vietsoul21

Archive for the ‘Chính trị (Politics)’ Category

Phó thường dân (15): phố vẫy …

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2012/10/07 at 14:25

 

Mấy ngày trước đây là Trung Thu, trăng tròn, ở quê nhà thì tùng cắc tung lũ trẻ với lồng đèn chú cuội. Ở đây thì người ta gọi là trăng mùa gặt (harvest moon), cũng tròn như ở bên nhà chỉ có khác là không có đám trẻ con lăng xăng hớn hở rước đèn.

Nói đến trăng tròn thì phó thường dân tui chợt nhớ câu thơ “Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ, đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ nước Mỹ.”[1] trong tập thơ Cửa Mở của nhà thơ Việt Phương.  Riêng hai câu thơ này mới là cay đắng để đời nè nghe: “Tôi đã sống một phần hai thế kỷ. Ðể hôm nay làm đĩ với tâm hồn!

Nhà thơ Việt Phương tự thấy mình “làm đĩ tâm hồn” phục vụ cho cái chế độ cộng sản bịp bợm, thối nát khi đành đã bao năm nằm chung cái chăn đầy rận với các đồng “chí” chuyên nghề hút máu. Nhưng đáng tội hơn nữa nhà thơ ấy đã mở mắt, mở tâm hồn, mở cửa (“Mở đài địch như mở toang cánh cửa.”) nên sự nghiệp ông Thi sĩ kiêm thư ký của Thủ tướng Phạm Văn Đồng chưa bay qua cánh cửa thì đã bị treo bút “lặn không sủi tăm”.

Không riêng chỉ mỗi một nhà thơ này mới mở mắt, mở tâm hồn. Những người dù chỉ có một chút lương tâm rồi cũng không thể tự dối mình được nữa và thậm chí ân hận vì dây dưa với cái hủi cộng sản. Rất nhiều người (Hữu Loan, Hoàng Hữu Quỳnh, Hà Sĩ Phu, Bùi Tín, Tô Hải) ở lúc giữa đời hoặc chậm đến khi gần đất xa trời thì cũng bỏ đảng[2], lánh xa, tẩy rửa mặt nạ vô hình đã làm ô uế tâm hồn. Riêng nhà văn Dương Thu Hương thì tuyên bố thẳng “làm giặc” chống lại cái ác rồi từ chối cả “tự do ảo là khoảng sinh tồn của ngòi bút” và chấp nhận sống lưu vong. Gần đây hơn là TS Đỗ Xuân Thọ, anh Nguyễn Chí Đức, em Tô Hoài Nam bỏ đảng về với Nhân Dân[3]. Vì sao bỏ đảng – bộ phận quyền lực tuyệt đối trong nước?

Vì đảng ta vốn đã xây dựng được (XHCN) kỹ nghệ “đánh đĩ”[4]  nên ai ai phò cái bình vôi (BCT) cộng sản cũng đều phải học cho rành “Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề”. Mà thiệt là tội cho cái nghề làm đĩ, chẳng đặng đừng đành bán trôn nuôi miệng. Còn những tay chuyên gia đánh đĩ thì thiệt tình (và nhiệt tình) hồ hởi “bán miệng nuôi trôn”.

Đánh đĩ nên Giám đốc CA TP Hà-nội Nguyễn Đức Nhanh mới hôm trước phát ngôn “Biểu tình chống TQ là yêu nước” thì hôm sau đã nhất quyết đạp mặt, vặt khủy tay, tống lên xe buýt như lợn chở về trai “phục hồi nhân phẩm”.

Đánh đĩ nên TT Nguyễn Tấn Dũng lúc đăng đàn Quốc hội tuyên bố khẳng định Hoàng Sa-Trường Sa là của Việt Nam thì mới đây đi chầu TQ chẳng dám ọ ẹ một lời chủ quyền biển đảo.

Đánh đĩ nên vãi Doan nhà ta chả ngượng mồm “Dân chủ của chúng ta là rân chủ gấp vạn lần dân chủ các nước tư sản.”

Đánh đĩ nên Nguyễn Trần Bạt  mới “Tôi đã có một kết luận rằng nhân quyền không còn là quyền chính trị, nhân quyền là quyền phát triển và chống lại rủi ro của cuộc sống.”

Mà kể sao cho hết cái (nọc) nòi (cộng sản) đánh đĩ này[5].

Thế nên nhà thơ Việt Phương cũng phải thốt lời “Từ kỳ lạ đến bình thường rồi quá bình thường. Thứ chính trị không chính mà chỉ trị”.

Riêng phó thường dân tui thì hổng sao chịu nổi cái đánh đĩ chính sách “đại đoàn kết dân tộc” và “hòa giải” của đám chuyên gia trong “kỹ nghệ đánh đĩ” này.

Hổng biết “đại đoàn kết dân tộc” cái kiểu gì, chứ theo kiểu chính sách lớn đảng ta với búa liềm, cuốc chim trong Cải Cách Ruộng Đât với “trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ” rồi rần rần tới luôn bác tài trong “cải tạo thương nghiệp” đến mút mùa “học tập cải tạo” và “Đối với bọn Ngụy quân, Ngụy quyền, nhà của chúng: ta ở; vợ của chúng: ta xài; con của chúng: ta bắt làm nô lệ; còn bọn chúng nó: ta giam cho đến chết!” thì có mà đời tàn dân tộc.

Đại đoàn kết dân tộc gì mà sĩ-nông-công-thương thì thí bỏ thành phần sĩ-thương và thổi ống đu đủ giai cấp công-nông.

Đại đoàn kết chi mà đày đọa dân miền Nam (một nửa đất nước) làm phó-thường-dân, diện “lý lịch” có vấn đề.

Đại đoàn kết nào mà lại bóp mũi, khai tử đồng chí (rận) trẻ người non dạ (Thanh Niên Sinh Viên Học Sinh Tranh Đấu) Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Tấn tuồng “Hoàn tất sứ mệnh lịch sử” vừa hạ màn thì cho lũ trẻ xuống đường và nằm vùng chầu rìa, “dựa cột” coi bộ gọn ghê!

Còn cái loa “hòa giải” lại to chẳng thua gì “đại đoàn kết dân tộc”.

Chèng đéc ơi ai đời “hòa giải” với trò thủ tiêu Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ và đàn áp Cư sĩ Phật Giáo Hòa Hảo[6]… “hòa giải” bằng cách khai tử Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất rồi bắt giam Tăng thống Thích Huyền Quang và quản chế tại chùa[7] … “hòa giải” dùng cần cẩu giật sập thánh đường Giáo hội Mennonite (dù chỉ là chuồng bò tái tạo) của MS Dương Kim Khải[8] … “hòa giải” cướp nhà chung giáo phận Hà Nội và “thoái vị” Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt ra khỏi nước … “hòa giải” đem đàn áp tín đồ Cao Đài và trù dập giáo dân Con Cuông[9] … “hòa giải” triệt để áp lực chính quyền sở tại phá phá đổ tượng đài kỷ niệm thuyền nhân ở Galang và Bidong[10] hủy bỏ tang chứng trăm ngàn người chết trên biển, trên sông vì chính sách “hòa giải” trước đó v.v…

Mà thôi để chuyện chung, chuyện lớn ra một bên. Phó thường dân xin kể cái đời cá nhân lăn tăn, trầy trụa bà con nghe.

Số là tui được sanh trưởng ở miền Nam tự do, cũng được ăn (nhiều) học (ít) còn chơi thì lơ mơ thằng cù lần. Nghĩ lại đó cũng là cái phước vì chỉ biết ăn-học-chơi trong lúc tuổi thơ.

Không phải học căm thù người dân miền Bắc (như kiểu căm thù Mỹ-Ngụy), không phải học chém giết bộ đội CS trong phép toán cộng trừ (kiểu bắn bao nhiêu thằng Mỹ, thằng Ngụy) hoặc sát máu trong thơ ca (Giết, giết nữa bàn tay không phút nghỉ. Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong. Cho đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng,Thờ Mao Chủ tịch, thờ Sít-ta-lin bất diệt).

Phước đức nhất là không phải yêu, thờ ai ngoài thờ cha, kính mẹ và ông bà. Ai đời lại thương, thờ cái ông râu xồm tội phạm nhân loại ở tận đâu đâu (Tiếng đầu lòng con gọi Stalin! … Hỡi ơi, Ông mất! đất trời có không? Thương cha, thương mẹ, thương chồng. Thương mình thương một, thương Ông thương mười). Vừa mới thoát khỏi nạn học “tổ tiên chúng ta là người Gô-Loa (nos ancêtres étaient des Gaulois )” dưới thực dân Pháp thì lại đội đầu ông Mác-ông Nin hở trời!

Vì không bị tuyên truyền, tẩy não với thù hận chém giết nên phó thường dân tui chẳng có chút thù hận nào với cộng sản dù có thấy những thảm cảnh gây ra bởi cộng sản. Nhưng sợ thì có (thiệt) à nha.

Sợ cúp cua đi coi phim kiếm hiệp, phim chưởng Khương Đại Vệ, Lý Tiểu Long mà bị đặc công đặt mìn plastic chết lòi phèo, phọt óc, máu me đầy rạp hát.

Sợ đi xem đá banh bị ném lựu đạn người tung như bóng.

Sợ đón xe lam đi học từ quê ra thị xã 12 cây số mà lỡ cán phải mìn bị chết hoặc cụt tay, què giò, mù mắt thì chắc phải đi ăn xin hoặc ăn bám cha mẹ suốt đời.

Sợ nửa đêm đang ngủ bị pháo kích lạc đạn cả nhà đi chầu ông bà sớm.

Tuy sợ thì có sợ thiệt nhưng phó thường dân tui không có lòng thù hận gì vì có gì (cá nhân) mà thù ghét họ. Ngay khi lúc lơn lớn dậy thì, bắt đầu biết nghe ca nhạc nên cũng có lúc khuya hôm mở radio gặp nghe chương trình “sinh Bắc tử Nam”. Nghe xướng danh thì cũng ngậm ngùi thương những người đã chết không hương khói giỗ chạp.

Còn dối trá hả. Không có ai bắt tui phải học nằm lòng. Làm gì có bị buộc dối trá, giả hình trong cuộc sống. Có dối thì cũng chỉ là cái dối cha mẹ đi chơi, dối để thuê truyện chưởng trinh thám đọc lén, dối hút thuốc lá lấy le phong độ bạn gái. Còn bạn bè thì xạo sự chơi dzui thôi mà.

Đâu có phải sống trong cái “thời kỳ bao cấp” tem phiếu, phải sống “đăng ký hộ khẩu” đi thưa (xin giấy phép) về trình (báo) với công an phường, hay họp tổ dân phố, không phải nghe phổ biến nghị quyết trên cái loa phường. Mạnh ai nấy sống chẳng nghi kị, dòm ngó. Mười bẩy năm niên thiếu của tui hổng thấy cái ông chính quyền Việt Nam Cộng Hòa nào xen vào cái đời tư cá nhân của tui hết ráo.

Thế nhưng cuộc đời êm ấm của tui chấm dứt vào cái ngày 30 tháng 4 năm ấy.

Đó là khởi đầu cái học dối trá và thù hận. Học đấu tranh giai cấp, học ai thắng ai, học “xưa cha đào, nay con đắp”[11], học (tham gia) đánh tư bản mại sản, kiểm kê tiểu thương, v.v…

Trời đất quỷ thần ơi! Sống ở dưới chế độ CS mà không dối trá thì đi đoong cái đời. Hổng dám kết bè, kết bạn với ai vì chỉ nói thật điều mình không ưa là có ngày gặp họa. Tui còn nhớ rành rành câu “Lao động là vinh quang, lang thang là chết đói, hay nói là đi học tập.” Thành ra có gì thật thì giữ kín trong lòng, còn tất cả là giả vờ giả dối tung hô theo khẩu hiệu thì mới sống ngáp ngáp thôi. Họp hành ai nói gì thì nói cứ vỗ tay lớn là chắc ăn. Phải biết nói như con vẹt lập đi lập lại cái “ba giòng cách mạng”, “thời kỳ quá độ”. Phải “phấn khởi”, “hồ hỡi” thuộc long những câu trong nghị quyết làm bùa hộ mạng, làm lưới chống đạn B40.

Mà thôi, đó là chuyện cá nhân, nghe dài cũng oải. Mấy ổng đang vẫy gọi “hòa hợp hòa giải” nè!

Phó thường dân tui hổng biết gặp ai để nói chuyện “hòa giải”. Đi gặp ông Tổng (bí) hay ông Thủ (tiền)? Chắc chắn là tui hổng có thế, có lực để mà ngồi nói chuyện hòa giải với hai ổng.

Còn bà con chòm xóm láng giềng thì tui có gì xích mích mà hòa giải? Ngay cả người dưng ngoài ngõ đầu đường tui cũng hổng xích mích thì hòa giải cái nỗi gì.

Mà mẹ ơi, tui ở bên này (bên kia bờ đại dương) thì có ăn cái giải gì mà hòa hợp với lại hòa giải. Mấy ông vẫy tui lại để móc cái “khúc ruột ngàn dặm” coi còn sót đồng Đô nào chứ gì? Mỗi năm mấy ông ăn hớt cũng được bao nhiêu trên số kiều hối sấp xỉ mười tỷ đô la rồi chớ ít ỏi gì đâu mà còn bòn rút nữa mấy cha.

Khi nói tới “hòa giải” thì cũng có người bàn tới “thỏa hiệp” (compromise)[12]. Nói nghe cũng thủng lỗ nhĩ đó, vì trong đối thoại, từ đòi hỏi các phe nhóm, thì có lúc đi đến thỏa hiệp nhằm tránh sự bế tắc. Nhưng đó chỉ là chuyện của các thế lực (ba bẩy, tám mười) chứ cái cộng đồng và dân đen chung chung thì có thế lực gì. Chuyện “thỏa hiệp” giữa cá nhân với tập đoàn cộng sản thực chất là làm tay sai để đạt lợi ích riêng của họ. Mà thôi, để tôi chống mắt xem “Nhất định trong tương lai gần, người Cộng sản sẽ nhẹ nhàng ngồi vào bàn đàm phán đặt vấn đề ‘thỏa hiệp’ để vì lợi ích Dân tộc, Tổ Quốc.”[13] là tới khi nào.

Phó thường dân tui nghĩ mấy ổng nên hòa giải với dân chúng trong nước cho phải phép (pháp luật). Hòa giải với những người dân oan mất đất, trả đất đền bù thỏa đáng. Hòa giải với tín đồ các tôn giáo, tôn trọng tự do tín ngưỡng và trả lại tài sản giáo hội. Hòa giải với những người bất đồng chính kiến, không giam cầm, bắt bớ, sách nhiễu, tôn trọng quyền tự do ngôn luận, hội họp và chính trị của họ. Hòa giải bằng cách xóa bỏ độc quyền lãnh đạo, tạo bình đẳng cho mọi người thực thi quyền công dân xác đáng của họ trong việc chọn người tài giỏi xây dựng đất nước.

Mấy ông thực hành hữu hảo 4 tốt và 16 chữ vàng với dân trong nước thay vì với thằng láng giềng hung hăng trước đi.

Phó thường dân mới đọc đâu đây có cái giải thưởng Trần Nhân Tông[14] về hòa giải trao tặng cho hai vị: Tổng thống Myanmar, ông U Thein Sein và Chủ tịch Đảng đối lập NLD – bà Aung San Suu Kyi. Tui dám cá độ là mấy ổng mà làm được ba bốn điều hoà giải ở trên thì tui xin tiến cử và đài thọ chi phí đi lãnh giải kỳ tới liền (liền).

Tui nói thiệt nghe, coi bộ cái kỹ nghệ “đánh đĩ” của đoảng có nhiều hàng tồn kho nên cứ năm ba bữa rảnh rang là đem chào hàng món ế ẩm, câu khách tham bèo. Dzậy mà cũng có người dù không dám bỏ tiền túi mua nhưng lại rùm beng khen rẻ.

Phó thường dân tui lúc trước 75 có nghe phong phanh đến các “chị em” mua bán dâm ở ngã ba chú Ía nhưng chưa hề nghe vẫy chào quá cỡ thợ mộc kiểu này. Giờ thì nghe nói các “phố vẫy” nhan nhãn ở (Phan Đăng Lưu-Phạm Văn Đồng ) Hà Nội. Nghe rằng đặc điểm của phố vẫy là mờ mờ, ảo ảo phấn son, xiêm áo, mông má đắp vá, chuyên là đồ mã.

Còn phố vẫy khu Ba Đình thì sao? Thấy thì mát mắt. Sờ thì chắc cũng mát tay. Nhưng đụng trận là tới bến! Mụn cơm, mụn cóc, sùi mào gà, giang mai, hột xoài, HIV, HPV, SIDA vòng trong vòng ngoài khỏi kể. Ai xâm mình thì xin mời một quả “hòa hợp, hòa giải”, “đại đoàn kết dân tộc” dưới rốn.

Phó thường dân tui thì xin hai chữ bình an.

© 2012 Vietsoul:21


[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu  – (8) Gió mưa là chuyện của trời …  – (9) Vô liêm sỉ – man rợ – (10) Phế-anh-hùng – (11) Luật Lệ(nh) … (12) Nhà em có nuôi một con két … (13) Cái nhà là nhà của ta … (14) Mèo – thỏ (16) Mít tờ Đàm và Bác Hồ (17) Nín thở qua cầu (18) Bán Thân – Bán Thận – Bán Thần (19) Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm]


[1] NHÀ THƠ VIỆT PHƯƠNG RA MẮT TẬP THƠ “CỬA ĐÃ MỞ”
http://vanchuong.vnweblogs.com/post/2192…

Cuộc Đời Như Vợ Của Ta Ơi

Năm xưa ta nói rất nhiều “cực kỳ” và “hết sức”
Tội nghiệp nhất là ta nói chân thành rất mực
Chưa biết rằng “trời” còn xanh hơn “trời xanh”
Ta thiếu sự trầm lắng đúc nên bởi nhiệt tình.
Ta cứ nghĩ đồng chí rồi thì không ai xấu nữa

Người ta dạy tôi
Ðồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ
Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ
Tôi đã sống một phần hai thế kỷ
Ðể hôm nay làm đĩ với tâm hồn!

[2] Hồi ký “Tôi Bỏ Đảng”, Hoàng Hữu Quýnh – Tại sao bỏ Đảng, bỏ Bác mà chạy trốn?

[4] Đánh đĩ chính trị, blog Nguyễn Tường Thụy

[11] Sau 30-4-75, chính quyền CS bắt thanh thiếu niên con em “lính  Ngụy” vào Thanh Niên Xung Phong đi đào thủy lợi, đắp đê.

Bút Gà (chấp bút) Đinh Thế Huynh trực tuyến vờ-tờ-vờ

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2012/10/05 at 20:27

 

Tớ nghe loang loáng rằng anh Huynh đang tọa hổ (độn thổ) tàng long (ngậm tăm) vì đàn anh (trâu bò) đá thúng đụng niêu. Anh sợ nhỡ lời bị trúng miểng thế nào ấy nên dùng chước ngậm miệng ăn tiền. Còn tớ nào có dại gì mà nhọc công cầm bút khuáy hủ cáy cho khắm cả làng. Anh lại buộc tớ mở phủ để bà phán cho an (ăn) dân. Ấy thế nên trực tuyến vờ-tờ-vờ chuyển lời bà cho các cậu đây:

Bà nói đồng bào nghe rõ không?

Ba thằng đệ tử cận kề bà nếu chúng có kèn cựa lẫn nhau, có đá giò lái, hoặc thọc gậy bánh xe tranh giành oản lộc[1] của bà thì mặc chúng thôi. Đừng có đem chúng ra mà báng bổ bà nghe chửa.

Thằng nào gãy chân (ghế) cụt tay (trong) không đứng, hết ngồi thì bà khiến thằng khác chứ chả việc gì mà gởi sớ tới bà.

Bà đã răn đe nhiều lần là không kiến nghị, tâm thư, thư ngỏ (mở), thư kín tơ tưởng đến chuyện dở hơi như “con cặc”[2] trong phủ bà.

Thằng đệ tử nào muốn hầu bà mà lòi cái “con cặc” ra là bà cắt gọn ngay.

Ối giào chả việc gì đến chúng mày. Cái “dương vật buồn thiu” của chúng đã được bà triệt sản bằng hóa chất khi mới vào chầu. Họa hoằn mới nhỡ sót tàn dư thằng nào để nhúng nhẳng “con cặc” với bà.

Tự thuở bà nằm ở gốc cây đa (đất Nga) đến ngày được thằng đệ tử ranh mãnh Hồ Chí Minh (hồ ly tinh) tuân theo thằng Nin đem Mác, vác Bà về. Thằng lõi ấy mở phủ lập đền mê muội nhân dân bao năm nay nên chúng có hưởng lộc bà hết đời con cháu các cụ nó thì có là bao.

Nghe mà nhớ này. Đám đồng nhang, đồng đèn, lính anh, lính chị hầu dưới trướng bà thì lắm như quân Nguyên, quân Hán. Chúng dân khấn ván thỉnh cầu trừ sâu bọ, Việt gian, Hán gian làm gì. Từ ngày cái vàng mã (cộng sản, chủ nghĩa xã hội) đốt cháy (cướp chính quyền) giang sơn thì Hán gian, Việt gian môi hở răng lạnh, chung chăn đầy rận. Đến Bà cũng còn mờ mắt gian (Yuan[3]) thì làm sao cắn chấy, bắt rận được.

Bà chỉ căm thằng đệ tử ba Đê (3D) quái quắt. Nó cứ đợi Bà vừa thăng xong là thoăn thoắt bút sa lời phán thay bà sổ tuyẹt

Mấy thằng đệ tử đồng môn hậm hực chúng mách với bà nhưng khi Bà xuất thì nó đã quẹt mỏ quay chân trốn tiệt. Bà chỉ nắm được vài thằng cắc ké cắp tráp của nó[4].

Cậu Thanh Đồng của bà cũng cáu lên vì c.c.c.c. đệ tử này nọ ngày nào cũng lê lết phủ bà… hết Tuấn nghiện, Nghị lu du, Hương váy hồng, Chung cắt cu, Tuấn vê-tê-vê. Cài-cấy-cơ-cấu-cắt-cu[5] cái củ cải.

Ớ, mấy thằng đệ tử (kỳ đà) cắc ké (kỳ nhông) của bà lúc này sao chúng mày thối mồm thế.

Chắc là chúng bay ăn tạp chẳng ngừng chả chùi mồm, súc miệng nên cái bệnh thối mồm này lây lan trong đám chúng mày.

Hết cậu (cá) Cảnh,“Các nước có chỉ số IQ cao đều xây đường sắt cao tốc.” tới cậu (vô) Phước,“Chưa cần luật biểu tình vì dân trí ta còn thấp” trong cái quốc hội (quốc lủi) đèn cù.

Nó lây sang cả vãi Doan “Dân chủ của chúng ta là rân chủ gấp vạn lần dân chủ các nước tư sản” qua đến tiến (táo) sĩ Lư viện (tâm thần), “Người dân quá kém hiểu biết về động đất nên gây hoang mang dư luận”.

Rồi nhập vào thống Bình, “Do dân trí tập quán Việt Nam chưa cao như một số nước khác, rất nhiều người dân hiện nay đi gửi tiền nhưng cũng không để ý đó là ngân hàng tốt hay xấu”.

Thối thế!

Đã làm “chú phỉnh” thì phải biết phỉnh nịnh, mị dân chứ chúng mày trắng phớ thì lộ cái mặt mo rồi.

Dân trí thấp là chủ trương và đường lối nhất quán của đền (Đảng) bà. Có ngu dân thì các đệ tử ta mới định hướng chỉ đạo phò cái bình vôi (BCT) của bà. Chúng mày cứ trêu ngươi, không khéo chúng quẳng bình vôi thì cả lũ đi ăn mày à.

Chúng mày phải định hướng, tô hồng “quy hoạch hóa”, “đô thị hóa”, “tái cấu trúc” mỹ miều để thu hồi đất, thuổm tiền đút vào cái ruột tượng bình vôi phủ bà. Đứa nào hô hoán “cướp đất”[6] thì phải nhắc cho chúng nó nhớ là đã theo bà “cướp chính quyền” thì sao lại đần thế.

Giời ạ. Chúng mày chưa nghe thủng lỗ tai với câu vè dân gian về cái “thiên tài”[7] đảng ta hay sao mà có thằng lại thối mồm “Cái gì cũng … nhất”[8].

Tiện thể sao nó không nhắc luôn là một mặt ta chủ trương xuất khẩu (nô lệ) lao động sang Á, Nga, Đông Âu, Trung Đông v.v… Mặt khác ta chỉ đạo xuất khẩu gái làm điếm, phụ nữ vừa làm nô lệ tình dục, vừa làm ô sin cho đàn ông què quặt, tâm thần các nước láng giềng.

Cái “thiên tài” rút ruột, tham ô, hủ hóa, phá hoại của đảng ta thì thiên tai cũng cạch!

Bà phê và tự phê lưng lửng từng trời nhưng làm gì chẳng biết là bọn nông dân chân lấm tay bùn, bán mặt cho đất bán lưng cho trời mới làm ra lúa thóc để bà gom thu. Còn chúng bay chỉ có tài ăn cướp cơm chim người dân chứ làm ăn tích sự gì.

Người ta khôn ngoan thì họ tích lũy, dành dụm, bảo tồn tài nguyên không khai thác khánh kiệt để cho con cháu đời sau (và còn để nộp “thóc” cho bà nữa chứ).

Có ai như bọn mày chỉ cắm đầu ăn xổi ăn xổi, bán lúa non, đào quặng mỏ cạp hết sạch thì còn gì để nuôi bà làm lên sự nghiệp “sống mãi mãi trong lòng quần chúng”.

Thế thì bà phải đào cả cái mả bố[9] chúng mày để sống chứ cạp đất mà ăn à!

Chúng mày nhìn xem chung quanh (nước) láng giềng (ngoài cái thằng môi hở răng lạnh chết tiệt) có đứa nào nó mồm thối (hoăng) đâu.

Chúng mày cần noi gương thằng đệ tử ruột 3D thôi. Tuy nó quái quắt, ăn ngập họng nhưng nó khôn lõi, không phát ngôn thì ai biết nó thối nào.

Còn thằng Trọng “lú” đem trống đi đánh xứ người[10] lại mắc chứng lở mồm long móng nên chúng chặn cổng (bục bể phốt) khước từ.

Chúng nó lại đem ra bôi bác cả làng thế còn gì thể diện của bà. Có biết chửa?.

Bà chán chúng mày lắm … nói lắm cũng mỏi mồm … Chả là “làm đầy tớ thằng khôn còn hơn làm thầy thằng dại” mà bà lại phải làm gia sư cho chúng mày thì quả là vô vọng.

Ô hô, thăng … thăng … thăng …


[2] CHUYỆN CON C. LÀM NÓNG SÔI EM FB, blog Huỳnh Ngọc Chênh

[3] Yuan, Nhân dân tệ, đơn vị tiền TQ

[7]Mất mùa là tại thiên tai, được mùa là bởi thiên tài đảng ta”, câu vè dân gian thời Xuống Hố Cả Nước

[10] Nguyễn Phú Trọng đem ma đi bịp kẻ đào mồ, Nữ Vương Công Lý – Vì sao, vì sao ư? , Đàn Chim Việt


Chuỗi bài:


[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu  – (8) Gió mưa là chuyện của trời …  – (9) Vô liêm sỉ – man rợ – (10) Phế-anh-hùng – (11) Luật Lệ(nh) … (12) Nhà em có nuôi một con két … (13) Cái nhà là nhà của ta … (14) Mèo – thỏ]

Phạm Hồng Sơn – “Hoa địa ngục” và Đảng, Bác, Mác-Lê

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Việt Nam on 2012/10/05 at 11:07

Ông Nguyễn Chí Thiện, sinh năm 1939 tại Hà Nội, tác giả của tập thơ nổi tiếng Hoa địa ngục vừa qua đời ngày 02/10/2012 tại nước Mỹ. Những dòng sau đây xin được thay cho lời cầu nguyện tốt đẹp nhất tới linh hồn người quá cố và những bạn hữu, thân nhân và những người yêu quí ông.

Kể cả sau này khi thời thế đã thay đổi và Hoa địa ngục được xuất bản chính thức ở Việt Nam thì có thể vẫn có nhiều độc giả không thiện cảm với những từ ngữ thường quá bộc trực, cay đắng hay mang tính chửi thẳng của tác phẩm này. Nhưng nếu đặt những cảm xúc hoặc những hình thức thể hiện sang một bên thì không thể không thừa nhận Hoa địa ngục đã dám phê phán ba yếu tố – ba vấn đề – mà cho đến tận bây giờ không phải ai cũng nhận ra hoặc dám đụng đến, đó là: Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh tụ Hồ Chí Minh thường được gọi là “Bác” và chủ nghĩa Marx-Lenin.

Ngay năm 1959, trước khi vào tù lần thứ nhất và khi mới chỉ chớm tuổi 20, Hoa địa ngục[i] đã chĩa sự phê phán không úp mở vào đúng Đảng:

“Tôi thường đi qua phố
Có anh chàng mù, mắt như hai cái lỗ
Kính chẳng đeo, mồm thời xệch méo
Ngậm vào tiêu, cổ nổi gân lên
Dốc tàn hơi thổi đứt đoạn như rên
Mấy bài hát lăng nhăng ca ngợi Đảng
Đã mang lại Ấm no và Ánh sáng!”
(“Tôi thường đi qua”, 1959)

và bản chất gieo rắc cái ác của Đảng:

“Trên mảnh đất, Đảng gieo mầm tội lỗi!
Trong lành cũng phải tanh hôi!
Trẻ con chưa nứt mắt đã tù rồi!
Bạo lực đi về rất vội! “
(“Trên mảnh đất”, 1964)

Càng về sau, qua những lần tù càng dài thêm, sự phê phán và nhận thức về bản chất Đảng lại càng sâu hơn và, dĩ nhiên, gay gắt hơn:

“Không ai kêu nổi một lời
Mồm dân Đảng khóa đã mười mấy năm!”
(“Gửi Bertrand Russel”, 1968)

“Đảng bắt câm, bắt nói, bắt khóc, bắt cười
Bắt đói, bắt làm, hé răng oán thán
Là tù ngục mục xương độc đoán
Phải chăng đó giá công lao huyết hãn
Mấy ngàn ngày đánh Pháp những năm xưa”
(“Đồng lầy”, 1972)

“Đảng thực chất chỉ là Đảng cướp
Dựng triều đình mông muội giữa Văn minh
Sống tạm thời nhờ thủ đoạn yêu tinh,
Nhờ súng đạn Tàu, Nga, bắt bớ.”
(“Đảng”, 1973)

Và đây, Hoa địa ngục phác lên một hình ảnh toàn trị thu nhỏ của Đảng, kiểm soát hết các nhân quyền cơ bản:

“Nhà văn nhà báo
Nhà giáo nhà thơ
Nhà thờ nhà chùa
Đều sợ đều thua
Nhà tù – nhà Vua!
Chớ đùa với Đảng!”
(“Nhà văn”, 1980)

Còn về “Bác”, Hoa địa ngục đã đề cập nhiều lần trong nhiều giai đoạn khác nhau nhưng có thể nói bài “Không có gì quí hơn độc lập tự do” là bài điển hình cho cái nhìn tổng quát nhưng xuyên thấu qua mọi lớp vỏ tuyên truyền về Hồ Chí Minh hay của chính Hồ Chí Minh. Tuy nhiên nếu vẫn thành kiến về những đại từ nhân xưng như “thằng”, “nó”, “con” thì có thể có hơi khó khăn để đồng cảm được với sự bộc trực, tinh ý của Hoa địa ngục lúc mới có 29 tuổi:

“Không có gì quý hơn độc lập tự do
Tôi biết nó, thằng nói câu nói đó
Tôi biết nó, đồng bào miền Bắc này biết nó
Việc nó làm, tội nó phạm ra sao
Nó đầu tiên đem râu nó bện vào
Hình xác lão Mao lông lá
Bàn tay Nga đầy băng tuyết giá
Cũng nhoài qua lục địa Trung Hoa
Không phải xoa đầu mà túm tóc nó từ xa
Nó đứng không yên, tất bật, điên đầu
Lúc rụi vào Tàu, lúc rúc vào Nga
Nó gọi Tàu Nga là cha anh nó
Và tình nguyện làm con chó nhỏ
Xông xáo giữ nhà gác ngõ cho cha anh
Nó tận thu từ quả trứng, quả chanh
Học lối hung tàn của cha anh nó
Cuộc chiến tranh chết vợi hết thanh niên
đương diễn ra triền miên ghê gớm đó
Cũng là do Nga giật Tàu co
Tiếp nhiên liệu gây mồi cho nó
Súng, Tăng, Tên lửa, Tàu bay
Nếu không, nó đánh bằng tay?
Ôi đó, thứ độc lập không có gì quý hơn của nó!
Tôi biết rõ, đồng bào miền Bắc này biết rõ
Việc nó làm, tội nó phạm ra sao
Nó là tên trùm đao phủ năm nào
Hồi cải cách đã đem tù, đem bắn
Độ nửa triệu nông dân, rồi bảo là nhầm lẫn!

Mọi tầng lớp nhân dân bị cầm chân trên đất nó
Tự do, không thời hạn đi tù!
Mắt nó nhìn ai cũng hóa kẻ thù
Vì ai cũng đói món nhục nhằn cắn răng tạm nuốt
Hiếm có gia đình không có người bị nó cho đi suốt.
Đất nó thầm câm cũng chẳng được tha
Tất cả phải thành loa
Sa sả đêm ngày ngợi ca nó và Đảng nó
Đó là thứ tự do không có gì quý hơn của nó !
Ôi, Độc lập, Tự do !
Xưa cũng chỉ vì quý hai thứ đó
Đất Bắc mắc lừa mất vào tay nó
Nhưng nay mà vẫn có người mơ hồ nghe nó…”
(“Không có gì quí hơn độc lập tự do”, 1968)

Và chỉ bằng hai câu thôi, Hoa địa ngục đã có thể tóm gọn “Bác”:

“Bác Hồ chúng ta
Kịch gia xuất sắc”
(“Tên hề”, 1971)

Về chủ nghĩa Marx-Lenin tức chủ nghĩ cộng sản, điều đáng ngạc nhiên nếu không muốn nói là kinh ngạc, trong một hoàn cảnh ngặt nghèo thông tin, tuổi đời còn rất trẻ và chắc chắn không có nhiều thời gian để đi học hay tự đọc, vì đã phải liên tục đi tù, nhưng Hoa địa ngục ngay lúc chưa đầy 25 tuổi đã nhận ra sai lầm rất chính trị:

“Cuộc đời tôi có nhiều lầm lẫn
Lầm nơi, lầm lúc, lầm người
Nhưng cái lầm to uổng phí cả đời
Là đã ngốc nghe và tin Cộng sản!”
(“Mỗi lầm lỡ”, 1963)

Dường như năm tháng tù đày triền miên lại làm cho Hoa địa ngục nhận thức sâu hơn chủ nghĩa Marx-Lenin về sự bất tương thích và hệ lụy của nó đối với dân tộc:

“Học thuyết Mác, một linh hồn u ám
Không gốc rễ gì trên mảnh đất ông cha
Mấy chục năm phá nước, phá nhà.”
(“Đồng lầy”, 1972)

Và đây Hoa địa ngục đã nói về chủ nghĩa Marx cách đây gần 40 năm mà lại gần giống như những gì ai đó mới lần đầu lên tiếng gần đây:

“Chủ nghĩa Mác chỉ là không tưởng
Trái với bản chất con người, reo rắc tai ương

Nếu cứ ngu si ôm mãi chủ nghĩa này
Nếu cứ thẳng tay bóp mãi dạ dầy
Đất nước nở mặt nở mày làm sao được nữa!
Dân tộc ta phải quăng ngay nó vào bếp lửa
Nồi cơm mới có thể mong đầy
Tự do, no ấm mới sum vầy”
(“Chủ nghĩa Mác”, 1984)

Có thể nói, so với tuổi đời của bản thân, Hoa địa ngục đã nhận thức được rất sớm và cũng dám phê phán bác bỏ rất sớm, mặc dù không hệ thống, về ba trụ cột chính của quyền lực cộng sản tại Việt Nam: Đảng, Bác, Marx-Lenin.

Nếu nhìn lại “Nhân văn-Giai phẩm” và “Xét lại chống Đảng”, những hoạt động và biến cố xảy ra gần trước và sau so với Hoa địa ngục, trong ánh sáng nhận thức về ba trụ cột đó thì lại thấy nhận thức của Hoa địa ngụccòn sớm cả so với thời đại nữa. Trong “Nhân văn-Giai phẩm” đã có những tiếng nói, bài viết và thái độ bất ưng, phê phán sâu sắc về sự chà đạp nhân quyền cơ bản hay vấn đề pháp trị của Đảng và có thể có cả những phê phán ẩn dụ về lãnh tụ nữa nhưng tất cả vẫn còn hoàn toàn trên tinh thần chấp nhận Đảng, tránh xa vấn đề “Bác” và không hề đề cập đến Marx-Lenin. Ở “Xét lại chống Đảng” cũng tương tự, chỉ là không đồng ý với chính sách của Đảng lúc đó, còn về chủ nghĩa Marx-Lenin, Hồ Chí Minh và Đảng đều vẫn được tôn trọng – tinh thần này gần như vẫn được các cựu thành viên của các biến cố đó giữ nguyên cho đến tận gần cuối những năm 1990.

Nhìn lại bối cảnh khắc nghiệt, tăm tối của Hoa địa ngục cách đây gần nửa thế kỷ và thực trạng hôm nay còn rất nhiều bậc trí giả vẫn tự coi Đảng, Bác là những thứ húy kỵ, lại càng thấy cái ghê gớm nhất, đáng kính phục nhất của Hoa địa ngục: không phải là bản lĩnh tù đày, kiên gan trong cô đơn hay trường thơ tố cáo in trong trí nhớ, mà là sự nhìn ra sớm, nhìn thấy triệt để nhưng lại không giấu mọi người về cái Ác rất to lớn – cái Ác ở tầm quốc gia, dân tộc.

Hoa địa ngục đương nhiên phải chia tay trần thế nhưng chắc chắn không bao giờ phải đi về địa ngục.

© 2012 pro&contra


[i] Các bài thơ trích dẫn ở đây đến từ hai nguồn: Hoa địa ngụcThơ Nguyễn Chí Thiện

Ởm à, Tản mạn [về Khánh Ly]

In Cộng Đồng, Chính trị (Politics), Tạp văn on 2012/09/28 at 23:32

Việc Khánh Ly về Việt Nam hát hay không hát hiện nay vẫn là một câu hỏi, chưa là sự thực. Tuy nhiên với những động thái mở đường, những lời đánh tiếng, và sau đó Khánh Ly trực tiếp trả lời phỏng vấn trên BBC thì có thể nói trước đó là chuyện sẽ đến.

Về Khánh Ly thì cá nhân chúng tôi chuộng giọng hát của chị, một thời. Từ trước tới giờ, chúng tôi chẳng có gì để phê phán hoặc thành kiến với những lời đàm tiếu, dị nghị về lối sống hoặc cuộc đời riêng tư của Khánh Ly. Tuy nhiên việc về Việt Nam để hát dưới sự kiểm duyệt và xin phép được biểu diễn dù gián tiếp (hay trực tiếp) là một điều đáng xem xét ở đây.

Con người là động vật duy nhất có khả năng biện minh (justify) cho các hành xử của họ, và họ rất là thông minh, khéo léo trong việc hợp lý hóa (rationalize) cho các hành xử của họ một khi nó xung đột (conflict) với quan điểm và lương tri (riêng tư hoặc thuộc về nhân loại). Họ có thể dùng mọi thứ—từ ngôn từ đến khả năng thu hút—để ảnh hưởng, thuyết phục, biện hộ hay lừa dối mình. Đằng sau tận đáy sâu thẳm của tâm lý là những khát vọng—cái lực hấp  dẫn thúc đẩy có khi còn trói buộc con người vận dụng mọi lý lẽ—trong chiều đáp ứng thỏa mãn ước vọng của mình.  Và một phương tiện khác họ thường dùng đến đó là tự quên, tự chối chối bỏ những gì đã nói, làm, hứa, thề và cả thân thế mình nữa. Nhất là những ai khoác lên chiếc áo hoa xiêm lộng lẫy biến mình thành trọng tâm chiêm ngưỡng dưới ánh đèn sân khấu—nghệ thuật hay chính trị—thực và ảo. Viễn cảnh về khối đông người hâm mộ thần tượng chiêm ngưỡng chắc đủ để biện minh và hợp lý hóa cho danh ca Khánh Ly trở về.

Khánh Ly và bao nhiêu người miền Nam, danh ca hay đánh cá, đã liều mình trốn chạy cái độc tài cộng sản ác độc vô nhân, thế thì (chị) em còn nhớ hay (chị) em đã quên.

Con người trong vị trí hay tư cách là một cá nhân so với con người của công chúng (public figure) thì hoàn toàn là hai thực thể khác nhau, đặc biệt trong lãnh vực xã hội và chính trị. Khánh Ly, cá nhân, đi về Việt Nam thì chả ai phải nói gì. Phần lớn tập thể tỵ nạn cs đã làm thế—đã đi về nơi chôn nhau cắt rốn với tư cách cá nhân vì lý do cá nhân, gia đình, bạn bè, chòm xóm v.v…  Nhưng Khánh Ly, danh ca, con người công chúng, người tỵ nạn cs đi về Việt Nam thì là một vấn đề chính trị. Nhất là tại thời điểm hiện nay.

Việt Nam đang lặn ngụp trong một môi trường mà tự do bị bóp nghẹt, các người đấu tranh dân chủ bị trù dập, lãnh án nặng nề, các thanh niên công giáo bị bắt giữ và tuyên án, bao nhiêu người dân oan mất đất sống lê lết ở các công viên Hà-nội, Sài-gòn. Vì thế, việc Khánh Ly về Việt Nam hát là một cái tát vào dân quyền, nhân quyền, và hơn thế nữa là cú đấm mõm những cái đầu biết cúi.  Chính quyền CSVN sử dụng nó với mục đích tuyên truyền trong nước và hải ngoại (nghị quyết 36) cho cái gọi là tự do, hòa giải, đoàn kết dân tộc v.v… và v.v… Và đã có không ít người đu dây tự mình ỡm à tiếp thị cho cái vàng mã “hòa giải” này.

Thật nực cười cho lời biện hộ hợp lý hóa của Khánh Ly đồng ý chịu kiểm duyệt bởi chính quyền VN trong khi trả lời phỏng vấn: “Phải có kiểm duyệt. Lỡ hát những bài người ta không cho phép thì phiền lắm. Nhưng mà nhiều khi tôi nghĩ nó cũng đúng. Mình vào nhà người ta. Tức là vào nhà người ta thì chỉ được làm những gì người ta cho phép.” Hóa ra từ xứ tự do lại phải đi vuốt ve cái “con cặc”[1] của xã hội chủ nghĩa (gấp ngàn lần ở các xứ Tây phương). Đó phải là cách tự quên, quên đi quá khứ khi nhà mình đang ở yên ấm thì bị cướp trắng tay, bị đuổi đi kinh tế mới, bị bắt đi cải tạo, phải liều mình trốn thoát ra được xứ sở tự do để an cư lạc nghiệp nay trở lại mái nhà xưa để thì-mà-là xin-cho phép.

Chúng tôi còn nhớ trong một video phỏng vấn với đài VNCR vài năm trước Khánh Ly nói nếu về thì sẽ về cùng với mọi người vì “khi đi thì đã cùng đi thì về sẽ cùng về“. Câu nói này trong ngữ cảnh và nội dung của cuộc phỏng vấn thì được hiểu với ý (nghĩa bóng) là “khi nào Việt Nam được tự do dân chủ thì mọi người Việt Nam hải ngoại và Khánh Ly trong tập thể tỵ nạn cs cùng về nước”; bây giờ thì chắc Khánh Ly sẽ dùng theo nghĩa đen (thui) của nó, ai cũng về (hát) thì tôi cũng về (hát) thôi.

Trong bài “Tản mạn về Khánh Ly”[2], tác giả quả thật khéo mở bài dẫn dắt từ các lời đàm tiếu, thị phi con người cá nhân Khánh Ly đồng điệu với “Những vấn đề thuộc về đố kỵ, chia rẽ, bôi xấu …”[3]  và kết đến thương thay “tội nghiệp cho Khánh Ly – Nữ Ca Sĩ tài năng, vận số bọt bèo, gây nhiều tranh luận bất tận, dường như vẫn ‘không buông tha’ chị?” vì những lời xôn xao về con người công chúng của Khánh Ly. Riêng câu hỏi “Liệu việc chị về hát có là một đổi thay thức thời của chính thể này?” của tác giả thì quả thật là một câu hỏi đùa bắt bóng vì “Còn ai mơ hồ gì về nhà nước cộng sản Việt Nam nữa hay không?”[4]

Ấy thế nhưng cũng rất dễ để quay lưng, nhắm mắt, cúi đầu nhằm biện minh và hợp lý hóa cái mơ hồ (hòa hợp hòa giải, tự do độc lập, nhà nước pháp quyền) của chế độ CSVN.

© Vietsoul:21

Người Buôn Gió – Đại vệ chí dị

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn on 2012/08/19 at 23:46

Nước Vệ triều nhà Sản năm thứ 67.

Nhà Sản sa sút uy tín trong nhân dân. Vệ Kính Vương bèn làm cuộc phê bình và tự phê bình để chấn chỉnh tư cách, đạo đức quan lại trong triều. Mở đầu Vương nói thẳng vì uy tín nhà Sản giảm sút mới cần phải chỉnh đốn quan lại như vậy.

Cuộc chỉnh đốn tư cách quan lại chưa xong, uy tín nhà Sản chưa thấy tăng thì giá cả ngoài chợ đã tăng vọt. Mọi thứ chất đốt, lương thực, thực phẩm đều tăng lên vèo vèo.

Tháng bảy mưa to, ngày đầu tháng mưa một ngày khiến hơn hai mươi người bị chết. Con đường rộng lớn phía Tây kinh thành bỗng nhiên bị lở cắt ngang như vết chém. Châu Diễn lại sập hầm lò chết mấy người làm công. Dường như đất khắp nơi đều quằn quại chuyển mình dãy giụa.

Trước đó thân mẫu của một người tù vì tội làm phản bỗng nhiên tự thiêu. Lửa bốc ám khói đen cả góc trời. Không biết trời có phải vì thế mà làm mưa không?

Bấy giờ mọi thứ trong nước đã tăng giá, các nguồn lệ phí cũng đã tận thu, tài nguyên mỏ không còn, rừng xanh kiệt, biển bị quân Tề thôn tính. Đời sống nhân dân khó khăn vô cùng. Quân lính trong triều lại nhiều như cỏ trên thảo nguyên, tướng tá nhung nhúc như rươi. Khiến ngân khố phải oằn mình chi trả lương bổng.

Quan nhà Sản nói với tể tướng:

– Giờ ngân khố cạn kiệt, xin ngài bổ sung cho.

Tể tướng có nhiều bộ hạ thao lược tài xoay sở, ngài nghe xong quay ra hỏi bộ hạ rằng:

– Còn cái gì chưa tăng giá, còn cái gì chưa thu, cái gì chưa khai thác không?

Bộ hạ thưa:

– Dạ, hết rồi ạ. Giờ chỉ còn sự bất mãn của dân là nhiều thôi.

Quan tuyên huấn thấy tể tướng lườm mình. Biết có ý trách không dẹp được dư luận, bèn đứng ra tâu:

– Còn bất mãn thì đánh thuế bất mãn.

Các quan lại lao xao, bất mãn thì người ta nói, ai mà đánh thuế được người ca thán cơ chứ. Người khác tỉnh táo hơn thì nói.

– Đừng vội suy đoán, nhà Sản ta có cái gì mà không làm được cơ chứ. Để quan tuyên huấn nói hết xem sao đã.

Quan tuyên huấn e hèm hắng giọng bước ra giữa triều nói:

– Thần trộm nghĩ, giờ nên xử phạt bọn bất mãn, một công đôi việc, vừa cho chúng nó chừa thói ấy, không phải bắt giam vào ngục mang tiếng triều đình, lại tốn người canh giữ, nuôi nấng. Chi bằng cứ phạt bọn ấy là có ngân sách lại là răn đe. Đứa nào không nộp phạt thì đến nhà nó cưỡng chế, nồi niêu, bát đũa có gì thu lấy.

Triều đình nghe mới ngộ ra, ai nấy cũng hỉ hả khen quan tuyên huấn tài. Khiến quan tài chính cũng phải chắp tay bái phục vì chuyên môn khác người của quan tuyên huấn.

Họ Nguyễn người trấn Đoài bị phạt hơn 7 triệu quan tiền. Bên miền trong gia đình nhà họ Huỳnh xứ Chiêm Thành cũ phạt cả nhà còn nhiều hơn gấp bội. Triều đình vừa xử phạt vừa gấp rút soạn lệ phạt lên thành bộ luật.

Dân tình ngoài chợ xôn xao.

– Xưa vẫn có câu “đéo ai đánh thuế được thằng nói phét” xem ra bây giờ không đúng ở thời này nữa rồi.

Người khác cãi:

– Người xưa nói không thể sai, khối kẻ nói phét xui dân mua chứng khoán, mua nhà khiến bao người táng gia bại sản. Có kẻ nói không tăng giá mặt hàng này, hôm sau giá tăng luôn đấy có sao.?

Người trung dung tổng kết:

– Đó là nói phét có môn bài, hoặc như câu “miệng nhà quan có gang có thép”

Theo blog Người Buôn Gió

Cùng tác giả:

Người Buôn Gió – Đồng “chác”

Người Buôn Gió – Ngôn từ

Người Buôn Gió – Thời của âm binh

Người Buôn Gió – Tái cơ cấu thần chưởng

Người Buôn Gió – Đêm dài biên ải

Người Buôn Gió: 18-3 trại Thanh Hà

Người Buôn Gió – Người Nông Dân Nổi Dậy

Người Buôn Gió – Hóa ra đều ăn cắp hết

Người Buôn Gió – Đi tù và đi cải tạo

Người Buôn Gió – Con trâu của ai?

Người Buôn Gió – Hà Nội trong mắt ai

Loạt bài Đại Vệ Chí Dị:

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị – Mọi sự quái đản đều là do… thế lực thù địch

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị: Cứ đổ cho thế lực thù địch xúi dục là OK!

Tưởng Năng Tiến – Nhà báo & nhà nước

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn on 2012/08/19 at 17:39

Nhà nước ta quả là nhiều sáng kiến và tận tâm với bạn vàng xâm lược.
– Hà Sĩ Phu

Từ lâu, tôi vẫn ước ao (có lúc) sẽ trở thành nhà báo. Mộng ước này (bỗng) trở thành ác mộng, ngay sau khi tôi xem cảnh hai ông Nguyễn Ngọc Năm và Hán Phi Long bị một trận đòn tơi tả.

Họ bị công an và côn đồ đánh bầm dập, ở Văn giang. Rồi lại bị đồng nghiệp đập cho một trận te tua nữa, trên internet. Sau đó, chính họ cũng  “tự cầm gậy phang vào mặt mình”  – theo như cách nhìn của bác Trương Duy Nhất:

“Không có gì nhục hơn khi cầm tấm thẻ nhà báo hành nghề lại bị ví von mỉa mai rằng: bị đánh mà không dám ‘ẳng’ lên một tiếng. Còn khi đã ‘ẳng’ lên, khi ‘tấm lòng vị tha’ của hai nhà báo đã biết ‘ẳng’ lên để quyết định không yêu cầu khởi tố hình sự những kẻ côn đồ, thì lần này họ lại tự cầm gậy phang vào mặt mình.
 Có thể, không ai nhớ nổi một tác phẩm báo chí nào của hai anh. Nhưng cái tên Nguyễn Ngọc Năm – Hán Phi Long thì nhiều người nhớ. Nhớ về một sự hèn nhục mang tên Nguyễn Ngọc Năm – Hán Phi Long. Chưa bao giờ, thân phận nhà báo nhục đến thế. Chưa bao giờ câu ‘Đ.M mày! Nhà báo cũng đánh cho chết mẹ mày đi’ lại ăng ẳng’ ê chề đến thế.”

“Ê chề” thiệt! Thôi, tui chả thiết làm nhà báo nữa đâu. Chớ không làm nhà báo thì làm nhà gì? Chớ không lẽ cứ làm làm thường dân hoài vậy sao, cha nội?

Hay là nhẩy vô làm cán bộ nhà nước đi, chịu không?

Tui cũng không chịu luôn vì e là không phải lúc. Tình cảnh nhà nước bây giờ, xem ra, cũng (thê thảm) không kém gì nhà báo. Bị nước lạ nó bắt nạt đều đều – vẫn theo như ghi nhận của  Trương Duy Nhất:

“Sau khi thành lập thành phố Tam Sa, bầu cử lập chính quyền, thành lập lực lượng đồn trú và Bộ tư lệnh vũ trang Tam Sa, Trung Quốc tiếp tục huy động một lực lượng hùng hậu trên 2 vạn (23.268) tàu cá ùn ùn tràn xuống biển Đông, mở màn chiến dịch ‘biển người trên biển’. Thậm chí không thèm giấu diếm khi công khai ý định cung cấp vũ khí và huấn luyện quân sự cho 10 vạn ngư dân.”

“Dư luận quốc tế sôi sùng sục. Tổng thống Philippines tuyên bố sẵn sàng sử dụng sức mạnh quân sự để bảo vệ lãnh hải, mua tàu chiến Mỹ và công khai đề nghị Washington hỗ trợ ‘kiềm chế tham vọng của Trung Quốc’.

Thủ tướng và Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản tuyên bố sẵn sàng huy động lực lượng phòng vệ đáp trả. Bộ Ngoại giao Mỹ ngay lập tức ra tuyên bố về vấn đề biển Đông, cùng lúc Thượng viện Mỹ cũng ngay tức thời thông qua ‘nghị quyết biển Đông’ bày tỏ rõ thái độ trước những động thái mới của Trung Quốc. Hãng thông tấn Hàn Quốc Yonhap News gọi động thái này của Trung Quốc thực tế là chiến thuật ‘biển người trên biển’.

Chưa bao giờ biển Đông nóng đến thế.

Dân tình sục sôi. Nhân sĩ trí thức đệ đơn đòi nhà nước cho phép tổ chức biểu tình. Trong khi từ Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch quốc hội, Thủ tướng đến Bộ Ngoại giao, Quốc phòng đều im lặng.”

Ủa, sao kỳ vậy cà?

Sao nhà nước hành sử (ngó bộ) giống y chang như nhà báo, vậy Trời? Cả hai, dù bị quần cho tơi tả, đều không dám “ẳng” lên một tiếng nào hết trơn hết trọi.

Mà ngó thì có vẻ (giống) vậy thôi, chớ không hẳn vậy đâu. Hai ông nhà báo Nguyễn Ngọc Năm và Hán Phi Long, ít ra, cũng còn giữ được chút lòng tự trọng. Họ đã không  lên tiếng “ca ngợi” những kẻ đã bạt tai và đá đít mình. Đám nhà nước, tiếc thay, không có được cái liêm sỉ (tối thiểu) như thế.

Họ khiếp nhược  đến độ mà blogger Đinh Tấn Lực, nhân dịp Olympic 2012, đã đề nghị nên trao huy chương (“môn chạy Việt Dã bằng đầu gối”) cho rất nhiều nhân vật lãnh đạo nhà nước hiện nay:

“Trong lúc nhà nước TQ dồn sức nâng cấp hành chánh và Quân ủy Trung ương Trung Quốc cho phép thành lập bộ tư lệnh của đơn vị quân sự đồn trú tại thành phố Tam Sa; TQ điều động chiến hạm đổ bộ đến Trường Sa; TQ đòi khai thác đảo Ba Bình; TQ tập trận bắn đạn thật tại Trường Sa; TQ tung y sĩ dỏm và hối phiếu giả vào Việt Nam v.v… thì báo QĐND đã liên tục khai thác chủ đề ‘Làm thất bại diễn biến hòa bình’, không ngớt răn đe những người VN yêu nước báo động hiểm họa Bắc thuộc lần thứ 5.

Phản ứng kế tiếp là …diễn tập chống khủng bố, bạo động.

Vẫn thấy chưa đủ hiển thị tấm lòng hiếu hạnh, Bộ Quốc phòng VN đã hoành tráng tổ chức buổi gặp mặt đại biểu các thế hệ cán bộ QĐNDVN được đào tạo tại Trung Quốc qua các thời kỳ, long trọng chào mừng đồng chí Khương Tái Đông và đoàn đại biểu TQ, nhân dịp kỷ niệm 85 năm Ngày thành lập Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Bộ trưởng Phùng Quang Thanh đã kính cẩn phát biểu: ‘Chúng tôi luôn trân trọng, ghi nhớ và mãi biết ơn sự giúp đỡ chí tình, chí nghĩa, to lớn có hiệu quả mà Đảng, Chính phủ, nhân dân và Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã dành cho Việt Nam’.

Ủy viên BCT kiêm Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh đã có những nỗ lực phấn đấu xứng đáng nhận lãnh huy chương vàng bộ môn chạy Việt Dã bằng đầu gối. Huy chương bạc hẳn phải về tay Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Còn huy chương đồng nên trao cho Thượng tướng Ngô Xuân Lịch, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐNDVN. Dự khuyết của huy chương đồng bộ môn này chính là Trung tướng Mai Quang Phấn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐNDVN, với đôi lời tâm tình khai mạc từng làm vui lòng khách đến vừa lòng khách đi, như sau: ‘Đây là dịp để chúng ta ôn lại những kỷ niệm sâu sắc, ghi nhớ những tình cảm quý báu, cao đẹp, sự giúp đỡ to lớn, chí nghĩa, chí tình có hiệu quả, mà Đảng, Nhà nước, nhân dân và Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc đã dành cho Đảng, Nhà nước, nhân dân và QĐNDVN trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN ngày nay.”

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân phát biểu tại Đại hội (Ảnh: Khánh Lan)

Tưởng cũng nên thêm một huy chương vàng nữa cho Phó Thủ Tướng.

Nguyễn Thiện Nhân, người đã để lại một dấu ấn khó phai trong lòng mọi người khi vẫn tha thiết nhắc đến “phương châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt” – dù nước bạn láng giềng đã trở thành … nước lạ từ lâu!

Ngoài ra, nếu huy chương không thiếu, xin đề nghị một mớ huy chương đồng cho “Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà Nước, Quốc Hội và Chính Phủ đã gửi lẵng hoa chúc mừng Đại Hội Hội Hữu Nghị Việt Nam – Trung Quốc.”

Nói tóm lại là tuy đầu bị làm nhục nhưng nhà báo (rõ ràng) đã tỏ ra đỡ khiếp nhược hơn nhà nước rất nhiều.

Tại sao?

Lý do, có lẽ, vì mấy ông nhà báo đã được đề nghị sự đền bù vật chất tương xứng với sự nhục nhã mà họ phải chịu đựng, cùng với ít nhiều đe doạ (hoặc hứa hẹn) về tương lai chính trị nên họ đã lựa chọn thái độ chịu đấm ăn xôi. Đám nhà nước cũng thế nhưng ngoài xôi hẳn còn có thịt (rất nhiều thịt) nên phải chịu đấm nhiều hơn, nghĩa là phải tỏ ra hèn nhát và khiếp sợ hơn. Thái độ của họ khiến cho một người vốn ôn hoà và nho nhã như bác Nguyễn Quang Lập cũng phải (suýt) buột miệng chửi thề:”Chúng ông chỉ muốn bảo vệ chế độ thôi, Tổ quốc mất còn kệ cha nó.”

© Tưởng Năng Tiến

© Đàn Chim Việt

Liên-Hằng Nguyễn – Đập tan các huyền thoại về Việt Nam

In Chính trị (Politics), Lịch Sử, Liên Kết, Việt Nam on 2012/08/15 at 12:19

Liên-Hằng Nguyễn – DCVOnline lược dịch

Cuộc chiến tại Afghanistan tiếp tục kéo dài không thấy chiến thắng dứt khoát trong tầm tay, và  Mỹ bắt đầu rút quân, sự so sánh với chiến tranh Việt Nam lại một lần nữa bùng lên, 50 năm sau khi cả Washington và Hà Nội đã quyết định tăng cường lực lượng Nam Việt Nam. “Chỉ cần đọc thoáng qua danh sách từ ngữ chiến tranh Việt Nam,” Tom Engelhardt viết trong tạp chí Mother Jones,  “có ‘vũng lầy’” và “ý tưởng chiếm được ‘trái tim và lý trí’” cũng như “có thể ném bom được, có thể, hay trong thời đại của chúng ta hôm nay “cho máy bay không người lái”, “‘mật khu’ vùng biên giới” và có cả “phiên bản Mỹ Lai một người”. Mặc dù những tương tự này đặc biệt hấp dẫn các nhà bình luận – những người thấy cuộc chiến của Mỹ tại Afghanistan vô ích hơn chiến tranh Việt Nam và tánh thành một cuộc rút quân nhanh – họ vô cùng thiếu sót.

Một trong nhiều vấn đề của việc rút tỉa những bài học từ chiến tranh Việt Nam để áp dụng vào cuộc chiến tại Afghanistan là lịch sử của Chiến tranh Việt Nam thường bị hiểu lầm hoàn toàn. Lịch sử Chiến tranh liên tục khai triển cùng với sự xuất hiện của những bằng chứng mới, đặc biệt là những chứng từ mới từ phía bên kia [Việt Nam].

Vì ít chú ý để tìm hiểu động cơ thúc đẩy của địch, động lực nội bộ, và quan hệ đối ngoại, chúng ta [Hoa Kỳ] luôn luôn có một hình ảnh không đầy đủ và không chính xác về cuộc chiến tranh đó.

Nếu chúng ta muốn học hỏi từ quá khứ thì nên vén bức màn tre, từ  lâu đã che giấu những quyết định của Bắc Việt, để xóa tan một số huyền thoại đã hằn sâu về cuộc chiến  đó.

Người ta thường tin rằng Bắc Việt đã quyết định đi đến chiến tranh vào 1959-60 để cứu quân du kích miền nam khỏi bị xoá sổ và Đảng Cộng sản được người dân Việt Nam hết mình ủng hộ cho đến khi chiến tranh kết thúc vào năm 1975. Tuy nhiên, những bằng chứng gần đây cho thấy rằng quyết định đi đến chiến tranh tại miền Nam Việt Nam liên quan mật thiết đến các vấn đề ở Bắc Việt. Tạo ra chiến tranh cách mạng là một cách hiệu quả để đánh lạc hướng sự chú ý đến các vấn đề trong nước, gồm có một chiến dịch cải cách ruộng đất tàn tệ, một phong trào trí thức bất đồng chính kiến và một kế hoạch nhà nước không thành công trong việc cải tạo nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.

Một trong những nhận thức sai lầm lớn nhất về chiến tranh Việt Nam là Hồ Chí Minh là người lãnh đạo không tranh cãi của Bắc Việt. Trên thực tế, Hồ Chí Minh là một bù nhìn, trong khi Lê Duẩn, một người chỉ nằm trong ghi chú bên lề của lịch sử, chính là kiến trúc sư, chiến lược gia và là chỉ huy trưởng của nỗ lực chiến tranh của Bắc Việt. Một người trầm tĩnh, nghiêm khắc,  Lê Duẩn tránh sự chú ý, nhưng ông có ý chí sắt, tập trung và khả năng hành chính cần thiết để thống trị Đảng Cộng sản [Việt Nam].

Bí thư thứ nhất, Lê Duẩn, bên trái của Hồ Chí Minh trong một cuộc họp tại Hà Nội năm 1966. (Nguồn ảnh: Nihon Denpa News/Associated Press)

Cùng với cánh tay phải, Lê Đức Thọ, người sau này đối đầu với Henry A. Kissinger trong các cuộc đàm phán hòa bình tại Paris, ông Duẩn xây dựng một đế chế quân phiệt vững mạnh mà đến nay vẫn bao trùm Hà Nội. Chính sách hiếu chiến của họ đã đưa Bắc Việt vào cuộc chiến chống lại Sài Gòn và sau đó là Washington, và cũng để bảo đảm một nền hòa bình qua đàm phán sẽ không bao giờ thay thế được một thắng lợi hoàn toàn.

Lê Duẩn cai trị với  bàn tay sắt và xem Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nổi tiếng vì đánh bại Pháp ở Điện Biên Phủ, là mối đe dọa lớn nhất đối với quyền lực của mình. Ông Duẩn đã cho ông Hồ, Tướng Giáp và nhóm đàn em ra rìa và gần như nắm hết những quyết định quan trọng.

Năm 1963-4, Lê Duẩn hăm dọa khiến Hồ Chí Minh phải nín thinh khi người lãnh tụ già chống lại quyết định [của Lê Duẩn] nhằm leo thang chiến tranh và đi đến toàn thắng trước khi quân đội Mỹ có thể can thiệp. Và năm 1967-8, có một cuộc thanh trừng quy mô [Vụ án Xét lại Chống Đảng] tại Hà Nội khi Hồ Chí Minh, Tướng Giáp và các đồng minh của họ phản đối kế hoạch Tổng tấn công Tết Mậu Thân của Lê Duẩn. Mặc dù cuộc chiến tại miền Nam ban đầu đã tập hợp được người miền Bắc ủng hộ Đảng CSVN, nó đã nhanh chóng trở thành một vũng lầy. Lê Duẩn và Lê Đức Thọ phản ứng bằng cách tạo ra một nhà nước thành lũy [dựa vào sức mạnh của bạo lực], dán nhãn cho tất cả mọi đối kháng lại chính sách chiến tranh của họ là phản quốc. Bằng cách gia tăng quyền hạn của lực lượng nội an và công an tư tưởng và làm quân du kích miền Nam khuất phục Hà Nội, họ đã có thể tiến hành chiến tranh toàn diện theo quyết định của họ cho đến năm 1975.

Sự kình địch giữa Trung Quốc và Liên Xô cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định quá trình cuộc chiến Việt Nam. Chủ nghĩa cực đoan đang lên của Trung Quốc và sự thiếu cam kết với những cuộc cách mạng tại thế giới thứ ba của Liên Xô khiến Lê Duẩn nghiêng về phía Trung Quốc và đẩy mạnh chiến tranh quy mô ở miền Nam vào đầu những năm 1960. Khi sự tham gia của Mỹ đã tăng lên vào năm 1965, Liên Xô đổ viện trợ vào Bắc Việt. Đến năm 1968, sự cạnh tranh ảnh hưởng với Hà Nội giữa Bắc Kinh và Moscow đã trở nên căng thẳng.

Lê Duẩn đã tìm cách khẳng định quyền tự chủ Việt Nam bằng cách tung ra hai cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968 và Mùa Hè đỏ lửa [Chiến dịch Xuân-Hè] năm 1972. Cả hai cuộc tấn công này đều không được Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa chấp thuận. Năm 1972, chuyến viếng thăm Trung Quốc và Liên Xô của Richard M. Nixon đã đánh dấu đỉnh cao của nỗ lực ngăn cản chiến tranh của Trung-Xô với Bắc Việt. Cả hai đồng minh Trung, Xô gây áp lực với Hà Nội đòi chấm dứt chiến tranh theo các điều khoản của Nixon để tranh dành ân sủng của Washington. Thay vì chờ sự “phản bội của nước lớn”, Lê Duẩn và các đồng chí đã phát động cuộc Tổng tấn công Xuân-Hè 1972, với mục đích lật đổ chính phủ Sài Gòn và đánh một đòn quan trọng vào tình hình bớt căng của Mỹ với Liên Xô và Trung Quốc.

Cuối cùng, Mỹ tự đánh bại mình trong chiến tranh Việt Nam là một huyền thoại. Trên thực tế, Việt Nam đã không là con rối hoặc người thụ động trong cuộc chiến của họ; họ đã xắp xếp hành động của Mỹ ở Việt Nam cũng như trật tự chiến tranh lạnh trên thế giới. Chính quyết định đi đến chiến thắng của Lê Duẩn trong năm 1964 đã thúc đẩy Mỹ dứt khoát can thiệp. Và các đồng minh ở Sài Gòn đã trì hoãn việc Mỹ rút quân khỏi Việt Nam.

Họ gan lỳ theo đuổi lợi ích riêng của họ, ngay cả khi việc này gây bất lợi cho liên minh Washington-Saigon. Làm Mỹ phải rút quân chậm lại vào năm 1969 và phá vỡ các cuộc hòa đàm giữa Kissinger và Lê Đức Thọ trong những năm 1972-3, giới lãnh đạo miền Nam đã làm việc Mỹ rút lui khỏi khu vực Đông Nam Á phức tạp hơn nhiều. Mặc dù Washington có lý do riêng của nội bộ và về mặt địa chiến lược để can thiệp và ở lại Việt Nam, giới lãnh đạo tại Hà Nội và Sài Gòn đã quyết định tính chất và tốc độ can thiệp của Mỹ.

Chiến đấu trong cuộc chiến cuối cùng luôn luôn là một mối nguy hiểm. Nó lại trở thành vấn đề lớn hơn khi những sự tương tự lịch sử dẫn lối cho các chính sách hiện nay lại dựa trên sự hiểu biết không đầy đủ và sai sót về những thất bại trong quá khứ của Mỹ. Bằng chứng lịch sử mới đã sửa lại sự hiểu biết của chúng ta về chiến tranh Việt Nam và làm cho tất cả mọi đánh đồng trực tiếp không đứng vững, ít nhất chúng ta có thể rút ra một bài học: chúng ta cần khắt khe trong phân tích về nỗ lực chiến tranh của địch.

Lãnh đạo Taliban có  những quan điểm xung đột về các cuộc đàm phán hòa bình, triển vọng hòa giải với chính phủ Afghanistan, và hướng đi của phong trào. Với Mullah Muhammad Omar chỉ như là lãnh đạo tinh thần của Taliban, cơ hội đã xuất hiện cho một phe dám làm với một chỉ huy kiên định – như là trường hợp của Lê Duẩn – để thống nhất hay thống trị các phe nhóm tại Afghanistan. Nhóm lãnh đạo mới này chắc chắn sẽ là người chủ chiến, và đặc biệt nếu Mỹ có một thỏa thuận không phổ biến với các quan chức Taliban ở Pakistan.

Và ngay cả khi thương vong gia tăng cuối cùng có thể khiến phe chủ chiến ủng hộ hòa bình, chính sách của Lầu Năm Góc xếp loại tất cả đàn ông thanh niên trong vùng lân cận với các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái là binh sĩ có thể làm suy yếu khuynh hướng ủng hộ hòa bình, cũng giống như cách Mỹ đã ném bom tới tấp vào các “vùng oanh kích tự do” và “khu oanh tạc có quy định” trong chiến tranh Việt Nam đã đẩy biết bao người dân bực tức gia nhập hàng ngũ Cộng sản.

Hiểu rõ vai trò của các nhân tố trong khu vực là điều rất quan trọng với Hoa Kỳ – thí dụ như các dịch vụ an ninh của Pakistan – có ảnh hưởng đến chính trị nội bộ của Taliban. Trong khi sự cạnh tranh giữa Trung Quốc-Liên Xô cho phép Hà Nội duy trì quyền tự chủ cùng lúc nhận được viện trợ tối đa từ cả hai nước, các cuộc nổi dậy tại Afghanistan không được lợi thế như vậy, đặc biệt vì ảnh hưởng của nước láng giềng, Iran, rất hạn chế. Do đó, Mỹ có vị thế thuận lợi hơn ở Afghanistan so với vị trí đã có tại Việt Nam.

Cuối cùng, Hoa Kỳ dự định hoàn tất cuộc rút quân vào năm 2014, nhưng như lịch sử cho thấy, đồng minh có thể không luôn luôn thực hiện theo mong muốn của chúng ta. Có thể là chính phủ Hamid Karzai hoặc chính quyền kế nhiệm sẽ định tốc độ của việc rút quân của Mỹ khỏi Afghanistan. Vì như chúng ta đã thấy tại Việt Nam, chúng ta không thể giả định rằng chúng ta có thể một mình quyết định được hành động của mình.

© DCVOnline

Nguồn: Exploding the Myths About Vietnam. By LIEN-HANG NGUYEN, The New York Times. August 11, 2012.

Bài liên hệ: Có nhiều điều đáng giá trong quyển “Cuộc chiến của Hà Nội”

Liên-Hằng Nguyễn là Phó Giáo sư lịch sử  tại Đại học Kentucky và là tác giả cuốn Chiến tranh của Hà Nội: Một lịch sử quốc tế của cuộc chiến tranh vì hòa bình tại Việt Nam. (“Hanoi’s War: An International History of the War for Peace in Vietnam”)