vietsoul21

Archive for the ‘Lịch Sử’ Category

Tưởng Năng Tiến – Một mùa thu đểu

In Chính trị (Politics), Lịch Sử, Liên Kết, Tạp văn on 2012/08/10 at 08:02

 

Lời Thưa Đầu: Khi già, tôi thấy mình gần với thiên nhiên hơn và lấy làm tiếc là đã có lúc sống quá hối hả nên quên để ý sự thay đổi hàng năm của đất trời. Cả bốn mùa – Xuân, Hạ, Thu, Đông – đều coi như “nơ pa” tuốt luốt.

Đêm qua, tình cờ đọc lại mấy bài thơ (Thu Ẩm, Thu Vịnh, Thu Điếu) của Nguyễn Khuyến mà bâng khuâng cảm xúc rạt rào mãi cho đến sáng. Sáng, nhủ lòng (Ngô đồng nhất diệp lạc – Thiên hạ cộng tri thu) mình cũng nên có đôi lời về Mùa Thu – cho nó có vẻ văn nghệ sĩ chơi, chút xíu – dù chỉ là … Thu đểu!

Trân Trọng

——————————————-

Ngày 26 tháng 6, VNEXPRESS đi tin: “Hàng trăm công nhân Bình Dương nhập viện sau bữa cơm chiều.” Qua mấy bữa sau, 30 tháng 7, cũng VNEXPRESS lại đưa tin nữa: “Công nhân Bình Tân ngộ độc tập thể sau bữa cơm trưa.”

Ôi, tưởng gì chớ mấy chuyện lẻ tẻ này thì ông Nguyễn Thanh Phong – Phó Cục Trưởng Cục An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm – đã báo trước cả tháng rồi mà. Trong buổi gặp mặt báo chí sáng 14-6, tại Hà Nội, giới chức có thẩm quyền này cho biết: “Tình trạng ngộ độc thực phẩm quý II tăng hơn quý I” và nguyên nhân là “do thời tiết nóng bức ảnh hưởng rất lớn đến đường tiêu hóa.”

Thủ phạm, rõ ràng, đã bị chỉ tên.Tuy nhiên (và tất nhiên) không ai hẹp hòi và cố chấp tới cỡ chỉ trích, phê bình, bắt lỗi … thiên nhiên hay thời tiết!

Nắng mưa là bệnh của Trời.

Ngộ độc là bệnh của người không may!

Đợi qua qúi III, khi mùa Thu tới, khí trời trở nên mát mẻ “sẽ không ảnh hưởng lớn tới đường tiêu hóa” nữa thì tình trạng ngộ độc thực phẩm (automatic) sẽ giảm thôi. Còn chuyện những sản phẩm không đạt tiêu chuẩn chất lượng (như rau đểu, gạo đểu, bún đểu, bánh phở đểu, trứng đểu, thịt đểu, dầu ăn đểu, gia vị đểu …) đều là do bọn đểu làm ra.

Cục An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm (nói riêng) và Nhà Nước (nói chung) hoàn toàn (và tuyệt đối) không dính dáng gì ráo đến những việc tiêu cực, xấu xa này. Nói tóm lại, và nói theo người đời thường là “Trời kêu ai nấy dạ.” Ăn uống (bậy bạ) nhằm lúc “thời tiết xấu” thì bị ngộ độc ráng chịu, vậy thôi.

Mà chỉ bị ngộ độc cấp tính vì thực phẩm thì kể như là chuyện nhỏ – và là chuyện xẩy ra hàng ngày – bất kể mùa màng hay thời tiết ra sao, ở xứ mình. Nơi đây, đồ ăn thức uống nhiều thứ gây ảnh hưởng độc địa hơn nhiều – có thể khiến “hại gan, suy tủy, ảnh hưởng thận – theo như tường thuật của hai ký giả Đoàn Huy và Thanh Tùng, qua loạt bài phóng sự (“Hãi Hùng Cà Phê Đểu”) đọc được trên Thanh Niên On Line bắt đầu từ ngày 17 tháng 7 năm 2012:

Trưa ngày 6.7, men theo con kênh nước đen bốc mùi trên đường Tô Hiệu, P.Hiệp Tân, Q.Tân Phú, chúng tôi tìm đến cơ sở rang xay cà phê Thông Phát (số 108 – lô 4 Tô Hiệu, P.Hiệp Tân, Q.Tân Phú). Cơ sở như một nhà kho, được xây dựng bằng sắt thép mái tôn cũ kỹ, trên diện tích hơn 500 m2. Bên phía tay phải cơ sở, chiếm 2/3 diện tích là nơi chứa hàng trăm bao tải đậu nành; phần còn lại đủ để 3 máy rang đậu và 1 căn phòng nhỏ chứa các thùng hóa chất…

 “Cơ sở chế biến cà phê nhưng đố anh tìm được hạt cà phê nào” – một công nhân ở đây vừa cười vừa nói…

Dân Việt có thể sống với những toà án đểu, bệnh viện đểu, bằng cấp đểu, quan chức đểu, lý lịch đểu, dự án đểu, công ty đểu, qui hoạch đểu, truyền thông đểu, quốc hội đểu, chính phủ đểu … thì (lỡ) uống lai rai thêm vài ly cà phê đểu – nghĩ cho cùng – cũng không phải chuyện “hãi hùng” gì cho lắm. Điểm duy nhất đáng chú ý trong loạt bài phóng sự của Đoàn Huy và Thanh Tùng là họ khám phá ra được cách chế biến thế thôi:

Đậu nành + hoá chất = cà phê đểu!

Công thức giản dị này dễ khiến cho người ta liên tưởng đến một sự kết hợp nhuần nhuyễn khác, cũng tại Việt Nam:

Dối trá + bạo lực = cách mạng đểu!

Riêng về mặt “dối trá,” nhân dịp cả nước đang nô nức chuẩn bị đón chào và kỷ niệm cuộc Cách Mạng Mùa Thu, xin mời mọi người xem qua (một phần) cuộc phỏng vấn của một nhà báo trẻ với một nhà cách mạng lão thành:

Nói về Tổng khởi nghĩa 1945, một điều có lẽ là thắc mắc của một số người (tôi không nói là “nhiều người”, vì không biết nhiều ít thế nào), là thực sự thì cuộc Cách mạng Tháng Tám có ý nghĩa đặc biệt quan trọng hay không, khi mà Nhật đã bại trận trong Thế chiến và sẽ phải rút khỏi Đông Dương, Việt Nam đã có một chính phủ (của Bảo Đại và Trần Trọng Kim), v.v.
Tôi hy vọng những điều mà bà Lê Thi – một trong những nhân chứng của thời đó – nói trong bài dưới đây, có thể trả lời phần nào câu hỏi này – từ góc nhìn của bà… bà Lê Thi sinh năm 1926, nguyên Viện trưởng Viện Triết học, con gái cố Giáo sư Dương Quảng Hàm; bà cũng là một trong hai thiếu nữ kéo cờ trong lễ Độc lập 2/9/1945.(Người kia là bà Đàm Thị Loan, phu nhân Đại tướng Hoàng Văn Thái).”

– Và ngày 17 tháng 8 đã diễn ra như thế nào? Với tư cách một người tham gia cả quá trình, từ lúc chuẩn bị tới khi thực hiện, xin bà kể lại những gì bà còn nhớ về sự kiện 17 tháng 8.
– Ngày hôm đó, chúng tôi dán cờ đỏ sao vàng bằng giấy, giấu sẵn trong người, kéo tới quảng trường Nhà hát lớn để dự mít tinh từ sáng sớm. Khi người của chính quyền Trần Trọng Kim vừa chuẩn bị khai mạc, thì một người – sau này tôi biết đó là ông Trần Lâm, nguyên Giám đốc Đài Phát thanh – Truyền hình Việt Nam – đã lên được gác hai tung cờ đỏ sao vàng của ta lên. Lá cờ rất lớn, phấp phới bay trong gió, đẹp và oai hùng lắm. Cùng lúc đó, Việt Minh cũng giành micro từ tay người của phía chính quyền, chuyển nó cho hai phụ nữ đại diện của Mặt trận Việt Minh lên nói chuyện
…”

(“Đoan Trang. “Cuộc Khởi Nghĩa Của Những Người Tay Không.” Tuần Việt Nam 18 Aug. 2009).

Tuy bà Lê Thi mô tả đây là một cuộc khởi nghĩa của “những người tay không” (*) nhưng – rõ ràng – họ đã “giấu sẵn trong người”  và trong tâm nhiều điều khuất tất. Họ đã “giành micro,” “chớp thời cơ,” và “cướp chính quyền” từ một chính phủ hợp hiến mà vẫn trơ tráo nhắc lại với rất nhiều hãnh diện.

Bằng vào những thủ thuật gian trá tương tự (cùng với bạo lực) hơn nửa thế kỷ qua, những người cộng sản Việt Nam đã tạo dựng ra một Tổ Quốc Xã Hội Chủ Nghĩa – với rất nhiều nét đặc thù:

“Tổ quốc đã trở thành đao phủ. Những người địa chủ và tư sản không những bị ruồng bỏ mà còn bị coi là thù địch và bị tàn sát. Rồi cũng nhân danh tổ quốc họ phát động chiến tranh thôn tính miền Nam làm hàng triệu người chết và đất nước kiệt quệ.Tổ quốc đồng nghĩa với chiến tranh và chết chóc. Toàn thắng rồi, tổ quốc xã hội chủ nghĩa quên phắt cam kết thực hiện hoà giải và hoà hợp dân tộc. Tổ quốc bỏ tù và hạ nhục hàng triệu người. Tổ quốc đánh tư sản, tống cổ con cái ‘ngụy quân, ngụy quyền’ ra khỏi trường học và lùa đi vùng kinh tế mới. Tổ quốc khống chế và hăm dọa bằng công an thành, công an tỉnh, công an huyện, công an phường. Biết dân chúng không còn chịu đựng được nữa và muốn bỏ nước ra đi, tổ quốc đứng ra tổ chức vượt biên bán chính thức để lấy tiền chuộc mạng của những người muốn chạy trốn nanh vuốt của mình. Tổ quốc hành động như bọn giặc cướp. Đến khi bị dư luận thế giới lên án dữ dội vì hành động bỉ ổi này, tổ quốc dẹp luôn đợt vượt biên bán chính thức và dĩ nhiên không trả lại tiền. Tổ quốc đểu cáng và lật lọng.”

“Đối với những người ra đi, tổ quốc là sóng gió, hải tặc, là cái chết trong bụng cá, may mắn hơn là những ngày ê chề trong những trại tập trung trước khi tìm được một quê hương mới. Tổ quốc là một dĩ vãng cần quên đi. Đối với những người ở lại, tổ quốc đổi tiền mấy lần để cướp giật, tổ quốc sách nhiễu từng ngày. Tổ quốc nói trắng cũng được, nói đen cũng xong, cấm rồi lại cho phép, cho phép rồi lại cấm, muốn bắt hay tha tùy ý, người dân chịu đựng hết. Vì tổ quốc có súng.” (Nguyễn Gia Kiểng. Tổ Quốc Ăn Năn. Không có tên NXB. Paris 2001, 570 – 571).

Ông Nguyễn Gia Kiểng nói (nghe) có vẻ hơi quá lời nhưng thực ra vẫn chưa đủ ý. Xin nghe thêm vài nhận xét nữa của nhà vănPhạm Đình Trọng – người hiện đang sống ở trong nước – về những “thảm hoạ” mà Cách Mạng Tháng Tám đã “mang lại” cho người dân Việt:

Thảm họa chia cắt đất nước. Chia đôi dân tộc Việt Nam thành hai phe, hai trận tuyến chém giết nhau cả chục năm đằng đẵng, hàng triệu người lính Việt Nam, hàng triệu dân thường Việt Nam bị chính người Việt giết chết, hàng triệu người vợ góa bụa, hàng triệu người mẹ cô đơn, hàng triệu gia đình tan nát. Đất nước thành núi xương, sông máu. Cả dân tộc điêu linh, nghèo đói vì đất nước bị chia đôi, hai miền Nam, Bắc thành hai trận tuyến bắn giết  nhau.”

 

Di cư 1954. Nguồn ảnh: langven.com

“Thảm họa Cải cách ruộng đất. Chia một dân tộc vốn yêu thương đùm bọc nhau, thương người như thể thương thân, thành những giai cấp đối kháng luôn hằm hè đấu tranh giai cấp, luôn nung nấu hận thù giai cấp, đấu tố, thanh trừng, sát phạt, hãm hại nhau dẫn đến hàng trăm ngàn cái chết oan ức, tức tưởi cho người lương thiện. Cải cách ruộng đất hủy diệt những giá trị vật chất, hủy diệt cả những giá trị văn hóa, tâm linh. Khối đoàn kết dân tộc vốn là sức mạnh, là tài sản của dân tộc Việt Nam bị phá nát. Đạo lí, văn hóa dân tộc bị hủy hoại. Niềm tin tôn giáo thánh thiện bị loại bỏ để bây giờ chỉ còn niềm tin thô tục, thấp hèn, sì sụp lễ bái cầu tài, cầu lộc, cầu thi đỗ, cầu được cơ cấu, cầu được trúng cử trong đại hội đảng kì, cầu tiêu diệt, trừ khử được đối thủ cạnh tranh trong chính trị, trong làm ăn.

“Thảm họa Nhân văn Giai phẩm. Đầy đọa cả một đội ngũ trí thức, nghệ sĩ, xóa sổ đội ngũ trí thức, nghệ sĩ đích thực, chân chính để chỉ còn những trí thức, những nghệ sĩ bị công chức hóa, nô lệ hóa, giết chết sự sáng tạo cả một nền văn học nghệ thuật.

 

Đấu Tố. Nguồn: Nhà Xuất bản Mỹ thuật, 2010.

Thảm họa tập trung cải tạo. Tù đày không án hàng trăm ngàn người Việt Nam khác biệt ý thức hệ. Đất nước thống nhất mà vẫn phân chia ta, địch trong lòng dân tộc, vẫn khoét sâu trận tuyến ý thức hệ trong lòng dân tộc, dân tộc mãi mãi li tán.

Thảm họa tha hương. Hơn ba triệu người phải xa người thân yêu ruột thịt, rời bỏ quê hương đất nước ra đi để chối bỏ sự phân biệt đối xử, trốn tránh cuộc đấu tranh giai cấp độc ác, vô lương. Nửa triệu người bỏ xác dưới đáy biển. Xa nước đã hơn ba chục năm, đến nay nhiều người vẫn chưa được một lần về thăm nước chỉ vì khác biệt ý thức hệ, bị chính quyền trong nước vẫn coi là thế lực thù địch, bị cấm cửa không cho về. Những ai đã xa nước mới thấm thía việc ngăn cấm con người trở về với quê cha đất tổ, trở về với cội nguồn dân tộc là độc ác, vô lương không còn tính người như thế nào!

Thảm họa Bắc thuộc. Chính quyền nhà nước ở Việt Nam hiện nay như không còn là chính quyền của nhân dân Việt Nam, như không còn là chính quyền của đất nước Việt Nam nữa mà là chính quyền của Đại Hán phương Bắc.

Dù phải sống với chừng đó thảm họa, hàng năm – cứ vào đầu Thu – nhà nhà vẫn phải chưng ảnh và treo cờ. Người người vẫn phải hân hoan, nhiệt liệt chào mừng và kỷ niệm Cách Mạng Mùa Thu. Chỉ cần tỏ ra không hân hoan hoặc kém nhiệt liệt (chút xíu) là lôi thôi lắm, và lôi thôi ngay, chứ không phải bỡn.

Thiệt là một mùa Thu đểu!

© Tưởng Năng Tiến

——————————————-

(*) Trong một bài viết trước (“Bọn Mafia Và Những Người Làm Cách Mạng”) trên diễn đàn talawas, chúng tôi đa ghi nhầm rằng “ký giả Đoan Trang gọi đây là Cuộc khởi nghĩa của những người tay không.” Thực ra, đây là cách nói của bà Lê Thi, và đã được Đoan Trang dùng làm tựa cho bài phỏng vấn dẫn thượng. Xin chân thành xin lỗi độc giả, và nhà báo Đoan Trang, về sự sơ xuất và cẩu thả của chúng tôi.

 

Nguồn: Đàn Chim Việt

Vũ Đông Hà – Đứa nào là tổ sư lợi dụng lòng yêu nước?

In Chính trị (Politics), Lịch Sử, Liên Kết, Việt Nam on 2012/07/28 at 15:57

 

Đứa nào thay tên đổi họ, che tông họ Cộng, dấu tích loài Sản, rao hàng Việt minh, lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân để “cướp chính quyền”?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để cướp xong là độc lập thành độc quyền cai trị đất nước?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để lập nên điều 4 và sau đó có đứa tuyên bố bỏ đi là tự sát?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để gào lên “Thương cha, thương mẹ, thương chồng / Thương mình thương một, thương Ông thương mười / Yêu con yêu nước yêu nòi / Yêu bao nhiêu lại yêu Người bấy nhiêu!; để oe oe Tiếng đầu lòng con gọi Stalin?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để thiết tha tha thiết “Bên kia biên giới là nhà/ Bên nầy biên giới cũng là Quê hương”?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để sẵn sàng đốt cháy Trường Sơn, xua hàng triệu thanh niên Việt Nam vào cuộc chiến huynh đệ tương tàn, sinh Bắc tử Nam?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để nướng hàng nghìn thanh niên Việt Nam trên núi rừng Tây Nam?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để gửi thanh niên ra chiến trường Việt Bắc và sau đó làm đẹp lòng quân xâm lược – nay đã trở thành đồng chí 4 tốt 16 vàng – xóa bia đục mộ những người con nước Việt hy sinh vì tổ quốc?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để cắt đất, chia rừng, bỏ biển, bỏ đảo cho những con cắc kè đồng chí-xâm lược-đồng chí đã từng huênh hoang “dạy cho VN một bài học”?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để Ải Nam Quan, nửa Thác Bản Giốc và một phần lãnh thổ biên giới Việt Trung bị xóa tên trên bản đồ Tổ quốc?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để ký công hàm dâng đảo, để ngày hôm nay Hoàng Sa – Trường Sa được các đồng chí “bên kia biên giới là nhà” chính thức trương bảng Tam Sa?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để treo đèn lồng phương bắc, gắn thêm sao trên cờ đỏ 4 cánh, rình rập âm mưu đem tiếng nước “lạ” dạy cho học trò con nít dân ta?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để tống giam thiếu nữ biểu tình tại nhà – đả đảo quân xâm lược?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để đạp mặt chính “đồng chí” của mình xuống đường phản đối bọn xâm lăng?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để bắt người phụ nữ lên tiếng bảo vệ biển đảo vào trại phục hồi nhân phẩm?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để bán rẽ tài nguyên tổ quốc?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để vẽ vời các đề án phát triển đất nước nhằm rút ruột công trình?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để ăn cắp tiền bá tánh ODA?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để vay tiền mượn vốn và làm giàu trên núi nợ của quốc gia?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để đổ lên đầu nhân dân Vinashin, Vinalines, trái bom bùn đỏ bô xít trên nóc nhà Tây Nguyên?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để ra đi từ vô sản trở về là tài phiệt, tư bản đỏ?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để bám ghế giữ quyền trong khi tự thú nhận cả đám là một bầy sâu – sâu nhỏ, sâu lớn; cả lũ từ trên xuống dưới càng chỉnh càng đốn?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để phán rằng đóng phí là yêu nước?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để phán rằng vệ sinh là yêu nước?

Đứa nào…

Đứa đó, chính nó là tổ sư lợi dụng lòng yêu nước. 

Đứa đó:

không có yêu nước mà chỉ có lợi dụng lòng yêu nước. 

   đó là nghề và độc quyền của tổ sư. 

 “thằng” nào khác yêu nước là “thằng” đó láo! 

   “Con” nào khác yêu nước, “con” đó là đồ phản động!

Nguồn: Danlambao

Báo Tiếng Vang An Nam: Một cuộc trao đổi ý kiến với ông Phan Chu Trinh

In Chính trị (Politics), Lịch Sử, Liên Kết, Việt Nam on 2012/07/15 at 09:26

 

Theo cuốn Phan Chu Trinh – Toàn Tập, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2005

KHÔNG CÓ CHÍNH QUYỀN NÀO LÀ KHÔNG THỂ SAI LẦM. Vậy phải cho đồng bào chúng ta quen phản đối, khích lệ họ phản đối trong giới hạn hợp pháp, mỗi khi họ là nạn nhân của một sự bất công hoặc sự nhũng lạm nào đó. Báo chí chống đối là điều cần thiết để tố cáo một cách vô tư tất cả những sự lạm quyền, tất cả những sai lầm mà người cai trị có thể mắc phải. Ai không nói gì là tán thành. Sự nhẫn nhục hoặc đúng hơn là sự câm lặng của người An Nam làm cho chính quyền tin rằng nhân dân thỏa mãn, và chính quyền sẽ yên ngủ coi như đã tròn phận sự. Đúng là vì sao lại đi trao tự do cho những người nô lệ bằng lòng với số phận của họ?

Chúng tôi vui mừng gửi đến bạn đọc bản tường thuật một cuộc nói chuyện mới đây của một cộng tác viên của chúng tôi với ông Phan Chu Trinh.

Chúng tôi vui mừng hoàn toàn nhất trí về những vấn đề của nước An Nam với một trí thức lớn đã có một cuộc sống sôi động, đã quan sát nhiều và suy ngẫm lâu dài về những cái đã thấy, và với một người đã dũng cảm chịu đựng đau khổ, nên chính kiến và lời nói có một quyền uy đặc biệt.

Cách đây mấy hôm, tôi được dự bữa cơm tối chào mừng ông Phan Chu Trinh.

Suốt bữa chiêu đãi thân mật ấy, người bị đày biệt xứ đã kể cho chúng tôi những kỷ niệm thời ở Côn Đảo, thời bị tống giam vào nhà tù Santé tại Paris, khi ông từ chối chính phủ Pháp buổi đầu chiến tranh yêu cầu ông trở về Đông Dương để truyền tuyển mộ người An Nam đi lính tình nguyện, bởi vì ít người tình nguyện quá nên nhà chức trách địa phương phải có biện pháp ép buộc.

Ông nói với chúng tôi rằng người An Nam phải TIN CẬY VÀO CHÍNH MÌNH. Được đào tạo, uốn nắn và giáo dục theo những giáo huấn của văn minh Trung Hoa cổ, họ phải hiểu rằng một số khía cạnh của nền văn minh ấy không còn phù hợp với những đòi hỏi của cuộc sống hiện đại. Hãy từ bỏ chúng không thương tiếc, không sợ sệt, vì chính Trung Quốc đã vứt bỏ chúng! Để tham gia vào cuộc đại vận động sôi nổi khích lệ các dân tộc khắp nơi, người An Nam phải dũng cảm bắt tay vào việc tiếp thu những kiến thức mà họ thiếu. Trong mọi việc, phải có một phương pháp làm việc, một tổ chức sử dụng mọi cố gắng, mọi ý chí rời rạc phải tụ hội vào tổ chức đó. Một kỷ luật xã hội cũng rất cần thiết.

Mỗi người, bỏ ngoài quyền lợi cá nhân của mình, phải tận tụy trong tính toán với quyền lợi chung, cá nhân phải biến mất trước tập thể, như vậy việc giải phóng của người An Nam tùy thuộc vào ý chí kiên trì của họ để đạt được nó.

Ông Phan Chu Trinh không thuộc phái chủ trương giải phóng bằng bạo lực, bằng vũ khí. Ông nói rằng ngày mà chúng ta đã khá phát triển để xứng đáng đứng vào hàng ngũ những dân tộc hiện đại, ông chắc rằng nước Pháp hẳn sẽ thỏa mãn những yêu cầu của chúng ta.

– Hãy tiến lên, ông nói to, hỡi thanh niên của thế hệ hiện đại, chúng tôi đặt cả hy vọng vào các bạn. Trên con đường tiến bộ mà các bạn đi những bước dài, những người già yếu tuổi tác [1] như tôi sẽ phải chống gậy theo các bạn để khỏi rơi rụng dọc đường.

– Trong khi trong thiên nhiên, mọi thứ đều là vận động và tiến hóa, tại sao chúng ta lại chậm trễ rồi tụt hậu với những công thức cũ rích của những nguyên tắc lỗi thời? Không có sự dừng lại trong sự tiến triển của một dân tộc. Dân tộc nào không tiến lên thì thụt lùi. Cũng phải nhớ rằng nước An Nam dưới thời Trần đã có một kỷ nguyên vinh quang và thịnh vượng nổi bật. Chính quyền thời ấy là một chính quyền dân chủ, từ ngữ mà lúc bấy giờ Châu Âu chưa biết đến vì bất kỳ đâu, Châu Âu lúc đó đang rên xiết dưới sự chuyên chế tàn bạo của chế độ phong kiến. Vài năm sau, những ông vua xấu – mà tôi không muốn nêu tên – đã đưa vào nước ta nền văn minh Mãn Châu mà họ là những tín đồ trung thành. Và đó là sự tan vỡ của lịch sử chúng ta. Con người bị rơi vào tình cảnh nông nô, phải chịu sưu cao thuế nặng mà không dám than vãn. Từ đó mà có sự nhịn nhục, sự thụ động của nhân dân An Nam. Điều đó phải chấm dứt. KHÔNG CÓ CHÍNH QUYỀN NÀO LÀ KHÔNG THỂ SAI LẦM. Vậy phải cho đồng bào chúng ta quen phản đối, khích lệ họ phản đối trong giới hạn hợp pháp, mỗi khi họ là nạn nhân của một sự bất công hoặc sự nhũng lạm nào đó. Báo chí chống đối là điều cần thiết để tố cáo một cách vô tư tất cả những sự lạm quyền, tất cả những sai lầm mà người cai trị có thể mắc phải. Ai không nói gì là tán thành. Sự nhẫn nhục hoặc đúng hơn là sự câm lặng của người An Nam làm cho chính quyền tin rằng nhân dân thỏa mãn, và chính quyền sẽ yên ngủ coi như đã tròn phận sự. Đúng là vì sao lại đi trao tự do cho những người nô lệ bằng lòng với số phận của họ?

Còn về tinh thần gia đình và các vị nói đó, đó là một điều rất hay, là điều duy nhất đáng kính nể. Tôi không thể không cảm thấy vô cùng buồn bã khi thấy đến lúc xế chiều những ông già bà già suy yếu thảm bại, mà không có một cánh tay mạnh khỏe để dựa vào. Phải giúp đỡ bố mẹ, những người đã lo lắng và nhọc nhằn nuôi nấng con cái. Đó là bổn phận sơ đẳng nhất của con người.

– Người ta phải biết sự căm ghét của ông đối với triều đình Huế! Một phong trào dư luận đang thành nhằm xóa bỏ vương quyền. Ông có thể nói cho chúng tôi biết ý kiến của ông về vấn đề này?

– Quả thực – Phan Chu Trinh trả lời – tôi không mặng mà lắm với triều đình Huế. Điều đó giải thích sự thất sủng rồi án tử hình mà tôi phải chịu. Nếu bây giờ tôi còn giữ được cái đầu trên cổ, đó là do sự can thiệp của những nhân vật có thế lực ở Pháp [2]. Ý kiến của tôi về cái triều đình hình thức ấy không thay đổi. Tôi đồng ý xóa bỏ nó đi một cách hoàn toàn và đơn giản và thay thế bằng sự cai trị trực tiếp của chính quyền bảo hộ Pháp. Giải pháp ấy, ngoài những điều lợi mà nó đem đến, còn vì ngân sách khỏi phải vì những mục đích mơ hồ và duy trì một ông vua ủy mị và những thượng thư không quyền hành. Nó còn làm cho người An Nam có quan hệ trực tiếp với chính quyền bảo hộ. Chính phủ bảo hộ sẽ không thể dùng nhà vua để che giấu những ý đồ của mình, để chối cãi vai trò chủ trương hoạch định của mình về những biện pháp hành chính, và do đó, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về những biện pháp ấy. [Đọc đến đây tôi không thể không liên tưởng đến hệ thống Đảng lãnh đạo và Nhà nước thực hiện của chúng ta hiện nay!]

Sự tiến hóa của nhân dân An Nam tùy thuộc một phần vào việc chính phủ Pháp quyết định vấn đề này như thế nào. Khi chúng ta can đảm cắt đứt ngay với di sản nặng nề của những thế hệ đã qua, chúng ta sẽ tiến lên phía trước một bước dài trên con đường giải phóng. Việc giải phóng này không phải không vấp trở ngại và chấn động, nhưng đó là cái giá phải trả không tránh khỏi cho mọi tiến bộ.

– Theo ông, phương tiện nào hữu hiệu nhất giúp chúng ta đạt đến sự giải phóng mà ông nói đến?

– Giáo dục, như tôi đã nói với các ông rồi. Giáo dục phổ cập khắp nơi, giáo dục tăng cường, giáo dục không theo đuổi mục đích thực dụng là giúp người An Nam mưu đồ địa vị và bổng lộc ở chốn quan trường, mà là để làm phương tiện giải phóng quần chúng. Khi đại đa số nhân dân An Nam CÓ HỌC VẤN sẽ hiểu những “VÌ SAO?” và “NHƯ THẾ NÀO?” của sự vật, khi họ ý thức được mình, ý thức được quyền lợi và bổn phận của mình, ngày ấy chính phủ Pháp sẽ phải nới lỏng những sợi dây cản trở sự vươn lên của những người bị bảo hộ, nếu không sẽ làm trái với lý tưởng của mình.

Như vậy, đám thực dân tức là tất cả những người có lợi trong việc duy trì hiện trạng, sẽ gây khó khăn. Vì thế, chúng ta phải rất thận trọng với họ; chúng ta hãy quan hệ rất thẳng thắn với họ, không khúm núm cũng như ngạo nghễ. Ở Pháp, có nhiều người Pháp sáng suốt chống đối việc cai trị thuộc địa. Ông Clémenceau, mà tôi có vinh dự được xem như là một người quen biết, luôn luôn không tán thành chính sách thực dân, vì vậy mà không ghé thăm Đông Dương trong chuyến đi thăm Trung Hoa.

Nếu trong một thời gian bị nhiều người Pháp ở đây ngờ vực, mặc dù tôi không phải là người bài Pháp, đơn giản là vì tôi có một cái nhìn chính xác đối với người và sự vật và không bao giờ không phản đối khi có những sự bất hợp pháp hoặc bất công.

– Về vấn đề giáo dục, ông có tán thành cuộc vận động của ông Phạm Quỳnh, chủ nhiệm tạp chí Nam Phong, về việc phổ biến và dùng chữ quốc ngữ ở bậc tiểu học không?

– Không, tôi cho là không thích hợp, vì giải pháp ấy sẽ làm cho ai muốn học lên sau bậc tiểu học sẽ phải mất thêm vài năm mà họ phải dùng để học tiếng Pháp. Đã có chuyện một tú tài bản xứ, muốn được cùng trình độ với bạn anh ta ở chính quốc, phải học thêm 2 hoặc 3 năm. Thế mà người ta còn bắt anh ta để ra mất 3 năm để học tiếng mẹ đẻ, trong khi người nông dân trì độn nhất chỉ cần học nhiều nhất là vài tháng để đọc và viết được chữ quốc ngữ! Tất nhiên phải loại trừ những quan điểm khác vì đó dĩ nhiên chỉ là những nhận xét trên khía cạnh thực tiễn vì khi tất cả mọi thứ đều là tốc độ, phải nhanh chóng, lẹ làng, tôi thấy không hợp lý khi chúng ta chọn một biện pháp làm con em chúng ta mất một thời gian cực kỳ quý báu.

Bữa ăn tối kết thúc, nhưng ông Phan Chu Trinh vẫn nói hùng hồn, đề cập đến nhiều vấn đề, tất cả khá hấp dẫn, và được thanh niên vây quanh chăm chú lắng nghe. Tuy nhiên, trong trí chúng tôi tưởng tượng lại nỗi đau khổ dai dẳng suốt cuộc đời của ông già ấy, già nhưng vẫn còn trẻ vì trí tuệ sắc sảo, gợi lại việc ông bị đày ra nước ngoài, xa quê hương mà ông yêu tha thiết… Chúng tôi rất thán phục sự nhẫn nại của ông, lòng tin không gì lay chuyển vào sự nghiệp mà ông tha thiết theo đuổi.

Ông Phan Chu Trinh cho tất cả chúng ta tấm gương của một ý chí bền bỉ phục vụ một lòng yêu nước sáng suốt.

D.N
Báo Echo Anammite [3] (Tiếng Vang An Nam)
Ngày 17/7/1925
(Theo Lê Thị Kinh – Sđd)

_______________

[1] Nguyên văn: “Đầu đã lung lay” (không còn vững nữa)

[2] Phan Chu Trinh hoàn toàn không hay biết chuyện Phủ Phụ chánh (tên Viện Cơ Mật lúc Duy Tân còn ít tuổi) đã cải lệnh của Khâm sứ Levecque để giữ mạng sống cho ông.

[3] Báo của chính khách Nguyễn Phan Long ở Sài Gòn

* * *

PHẢI CÓ BẢN LĨNH ĐẤU TRANH…

Tiểu dẫn: Sau ngày cụ Tây Hồ về nước (1925), có nhiều người, nhiều giới chức đến thăm viếng và nghe Cụ nói chuyện. Trong số đó, cũng có người non gan, sợ tai vạ, nói với Cụ rằng: “Đối với Cụ thì người ta không làm gì được, nhưng mà chúng tôi, ở dưới tay bọn thống trị, thì một tiếng nói cứng, một việc nhỏ mọn, cũng có thể bị họ thêu dệt thành ra mà bắt bớ hình phạt…”

Cụ trả lời:

“Miễn là các ảnh hiểu rõ và có lòng cương quyết để nói, để làm là được. Còn làm chính trị, ở đâu cũng vậy, mà ở thời nào cũng vậy, nếu sợ khó nhọc, sợ hao tổn, sợ bắt, sợ tù, thì làm sao được? Dân ta bây giờ là dân mất nước, nếu muốn được nước lại, mà sợ tù tội, thì làm sao nổi! Chưa ở tù khi nào, thì còn sợ tù, chỡ đã ở rồi thì không sợ nữa. Chúng ta bây giờ nên ở tù cho đông, cho quen, để có đủ can đảm mà làm việc.

Không phải là nói liều mạng để cho họ bắt bớ mà làm ngăn trở công việc mình làm đâu. Phải biết chắc chắn cái quyền tự do là quyền của mình, không phải xin ai mà có, không phải xin của người ta cho. Lại phải hiểu rõ đường lối chính trị, phải có trí khôn sáng suốt, phải luyện tập tình hình và biết cách tùy cơ hành động, tùy cơ tranh đấu, thì mới bảo vệ được quyền tự do của mình mà công việc mình mới khỏi bị ngăn trở. Ngoài ra khi nào sức mạnh mình không chống nổi; khi nào có sự bất ngời không liệu trước được, rủi bị bắt bị tù, thì cũng phải cam chịu…”

(Theo Phan Thị Châu Liên, trong mục Phụ biên kèm theo cuốn Phan Tây Hồ Tiên sinh lịch sử của Huỳnh Thúc Kháng, xuất bản cùng với Giai Nhân Kỳ Ngộ (do Lê Văn Siêu bình giải và chú thích). NXB Hướng Dương, Sài Gòn, 1958, tr. LXXXI-LXXXII)

Nguồn: Dân Luận

30/4/1975 – 30/4/2012

In Cộng Đồng, Lịch Sử, Việt Nam on 2012/04/28 at 16:36

 

BBT: Gởi bạn đọc dòng âm nhạc tưởng niệm ngày 30 tháng 4 năm 1975.

 


Diễn văn cuối của Charlie Chaplin trong phim “Nhà độc tài vĩ đại”

In Chính trị (Politics), Lịch Sử, Thế giới on 2011/09/08 at 09:29

 

Tôi xin lỗi, tôi không muốn làm hoàng đế. Đó không phải là nghề của tôi. Tôi không muốn cai trị hoặc chinh phục bất cứ ai. Tôi muốn giúp đỡ tất cả mọi người nếu có thể, người Do Thái, người ngoại đạo, người da đen, da trắng. Tất cả chúng ta đều muốn giúp đỡ lẫn nhau. Con người luôn như thế. Chúng ta muốn sống vì hạnh phúc của người khác, không phải bằng những đau khổ của nhau. Chúng ta không muốn thù hận và coi thường nhau.Thế giới này có chỗ cho tất cả mọi người. Trái đất rất phì nhiêu, phong phú và có thể cung cấp cho tất cả mọi người. Cuộc đời có thể được tự do và tuyệt đẹp, nhưng chúng ta đã mất lối.

Tham lam đã đầu độc tâm hồn con người, đã chia cắt thế giới với hận thù; đã dẫn bước chúng ta vào đau khổ và đổ máu. Chúng ta đã phát triển với tốc độ, nhưng chúng ta đã đóng cửa mình lại. Máy móc cung cấp phong phú nhưng để lại cho chúng ta sự thèm khát. Kiến thức của chúng ta làm cho chúng ta hoài nghi, và cái thông minh của chúng ta cứng ngắt tàn nhẫn. Chúng ta suy nghĩ quá nhiều và biểu cảm quá ít. Chúng ta cần nhân loại hơn là máy móc. Chúng ta cần ân cần và dịu dàng hơn là thông minh. Nếu không có những phẩm chất này, cuộc sống sẽ đầy bạo tàn và không còn gì cả. Máy bay và máy phát thanh đã đem chúng ta gần nhau hơn. Bản chất của những phát minh này kêu gọi sự tốt lành trong con người; kêu gọi tình huynh đệ phổ quát; cho sự hiệp nhất của tất cả chúng ta.

Ngay cả bây giờ tiếng nói của tôi đã đưa đến hàng triệu người trên toàn thế giới, hàng triệu người đàn ông, phụ nữ, và trẻ em nhỏ trong tuyệt vọng, các nạn nhân của một hệ thống đã khiến con người tra tấn và bỏ tù những người vô tội. Với những ai có thể nghe thấy tôi, tôi nói “Đừng tuyệt vọng.” Đau khổ mà bây giờ chúng ta chịu đựng chỉ là cái tham lam rồi sẽ qua đi, sự cay đắng của những người đàn ông sợ hãi con đường tiến bộ của nhân loại. Hận thù của những người này rồi cũng qua đi, những kẻ độc tài sẽ chết và quyền lực họ tước đoạt từ người dân sẽ trả lại cho người dân. Vì con người rồi phải chết, tự do sẽ không bao giờ bị phế tàn.

Hỡi binh lính! Đừng trao mình cho kẻ bạo tàn, kẻ coi thường và bắt bạn làm nô lệ, kẻ kiểm soát cuộc sống của bạn, kẻ ra lệnh bạn phải làm gì, suy nghĩ gì, và cảm thấy gì! Kẻ huấn luyện bạn, phát khẩu phần ăn cho bạn, đối xử với bạn như súc vật, sử dụng bạn như quân nướng cho đạn pháo! Đừng trao mình cho những tên bất bình thường này – những người máy với tâm trí máy và trái tim của máy! Bạn không phải là cỗ máy! Bạn không phải là súc vật! Bạn là con người! Bạn có một tình yêu của nhân loại trong trái tim của bạn! Bạn không hận thù! Chỉ có kẻ không được yêu mới hận thù; đó là những kẻ không được yêu và bất bình thường.

Hỡi binh lính! Không chiến đấu bảo vệ chế độ nô lệ! Chiến đấu cho tự do! Trong chương thứ mười bảy của Thánh Luca đã viết “vương quốc của Thiên Chúa trong con người”, không phải chỉ một người cũng không phải chỉ một nhóm người, nhưng trong tất cả mọi người! Trong bạn! Các bạn, những người dân có quyền lực, có sức mạnh để tạo ra máy móc, có sức mạnh để tạo ra hạnh phúc! Các bạn, những người có quyền lực để làm cho cuộc sống tự do và xinh đẹp, để làm cho cuộc sống là một cuộc phiêu lưu tuyệt vời này. Vậy thì, nhân danh nền dân chủ, chúng ta hãy sử dụng quyền lực này.

Chúng ta hãy đoàn kết.  Chúng ta hãy đấu tranh cho một thế giới mới, một thế giới đoan chính đó sẽ cho mọi người đàn cơ hội làm việc, sẽ cho giới trẻ một tương lai và cho tuổi già an sinh. Cũng với những lời hứa này, kẻ bạo tàn đã nổi dậy nắm quyền. Nhưng họ nói dối! Họ không thực hiện lời hứa của họ. Họ không bao giờ! Các nhà độc tài giải phóng cho chính họ, nhưng họ nô lệ người dân! Bây giờ chúng ta hãy đấu tranh để thực hiện được lời hứa!  Chúng ta hãy chiến đấu để giải phóng thế giới! Để bỏ các rào cản quốc gia! Xoá bỏ tham tàn, thù hận và kỳ thị không khoan dung!  Chúng ta hãy đấu tranh cho một thế giới với lý lẻ, một thế giới nơi mà khoa học và tiến bộ sẽ dẫn đến hạnh phúc của tất cả mọi người.

Hỡi binh lính, nhân danh nền dân chủ, tất cả chúng ta hãy đoàn kết!

Tưởng Năng Tiến – Những Cọng Rêu Dưới Đáy Ao

In Lịch Sử, Tạp văn, Việt Nam on 2011/08/19 at 18:34

Lúc nhỏ, có lần, tôi nghe học giả Nguyễn Hiến Lê khuyên là nên tập thói quen viết nhật ký. Nghe thì cũng thấy hay hay nhưng thử làm mới biết là không dễ. Tôi loay hoay mãi cũng không thấy có điều gì cần phải ghi lại cho bản thân (hay cho… hậu thế!) về cuộc sống vô cùng nhạt nhẽo, hay lạt lẽo, của mình.

qpt1191657213.jpg

Chỉ đôi khi, khi chịu hết nổi sự tẻ nhạt thường nhật, tôi mới (lén) làm một hai câu thơ – cho nó đỡ buồn:

Xưa mộng kình ngư tung bể sóng.
Bây giờ mương rạch kiếp lòng tong!

Trời, nói gì nghe… thấy thương quá vậy – cha nội?

Thì cũng nói (đại) vậy cho nó đỡ kỳ, chút đỉnh, chớ hồi giờ – nói nào ngay, ngay cả lúc mộng mơ hết cỡ – tôi cũng chưa bao giờ dám nghĩ gì đến những hình ảnh (thấy ghê) cỡ như “kình ngư” hay “bể sóng.”
Còn chuyện “mương rạch kiếp lòng tong” – có lẽ – là thân phận chung của phần lớn thiên hạ, chớ đâu phải là bi kịch của riêng ai, đúng không? Tôi nói vậy tưởng đã buồn (thảm thiết) ông Võ Văn Trực lại còn nghĩ ra một cách ví von (nghe) thảm sầu hơn nữa.

Nhà văn của chúng ta ví von phận người như những “Cọng Rêu Dưới Đáy Ao.” Kiếp rong rêu vốn đã lặng lờ; đã vậy, lại còn nằm chìm lỉm tuốt luốt dưới đáy ao nữa thì (ôi thôi) kể như an bình tới phát ớn luôn. Ai cũng tưởng vậy nhưng không phải vậy. Sự bình an nơi cái ao Việt Nam (chắc) chỉ có thể tìm được nơi những trang sách giáo khoa:

Cơm nước xong, trời vừa tối. Ngọn đèn treo, thắp giữa nhà. Cha ngồi đọc nhật báo. Anh đang ngồi cúi xuống xem sách hay làm bài. Mẹ và chị, kim chỉ vá may. Ở bên cạnh, hai đứa em nhỏ đang nghe bà kể câu chuyện cổ tích, thỉnh thoảng lại khúc khích cười với nhau rất vui vẻ.

[Tối Ở Nhà. Quốc Văn Giáo Khoa Toàn Thư (Trần Trọng Kim, et al) Việt Nam Tiểu Học Tùng Thư Xuất Bản, ấn bản đầu tiên năm 1935]

Trước đó không lâu, vào năm 1930, mười ba công dân ưu tú của nước Việt đã bị thực dân Pháp hành hình chỉ vì họ không cam chịu sống trong vòng nô lệ. Hình ảnh một buổi tối gia đình quây quần vui vẻ, được mô tả năm năm sau đó, dưới chế độ thuộc địa (e) hơi gượng gạo.
Nhiều người dân Việt không “vui vẻ” gì lắm trong cảnh sống an bình giả tạo như thế. Trong số này có ông Võ Quang Hiền. Theo lời nhà văn Võ Văn Trực, bào đệ của ông, ngay từ lúc thiếu thời ông Hiền đã hăng hái tham gia vào cuộc cách mạng vô sản ở Việt Nam.

Sổ tay của ông “… trang nào cũng dán vài tấm ảnh. Những tấm ảnh thiêng liêng: Các Mác, Ăng- ghen, Lê-nin, Mao Trạch Đông, Sta-lin, Ăng-ve Hốt-gia, Lâm Bưu, Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Kỳ, Gốt-van, Ti-tô, Vô-rô-si-lốp, Đi-mi-tơ-rốp, Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Tôn Đức Thắng, Hoàng Quốc Việt…” (Võ Văn Trực. Cọng Rêu Dưới Đáy Ao. Hà Nội: Nhà xuất bản Hội Nhà Văn và Công ty Văn Hoá & Truyền Thông Võ Thị, 2007. Bản điện tử do talawas chủ nhật thực hiện).

Lòng nhiệt tình của Võ Quang Hiền với cuộc cách mạng vô sản chỉ (chợt) nguội, sau khi ông tham dự vào Chiến Dịch Cải Cách Ruộng Đất ngay tại làng quê của mình. Từ đây, sổ tay của ông bắt đầu xuất hiện những dòng chữ đậm nét băn khoăn: “Ông Thìn làm giáo học mà cũng địa chủ, bà Mến biết cái cóc gì mà cũng thường vụ Quốc dân Đảng, địa chủ cả nút thế này thì lấy ai làm nông dân… Chúng nó kích bà con nông dân tố nhau lộn nhào lộn nhút…

Sự gian xảo và tàn ác của “chúng nó” khiến ông dần dần thay đổi thái độ: “Con đường tham gia công tác xã hội của anh xuống từng nấc thang: sĩ quan quân đội, cải cách ruộng đất, cán bộ thông tin xóm, Đảng viên trơn… và cuối cùng là phó thường dân! Tưởng là ‘dứt bỏ đường công danh’, vui thú điền viên tham gia việc làng việc xóm cho vui, đến bây giờ anh mới nhận thức ra rằng việc làng việc xóm cũng là việc xã hội, mà làm ‘việc xã hội’ là thế nào cũng bị va chạm, xô xát. Anh hoàn toàn giành thì giờ lo việc gia đình nhưng vẫn bị Đảng uỷ để ý, cho là ‘phần tử bất mãn’, là ‘cố ý chống đối’… Thì ra cái ‘cọng rêu dưới đáy ao’ mà anh tưởng là ‘yên thân’ như các nhà nho ngày trước, có ngờ đâu cái cọng rêu ấy trong thời buổi này cũng phải đối mặt với mọi biến động của xã hội…

Những “va chạm xô xát” của cọng rêu Võ văn Hiền, dưới đáy ao, tuy không mạnh bạo gì cho lắm nhưng cũng đủ khiến cho nó trở nên xơ xác:

Không có một cuộc họp chính thức nào của các ông lãnh đạo xã và thôn cấm chỉ anh Hiền dạy tiếng Pháp hoặc cấm mở lớp dạy học. Nhưng người ta xì xào bàn tán rất nhiều về lớp học của anh. Sao thằng Pháp cai trị ta tám mươi năm, bây giờ lại dạy tiếng của nó? Sao ông Hiền đi đánh Pháp chín năm, bây giờ thắng nó rồi, lại đem tiếng của nó ra mà dạy? Ông Hiền dạy tiếng Pháp làm gì nhỉ, đào tạo bồi cho Tây à? Đào tạo thông ngôn cho Tây à?

Cả sáu học trò lần lượt bỏ học. Gian nhà trở lại hai tấm phản với hai chiếc ghế dài, ảnh ông Khổng Tử với câu ‘Tiên học lễ hậu học văn’, và một… thầy đồ tân thời mặt buồn rười rượi.

Qúi vị lãnh đạo cách mạng nơi làng Hậu Luật, xã Diễn Bình, huyện Diễn Châu (tỉnh Nghệ An) đã lần lượt đẩy ông Võ Quang Hiền từ nỗi buồn này, sang nỗi buồn khác. Chung cuộc, ông chết dần mòn trong bệnh tật và nghèo đói:

Tôi đặt lên ngôi mộ tấm ảnh của anh – không phải tấm ảnh gày gò của ông lão sáu mươi, mà là tấm ảnh người thanh niên cường tráng những năm tháng hào hùng ở Việt Bắc: mặc áo trấn thủ, đội mũ lưới đính quân hiệu. Hàng trăm cặp mắt chăm chăm nhìn vào tấm ảnh, chợt thức dậy trong tiềm thức của họ những kỷ niệm về anh và về làng xóm thuở Cách mạng sơ khai.

Nhà văn Võ Văn Trực quả là khéo nói, hay khéo lách, chớ cách mạng Việt Nam thưở nào – “sơ khai” hay “thoái trào” – cũng đều tạo ra vô số những cọng rêu (bầm dập te tua) dưới đáy ao đục ngầu của nó. Ông Vi Đức Hồi – nguyên trưởng ban tuyên giáo, giám đốc trường đảng, thường vụ huyện ủy huyện Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn – là nhân vật điển hình cho loại rong rêu (muộn màng) này.

Vi Đức Hồi thuộc thế hệ người sinh trưởng trong lòng cách mạng. Theo lời ông, ngay khi vừa mở mắt chào đời, bé Hồi đã được ru (ngủ) bằng những câu của thời đại mới:

Công cha như núi thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Bác Hồ hơn mẹ, hơn cha…

Chả trách, chương mở đầu cuốn hồi ký (Đối Mặt) của ông ghi đầy những dòng chữ hồ hởi (và phấn khởi) như sau:

Nhớ lại hồi khi tôi mới lớn lên và bắt đầu tìm hiểu về đảng, tôi nhận thấy đúng là ‘đảng là ngôi sao sáng, sáng nhất trong muôn vì sao’, tôi yêu đảng, tôi mến mộ đảng đến tột độ và chỉ mong ước mình sớm được đứng trong hàng ngũ của đảng để được cống hiến sức mình cho đất nước, cho dân tộc đó là nghĩa cử cao đẹp của mỗi công dân yêu nước bình thường. Khi tôi đọc cương lĩnh đầu tiên của đảng năm 1930, tôi thật sung sướng vì đảng chỉ ra rằng: Khi cách mạng giải phóng dân tộc thành công, đảng đưa cả nước ta tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua tư bản chủ nghĩa. Xã hội mà đảng hướng tới là một xã hội đỉnh cao của sự văn minh nhân loại, ở đó sẽ không còn chế độ người bóc lột người, mọi người sống với nhau bình đẳng bác ái, nhà nước là của dân, do dân và vì dân, dưới sự lãnh đạo của đảng tiên phong của giai cấp công nhân, đảng bao gồm những người tiên tiến nhất, tiên phong nhất, là những người công bộc của dân, vì nhân dân mà phục, đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của dân tộc…

Càng qua những chương sau, Vi Đức Hồi càng hay lập đi lập lại những câu “đảng nói không biết ngượng, đảng nói một đàng làm một nẻo, đảng nói như hát hay…” Ông dần dần xa lánh đảng, rồi trở nên “đối mặt” với nó, và bị khai trừ.

Sau đó – cũng như trường hợp của ông Võ Quang Hiền, hồi đầu thế kỷ – Vi Đức Hồi cũng quyết định biến mình thành một “cọng rêu dưới đáy ao,” nơi làng quê khốn khó của mình:

Quê tôi, một trong những Xã nghèo nhất Nước ta, là một trong 9 Xã cuả Tỉnh Lạng sơn và là một trong hai Xã duy nhất của Huyện Hữu lũng chưa có bóng dáng điện lưới quốc gia; là Xã vùng sâu,vùng xa, Xã đặc biệt khó khăn…

Tuy vậy, người dân quê tôi sống trọn nghĩa, trọn tình. Ở đâu đó tình người có những lúc đầy vơi, nhưng người dân quê tôi thì cho dù thời cuộc có những biến đổi đến đâu, nhưng lòng người thì vẫn một mực thuỷ chung, son sắt.

Thế nên tôi cố tìm cách để tỏ lòng biết ơn, thể hiện tấm lòng của mình đối với những người láng giềng xung quanh tôi, tạo thêm sự gắn bó, sự mật thiết tình làng, nghĩa xóm. Tôi mạnh dạn trao đổi với mấy người bạn của tôi, đề nghị họ giúp và thế là tôi có được ít tiền của bạn bè cho vay, cộng với chút ít của tôi giành dụm. Tôi mua được một chục cặp lợn con, giúp cho 10 hộ nghèo nhất ở làng tôi để họ chăn nuôi, khi nào lợn xuất chuồng bán thì hoàn trả gốc cho tôi, để tôi chuyển cho hộ khác. Nhiều người phấn khởi, nhận lợn và cảm ơn.

Tin này Xã báo cáo Huyện… Thường trực Huyện uỷ triệu tập cuộc họp cán bộ chủ chốt ở xã Tân lập (quê tôi) để nghe cơ sở báo cáo tình hình. Huyện uỷ quán triệt: đây là một trong những âm mưu rất nguy hiểm của các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta, hơn lúc nào hết, chúng ta phải nêu cao cảnh giác cách mạng, chặn đứng mọi hành động nhằm lôi kéo quần chúng nhân dân, gây mất ổn định an ninh chính trị. Ngay lập tức phải họp toàn dân quán triệt về những thủ đoạn, ‘âm mưu diễn biến hoà bình’ của bọn chúng, kiên quyết từ chối mọi sự giúp đỡ của Vi đức Hồi.

Ông bị cô lập ngay tại quê nhà, rồi bị bắt giam. Cuối cùng, ông cũng trở thành một cọng rêu nhưng không nằm dưới đáy ao mà nằm trong lòng nhà tù cách mạng.

Cọng rêu mới được phát hiện là một thanh niên – có tên là Nguyễn Chí Đức – vừa được công luận biết đến, sau khi anh bị công an Hà Nội đạp vào mặt giữa lòng “thủ đô của lương tâm nhân loại.” Sự kiện này đã được nhà văn Nguyên Ngọc ghi nhận như sau:

Trong việc này còn có một điều rất đáng chú ý: Qua tất cả vụ việc, qua những ứng xử của Nguyễn Chí Đức từ khi tên anh được nhắc đến, ta có thể thấy rõ đó là một con người hết sức bình thường, rất an phận, không hề không muốn làm bất cứ điều gì để khác dù chỉ một chút những người chung quanh, một công dân lầm lũi và tội nghiệp, ngay cả khi bị hại nặng nề cũng sẵn sàng cho qua, quên đi, ‘không muốn đi quá sự việc’ như anh nhiều lần nói khi có người quan tâm đến anh và vụ của anh. Một người tuyệt đối trung thành và tin tưởng ở đảng, trong bất cứ tình huống nào, ngay cả lúc bị hại khi mình đấu tranh vì đảng, vì nước…, vâng một người như vậy đấy…, một người vô cùng nhỏ bé và vô danh, luôn muốn thu mình lại đến mức nhỏ bé nhất để sống yên thân…, con người tội nghiệp ấy bây giờ sau tuyên bố bình thản của ông Nguyên Đức Nhanh, đã phải đau đớn nói rằng anh đã bị đẩy đến đường cùng… khi những người ở tận đáy xã hội, nhỏ bé nhất trong xã hội, suốt đời chỉ mong được yên phận như Nguyễn Chí Đức và bố mẹ anh đã thấy bị đẩy đến đường cùng, đã thấy xã hội này là không còn sống được đối với họ nữa, thì là chuyện khác hẳn rồi đấy. Là báo động đỏ!Vụ Nguyễn Chí Đức không hề nhỏ đâu, đặc biệt sau tuyên bố phủi tay của ông Nguyễn Đức Nhanh. Có gì như là dấu hiệu của sự tận cùng.

Đã ba thế hệ người Việt bị liên tiếp xô đẩy đến “tận cùng” như thế. Và vẫn theo lời nhà văn Nguyên Ngọc thì “xã hội này không còn sống được nữa.” Nó đã đến mức “báo động đỏ” rồi.

Tôi chỉ là một thường dân, một cọng rêu phiêu bạt. Sống bên ngoài nỗi đau mà cả dân tộc đang phải chịu đựng nên tôi không đủ tư cách thể phát biểu những lời lẽ khí khái (và hừng hực lửa) như nhà văn Nguyên Ngọc. Những sự kiện vừa nêu – về ba cọng rêu dưới đáy ao của dất nước – chỉ khiến tôi thốt nhớ đến lời phát biểu của nhà văn Nguyễn Trọng Tân, trong buổi toạ đàm về tác phẩm Ba Người Khác (của Tô Hoài) vào hôm 22 tháng 12 năm 2006, tại Hà Nội:

Đội cải cách ruộng đất về làng như một cơn gió độc, cuốn lộn tùng phèo mấy chục nóc nhà giống như mấy chục cái đụn rạ của thôn tôi lên.

Chủ nghĩa cộng sản cũng đến Việt Nam theo cùng một cách. Nó cũng như một cơn gió độc, cuốn lộn tùng phèo cuộc đời của (mấy thế hệ) người dân ở đất nước tôi lên.

Nguồn: blog Tưởng Năng Tiến

Tư Liệu: Tuyên Cáo Của Chính Phủ Và Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa

In Lịch Sử, Việt Nam on 2011/01/18 at 12:54
BBT (1/6/2011): Trước tình hình bá quyền Trung Quốc đang có thái độ ngang tàng và hành động côn đồ trên Biển Đông Việt Nam chúng tôi đăng lại Tuyên Cáo của Chính Phủ và Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hoà để phản đối chính quyền Trung Quốc.
BBT (18/1/2011): Để tưởng niệm trận hải chiến Hoàng Sa, 19-1-1974, chúng tôi xin đăng lại tư liệu Tuyên cáo của chính phủ và bộ ngoại giao Việt Nam Cộng Hòa về chủ quyền biển đảo Hoàng Sa – Trường Sa.

TUYÊN CÁO CỦA BỘ TRƯỞNG NGOẠI GIAO VIỆT NAM CỘNG HÒA VỀ NHỮNG HÀNH ĐỘNG GÂY HẤN CỦA TRUNG CỘNG TRONG KHU VỰC ĐẢO HOÀNG SA

(NGÀY 19.1.1974)

Nguyên văn:

Sau khi mạo nhận ngày 11.1.1974 chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng – Sa và Trường-Sa của Việt Nam Cộng-Hòa, Trung cộng đã đưa Hải-quân tới khu vực Hoàng- Sa, và đổ bộ quân lính lên các đảo Cam -Tuyền, Quang -Hòa và Duy -Mộng.

Lực lượng Hải -quân Trung -Cộng gồm 11 chiến đỉnh thuộc nhiều loại và trọng lượng khác nhau, kể cả một tàu loại Komar có trang bị hỏa tiễn.

Để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và nền an ninh quốc gia trước cuộc xâm lăng quân sự này, các lực lượng Hải quân Việt-Nam Cộng-Hòa trấn đóng trong khu vực này đã ra lệnh cho bọn xâm nhập phải rời khỏi khu vực.

Thay vì tuân lệnh, các tàu Trung-Cộng, kể từ 18.1.1974, lại có những hành động khiêu khích như đâm thẳng vào các chiến đỉnh Việt-Nam.

Sáng ngày nay, 19.1.1974 hồi 10h20, một hộ-tống hạm Trung-Cộng thuộc loại Kronstadt đã khai hỏa bắn vào khu vực hạm “Trần Khánh Dư” mang số HQ-04 của Việt-Nam Cộng-Hòa. Để tự vệ, các chiến hạm Việt-Nam đã phản pháo và gây hư hại cho hộ tống hạm Trung Cộng. Cuộc giao tranh hiện còn tiếp diễn và đang gây thiệt hại về nhân mạng và vật chất cho cả đôi bên.

Các hành động quân sự của Trung Cộng là hành vi xâm phạm trắng trợn vào lãnh thổ Việt-Nam Cộng-Hòa, và một lần nữa vạch trần chánh sách bành trướng đế quốc mà Trung Cộng liên tục theo đuổi, đã được biểu lộ qua cuộc thôn tính Tây Tạng, cuộc xâm lăng Đại Hàn và Ấn Độ trước kia.

Việc Trung Cộng ngày nay xâm phạm lãnh thổ Việt Nam Cộng-Hòa không những chỉ đe dọa chủ quyền an ninh của Việt Nam Cộng Hòa mà còn là một hiểm họa đối với nền hòa bình và ổn cố của Đông Nam Á và toàn thế giới.

Với tư cách một nước nhỏ bị một cường quốc vô cớ tấn công. Việt Nam Cộng Hòa kêu gọi toàn thể các dân tộc yêu chuộng công lý và hòa bình trên thế giới hãy cương quyết lên án các hành vi chiến tranh thô bạo củaTrung Cộng nhằm vào một quốc gia độc lập và có chủ quyền để buộc Trung Cộng phải tức khắc chấm dứt các hành động nguy hiểm đó.

Làm ngơ để cho Trung Cộng tự do tiến hành cuộc xâm lấn trắng trợn này là khuyến khích kẻ gây hấn tiếp tục theo đuổi chánh sách bành trướng của chúng và sự kiện này đe dọa sự sống còn của những nước nhỏ đặc biệt là những nước ở Á Châu.

Trong suốt lịch sử, dân tộc Việt Nam đã đánh bại nhiều cuộc ngoại xâm. Ngày nay, Chánh phủ và nhân dân Việt Nam Cộng Hòa cũng nhất định bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ quốc gia.

(Tài liệu ronéo của Bộ Ngoại Giao, Sài Gòn,
Số 015/BNG/ TTBC/ TT)

TUYÊN CÁO CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM CỘNG HÒA VỀ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA TRÊN NHỮNG ĐẢO Ở NGOÀI KHƠI BỜ BIỂN

VIỆT NAM CỘNG HÒA

Nguyên văn:

Nghĩa vụ cao cả và cấp thiết của một chánh phủ là bảo vệ chủ quyền, độc lập và sự vẹn toàn lãnh thổ của quốc gia. Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa cương quyết làm tròn nghĩa vụ này, bất luận những khó khăn trở ngại có thể gặp phải và bất chấp những sự phản đối không căn cứ dầu phát xuất từ đâu.

Trước việc Trung Cộng trắng trợn xâm chiếm bằng vũ lực quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa, Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa thấy cần phải tuyên cáo long trọng trước công luận thế giới cho bạn cũng như thù biết rõ rằng:

Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là những phần bất khả phân của lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Chánh phủ và nhân dân Việt Nam Cộng Hòa không bao giờ chịu khuất phục trước bạo lực mà từ bỏ tất cả hay một phần chủ quyền của mình trên những quần đảo ấy.

Chừng nào còn một hòn đảo thuộc lãnh thổ ấy của Việt Nam Cộng Hòa bị nước ngoài chiếm giữ bằng bạo lực thì chừng ấy Chánh phủ và nhân dân Việt Nam Cộng Hòa còn đấu tranh để khôi phục những quyền lợi chính đáng của mình.

Kẻ xâm chiếm phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về mọi tình trạng căng thẳng có thể do đó mà có.

Trong dịp này, Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa cũng long trọng tái xác nhận chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa trên những hải đảonằm ở ngoài khơi bờ biển Trung Phần và bờ biển Nam Phần Việt Nam, từ trước tới nay vẫn được coi là một phần lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa căn cứ trên những dữ kiện địa lý, lịch sử, pháp lý và thực tại không chối cãi được.

Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa cương quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia trên những đảo ấy bằng mọi cách.

Trung thành với chánh sách hòa bình cố hữu của mình, Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa sẵn sàng giải quyết bằng đường lối thương lượng những vụ tranh chấp quốc tế có thể xảy ra về những hải đảo ấy, nhưng nhất định không vì thế mà từ bỏ chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa trên những phần đất này.

Làm tại Saigon, ngày 14 tháng 2 năm 1974.

Nguồn: Tập san Sử Địa, tập 29

Nguồn: Nguyễn Xuân Diện Blog


Những bài cùng chủ đề:

Tưởng niệm trận hải chiến Hoàng Sa, 19-1-1974

37 năm trước-ngày 19.1.1974! (RFA)

Hải chiến Hoàng Sa 1974 trong ký ức một người lính biển (RFI)

Ngày tưởng niệm trận hải chiến Việt Nam -Trung Quốc năm 1974 (RFA)