vietsoul21

Archive for the ‘Cộng Đồng’ Category

Thiên tai – thiên tài – thiện tai

In Cộng Đồng, Thế giới, Việt Nam on 2011/03/22 at 18:25

Thiên tai: Động đất, sóng thần (cùng với rò rỉ phóng xạ lò nguyên tử) tại Nhật tàn phá khủng khiếp. Toàn dân Nhật và thế giới đồng chia sẻ niềm tin rằng nước Nhật sẽ vượt qua tàn phá của thiên tai vì người Nhật có lòng tự trọng, tính can đảm, và tinh thần cộng đồng.

Thiên tài: Tập đoàn nhà nước Vinashin phá sản, được “tái cấu trúc”, “kiểm tra” bởi 14 thiên lôi “thiên tài đảng ta” nên cuối cùng không ai chịu trách nhiệm. Kết luận này chính là “quả đấm thép”  đấm vào mặt nhân dân làm choáng váng, xây xẩm mặt mày, lè lưỡi chết ngất. Một đám thiên lôi vô liêm sỉ, vô đạo đức, vô nhân, vơ vét về riêng. Toàn dân Việt Nam biết chắc đám thiên lôi này đang dẫn đất nước “xuống hố cả nút”.

Thiện tai: Thiện tai! Thiện tai! Cù Huy Hà Vũ. Vì tổ quốc, vì dân tộc, can trường, bất khuất.

(Phản) Phản Biện và Sự Thật

In Cộng Đồng, Chính trị (Politics), Tạp văn on 2011/02/18 at 01:52

BBT: Chúng tôi cài lại bài này vào trang nhất góp phần vào các ý kiến về “trí thức”, phản biện, và “đối lập trung thành” liên quan đến các bài báo, phỏng vấn nhà văn Phạm Thị Hoài, Võ Thị Hảo, GS Chu Hảo, Ngô Bảo Châu, Nguyễn Minh Thuyết …

VietSoul:21

“Kiến thức và sự thật chỉ là một chiều, tùy theo bối cảnh, chủ quan, nhuốm đuộm quyền lực, và liên quan đến người trong cuộc. Sự từ chối các giá trị, những thành kiến, và chính trị là không thực tế và chả ai muốn.”

(Hesse-Biber, 2012, p. 9)

Truth_Václav Havel_E&V

Hổm rày đọc báo mạng thấy nhiều “phản biện” và “phản-phản biện” đến một vài bài viết. Sôi nổi hơn hết là những (phản) phản biện với hai bài viết tựa đề “Vì sao chưa thể có một biến cố như Tunisia ở Việt nam” và “Không th b cong s tht đ t ru ng mình và bn đc[i]. Chúng tôi đã góp ý chung cho hai bài viết này tại trang đăng bài. Thế nhưng vì muốn được “nhân dân”[ii] ủng hộ nên xin góp thêm một vài ý nữa.

Những điều mà chúng tôi đóng góp thêm sau đây thuộc về bn cht và tác dng ca s lm dng phn bin cũng như mối liên hệ đến hoang tưởng sở hữu sự thật. Ngoài ra bài này biểu lộ sự hoài nghi của chúng tôi về tính toàn bích của “phản biện” (tìm cái tối ưu và thuyết phục, minh bạch, và duy lý) được đưa ra trong bài viết “Phản biện[iii] gần đây. Chúng tôi muốn giải mã những lý luận, không nhắm vào “người đưa tin” (shooting the messenger). Mong rằng cũng nhận được sự phản biện về bài viết này nằm trong tinh thần lắng nghe và xây dựng.

Theo chúng tôi thì phản biện mà không tham gia chính trị là lối diễn luận “hơi bị quen” của nhiều thành phần thuộc vào các khối bất vụ lợi, xã hội dân sự, và trí thức trong và ngoài nước. Đây là một hiện tượng chung của hằng hà sa số trong đó đầy đủ các biện luận bào chữa và gián tiếp giúp thể chế đang vận hành tiếp tục củng cố và đứng vững.

Thành phần tự cho mình đứng trong vị trí này thường có đánh giá thiên lệch trong tự mãn và dễ dẫn đến sai lầm, nhất là những lúc khư khư quả quyết rằng “chính trị” chuyên mang nghĩa tiêu cực và thủ đoạn. Đó là sự nhập nhằng đánh đồng giữa tư cách chính trị, vị thế chính trị, quan điểm chính trị, và hành xử chính trị đối với chấp chính (các đảng phái chính trị tranh giành quyền chấp chính).

Những ai tự xưng mình chỉ “phản biện mà không tham gia chính trị” thường là lẩn quẩn lòng vòng với ngụy biện mặc dù có lẽ biết bất cứ bước nào mình chọn đi, hay chỗ nào mình chọn tới, cũng hàm chứa ý nghĩa chính trị. Dù kiểu chính trị tối thiểu chỉ dừng lại nơi chốn có lợi và vô hại cho cá nhân mình mà thôi.

Quan điểm “không tham gia chính trị” thật ra là một thói quen “khoanh vùng” (mặc áo giáp, đặt hàng rào chống B40) của những người dân sống ở các chế độ độc tài áp bức, hay ứng xử cố hữu của các sắc dân thiểu số trong những xã hội mang danh “dân chủ tự do kiểu Tây” (Western Liberal Democracy). Đó âu cũng là một vị trí bảo thủ nhằm mua được sự an toàn tránh bị “điểm mặt”. Thế nhưng việc họ có thể trốn/tránh được bạo quyền đàn áp hay không thì là một chuyện khác. Hay là rốt cuộc họ cũng bị đì ì xèo bởi các “đầy tớ” quan thầy.

Hơn 30 năm sống hải ngoại chúng tôi chưa thấy có công dân xứ sở tự do (Hoa-kỳ đây chẳng hạn) nào phải mào đầu tự “khoanh vùng” khi ứng xử hay đối thoại về chính sách và chính quyền. Đôi lúc họ tránh né tranh luận chính trị vì bất đồng chính kiến chứ không cần phải bảo kê cho mình bằng cách tuyên xưng vị thế “phi chính trị”. Riêng người Việt hải ngoại thì cũng không ít kẻ nhóm vẫn còn la chai bải “không tham gia chính trị” vì ám ảnh nặng nề của tâm thức nô lệ hậu-thực-dân.

Chúng tôi tin rằng đa số những người Ai-cập xuống đường trong hơn ba tuần không phải là những người có ý nghĩ “tham gia chính trị” hoặc đi làm “cách mạng”. Họ chỉ ứng xử một cách tự nhiên như “con giun xéo mãi cũng quằn” với tư cách công dân để đòi hỏi quyền làm người của họ mà thôi. Sau khi vượt qua nỗi sợ họ từ chối “khoanh vùng” cho mình là thuộc giai cấp công nhân, nông dân, hay trí thức gì gì ráo. Họ xuống đường với tư cách là công dân và những hành động của họ tự mang một quan điểm chính trị.

Không phải phong trào đấu tranh trên thế giới nào cũng có sự hiện diện của thành phần trí thức chuyên năng nổ trong công tác phản biện. Đa phần họ chỉ là những người thích tập trung tư duy để quan sát, so sánh, và phân tích (dù có ngụy biện hay không) sau khi các cuộc đấu tranh xuống đường đang xảy ra (dù thắng hay bại) hay đã chuyển sang chợ chiều để đi vào hoàng hôn tắt ngấm.  Nếu có tham gia vào công việc đấu tranh thì họ chỉ thực hiện vào giai đoạn cuối khi mọi chuyện sắp đến hồi kết cuộc—máu đã đổ và mồ hôi nước mắt đã cạn. Vì không có quyền lực nào tự bằng lòng cho sang nhượng mà chỉ phải tranh lấy mà thôi.

Cổ xúy, tham gia, và thực hiện phong trào đấu tranh dân chủ trong cảnh tỉnh bất bạo động là một việc nan giải đòi hỏi đám đông thắng được sự sợ hãi.  Và cuộc nổi dậy phát khởi nào mà không bị dập tắt thì không thể thiếu làn sóng kích thích phát xuất từ một nhân tố hay sự kiện chấn động lòng người. Tuy nhiên, đấu tranh xuống đường không phải là không thể xảy ra, nhất là khi có “nhân hoà” trong tinh thần tự phát đồng điệu, hoà hợp với “thiên thời” và “địa lợi”.

Khi đấu tranh nổi dậy xuất hiện thì nó đến bất ngờ như vũ bão.  Không một nhà bình luận, phân tích chính trị nào đoán trước nỗi. Tiếc thay đa số họ (nhất là các nhà quan sát Tây Phương) lại châm bẩm vào tính chất máy móc của cuộc cách mạng để chất vấn “Tại sao nó lại xảy ra vào lúc này?” và “Chuyện gì sẽ xảy ra kế tiếp?” nên thường lạc điệu, lỗi nhịp với thời điểm và ý nghĩa lịch sử quan trọng của cuộc cách mạng nổi dậy đó.[iv]

Tranh đấu cho công bằng xã hội của hết thảy chứ không chỉ riêng mình là việc nhiêu khê—lợi ít hại nhiều cho bản thân. Ông bà ta chẳng từng có câu “ăn cơm nhà vác ngà voi” đấy sao! Công việc tích cực góp sỏi, lót đường, xông xáo không ngại gian nan trong khi đòi hỏi tự do nhân phẩm và quyền làm người thì lúc khởi đầu khó có sự hiện diện của những ai thụ động và câu nệ xốc vác. Nói trong hùng biện thì dễ nhưng tay lấm chân bùn thì khó.

Tác giả Việt Hoàng cũng đã khẳng định như thế trong một bài viết về sự thờ ơ né tránh tham gia phong trào đấu tranh đòi dân chủ của các đại gia, trọc phú, và doanh nhân Việt Nam. Tác giả đã nói tiếp,

Tôi cho rằng không phải dân trí người Việt Nam kém mà ý thc ca tng lp trí thc Vit Nam kém. Nếu không kém thì trí thc Vit Nam đã làm được việc “khai dân trí, chấn dân khí” cho mọi người Việt Nam. Trước tình hình đất nước như hiện nay thì trí thc phi xem vic dn thân chính tr như là mệnh lệnh của lòng yêu nước và trí thức phải nhận lãnh trách nhim dn dt người dân và lãnh đạo đất nước.”[v]

Hiện tượng thờ ơ né tránh tham gia phong trào đấu tranh đòi dân chủ này liên hệ đến một điều quan trọng hơn nữa: “Tư duy phản biện có thể phân biệt, nhưng không thể tách rời khỏi cảm quan.” Không ai có thể quả quyết là mình nắm chắc hay biết được “sự thật”. Mọi quan điểm của cá nhân hay đoàn thể  đều xây dựng diễn giải từ quá trình học hỏi cũng như tích lũy kinh nghiệm sống riêng nhưng tất đều ảnh hưởng xã hội. Bất cứ quan điểm nào mà cá nhân hay đoàn thể đưa ra cũng không thoát khỏi giới hạn trong tầm nhìn được kết lũy từ quá trình diễn giải tương đối đó.

Václav Havel cũng đã từng trao đổi suy nghĩ của ông về sự thật với một phóng viên Tiệp lưu vong Karel Hvížd̕ala và đã được ghi lại trong quyển sách mang tựa đề “Quấy rầy hòa bình” (“Disturbing the Peace: A Conversation with Karel Huizdala“). Ông nói sự thật “không chỉ là chuyện của bạn nghĩ nó nghĩa là gì, nó còn được nói ra sao trong bối cảnh nào, nói với ai, tại sao, và được nói như thế nào.” (1990, trang 67). Rất nhiều bình luận (loạn) gia (pundits) đều cho mình sở hữu “sự thật” nhưng thật sự mọi người/đám đông thầm lặng chỉ mong muốn họ có và tỏ lộ được chút lòng chân thật. Những chuyện “lộng giả thành chân” vẫn nhan nhãn ấy thôi.

Phản biện hạn chế vì liên hệ đến địa lý tính, nhãn quan xã hội và hệ tư tưởng ăn sâu trong văn hóa.  Sản sinh của phản biện thì tùy theo lăng kính phụ thuộc cường độ chủ quan của lịch sử chính thống—loại lịch sử thường xóa sổ và cướp mất tiếng nói của những ai bị cho ra rìa, không có, hoặc mất vị trí trong xã hội. Đây là loại lịch sử đã gạn lọc và chỉ ghi chép các dữ kiện thuận lợi cho thành phần đương kim sau khi cướp quyền lực từ đấu tranh quần chúng.

Trong bối cảnh như thế thì đa phần các vị học giả trí thức chọn làm người “ngoài cuộc” mà vẫn “ăn theo”. Ăn theo đây không hẳn là trực tiếp hưởng được bổng lộc của cơ chế chính thống mà là lợi gián tiếp vì “bình chân như vại” ở đặc quyền (privileges) thuộc về chuyên gia. Chuyên gia thì bao giờ cũng được sử dụng và ưu đãi bởi người cầm quyền (phe tả, phe hữu) vì ta nằm trong phe nghiêng ngã.

Hơn thế nữa, chuyên gia xử dụng kiến thức và đặc quyền để dẫn đặt cái ảo tưởng huyễn hoặc là mình có “sự thật” định hướng suy nghĩ của đám đông quần chúng, và bất cứ lúc nào cũng sẵn sàng nói hộ giùm cho (phó) thường dân. Dĩ nhiên, chuyện mặt bên kia của đồng tiền cũng rất quan trọng:  ai được chọn cho phát biểu phản biện. Sự lựa chọn thiên vị đó không nằm ngoài sức mạnh của đồng tiền và quyền lực của một hệ thống nhập nhằng giữa nhà nước, cơ quan truyền thông, các cơ quan cung cấp ngân quỹ (còn gọi là “Sáng viện” hay “sáng hội” tức foundation), và giới chủ nhân ông.[vi]

Ông Thomas L. Friedman/một nhà bình luận cho tờ báo NY Times—người từng bị lên án nhiều lần khi ủng hộ chiến tranh Iraq và thiên vị Israel trong khi có nhiều lời lẽ miệt thị các dân tộc Ả rập cũng như từng bị chỉ trích bởi những người hàn lâm cánh tả và phe chống tự do thương mại toàn cầu hóa tại Hoa Kỳ—thì vừa rồi cũng đã khéo gác phản xạ lý trí chuyên gia của mình sang một bên để tường thuật lại cuộc cách mạng nhân dân Ai-cập như sau:

Khi do lòng vòng [ti quãng trường] ai cũng nghe thy toàn là những hy vọng bị đè nén, những khát vng và thất vọng suốt 50 năm qua của người dân Ai Cập. Tôi biết các nhà chuyên gia “thc tế” đang cho rng tt c không chóng thì chy s b dp b. Có th chúng sẽ bị dẹp tan. Nhưng trong những khoảnh khắc tỏa sáng ngắn ngủi này thì xin hãy quên đi các v chuyên gia và ch cn lng nghe thôi. Bạn chưa từng nghe được như thế này trước đây đâu. Đó là âm thanh của người dân tng đã quá lâu bị cướp đi và rt cuc đã tìm li được, đằng hắng thử âm ging và hân hoan ct lên tiếng nói mình.”[vii]

Đó là chưa nói đến hai lăng kính khác. Theo thuyết nữ quyền (feminism) (gọi chính xác hơn là nam nữ bình quyền) thì phản biện nặng tính chất “đực rựa” do đó không tạo được hợp quần đoàn kết. Cứ tham gia chơi trò đá gà, đá cá (lăn dưa), hay đấm (đá) bốc Muay Thái thì biết. Ngoài ra, phản biện xuất phát từ “kỹ nghệ triết lý” từ thời Socrates rất xa xưa của nền văn minh Tây phương nên luôn luôn trọng lý thiếu tình, và đã gạt bỏ hẳn cảm tính cho vị tha bao dung.

Giới hàn lâm phương Tây từng bị nghẹn họng vì lậm duy lý và loay hoay chưa cách nào thoát nỗi cái cạm bẫy đầy trắc trở của diễn luận “sự chọn lựa hợp lý” (rational choice discourse), nhất là sau khi Descartes đã kiên định sự hiện hữu của ông ta là nhờ “biết dùng cái đầu” (từ ngữ trong bài viết “Vì sao chưa thể có một biến cố như Tunisia ở Việt nam”; còn nguyên văn của Descartes là “I think therefore I am”). Nói như thế không có nghĩa là chúng tôi phủ nhận cái lý luận/phản biện nhưng cần vạch ra tình/lý của mọi sự việc.

Diễn luận không giúp ích gì được cho cuộc đấu tranh giải phóng giúp bản thân ta và người khác khỏi nạn “nội thực dân[viii] trong các xã hội ngổn ngang những bất công và đau khổ.  Sự chọn lựa (mê sảng) duy lý này làm thui chột tâm hồn và nhân cách khi ta buộc chạm trán với tương quan giữa người và người (I- and-thou).[ix] Một sự chọn lựa duy lý trong vô thức nhưng tạo tràn đầy phản xạ thèm thuồng ghen tị của đám đông làm ta quên tình tha nhân và gạt bỏ lòng bồ tát, do đó dẫn đến việc coi thường chuyện con người cần vượt qua bản ngã và cái tôi.

Thứ ba, phản biện không tạo được đối thoại. Cứu cánh cho phản biện là phải tiếp tục sản xuất kiến thức theo đơn đặt hàng (ví dụ mong số lượng người nghe và đọc tăng cao) và trọng vị cá nhân hóa. Rất nhiều khi phản biện chuyên chở thành kiến chỉ trích, hay mang khinh ghét, và tạo phê phán nhục mạ (do vô thức hay có chủ ý) trong lúc đề cập đến và đánh giá các lập trường của các nhân vật hay lực lượng đối kháng nhau.

Thói (chứng) phản biện mang nặng tính giả thuyết (và nhiều khi thiếu bối cảnh quan) nhưng đội lốt hành xử khéo léo trong chủ quan kiêu hãnh rằng lập luận của mình thì là phải đúng.  Phản biện do đó tiềm ẩn gốc rễ bạo động vì nó dập tắt tương quan đối thoại.  Dĩ nhiên không có tương quan đối thoại thì không thể nào cổ động hô hào cho “hòa hợp hòa giải” hầu chuyển hóa tình cảnh mâu thuẫn bế tắc.

Chúng tôi ghi nhận nhiều viễn quan về đoàn kết và xây dựng trong các bài viết nhưng không may do tính duy lý trong phản biện đã gây phản tác dụng và đưa đến kết cuộc là chỉ sinh ra hàng loạt dây chuyền (phản) phản biện.

Phản biện tự nó không chỉ dừng ở trò chơi cá cuộc của hùng biện diễn luận và những cuộc bút chiến.

Nó còn là biển mê hoặc làm chúng ta chìm đắm nhanh chóng vào sóng đời tranh nhau vài mảnh bánh vụn vơi rãi dưới đất. Từ đó quên bén đi ai đang tỉnh bơ thuổng cả chiếc bánh trên bàn vào túi của họ. Không cần là chuyên gia thì ai cũng biết chuyện gì sẽ tiếp diễn xảy ra khi kẻ “cướp ngày” tiếp tục ung dung nắm giữ quyền lực một cách dễ dàng vì đã thuổng trọn chiếc bánh rồi mà.

© 2011 Vietsoul:21


[ii] Nhân dân, Nguyễn Hưng Quốc, VOA, 14/2/2011

[iii] Phản biện, Nguyễn Hưng Quốc, VOA, 11/12/2010

[v] Doanh nhân và dân chủ, Việt Hoàng, Thông Luận (số 255), 02/2011

[vi] Chứng quên tập thể, VietSoul21, 13/08/2010

[vii] Speakers’ Corner on the Nile, Thomas L. Friedman, NY Times, 7/2/2011

[ix] I-and-Thou, Martin Buber


Chúc Mừng Năm Mới – Tết Con Mèo

In Cộng Đồng, Việt Nam on 2011/01/30 at 22:57

Đầu xuân Tân Mão thân/kính chúc ông bà, cô bác, bạn hữu xa gần một năm mới tràn đầy hy vọng, an khang, thịnh vượng, và hạnh phúc. Chúc dân tộc Việt Nam sớm thoát xiềng xích độc tài, khỏi lầm than cơ cực, được tự do dân chủ, có mọi quyền làm người, sánh vai cùng nhân loại.

Mừng xuân mới xin đừng quên tinh thần dũng cảm của nhân dân Ai Cập. Họ đang kiên trì lên tiếng và tiếp tục cam chịu nhiều đau đớn vì bạo lực của chính quyền trên đường phố. Họ chỉ đòi hỏi cải cách dân chủ và những quyền làm người căn bản sau 30 năm sống với bạo quyền.

Quý vị và các bạn có thể theo dõi tin tức và hình ảnh cập nhật tại “Chống Chế Độ Độc Tài – Giải Nội-Thực-Dân

 

____________________________________________________

BBT: 2/17/2011

Vui hưởng xuân mới cũng không quên tinh thần đấu tranh xốc vác can đảm của nhóm Thanh Niên Hành Động Vì Đất Nước.  Xin cảm ơn nhóm Talamot vì được xem những video clips minh họa rất đẹp của các bạn.

Trường Sa – Hoàng Sa – Ta Là Một

Talamot: HS.TS.VN – Hoàng Sa & Trường Sa CỦA Việt Nam

Tuổi Trẻ Ai Cập – Tuổi Trẻ Việt Nam

Sau 18 ngày biểu dương lòng yêu nước, Tuổi Trẻ và Nhân Dân Ai Cập đã dành được quyền làm chủ vận mệnh và tương lai của chính mình. Tổng Thống Hosni Mubarak đã phải ra đi.

2011 – Tuổi Trẻ Ai Cập đã như thế.

2011 – Tuổi Trẻ Việt Nam ĐANG NGHĨ GÌ? – ĐẾN KHI NÀO?

Nguồn: Talamot

Phó thường dân (5): Con dân – con cá – cò mồi

In Cộng Đồng, Tạp văn, Việt Nam on 2011/01/21 at 10:17

Vietsoul:21

Phó thường dân (5): Con dân – con cá – cò mồi

[tiếp theo kỳ trước: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông]

Thời gian trôi qua hơn 35 năm tôi mới dám nghĩ lại đến phận đời phó thường dân của mình. Chuyện cũ, chuyện mới, chuyện ngắn, chuyện dài, chuyện bên ni, bên nớ.

Con Cá

Năm mới sắp đến bà con cô bác hải ngoại bắt đầu rục rịch chuyện đi về Việt Nam ăn/chơi Tết.  Ai nấy cũng rần rần chạy đầu trước, lục ngõ sau, hơ hớt hốt hụi cho chuyến về cố hương.

Việt kiều chính hiệu con nai vàng hay người rơm, người rừng nếu không về cuối năm thì cũng ráng gởi chút đỉnh cho anh em, họ hàng hưởng Tết. Dễ thường số lượng kiều hối chính thức cộng với kiểu gởi chui cũng đạt gần 10 phần trăm tổng sản lượng quốc gia chứ không phải chơi. Y chang đàn cá hồi Đại tây dương (Atlantic salmon) mà ông Tưởng Năng Tiến đã ví von về người Việt hải ngoại.[1]

Người ta nói con cá nó sống vì nước.  Vậy mà đám phó thường dân sau 1975 thì hết nước sống. Lớp bị bắt đi cải tạo lao động, lớp bị đánh tư bản mại sản bắt đi kinh tế mới. Lớp bắt đi thủy lợi, phải gia nhập thanh niên “xung phong” (không chịu xung phong thì gia đình bị tổ trưởng dân phố công an phường đến thăm hỏi dài dài). Thế nên mạnh ai nấy chạy tìm đường sống.

Ngay cả hiện giờ—trong thời kinh tế thị trường “định hướng xã hội chủ nghĩa”—cả đạo quân thời cửu vạn, ô sin lay lắt tìm nước sống. Không thiếu gì người phải bỏ nước ra đi làm người rơm, người rừng, theo dạng xuất khẩu lao động, thông hành du lịch mại dâm, v.v… cá cược đời tàn cho số mệnh nổi trôi, kiểu Vinashin ra biển lớn!

À mà ta đâu còn chủ quyền biển lớn nào nữa để mà ra? Anh cả nước lớn đã thè cái lưỡi bò dài thòng đớp hết. Tàu thuyền đánh cá nào xớ rớ anh ủi thẳng cho mà chìm xuồng. Ngay cả cỡ “sói biển” Mai Phụng Lưu cũng chào thua, đành chấp nhận bỏ biển, bỏ nghề sinh nhai.[2]

Đám cá hồi này ra biển lớn, trầy vi tróc vẩy, chịu làm mồi hà bá.  Nên có gì đáng ngạc nhiên đâu khi mỗi lần về nguồn là hết xíu quách. Vậy chứ mà xem VTV4 quảng cáo thì khác à nhen.

Việt kiều người nào người nấy cũng bộ kẻng súng sính, phốp pháp, nhởn nhơ, phơi phới. Những hình ảnh bóng mướt này được lồng trong những lời “ân tình” của bài ca con cá (“dù bất cứ ở đâu cũng chung dòng máu lạc hồng luôn luôn hướng về tổ quốc”).  Nghe cái bổn cũ soạn đi soạn lại kêu gọi thống thiết Việt kiều về đóng góp xây dựng quê hương hằng năm một này mà não lòng, rụng rún.

Cò mồi

Năm Mão gần đến cửa rồi nên phó thường dân tôi nhìn lại năm Dần sau lưng để học kinh nghiệm. Lục lọi các tài liệu, và xem lại vài đoạn video trong lưu trữ thì gặp ngay cái cảnh đoạn Youtube tưng bừng “Tết Việt Kiều”[3] kiêm/kèm phóng sự “Đại hội Việt kiều” ở Hà Nội.

Hổng biết họ đào ra đâu được mấy người Vẹt kiều rất là “ấn tượng” để phỏng vấn. Tiêu biểu những khuôn mặt thì đủ mọi thành phần ca sĩ, văn sĩ, giáo sư, thương gia, cựu chính trị gia. Đủ xị. Những mặt sàng lọc này ca tụng hết cỡ cái tâm tình quê hương nghe thấy rơi ống điếu.

Dùng thủ thuật khêu gợi lòng luyến tiếc quá khứ thì chưa đủ thấm lòng những “người con xa xứ”—“Việt kiều là máu của máu, thịt của thịt, một bộ phận không thể tách rời của dân tộc”. Quá phải rồi, bán máu thịt xứ người đem về tiếp máu quê hương. Máu mủ gì. Đẩy người ta ra biển thâu tiền, đuổi người ta lên rừng khai hoang, đày người ta vào trại cải tạo lao tù.

Thêm một nhà văn(g) bên Đức hư cấu “con người không có hộ chiếu là con người vô gia cư”, “dù có tỷ đô cũng không thể mua đươc tiếng bánh chưng sôi lịt sịt bay qua lũy tre làng … có tiếng ríu rít của đám trẻ thơ đang chạy ở cái vườn nhà … hoặc là cái tiếng giết lợn eng éc… hoặc là cái tiếng bò kêu, cái tiếng gà gáy, ở Đức không có”. Mèn đét ơi, anh này văn(g) vẻ mùi còn hơn sáu câu vọng cổ hoài lang.

Ai đời có gã phát biểu, “Đảng ta đâu chỉ có một người nên không phải độc tài, đảng ta có nhiều người nên rất là dân chủ”. Dân chủ kiểu gì?  Kiểu “Đảng lãnh đạo (độc quyền, độc đoán, độc tài), nhà nước quản lý (theo chủ trương-đường lối-nghị quyết của Đảng), dân làm chủ (nhưng để Đảng “no” dùm bằng cách đứng tên sổ đỏ)” thì chính thị kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông rồi!

Rồi lại thêm một anh chàng GS mào đầu, “Chính phủ đã làm nhiều cho cởi mở, cũng như thể chế chính trị bắt đầu có cái hướng chấp nhận sự khác biệt”. Hổng biết chàng này ở bụi nào ra mà nói nghe quải thiệt. Cởi mở cỡ (hồi) nào đây cha?

Mẹ Nấm, cô Quỳnh, chỉ viết vài hàng tổng kết thành tích công an cuối năm, trích dẫn báo lề phải 100%, mà đã được mời lên phường (“uống trà”) nghe lên lớp. Cô Tạ Phong Tần, nhà báo tự do “liên quan” đến Điếu Cày và HS-TS-VN, thì được mời đi “uống trà” đến té đái! Chuyện công dân lên phường này mà không vượt kỷ lục trên toàn thế giới[4] như “chuyện thường ngày ở huyện” thì thôi.

Còn những ai được ưu ái hơn thì xin mời dùng “trà (nhà) đá”. Gần đây nhất là bà Hồ Thị Bích Khương, mục sư Nguyễn Trung Tôn, anh ba Sài Gòn đi nhà đá theo chân Điếu Cày, Cù Huy Hà Vũ, Đoàn Huy Chương, Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và cùng chung số phận với nhiều người đã phản biện với nhà nước trước đây. Đảng CSVN, chính phủ cởi (khóa) mở (nhà tù) tống giam những người đấu tranh dân chủ, nhân quyền, công đoàn, nông đoàn độc lập, tự do tôn giáo thì có. Cởi mở kiểu anh chàng GS này tiếp thị thì vái (dzái) dài thôi.

Trong đám Vẹt kiều này thì đặc biệt nhất là cặp đào/kép Tuyết Mai/Cao Kỳ thiệt là nhập vai. Ngày xưa phó thường dân coi cải lương trên truyền hình mê nhứt là đào Thanh Nga và kép Thanh Sang. Cũng ưa không kém là kép Văn Chung chuyên đóng vai nịnh thần, gian thần, và dâm quan. Các đào kép đóng vai chánh tà rõ ràng nên cảm xúc thương ghét cũng rạch ròi.

Bây giờ xem cặp tài tử Tuyết Mai/Cao Kỳ thì hổng biết họ đóng cái tuồng chi. Văn Chung giờ đã về hưu. Còn Cao Kỳ về vườn từ lâu nhưng ráng đóng vai nịnh thần để lãnh “huy chương vàng” bỏ túi. Chắc chắn trăm phần trăm đạt danh hiệu nghệ sĩ ưu tú chứ không phải giỡn đâu.

Cặp đào/kép Tuyết Mai/Cao Kỳ kể lể đóng góp xây dựng đất nước cái kiểu kiếm cơm à la “thời thượng” không mất li ti sợi tóc nào. Đêm thì hát phòng trà “đem tiếng ca cho đời”, ngày thì hót món phở Mai “quốc hồn quốc tuý” để gầy dựng túi tiền. Hoặc ung dung ngồi sa lông tha thiết gởi lời ủy lạo chiến sĩ ngoài Hoàng Sa/Trường Sa. Thiệt tình hết thuốc chữa.

Mà tưởng kiểu gì! Chứ lối hành trình về với quê hương đem những năm tháng ngày thừa còn sót lại của đời mình để đóng góp như kiểu gánh hát Tuyết Mai/Cao Kỳ thì hết chỗ chê.

Phó thường dân tui thấy đảng và nhà nước nên làm mạnh đi—phải thực thi nghị quyết 36 cho thêm phần hiệu quả hơn. Đảng và nhà nước phải suy tính lập kế hoạch làm sao góp hết đám dân vô sản, phá sản, người rơm, người rừng cho về đóng bộ, nhận vai cò mồi (hay “cai thầu văn hóa nô dịch”) để diễn tuồng cho đỡ đời cơ cực.

Phó thường dân tôi chợt nhớ lại lúc thời đi học xa nhà phải đón xe lam. Ở bến xe nào bao giờ cũng có mấy tay bịp bài ba lá. Mấy tay này luôn có đám cò mồi bảnh bao đứng chung quanh đặt tiền và nhà cái chung tiền cho cò mồi tá lả. Thấy tưởng như thiệt! Đám cò cười hể hả quơ tiền vào túi trong khi luôn miệng thúc người khác cá tiền vào. Nhiều người thấy quá dễ, đặt tiền độ, được cho nhử ăn ván đầu, rồi được đám cò hùa thêm vào, tưởng bở nên hăng máu chơi xả láng. Thế là sạch túi.

Còn nữa. Ngoài đám cò mồi thì lại có thêm giới Vit kiều thời thượng: sáng (cà) phê, phở; trưa sushi, bulgogi, martini; chiều pasta, vodka; tối phòng trà, ta cứ tà tà.

Không phải Việt kiều hồi hương, cũng chẳng là cựu lưu vong (expat). Phải gọi cho đúng tên đúng mặt để chẳng hổ ngươi.

Đây là những nhân vật đã nhập vai đô thị toàn cầu (cosmopolitan) nhuần nhuyễn chỉ dừng chân lãng tử (sojourner) nơi này. Họ tự gắn víu vào thời trang đương đại, va vịn trong văn hoá đa chủng, và sành điệu siêu kỹ nghệ. Họ khoác áo “tân thực dụng” (neo-pragmatism), đóng vai trùm tác nhân cung phụng cho hệ thống tư bản tài chánh xuyên quốc gia, và dĩ nhiên không cần ngâm nga hay gồng mình trong hoạt cảnh khi chọn vai đóng làm nhịp cầu tạo lợi nhuận cho giới thống trị (cả tư bản xanh lẫn tư bản đỏ).

Những đào kép ni chỉ nghĩ cho riêng mình (me, me, me, and me), và mong vơ được tất cả (having a cake and eat it too). “Thu tiền đô, chi tiền đồng”.  Thế nhưng lúc nào cũng sướt mướt đầu môi, rung rung xúc động trước ống kính thu hình để tuyên bố “làm một cái gì cho đất nước”.

Thôi đi má!  Kỹ nghệ phở (bên) Tây thì cạnh tranh không nổi nên đành về vùng đất (thị trường) sơ nguyên ( “Vietnam is still a virgin land!”) để mở Ph Ta hồi 9 giây, 9 phút, 9 giờ ngày 9 tháng 9 năm 2009—mơ “làm thời trang cho sợi bánh phở Việt nam” trở thành “một nét văn hóa thưởng thức thức ăn truyền thống Việt cao cấp”. Thời mở cửa ít xe đạp mà lắm xe máy, nhưng ta về ta đi ô tô (Tadioto) ngao du Ba Vì (Đình) cho bảnh bao nghệ sĩ.[5]

Quanh đi quẩn lại thì vẫn mòn gương mặt cũ, vài phát ngôn(g) viên đại diện (ai cho / cho ai) Việt kiều để mại dô hàng độc.

Con dân

Qua đại hội XI, Đảng CSVN lại “vũ như cẩn”—qua cương lĩnh xây dựng đất nước trong “thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” và “hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Người dân nghe xong mà không tán thán “bótay.com” hay bị tâm thần phân liệt (schizophrenic) thì cũng là chuyện lạ. Cứ như là tay phải tát má trái, và chân trái đá mông phải, nói một đằng làm một nẻo, nửa gà nửa vịt nửa đười ươi. Ai hiểu nổi cái “quá độ chủ nghĩa xã hội” là cái quái gì.

Thiên hạ chỉ thấy công an quá quắt, cán bộ quá quắt, và bộ chính trị trung ương đảng quá quắt.  Đám “đầy tớ nhân dân” tác ai tác quái quá độ này tùy tiện coi trời bằng vung, coi dân là thằng.

Gần đây nhất Đảng đã đánh tiếng là sẽ chủ trương thí điểm kết nạp chủ doanh nghiệp tư nhân. A hèm, vậy chứ khẩu hiệu “công nông” giờ bỏ đi đâu đây? Hay là đổi thành “thương công nông”? Chắc dzậy rồi. Chỉ đáng thương cho người nông dân bị mất đất khiếu kiện từ năm này qua năm nọ không ai giải quyết. Thật đáng tội cho người công nhân lao động bị bóc lột, lương chết đói chẳng một công đoàn nào trợ giúp.

Thiệt ra chủ trương “đảng hóa” doanh thương này là một hình thức hợp thức hoá cho băng đảng CSVN tạo chuỗi rễ trong thương nghiệp tự do để nắm trọn hai đầu doanh nghiệp nhà nước (DNNH) và doanh nghiệp tư nhân. Đảng CSVN trở thành chủ xị lãnh tiền bảo kê và nhà cái ăn tiền xâu. Những doanh nghiệp tư nhân vào Đảng sẽ được bảo vệ. Doanh nghiệp tự do sẽ là đám con ghẻ. Hơn chuyện Tấm Cám là chắc.

Kết quả? Dân ta bị đặt đâu ngồi đó như là con dân. Bộ chính trị, trung ương đảng còn hơn bố của dân.

Ngày xửa, ngày xưa (ít gì cũng xưa hơn thời cha sanh, mẹ đẻ của phó thường dân này) ở thời vua chúa, con trời (thiên tử) trị vì thiên hạ thì ông vua coi dân như con. Còn bây giờ ra rả, oang oang trên loa phường là Việt Nam đang phăng phăng sang “thời kỳ quá độ” mà sao quay lại thời phong kiến hồi nào vậy cà?

Tưởng qua rồi tháng ngày “con vua thì lại làm vua, con sải ở chùa phải quét lá đa”. Sao bây giờ có chuyện sắp xếp sắp xếp trắng trợn cậu ấm Nông Đức Tuấn (con cựu TBT Nông Đức Mạnh), Nguyễn Thanh Nghị (con TT Nguyễn Tấn Dũng) thành ủy viên “ưu tú tài đức”?  Đám thường dân, phó thường dân vậy rồi thì là mà…sẽ khó (khổ) ba (vạn) đời[6]. Làm sao sống với lũ này được!

Người dân đâu phải là con giun, cái kiến để cứ bị dày xéo mãi. Người dân không phải là con dân. Phải trả quyền công dân, quyền làm người cho nhân dân Việt Nam.

Người dân không là con cá, chẳng phải con cò. Họ là những Công Dân.

© 2010 Vietsoul:21

[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu – (8) Gió mưa là chuyện của trời … – (9) Vô liêm sỉ – man rợ – (10) Phế-anh-hùng – (11) Luật Lệ(nh) … – (12) Nhà em có nuôi một con két … – (13) Cái nhà là nhà của ta … – (14) Mèo – thỏ  – (15) phố vẫy …]


CHÚ THÍCH:

[1] Tưởng Năng Tiến – Năm Cọp Nói Chuyện Cá, talawas

[2] Làm gì khi ngư dân bỏ biển?, Bauxite Việt Nam

[3] Tết Việt kiều (1, 2, 3)

[4] Chuyện Hà Sĩ Phu & mấy con đinh vít – Tưởng Năng Tiến, Đàn Chim Việt (danchimviet.info)

[5] “Viet Kieu”, overseas Vietnamese, are moving home

[6] Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời, Dân Làm Báo (danlambaovn.wordpress.com)


Các bài liên h:

Chứng quên tập thểCollective Amnesia and Rhetoric of Mobilized Participation

Tôi là người Việt Nam

Chúng tôi (Tự trào – Trí Thức – Tâm Tài)

Những cái nhập nhằng không tênThe Unspoken Ambiguities

Thời cửu vạn, ôsinThe Age of Day Laborer and Housemaid

Lết tới “thiên đường”

Chúng tôi (Tự trào – Trí Thức – Tâm Tài)

Bịt miệng nạn nhân

Tháng Tư Câm

Phản bội hay trung thành với lý tưởng?

tưởng niệm Cao Xuân Huy, tác giả truyện ký Tháng Ba gãy súng

In Cộng Đồng, Văn Chương on 2010/11/15 at 18:00

BBT: Theo tạp chí mạng Da Màu thì “Nhà văn Cao Xuân Huy, tác giả truyện ký Tháng Ba Gãy Súng, đã vĩnh viễn chia tay bạn đọc và thân hữu vào lúc 4:50 chiều thứ Sáu 12.11.2010 tại tư gia. Cũng như nhà văn Thảo Trường, người đã ra đi cuối tháng tám 2010 vừa rồi, Cao Xuân Huy là một cây bút cầm súng. Tuy vậy, có một điều khác biệt giữa hai nhà văn quá cố này, Thảo Trường sáng tác trong và sau đời sống quân ngũ, còn Cao Xuân Huy chỉ cầm bút sau khi súng đã gãy! Cho nên, Tháng Ba Gãy Súng là tiếng kêu thống hận của người lính, và chỉ kêu một lần. Rồi thôi!” Xin gởi bạn đọc hai đoạn trích dẫn về cuộc đời văn nghiệp và binh nghiệp của Cao Xuân Huy dưới đây.

TVT: Động lực gì đã thúc đẩy anh cầm bút? Phải chăng là gen của ông già?

CXH: Tôi viết vì bực mình anh ạ. Một anh – có thời đã từng làm Thủ Tướng của miền Nam chúng tôi – vào những ngày cuối tháng Tư 75, kêu gọi mọi người ở lại chiến đấu, nhưng chính anh ta lại “tếch” đi Mỹ ngay sau khi hô hào. Ở Mỹ, anh ta vẫn tiếp tục ồn ào trên báo chí: “Làm mất nước là tội chung của mọi người, lớn tội lớn, bé tội bé.” Đọc thấy câu này, tôi văng tục. Những thằng lưu manh thường lớn họng, những thằng hèn thường chiến đấu đến giọt máu cuối cùng của… người khác. Tôi là một trong những “người khác”, đánh nhau đến viên đạn cuối cùng để rồi bị bắt, bị tù đày vì những thằng lưu manh, hèn hạ đó, và bây giờ vẫn tiếp tục phải thấy và phải nghe những điều chó má như thế. Tôi viết là vì vậy.

TVT: Nếu cần nói một kỷ niệm sâu sắc nhất trong quá vãng, trong tư cách một người lính, thậm chí thất trận, anh sẽ nói điều gì?

CXH: Kỷ niệm ấy hả? Tôi ở lính hơn bảy năm và ở tù gần năm năm. Những kỷ niệm về chiến trận, những kỷ niệm về tù đày thì nhiều lắm. Vui buồn đều có cả. Nhưng điều đáng nhớ nhất lại không ở chuyện đánh trận hay chuyện tù đày, mà lại là chuyện nhục vì không bảo vệ được lãnh thổ, anh ạ. Tôi kể anh nghe. Tết năm 74, tiểu đoàn tôi đang nằm ứng chiến ở Phú Bài, Huế, thì xảy ra vụ Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa. Vì Hoàng Sa thuộc lãnh thổ của Quân Đoàn I, và tiểu đoàn tôi là lực lượng trừ bị của Quân Đoàn, nên chúng tôi được lệnh chuẩn bị ra lấy lại Hoàng Sa. Những chiếc thủy xa của Sư Đoàn đã từ Sài Gòn ra đến Đà Nẵng, tiểu đoàn tôi đã ở trong tình trạng sẵn sàng, chỉ còn đợi lệnh là xuống tàu. Thủy Quân Lục Chiến đi lấy lại Hoàng Sa là đúng “chỉ số” rồi. Gì chứ đánh nhau để bảo toàn lãnh thổ, lính tráng tụi tôi thằng nào cũng háo hức, tuy biết rõ rằng đi là chết, vì Hải Quân mình yếu hơn Hải Quân địch, máy bay mình lại không thể bay ra tới nơi để yểm trợ, nhưng đánh nhau để giành lại đất nước, từ quan đến lính chúng tôi, thằng nào cũng hăm hở. Vậy mà, không hiểu sao cuối cùng, thật buồn anh ạ, chúng tôi không được lệnh xuất quân. Tin tức và hình ảnh về những chiếc tàu của mình bị bắn chìm, những người lính đồn trú ở Hoàng Sa bị Trung Cộng bắt, được trao trả từ tận bên… Tàu, làm chúng tôi thấy nhục. Nhục chứ anh, địa danh nào ở trong tay Cộng Sản hay trong tay Quốc Gia thì cũng vẫn là của người Việt Nam mình, nhưng Hoàng Sa bị Trung Cộng chiếm mà không được đánh lấy lại, tôi nghĩ, chúng ta, cả miền Bắc lẫn miền Nam, đều có tội với tổ tiên, với cha ông. “Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu,” Hoàng Sa còn. “Một trăm năm đô hộ giặc Tây” Hoàng Sa còn. Ông cha ta chèo thuyền, giong buồm mà vẫn bảo vệ được những hòn đảo nhỏ xíu ở tận tít mù ngoài khơi. Vậy mà bây giờ, quân đội hai miền đều mạnh nhất nhì, đều thiện chiến nhất nhì thế giới, lại bỏ mặc một phần lãnh thổ lọt vào tay ngoại bang. Tôi hỏi anh chứ, chính anh, anh có thấy nhục không? Một trăm năm, một nghìn năm nữa, hay đến tận bao giờ chúng ta mới lấy lại được Hoàng Sa? …

 

 

Nguyên bài

Tản mạn với Cao Xuân Huy (trích từ “nếu đi hết biển” của Trần Văn Thủy)



Collective Amnesia and Rhetoric of Mobilized Participation (complete version)

In Cộng Đồng, Chính trị (Politics), LittleSaigon - Seattle, Việt Nam on 2010/10/03 at 17:04

A NOTE on the Essay:

This is the VietSoul:21′s original essay sent to the San Jose Mercury News in response to the Op-ed titled “It’s time to stop fighting the long-past Vietnam War” written by Sonny Le. For the 600-word short version, please click here.

The opinion editor Barbara Marshman then replied to VietSoul21,“Thanks for writing. Unfortunately, our word limit is 600, and this is over 1,600. If you would like to try writing a shorter piece that focuses on one or two clear opinions, I’d be happy to look at a draft. Since it would appear some time after the July 27 opinion, I would write it as a stand-alone opinion, perhaps alluding to the other piece somewhere but not framing it as a response.” (On Wed, Jul 28, 2010 at 5:11 PM, Marshman, Barbara wrote).

We sent a short op-ed to her (and the whole editorial staff) but they would not respond back despite our repeated requests.

It seems prescient that we’ve asserted:  “San Jose Mercury News should promote with genuineness more than a sole opinion of one media consultant. Advocating for in-depth and reflective alternative of op-ed essays are in fact essential for the role of democratic media. Moreover, a willingness to imprint the power of shouts and silences to rise above the discourse of refugee nationalism and anti-communism should be more than a token inclusion of the unheard dissent voices.

The voices of the “Other” were silenced and unheard.

The Disintegration of the Persistence of Memory (Salvador Dalí, 1954)

In remembrance of those stories told “by the reed of being separated”, “pulled from a source”, and “longs to go back”… “This reed is a friend to all, who want the fabric torn and drawn away.”
(The illuminated Rumi, 1997)

Reading the opinion essay “It’s time to stop fighting the long-past Vietnam War[1] on July 27, 2010, we are relieved to see that the author was able to go beyond the naïve judgment of Ly Tong’s behavior as an “unacceptable” act of “so-called anti-American culture”—which was used strategically by Dũng Taylor, the show manager, and Đỗ Dzũng/Người Việt Daily News reporter to the BBC [2] to justify for greed and fear, and make excuse in favor of the discourse of a “whitening” refugee population.

Ly Tong’s individual act could be shamed and demonized as petty, evil, and uncivilized by many groups—the White and non-White Americans who believe in the US superiority of “democracy”, fans of the singer, profitable newspapers and entertainment industrial bodies, and overseas political opportunists as well as the corrupted Vietnamese Communist government. Yet, this “dark” move was carried out with a clear intent led to a successful result— singling out the intergenerational amnesia prevalent within and beyond the Vietnamese consciousness outside of Vietnam. The op-ed piece mentioned above was certainly written as one of such proof.

Not least to say, this judgment of “so-called anti-American culture” was strongly supported (the type of judgment implicated in the Americanized consent of a prevailing Whiteness[3] standard design) by most American-born Vietnamese youngsters who are either:

(1) assimilated to the updated racial ideologies—grounded yet in consumerism and individualism that led to passive politics masked as liberal cosmopolitan;

(2) internalized of racism alive well in the mind of the colonized in the West during the modern-day process of emptying the social and privatizing its vocabularies[4];

(3) ignorant of Vietnamese history and complex oversea community dynamics due to their socialized learning inherited from the monopolized anti-war and banking education approach[5] toward militarization and corporatization[6] of North America schools;

and/or

(4) becoming, more or less, the neocolonialists under the global politics in terms of privilege, power, and status—which are revealed through a willingness (for cooptation) to link with Vietnam by means of entertainment, business, education, cultural, and humanitarian network.

All of the above group thinking, regardless of admitted or not, has heightened the dichotomous split of success/failure of the VCP’s Politburo Executive Order 36[7]. These folks may not want to see that everyday living practice here and there is always about politics.

For the vocal group #4 mentioned above, they deeply feel as if they don’t belong regardless how hard they try in America. This surely applies to many beyond this certain group even though no one likes to admit. However, they do in particular desire relocating in Vietnam—where as long as they do not protest against oppression they could gain an advanced status and mobility because of their English language ability and Eurocentric-technocratic skills. Those specialty skills are abundant; yet, there are no job opportunities or just gained low-leveled positions in the “so-called diverse” societies like the U.S. or Europe.

Eventually, they aim to advance quickly in another “homeland”—where their vague or no childhood memory is re-membered, and skip the institutionalized racism experience in the West. Some even naively assume that if they close their eyes not seeing the vast suffering of veterans’ body limbs of North and South nor witnessing currently operating systemic violence, they would gain acceptance from the Vietnamese government. Then they could act and possess what they want for themselves, and become part of “a once more new liberated Vietnam”—the place where the American war experience could no longer be dialogued[8] because of its relations with the U.S.

Most importantly, we wish that the opinion essay was not a revealing rhetoric piece. Although race was brought into the picture of such enduring post-war conflict (which is not wrong), the author contradicted himself. He was either in illusion or daydreaming with an attempt to rouse and challenge the Vietnamese outside of Vietnam to speak up and protest against injustice caused by the US involvement with other countries—at present or earlier time.

The author appears overlooking the fact that the Vietnamese, like other marginalized communities, are small colonies dispersed throughout America. They mark in their own way an unofficial and untold history of more vulnerable exposure, hidden resistance, flexible strength, and decolonized agency without his involvement!!! Why did he not choose becoming an activist in the US working with the Vietnamese communities and other people of colors? Why chose to become a communication director for the East Meets West Foundation? Why so worrying that “The inhumanity and destruction of war should have been shoved down our throat. But if you do that, people won’t go to see it” at the Oakland Museum of California exhibition in late 2004?[9] To serve which spectators? Because of the artifacts and knowledge production collected through storytelling among the South Vietnamese would strike the American conscience a little?

One should walk the talk of the “real” with “political theatrics” rather than lamenting the “possibilities”. As the communication expert and media consultant, the author would be able to mobilize the OneVietnam Network[10] with more than 6,000 young fans to protest against any local injustice caused by the government officials toward the Vietnamese in New Orleans, Seattle, San Jose, Virginia, Iowa, etc. The author could follow his “calling” for pan-ethnic rallies against the US Congress regarding their utmost trading interests and a pretentious laissez-fair attitude toward human rights issues in Vietnam. He could also advocate for Vietnamese language preservation outside of Vietnam without a disturbing propaganda infiltrated by a cheap exported group of hired teachers from Vietnam to be currently placed in the U.S. higher education environment.

Unfortunately, together with other intelligentsias on both continents the author Le has lobbied these entrepreneurial young founders to assist the Asian Philanthropy network—an embedded web belonged to the “non-profit industrial complex”—a system of relationships between the state, both right- and left-leaning foundations, the owning classes, and conservative social service and social justice-based organizations. This complex system results in the surveillance, control, and everyday management of political movements. A movement-building outside the nonprofit model (that solely serves the desire of mainstream racial politics via funding monitoring and the politics of expertism) seems out of reach and beyond imagination for the author and other Vietnamese youngsters.

The author’s tone appears as if he is speaking from the progressive force for peace and only peace. He forgot his privilege of having choices to choose peace in this country or not—in fact any choices of these ironically cause destruction to the “Other[11]. The tone was also couched with a hidden embarrassment while being forced to face the messes of internal discord and division not only at the communal level. His tone was subsequently endorsed by several paternalistic comments in relations to forgetting and forgiving these few “bad apples” because “the future is key to this problem[12] for the post-memory generation’s sake!!!

The author, like many American-born Vietnamese and majority of the 1.5 generation, desires to be deafening to the inner rage and outer deviance rooted from the Vietnam/American War conflict. They long to cosmeticize the visible scar of the divided generational wounds to satisfy the neoconservative and neoliberal elites’ appetite. They could not arise beyond the charity mentality toward a liberated practice resisting violent force against human rights, here or else where. Their acts even perpetuate the dramatic shifts in power, technology, migration, trade and travel from North to South, from West to East, from the haves to the have-nots.

The author may think that he knows solutions for the dilemma caused by the colonialization of the Vietnamese diasporic psychic space. Does he understand that he is NOT the way out which the Vietnamese communities outside of Vietnam long to seek for?

The San Jose Mercury News should promote with genuineness more than a sole opinion of one media consultant. Advocating for in-depth and reflective alternatives of op-ed essays are in fact essential for the role of democratic media. Moreover, a willingness to imprint the power of shouts and silences to rise above the discourse of refugee nationalism and anti-communism should be more than a token inclusion of the unheard dissent voices.

For more than three decades, if these “deviants” shout out, they are pathologized as the “sick” and “crazy”, and told, “Go back to your country!” If they choose silence for various reasons, they are accused of being stupid (and convenient for structural manipulation and cultural erasure). If they are ambivalent but working hard, they are rewarded as the “good” minority to be modeled for other ethnic folks in pursuing “post-racial” American paradise. This catch 22 situation of course fits with the status quo and sustains structures of racial (and class) inequality.

These voices if expressed should not follow the sophisticated template invented by the contemporary “slave masters” (Frantz Fanon[13] and G.W.F. Hegel[14]). These alternative voices should not tailor to the blueprint mechanism functioning to serve the hidden yet domineering desire of Whiteness in the post-civil rights (or color-blind) era. Its everyday code, format, content, and pattern have suppressed the haunting national memories of the American war—a kind of memory lived only at the periphery of North American consciousness against the existing presence of the subjugated–the “FOB losers” seen as the fleeting phantoms.

Indeed, we need those grievant bodies of unchained shouts and mourning silences–rather than the imperial denial and silencing narrated from the official histories. Those bodies are to be acknowledged and performed for all, and definitely, not only in ordinary styles (i.e. elitist and poetic writing and printing) because “It’s time to stop fighting the long-past Vietnam War.”[15]

© 2010 VietSoul:21

NOTES:

[1] Le, Sonny (2010, July 26th). It’s time to stop fighting the long-past Vietnam War. San Jose Mercury News, Retrieved on July 26th, 2010 from http://www.mercurynews.com/opinion/ci_15590279?nclick_check=15590271

[2] Nguyễn, Hoàng. (2010, July 20th). Hành động ‘phi văn hóa Mỹ’? (An ‘Anti-American cultural’ act?). BBC Vietnamese, Retrieved on July 21st, 2010 from http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2010/2007/100720_dodzung_iv.shtml

[3] Cooks, L. (2003). Pedagogy, Performance, and Positionality: Teaching about Whiteness in Interracial Communication. Communication Education, 52(3), 245-257.

Cooks defines whiteness as “a set of rhetorical strategies employed to construct and maintain a dominant White culture and identities” (p. 246). In addition, McLaren defines in his article, Decentering Whiteness: In Search of a Revolutionary Multiculturalism whiteness as “a refusal to acknowledge how white people are implicated in certain social relations of privilege and relations of domination and subordination” (p. 9) [See McLaren, P. (1997). Decentering Whiteness: In Search of a Revolutionary Multiculturalism. Multicultural Education, 5(1), 4-11.]

[4] Robbins, C. G. (2004, September). Racism and the Authority of Neoliberalism: A Review of Three New Books on the Persistence of Racial Inequality in a Color-blind Era. Journal for Critical Education Policy Studies, 2(2), http://www.jceps.com/?pageID=article&articleID=35.

[5] Freire, P. (1970). Pedagogy of the oppressed (M. B. Ramos, Trans.). London, UK: Penguin. http://www.amazon.co.uk/Pedagogy-Oppressed-Paulo-Freire/dp/0826412769

[6] Saltman, K. J., & Gabbard, D. (2003). Education as enforcement: The militarization and corporatization of schools. New York; London: RoutledgeFalmer.  http://www.routledge.com/books/details/9780415944892/

[7] Bruin, T. (2004, June 17th). Vietnam’s Manifesto on Overseas Vietnamese Rings Hollow. Partito Radicale Nonviolento transnazionale e transpartito (Nonviolent Radical Party transnational and transparty),  http://www.radicalparty.org/en/content/vietnams-manifesto-overseas-vietnamese-rings-hollow

[8] Hayton, B. (2010). Vietnam: Rising dragon. New Haven, CT; London, UK: Yale University Press. http://yalepress.yale.edu/yupbooks/book.asp?isbn=97803001520

[9] Pogash, C. (2004, September 7th). NATIONAL DESK: In Imperfect Compromise, Exhibit Tells of Vietnam Era. New York Times, Retrieved on March 23rd, 2007, from http://www.pogash.com/vietnam.html

[10] Minh Anh. (2010). OneVietnam kết nối người Việt toàn cầu (OneVietnam links the Vietnamese on the globe). Voice of America (VOA News.com), Retrieved on July 3rd, 2010 from http://www2011.voanews.com/vietnamese/news/vietnam/onevietnam-2007-2003-2010-97732519.html

The OneVietnam Network was just launched about mid July 2010 from the Bay Area of North California region. It has been advised and supported by the East Meets West Foundation in pushing young Vietnamese overseas’ global connection and work of “non-political and non-past bitter grief,” according to Isabella Lai, one of its founders stated recently to the Voice of America reporter. Retrieved on July 3rd, 2010 from http://www1.voanews.com/vietnamese/news/vietnam/onevietnam-07-03-10-97732519.html%5D

[11] The “Other” is a philosophical term described in social science as “the processes by which societies and groups exclude ‘Others’ whom they want to subordinate or who do not fit into their society. The concept of ‘otherness’ is also integral to the comprehending of a person, as people construct roles for themselves in relation to an ‘other’ as part of a process of reaction that is not necessarily related to stigmatization or condemnation. Othering is imperative to national identities, where practices of admittance and segregation can form and sustain boundaries and national character. Othering helps distinguish between home and away, the uncertain or certain. It often involves the demonization and dehumanization of groups, which further justifies attempts to civilize and exploit these ‘inferior’ others.” http://en.wikipedia.org/wiki/Other

[12] “From Seattle”. (2010, July 26th). Future is our key to this problem (Reader’s Comment on the Opinon Piece, “It’s time to stop fighting the long-past Vietnam War”). San Jose Mercury News, Retrieved on July 26th, 2010 from http://forums.mercurynews.com/topic/opinion-its-time-to-stop-fighting-long-past-vietnam-war#comment-42981.

[Originally published with the nickname “From Seattle” written as the following paragraph: “I am 100% with you, Sonny Le, but I wouldn’t worry about that too much. The people like Ly Tong are just a few bad apples in our community. These bad apples wouldn’t look good in the basket for now, but when they are gone, which is not much longer, the sky will be much more blue. I had met with these people before, and trust me, I know, they are the most aggressive and unreasonable people on earth. But after all, they were once our parents, brothers, and sisters, and not much we can do about it. We can just leave them alone, that is in our culture. It doesn’t matter how crazy they are, we learned to respect the elderly and leave them alone, that what we do. The sad thing is that they’ve done so much damages to our community, but that’s OK too. We need to look at the brightside, there are many other good apples in the basket. The name like Ly Tong will be forgotten, but there are many names to be remembered like yourself, Sonny Le, Madison Nguyen, DVH, etc many many others, who had done so much for our community. For now, we just have to watch out and stay away the pepper spray for awhile, hopefully this problem will be vaporized in 5 or 10 years, but don’t let it bother us so much, just ignore them and leave them alone. Thanks Sonny Le!”]

[13] Fanon, F. (1967). Black skin, white masks. New York, NY: Grove Press

[14] Hegel, G. W. F., Miller, A. V., & Findlay, J. N. (1977). Phenomenology of spirit. Oxford, UK: Clarendon Press.

[15] See note [1].

Short version sent to San Jose Mercury News:

Collective Amnesia and Rhetoric of Mobilized Participation

Vietnamese version (also posted on talawas):

Chứng quên tập thể

Phản bội hay trung thành với lý tưởng?

Our other essays on talawas:

Bịt Miệng Nạn Nhân

Tôi là người Việt Nam

Chúng tôi (Tự trào – Trí Thức – Tâm Tài)

Những cái nhập nhằng không tênThe Unspoken Ambiguities

Thời cửu vạn, ôsinThe Age of Day Laborer and Housemaid

Lết tới “thiên đường”

Other essays on Da Màu Magazine:

Tháng Tư Câm

Hồn ma và xương khô

Collective Amnesia and Rhetoric of Mobilized Participation

In Cộng Đồng, Chính trị (Politics), LittleSaigon - Seattle, talawas, Việt Nam on 2010/08/13 at 12:43

A NOTE on the Essay:

This is a 600-word short version of VietSoul:21′s original (and longer) essay sent to the San Jose Mercury News in response to the Op-ed titled “It’s time to stop fighting the long-past Vietnam War” written by Sonny Le. For the complete version, please click here.

The opinion editor Barbara Marshman then replied to VietSoul21,“Thanks for writing. Unfortunately, our word limit is 600, and this is over 1,600. If you would like to try writing a shorter piece that focuses on one or two clear opinions, I’d be happy to look at a draft. Since it would appear some time after the July 27 opinion, I would write it as a stand-alone opinion, perhaps alluding to the other piece somewhere but not framing it as a response.” (On Wed, Jul 28, 2010 at 5:11 PM, Marshman, Barbara wrote).

We sent this op-ed to her (and the whole editorial staff) but they would not respond back despite our repeated requests.

It seems prescient that we’ve asserted:  “San Jose Mercury News should promote with genuineness more than a sole opinion of one media consultant. Advocating for in-depth and reflective alternative of op-ed essays are in fact essential for the role of democratic media. Moreover, a willingness to imprint the power of shouts and silences to rise above the discourse of refugee nationalism and anti-communism should be more than a token inclusion of the unheard dissent voices.

The voices of the “Other” were silenced and unheard.

Sự bền bĩ của ký ức (The persistence of Memory), Salvador Dalí (1931)

The Disintegration of the Persistence of Memory (Salvador Dalí, 1954)

Vietsoul:21

The judgment of Ly Tong’s behavior as an “unacceptable” act of “so-called anti-American culture” was framed strategically by the show manager and Nguoi Viet Daily News reporter to the BBC in favor of the discourse of a “whitening” refugee population.

Ly Tong’s individual act could be shamed and demonized as petty, evil and uncivilized by many—the White and non-White who believe in the US superiority of “democracy”, the singer’s fans, the profitable media and entertainment industries, the political opportunists, the corrupted Vietnamese Communists. Yet, this stealth move was carried out with a clear intent led to a successful result —singling out the generational amnesia prevalent within and beyond the Vietnamese consciousness outside of Vietnam.

This judgment of “anti-American culture” was strongly supported (with an implicated Americanized consent of prevailing Whiteness[1] design) by most young or American-born Vietnamese who are either:

(1) assimilated to the updated racial ideologies—grounded yet in consumerism and individualism that led to passive politics masked as liberal cosmopolitan;

(2) internalized of racism alive well during the modern-day process of emptying the social and privatizing its vocabularies;[2]

(3) ignorant of the complex community dynamics and history due to their socialized learning inherited from the banking education approach[3] toward corporatization[4] schools;

and/or

(4) becoming, more or less, the neocolonialists under the global politics in terms of privilege, power, and status—revealed through a willingness to co-opt with Vietnam by means of entertainment, business/education, and humanitarian network.

Such group thinking has heightened the dichotomous split of success/failure of the VCP’s Politburo Resolution 36[5]. They may not want to see that everyday living is always about politics.

Most deeply feel as if they don’t belong here. Due to limited or low-leveled jobs here, those #4 do desire also relocating in Vietnam—where as long as they do not protest against oppression they could gain advanced status. Some even naively assume if they chose not seeing the vast suffering nor witnessing systemic violence, they would gain Vietnamese government’s acceptance. Then they could “succeed” in “a new liberated Vietnam”— where the American war experience could no longer be dialogued[6] because of its relations with the U.S.

They desire to be deafening to the inner rage and outer deviance rooted from the Vietnam/American War conflict. Their voices are couched with a hidden embarrassment when being forced to face the social messes of internal discord/division. They long to cosmeticize the visible scar of the divided generational wounds to satisfy the neoconservative/ neoliberal elites’ appetite. They could not arise beyond the charity mentality toward a liberated practice resisting violence against human rights, here or else where. Their acts perpetuate the dramatic shifts in power, technology, migration, trade and travel from West to East, from the haves to the have-nots. The author of the op-ed “It’s time to stop fighting the long-past Vietnam War” is an apt example.

If the “deviants” shout out, they are pathologized as the “sick and crazy”, and told, “Go back to your country!” If they choose silence for various reasons, they are accused of being stupid (convenient for structural manipulation and cultural erasure). If they are ambivalent but working hard, they are rewarded as the “good and modeled” minority pursuing “post-racial” American paradise. This catch-22 situation fits with the status quo and sustains structures of racial, class inequality.

We must include multiple lenses to rise above the discourse of refugee nationalism and anti-communism. Indeed, we need the grievant bodies of unchained shouts and mourning silences–rather than the imperial denial and silencing of official histories. Those bodies are to be performed for all–not only in ordinary styles (i.e. elitist/poetic writing/printing). It’s healing time for the haunting screams of the long-past Vietnam War.

© 2010 VietSoul:21

NOTES:

[1] Cooks, L. (2003). Pedagogy, Performance, and Positionality: Teaching about Whiteness in Interracial Communication. Communication Education, 52(3), 245-257.

Cooks defines whiteness as “a set of rhetorical strategies employed to construct and maintain a dominant White culture and identities” (p. 246). In addition, McLaren defines in his article, Decentering Whiteness: In Search of a Revolutionary Multiculturalism whiteness as “a refusal to acknowledge how white people are implicated in certain social relations of privilege and relations of domination and subordination” (p. 9) [See McLaren, P. (1997). Decentering Whiteness: In Search of a Revolutionary Multiculturalism. Multicultural Education, 5(1), 4-11.]

[2] Robbins, C. G. (2004, September). Racism and the Authority of Neoliberalism: A Review of Three New Books on the Persistence of Racial Inequality in a Color-blind Era. Journal for Critical Education Policy Studies, 2(2), http://www.jceps.com/?pageID=article&articleID=35.

[3] Freire, P. (1970). Pedagogy of the oppressed (M. B. Ramos, Trans.). London, UK: Penguin. http://www.amazon.co.uk/Pedagogy-Oppressed-Paulo-Freire/dp/0826412769

[4] Saltman, K. J., & Gabbard, D. (2003). Education as enforcement: The militarization and corporatization of schools. New York; London: RoutledgeFalmer.  http://www.routledge.com/books/details/9780415944892/

[5] Bruin, T. (2004, June 17th). Vietnam’s Manifesto on Overseas Vietnamese Rings Hollow. Partito Radicale Nonviolento transnazionale e transpartito (Nonviolent Radical Party transnational and transparty),  http://www.radicalparty.org/en/content/vietnams-manifesto-overseas-vietnamese-rings-hollow

[6] Hayton, B. (2010). Vietnam: Rising dragon. New Haven, CT; London, UK: Yale University Press. http://yalepress.yale.edu/yupbooks/book.asp?isbn=97803001520

 

Original English version:

Collective Amnesia and Rhetoric of Mobilized Participation (Complete version)

Vietnamese version (also posted on talawas):

Chứng quên tập thể

Our other essays on talawas:

Bịt Miệng Nạn Nhân

Tôi là người Việt Nam

Chúng tôi (Tự trào – Trí Thức – Tâm Tài)

Những cái nhập nhằng không tênThe Unspoken Ambiguities

Thời cửu vạn, ôsinThe Age of Day Laborer and Housemaid

Lết tới “thiên đường”

Tháng Tư Câm

Phản bội hay trung thành với lý tưởng?