vietsoul21

Archive for the ‘Tạp văn’ Category

Đại Vệ Chí Dị – Người Buôn Gió

In Cộng Đồng, Tạp văn on 2011/06/12 at 10:09

Nước Vệ triều nhà Sản năm thứ 66. Vệ Kính Vương năm thứ nhất.

Mùa Hạ năm ấy, biển Vệ dấy lên những chuyện động trời, thủy quân Tề tung hoanh ngang dọc, tiến sát đến bờ biển nước Vệ. Hạm đội quân Tề hùng dũng, tiền thủy quân đi trước núp dưới dạng tàu đánh cá nhưng thực chất là tàu chiến bọc thép trá hình. Gặp tàu đánh cá Vệ bằng gỗ là lao tới đâm tan tành, ngư dân Vệ nhìn thấy bóng tàu Tề là khiếp đảm chạy trối chết.

Những tin tức về tàu đánh Vệ bị đánh đuổi trên biển Vệ thường được dấu nhẹm đi, thậm chí cả chuyện nghiêm trọng như thủy quân Tề ngang nhiên vào lãnh hải Vệ, bắt ngư dân Vệ đem về nước đòi tiền chuộc cũng ít được nói đến trên đất Vệ.

Đấy là tại đời vương trước của nước Vệ là Vệ Cường Vương, vốn ít tài nhưng lòng tham quyền cố vị mà lụy vào Tề để giữ ngôi vị. Cường Vương thậm chí còn làm những chuyện mà hiếm có Vương nào trong lịch sử nước Vệ làm là lập một đường liên lạc nóng từ điện Tam Đình của nước Vệ đến tận Vương phủ của Tề để hàng ngày báo cáo sự tình trong nước dưới cái danh nghĩa là hợp tác trao đổi thông tin cho hai bên hiểu biết nhau.

Ngoài ra Vệ Cường Vương còn ký kết hợp tác toàn diện trên mọi lĩnh vực với Tề. Mười năm Cường Vương cầm quyền, quân lính bỏ bê tập luyện, nháo nhác đi làm kinh tế. Quan lại thì bê trễ chuyện chính sự, chỉ nhăm nhăm phân chia đất đai kiếm chác thu lời. Dân chúng đắm đuối trong nhạc, hình của Tề cung cấp đến mức nhà ai lo nhà nấy, ngoài đường thấy người bị nạn ngoảnh mặt mà đi, hàng xóm cháy nhà bên cạnh bình chân như vại.

Nước Vệ từ thời xa xưa đã có câu

Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng

Ấy là cái thói sống tương thân, tương ái, quan tâm đến nhau của cha ông nước Vệ để lại cho con cháu. Nhưng mười năm Vệ Cường Vương cầm chính sự, thiên hạ , trai tráng nam nhi chỉ nhăm nhe len lỏi, tìm mọi cách luồn lách quan hệ kiếm tiền. Ăn nhậu tràn lan, ngồi trong bàn nhậu ngập tràn đồ ăn uống xa hoa, nhìn ra cửa sổ thấy người rách rưới chỉ buông câu.

Thôi thì mình cứ lo cái thân mình cái đã, việc khác đừng quan tâm.

Trăm năm trước, tiên đế nước Vệ đi tìm hình đất nước, ngài đã cay đắng thốt rằng.

Quanh hồ Gươm không ai bàn chuyện vua Lê

Để tỏ nỗi lòng ngán ngẩm cho cảnh trí sĩ trong thiên hạ không còn màng đến chuyện chính sự, lịch sử đất nước ngày xưa và thế sự ngày nay.Khiến đất nước phải vào vòng nô lệ ngoại bang.

Trăm năm sau thời Vệ Cường Vương nghe ai loáng thoáng bàn chính sự, thiên hạ bịt ai ngoảnh đi, nhiều kẻ nói rằng.

Mình cứ lo cho bản thân mình đã, những chuyện cho mình chưa lo xong, đi lo chuyên lớn lao làm gì. Giờ nhà mình khá giả, sung sướng có phải là sướng không, tự dưng đi lo chuyện không đâu chẳng phải đầu cũng phải tai.

Trăm năm trước trước tiên đế cay đắng than về suy nghĩ, ước mộng của người dân Vệ

Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp
Giấc mơ con đè nát cuộc đời con.

Đó là suy nghĩ cũng xảy ra 100 năm sau ở nước Vệ, những giấc mơ của con chứ không phải người, những giấc mơ con bé nhỏ đáng thương trói buộc kiếp người cúi mặt vào đó không ngẩng đầu lên nhìn giấc mơ lớn của một dân tộc có bề dày lịch sử. Kẻ có gia đình thì lấy gia đình ra biện minh đã đành, kẻ chưa có gia đình nam nhi trai tráng lại lấy cái vinh thân phì gia của mình ra để biện mình là mình phải lo cho cái thân mình được ăn chơi, sung sướng. Đến hồi mạt thì lý luận cũng mạt, họ lý rằng ai cũng lo cho bản thân mình tốt như tôi lo cho bản thân tôi là cả xã hội sẽ tốt thôi.

Lý như thế nên họ mới bàng quan, có kẻ lao xuống hồ tự vẫn, quanh hồ người uống rượu mực xoài vẫn điềm nhiên nhâu nhẹt, còn nói thằng đó vẫy vùng lâu thế, rồi khi kẻ kia chìm ngỉm không nổi lên. Họ chạm cốc bảo chắc quả này chìm hẳn rồi.

Nước Tề biết chuyện người Vệ nghĩ gì. Còn người Vệ thậm chí còn chả biết mình nghĩ gì thì sao biết người Tề nghĩ gì.

Bởi thế thấy thời cơ, Tề mời dàn thủy chiến kéo vào hải phận nước Vệ. Mà thực ra Tề đã dàn từ lâu, bấy giờ chuyện đó mới lộ ra mà thôi. Ấy là tại nước Vệ cưỡng lại.

Đến thời Vệ Kính Vương năm thứ nhất mới lên ngôi, lòng người còn chưa hợp. Tề Bá Vương nhân cơ hội ấy mà xua ráo riết quân sang cướp mỏ dầu ngoài khơi của Vệ. Triều thần Tề nghị rằng.

Nay nước Vệ lòng người rão rệ từ quan lại đến dân chúng chỉ lo cho bản thân, quốc khố thâm hụt, nợ nần chồng chất, lạm phát gia tăng. Quan lại tranh giành chức quyền, lúc này không lấy thì đợi lúc nào lấy đây.

Than ôi, nước Vệ vốn cạn kiệt, nghèo nàn. Tất cả chỉ trông vào mỏ dầu ngoài khơi mà nuôi quân lính. Nay mất lấy gì mà dưỡng quân. Của cải trong nước cũng không còn nhiều, thuế má thu từ dân chẳng còn chỗ nào để thu nữa. Mất nguồn lợi tức nuôi quân có nghĩa cũng là mất quân, mất quân thì triều đình không còn chỗ dựa thì cũng coi như mất triều đình.

Bởi thế nhà Sản thời Vệ Kính Vương không dễ gì nhẫn nhịn như thời trước.

100 năm trước tiến đế đi tìm đường cứu nước.
100 năm sau ai là người cứu nước Vệ đây ?

Bạo tể tướng trả lời câu ấy rằng.

Toàn quân, toàn dân Vệ đủ ý chí để bảo vệ đất nước.

Bạo ý thì hay, nói cũng đúng. Nhưng nếu Bạo nắm được ý chí toàn quân, toàn dân thì ý tưởng dựng ngành đóng tàu đã thành công. Ngư dân Vệ cưỡi tàu sắt ra khơi vùng vẫy đủ đối chọi với tàu tuần ngư, hải quân Vệ thiện chiến tung hoành…biển nước Vệ không đến nỗi vắng bóng tàu Vệ như bây giờ, cũng không khiến ngân sách thâm hụt như bây giờ.

Để có được ý chí toàn quân, toàn dân trước hết ý chí của bậc đại thần trên cao phải mạnh hơn nhân dân cái đã. Phải biết thanh lọc những phần tử phá hoại, cản trở những chính sách chiến lược xây dựng đất nước nằm ngay trong hàng ngũ của mình. Những phần tử như con sâu vì tham nhũng, bè phái, bất tài mà khiến những quyết sách đúng bỗng trở thành phá sản, chúng vinh thân phì gia còn đất nước gánh thêm nợ nần, gánh thêm sự nản lòng của dân chúng.

Kẻ thù không phải là Cù tiên sinh con của đại công thần, không phải người lính già Văn Hải, hay người con sinh ra trong gia đình truyền thống yêu nước Thanh Hải, hoặc cô gái yểu điệu Thanh Nghiêm…..mà kẻ thù ở phía trước là ngoại xâm đang xấn tới và kẻ thù còn ở ngay cả sau lưng đang ngày đêm lợi dụng kẽ hở của cơ chế hành chính đục khoét đất nước này. Chừng nào còn chúng thì ý chí toàn quân, toàn dân khó mà thống nhất về một mối được.

Có kẻ nói rằng

Nước Tề mạnh quá, đánh không lại, thôi nhường cho nó cho yên.

Đó là bởi nước Tề đã đánh Vệ từ hàng chục năm nay, có phải bây giờ mới nhăm nhe đánh ngoài biển đâu. Nước Tề đã đánh Vệ qua sự hợp tác toàn diện, đánh trên mọi mặt về kinh tế, văn hóa, chính trị , đánh cả về bố trí nhân sự trong triều đến đánh vào lòng u mê của dân Vệ nữa. Đã có bao giờ trong lịch sử nước Vệ mà chính từ miệng nhiều người thốt câu đầu hàng khi chưa có chiến sự

Đánh không lại thì nhường nó cho yên.

Than ôi, 4000 năm dựng nước và giữ nước của Vệ, còn lại ngày nay là câu này chăng.?

 

Nguồn: http://nguoibuongio1972.multiply.com/journal/item/316/316

Con tin lương tâm

In Chính trị (Politics), Tạp văn, Việt Nam on 2011/03/13 at 22:11

Vietsoul:21

Có lẽ chưa bao giờ hết cần phải có một sự thay đổi về nhận thức và hành vi: để chuyển hoá nỗi sợ thành hành động cũng như để hoá giải những đểu cáng bằng điều tử tế. Khi cái “đểu” lên đến tột điểm cùng lúc với sự tử tế bị vùi dập dưới bùn nhơ thì đó cũng là điểm bộc phát. Những hoa sen sẽ trổi dậy từ đáy bùn trong hồ và hương thơm của của những đóa hoa sẽ át cả mùi bùn.

 


Không biết với các bạn thì sao chứ tháng Ba là tháng chấn động trong cuộc đời của tôi. Nó là tháng “khúc ngoặc” giữa đi và ở, giữa sống và chết, giữa còn và mất. Tôi may mắn nên được ở vế bên trái: đi, sống, còn. Tháng Ba mở đầu cho những biến chuyển kỳ lạ không lý giải được trong đời tôi. Vì thế tháng Ba đến như con chim báo bão cho những cảm xúc cuồn cuộn, dâng trào và bất chợt.

Những ngày tháng Ba

Tháng Ba (gãy súng) năm 1975 là tháng thọ nạn của miền Trung. Chiến trường sôi sục vùng cao nguyên và cực bắc miền Trung. Gia đình tôi di tản từ Qui Nhơn vào Cam Ranh đến Phú Quốc và trở lại Sài Gòn sau 30/4. Trốn chết.

Tháng Ba năm 1979, chiến trường Cam Bốt chưa chấm dứt thì chiến tranh biên giới Trung-Việt bùng nổ. Chuyến vượt biên lần thứ ba của tôi cuối cùng đã thành, tàu đánh cá LA1234 rời nước ra đi vượt biển. Sau một tuần lênh đênh trong bão tố, mưa giông tàu đã tấp vào một đảo hoang Mã Lai. Thoát chết.

Tháng Ba năm 2011, cuộc cách mạng hoa nhài đã nở hoa trên Tuisinia, Egypt và hương thơm lan toả khắp bắc Phi, Trung Đông, đến Á châu. Tháng Ba là tháng giao mùa. Liệu hoa nhài có nở trên đất khổ, nơi “tháng Ba bà già chết cóng”? Trố chết!

Tháng Ba với những oan khiên, khổ nạn đang diễn ra trước mắt. Người thì đang bị cầm tù (Cù Huy Hà Vũ, Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng) và sẽ ra toà sắp tới[1]. Người thì bị hành lên, hành xuống, chất vấn, đe dọa qua các giấy/lệnh mời “làm việc” (Nguyễn Đan Quế, Tạ Phong Tần, Mẹ Nấm, Cha Lý). Người thì bị đánh đổ máu (Nguyễn văn Hướng), gãy cổ tử vong (Trịnh Xuân Tùng)[2]. Người thì bị cưỡng chế, hành hung không cho hành đạo (Giáo Hội Tin Lành Mennonite, MS Nguyễn Thành Nhân, MS Thân Văn Trường)[3]. Người thì bị bịt miệng để che chở những tội phạm vô luân của quan quân tập đoàn tội phạm từ Ủy viên TW Đảng chủ tịch tỉnh, phó chủ tịch huyện, công an tỉnh, cán bộ hải quan, đến giám đốc ngân hàng  (Nguyễn Trường Tô, Đinh Xuân Hùng, …)[4]

Tháng Ba, tháng của lễ hội và một ngày âm lịch trọng đại gần kề, “Dù ai đi ngược về xuôi. Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng Ba”. Lễ hội chi cho hổ ngươi dòng giống Lạc Hồng nếu con cháu vua Hùng chưa quyết dành lại quyền làm chủ đất nước và để lũ nội-thực-dân CSVN bán cho nước “lạ”

Tù nhân lương tâm (Prisoners of conscience)

Những người thọ nạn vì đất nước, đồng bào kể trên chỉ là một số nhỏ trong những người còn lương tâm, có lý tưởng vì nước, vì dân, vì chính nghĩa. Họ bị bạo quyền vô lương đày đọa, giam cầm với những “án”, “tội” từ các điều “luật”  xử bởi toà án (nhân dân) luật rừng (kangaroo court). Bất kể những cái án “chính trị” hay “hình sự” nào mà toà án luật rừng gán cho những người này đi nữa thì họ cũng cùng chung một phận người: tù nhân (của) lương tâm. Lương tri họ không cho phép im lặng hoặc dửng dưng không hành động khi thấy những điều sai trái, những bất công, những áp bức hằng ngày tái diễn ra trước mắt.

Họ lên tiếng. Họ hành động. Và họ bị bịt miệng, cùm tay.

Họ là ai? Họ có khác thường gì với chúng ta?

Họ là sinh viên, nhà báo, luật gia, nhà giáo, cựu chiến binh, công nhân, nông dân … Họ cũng như chúng ta.

Những anh chị em, chú bác, cô cậu của chúng ta đã trong vòng lao lý. Các người thân nhân quyến thuộc của họ cũng chịu những áp lực, cô lập, sách nhiễu không kém.

Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại. Trong lao tù họ bị áp lực tâm lý rất mạnh. Thiếu thốn vật chất từ miếng ăn, nước uống, chỗ ngủ, thuốc men thì con người cũng có thể tự điều chỉnh để cầm cự và thích nghi. Nhưng thiếu sự giao tiếp, trao đổi, và động viên với đồng bạn dễ đưa đến suy sụp tinh thần. Không gì tạo áp lực chấn động tâm lý mạnh hơn là cảm giác bị bỏ rơi trong từng ngày quên lãng. Và không gì gây phấn chấn nâng đỡ tinh thần hơn là biết được mọi người vẫn quan tâm, lo lắng, và đồng tình.

Những người tù nhân lương tâm này luôn mong được lương tri của xã hội và nhân loại đưa lưng để dựa vào. Lương tri của nhân loại là lương tâm của bạn và ta, của mỗi thành viên trong cộng đồng, xã hội, quốc gia, thế giới.

Con tin lương tâm (Hostages of conscience)

Oái ăm thay có những nơi mà lương tri thì thui chột và bị bán chác cho sự yên ổn cá nhân, cho an toàn nghề nghiệp, cho hãnh tiến thanh danh.

Có nơi mà quyền lực bạo hành đã buộc mọi người thành con tin (của) lương tâm dưới dùi cui, chó săn, còng cùm, hoặc miếng cơm manh áo.

Bạn bè, anh chị em, cô cậu, chú bác của chúng ta đang là tù nhân lương tâm. Bạn với ta là những con tin lương tâm. Chúng ta bị buộc phải mù, phải câm, phải điếc, phải làm ngơ.

Bạn và ta cần thoát ra cảnh đời làm con tin, tự giải thoát cho mình, và giải thoát cho các bạn tù.

Làm thế nào để thoát gọng kềm bạo lực?

Có lẽ chưa bao giờ hết cần phải có một sự thay đổi về nhận thức và hành vi: để chuyển hoá nỗi sợ thành hành động cũng như để hoá giải những đểu cáng bằng điều tử tế. Khi cái “đểu” lên đến tột điểm cùng lúc với sự tử tế bị vùi dập dưới bùn nhơ thì đó cũng là điểm bộc phát. Những hoa sen sẽ trổi dậy từ đáy bùn trong hồ và hương thơm của của những đóa hoa sẽ át cả mùi bùn.

Khi vui thì vỗ tay vào, đến khi hoạn nạn thì nào thấy ai. Những người tù lương tâm có phải cám cảnh với hoàn cảnh như thế chăng? Bạn và ta có cảm thấy mình cùng chung hoạn nạn đó chăng? Có sự khác biệt gì chăng giữa người tù nhân lương tâm và một con tin lương tâm?

Bạn và ta nhận thức được rằng chúng ta (gồm cả họ) là một.

Bạn và ta đã sống trong sợ hãi. Bạn và ta sống với “lũ”, sống với “chuyện thường ngày ở huyện” đã quá lâu thành thử các hành vi đã bị điều kiện hoá thích nghi với nhận thức đó.

Nhận thức – hành động

Từ nhận thức đến hành động là khoảng cách hố sâu của nỗi sợ quán tính. Bước nhảy là sự chuyển hoá.

Hành động (hành vi) của con người không chỉ hoàn toàn điều khiểu bởi cái đầu theo tinh thần duy lý nhưng bởi con tim, bởi thói quen, và tục lệ. Không những chỉ có ý chí trội vật chất (will over matter, mind over body) mà ngược lại thân thể tiềm đựng thông tin (information) và trí tuệ (inteligence) nên cũng ảnh hưởng cảm nghĩ và nhận thức. Khi các hành vi, hành động thay đổi thì nó sẽ chuyển lối suy nghĩ.

Bạn và ta cùng làm những thay đổi nhỏ trong hành động để chuyển dời tâm điểm của nhận thức từ sợ hãi đến tử tế.

Những hành vi tương thân, đồng cảm nhỏ nhất sẽ chuyển hoá bạn và ta thành một khối sức mạnh vô bờ. Sức mạnh của sự tử tế, của tình người. Sức mạnh của chính nghĩa để (mà) thắng (thay) cường bạo.

Đã có một số người làm những hành vi (không) nhỏ ấy. Người buôn gió và các bạn hữu thăm viếng tặng hoa vợ hiền anh Cù Huy Hà Vũ. Em đường-đời-sỏi-đá viết tâm thư kêu gọi lương tri con người không quên ba người bạn trẻ.

Bạn và ta có thể làm những điều (không) nhỏ tử tế đấy không? Bạn và ta có thể dành một chút thời gian nào chăng cho các bạn trong cơn hoạn nạn? Bạn và ta đi qua nhà các bà mẹ, người vợ, thân nhân của những người đấu tranh dân chủ ngả mũ, gật đầu chào tỏ sự cảm thông cho hoạn nạn trong gia đình họ. Bạn và ta gởi những thiệp thư (postcard) với vài hàng thăm hỏi. Bạn và ta hãy đến thắp nén nhang cho người oan khuất. Bạn và ta đến tụ tập nơi các phiên toà sắp tới. Bạn và ta chuyển ngân giúp đỡ các gia cảnh bị cô lập không phương tiện kinh tế.[5] Bạn và ta không phân biệt trọng khinh người đấu tranh bị cùm gông hay kẻ thấp cổ bé miệng bị hà hiếp.

Những hành động (không) nhỏ tử tế ấy của một cá nhân là lời phản kháng hùng hồn nhất với bạo quyền. Nhưng khi ngàn ngàn hành động ấy gộp lại thì cái thiện sẽ vượt lên làm cái đểu cáng chùn bước, chột dạ, hổ ngươi. Nó sẽ tạo sinh một hiệu ứng đám đông dây chuyền với tác động như những con sóng tựa đầu nhau thành ngọn sóng thần.

Bạn và (chúng) ta là một. Sẽ có sự chuyển hoá nào khi bạn và ta cùng biểu lộ tình người tình thân và cùng đồng lý tưởng xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, bác ái.

Bạn và ta có thể tự tin rằng tất cả những hành vi (không) nhỏ tử tế ở các góc chợ, khu phố, ngõ hẻm, đường mòn sẽ dẫn bạn và ta qua ngã ba đến con đường cái quan. Con đường của lương tri Việt Nam, dân chủ, công bằng và bác ái.

© 2011 Vietsoul:21

Phó thường dân (8): Gió mưa là chuyện của trời …

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2011/03/06 at 13:31

Vietsoul:21

Phó thường dân (8): Gió mưa là chuyn ca tri …

[tiếp theo kỳ trước: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu (9) Vô liêm sỉ – man rợ (10) Phế-anh-hùng (11) Luật Lệ(nh) … (12) Nhà em có nuôi một con két … (13) Cái nhà là nhà của ta … (14) Mèo – thỏ  (15) phố vẫy (16) Mít tờ Đàm và Bác Hồ (17) Nín thở qua cầu]

“Gió mưa là chuyện của trời
Nước non là chuyện của người công dân”

(Phỏng thơ Nguyễn Bính)

Cả hơn tuần nay phó thường dân tôi nằm bẹp ở nhà. Chẳng buồn đi đâu vì trời hết mưa xong chuyển sang đổ tuyết. Mưa ở vùng Tây Bắc Hoa-kỳ này nhiều đến nỗi người dân địa phương thường tự trào rằng “Đã là người Seattle thì nắng không đủ sạm màu da, chỉ dầm mưa cho rỉ sét.” (Seattlite don’t tan, we rust).

Nói thì nói vậy thôi chứ trung bình lượng nước mưa rơi ở Seattle vẫn còn thấp so với các nơi khác trên toàn quốc. Seattle đứng hạng thứ 44 sau cả New York, Miami, và Boston. Nhưng (cái nhưng đáng kể này) số ngày mưa ở Seattle thì có thể được cho là “hơi bị” cao. 158 ngày trong năm, gần như là 50 phần trăm. Tạm coi là ngày nắng, ngày mưa cứ thay phiên nhau.

Nhưng được một cái là mưa ở đây lai rai theo kiểu mưa phùn lất phất. Không nặng hột như mưa rào, mưa trôi nồi thủng rế, mưa trắng trời trắng đất, hay mưa lút mặt lút mày. Hồi mới sang đây phó thường dân tôi mấy năm đầu còn che dù khi đi mưa.  Rồi vì tật hay bỏ quên, làm mất, nên riết cũng quen, và thế là từ hai mươi mấy năm cho tới giờ chẳng bao giờ bận tâm che dù hoặc mặc áo mưa.

Ở đây nếu năm nào mà không có tuyết và mưa ít thì các viên chức thành phố–giới chức tiểu bang, công ty điện, sở cung cấp nước—liên tục cảnh báo và giáo dục người dân tiết kiệm.  Chuyện kêu gọi điều tiết giảm thiểu sử dụng điện nước để hầu bảo đảm cung cấp nhu cầu cho tư nhân và hảng xưởng nhất là thời gian cao điểm mùa hè. Họ nói dzậy phòng hờ chứ phó thường dân tui thấy cũng tùy. Vì vẫn có nhiều người xài xả láng chẳng giữ gìn gì ráo trọi, và bù lại cũng nhiều người để ý xử dụng điện nước cẩn thận. Tựu chung hơn mấy chục năm nay tui hổng bao giờ thấy ai phải chịu thiếu nước, thiếu điện.

Ủa, gió mưa là chuyện của trời … nói tới nói lui làm chi hè!

Ừa, mưa thì mới có nước … hổng có mưa thì “lạy trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày, lấy đầy bát cơm, lấy rơm đun bếp.”

Thiếu nước là thấy thở ngáp ngáp rồi. Thời vượt biên ngày nào làm sao quên nổi!  Không có nước thêm vài hôm nữa thì phó thường dân tui đã há miệng cá ngáp ngoài Thái bình dương rồi!

Nhưng nguy nhất giờ là mất nước tuốt luốt, là tiêu tùng vạn vạn con cháu vua Hùng à nghe…

Thiếu nưc, tha nưc, mt nưc

Nói tới từ ngữ c thì phó thường dân tui thiệt tình hổng làm sao hiểu nổi những chuyện cắc cớ thiếu nước, thừa nước, mất nước ở cái đất Việt Nam thời “hiện đại” này.

Năm nào cũng hạn hán, thiếu nước nghiêm trọng dẫn đến việc mùa màng thất bát. Thiếu nước thì đưa đến thiếu điện. Điện cúp lia chia bất kể đêm ngày, chẳng chừa nơi đâu, có đến chết người.

Thiếu điện thì lập tức có thiên tài đảng ta no, có xây đập thủy điện. Mỗi tỉnh mỗi vùng mạnh ai nấy làm, xây đập thủy điện để tăng trữ lượng nước và công suất điện. Có nước đâu mà trữ! Nước ở trên trời rơi xuống, ở thượng nguồn chảy ra chứ đâu phải cứ xây lên là có nước, có điện.

Cả hai miền đất nước lệ thuộc vào nguồn nước chính từ sông Mê-kông và sông Hồng. Hai nguồn nước đó giờ đã cạn kiệt, giảm lưu lượng một cách kinh hoàng. Sông Tiền, sông Hậu có những đoạn nước cạn tàu bè không chạy được. Còn sông Hồng thì trơ bãi cát ngang sông.

Vì sao? Chuyện gì ở đầu nguồn? Ai cản ai ngăn? Hay chăng là chuyện “lạ”?

Thiệt lạ hết sức nghen. Ở Việt Nam bây giờ thì gần như đụng phải chuyện gì cũng là chuyện “lạ”. Tàu “lạ”, rau quả “lạ”, hoá chất “lạ”, gạo “lạ”, công nhân “lạ” … riết rồi dám Việt Nam cũng thành nước “lạ”.

Chưa xong. Hết thiếu nước thì đến thừa nước. Toàn trò cắc cớ. Cứ mỗi lần mưa xuống thì thành phố ta tha hồ ngập nước[1]. Ngập từ mắt cá, ngập lên đầu gối, ngập tới thắt lưng. Ngập cống, ngập đường, ngập chợ, ngập thả dàn (thả bè).

Triều cường đó mà. Nghe mà bắt mệt. Hoa mỹ chơi chữ làm chi cho má nó khi.

Ngập nước thì nói đại là ngập nước cho nó gọn, chứ đừng có đổ thừa cho sông cho biển. Rồi thì thau chậu, phao chảo, thùng phi, thùng xốp, tất cả các phương tiện di chuyển chiến lược trong hai thành phố mang tên (cá) ngừ và thủ đâu Hà Nậu. Nẩu nói thâu rầu?

Thiếu nước và thừa nước mà không sang qua, sớt lại cho toại lòng nhau được. Nghiệt dzậy! Nhưng chịu vậy sao? Thôi thì còn nước còn tát chớ biết sao giờ.

À mà phó thường dân tui có nghe ở cả thế giới chỉ có mỗi Việt Nam là từ ngữ “nước” để chỉ cho đất Việt Nam. Đất đi kèm với nước thành “đất nước”, nghĩa là “nước” bao hàm cả đất và nước. Nước đối với người Việt Nam rất quan trọng, bắt nguồn từ nền văn minh lúa nước. Văn minh của những người xâm mình chống thuồng luồng, của Lạc Long Quân, vị thủy thần huyền tổ giống Lạc Việt. Lạc cũng là nước. Tức là khi nói về Việt Nam là nói đến nước.

Thế nên điều đáng sợ là Việt Nam đang dần dần mất nước – mất biển, mất đảo, mất đất, mất chủ quyền – Tại làm sao? Còn ai bứng (trồng) khoai đất này! Đó là đám nội-thực-dân Đảng CSVN.

Cóc kêu vi tri!

Nói tới nước thì phó thường dân tui nhớ lại câu chuyện con cóc là cậu ông trời. Cóc chỉ nghiến răng kêu là trời mưa. Nhiều người chắc ai cũng quên đầu đuôi câu chuyện rành mạch ra sao mà chỉ nhớ đến đoạn “cóc nghiến răng trời mưa”. Nhưng mà có phải thật vậy không? Hay là cóc cứ nghiến răng kêu trời mà trời vẫn cóc thèm để ý?

Cóc kêu với trời thì nhằm nhò gì. Hãy đọc vài dòng về số phận Phan Khôi, con cóc tía dưới thời VNDCCH năm 1954-1960:

“… Tiếng thở dài và tiếng chép miệng của ông trong những ngày cuối cùng như còn vọng lại. Sinh thời, mỗi lần ông nói đến một nỗi oan khuất nào đó của người đời, ông vẫn thường nhắc đến tiếng cóc kêu với trời! Gió mưa là do chuyển hoá Đông – Tây của thời tiết, nhưng vẫn có người tốt bụng tin rằng: Trời mưa nhờ có cóc kêu.” (Trần Duy, Tưởng niệm về Phan Khôi đăng trên Talawas ngày 18/6/2008)

Còn thời CHXHCNVN thế kỷ 21 thì sao? Một con cóc kêu trời cũng chẳng được chi. Con cóc tía Cù Huy Hà Vũ đã chạm tới thiên đình nhưng thượng hoàng đã sai đám thiên lôi chỉ đâu đánh đó dương búa sấm sét, đóng gông vào cùm.

Cóc con thì dzậy, còn trời (con) thì sao?

Thượng hoàng bộ chính trị đã chẳng ra rả ca ngợi cái “thiên đường cộng sản” đó sao? Có gì mà than vãn.

Phó thường dân nghĩ lại thì thấy cũng hổng trật. Thiên đường cho tập đoàn tội phạm vì họ tự tung, tự tác muốn làm gì thì làm, muốn vơ vét, lam nham, lũng lạm cỡ nào cũng được.

Họ nói “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu” cũng trúng phóc luôn. Năng lực họ hổng có, họ yếu/thiếu khả năng thì họ chỉ làm lam nham thôi. Nhu cầu thì ngược lại rất cao, nên họ cần vơ vét hết để thỏa mãn chúng. Để tui nhớ nha: nhu cầu xây đền thờ họ[2], nhu cầu đi xế khủng, nhu cầu rau sạch[3], nhu cầu nhất dạ đế vương[4].

Chỉ có đám nô-lệ-mới (phó) thường dân thì đối với họ là không có nhu cầu nhiều, lại có năng lực lao động cao nên phải được tận dụng hết cỡ trăm phần trăm. Người nô lệ thì bù đầu cắm cổ làm việc, đâu có thời giờ hoặc cần tiêu khiển nên cơm hẩm, cà thiu, cháo rau qua ngày là quá lẽ phải rồi.

Thử coi nè. Ai đời có cái anh chàng lao động xuất khẩu con thằng cha mắc dịch nào đó hổng biết. Vừa học (hộc xì ke), vừa làm (lừa) xong hai ba bằng cấp trong vòng mấy năm ngắn hổng rõ. Nhưng đến giờ thứ 25 đăng đàn vào ủy viên Trung Ương sánh vai với người (S)ang kẻ (T)rọng. Giữ lề mề vai công nhân làm chi cho mệt cái thân! Hãy đình công lãng việc rồi từ đó phấn đấu thay tên thành Tuấn, đổi họ là Nông, để thoát đời công nhân vô sản. Tự nhiên thành chàng Nông tuấn kiệt[5] dzô quyền, dzô tiền là chắc ăn nhứt.

Chưa hết. Gã cha của thiếu chủ Nguyễn Thanh Nghị[6] thì lấy của thiên (hạ) trả địa cho tên này xài xả láng. Y được (ngao) du học ở trường cha già đế quốc Mỹ George Washington, hổng phải trường ĐH Đảng (cha già dân tộc) Hồ Chí Minh à nha. Mới học ra trường (2006) “phục hổ, tàng long” chờ vài năm sau (2009) “được” bổ nhiệm Phó hiệu trưởng ĐH Kiến Trúc TP HCM. Rồi úm ba la ùm bà là thành là ủy viên trung ương (2011).

Tui nghĩ các sinh viên trẻ có khả năng, năng lực chắc còn hơn tay này nhiều. Nhưng tiếc thay là các bạn không làm sao “phấn đấu” để được lọt vào giai cấp COCC, CCCC (con ông cháu cha, con cháu các cụ). Các bạn nằm trong giới vô sản cccc (con cóc cái cò) thành ra cứ nghiến răng kêu trời và lặn lội bờ ao kiếm ăn đi thôi. Bạn nào không việc đúng nghề thì đi làm cửu vạn, công nhân vệ sinh vận dụng sức cơ bắp. Trọng trách quyền lợi thì để “trời con” BCT tự nhiên no giùm.

Thi phế anh hùng (anti-heroic)

Các dân mạng thông rành thời cuộc, tình hình thế giới hơn phó thường dân tui thì ai cũng biết. Những cuộc cách mạng bạo lực, chuyên chính giai cấp hay ý thức hệ đang gần như bất khả thi trong hoàn cảnh thế giới hiện giờ. Thời bây giờ coi như là thời phế-anh-hùng (anti-heroic). Thời một mình, một ngựa Kinh Kha đã tàn, chỉ để tán trong trà dư tửu hậu. Thời bây giờ không chờ một lãnh tụ, một thánh Gióng xuất hiện khai lộ, dẫn đường.

Giờ là thời của người cùng khổ, không ý thức hệ, không phân biệt giai cấp, chính kiến. Thời của nông dân mất đất, của công nhân lương chế đói, của ngư dân không biển chài bắt, của sinh viên không việc, của phụ nữ đi làm ôsin, của tráng niên đi làm cửu vạn, của trẻ em/cụ già lang thang bán vé số, của người rơm/người rừng lưu lạc phương trời, của thiếu nữ cô Kiều bán thân đợ nợ.

Giờ là thời số phận con giun cái kiến quằn lên đòi làm người, làm công dân với đủ nhân quyền dân quyền.

Tất cả những người đang thiếu nước, thiếu cơm, không có chủ quyền, hay đang dần dần mất nước cũng phải biết tụ tập đoàn kết đồng cảm với nhau.

Không chóng thì chầy họ cũng theo gương cóc tía nhỏ bé cùng các chị cua ôsin, anh gấu cửu vạn, đàn ong công nhân, ông cọp dân oan, cô cáo sinh viên náo động thiên đường đòi mưa, có nước làm ăn, có đường sinh sống.

Nước là nước của nhân dân, của đồng bào chứ đâu phải nước mang tên XHCN hay độc tài cộng sản. Đồng bào sống trong nước nhưng oái ăm thay nước thì đã mất vào tay nội-thực-dân. Sao đồng bào buộc đành làm người nô-lệ-mới khát nước mà lại phải phục vụ đám bạo quyền tập đoàn tội phạm bộ chính trị Đảng CSVN?

Phải đòi bằng được quyền công dân và quyền làm người và cho một xã hội chuyển đổi trở nên tử tế, lương thiện. Quyết không sống chung với “lũ”, với “đồ đểu”, với “chuyện thường ngày ở huyện”.

Sinh viên đòi quyền có công ăn việc làm dựa vào khả năng chứ không dựa vào thân thế con ông cháu cha, con cháu các cụ, hoặc phe nhóm . Công nhân đòi quyền lãng công, đình công để đòi hỏi và đạt được cải thiện điều kiện công việc và lương bổng tương xứng. Nông dân đòi quyền hiệp hội, được tín dụng, bình ổn giá cả phân, giống. Ngư dân đòi được sự bảo vệ của hải quân trong vùng lãnh hải quốc gia không bị khủng bố từ tàu “lạ”. Thương nhân đòi hỏi được tự do buôn bán hợp pháp không bị nhũng nhiễu bởi các quan thuế, quan thanh tra, quan thổ, quan quân …

Đồng loạt, đồng lòng, đồng hành sát cánh đòi lại quyền chính đáng. Nếu cóc nghe lời bàn qua, tán lại thì cóc đã nhảy về đáy giếng cạn nghiến răng ken két than trời trách phận. Nếu cóc một mình một thân thì gà trời đã mổ cho lòi óc. Cóc kết hợp với những con vật khác đem dũng khí và trí thông minh sáng tạo để lên tới thiên đình đòi mưa, có nước, đem sức sống cho vạn vật. Cóc vận dụng trí khôn dùng sở trường của từng con vật để chống đỡ lại thiên lôi (công an còn đảng còn mình, chỉ đâu đánh đó), gà trời (gà thiến gáy to từ các kèn đồng thau/Đông La), và chó (chánh án) nhà trời. Cóc kiên cường, dũng cảm đã quyết tâm cứu mình và cứu cả muôn loài.

Cha ông chúng ta đã sống nhẫn nhục bao năm và ta còn phải sống nhẫn nhục bao năm nữa?

Đã có những ngày mà con người lương tâm táng tận, con tố cha, cháu tố bà, bạn bè tố nhau. Đã có những ngày mà phẩm giá con người bị bôi nhọ, chà đạp, xoá tên và xóa dấu vết người (Phan Khôi, Lưu Quang Vũ, Nguyễn Hữu Cầu, Trần Văn Sương). Đã có những ngày mà họ trở thành người lưu đày trên chính nước họ (Trần Đức Thảo, Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Lê Trần Luật) và là “kẻ mất phép thông công” (Nguyễn Mạnh Tường, Cù Huy Hà Vũ). Đang có những ngày mà sự đểu cáng, lừa đảo trắng trợn là điều hiển nhiên cho thời kỳ “đồ đểu” khi hàng loạt tiến sĩ mác giả nắm chức vụ quyền năng quan trọng còn tiến sĩ hàng thật thì xách cặp, soạn bài cho quan “tiến sĩ giấy”.

Cha ông chúng ta đã sống nhẫn nhục bao năm và ta còn phải sống nhẫn nhục bao năm nữa?

Đang có những ngày mà chính quyền dùng phân, dùng bao cao su để bôi bẩn, bôi nhọ nhân phẩm con người. Đang có những ngày mà nhà nước dùng đầu gấu, tội phạm hành hung, gây hấn, đả thương những công dân yêu nước. Đang có những ngày mà “trung với Đảng” tội phạm để được quyền hành, bổng lộc. Đang có những ngày mà “hiếu với dân quan (đầy tớ)” đem lại ô dù bao che tội ác.[7] Những ngày dài lặng chìm trong đau khổ vẫn tiếp tục …

Cha ông chúng ta đã sống nhẫn nhục bao năm và ta còn phải sống nhẫn nhục bao năm nữa?

Có dăm người luận bàn về thời cơ và phương án. Thời cơ ở đâu? Đến khi nào thì đủ điều kiện? Chờ đợi minh quân lãnh đạo nào xuất hiện? Ai là người quyết định thời điểm cơ hội? Ai là người xác quyết điều kiện chủ quan/khách quan, cần và đủ? Chính trị gia nào phất cờ? Bình luận gia, chuyên gia nào phân tích rạch ròi lên hiệu bật đèn xanh? Phương án nào và ẩn số nào tối ưu? Chuyện lớn hay chuyện nhỏ? Chuyện thật hay chuyện giả?

Phải chăng chuyện sẽ đơn giản hơn khi mỗi chúng ta chọn lựa ứng xử và hành động tự cứu mình và cứu muôn loài như chàng cóc bé nhỏ. Có dũng khí để tranh đấu dành lại quyền lợi nhân phẩm khi sinh ra đã có. Biết hợp quần để tạo sức mạnh. Đem trí tuệ vận dụng mọi phương tiện trong cuộc đấu tranh. Ngày mai còn nước là do kết quả những gì bạn làm không ít thì nhiều hôm nay.

Có cần bảo hộ cái tuyên đoán điều gì sẽ xảy đến khi các luật gia lên tiếng đòi lại nhân phẩm và tự do cho đồng nghiệp Lê Công Định, Cù Huy Hà Vũ, Lê Trần Luật?… Khi các sinh viên và công nhân vận động đòi trả lại tự do cho những nhà đấu tranh bảo vệ giới lao động Đoàn Huy Chương, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đỗ Thị Minh Hạnh … Khi các giáo dân công giáo, phật giáo, tin lành vùng lên đòi trả lại nơi thờ phượng, chốn cầu nguyện. Khi các nông dân dân oan đòi đền bù, trả lại đất đai bị cưỡng chế. Và khi thế hệ trẻ tận dụng trí tuệ, tự tìm nhiều phương thức khác nhau để hợp quần, hiệp thông, hỗ trợ, chia vai, nương tựa lẫn nhau đấu tranh đòi lại quyền làm chủ đất nước?

Chúng ta không còn nước sống.[8]

Thế kỷ này là thế kỷ của trí tuệ trẻ vạn năng, của những người cùng khổ, cùng vươn lên đánh đổ độc tài toàn trị, dành lại đất dành lại nước.

Sức mạnh của thế kỷ ở trong chính bạn.

© 2011 Vietsoul:21

[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu – (8) Gió mưa là chuyện của trời … – (9) Vô liêm sỉ – man rợ – (10) Phế-anh-hùng – (11) Luật Lệ(nh) … – (12) Nhà em có nuôi một con két … – (13) Cái nhà là nhà của ta … – (14) Mèo – thỏ]


[6] Xem 5


Con cóc là cậu ông trời

Ngày xửa ngày xưa, con cóc vẫn sần sùi xấu xí như ngày nay. Nhưng cóc nổi tiếng giữa muôn loài là một con vật tuy bé nhỏ nhưng rất gan dạ, gan cóc tía mà lại. Vào một năm không nhớ rõ năm nào, trời làm hạn hán khủng khiếp, nắng lửa hết tháng này đến tháng khác thiêu cháy cây cối, hút cạn nước sông ngòi, đầm hồ. Muôn loài không còn một giọt nước để uống. Các con vật to lớn hùng mạnh xưa nay tác oai tác quái trong rừng đều nằm lè lưỡi mà thở để đợi chết, không ai nghĩ được kế gì để cứu mình, cứu muôn loài. Sức mạnh của chúng chỉ để bắt nạt nhau thôi chứ đâu có thể làm gì nổi ông trời. Duy có anh chàng Cóc tía bé nhỏ, xấu xí kia là có gan to. Anh tính chuyện lên thiên đình kiện Trời làm mưa cứu muôn loài.

Khởi đầu chỉ có một mình nhưng anh không nản. Ði qua một vũng đầm khô, Cóc tía gặp Cua càng. Cua hỏi Cóc đi đâu, Cóc bèn kể rõ sự tình và rủ Cua cùng đi kiện Trời. Ban đầu Cua định bàn ngang, thà chết ở đây còn hơn chứ Trời xa thế đi sao tới mà kiện với tụng, nhưng những con vật ở quanh Cua nghe Cóc nói lại tranh nhau mà bàn ngang bàn lùi, làm cho Cua nổi giận. Nói ngang bàn ngang là chuyện ngang của Cua thế mà họ lại dám tranh mất cái quyền ấy, cái quyền được phép ngang như cua cơ mà. Thế là Cua làm ngược lại, Cua tình nguyện cùng đi với Cóc.

Ði được một đoạn nữa, Cóc lại gặp Cọp đang nằm phơi bụng thở thoi thóp, Gấu đang chảy mỡ ròng ròng và khát cháy họng. Cóc rủ Gấu và Cọp đi kiện trời, Cọp còn lưỡng lự thì Gấu đã gạt đi mà nói rằng:

– Anh Cóc nói có lý, chẳng có lẽ chúng mình cứ nằm ở đây đợi chết khát cả ư? Ta theo anh Cóc thôi! Ðến ngang như anh Cua còn theo anh Cóc được thì tại sao chúng mình không theo.

Cả bọn nhập lại thành đoàn. Ði thêm một chặng nữa thì gặp đàn Ong đang khô mật và con Cáo bị lửa nướng cháy xém lông. Cả hai con vật này cũng hăng hái nhập vào đoàn loài vật đi kiện Trời do Cóc dẫn đầu.

Cóc dẫn các bạn đi mãi, đi mãi đến tận cửa thiên đình. Khi đi trên đường cả bọn đều hăng hái nhưng đến trước cửa Trời oai nghiêm, bọn Cọp, Gấu, Cáo, Ong, Cua đều sợ, duy chỉ có Cóc là gan liền dõng dạc ra lệnh:

– Bây giờ các anh phải nghe lời tôi. Kia là chum nước của Trời, anh Cua vào nấp trong ấy. Anh Cáo nấp ở phía bên trái tôi, anh Gấu nằm ở phía bên phải tôi, còn anh Cọp chịu khó nằm đằng sau tôi. Các anh có nghe lệnh của tôi thì mới thắng được Trời.

Tất cả đều nghe lệnh của Cóc. Sắp đặt xong đâu đấy Cóc mới nhảy lên mặt trống trờ đánh ba hồi trống ầm vang như sấm động.

Ngọc Hoàng đang ngủ trưa một cách lười biếng bị tiếng trống lôi đình đánh thức dậy nên bực tức, bắt Thiên lôi ra xem có chuyện gì. Thiên lôi lười biếng vội phủi bụi và mạng nhện giăng đầy trên lưỡi búa tầm sét cắm cổ chạy ra. Thiên lôi ngạc nhiên vì ở ngoài cửa thiên đình chẳng thấy có một người nào cả chỉ thấy mỗi một con Cóc xù xì xấu xí đang ngồi chễm trệ trên mặt trống của nhà Trời. Thiên lôi hết nhìn con Cóc lại nhìn lưỡi búa tầm sét khổng lồ của mình và thở dài vì cái búa to quá mà Cóc bé quá, đánh chưa chắc đã trúng được. Thiên lôi bèn vào tâu Ngọc hoàng, Ngọc hoàng nghe xong bực lắm bèn sai con gà trời bay ra mổ chết chú Cóc hỗn xược kia.

Gà trời vừa hung hăng bay ra thì Cóc đã nghiến răng ra hiệu, lập tức chàng Cáo nhảy ra cắn cổ gà tha đi mất. Cóc lại đánh trống lôi đình. Ngọc hoàng càng giận giữ sai Chó nhà trời xổ ra cắn Cáo. Chó vừa xồng xộc chạy ra thì Cóc lại nghiến răng ra hiệu. Lập tức anh Gấu lừng lững xổ ra đón đường tát cho chó một đòn trời giáng. Chó chết tươi.

Cóc lại thúc trống lôi đình đánh thức Ngọc hoàng. Ngọc hoàng bèn sai Thiên lôi ra trị tội gấu. Thiên lôi là vị thần trời có lưỡi tầm sét mỗi lần vung lên thì thành sét đánh ngang trời, thành sấm động bốn cõi. Sức mạnh của Thiên lôi không có ai bì được. Ngọc hoàng yên trí lần này cử đến ông Thiên lôi ra quân thì cái đám Cóc, Cáo ắt hẳn là tan xác. Vì thế khi ông Thiên lôi vác lưỡi tầm sét đi là Ngọc hoàng lại co chân nằm trên ngai vàng mà ngủ tiếp.

Thiên lôi vừa hùng hổ vác búa tầm sét ra đến cửa thiên đình thì Cóc đã nghiến răng ra lệnh, lập tức đàn Ong nấp trên cánh cửa bay vù ra và cứ nhè vào mũi Thiên lôi mà đốt. Nọc ong đốt đau lắm, mũi Thiên lôi rát như phải bỏng. Nhớ là ở cửa trời có một chum nước. Thiên lôi vội vàng vứt cả búa tầm sét nhảy ùm vào chum nước chạy trốn. Nào ngờ vừa nhảy ùm vào trong chum nước thì anh Cua càng nấp trong đó từ bao giờ đã chờ sẵn để giương đôi càng như đôi gọng kìm cắp chặt lấy cổ. Thiên lôi đau quá gào thét vùng vẫy vỡ cả chum nước nhà Trời. Thiên lôi tìm đường chạy trốn thì Cóc tía lại nghiến răng ra lệnh. Lập tức Cọp nấp sau Cóc tía nhảy bổ ra gầm lên một tiếng vang động xé tan xác Thiên lôi thành hai mảnh.

Ngọc hoàng thấy thế sợ quá bèn xin giảng hoà với Cóc, và xin Cóc cho nhận lại xác của Thiên lôi để cứu chữa. Cóc bằng lòng ngay. Theo lệnh nghiến răng của Cóc, Cọp và Gấu vác xác Thiên lôi về xếp lại ở giữa sân điện thiên đình. Ngọc hoàng phải ra tay làm phép tưới nước cam lồ vào cái xác đầy thương tích đó. Nhờ phép của Ngọc hoàng, Thiên lôi mới được sống lại. Ngọc hoàng nghĩ mình đường đường là một ông Trời mà lại chịu thua Cóc thì thật là điều sỉ nhục, nên tính lật lọng, sai Thiên lôi vác búa tầm sét chống lại Cóc và các bạn của Cóc. Biết thế nào Ngọc hoàng cũng tính chuyện lật lọng nên Cóc lại nghiến răng. Lập tức các bạn của Cóc dàn trận. Ong giương nọc, Cáo giương nanh, Cọp giương vuốt, Cua giương càng, Gấu giương cánh tay đầy sức mạnh… Thiên lôi vừa mới thoát chết hoảng quá lui lại không dám tiến lên, mà thụt vào nấp sau chiếc ngai vàng của Ngọc hoàng. Các tướng nhà Trời oai phong lẫm liệt thấy đến ông Thiên lôi còn sợ sệt như thế thì hoảng quá tìm kế thối lui.

Thấy tướng nhà trời của mình như vậy, Ngọc hoàng biết không thể thắng nổi Cóc và các bạn của Cóc. Ðến lúc bấy giờ Ngọc hoàng mới thực bụng giảng hoà, và hỏi Cóc lên tận thiên đình có việc gì. Cóc oai phong nhảy hẳn lên tay ngai vàng và dõng dạc thưa:

– Ðã bốn năm nay ở dưới trần gian hạn hán kéo dài, không một giọt mưa. Muôn cây khô héo, vạn vật chết khát. Cứ tưởng Ngọc hoàng bận gì hoặc là Ngọc hoàng giận gì trần gian mà ra phúc họa, ai ngờ lên đây mới biết Ngọc hoàng và các tướng nhà trời ngủ quên không nhớ đến việc làm mưa cứu muôn vật muôn loài dưới trần thế. Chúng tôi phải lên tận đây đánh thức Ngọc hoàng, xin Ngọc hoàng làm mưa ngay cho trần gian được nhờ.

Thấy Cóc nói giọng oai phong và bạn bè Cóc lại đằng đằng sát khí, Ngọc hoàng vội cuống quýt chống chế:

– Cóc với ta là chỗ thân thích, việc gì mà cậu phải mất công đến như vậy, ta sẽ sai thần mưa, thần gió xuống hạ giới làm mưa ngay bây giờ. Cậu Cóc có bằng lòng thế không nào.

Cóc gật gù thưa:

– Muôn tâu Ngọc hoàng trần gian được một trận mưa cứu khát thì còn gì bằng nữa. Anh em tôi vô cùng đội ơn Ngọc hoàng. Nhưng nếu ở hạ giới mà hễ bị hạn hán là bọn anh em chúng tôi lại lên đây kêu với Ngọc hoàng đấy.

Nghe Cóc hẹn lại lên thiên đình, Ngọc hoàng hoảng hồn rối rít lắc đầu xua tay:

– Thôi khỏi, thôi khỏi phải bận đến cậu như thế. Chỗ cậu và ta là tình thân thích, cậu chả nên bầy vẽ vất vả mệt nhọc như vậy làm gì. Cậu không phải lên thiên đình nữa, khi nào có hạn hán cậu muốn ta làm mưa, cậu chỉ cần ngồi dưới đất nghiến răng là ta nghe thấy liền.

Ðể chứng tỏ lòng thành thật không lật lọng của mình, Ngọc hoàng sai rồng đen bay xuống phun mưa, và đưa Cóc cùng các bạn về hạ giới. Cơn mưa cứu hạn làm cây cối tươi tốt, muôn loài nhảy múa chào đón anh em Cóc trở về. Từ đó hễ Cóc nghiến răng là trời lập tức đổ mưa nên đồng dao của trẻ nhỏ ngàn năm vẫn có câu hát rằng:

Con Cóc là cậu ông Trời
Ai mà đánh nó thì Trời đánh cho.

Phó thường dân (7): (Vô) Hậu

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Thế giới, Việt Nam on 2011/02/22 at 00:38

Vietsoul:21

Việt Nam là một trong những quốc gia hậu-thuộc-địa và đã có một số phận không may mắn lãnh nhận “nghĩa vụ quốc tế” làm “tiền đồn chủ nghĩa cộng sản” và con bài domino “ngăn chặn làn sóng đỏ”. Hậu quả là huynh đệ tương tàn, thằng sứt trán, đứa bể đầu. Rồi thì “giải phóng” thống nhất một nhà nhưng độc lập chủ quyền thì chẳng thấy và nào biết dân chủ, tự do. Cái chủ nghĩa (giáo) mác (lưỡi) lê đã chặt đứt đầu mầm móng dân chủ và đâm thủng lòng ước vọng tự do của toàn dân.

[tiếp theo kỳ trước: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng]

Vượt thoát

Vượt thoát (nguồn: dân làm báo)

Tết nguyên đán vừa qua, ngoài những rộn ràng ba ngày Tết thì phó thường dân tôi cũng hứng khởi theo dõi các diễn biến ở Tunisia, Ai-cập, Yemen, Algeria, Libya, Iran, và Bahrain hơn ba tuần qua. Cuối cùng thì sức mạnh của người dân đã thắng thế vượt lên trên cái chai lì của chế độ độc tài trên 30 năm cầm quyền của Mubarak. Toàn dân Ai-cập đã thực hiện giấc mơ lật đổ được một chế độ độc tài. Họ hy vọng tràn đầy với ý thức công dân và thực thi quyền đó trong một số cơ chế xã hội dân sự hiện hữu mong đất nước mình tiến đến một thể chế tự do dân chủ thực sự. Phong trào dân quyền giải (nội) thực (dân) khởi phát tại Tunisia đã bùng nổ và đang lan dần đến các quốc gia láng giềng xa gần.

Hậu-thuộc-địa (post-colonialism)

Các quốc gia nói trên hầu hết cùng chia sẻ chung một đặc thù lịch sử: hậu-thuộc-địa. Phong trào giải thực thập niên 50, 60 của thế kỷ 20 đã giúp cho người dân các nước này thoát khỏi xiềng xích nô lệ thực dân Pháp, Anh, Đức, Bỉ, Tây-ban-nha, và Hoa-kỳ. Dẫu thế, địa chính trị (geopolitics) đã đưa đẩy đa số các quốc gia này hoặc về phe Cộng sản hoặc vào phía Tư bản. Chỉ một số ít quốc gia khéo léo, lèo lái giữ vững được vị thế của mình không để bị lôi cuốn vào vòng đối lập này.

Sau khi giành được độc lập từ thực dân, các quốc gia hậu-thuộc-địa đã cùng nhau hội họp với tiên đề xây dựng đất nước để hậu thuẫn lẫn nhau. Hội nghị Á-Phi năm 1955 (Bandung Conference in Indonesia) khởi xướng phong trào các quốc gia không liên kết (Non-Aligned Movement, NAM). Phong trào này thành hình năm 1961 nhằm giúp các nước mới có độc lập kháng cự lại ảnh hưởng của hai khối quyền lực chính trị Tư bản và Cộng sản. Tuy nhiên, ý thức hệ chính trị và điều kiện xã hội của các quốc gia nằm trong phong trào không liên kết quá đa dạng và khác biệt nên không tạo được đoàn kết. Phong trào này rốt cuộc không đạt được kết quả như vạch ra trong chính sách và đề cương.[1]

Việt Nam là một trong những quốc gia hậu-thuộc-địa và đã có một số phận không may mắn lãnh nhận “nghĩa vụ quốc tế” làm “tiền đồn chủ nghĩa cộng sản” và con bài domino “ngăn chặn làn sóng đỏ”.  Hậu quả là huynh đệ tương tàn, thằng sứt trán, đứa bể đầu. Rồi thì “giải phóng” thống nhất một nhà nhưng độc lập chủ quyền thì chẳng thấy và nào biết dân chủ, tự do. Cái chủ nghĩa (giáo) mác (lưỡi) lê đã chặt đứt đầu mầm móng dân chủ và đâm thủng lòng ước vọng tự do của toàn dân.

Mầm dân chủ trong thời hậu-thuộc-địa bị chặt móng ngay lập tức khi giới trí thức lên tiếng đòi tự do ngôn luận, độc lập báo chí qua phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm. Họ bị ngược đãi, phỉ báng, trù dập, cô lập cho đến chết. Phan Khôi khi mất chỉ có một người cô và người cháu đưa tang, mộ bị mất không kiếm được. Triết gia Trần đức Thảo thì chết một mình trong căn nhà xập xệ và hài cốt để ở dưới gầm cầu thang. Nguyễn Hữu Đang lúc gần chết thì sợ không có chỗ chôn. Nhà thơ Hữu Loan phải về quê Thanh Hóa thồ đá để không phải chung đụng với phường bất nhân. Luật sư Nguyễn Mạnh Tường thì đành làm “kẻ bị mất phép thông công”[2]. Một thế hệ tinh hoa dân tộc bị vùi vào tro bùn quên lãng.

Lòng ước vọng tự do của toàn dân thì bị (đâm) thủng ruột trong cái đói và bần hàn. Đói với tem phiếu trong xã hội chủ nghĩa–với “xếp hàng cả ngày” rồi “xuống hố cả nước”. Cùng cực vì đã làm “tiền đồn XHCN” nên khi Cu-ba ngủ thì Việt Nam thức (trắng mắt). Đói với hợp tác xã “gõ kẻng” đi làm trên những hoang tưởng không tự vẽ vời của “cánh đồng năm tấn” để bị thu thóc như “Cái đêm hôm ấy… đêm gì!”.[3] Đói, đói, và đói.  Đói như thế thì làm gì có ước vọng tự do mà chỉ mơ cơm trắng[4].

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, một nhà nước “chuyên chính vô sản” búa liềm đã siết chặt gọng cùm trên cổ người dân từ khi thành lập nằm 1946 cho đến khi cả nước sắp bị chết đói cuối thập niên 80 thì “đổi mới”. Chuyển tiếp đến là cuộc tiếm quyền của tập đoàn tội phạm Bộ chính trị Đảng CSVN—một thể chế độc tài, độc tôn, tự bầu bán, tự tung, tự tác, thao túng, tham nhũng và áp đặt quyền lực của bè đảng trong mọi lãnh vực. Người dân không có một tiếng nói, không có mảy may quyền công dân nào cả. Mọi người dân trở thành tù nhân dự bị, sẳn sàng bị bỏ tù bất cứ khi nào thực hiện quyền công dân của họ.

Tập đoàn quyền lực này thay ngôi đổi vị với thực dân ngoại xâm để trở thành nội-thực-dân. Chúng vẫn tham tàn không kém mà còn áp bức dã man hơn vì chúng đã học chuyên được phương sách, thủ đoạn cả Đông lẫn Tây để áp dụng cai trị dân. Chúng dùng cùm, dùng còng, dùng hơi cay, dùng chó nghiệp vụ, dùng báo chí (chó nghiệp vụ thời thượng), dùng loa phát thanh, truyền hình, dùng cả bao cao su (thời trước thì trùm bao bố cho mò tôm), dùng thủ anh và thủ nhang (bình vôi – bái vật – bà đồng) hội văn vẻ tuyên (huấn) sớ tế sống. Chúng điều kiện hoá và nô lệ hóa nhân dân với cái “sợ” qua thủ tục hành (là) chính “đầu tiên” (tiền đâu?). Vì hằng hà sa số “chuyện thường ngày ở huyện”[5] như thế nên xã hội đã biến thái trở thành vô cảm khi ngày một ngày hai phải ra vào sống với “lũ” (người ngợm) và “sống trong sợ hãi”.  Một xã hội không biết mình tụt hậu trong khi các quốc gia khác đã chọn đường đoạn tuyệt với chế độ cộng sản.

Hậu-cộng sản (post-communism)

Đã hơn 30 năm từ khi cuộc cách mạng nhung của phong trào đoàn kết công đoàn Ba-lan đứng lên phất ngọn cờ tiên phong giải phóng đất nước. Chế độ cộng sản tại Đông Âu và cả thành trì Liên Bang Sô Viết sau đó cũng đã nối nhau sụp đổ, tan rã. Các quốc gia này bước vào thời kỳ hậu-cộng-sản xây dựng đất nước theo mô hình dân chủ tự do. Con đường này tuy không phải thẳng băng, và có gập ghềnh nhưng vẫn định hướng về một chân trời mới.

Không ít các nước hậu-thuộc-địa Á-Phi thử nghiệm với chủ nghĩa xã hội nhưng họ không ngu dại ôm lấy cái chuyên chính vô sản kiểu Mao, Lenin, Stalin, Pol Pot, Kim, và Hồ. Rồi dần dần họ cũng vất bỏ nó không thương tiếc. Chỉ còn sót lại vài tên cai thầu nô lệ mới trung thành với chủ (thuyết) để nô dịch hoá đồng bào chúng.

Như có đề cập ở trên, hội nghị Á-Phi Bandung đã đơm hoa cho Phong trào không liên kết của các nước hậu-thuộc-địa vào năm 1955. Nhưng mãi đến hơn năm mươi năm sau, khi thiên niên kỷ mới lật những trang đầu thì thế giới mới chứng kiến một phong trào giải nội-thực-dân của nhân dân Phi châu vùng dậy chống áp bức lật đổ những nhà độc tài và thể chế toàn trị.

Cũng thế mới đây, phong trào cách mạng hoa lài từ Tunisia sang Egypt lan đến Lybia và Bahrain là phong trào liên kết của những người cùng khổ. Họ liên kết với nhau trong một không gian mạng, không biên giới, không đảng phái, không ý thức hệ, và không phân biệt giai cấp.

Mục tiêu của các cuộc cách mạng nhân dân này là đòi hỏi quyền công dân, được sống trong một xã hội tự do dân chủ. Họ đã vượt qua rào cản tâm lý sợ hãi mà các chính quyền nô dịch này áp đặt trong đầu họ trên mấy chục năm. Ông Hosam Khalaf, một kỹ sư 50 tuổi nói dân Ai-cập đã nhận được thông điệp từ Tunisia là “Đừng tự thiêu mà hãy thiêu đốt nỗi lo sợ trong lòng bạn. Đó là những gì đã xảy ra ở đây. Đây là một xã hội từng sống trong sợ hãi, và nỗi sợ hãi đã bị thiêu đốt ra tro tàn.[6]

Một thiếu nữ khác nói “Đây là cuộc cách mạng cho ông của tôi. Họ đã nhẫn nhục bao nhiêu năm dưới chế độ độc tài này.” Anh Ghonim phát biểu “… Chúng tôi không phải là người phản quốc, chúng tôi yêu đất nước Ai-cập này. …Đây không phải là lúc chia chác nữa.  Tôi nghĩ là các nhà chính khách biết tôi nói điều gì…”. Anh còn nói thêm, “Ngay sau khi tôi ra khỏi tù, tôi đã viết một mẩu tin rằng chúng tôi sẽ thắng, bởi vì chúng tôi không hiểu chính trị, bởi vì chúng tôi không hiểu những trò chơi bẩn thỉu của họ. Chúng tôi sẽ dành chiến thắng bởi vì những giọt nước mắt của chúng tôi xuất phát từ trái tim. Chúng tôi sẽ dành chiến thắng bởi vì chúng tôi có một giấc mơ. Chúng tôi sẽ dành chiến thắng bởi vì chúng tôi tin rằng nếu có ai đó ngăn chặn giấc mơ của chúng tôi, chúng tôi sẵn sàng chết để bảo vệ nó”.[7]

Ngọn lửa cách mạng nhân dân (kiểu 2.0) đang lan truyền đến các quốc gia láng giềng xa gần từ Phi đến Á. Những “con dân” Tunisia và Ai-cập đang giành lấy lại quyền công dân của họ để được sống trong xã hội dân chủ, tự do.

Từ cuộc cách mạng đó, họ đã dạy cho tất cả chúng ta 4 bài học sau: (1) Ý chí của nhân dân. Trước hết và trên cùng đó là: nhà nước và chính phủ hiện hữu từ nhân dân mà ra chứ không phải ngược lại (như ngụy biện loại đảng trên cả tổ quốc và đảng là tổ quốc); (2) Chìa khóa để chiến thắng luôn luôn nằm trong tay của người dân – không phải lệ thuộc vào một ngoại bang (Hoa-kỳ hay bất cứ thế lực nào); (3) Tự do không phải dễ định nghĩa (và thường hay bị bóp méo như “tự do đi theo lề phải”) nhưng bạn biết ngay khi bạn có tự do hay không; (4) Tiếng nói vang dội nhất là tiếng của luân lý. Mọi phương tiện không thể biện minh cho cứu cánh – thực ra phương tiện giúp xác định cái cứu cánh và kết cuộc. Thử hỏi điều gì sẽ xảy ra nếu người Ai Cập, thay vì tuân thủ kỷ luật biểu tình phản kháng trong ôn hòa, lại dùng bạo lực khủng bố chống trả các quân lính và kẻ ủng hộ nhà độc tài để đạt được một kết thúc chính trị?[8]

Việt Nam trong thời “kinh tế thị trường” “định hướng xã hội chủ nghĩa” có khác gì chăng?

Mầm mống dân chủ vừa mới nhú lên và lòng khát vọng tự do mong được giọt hồi sinh thì đã bị yểu mệnh khai tử với đôi còng số 8 trong cái gọi là “tuyên truyền chống nhà nước” (điều 88, Bộ luật Hình sự) và “âm mưu lật đổ chế độ” (điều 79, BLHS). Một số trí thức tranh đấu cho dân chủ tự do lần lượt bị bắt giữ giam cầm trong tù đày không biết ngày về (hết hạn tù này bị treo hạn khác).

Trong nhà tù lớn, những đói khát về vật chất qua bao năm “tem phiếu” thời bao cấp, hợp tác xã, ngăn sông cấm chợ nay bùng nổ chuyển sang thèm muốn những chú dế, con xế (siêu dế, xế hộp, siêu xế, xế khủng) để lắc để quậy. Song song đó là một nền giáo dục xơ cứng trong giáo điều “hồng” chuyên chính vô sản, vô gia đình để phục vụ đảng. Những lý tưởng phục vụ nhân sinh, dân sinh đã gần như bị tuyệt giống, lạc giọng trong xã hội vật chất xô bồ của thời kỳ “đồ đểu”. Cũng cùng lúc, bè nhóm tập đoàn cầm quyền đảng CSVN như con ma đói không ngừng lam nham, lũng lạm ngân quỹ, khai thác cạn kiệt tài nguyên, hủy diệt môi trường, vơ vét cho riêng chúng.

Có hy vọng gì cho tương lai đất nước Việt Nam?

Phó thường dân tôi có quen một người anh xứ Quảng luôn khắc khoải về tương lai vận mệnh của đất nước. Anh rất bi quan về đất nước hiện nay nhưng ngược lại rất lạc quan tin tưởng vào thế hệ trẻ. Anh có một niềm tin tuyệt đối vào thế hệ trẻ vì anh cho rằng không ai khác hơn là thế hệ này nắm chìa khoá tương lai vận mệnh đất nước, được thịnh hay suy.

Dân tộc Việt Nam khó thoát ra được khổ nạn chế độ độc tài nếu thế hệ trẻ không dấn thân. Những người đã từng tạo ra lịch sử trước đây thì đa số cũng đã ra thiên cổ hoặc đang đứng bên vỉa hè lịch sử. Thế hệ kế tiếp (Nguyễn Tiến Trung, Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, AnhbaSG Phan Thanh Hải, LS Lê Trần Luật, LS Lê Thị Công Nhân, TS Cù Huy Hà Vũ, KS Đỗ Nam Hải, Nguyễn Ngọc Quang, Trần Khải Thanh Thủy, Trần Đức Thạch, Phạm Văn Trội, Vũ Văn Hùng, Đoàn Huy Chương, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đỗ Thị Minh Hạnh, Lê Trí Tuệ, Vũ Quang Thuận, người buôn gió Bùi Thanh Hiếu, mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, … kể sao cho hết) đã/đang lót đường, làm bản lề, và đòn bẫy cho thế hệ tiếp nữa nhảy vượt qua rào cản trì trệ, trơ lì, phản động của độc tài cộng sản.

Giới trẻ Việt Nam chắc chắn sẽ sánh vai ngang hàng với thế hệ trẻ Tunisia và Ai-cập đầy năng động, đoàn kết và phát kiến những chương trình và phương thức hành động bất bạo động tuyệt vời kêu gọi được quần chúng tham gia “vượt qua nỗi sợ” lật đổ chế độ độc tài áp bức.

Vì mệ Việt Nam đã quá chán ngán, cạn lời tán thán cộng sản là “cái quân vô hậu!”. Mẹ Việt Nam đang mong chờ tuổi trẻ khởi động toàn dân cùng đứng dậy đem cái hậu của tự do, dân chủ, phú cường về cho đất nước Việt Nam hậu-thuộc-địa, hậu-cộng sản.

© 2011 Vietsoul:21

[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi (2) Nôị-thực-dân (3) Sợ (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông (5) Con dân – con cá – cò mồi (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng (7) (Vô) Hậu (8) Gió mưa là chuyện của trời … (9) Vô liêm sỉ – man rợ – (10) Phế-anh-hùng (11) Luật Lệ(nh) … (12) Nhà em có nuôi một con két … (13) Cái nhà là nhà của ta … (14) Mèo – thỏ (15) phố vẫy (16) Mít tờ Đàm và Bác Hồ (17) Nín thở qua cầu]


CHÚ THÍCH:

[1] Non-aligned Movement, wikipedia

[2] Kẻ bị mất phép thông công, Nguyễn Mạnh Tường

[3] Cơm trắng, Phạm Lưu Vũ

[4]Cái đêm hôm ấy… đêm gì?”, Phùng Gia Lộc

[6] Speaker’s corner on the Nile, Thomas L. Friedman. Bản tiếng Việt “Dòng sông Nile

(Phản) Phản Biện và Sự Thật

In Cộng Đồng, Chính trị (Politics), Tạp văn on 2011/02/18 at 01:52

BBT: Chúng tôi cài lại bài này vào trang nhất góp phần vào các ý kiến về “trí thức”, phản biện, và “đối lập trung thành” liên quan đến các bài báo, phỏng vấn nhà văn Phạm Thị Hoài, Võ Thị Hảo, GS Chu Hảo, Ngô Bảo Châu, Nguyễn Minh Thuyết …

VietSoul:21

“Kiến thức và sự thật chỉ là một chiều, tùy theo bối cảnh, chủ quan, nhuốm đuộm quyền lực, và liên quan đến người trong cuộc. Sự từ chối các giá trị, những thành kiến, và chính trị là không thực tế và chả ai muốn.”

(Hesse-Biber, 2012, p. 9)

Truth_Václav Havel_E&V

Hổm rày đọc báo mạng thấy nhiều “phản biện” và “phản-phản biện” đến một vài bài viết. Sôi nổi hơn hết là những (phản) phản biện với hai bài viết tựa đề “Vì sao chưa thể có một biến cố như Tunisia ở Việt nam” và “Không th b cong s tht đ t ru ng mình và bn đc[i]. Chúng tôi đã góp ý chung cho hai bài viết này tại trang đăng bài. Thế nhưng vì muốn được “nhân dân”[ii] ủng hộ nên xin góp thêm một vài ý nữa.

Những điều mà chúng tôi đóng góp thêm sau đây thuộc về bn cht và tác dng ca s lm dng phn bin cũng như mối liên hệ đến hoang tưởng sở hữu sự thật. Ngoài ra bài này biểu lộ sự hoài nghi của chúng tôi về tính toàn bích của “phản biện” (tìm cái tối ưu và thuyết phục, minh bạch, và duy lý) được đưa ra trong bài viết “Phản biện[iii] gần đây. Chúng tôi muốn giải mã những lý luận, không nhắm vào “người đưa tin” (shooting the messenger). Mong rằng cũng nhận được sự phản biện về bài viết này nằm trong tinh thần lắng nghe và xây dựng.

Theo chúng tôi thì phản biện mà không tham gia chính trị là lối diễn luận “hơi bị quen” của nhiều thành phần thuộc vào các khối bất vụ lợi, xã hội dân sự, và trí thức trong và ngoài nước. Đây là một hiện tượng chung của hằng hà sa số trong đó đầy đủ các biện luận bào chữa và gián tiếp giúp thể chế đang vận hành tiếp tục củng cố và đứng vững.

Thành phần tự cho mình đứng trong vị trí này thường có đánh giá thiên lệch trong tự mãn và dễ dẫn đến sai lầm, nhất là những lúc khư khư quả quyết rằng “chính trị” chuyên mang nghĩa tiêu cực và thủ đoạn. Đó là sự nhập nhằng đánh đồng giữa tư cách chính trị, vị thế chính trị, quan điểm chính trị, và hành xử chính trị đối với chấp chính (các đảng phái chính trị tranh giành quyền chấp chính).

Những ai tự xưng mình chỉ “phản biện mà không tham gia chính trị” thường là lẩn quẩn lòng vòng với ngụy biện mặc dù có lẽ biết bất cứ bước nào mình chọn đi, hay chỗ nào mình chọn tới, cũng hàm chứa ý nghĩa chính trị. Dù kiểu chính trị tối thiểu chỉ dừng lại nơi chốn có lợi và vô hại cho cá nhân mình mà thôi.

Quan điểm “không tham gia chính trị” thật ra là một thói quen “khoanh vùng” (mặc áo giáp, đặt hàng rào chống B40) của những người dân sống ở các chế độ độc tài áp bức, hay ứng xử cố hữu của các sắc dân thiểu số trong những xã hội mang danh “dân chủ tự do kiểu Tây” (Western Liberal Democracy). Đó âu cũng là một vị trí bảo thủ nhằm mua được sự an toàn tránh bị “điểm mặt”. Thế nhưng việc họ có thể trốn/tránh được bạo quyền đàn áp hay không thì là một chuyện khác. Hay là rốt cuộc họ cũng bị đì ì xèo bởi các “đầy tớ” quan thầy.

Hơn 30 năm sống hải ngoại chúng tôi chưa thấy có công dân xứ sở tự do (Hoa-kỳ đây chẳng hạn) nào phải mào đầu tự “khoanh vùng” khi ứng xử hay đối thoại về chính sách và chính quyền. Đôi lúc họ tránh né tranh luận chính trị vì bất đồng chính kiến chứ không cần phải bảo kê cho mình bằng cách tuyên xưng vị thế “phi chính trị”. Riêng người Việt hải ngoại thì cũng không ít kẻ nhóm vẫn còn la chai bải “không tham gia chính trị” vì ám ảnh nặng nề của tâm thức nô lệ hậu-thực-dân.

Chúng tôi tin rằng đa số những người Ai-cập xuống đường trong hơn ba tuần không phải là những người có ý nghĩ “tham gia chính trị” hoặc đi làm “cách mạng”. Họ chỉ ứng xử một cách tự nhiên như “con giun xéo mãi cũng quằn” với tư cách công dân để đòi hỏi quyền làm người của họ mà thôi. Sau khi vượt qua nỗi sợ họ từ chối “khoanh vùng” cho mình là thuộc giai cấp công nhân, nông dân, hay trí thức gì gì ráo. Họ xuống đường với tư cách là công dân và những hành động của họ tự mang một quan điểm chính trị.

Không phải phong trào đấu tranh trên thế giới nào cũng có sự hiện diện của thành phần trí thức chuyên năng nổ trong công tác phản biện. Đa phần họ chỉ là những người thích tập trung tư duy để quan sát, so sánh, và phân tích (dù có ngụy biện hay không) sau khi các cuộc đấu tranh xuống đường đang xảy ra (dù thắng hay bại) hay đã chuyển sang chợ chiều để đi vào hoàng hôn tắt ngấm.  Nếu có tham gia vào công việc đấu tranh thì họ chỉ thực hiện vào giai đoạn cuối khi mọi chuyện sắp đến hồi kết cuộc—máu đã đổ và mồ hôi nước mắt đã cạn. Vì không có quyền lực nào tự bằng lòng cho sang nhượng mà chỉ phải tranh lấy mà thôi.

Cổ xúy, tham gia, và thực hiện phong trào đấu tranh dân chủ trong cảnh tỉnh bất bạo động là một việc nan giải đòi hỏi đám đông thắng được sự sợ hãi.  Và cuộc nổi dậy phát khởi nào mà không bị dập tắt thì không thể thiếu làn sóng kích thích phát xuất từ một nhân tố hay sự kiện chấn động lòng người. Tuy nhiên, đấu tranh xuống đường không phải là không thể xảy ra, nhất là khi có “nhân hoà” trong tinh thần tự phát đồng điệu, hoà hợp với “thiên thời” và “địa lợi”.

Khi đấu tranh nổi dậy xuất hiện thì nó đến bất ngờ như vũ bão.  Không một nhà bình luận, phân tích chính trị nào đoán trước nỗi. Tiếc thay đa số họ (nhất là các nhà quan sát Tây Phương) lại châm bẩm vào tính chất máy móc của cuộc cách mạng để chất vấn “Tại sao nó lại xảy ra vào lúc này?” và “Chuyện gì sẽ xảy ra kế tiếp?” nên thường lạc điệu, lỗi nhịp với thời điểm và ý nghĩa lịch sử quan trọng của cuộc cách mạng nổi dậy đó.[iv]

Tranh đấu cho công bằng xã hội của hết thảy chứ không chỉ riêng mình là việc nhiêu khê—lợi ít hại nhiều cho bản thân. Ông bà ta chẳng từng có câu “ăn cơm nhà vác ngà voi” đấy sao! Công việc tích cực góp sỏi, lót đường, xông xáo không ngại gian nan trong khi đòi hỏi tự do nhân phẩm và quyền làm người thì lúc khởi đầu khó có sự hiện diện của những ai thụ động và câu nệ xốc vác. Nói trong hùng biện thì dễ nhưng tay lấm chân bùn thì khó.

Tác giả Việt Hoàng cũng đã khẳng định như thế trong một bài viết về sự thờ ơ né tránh tham gia phong trào đấu tranh đòi dân chủ của các đại gia, trọc phú, và doanh nhân Việt Nam. Tác giả đã nói tiếp,

Tôi cho rằng không phải dân trí người Việt Nam kém mà ý thc ca tng lp trí thc Vit Nam kém. Nếu không kém thì trí thc Vit Nam đã làm được việc “khai dân trí, chấn dân khí” cho mọi người Việt Nam. Trước tình hình đất nước như hiện nay thì trí thc phi xem vic dn thân chính tr như là mệnh lệnh của lòng yêu nước và trí thức phải nhận lãnh trách nhim dn dt người dân và lãnh đạo đất nước.”[v]

Hiện tượng thờ ơ né tránh tham gia phong trào đấu tranh đòi dân chủ này liên hệ đến một điều quan trọng hơn nữa: “Tư duy phản biện có thể phân biệt, nhưng không thể tách rời khỏi cảm quan.” Không ai có thể quả quyết là mình nắm chắc hay biết được “sự thật”. Mọi quan điểm của cá nhân hay đoàn thể  đều xây dựng diễn giải từ quá trình học hỏi cũng như tích lũy kinh nghiệm sống riêng nhưng tất đều ảnh hưởng xã hội. Bất cứ quan điểm nào mà cá nhân hay đoàn thể đưa ra cũng không thoát khỏi giới hạn trong tầm nhìn được kết lũy từ quá trình diễn giải tương đối đó.

Václav Havel cũng đã từng trao đổi suy nghĩ của ông về sự thật với một phóng viên Tiệp lưu vong Karel Hvížd̕ala và đã được ghi lại trong quyển sách mang tựa đề “Quấy rầy hòa bình” (“Disturbing the Peace: A Conversation with Karel Huizdala“). Ông nói sự thật “không chỉ là chuyện của bạn nghĩ nó nghĩa là gì, nó còn được nói ra sao trong bối cảnh nào, nói với ai, tại sao, và được nói như thế nào.” (1990, trang 67). Rất nhiều bình luận (loạn) gia (pundits) đều cho mình sở hữu “sự thật” nhưng thật sự mọi người/đám đông thầm lặng chỉ mong muốn họ có và tỏ lộ được chút lòng chân thật. Những chuyện “lộng giả thành chân” vẫn nhan nhãn ấy thôi.

Phản biện hạn chế vì liên hệ đến địa lý tính, nhãn quan xã hội và hệ tư tưởng ăn sâu trong văn hóa.  Sản sinh của phản biện thì tùy theo lăng kính phụ thuộc cường độ chủ quan của lịch sử chính thống—loại lịch sử thường xóa sổ và cướp mất tiếng nói của những ai bị cho ra rìa, không có, hoặc mất vị trí trong xã hội. Đây là loại lịch sử đã gạn lọc và chỉ ghi chép các dữ kiện thuận lợi cho thành phần đương kim sau khi cướp quyền lực từ đấu tranh quần chúng.

Trong bối cảnh như thế thì đa phần các vị học giả trí thức chọn làm người “ngoài cuộc” mà vẫn “ăn theo”. Ăn theo đây không hẳn là trực tiếp hưởng được bổng lộc của cơ chế chính thống mà là lợi gián tiếp vì “bình chân như vại” ở đặc quyền (privileges) thuộc về chuyên gia. Chuyên gia thì bao giờ cũng được sử dụng và ưu đãi bởi người cầm quyền (phe tả, phe hữu) vì ta nằm trong phe nghiêng ngã.

Hơn thế nữa, chuyên gia xử dụng kiến thức và đặc quyền để dẫn đặt cái ảo tưởng huyễn hoặc là mình có “sự thật” định hướng suy nghĩ của đám đông quần chúng, và bất cứ lúc nào cũng sẵn sàng nói hộ giùm cho (phó) thường dân. Dĩ nhiên, chuyện mặt bên kia của đồng tiền cũng rất quan trọng:  ai được chọn cho phát biểu phản biện. Sự lựa chọn thiên vị đó không nằm ngoài sức mạnh của đồng tiền và quyền lực của một hệ thống nhập nhằng giữa nhà nước, cơ quan truyền thông, các cơ quan cung cấp ngân quỹ (còn gọi là “Sáng viện” hay “sáng hội” tức foundation), và giới chủ nhân ông.[vi]

Ông Thomas L. Friedman/một nhà bình luận cho tờ báo NY Times—người từng bị lên án nhiều lần khi ủng hộ chiến tranh Iraq và thiên vị Israel trong khi có nhiều lời lẽ miệt thị các dân tộc Ả rập cũng như từng bị chỉ trích bởi những người hàn lâm cánh tả và phe chống tự do thương mại toàn cầu hóa tại Hoa Kỳ—thì vừa rồi cũng đã khéo gác phản xạ lý trí chuyên gia của mình sang một bên để tường thuật lại cuộc cách mạng nhân dân Ai-cập như sau:

Khi do lòng vòng [ti quãng trường] ai cũng nghe thy toàn là những hy vọng bị đè nén, những khát vng và thất vọng suốt 50 năm qua của người dân Ai Cập. Tôi biết các nhà chuyên gia “thc tế” đang cho rng tt c không chóng thì chy s b dp b. Có th chúng sẽ bị dẹp tan. Nhưng trong những khoảnh khắc tỏa sáng ngắn ngủi này thì xin hãy quên đi các v chuyên gia và ch cn lng nghe thôi. Bạn chưa từng nghe được như thế này trước đây đâu. Đó là âm thanh của người dân tng đã quá lâu bị cướp đi và rt cuc đã tìm li được, đằng hắng thử âm ging và hân hoan ct lên tiếng nói mình.”[vii]

Đó là chưa nói đến hai lăng kính khác. Theo thuyết nữ quyền (feminism) (gọi chính xác hơn là nam nữ bình quyền) thì phản biện nặng tính chất “đực rựa” do đó không tạo được hợp quần đoàn kết. Cứ tham gia chơi trò đá gà, đá cá (lăn dưa), hay đấm (đá) bốc Muay Thái thì biết. Ngoài ra, phản biện xuất phát từ “kỹ nghệ triết lý” từ thời Socrates rất xa xưa của nền văn minh Tây phương nên luôn luôn trọng lý thiếu tình, và đã gạt bỏ hẳn cảm tính cho vị tha bao dung.

Giới hàn lâm phương Tây từng bị nghẹn họng vì lậm duy lý và loay hoay chưa cách nào thoát nỗi cái cạm bẫy đầy trắc trở của diễn luận “sự chọn lựa hợp lý” (rational choice discourse), nhất là sau khi Descartes đã kiên định sự hiện hữu của ông ta là nhờ “biết dùng cái đầu” (từ ngữ trong bài viết “Vì sao chưa thể có một biến cố như Tunisia ở Việt nam”; còn nguyên văn của Descartes là “I think therefore I am”). Nói như thế không có nghĩa là chúng tôi phủ nhận cái lý luận/phản biện nhưng cần vạch ra tình/lý của mọi sự việc.

Diễn luận không giúp ích gì được cho cuộc đấu tranh giải phóng giúp bản thân ta và người khác khỏi nạn “nội thực dân[viii] trong các xã hội ngổn ngang những bất công và đau khổ.  Sự chọn lựa (mê sảng) duy lý này làm thui chột tâm hồn và nhân cách khi ta buộc chạm trán với tương quan giữa người và người (I- and-thou).[ix] Một sự chọn lựa duy lý trong vô thức nhưng tạo tràn đầy phản xạ thèm thuồng ghen tị của đám đông làm ta quên tình tha nhân và gạt bỏ lòng bồ tát, do đó dẫn đến việc coi thường chuyện con người cần vượt qua bản ngã và cái tôi.

Thứ ba, phản biện không tạo được đối thoại. Cứu cánh cho phản biện là phải tiếp tục sản xuất kiến thức theo đơn đặt hàng (ví dụ mong số lượng người nghe và đọc tăng cao) và trọng vị cá nhân hóa. Rất nhiều khi phản biện chuyên chở thành kiến chỉ trích, hay mang khinh ghét, và tạo phê phán nhục mạ (do vô thức hay có chủ ý) trong lúc đề cập đến và đánh giá các lập trường của các nhân vật hay lực lượng đối kháng nhau.

Thói (chứng) phản biện mang nặng tính giả thuyết (và nhiều khi thiếu bối cảnh quan) nhưng đội lốt hành xử khéo léo trong chủ quan kiêu hãnh rằng lập luận của mình thì là phải đúng.  Phản biện do đó tiềm ẩn gốc rễ bạo động vì nó dập tắt tương quan đối thoại.  Dĩ nhiên không có tương quan đối thoại thì không thể nào cổ động hô hào cho “hòa hợp hòa giải” hầu chuyển hóa tình cảnh mâu thuẫn bế tắc.

Chúng tôi ghi nhận nhiều viễn quan về đoàn kết và xây dựng trong các bài viết nhưng không may do tính duy lý trong phản biện đã gây phản tác dụng và đưa đến kết cuộc là chỉ sinh ra hàng loạt dây chuyền (phản) phản biện.

Phản biện tự nó không chỉ dừng ở trò chơi cá cuộc của hùng biện diễn luận và những cuộc bút chiến.

Nó còn là biển mê hoặc làm chúng ta chìm đắm nhanh chóng vào sóng đời tranh nhau vài mảnh bánh vụn vơi rãi dưới đất. Từ đó quên bén đi ai đang tỉnh bơ thuổng cả chiếc bánh trên bàn vào túi của họ. Không cần là chuyên gia thì ai cũng biết chuyện gì sẽ tiếp diễn xảy ra khi kẻ “cướp ngày” tiếp tục ung dung nắm giữ quyền lực một cách dễ dàng vì đã thuổng trọn chiếc bánh rồi mà.

© 2011 Vietsoul:21


[ii] Nhân dân, Nguyễn Hưng Quốc, VOA, 14/2/2011

[iii] Phản biện, Nguyễn Hưng Quốc, VOA, 11/12/2010

[v] Doanh nhân và dân chủ, Việt Hoàng, Thông Luận (số 255), 02/2011

[vi] Chứng quên tập thể, VietSoul21, 13/08/2010

[vii] Speakers’ Corner on the Nile, Thomas L. Friedman, NY Times, 7/2/2011

[ix] I-and-Thou, Martin Buber


Phó thường dân (6): Bình vôi – Bái vật – Bà đồng

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2011/02/03 at 14:39

Vietsoul:21

[tiếp theo kỳ trước: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi]

Thời gian trôi qua hơn 35 năm tôi mới dám nghĩ lại đến phận đời phó thường dân của mình. Chuyện cũ, chuyện mới, chuyện ngắn, chuyện dài, chuyện bên ni, bên nớ.

Bình vôi

Bình vôi

Đầu năm mới phó thường dân tôi rảnh rỗi chẳng có việc gì làm nên bắt chước các nhà văn nho xưa tập tành khai bút đầu xuân. Tết nhất nên trong đầu phó thường dân tôi chỉ đặc kín bánh chưng, bánh tét, dưa món, củ kiệu, thịt đông, dưa hành, chè kho, và những món mứt. Thảo nào ngồi mạy mọ mãi chẳng ra chữ nào!

Không rặn ra một chữ nên phó thường dân tôi bỏ giấy bút sang một bên, ngồi gác chân rồi bò càng đọc sách mong chờ sẽ tìm ra nguồn cảm hứng. Ngờ đâu khi đi tìm những bài viết, truyện kể về mùa xuân thì gặp được một tài liệu khá thú vị.

Cũng vào muà xuân năm ấy, cách đây tròn 55 năm, một số nhà văn và trí thức Bắc Hà quần tụ với nhau và cho ra đời hai đặc san có tên là Nhân Văn – Giai Phẩm. Chắc hẳn ai đã sống lớn lên vào thời đó hay tìm tòi nghiên cứu thì vẫn nhớ hoặc nghe bàn về chuyện sóng gió sau khi hai đặc san ấy chào đời. Cuộc bể dâu đã giáng xuống nhiều người – không chỉ những người thai nghén, trực tiếp tham gia xuất bản mà cả những ai gián tiếp và không ít người chẳng liên quan gì đến hai tác phẩm này. Năm ấy, năm Bính Thân, là năm con khỉ nên sau đó rất nhiều chuyện khỉ xảy ra.

Giai Phẩm Mùa Xuân được ấn hành nhân dịp Tết nguyên đán năm Bính Thân 1956. Những số tiếp theo sau đó là Giai Phẩm Mùa Thu 1-2-3, và Giai Phẩm Mùa Đông. Bên cạnh tác phẩm (bài thơ) “Nhất định thắng” nổi bật “có vấn đề” nhất của Trần Dần là bài thơ Bình Vôi ngắn gọn súc tích của nhà thơ Lê Đạt.

Bài thơ “Nhất định thắng” được truyền miệng, rỉ tai vào tận cả các vùng hẻo lánh miền Trung. Thập niên trước 75 thì phó thường dân “Bắc di cư” chúng tôi đang học trung học phổ  thông cũng đã được nghe được những câu thơ ấn tượng: “Tôi bước đi, không thấy phố, không thấy nhà.Chỉ thấy mưa sa, trên màu cờ đỏ.”

Chỉ đến mãi sau này khi thời đại “mạng” rộng mở, nhất là khi diễn đàn talawas đăng loạt bài khảo cứu chuyên đề Nhân Văn – Giai Phẩm, thì phó thường dân chúng tôi mới biết đến bài thơ Bình Vôi:

“Những kiếp người sống lâu trăm tuổi
Y như một cái bình vôi
Càng sống càng tồi
Càng sống càng bé lại.”

Nhà thơ Lê Đạt đã dùng hình tượng bình vôi như một ẩn dụ. Ông ám chỉ và phê phán tệ nạn sùng bái cá nhân lãnh tụ. Tệ nạn này tương tự với với hiện tượng văn hóa thờ ông bình vôi ở miền Bắc và miền Trung.

Theo tục này, những bình vôi hoặc lâu cũ, hoặc mẻ vỡ không còn dùng được nữa thì được đem ra đặt ở gốc cây cổ thụ, cây đa để thờ. Riêng phó thường dân tôi cũng chưa từng thấy hoặc nghe ai trực tiếp bình về tục thờ ông bình vôi này dù định cư ở miền Trung. Bây giờ không biết tập tục này còn hay mất nữa?

Chủ nghĩa cộng sản cũng giống như cái bình vôi thôi. Sau một thời gian dài hơn bẩy thập niên đem ứng dụng ở thành trì cách mạng Liên Bang Sô Viết và hơn 40 năm áp đặt ở Đông Âu, thì người ta đã thất vọng khi nghiệm được rằng nó không khác gì hơn là một chủ nghĩa không tưởng, vô nhân.

Vậy là những người dân sống trong các nước cộng sản Liên Sô và Đông Âu cuối cùng cũng không sống nổi với chủ nghĩa cộng sản. Họ quyết định làm cuộc cách mạng phá vỡ độc tài chuyên chính để xây dựng đất nước tự do, dân chủ. Họ đã tự vạch ra và lên án những tội ác của CS cho mọi người trên thế giới để tránh khỏi hậu họa về sau.

Thế nhưng ở nước Việt Nam ta thì lại khác. Cái bình vôi “thời kỳ quá độ chủ nghĩa xã hội” tiến lên “thiên đường cộng sản” đã bị đa số mọi người vất bỏ vào thùng rác của lịch sử thì lại được đảng CSVN trịnh trọng đem ra gốc cây đa của đảng và lập bàn thờ tổ quốc để vái thờ. Đây là một hành động cực kỳ phản động: hoàn toàn đi ngược với cao trào tiến bộ của nhân loại, làm kỳ đà cản mũi cản trở tiến trình phát triển xã hội của đất nước VN, và tự tách biệt mình ra khỏi cộng đồng thế giới. Đó là tội lỗi mà không tiền nhân và hậu thế nào có thể tha thứ được.

Phó thường dân tôi cảm thấy ngại ngùng khi sử dụng từ “nô lệ”, “ăn mày” để gán cho tập đoàn tội phạm Bộ Chính Trị, Trung Ương Đảng CSVN. Bởi lẽ sự có mặt người nô lệ và ăn mày thì chủ yếu là do ngoại cảnh của áp bức và bất công xã hội bắt buộc họ phải kẹt nằm ở vị thế đó. Còn tập đoàn này thì hồ hởi tự nguyện làm nô lệ và ăn mày. Nô lệ cho chủ thuyết ngoại lai và ăn mày với dĩ vãng “bách chiến bách thắng” (ăn cắp) từ những mồ hôi nước mắt hy sinh xương máu của toàn dân và dân tộc.

Chủ nghĩa Cộng sản là bình vôi quá cũ, mẻ vỡ lại được tôn thờ để mụ mị thiên hạ. Đảng CSVN là kẻ lừa đảo đánh tráo “dân tộc” với “xã hội chủ nghĩa”. Không gì hùng hồn hơn để lột trần sự lừa đảo trắng trợn đó bằng lời tuyên cáo của Luật sư Cù Huy Hà Vũ qua các phương tiện thông tin đại chúng khẳng định “ … người Việt Nam chỉ có một Tổ Quốc là Việt Nam. Chủ nghĩa xã hội không phải là Tổ Quốc của người Việt Nam.”[1]

Bái vật

Bình vôi là một bái vật được thờ cúng bởi tập tục người Việt Nam xưa. Cây đa với tàn lá xum xuê, với rễ to lớn che mát ban ngày và âm u ban đêm nên tạo ấn tượng huyền bí, uy nghi. Vì lẽ đó dễ làm con người, nhất là những ai yếu bóng vía, trở nên sợ và phải cúng thờ để được thần thánh bảo vệ cũng như tránh bị quở phạt. Ngoài bình vôi còn vô số các hình tượng và vật dụng khác được thờ cúng sử dụng làm bái vật. Tựu chung thì người ta cảm nhận cái “thiêng” trong bái vật đó.

Đảng CSVN đã cổ súy chủ thuyết vô thần, đả phá các tập tục truyền thống, đập phá đền, chùa, nhà thờ và hủy hoại các di tích lịch sử nào chúng đánh giá là không phục vụ cho chủ nghĩa cộng sản của họ. Thay vào đó họ sử dụng hình tượng búa liềm và đặt để các ông Mác, Nin, Hồ làm bái vật rồi bắt buộc toàn dân phải (tôn) thờ.

Cả mấy thế hệ đã bị tẩy não, nhồi sọ, ép buộc trong sợ hãi để tôn thờ những bái vật đó. Ở đâu cũng có những bái vật đó được trưng bày trịnh trọng. Rất nhiều nơi trong và ngoài nước hình tượng Hồ phải ngang hàng với bàn thờ Phật và Tổ Tiên. Từ nhà trẻ, nhà trường, công sở, đầu đường, xó chợ nào cũng có những bái vật này. Thêm vào đó các loa phường, các làn sóng (kênh) truyền hình hàng ngày ra rả ngợi ca xướng tụng tôn vinh các bái vật đó.

Sang đến thời kinh tế thị trường mở cửa hiện nay thì Đảng CSVN vẫn tiếp tục thòng cái đuôi “xã hội chủ nghĩa” sử dụng bái vật lở loét biến dạng này làm bùa hộ mạng. Dù không còn có một người dân nào tin hoặc hiểu nổi cái “quá độ chủ nghĩa xã hội” này là cái quái gì nhưng Đảng CSVN cứ bất chấp và ép buộc.

Ở Việt Nam, không một trường nào sản xuất nhiều “tiến sĩ” bằng trường Chính trị đảng Nguyễn Ái Quốc. Những ai học tốt nghiệp thầy mo cho bái vật này thì được phong vị “Tiến sĩ Chính trị học”, kiểu chương trình “Bồi dưỡng Lý luận Mác – Lê Nin” hoặc “Xây dựng Đảng” theo hệ “tại chức”.

Nói thế nhưng thật ra cái bình vôi “Chủ Nghĩa Xã Hội” là một bái vật giả. Bái vật thực sự được tôn thờ hiện nay là đồng Đô-la. Tư bản đỏ của (tập đoàn) Đảng (mafia) CSVN bề ngoài thì tôn thờ cái bình vôi CNXH nhưng bên trong thì bọn chúng lại suy tôn và vơ vét bái vật mới tích trữ cho bản thân, gia đình và đồng bọn. Ai còn lạ gì vô số chuyện “con ông cháu cha”, “con cháu các cụ” sử dụng bái vật này để ăn chơi trác táng, phung phí như thế nào.

Đem một bái vật để thờ trong phạm vi cá nhân thì không gì đáng ngại lắm. Khi bái vật đó được dùng để mê hoặc hay rủ rê thuyết phục người khác tham gia thì đã có vấn đề. Đáng ngại nhất là khi nào toàn bộ tập thể dân chúng bị ép buộc và tẩy não để tôn thờ một bái vật. Đấy trở thành một quốc nạn.

Bà đồng

Ngày xưa mẹ tôi có dắt phó thường dân tôi đi xem một buổi lên đồng. Khi đến đền thì tôi thấy rất đông người, chật như nêm với khối đứa trẻ con. Tôi nghe chiêng trống, thấy áo mũ, mâm quả mọi người chộn rộn, chờ bà lên đồng. Đám trẻ con chúng tôi thì nào biết chuyện linh thiêng, thần thánh. Chỉ thấp thỏm chờ đợi cho xong để được phát lộc có oản, có bánh ăn mà chẳng phải làm gì. Đó là ngày xưa. Bây giờ thì sao nhỉ?

Phong trào “đồng bóng” ở thời cửu vạn, ô sin ngày nay xem ra đang trở thành “mốt” có vẻ rất thịnh hành. Những người muốn đạt được quyền lợi và danh vọng luôn mong được “thần thánh” siêu hình tạo thuận lợi cho mình.

Theo một phóng sự thì “Lao vào thế gii đó, ngoài nhng người làm ăn buôn bán, còn có c nhng người được gi là trí thc, thm chí, có c nhng người đang nm quyn chc b n, ngành kia…” và trong danh sách của một cậu đồng thì “Danh hiu đng đu thuc v mt quan chc ca ngành hàng không tên Đ. Mi ln m ph ch tính khách thôi thì mi người cũng đã được chiếu lc không dưới bc triu/người. Ngoài ra còn tin bi dưỡng cho thy đng và đoàn hát văn.”[2]

Muốn giữ được quyền chức họ cần có thêm sức lực “cõi âm” phù trợ thêm. Đảng CSVN cầm quyền cũng muốn như thế. Miệng họ tuy lúc nào cũng bô bô “duy vật biện chứng” nhưng lại rất “mê tín” vào bái vật, bà đồng. Một lần phó thường dân tôi tình cờ gặp được Thầy Ba ở miền Trung đã khoe khoang với mảnh bằng khen lộng kiếng và thiệp chúc Tết của chủ tịch nước Trần Đức Lương vì giúp ông này phát tài bằng múa võ lên đồng và xử dụng bùa chú ngãi thiêng.

Trong buổi hầu đồng mở phủ lần thứ XI tại Hà Nội vừa qua, “cô” cu Bộ chính trị (BCT) đã lên cơn, đổi suất hết nhập vong Mác, vong Nin, đến vong Hồ. “” lẩm nhẩm khấn bằng tiếng “mọi” và phán những là “thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” và “hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Còn mọi người tham dự thì xuýt xoa van lạy hầu mong được hưởng (bổng) lộc.

Đối với những tư nhân muốn có được một buổi hầu đồng trang trọng thì thân chủ phải bỏ ra bao nhiêu tiền mua mã, sắm lễ, trang bị quần áo, thuê phường hát văn. Nhưng trong các buổi hầu đồng hoành tráng của Đảng CSVN thì khổ chủ chính là nhân dân Việt Nam. Nếu trong lúc nhảy múa thì đồng cô đồng cậu phát lộc cho khách dự thì tương tự có bao nhiêu (bổng) “lộc” cu đồng BCT đã đem ra chia chác cho những đại biểu tham dự. Nhân dân ta cứ è cổ, còng lưng nộp “thóc” (tiền) cho cu.

Trong mỗi buổi hầu đồng mở phủ thì đoàn hát chầu văn cũng rất quan trọng. Muốn có một buổi nhảy đồng lôi cuốn mê hoặc thì không thể thiếu được đoàn hát văn với đầy đủ nhạc cụ: đàn, sáo, trống, nhị. Theo phóng sự “Tham gia trong buổi hầu đồng này, toàn là những nghệ sỹ chơi nhạc cụ dân tộc xuất sắc của các đoàn nghệ thuật truyền thống có tiếng của Trung ương, và người chỉ huy hát văn cũng là một nghệ nhân mà cách đây mấy năm đã đoạt giải cao trong cuộc thi hát văn toàn quốc. Nghệ nhân này vừa làm người hát vừa là pháp sư tuyên sớ.”[3] Bên cạnh đó thì cũng có thủ nhang, đồng đền, thủ anh, lính chị xun xoe phụ hầu.

Chắc mọi người chưa quên màn xuất sắc trước buổi hầu đồng XI vừa qua. Thủ anh Đinh Thế Huynh—Chủ tịch Hội nhà báo Việt Nam—tuyên sớ ““Ở Việt Nam không có nhu cầu đa nguyên, đa đảng và dứt khoát không đa nguyên đa đảng.”

Chưa dứt, mới đây cái phèng la (Đông La) đồng thau của Hội Nhà Văn một mặt thì bôi nhọ Cù Huy Hà Vũ[4], mặt khác gài khung (framing)[5] để hướng dẫn dư luận trước khi nhà nước truy tố CHHV. Cái phèng la này đon đả tiếp thị lý(hý) luận với trích dẫn lời Tây (đa) để tuyên sớ nhất nhật phủ nhận bầu cử dân chủ trực tiếp và nhu cầu đa đảng:

Tiến trình dân chủ và tự do trong một nước tùy thuộc rất nhiều yếu tố xã hội, không thể nhập cảng từ ngoài vào. Yếu tố chính là trình độ dân trí. Trong cuốn “Bàn Về Tự Do” (On Liberty, 1859), John Stuart Mill có viết: “Giáo dục phổ quát phải đi trước quyền công dân, đặc biệt là quyền bỏ phiếu phổ quát” [Universal teaching must precede universal enfranchise ement (sic recte enfranchisement)], và “Tự do chỉ có thể trở thành hiện thực trong một cộng đồng văn minh [sic]”…

Thiệt tình, anh thủ nhang này vớ được một câu tưởng là đắt giá “ăn tiền” để bảo kê cho luận điểm của mình nhưng anh chỉ biết một mà không biết hơn. Ai đời một câu nói từ đời tám hoánh nào, về một xã hội gần hai thế kỷ trước mà đem nói chuyện thời nay. Sao không trích dẫn luôn câu “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung” (Vua xử tôi chết, tôi không chết là không trung thành) cho nó đủ bộ Đông-Tây kim cổ hài hoà?

Không cần nghe chi kỹ cũng nhận ra tiếng phèng la này là lý luận con trời. Loại lý luận của thực dân, của nhóm phân biệt chủng tộc (người da đen không được đi bầu vì không đủ trí thông minh), của những người phân biệt giới tính (phụ nữ không được đi bầu vì họ chỉ quanh quẩn nội trợ phục vụ cho các ông) để đưa cá nhân mình lên trong cùng lúc loại bỏ quyền phổ quát của những người khác.

Có phải ông Đông La cho rằng nhân dân VN là đám ngu dân, chưa thể thực hiện quyền công dân của mình. Giời ơi là giời! ngu ơi là ngu, đến bao giờ đây hở giời? Hóa ra hơn 65 năm dưới chế độ XHCN thì hệ thống giáo dục “siêu việt” chỉ tạo dựng được những ngu dân hay sao? Nếu vậy thì càng phải lật đổ cái đảng CSVN đã và đang ngu dân hoá và nô lệ hóa đồng bào.

Bọn thực dân Pháp đã từng xem người thuộc địa An Nam là đám ngu dân cần khai hoá để cai trị dân bản xứ. Ông cũng muốn (làm “cai thầu văn hoá nô dịch “) theo đám nội-thực-dân, Đảng CSVN, để tiếp tục cai trị? Hay ông tự nhận mình là ngu dân không đủ “trí tuệ” để được vào trong đám thiểu số “đỉnh cao trí tuệ” tự bầu bán với nhau, ăn chia bổng lộc.

Những bình vôi bể vỡ thì phải vất đi. Các bái vật mê muội cần đem quẳng bỏ. Người dân Việt Nam quyết không nộp “thóc” hầu đồng (Đảng) CS.

Nhân dân Tunisia, Egypt, Jordan đang vượt qua sợ hãi tự vùng lên đòi lại quyền công dân chấm dứt tôn thờ các bình vôi bái vật của chế độ độc tài.

Đã đến lúc xá hầu, chấm dứt chế độ độc tài Cộng Sản trên đất nước Việt Nam.

© 2010 Vietsoul:21

[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi (2) Nôị-thực-dân (3) Sợ (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông (5) Con dân – con cá – cò mồi (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng (7) (Vô) Hậu (8) Gió mưa là chuyện của trời … (9) Vô liêm sỉ – man rợ (10) Phế-anh-hùng (11) Luật Lệ(nh) … (12) Nhà em có nuôi một con két … (13) Cái nhà là nhà của ta … (14) Mèo – thỏ (15) Phố Vẫy (16) Mít tờ Đàm và Bác Hồ (17) Nín thở qua cầu]


Chú thích:

[1] Quan điểm của tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ gửi tới báo chí trong và ngoài nước, Dân luận

[2] Lạc vào thế giới hầu đồng, Việt báo

[3] cùng nguồn 2

[4] Một sự thật khác về Cù Huy Hà Vũ, Đông La

[5] Framing, a term used in media studies, sociology and psychology, refers to the social construction of a social phenomenon by mass media sources or specific political or social movements or organizations. It is an inevitable process of selective influence over the individual’s perception of the meanings attributed to words or phrases. A frame defines the packaging of an element of rhetoric in such a way as to encourage certain interpretations and to discourage others.

Bình vôi-Bái vật-Bà đồng (Nguồn:danlambao)

Các bài liên hệ:

Chứng quên tập thể

Collective Amnesia and Rhetoric of Mobilized Participation

Tôi là người Việt Nam

Chúng tôi (Tự trào – Trí Thức – Tâm Tài)

Những cái nhập nhằng không tên

The Unspoken Ambiguities

Thời cửu vạn, ôsin The Age of Day Laborer and Housemaid

Lết tới “thiên đường

Chúng tôi (Tự trào – Trí Thức – Tâm Tài)

Bịt miệng nạn nhân

Tháng Tư Câm

Phản bội hay trung thành với lý tưởng?

Phó thường dân (5): Con dân – con cá – cò mồi

In Cộng Đồng, Tạp văn, Việt Nam on 2011/01/21 at 10:17

Vietsoul:21

Phó thường dân (5): Con dân – con cá – cò mồi

[tiếp theo kỳ trước: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông]

Thời gian trôi qua hơn 35 năm tôi mới dám nghĩ lại đến phận đời phó thường dân của mình. Chuyện cũ, chuyện mới, chuyện ngắn, chuyện dài, chuyện bên ni, bên nớ.

Con Cá

Năm mới sắp đến bà con cô bác hải ngoại bắt đầu rục rịch chuyện đi về Việt Nam ăn/chơi Tết.  Ai nấy cũng rần rần chạy đầu trước, lục ngõ sau, hơ hớt hốt hụi cho chuyến về cố hương.

Việt kiều chính hiệu con nai vàng hay người rơm, người rừng nếu không về cuối năm thì cũng ráng gởi chút đỉnh cho anh em, họ hàng hưởng Tết. Dễ thường số lượng kiều hối chính thức cộng với kiểu gởi chui cũng đạt gần 10 phần trăm tổng sản lượng quốc gia chứ không phải chơi. Y chang đàn cá hồi Đại tây dương (Atlantic salmon) mà ông Tưởng Năng Tiến đã ví von về người Việt hải ngoại.[1]

Người ta nói con cá nó sống vì nước.  Vậy mà đám phó thường dân sau 1975 thì hết nước sống. Lớp bị bắt đi cải tạo lao động, lớp bị đánh tư bản mại sản bắt đi kinh tế mới. Lớp bắt đi thủy lợi, phải gia nhập thanh niên “xung phong” (không chịu xung phong thì gia đình bị tổ trưởng dân phố công an phường đến thăm hỏi dài dài). Thế nên mạnh ai nấy chạy tìm đường sống.

Ngay cả hiện giờ—trong thời kinh tế thị trường “định hướng xã hội chủ nghĩa”—cả đạo quân thời cửu vạn, ô sin lay lắt tìm nước sống. Không thiếu gì người phải bỏ nước ra đi làm người rơm, người rừng, theo dạng xuất khẩu lao động, thông hành du lịch mại dâm, v.v… cá cược đời tàn cho số mệnh nổi trôi, kiểu Vinashin ra biển lớn!

À mà ta đâu còn chủ quyền biển lớn nào nữa để mà ra? Anh cả nước lớn đã thè cái lưỡi bò dài thòng đớp hết. Tàu thuyền đánh cá nào xớ rớ anh ủi thẳng cho mà chìm xuồng. Ngay cả cỡ “sói biển” Mai Phụng Lưu cũng chào thua, đành chấp nhận bỏ biển, bỏ nghề sinh nhai.[2]

Đám cá hồi này ra biển lớn, trầy vi tróc vẩy, chịu làm mồi hà bá.  Nên có gì đáng ngạc nhiên đâu khi mỗi lần về nguồn là hết xíu quách. Vậy chứ mà xem VTV4 quảng cáo thì khác à nhen.

Việt kiều người nào người nấy cũng bộ kẻng súng sính, phốp pháp, nhởn nhơ, phơi phới. Những hình ảnh bóng mướt này được lồng trong những lời “ân tình” của bài ca con cá (“dù bất cứ ở đâu cũng chung dòng máu lạc hồng luôn luôn hướng về tổ quốc”).  Nghe cái bổn cũ soạn đi soạn lại kêu gọi thống thiết Việt kiều về đóng góp xây dựng quê hương hằng năm một này mà não lòng, rụng rún.

Cò mồi

Năm Mão gần đến cửa rồi nên phó thường dân tôi nhìn lại năm Dần sau lưng để học kinh nghiệm. Lục lọi các tài liệu, và xem lại vài đoạn video trong lưu trữ thì gặp ngay cái cảnh đoạn Youtube tưng bừng “Tết Việt Kiều”[3] kiêm/kèm phóng sự “Đại hội Việt kiều” ở Hà Nội.

Hổng biết họ đào ra đâu được mấy người Vẹt kiều rất là “ấn tượng” để phỏng vấn. Tiêu biểu những khuôn mặt thì đủ mọi thành phần ca sĩ, văn sĩ, giáo sư, thương gia, cựu chính trị gia. Đủ xị. Những mặt sàng lọc này ca tụng hết cỡ cái tâm tình quê hương nghe thấy rơi ống điếu.

Dùng thủ thuật khêu gợi lòng luyến tiếc quá khứ thì chưa đủ thấm lòng những “người con xa xứ”—“Việt kiều là máu của máu, thịt của thịt, một bộ phận không thể tách rời của dân tộc”. Quá phải rồi, bán máu thịt xứ người đem về tiếp máu quê hương. Máu mủ gì. Đẩy người ta ra biển thâu tiền, đuổi người ta lên rừng khai hoang, đày người ta vào trại cải tạo lao tù.

Thêm một nhà văn(g) bên Đức hư cấu “con người không có hộ chiếu là con người vô gia cư”, “dù có tỷ đô cũng không thể mua đươc tiếng bánh chưng sôi lịt sịt bay qua lũy tre làng … có tiếng ríu rít của đám trẻ thơ đang chạy ở cái vườn nhà … hoặc là cái tiếng giết lợn eng éc… hoặc là cái tiếng bò kêu, cái tiếng gà gáy, ở Đức không có”. Mèn đét ơi, anh này văn(g) vẻ mùi còn hơn sáu câu vọng cổ hoài lang.

Ai đời có gã phát biểu, “Đảng ta đâu chỉ có một người nên không phải độc tài, đảng ta có nhiều người nên rất là dân chủ”. Dân chủ kiểu gì?  Kiểu “Đảng lãnh đạo (độc quyền, độc đoán, độc tài), nhà nước quản lý (theo chủ trương-đường lối-nghị quyết của Đảng), dân làm chủ (nhưng để Đảng “no” dùm bằng cách đứng tên sổ đỏ)” thì chính thị kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông rồi!

Rồi lại thêm một anh chàng GS mào đầu, “Chính phủ đã làm nhiều cho cởi mở, cũng như thể chế chính trị bắt đầu có cái hướng chấp nhận sự khác biệt”. Hổng biết chàng này ở bụi nào ra mà nói nghe quải thiệt. Cởi mở cỡ (hồi) nào đây cha?

Mẹ Nấm, cô Quỳnh, chỉ viết vài hàng tổng kết thành tích công an cuối năm, trích dẫn báo lề phải 100%, mà đã được mời lên phường (“uống trà”) nghe lên lớp. Cô Tạ Phong Tần, nhà báo tự do “liên quan” đến Điếu Cày và HS-TS-VN, thì được mời đi “uống trà” đến té đái! Chuyện công dân lên phường này mà không vượt kỷ lục trên toàn thế giới[4] như “chuyện thường ngày ở huyện” thì thôi.

Còn những ai được ưu ái hơn thì xin mời dùng “trà (nhà) đá”. Gần đây nhất là bà Hồ Thị Bích Khương, mục sư Nguyễn Trung Tôn, anh ba Sài Gòn đi nhà đá theo chân Điếu Cày, Cù Huy Hà Vũ, Đoàn Huy Chương, Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và cùng chung số phận với nhiều người đã phản biện với nhà nước trước đây. Đảng CSVN, chính phủ cởi (khóa) mở (nhà tù) tống giam những người đấu tranh dân chủ, nhân quyền, công đoàn, nông đoàn độc lập, tự do tôn giáo thì có. Cởi mở kiểu anh chàng GS này tiếp thị thì vái (dzái) dài thôi.

Trong đám Vẹt kiều này thì đặc biệt nhất là cặp đào/kép Tuyết Mai/Cao Kỳ thiệt là nhập vai. Ngày xưa phó thường dân coi cải lương trên truyền hình mê nhứt là đào Thanh Nga và kép Thanh Sang. Cũng ưa không kém là kép Văn Chung chuyên đóng vai nịnh thần, gian thần, và dâm quan. Các đào kép đóng vai chánh tà rõ ràng nên cảm xúc thương ghét cũng rạch ròi.

Bây giờ xem cặp tài tử Tuyết Mai/Cao Kỳ thì hổng biết họ đóng cái tuồng chi. Văn Chung giờ đã về hưu. Còn Cao Kỳ về vườn từ lâu nhưng ráng đóng vai nịnh thần để lãnh “huy chương vàng” bỏ túi. Chắc chắn trăm phần trăm đạt danh hiệu nghệ sĩ ưu tú chứ không phải giỡn đâu.

Cặp đào/kép Tuyết Mai/Cao Kỳ kể lể đóng góp xây dựng đất nước cái kiểu kiếm cơm à la “thời thượng” không mất li ti sợi tóc nào. Đêm thì hát phòng trà “đem tiếng ca cho đời”, ngày thì hót món phở Mai “quốc hồn quốc tuý” để gầy dựng túi tiền. Hoặc ung dung ngồi sa lông tha thiết gởi lời ủy lạo chiến sĩ ngoài Hoàng Sa/Trường Sa. Thiệt tình hết thuốc chữa.

Mà tưởng kiểu gì! Chứ lối hành trình về với quê hương đem những năm tháng ngày thừa còn sót lại của đời mình để đóng góp như kiểu gánh hát Tuyết Mai/Cao Kỳ thì hết chỗ chê.

Phó thường dân tui thấy đảng và nhà nước nên làm mạnh đi—phải thực thi nghị quyết 36 cho thêm phần hiệu quả hơn. Đảng và nhà nước phải suy tính lập kế hoạch làm sao góp hết đám dân vô sản, phá sản, người rơm, người rừng cho về đóng bộ, nhận vai cò mồi (hay “cai thầu văn hóa nô dịch”) để diễn tuồng cho đỡ đời cơ cực.

Phó thường dân tôi chợt nhớ lại lúc thời đi học xa nhà phải đón xe lam. Ở bến xe nào bao giờ cũng có mấy tay bịp bài ba lá. Mấy tay này luôn có đám cò mồi bảnh bao đứng chung quanh đặt tiền và nhà cái chung tiền cho cò mồi tá lả. Thấy tưởng như thiệt! Đám cò cười hể hả quơ tiền vào túi trong khi luôn miệng thúc người khác cá tiền vào. Nhiều người thấy quá dễ, đặt tiền độ, được cho nhử ăn ván đầu, rồi được đám cò hùa thêm vào, tưởng bở nên hăng máu chơi xả láng. Thế là sạch túi.

Còn nữa. Ngoài đám cò mồi thì lại có thêm giới Vit kiều thời thượng: sáng (cà) phê, phở; trưa sushi, bulgogi, martini; chiều pasta, vodka; tối phòng trà, ta cứ tà tà.

Không phải Việt kiều hồi hương, cũng chẳng là cựu lưu vong (expat). Phải gọi cho đúng tên đúng mặt để chẳng hổ ngươi.

Đây là những nhân vật đã nhập vai đô thị toàn cầu (cosmopolitan) nhuần nhuyễn chỉ dừng chân lãng tử (sojourner) nơi này. Họ tự gắn víu vào thời trang đương đại, va vịn trong văn hoá đa chủng, và sành điệu siêu kỹ nghệ. Họ khoác áo “tân thực dụng” (neo-pragmatism), đóng vai trùm tác nhân cung phụng cho hệ thống tư bản tài chánh xuyên quốc gia, và dĩ nhiên không cần ngâm nga hay gồng mình trong hoạt cảnh khi chọn vai đóng làm nhịp cầu tạo lợi nhuận cho giới thống trị (cả tư bản xanh lẫn tư bản đỏ).

Những đào kép ni chỉ nghĩ cho riêng mình (me, me, me, and me), và mong vơ được tất cả (having a cake and eat it too). “Thu tiền đô, chi tiền đồng”.  Thế nhưng lúc nào cũng sướt mướt đầu môi, rung rung xúc động trước ống kính thu hình để tuyên bố “làm một cái gì cho đất nước”.

Thôi đi má!  Kỹ nghệ phở (bên) Tây thì cạnh tranh không nổi nên đành về vùng đất (thị trường) sơ nguyên ( “Vietnam is still a virgin land!”) để mở Ph Ta hồi 9 giây, 9 phút, 9 giờ ngày 9 tháng 9 năm 2009—mơ “làm thời trang cho sợi bánh phở Việt nam” trở thành “một nét văn hóa thưởng thức thức ăn truyền thống Việt cao cấp”. Thời mở cửa ít xe đạp mà lắm xe máy, nhưng ta về ta đi ô tô (Tadioto) ngao du Ba Vì (Đình) cho bảnh bao nghệ sĩ.[5]

Quanh đi quẩn lại thì vẫn mòn gương mặt cũ, vài phát ngôn(g) viên đại diện (ai cho / cho ai) Việt kiều để mại dô hàng độc.

Con dân

Qua đại hội XI, Đảng CSVN lại “vũ như cẩn”—qua cương lĩnh xây dựng đất nước trong “thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” và “hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Người dân nghe xong mà không tán thán “bótay.com” hay bị tâm thần phân liệt (schizophrenic) thì cũng là chuyện lạ. Cứ như là tay phải tát má trái, và chân trái đá mông phải, nói một đằng làm một nẻo, nửa gà nửa vịt nửa đười ươi. Ai hiểu nổi cái “quá độ chủ nghĩa xã hội” là cái quái gì.

Thiên hạ chỉ thấy công an quá quắt, cán bộ quá quắt, và bộ chính trị trung ương đảng quá quắt.  Đám “đầy tớ nhân dân” tác ai tác quái quá độ này tùy tiện coi trời bằng vung, coi dân là thằng.

Gần đây nhất Đảng đã đánh tiếng là sẽ chủ trương thí điểm kết nạp chủ doanh nghiệp tư nhân. A hèm, vậy chứ khẩu hiệu “công nông” giờ bỏ đi đâu đây? Hay là đổi thành “thương công nông”? Chắc dzậy rồi. Chỉ đáng thương cho người nông dân bị mất đất khiếu kiện từ năm này qua năm nọ không ai giải quyết. Thật đáng tội cho người công nhân lao động bị bóc lột, lương chết đói chẳng một công đoàn nào trợ giúp.

Thiệt ra chủ trương “đảng hóa” doanh thương này là một hình thức hợp thức hoá cho băng đảng CSVN tạo chuỗi rễ trong thương nghiệp tự do để nắm trọn hai đầu doanh nghiệp nhà nước (DNNH) và doanh nghiệp tư nhân. Đảng CSVN trở thành chủ xị lãnh tiền bảo kê và nhà cái ăn tiền xâu. Những doanh nghiệp tư nhân vào Đảng sẽ được bảo vệ. Doanh nghiệp tự do sẽ là đám con ghẻ. Hơn chuyện Tấm Cám là chắc.

Kết quả? Dân ta bị đặt đâu ngồi đó như là con dân. Bộ chính trị, trung ương đảng còn hơn bố của dân.

Ngày xửa, ngày xưa (ít gì cũng xưa hơn thời cha sanh, mẹ đẻ của phó thường dân này) ở thời vua chúa, con trời (thiên tử) trị vì thiên hạ thì ông vua coi dân như con. Còn bây giờ ra rả, oang oang trên loa phường là Việt Nam đang phăng phăng sang “thời kỳ quá độ” mà sao quay lại thời phong kiến hồi nào vậy cà?

Tưởng qua rồi tháng ngày “con vua thì lại làm vua, con sải ở chùa phải quét lá đa”. Sao bây giờ có chuyện sắp xếp sắp xếp trắng trợn cậu ấm Nông Đức Tuấn (con cựu TBT Nông Đức Mạnh), Nguyễn Thanh Nghị (con TT Nguyễn Tấn Dũng) thành ủy viên “ưu tú tài đức”?  Đám thường dân, phó thường dân vậy rồi thì là mà…sẽ khó (khổ) ba (vạn) đời[6]. Làm sao sống với lũ này được!

Người dân đâu phải là con giun, cái kiến để cứ bị dày xéo mãi. Người dân không phải là con dân. Phải trả quyền công dân, quyền làm người cho nhân dân Việt Nam.

Người dân không là con cá, chẳng phải con cò. Họ là những Công Dân.

© 2010 Vietsoul:21

[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu – (8) Gió mưa là chuyện của trời … – (9) Vô liêm sỉ – man rợ – (10) Phế-anh-hùng – (11) Luật Lệ(nh) … – (12) Nhà em có nuôi một con két … – (13) Cái nhà là nhà của ta … – (14) Mèo – thỏ  – (15) phố vẫy …]


CHÚ THÍCH:

[1] Tưởng Năng Tiến – Năm Cọp Nói Chuyện Cá, talawas

[2] Làm gì khi ngư dân bỏ biển?, Bauxite Việt Nam

[3] Tết Việt kiều (1, 2, 3)

[4] Chuyện Hà Sĩ Phu & mấy con đinh vít – Tưởng Năng Tiến, Đàn Chim Việt (danchimviet.info)

[5] “Viet Kieu”, overseas Vietnamese, are moving home

[6] Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời, Dân Làm Báo (danlambaovn.wordpress.com)


Các bài liên h:

Chứng quên tập thểCollective Amnesia and Rhetoric of Mobilized Participation

Tôi là người Việt Nam

Chúng tôi (Tự trào – Trí Thức – Tâm Tài)

Những cái nhập nhằng không tênThe Unspoken Ambiguities

Thời cửu vạn, ôsinThe Age of Day Laborer and Housemaid

Lết tới “thiên đường”

Chúng tôi (Tự trào – Trí Thức – Tâm Tài)

Bịt miệng nạn nhân

Tháng Tư Câm

Phản bội hay trung thành với lý tưởng?