Thiên hạ cứ tưởng là vì to hơn thì giá cao hơn, thực tình là đã tăng giá còn miếng đậu phụ vẫn thế mà thôi.

Hào phú bên cạnh nghe thấy, lập tức gom hết vàng trong nhà đem đi chôn giấu thật kỹ. Phu nhân mới hỏi sao lại làm chuyện lạ đời lúc này thế. Hào phú nói.

– Nhờ có miếng đậu phụ mà ta nhớ đến câu ” gánh vàng đi đổ sông Ngô, đêm nằm tơ tưởng đi mò sông Thương.”  Chuyện này cứ thế, không nói nhiều kẻo đắc tội triều đình.

Phu nhân là người am hiểu, nghe thế không hỏi thêm gì nữa.

Nguồn: Người Buôn Gió

cực đoan – phản động

In Cộng Đồng, Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2012/10/19 at 23:50

minh họa: dân làm báo

Cuối tuần vừa rồi người Việt tỵ nạn cộng sản ở Hoa-kỳ đã tiễn đưa nhà thơ, ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện ra đi vĩnh viễn. Dù chúng tôi chưa bao giờ gặp mặt nhưng có đọc nhiều bài thơ của ông và lấy lòng cảm phục với tấm lòng chân thật và tinh thần bất khuất của con người ấy.

Cái giá mà ông Nguyễn Chí Thiện trả cho việc nói lên sự thật quả rõ đắt và đắng[1]. Dù đó chỉ là sự thật của một sự kiện trong lịch sử:

“Anh chuẩn bị kỹ, giải thích cho học sinh biết rằng phát xít Nhật bị bắt buộc phải đầu hàng vào tháng 8-1945 là do 2 quả bom nguyên tử của Mỹ ném xuống Nagasaki và Hiroshima. Thế là có phụ huynh học sinh cùng một giáo viên ganh tỵ với anh tố cáo với công an quận rằng anh cố tình truyền bá tư tưởng đế quốc, không theo giáo án, nói trái quan điểm của đảng, không giải thích rằng phát xít Nhật thua là do công ơn của Nguyên soái Stalin đã chỉ huy Hồng quân tiêu diệt đạo quân Quan Đông ở Mãn Châu.”

Có lẽ cái giá của sự thật không bao giờ rẻ, nhất là ở những nơi mị dân đầy xảo trá lọc lừa thì phải rất đắt. Đắt bằng 3 lần đi tù, gần nửa đời người cho nhà thơ.

Đắt bằng 34 năm tù còn tiếp tục cho anh Nguyễn Hữu Cầu[2], người cương quyết không ký nhận tội danh của bản án.

Đắt bằng 12 năm tù cho anh Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, 10 năm cho cô Tạ Phong Tần và 4 năm cho Anhbasaigon Phan Thanh Hải[3].

Đắt bằng với 16 năm tù cho Trần Huỳnh Duy Thức, 5 năm cho LS Lê Công Định.

Đắt bằng 9 năm cho Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, 7 năm cho Đỗ thị Mỹ Hạnh và 7 năm cho Đoàn Huy Chương[4].

Đắt bằng 7 năm tù cho anh Cù Huy Hà Vũ.

Đắt bằng giam cầm vô thời hạn cho Paulus Lê Sơn[5] và các thanh niên công giáo vì công lý và sự thật.

Đắt bằng cái chết lần mòn cả tinh thần và thể xác cho LS Nguyễn Mạnh Tường kẻ bị “mất phép thông công[6], và triết gia Trần Đức Thảo[7] sống trong tăm tối cho đến cuối đời. Cái chết của những con người lương thiện trong một thể chế dị dạng vô lương tri.

Và đắt hơn cả là vô số cái chết và tù đày của trăm vạn ngàn người suốt 67 năm dài …

Cực đoan (Cực kỳ)

Đối với những quyền lực, nhất là những quyền lực gần như tuyệt đối thì bất cứ những ý kiến trái ngược hoặc phản kháng nào – dù phản kháng đó bằng lời hay bằng hành động – nếu không theo “khuôn khổ” được quy định thì sẽ được gán cho từ “cực đoan”.

Nhà Thiên văn học Galileo sau bao nhiêu tháng năm quan sát, tìm tòi và đã khám phá ra rằng “trái đất quay quanh mặt trời”. Thế nhưng sự thật đó không được công nhận bởi Tòa thánh La Mã. Giáo quyền thời đó đã xem ông Galileo là kẻ cực đoan, dị giáo (heretics) muốn phao tin giả (hearsay) trái với giảng giải trong kinh thánh. Ông đã trả giá cho sự thật bằng một bản án giam tại gia cho đến cuối đời.

Triết gia Socrates lúc làm ủy viên của hội đồng thành phố (boule) đã bất chấp đe dọa truất phế và tù tội, kiên quyết không bỏ phiếu cho một cuộc xử án vi hiến – kiểu đấu tố (collective trial)  – ngay cả đối với những tên bạo chúa tiếm quyền. Dù rằng trước đó không lâu ông suýt bị nhóm 30 tên bạo chúa này (Thirty Tyrants) xử tử chỉ vì ông lặng lẽ từ chối không làm đồng lõa cho các cuộc xử tử bất công do họ dựng ra. Socrates phản kháng cái quyền lực bất công quy buộc ông vào tội danh “đầu độc tâm hồn thanh thiếu niên” dù rằng ông chỉ giảng dạy triết lý muốn đi tìm sự thật và công lý. Ông chấp nhận uống thuốc độc chết để bảo tồn danh dự và khế ước xã hội dù có cơ hội trốn thoát khỏi lao tù. Socrates đã bị gán là kẻ “cực đoan” về mặt tư tưởng chỉ vì muốn bảo vệ công lý và sự thật.

Ông Ghandi, người hiện được mọi người ca tụng là vĩ nhân hòa bình vì là người chủ xướng đấu tranh bất bạo động chống thực dân Anh, cũng bị chính quyền thời đó gán tội danh “quấy rối trật tự” chống nhà nước. Rất nhiều quan chức, giới thượng lưu, thành phần ưu tú (elites), và ngay cả trí thức trong giai đoạn ấy đã dán cho ông nhãn hiệu “cực đoan”. Họ muốn ông đàm phán, hòa giải bất công qua các “thủ tục” quy định bởi chính quyền thực dân.

Ông Martin Luther King Jr., mục sư đạo Tin Lành và thủ lãnh phong trào dân quyền ở Hoa-kỳ , đã noi gương Ghandi đấu tranh bất bạo động, đòi hỏi quyền làm người, bình đẳng và công lý cho người Da Đen nên cũng bị ghán cho là thành phần nguy hiểm, khích động . Không ít những mục sư Tin Lành và một số trí thức cùng màu da, cùng lý tưởng đấu tranh dân quyền đã tránh né xa lánh ông vì cho rằng phương thức hành động và tuyên ngôn quá “cực đoan” sẽ đưa tới phản ứng mạnh đàn áp phong trào.

Nguyễn Chí Thiện, Dương Thu Hương, Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Cù Huy Hà Vũ, Phạm Thanh Nghiên, Bùi Thị Minh Hằng đều “được” gán cho cái mác “cực đoan”, “quá khích” v.v…

Những người vì sự thật, công lý, bình đẳng khi cương quyết, nhất quán trong đấu tranh thường (luôn) hay bị giới cầm quyền gán cho cái mác “cực đoan” và “quá khích”. Đặc biệt là nhà nước cộng sản Việt Nam thì họ sẽ được cho thêm cái mũ “phản động” kèm với “cực đoan”.

Anh em Đoàn Văn Vươn sử dụng mìn tự chế chống lại cưỡng chế bất công, tàn bạo của công an, cảnh sát, dân phòng thì được “phong” hàm “manh động”, “cực đoan”, “quá khích”.

Giáo dân cùng tu sĩ xứ Thái Hà[8], Con Cuông, Cồn Dầu tụ tập để cầu nguyện hiệp thông, bảo vệ tài sản, giáo đường cũng bị chụp cái mác “cực đoan”, “quá khích”.

Những người dân oan bị cướp đất đi khiếu kiện, lê la lếch thếch từ xã tới huyện đến thành phố và tận trung ương cũng bị mồm loa, mép giải của báo của đài gọi là “khích động” và “cực đoan”.

Hai mẹ con cởi truồng giữ đất[9] vì không muốn bị cướp đi phần mồ hôi nước mắt bao năm gầy dựng. Họ trần truồng bám trụ giữ phần tài sản nhỏ bé nghèo nàn để “cạp đất mà ăn” cũng bị gán là có hành động “cực đoan”.

Cơ chế và Quyền lực

Các quyền lực độc đoán không bao giờ chấp nhận ý kiến trái ngược với họ để bảo vệ giữ vững cái vị trí độc đoán đó. Những quyền lực này luôn gieo ảnh hưởng lên công chúng bằng cách xử dụng ngôn ngữ để gài khung (framing) hầu tạo cái nhìn phán đoán về dị biệt (deviant) để dễ dàng cách ly (isolate)  người/nhóm phản kháng ra khỏi đám đông. Kế tiếp là họ sẽ tấn công vào thân thế, bôi nhọ cá nhân hay tập thể nhỏ đó. Và sau cùng là dùng cả hai cơ chế luật pháp (các luật lệ khiếm khuyết, hoặc vi hiến) và luật rừng để cưỡng chế và vô hiệu hóa người/nhóm phản kháng.

Phương tiện để gài khung là thuật ngữ. Đó là việc sử dụng những từ ngữ phổ thông và có định kiến xấu để quy chụp vào tình huống cá biệt. Họ dùng những cây cọ thật to – các phương tiện truyền thông đại chúng – để tô hồng (đồng chí) và bôi đen (đồng bọn/đối tượng) tạo phán xét dễ dãi không cần tư duy định hướng dư luận.

Những quan sát trên thuộc cái nhìn về “cực đoan” dưới lăng kính tương quan giữa quyền lực và cá nhân/tập thể thiểu số. Còn cái nhìn về “cực đoan” dưới lăng kính tương quan xã hội thì sao?

Ở các nước Á Đông, nền văn hóa Khổng, Nho, Lão giáo vẫn còn ảnh hưởng đẫm đặc trong tư duy của mọi người, nhất là trong tầng lớp có học vấn. Cái tinh thần “dĩ hòa vi quý”, thuyết “trung dung”, “vô vi” thường được xử dụng làm chỗ dựa để biện minh cho việc an vị, tịnh tâm và để rúc vào đám đông thầm lặng “ôn hòa”.

Dĩ nhiên khi đã tự xưng là thành phần “ôn hòa” thì mối liên hệ với những người cương quyết, nhất quán trở thành mối liên hệ xa lạ – giữa ta và kẻ kia (the other) – cho dù ngay lúc cả hai đều có cùng một mục đích hoặc lý tưởng đi nữa. Không thiếu gì trường hợp người ôn hòa gán cho người khác là “quá khích”, “cực đoan”, là “bất hảo”, “mất gốc rễ”, là “vô liêm sĩ, man rợ”[10], là “ô hợp” thiếu “văn minh” một khi kẻ kia có những ứng xử không theo “tiêu chuẩn” của người chủ quan tự cho mình là thành phần ôn hòa. Vô hình chung cách ứng xử này sẽ cô lập và tách biệt quần thể ra thành hai nhóm—một tập thể bỗng dưng có hai thái cực đối kháng và khắc kỵ nhau. Kết quả cả hai đều rơi vào bẫy phân hóa do diễn luận cài khung thực thi bởi quyền lực hiện hành.

Bên cạnh chỗ dựa “ôn hòa” trong đám đông thầm lặng những kẻ tựa vào quyền lực lại còn có chiếc ô che “khách quan” vô tư tránh nắng (thiếu) khoa học tạo thuận lợi giúp những phán quyết về người khác được xem như là chuẩn mực.

Nơi an toàn nhất đối với họ là vị thế “ôn hòa”, “việc đâu còn có đấy”, “bình chân như vại” không động đến cái lông chân. Chốn khó khăn đầy hiểm nguy là điểm trực diện đương đầu với quyền lực của những ai chọn dấn thân.

Ngược lại, người phản kháng luôn tìm mọi phương cách để trực diện đương đầu, biểu lộ chính kiến của mình nhất là khi họ bị cô lập và giới hạn trong các phương tiện truyền thông đại chúng. Họ dùng mọi phương thức, cả kiểu sáng tạo lẫn lối thông thường từ việc chiếm phố Wall (Occupy Wall Street) đến chuyện ban nhạc Bướm Nổi Loạn (Pussy Riots) hóa trang hát nhạc rock trong nhà thờ diễu cợt Putin, từ nhóm người bảo vệ môi trường “cắm dùi” trên ngọn cây chống đường ống dẫn dầu xuyên đại lục (XL pipeline, tar sands) đến nhóm chống bom nguyên tử dùng thuyền chèo (kayak) và thuyền buồm cản trở hải trình tàu ngầm nguyên tử, từ nhóm bảo vệ quyền thú vật (animal rights) dùng thuyền cao tốc đuổi cản tàu đánh bắt cá voi/ông đến nhóm chống chiến tranh lấy thân mình làm lưới chắn cổng hải quân vận chuyển vũ khí ra ngoại quốc, từ phong trào người Tây Tạng lưu vong tự thiêu chống Trung Quốc đến hiện tượng người Việt Nam tỵ nạn biểu tình chống cộng sản ở phố Bolsa v.v… Bất cứ phản ứng nào dù thật sự ôn hòa cũng có thể bị gán ghép là “cực đoan”.

Họ bị gán cho là những kẻ vô công rỗi nghề, bọn không công ăn việc làm, người nhận tiền nước ngoài (thế lực thù địch), mất gốc rễ, dân đầu đường xó chợ, kẻ ăn bám xã hội, đám ăn trợ cấp (welfare), thứ rác rưởi, bọn trẻ xuẩn ngốc v.v… Hệ thống quyền lực thành công hay không trong việc gài khung cô lập những người này hoàn toàn tùy thuộc vào nhận xét của dân chúng – nhóm/đám này đa phần chịu ảnh hưởng bởi các định kiến tạo ra và đặt để trong xã hội.

Tính Năng Động của Quyền Lực – Ký Sinh – Đồng hóa

Hãy thử thoáng nhìn về các tính năng động phức tạp của quyền lực trong xã hội (complex power dynamics within society).

Nhà nước nắm giữ hệ thống quyền lực là chủ (host) trong chuỗi quyền lực mang tính ký sinh “trao thân gởi phận”. Nhà nước luôn chủ động trong vận hành, đặt ra kế hoạch mà không cần phải trao đổi với những nhân vật hữu quan chủ yếu, và từ đó áp đặt quyền lực lên các thành viên trong xã hội. Và xoay quanh quyền lực hiện hành này là vô số những ký sinh (sát cánh) giúp vận hành cỗ máy đó.

Có rất nhiều móc xích trong chuỗi ký sinh, loại trực tiếp và loại gián tiếp. Có ký sinh trực tiếp “còn đảng, còn mình”. Có ký sinh gián tiếp thoáng ra không ai nhìn thấy vì nó nằm xa mãi ở tận cuối chuỗi móc xích. Ký sinh trực tiếp thì biết (bám) chủ còn ký sinh gián tiếp nằm ở cuối chuỗi móc xích thì lờ mờ (lửng lơ) với chủ gốc.

Điểm đặc biệt ở đây khác với định luật sinh tồn trong quan điểm sự tồn tại thuộc về loại mạnh nhất (survival of the fittest) ở chỗ ký sinh rất dị ứng với việc chủ bị triệt tiêu. Vấn đề này rất hệ trọng vì làm rối loạn mối liên hệ của chủ-ký sinh (host-parasite relationship). Nguyên do bởi lẽ ký sinh và chủ có cùng một chu trình tiến hóa tương tác (co-evolution). Chủ có sống thì ký sinh mới tồn tại. Chính đó mới là cái nhập nhằng, đan chéo trong các mối quan hệ của quyền lực trong xã hội.

Quyền lực chuyên chính không bỏ qua một thủ thuật tinh vi và lắm lúc miễn cần gông cùm mã tấu. Đó là chước tạo đồng hóa/thuần hóa (assimilate/cooptation) về mặt tưởng, lợi ích, và danh vọng nhằm loại trừ và dập tắt những thành phần kháng cự, chống đối, và muốn phản ứng ngược. Đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam đã xử dụng thủ thuật này xuyên suốt chiều dài lịch sử ngay từ khi cướp chính quyền.

Đồng hóa tư tưởng qua nhiều phương tiện tuyên truyền: từ cái loa phường, các bích chương khẩu hiệu, đội thiếu niên quàng khăn đỏ, đoàn thanh niên, đến họp tổ dân phố, họp hội phụ nữ, hội người cao niên, hội cựu chiến binh, nghị quyết, báo, đài v.v…

Đồng hóa lợi ích qua cơ chế tạo hệ thống đồng lõa với các tổ chức ngoại vi và nhà nước. Số cán bộ (gần xa) và nhân viên nhà nước được bổ xung, cồng kềnh cho nên có xã có trên 500 cán bộ[11]. Gần như ai ai cũng có dính phần tí tẹo nào đó vào cơ chế để móm chút lợi. Những ký sinh và các con vắt này liên tục hút máu tài sản nhân dân và tài nguyên quốc gia.

Việc đồng hóa lợi ích đã được thể hiện rõ trong Hội nghị Trung ương 6 vừa qua. Toàn thể BCHTƯ và BCT đã đồng hóa về lợi ích và dĩ nhiên không thể nào có việc phản kháng lại lợi ích chung ăn sâu tận gốc rễ.  Nếu nói theo giới cầm (tu) chai thì đây quả là “nguyên lý mâm thịt chó[12] (Hất đổ thì mất ăn, mà tất cả mọi người đều muốn ăn!)

Đồng hóa lợi ích với hia mão qua phong trào tấn phong “nghệ sĩ ưu tú”, “nghệ sĩ nhân dân”, “anh hùng lao động”, “chiến sĩ thi đua” v.v… “Đại văn hào” Mạc Ngôn chẳng phải đã tự mình làm tròn sứ mệnh Đảng CS Trung Quốc áp đặt, ngay từ bút danh cho đến thực danh, là “mất/tắt lời” đấy ư!? Một câu nói vớt vát “Tôi hy vọng ông ấy [Lưu Hiểu Ba] sẽ được tự do nhanh chóng”[13] hầu chống đỡ các chỉ trích thì chỉ tiêu hao tí tị điểm thi công (political capital) mà ông đã vón vén “xin/cho” được từ cái giải văn học làm giải tỏa “mặc cảm Nobel” của Trung Quốc. Đương nhiên sẽ có tiếng thổi kèn đồng nhịp tương tác vào diễn luận “ôn hòa”[14], “ổn định”, và “phát triển”. Những ai không muốn bị đồng hóa là tất nhiên thuộc thành phần “bất hảo”, “phản động” như nhà thơ Hữu Loan, LS Nguyễn Mạnh Tường, ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện, Khôi Nguyên Hòa Bình Lưu Hiểu Ba, và nghệ sĩ Ngãi Vị Vị.

Tương Quan Quyền Lực

Tương quan quyền lực trong xã hội rất đa dạng. Nó không chỉ đơn thuần là tương quan giữa nhà nước và cá nhân viết tắt là nhà nước-cá nhân (state-individual) nhưng còn ở nhà nước-tổ chức (state-group) và giữa nhóm-cá nhân (group-individual) hoặc nhóm-nhóm (group-group) v.v…

Trong tương quan quyền lực (đặc biệt là quyền lực chuyên chế) giữa nhà nước và cá nhân hay thiểu số thì chắc chắn cá nhân/thiểu số là bị lép vế hoàn toàn. Những gì được cho là cực đoan của cá nhân/thiểu số không thể nào so bằng cái cực đoan, cực kỳ phản động ngàn vạn lần của tập đoàn quyền lực chuyên chế (nhà nước độc tài).

Thiết nghĩ các sự việc liên hệ đến đấu tranh giữa hai thế lực luôn phải được nhìn qua lăng kính tương quan quyền lực để xem xét. Chúng ta chỉ có thể tạm bỏ qua lăng kính quan trọng này khi hai lực nằm trong lãnh vực cá nhân riêng tư, thí dụ như tranh chấp của người này với người nọ trong các sinh hoạt hàng ngày.

Dù vậy chúng ta vẫn không thể làm ngơ không xét đến các quyền lực ngầm hoặc quyền lực mềm. Thí dụ như mâu thuẫn giữa một thường dân với ông hàng xóm quan quyền (chủ tịch, bí thư, trưởng CA, v.v…) thì ông hàng xóm quan quyền có quyền lực ngầm. Hoặc mâu thuẫn giữa một người lao động chân tay không học vấn với người lao động trí óc thì người trí óc hẳn có quyền lực mềm vì biết các thủ tục pháp lý có mối liên hệ với các bộ máy nhà nước v.v…

Ta cũng không thể quên việc “ở đâu có áp bức ở đó có đấu tranh”. Các áp bức, oan ức, ép uổng thường tạo kích động gây phản ứng “cực đoan” vì chỉ có bằng cách đó những nỗi oan khiên mới được nghe, biết, và hiện hữu (heard, known, and existed).

Khi đối diện với những hiện tượng “cực đoan” nếu chúng ta không vội vàng phán đoán chỉ trên bề mặt của hiện tượng mà cố gắng hàm dung (cởi mở) để lắng nghe mặt chìm đằng sau những cử chỉ hành vi “cực đoan” kèm tiếng kêu gào này thì có thể tìm đến bản chất và nguyên nhân của sự việc. Ít ra thì từ đấy chúng ta có thể đồng cảm hoặc dù gì cũng trút bỏ định kiến và cảm thông được phần nào tại sao kẻ/nhóm thấp cổ bé miệng kia hành xử như thế.

Điều cần tránh nhất là không tự dễ dãi phang ra những phán xét trên quan điểm cá nhân (trong lối mòn nhận thức) vô tình làm cánh tay nối dài của quyền lực chuyên chế và gián tiếp bóp mũi, bịt miệng, thậm chí xiết cổ cái khát vọng cũng như nỗi oan khiên từ kẻ khốn cùng.

© 2012 Vietsoul:21


[14] “Người ta nói rằng, giải thưởng Nobel văn chương năm nay ôn hòa về mặt chính trị.” Phạm Xuân Nguyên – Mạc Ngôn giải tỏa ‘mặc cảm Nobel’ cho Trung Quốc, VTC News

Nguồn: Vành Anh Online (Trích từ city-n.ru)


Các bài liên hệ:

Yueh Nan – 2029

Giờ phẫn nộ!

Con tin lương tâm

Chúng tôi (Tự trào – Trí Thức – Tâm Tài)

Tôi là người Việt Nam

Những cái nhập nhằng không tên – The Unspoken Ambiguities

Bịt miệng nạn nhân

Huỳnh Thục Vy – Nghĩa hay lợi?

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Việt Nam on 2012/10/18 at 15:24

Phàm người ta làm mọi việc ở đời cũng chỉ vì nghĩa hay vì lợi… Người quân tử chỉ nghĩ đến điều nghĩa mà dốc lòng vào việc thiện. Dù việc thiện nhỏ thế nào cũng không bỏ qua. Kẻ tiểu nhân thì chỉ nghĩ đến điều lợi, hễ thấy lợi thì dù ác thế nào cũng thực hiện“.

Đó là một câu ghi trên đài tưởng niệm liệt sĩ chống pháp Phước Ninh, Đà Nẵng. Đọc câu nói mang nặng màu sắc Nho giáo này trong một bài viết, tôi đã suy nghĩ rất mông lung về những giá trị cổ xưa mà ông cha ta đã suy tôn trong hành trình “tự Hán hóa” của mình. Đối với nhiều người, có lẽ câu nói rất ấn tượng, mang tầm vóc một phương châm sống đầy giá trị và đậm chất luân lý. Nhưng theo tôi, không thể nhận thức đơn sơ về “nghĩa” hay “lợi” như thế.

1/ Quân tử và nền đức trị

“Quân tử” trong cách hiểu cơ bản nhất của người Trung Hoa xưa, là người cai trị. Do đó, từ này nguyên khởi được dùng để chỉ những người thuộc tầng lớp thượng lưu của xã hội quân chủ Trung Hoa và một số quốc gia du nhập Hán học khác. Với quan điểm đức trị mà Khổng giáo ra sức truyền bá hay thậm chí là áp đặt, những người cai trị là những kẻ tài đức vẹn toàn, là những ông vua anh minh mang tầm vóc thánh nhân, là những ông quan phụ mẫu chi dân. Theo cách dùng ấy, chúng ta hiểu rằng, quân tử là những người tài đức xuất chúng và có khả năng thống soái thiên hạ. Sau này, “quân tử” còn được dùng để chỉ những người có trí tuệ, đức độ, chính trực và hay làm việc nghĩa.

Quả tình, tôi không thích Nho giáo, không thích cả những khái niệm của nó. Các giá trị Khổng Nho xa lạ và không gây ấn tượng tốt với tôi. Bởi trong nền văn hóa ấy, người ta luôn miệng nói về đạo đức nhưng không có bất cứ một định chế khả dĩ nào để bảo vệ những giá trị luân lý ấy. Cũng chính trong nền văn hóa ấy, nơi mà kẻ cai trị được mặc định là những người vừa có tài thao lược, vừa có đức hạnh, chúng ta chỉ thấy đầy dẫy những kẻ bất chấp thủ đoạn để thoán đoạt thiên hạ hoặc ích kỷ hại nhân. Nào là Lưu Bang giết Hàn Tín sau khi đã thâu tóm thiên hạ về một mối, Lý Thế Dân giết anh em để lên ngôi hoàng đế…

Thật vậy, đạo đức xã hội không bao giờ được giữ gìn bằng cách hô hào, mà chỉ bằng thể chế chính trị, bằng luật pháp và phần còn lại được giao phó cho những định chế xã hội khác như: tôn giáo, giáo dục… Ngày hôm nay chúng ta biết rằng, động cơ hành động của con người là tự lợi. Bởi nhận chân ra điều ấy, nhân loại mới tạo lập thể chế dân chủ pháp trị. Kẻ lãnh đạo không thể trở nên tài đức chỉ vì mang cái danh quân tử. Ngược lại, ngay từ đầu họ phải được giả định là kẻ xấu, có khả năng lạm quyền, tư lợi, và phải được kìm chế bởi một cơ chế chính trị nghiêm khắc. Ở đó, họ bị đặt vào tình huống: nếu họ vi phạm những cam kết với người dân, hậu quả mà họ lãnh nhận sẽ lớn hơn nhiều so với mối lợi mà họ có được khi vi phạm. Nhân loại ngày hôm nay không tin tưởng vào những phẩm giá tốt đẹp được gán (một cách hão huyền) cho kẻ cầm quyền theo kiểu đức trị. Với thể chế chính trị tự do, người dân dõng dạc tuyên bố với kẻ cai trị rằng: “Các ông cứ tỏ ra tốt đẹp bề ngoài, còn chúng tôi không biết thâm tâm các ông mưu tính chuyện gì. Nhưng nếu các ông làm bậy, các ông sẽ nhận hậu quả nhãn tiền”.

2/ Nghĩa hay lợi

Trở lại với câu nói đã được đề cập ở đầu bài viết, nó hoàn toàn đặt trên bình diện đức trị của Nho giáo, phản thực tế và phản khoa học. Theo đó, người ta chia con người thành hai loại: một, hành động vì nghĩa; hai, hành động vì lợi. Phân loại con người thô thiển như thế sẽ dẫn tới những ngộ nhận tai hại. Trong mỗi một con người, có cả bản năng vị kỷ và bản năng cộng đồng. Động cơ, hoài bão và hành động của con người là tổng thể những mối tương tác của các bản năng này chứ không thể phân biệt nhị nguyên như trên.

Như đã nói ở trên, trong thực tế, nhân loại có xu hướng hành động vì lợi ích. Bản thân việc hành động vì lợi không phải là việc xấu xa về luân lý. Việc xem lợi ích là một giá trị tiêu cực về đạo đức là đi ngược lại quy luật tự nhiên, và thậm chí là cản trở sự tiến bộ. Đối với nền văn hóa Khổng Nho, chỉ có những kẻ thấp kém về tư cách và tài năng mới hành động vì lợi, còn thánh nhân thì hành động vì nghĩa. Nhưng mặc cho những giáo điều mà họ rêu rao, con người là con người. Mặc cho những truyền giảng đạo đức to lớn của họ, những kẻ đứng đầu thiên hạ, những quân vương được lưu danh sử sách, luôn là những người hành động vì lợi. Ai nói những quân vương độc tài như Tào Tháo, Lưu Bị, Chu Nguyên Chương… hành động vì nghĩa? Thật trớ trêu, trong một nền văn hóa luôn xiển dương đạo đức, chính ở đó, đạo đức bị chà đạp thô bạo nhất, và hơn nữa bị lợi dụng để mang lại lợi ích cho kẻ cầm quyền độc tài.

Người ta quên mất rằng, điều quan trọng là cần phải xác định: “nghĩa” là nghĩa như thế nào, nghĩa đối với ai; còn “lợi” là lợi gì, lợi ích cho ai; chứ không phải chỉ nói “nghĩa” và “lợi” chung chung. Và việc đồng hóa “nghĩa” với “thiện”, “lợi” với “ác” như câu nói trên thật không thỏa đáng. Rất nhiều khi, cái “nghĩa” dành cho thiếu số sẽ là họa cho đa số còn lại (ví như: việc vì ơn mưa móc chúng ta từng có được từ Đảng cộng sản làm cho chúng ta không thể lên tiếng chí trích Đảng hoặc chỉ trích không tới nơi chỉ có thể là “nghĩa” với Đảng thiểu số chứ chẳng thể là nghĩa đối với đa số còn lại); và cũng như thế, “lợi”(dù là tư lợi) cũng không bao giờ là đồng nghĩa với “ác” nếu cái lợi ấy đạt được bằng những phương tiện hợp pháp, hợp luân lý.

Ấy vậy mà, chữ “nghĩa” lòe loẹt ấy trong suốt thời quân chủ ở Trung Hoa và Việt Nam đã là cái gông đeo cổ cho toàn xã hội, đã là giá trị “sáng lòe” để nô lệ hóa cá nhân, để phục vụ cho những cá nhân cai trị mang danh tập thể. Đến thời kỳ Cộng Sản, chữ “nghĩa” lại bị lợi dụng để kéo hàng triệu thanh niên ngây thơ vào “cuộc chiến chống đế quốc” mà thực ra là cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Thế mới biết “nghĩa” không đứng trơ trọi một mình để bắt người ta phải hành động, phải hy sinh; cái “nghĩa” đó phải đi cùng với lợi ích to lớn và lâu dài của cộng đồng thì mới có giá trị, xứng đáng là “nghĩa” thật. “Nghĩa” mà không mang lại lợi ích thiết thực cho cá nhân hay cộng đồng thì việc chạy theo nó là điều vô ích. Cái “nghĩa” mà không đi kèm với sự suy xét chín chắn có khi lại gây họa cho bản thân và nghiêm trọng hơn là cho cộng đồng.

Xét đến chữ “lợi”, mỗi cá nhân là phần tử của xã hội, lợi ích dành cho mỗi cá nhân là góp phần vào lợi ích chung của xã hội. Bởi vậy, sự mưu cầu lợi ích cá nhân, mà không xâm hại đến lợi ích của các cá nhân khác và của xã hội là điều tốt đẹp và cần được phát triển. Còn đối với những trường hợp mang lại lợi ích cho xã hội, thì “lợi” này mới chính là “nghĩa” thật. Cái “lợi” ấy, bây giờ không chỉ mang ý nghĩa luân lý tích cực, mà còn là sự thể hiện của trí tuệ.

3/ Sự cáo chung cần thiết của nền đức trị

Việc cổ xúy đức trị thừa kế từ nền văn hóa Khổng Nho đã mở đường cho sự thâm nhập dễ dàng của nền “đức trị Cộng sản”. Văn hóa “đức trị” ấy đã “trao tặng” cho Việt Nam một Hồ Chí Minh thủ đoạn hơn người nhưng được tôn vinh thành “vị cha già dân tộc đại trí đại tâm”. Nền đức trị không bao giờ ngăn nổi người ta trở thành những kẻ độc tài tàn bạo; mà ngược lại còn “thánh hóa” kẻ độc tài ấy, và đưa đến khả năng chính danh hóa sự cai trị chuyên chế qua nạn sùng bái cá nhân bệnh hoạn.

Trong cuộc đấu tranh hôm nay, chúng ta đấu tranh vì “nghĩa” sao? Điều đó không sai, nhưng chưa đủ, chúng ta đấu tranh vì “lợi” nữa chứ. Nền dân chủ tự do sẽ mang lại cho toàn thể quốc gia này cũng như mỗi một cá nhân trong xã hội những lợi ích to lớn. Chúng ta đấu tranh cho dân chủ không phải vì nó tốt chung chung theo kiểu mị dân, mà vì nó mang lại lợi ích thực tế đã được kiểm chứng trên thế giới cho cá nhân và xã hội, mang lại sự thăng tiến tất cả các mặt của đời sống chính trị xã hội. Chính cái lợi ích to lớn ấy đã mang lại cho cuộc đấu tranh cái danh diện chính nghĩa chứ không phải là những giáo điều xơ cứng, màu mè. Nói cách khác, cái danh “chính nghĩa” là “bộ áo” bên ngoài ,còn lợi ích thật bên trong (hướng về thiểu số hay đa số) mới quyết định bản chất của “nghĩa”. Cộng sản đã khoác bộ áo “chính nghĩa” để tàn phá đất nước này đó thôi. Bởi thế khi đánh giá sự việc, ta không đánh giá qua “bộ áo chính nghĩa” ấy mà xét tận gốc rễ cái lợi ích mà nó mang lại sẽ thuộc về ai. Chúng ta mang lại lợi ích cho ai, điều đó sẽ cho thấy chúng ta là bậc đai phu hay kẻ tiểu nhân, chứ không phải chỉ nhìn nhận phân biệt đơn sơ giữa “nghĩa” và “lợi”.

Ngày hôm nay, chúng ta không hướng đến một xã hội có những cá nhân tỏa hào quang của thánh nhân mà là một xã hội với những định chế vững vàng và có khả năng kiềm tỏa quyền lực chính trị, bảo vệ tự do cá nhân. Sự hô hào đạo đức, nhân văn chẳng thể mang lại nhân văn, đạo đức thật; chỉ khi nào người ta bị buộc phải hành động như thế nếu không họ sẽ bị loại bỏ, trừng phạt thì lúc đó xã hội mới tiến bộ được. Vì vậy, xin hãy để tâm thức Khổng Nho cùng những giá trị mà nó xiển dương lùi vào quá khứ, nhường đường cho những giá trị mới.

Huỳnh Thục Vy
Tam Kỳ ngày 10 tháng 10 năm 2012