Nhớ (quên)[2] Sài Gòn sau ngày “giải phóng”. Nhớ (quên) phố xưa đường (Công Lý, Tự Do) đã mất tên.[2a] Nhớ (quên) tiếng ca “Nối vòng tay lớn”.[3]
Để rồi những bàn tay người mẹ, người vợ, chị, em gói gắm cho con, cho chồng, cho anh, cho em trai cùng bịn rịn nắm tay tiễn biệt đi tập trung cải tạo lao động khổ sai, đi thanh niên xung phong “xưa cha đào, nay con đắp”[4], đi “nghĩa vụ quân sự” không có ngày về. Ba năm, năm năm, mười năm hay ba mươi tám năm làm người tù xuyên thế kỷ[5].
Để rồi những bàn tay lịch kịch gom góp quần áo, mùng mền, chén bát, vật gia dụng thất thểu lên chiếc xe tải đến vùng đất hoang kinh tế mới. Vài ngày, vài tuần, vài tháng trong căn “nhà” chòi vách trống, tường thưa run trong cơn đói, rét dưới cái lạnh, và không ngừng cầm cập những cơn sốt xuất huyết, sốt rét.
Để rồi những bàn chân lang thang đầu đường, xó chợ, vỉa hè rồi quá ngang căn nhà xưa đổi chủ. Một tháng, một năm, dài thêm mấy độ. Những bàn chân không chốn nương thân phải vượt suối, vượt rừng, vượt biển đại dương, đi tìm tự do, qua cơn ác mộng.
(Chị) Em còn nhớ hay (chị) em đã quên?
Chị hẵn là về “nối vòng tay lớn”, những vòng tay cày nát quê hương[6], những vòng tay xiết cổ đồng bào, những vòng tay cướp đất dân oan[7], những vòng tay giam cầm công lý, những vòng tay bịt miệng tự do[8], những vòng tay triệt tiêu tín ngưỡng[9], những vòng tay con cháu các cụ[10], những vòng tay nối giáo cho tàu[11].
Chị hẵn là về “nối vòng tay lớn”, vẫy mời chào ăn “chùm khế ngọt”, cầu siêu hồn “nạn nhân chiến tranh”[12], bắc nhịp cầu “khúc ruột ngàn dặm”.
Chị đi về nơi này (bên nớ) vẫn thế. Vẫn mỏi mòn tù đày chưa hết, vẫn mong chờ khát vọng tự do, vẫn phổ biến Thực thi Nhân quyền[13], vẫn bước chân đi tìm công lý[14], vẫn lao đao những bước đường cùng[15].
(Chị) Em còn nhớ hay (chị) em đã quên?
Chị đi về trong mùa quốc nạn, chị đi về nghị quyết ba sạo (36), chị đi về quay đầu cáo chết.
Chị đi về sân khấu Mỹ Đình[16], chị đi về hào quang (một thời) đã tắt, chị đi về chân đất bỏ quên.
[4] Sau 30-4-1975 con cái của quân cán chính VNCH bị xem là ngụy quân, ngụy quyền không được vào đại học và bị bắt đi thanh niên xung phong khai hoang, làm thủy lợi.
Mấy chục năm về trước, lúc còn là học sinh phó thường dân tui hay đạp xe qua eo biển ở Quy Nhơn đến trường trung học La San Bình Lợi (sau chuyển cho nhà dòng đổi tên thành trường Vi Nhân). Cái eo biển này còn được gọi là Eo Nín Thở không biết là vì eo vòng rất gắt hay là sát phi trường cuối phi đạo nên máy bay đáp lên, đáp xuống cứ như là ngay ở trên đầu.
Có người nói cái hỗn danh đó là vì khi đi ngang qua đoạn eo biển này bị ngửi mùi rác rưới do người vô trách nhiệm đổ bừa hoặc phóng uế bậy bạ nên phải nín thở. Riêng đám học trò nhứt quỉ, nhì ma này thì cho nó là Eo Nín Thở vì bao thanh niên, thiếu nữ tối tối hẹn nhau đến eo biển này ôm eo xiết chặt, xà nẹo đến nín thở luôn.
Lai Chau’s bridge collapse kills eight, injures over 30 people (Vietnamnet.vn)
Rồi, phó thường dân tui lại lan man, tào lao trớt quớt nữa rồi.
Số là mấy tuần nay phây búc rộ lên chuyện mấy em học sinh và cả cô giáo phải chui vào bao ni lông kín mít, nín thở vượt suối đến trường. Chuyện đó tưởng chừng chỉ rầm rộ lòng vòng lẩn quẩn trong cái xứ Việt Nam nhưng cắc cớ ở cái thời đại inh tờ nét này nó nhạy/nhanh quá nên tin tức vượt đại dương qua hơn nửa vòng trái đất đến cả Hoa-kỳ và Âu-châu trong tíc tắc. Mấy thằng bạn sở làm mắc dịch cười cười, khinh khỉnh cũng đưa cho phó thường dân tui coi và hỏi là mày có biết cái tin này không (Vietnam’s Bridges Are So Bad, Kids Have to Float in Plastic Bags to Get to School). Tui cười hề hề, giả lả nói cái này là độc nhất vô nhị, đương nhiên chỉ có ở Việt Nam (that’s right, only in Vietnam).
Phó thường dân tui mới bèn gúc gồ thử thì chèn đét ơi “nín thở qua cầu” nó hiện lên rầm rầm làm tui phải nín thở bởi đọc hoài hổng hết. Xưa nay tui chỉ nghĩ “nín thở qua cầu” theo nghĩa bóng chứ ai dè cái “hiện thực” (xã hội chủ nghĩa) này làm nó thịnh hành quá hổng biết nữa.
Nào là “nín thở qua cầu miền Trung”, “nín thở qua cầu trên quốc lộ 57”, “nín thở qua cầu Trà Niền”, “nín thở qua cầu cực nguy hiểm ở Nghệ An”, “nín thở qua cầu Ải”, nín thở qua “cầu ‘tử thần’ ở Hà Nội”, “cầu ‘tử thần’ ở Đô Lương”, “cầu ‘tử thần’ treo khắp nơi ở Thái Nguyên”, “Cầu Rồng Đà Nẵng phải CHÍCH xilanh”, “chuyện những chiếc cầu chưa gãy”[1] v.v…
Phó thường dân tui được biết theo kiến thức y khoa rằng thì là những ai bị thiếu ôxi quá lâu thì sẽ bị liệt não. Tui thầm nghĩ chắc nếu phải nín thở qua cầu quá lâu thì dần dà gì cũng bị bại não. Mà chắc là dzậy vì cứ nhìn những thần dân thiên đường cộng sản Bắc Triều Tiên sắp hàng khóc lóc hơn cha chết cho Ỉn[2] thì không bại não thì còn là gì?[3]
Tổng lú nhà ta đã nói con đường tiến đến XHCN còn xa nên Việt Nam chắc chưa đến cỡ đó. Nhưng nào thiếu vô số những triệu chứng tâm thần bại não thể hiện hàng ngày, nhất là trong giới nghị gật, văn nô thường xuyên đã và đang phải nín thở qua cầu.
Phải khôn hơn mọi người một tí để lén thở qua cầu mới dám tự hào “Tôi khá tự do (ở đây) ở Việt Nam. Với tôi thì (tôi biết cách), tôi hơi khôn (hơn một tí) hơn mọi người một tí để tôi biết cách làm sao cho mình có được sự tự do của mình nó trọn vẹn nhất.”[4]
Quan bại não vì “nín thở qua cầu” kiếm ghế nên mới phang “Cầu sập vì người Mông đi rất nhanh … Chưa thể khẳng định do làm ẩu, hoặc thi công không đúng …”[5], bao che đỡ đòn cho cánh hẩu thi công rút ruột, chắp vá để lại quả xây cất biệt thự, tư gia cho “đồng chí” phe ta, cá mè một duộc vì dù gì thì “Trưởng BQL dự án cầu treo Chu Va 6 là con rể Bí thư Tỉnh ủy.”
Chỉ tội nghiệp người dân không khôn ngoan nín thở qua cầu lần chót sau khi đã chết để bị chết chùm cả lũ “sinh mạng bọt bèo”[6]. Đám tang đưa người tắt thở qua cầu, nặng gánh nên tang gia, tang quyến, thân nhân phải thở một chút thì sập (cầu treo bản Chu Va 6 ở Lai Châu).
Chuyện “nín thở qua cầu” thiệt ra đã có từ thời nảo, thời nao chứ có mới mẻ gì mà chộn rộn, có gì mà phải lăng xăng.
Ngay từ lúc búa liềm cướp chính quyền thì nông dân đã được hợp tác xã hóa, nghe kẻng ra đồng im re “nín thở qua cầu” từ “cái đêm hôm ấy … đêm gì?”[7], giới văn nghệ sĩ thì “nín thở qua cầu” theo tiếng phèng la (ban tuyên huấn) lên án cái nhóm nhân văn giai phẩm, giới thương gia thì “nín thở qua cầu” “tự nguyện hiến tặng” tài sản, của cải trong cải cách thương nghiệp. Chính quyền cách mạng ta chí ư là tình nghĩa nên cho một “phát” ân huệ[8], tắt thở, xong đời (chuyện về Bà Cát Hanh Long) để ân nhân không phải lay lắt suốt đời “nín thở qua cầu” làm kẻ bị mất phép thông công[9].
Tưởng chỉ có dân mới phải “nín thở qua cầu” để có thể sống còn trong thiên đường cộng sản. Còn cán bộ đảng và nhà nước thì sao?
Hóa ra cốt cán cũng chia sẻ nỗi trần ai này. Nhưng mà là để giành ăn. Họ cũng trầy vi, tróc vẩy nín thở qua cầu khi phân chia bổng lộc giữ/giành ghế “Giai đoạn trước thềm đại hội này là thời kỳ ‘nín thở qua cầu’. Nghĩa là nói gì cũng phải giữ, phải rào trước, đón sau, có khi có những đề xuất mới hay cả những việc chưa bằng lòng cũng phải nén xuống. Lá phiếu sắp tới mới là điều quan tâm.”
Nhưng chuyện “nín thở qua cầu” đó có lẽ chỉ cho đám tép riu lẻ tẻ phải phấn đấu chứ các thái tử đảng, con ông cháu cha, con cháu các cụ thì đã cài, cắm thì cóc cần đụng tới sợi lông chân.
Ông Tề thiên của đảng đã rứt sợi lông phù phép thở (thổi) một cái là cô hồn các đảng con cháu ai nằm vào chức vị đó. Thổi một cái thì “Con trai thủ tưởng Nguyễn Tấn Dũng được đề bạt làm Phó bí thư tỉnh ủy Kiên Giang”[10], phù một cái thì “Con trai Bí thư Lê Thanh Hải lên chức”[11], phép một bài thì “chuẩn bị vai trò lãnh đạo cho thế hệ thái tử đảng”[12] lên ngôi.
Phó thường dân tui quen quét lá đa nên hổng cần cà ràm làm chi. Dzậy mà phải chịu nín thở qua cầu hoài thì có ngày trở nên tửng tửng rồi gái nó chê nên hổng hạp với nó.
Sau cái ngày 30-4-75, phó thường dân tui nín thở qua cầu được vài năm ngáp ngáp thấy hổng đặng nên bỏ của chạy lấy người. Sang đến nước dân chủ tiến bộ được thở bầu không khí tự do nó thiệt là khỏere. Hổng phải kiểu “khỏe re như con bò kéo xe”[13] mà người tù nhân lương tâm Nguyễn Hữu Cầu mơ ước hoài. Chẳng phải nhìn trên, ngó dưới, dòm trái, liếc phải mỗi một khi nói, khi làm bất cứ chuyện chi.
Ai đời phó thường dân tui đang sống yên lành lại có thằng cha tới ca bài con cá hòa hợp, hòa giải (theo nghị quyết 36). Mỗi lần nghe “khúc ruột nghìn dặm, tình tự quê hương chùm khế ngọt” là rụng rốn. Thằng chả còn dứ dứ cái mẻ “Hàng triệu kiều bào có nguy cơ mất quốc tịch” như thể là món mồi ngon để cáo (sắp) chết quay đầu về cố quận, đầu tư mua nhà dọn sẵn cho chuyện hậu sự.
Má ơi, hồi đó con chạy dắt giò lên cổ vì sợ phải nín thở qua cầu sống trong chế độc tài cộng sản mà giờ này tự nhiên bại não hay sao mà nhận cái hộ chiếu (chế độ) thổ tả đó.
Tui chắc mấy chả tưng tửng rồi nên mới chơi trò khỉ đột như dzậy. Sang đến thế kỷ 21 này, thuyền nhân người Việt vẫn còn vượt biển sang Úc[14], lao động xuất khẩu trốn ở lại nước[15] ngoài hầm bà rằng. Bộ không phải họ bỏ phiếu bằng chân từ bỏ cảnh đời “nín thở qua cầu” ở “chế độ xã hội chủ nghĩa ưu việt” độc tài, độc đảng thối tha ba đời rồi còn gì.
Cả dân tộc Việt Nam đã “nín thở qua cầu” để sống còn dưới chế độ độc tài, độc đảng vô nhân. Nhưng “nín thở qua cầu” hoài thì chịu đời sao thấu. Ai mà hổng thấy sao?
Thiên hạ không ai còn muốn nín thở qua cầu nữa nè. Ai mà không thấy luồng gió dân chủ từ cách mạng hoa nhài, khối 8406, phát súng hoa cải anh em Đoàn Văn Vươn, mạng lưới blogger, văn đoàn độc lập, nhóm vận động về quyền con người, Hội Phụ nữ Nhân quyền, diễn đàn Xã hội dân sự, Liên Đoàn Lao Động Việt Tự Do, Hội Dân oan, Hội Tù nhân lương tâm và các nhóm xã hội dân sự khác cùng với công dân và nông dân đang bùng nổ.[16]
Người dân không thèm nín thở qua cầu nữa. Ai cũng muốn hít thở bầu không khí tự do dân chủ trọng quyền làm người – cái quyền cơ bản đã có từ khi mới lọt lòng. Cả thế giới đã công nhận rồi mà trời. Dù tỏ lộ hay không, mấy ai còn chấp nhận áp bức và cưỡng hại bởi tà quyền đảng trị đâu.
Tui và biết bao người trong và ngoài nước không còn ngờ là chuyện sang giai đoạn sống khỏe re (không) như con bò kéo xe còn xa lắc xa lơ. Nhưng trời có muốn cũng không cản nỗi.
Tất cả cùng nhau quăng xuống sông cái lối sống “nín thở qua cầu”.
và thấy những hình ảnh người nông dân, trong thời đại được tuyên bố là công nghiệp hóa, phải dùng sức mình kéo bừa. Và nhất là, phụ nữ phải thay trâu kéo cày, như thế này :
Đàn ông các anh, nhìn cảnh này có nghĩ gì không, có cảm thấy gì không ?
Các anh nói gì khi đặt hình ảnh này cạnh câu khẩu ngôn được treo khắp mọi vùng miền trên đất nước này : « Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, hạnh phúc » ?
Hay là các anh sẽ chẳng nghĩ gì, chẳng cảm thấy gì, chẳng nói gì hết và chẳng làm gì hết? Chẳng làm gì hết trước việc những người phụ nữ của mình bị bán đi làm nô lệ tình dục cho đàn ông nước ngoài, chẳng làm gì hết trước việc những người phụ nữ của mình phải làm cái công việc vốn là của con trâu (than ôi, dưới thời phong kiến phụ nữ không phải kéo cày), chẳng làm gì hết khi những người phụ nữ của mình bị đẩy ra đường, bị bỏ đói, bị đối xử bất công (trường hợp của Nhã Thuyên, của cô Nguyễn Thị Bình còn đang là thời sự đấy thôi). Đa số các anh chẳng làm gì hết, thế nhưng ngày mồng tám tháng ba vẫn còn có thể thốt ra được những lời chúc mừng mỹ miều cho phụ nữ.
Cũng tương tự như việc đa số các anh im lặng, buông xuôi, trước những dấu hiệu rõ rệt, không thể phủ nhận, về sự lệ thuộc của đất nước này vào Trung Quốc.
Cá nhân tôi, từ những gì nhìn thấy và biết được, tôi cho rằng sở dĩ có tình trạng phụ nữ phải kéo cày như thế này, sở dĩ có sự suy thoái toàn diện của xã hội hiện nay, có sự mất độc lập quốc gia hiện nay là vì đa số đàn ông các anh hèn và quá hèn. Không phải các anh không biết, không phải các anh không thấy. Các anh thấy hết, biết hết, nhưng nhắm mắt làm ngơ, lấy im lặng và nhẫn nhục làm mục đích tồn tại.
Tôi muốn hỏi tất cả đàn ông các anh, những người đàn ông của chúng tôi, câu này :
« Bao giờ các anh sẽ thôi tán phét trong các quán nhậu ? Bao giờ các anh quyết định thôi sống hèn ? »
Nạn đói kém không dứt, nạn đạo tặc cướp của giết người không giảm.
Mùa xuân năm ấy, nhà Sản nghị triều chuẩn bị nhân sự cho vương triều kế tục.
Chúa gọi con trai đầu đang giữ chức phó thượng thư vào phủ. Trưởng nam nhà Chúa tuổi 37 tuổi, tướng mạo béo tốt đẫy đà. Làm quan bấy lâu không có tiếng tốt cũng chẳng có tiếng xấu.
Chúa ra hiệu trưởng nam ngồi bênh cạnh, rồi bảo:
– Con phải về quê nhà mình, mai này cha dưỡng hưu cũng về đó. Đất ấy của nhà mình, các tỉnh xung quanh toàn là tâm phúc. Để con ngoài kinh thành khi cha không còn chức, e bọn miền Bắc chúng bách hại.
Trưởng nam hỏi:
– Thưa cha, ta không có người kế nhiệm cha đáng tin sao?
Chúa thở dài nói:
– Giờ ta có Đàm Cận, nhưng tuổi còn trẻ, chưa vào hàng đại thần nghị chính, không thế đưa lên được. Chuyện đó còn mươi năm nữa. Cũng tại ta khi xưa dùng tổng quản phủ là Xuân Thọ, người miền Trung. Không ngờ hắn thay lòng đổi dạ, nhân lúc Vương Phủ tấn công ta mà nhăm nhe soán đạt ngôi. Sau này ta về lành ít, dữ nhiều. Chúng ta trụ ở đất nhà, đợi thời cơ khởi nghiệp. Khi xưa Chúa Nguyễn cũng từ đó mà làm nên 200 trăm năm nhà Nguyễn. Cơ sự nhà mình mai sau trông cậy vào thằng út, cha để con lộ mình sớm vì tưởng thế của cha còn vững dài, đó cũng là cái thiệt thòi của con.
Trưởng nam thưa:
– Phận làm con, cha mẹ đặt đâu ngồi đấy. Xưa nay cha bảo sao con làm vậy, không hề có ý hối tiếc. Vả lại con thích chuyên môn hơn là làm quan, mệt nhọc lắm cha à. Gia sản nhà mình đâu cần phải kiếm thêm làm gì nữa.
Chúa nghiêm mặt nói:
– Con không muốn kiếm vì cha muốn con giữ tiếng tốt. Nhưng tiền bạc trong thiên hạ là nội lực. Mình không thu về, kẻ khác cũng thu về. Khi kẻ khác có nội lực, nếu không ưa mình thì mình gặp họa. Cha vì phòng xa nên mới phải tận tâm, tận lực nắm mọi nguồn thu trong thiên hạ. Bá tính, quan lại nước Vệ ngày nay chỉ có chữ tiền mới khiến họ theo. Không thể nào bỏ qua chuyện ấy được là vì thế.
Trưởng nam lo lắng:
– Khi cha về, ai là người cha sẽ chỉ định kế vị. Cha có quyền đó mà.
Chúa lắc đầu:
– Nhưng giờ cha chưa biết tìm ai, ngôi vương xưa nay người Bắc nắm, ngôi chúa dành cho người Nam. Trong hàng ngũ tâm phúc của cha chưa biết tìm ai. Có lẽ cha sẽ tiến cử một phụ nữ có dáng vóc xinh đẹp, lấy hình mẫu bên Xiêm để giữ ngôi chúa. Cô ta người Nam, cũng là đại thần nghị chính, lại từng kinh qua giữ chức vụ kinh tế, con nhà dòng dõi công thần. Từng ấy làm cớ thì khó ai bác được. Vẻ ngoài của cô ấy khi bang giao các nước cũng đem lại sức sống mới cho nước Vệ, ý ta muốn quyết vậy. Nhưng e bọn miền Trung bị bọn miền Bắc kích động, ta đang phải ngừa chuyện đó.
Trưởng nam hỏi:
– Vậy ai sẽ làm vương?
Chúa khoát tay nói:
– Chuyện này chưa rõ, còn tùy thuộc Vệ Kính Vương chọn ai. Nhưng dường như Kính Vương chọn Sáng Quyết đại thần nghị chính, tổng trấn kinh thành rồi. Con cứ nhận ấn tín, về cố hương ẩn mình, chờ đợi thế thời thêm lúc nữa.
Trưởng nam vâng lời, xin cáo từ. Về tư gia gọi gia nhân sắp xếp hành lý. Nhận ấn tín từ triều rồi về bản quán nhậm chức.
Nước Vệ vẫn không có thay đổi gì lớn. Người chết vì cái chết không đáng có vẫn chết. Bá tính nợ nần, túng thiếu vẫn nợ nần, túng thiếu. May chăng 20 năm sau thế tử út nhà Chúa trưởng thành, sự thay đổi có thể gọi là.
Dối trá lập đi lập lại nhiều lần sẽ thành (như thiệt) chính trị.
Trong quan sát của tôi về lịch sử cận đại, tôi không thấy các chánh trị gia xứ nào có thể sánh với các quan chức Việt Nam về chỉ số may mắn. Đất nước chúng ta có thể được Guinness liệt kê vào bảng kỷ lục về… ”tình nghĩa”.
Ông cựu Tổng Thống Ukraine vừa phải thoát thân qua Nga và lúng túng không biết giải thích sao về những tài sản mênh mông khắp xứ, kể cả một dinh thự trên 138 hectares đẹp hơn cung điện của những Nga Hoàng ngày xưa. Ông Khadafi thì không kịp giải thích, còn ông Mubarak thì ở trong tù lâu quá, trí nhớ hơi kém.
Trong khi đó, tôi nhớ khoảng mấy năm về trước, vài quan chức Việt nói những tài sản kếch xù các mạng truyền thông tìm ra là do công sức “buôn thúng bán bưng” của các bà vợ hiền. Không những đầy ắp “tình” mà các vị này còn may mắn là có cả kho núi tiền do “tài” của những bậc phu nhân. Vì nghe chuyện này mà một thằng bạn Việt Kiều của tôi bỏ xứ Thuỵ Sĩ lạnh lẽo về Việt Nam đi khắp nước, cặp kè hơn 30 triệu bà cô không chồng. Sau 10 năm vất vả, vẫn không thấy một bà nào đủ “tài” tháo vát như các bà vợ quan chức.
Tôi nhớ có khuyên là nó đã bỏ sót một bộ phận không nhỏ là…đạo quân bán vé số… khắp thành thị làng quê. Nếu nhắm vào số lượng biết vui hưởng hạnh phúc XHCN cực nhọc này, thì chẳng mấy chốc bạn tôi sẽ thành đại gia… tỷ phú đô la, ăn xài cả chục đời không hết.
Ngoài “tình”, vài quan chức gần đây còn tuỳ thuộc vào “nghĩa”. Chỉ cần 1 người em kết nghĩa là một ông có thể xây xong một dinh thự hơn 16 ngàn mét vuông, trị gia vài chục tỷ đồng. Theo đánh giá của xã hội tình nghĩa này, càng làm lớn thì càng may mắn và càng có nhiều người em “kết nghĩa”. Tôi nghe nói một quan Trung Ương phải có ít nhất là chục ngàn người em kết nghĩa; còn ở các quận xã nghèo nơi “đất cày lên sỏi đá” thì tệ lắm cũng kiếm được vài trăm em kết nghĩa. Một người em dư xây một biệt thự, vài trăm em thì lên thiên đàng mấy hồi.
Do đó, ở đâu không biết, nhưng tại Việt Nam, mỗi ngày trên TV đều có những giải đặc biệt để xem quan chức hay đại gia nào có nhiều “tình” nhất hoặc nhiều “nghĩa” nhất. Đúng là thời Nghiêu Thuấn cũng không sánh bằng.
Vì sự tôn trọng “tình nghĩa” bàng bạc khắp lịch sử, một giáo sư tuyên giáo trung ương phải phẫn nộ mà kết tội bọn đế quốc Mỹ là tội ác của họ “trời không dung, đất không tha”. Chứ tình nghĩa như người anh kết nghĩa Trung Quốc thì em Việt Nam phải nghìn đời nhớ ơn, năm nào cũng sẵn sàng đem khoáng sản, mỏ dầu ngoài khơi, đi kiếm tiền bọn tư bản, nhập siêu đem về tặng anh kết nghĩa. Còn chuyện chiến tranh biên giới năm 1978 chỉ là một hiểu lầm nhỏ nhặt trong gia đình.
Cách đây vài tuần tôi ghé ngang Hồng Kông, tình cờ gặp một anh bạn cũ làm cho Bộ Ngoại Giao Mỹ. Sau vài trao đổi về thời tiết và gia đình, tôi hỏi anh về tiến bộ trong đám phán TPP, nhất là với Việt Nam. Anh ta cười,” Sao mày nghiêm túc quá. Hết giờ làm việc rồi, hãy để tao enjoy ly whisky này cho trọn vẹn nghe.” Rồi anh kể chuyện tiếu lâm mà anh nói là có thực, đang được hành lang Bộ Ngoại Giao phổ biến.
Một chính trị gia Mỹ đi công cán ở một quốc gia mới nổi. Cô đơn, ông bắt chuyện và gạ được một phụ nữ địa phương ở quán bar lên phòng mình, sau khi thoả thuận giá cả. Ông hăm hở vào cuộc ngay khi cà hai vừa leo lên giường. Bỗng người phụ nữ la làng,” Bớ làng xóm, coi thằng đế quốc tư bản này đang hiếp tôi nè.” Ông sợ quá, cả thân hình như khô cứng, người chết lặng. Bà ta lại chu chéo,” Tôi la gì kệ tôi, sao ông lại ngừng?”
Ném đá là điều rất mọi rợ, rất đáng ghét, rất bullshit. Đặc biệt là ném đá người giầu. Nó gợi lại một chương rùng rợn trong lịch sử dân tộc. Người nghèo đã được cách mạng giải phóng trước, bây giờ – chậm còn hơn không – cách mạng quay sang giải phóng nốt người giầu. Trước hết là giải phóng họ khỏi những chê bai, ghen ghét, đố kị, cào bằng, dèm pha, soi mói, ngờ vực của người nghèo, những thói xấu dã man của đám bần cố nông phản tiến hóa có thể kéo lùi xã hội trở về thời cộng sản hang động. Điểm đến của chúng ta phải là chỗ khác, một thiên đường cộng sản “ăn theo quyền lực, hưởng theo nhu cầu”. Người giầu cũng có nhu cầu, tối thiểu là nhu cầu ở nhà cao rộng. Họ cũng có nhân quyền và nhân phẩm. Họ cũng phải được bình đẳng trước pháp luật như mọi người. Thậm chí bình đẳng hơn mọi người. Rốt cuộc thì Việt Nam khải hoàn với tỉ phú dollar duy nhất lọt vào danh sách Forbes hay với mấy chục triệu người sống bằng 1 dollar một ngày? Nghèo là hèn, nghèo là nhục. Nghèo là có tội, phải không em?
Vâng, tôi hoàn toàn đồng ý rằng quan lớn ở nhà to không có gì là sai trái. Một đời cống hiến cho nhân dân mà có cái biệt thự hưởng tuổi già ở quê nhà cũng không được nhân dân đồng ý, thế thì cống hiến để làm gì? Một đời phấn đấu cho lí tưởng quét sạch sở hữu tư nhân, chẳng lẽ sự nghiệp ấy không đáng vinh danh bằng chút bất động sản? Ông Trần Văn Truyền xứng đáng ở một biệt thự trên diện tích hơn 16.000 mét vuông. (Nói khẽ, kẻo đánh thức cái chương lịch sử rùng rợn vừa nhắc: Thời ấy trung bình chưa đầy 7.000 mét vuông là đủ để địa chủ bỏ mạng.Con cháu cụ Phan Bội Châu, nhà ba người với ba sào đất – 3 x 360 = 1.080 mét vuông – cũng suýt thành kẻ thù của nhân dân.) Cơ ngơi của ông tổng thanh tra quốc gia về hưu chẳng qua chỉ bằng diện tích của Công viên Lenin ở Hà Nội, tức “rộng rãi hơn chút” so với xung quanh, như ông thanh thản so sánh. Hơi nhỉnh hơn căn nhà 51 mét vuông của đương kim Chủ tịch nước, nhưng chưa chắc ăn đứt nơi cựu Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết về vui thú điền viên và nuôi chim yến lấy thu nhập mỗi tháng hai mươi triệu cho gia đình.
Bạn có thể bẻ rằng cả đời khâu miệng thìlương ông Truyền tích cóp lại may ra mới xây được nửa cái cổng và nửa vòng tường bao quanh khu dinh thự ấy. Vâng, nhưng bạn cũng biết rằng xây nhà ở Việt Nam, người ta đặt tất cả tâm huyết vào cái tường, cái cổng, cái nóc và những thứ lô nhô đập ngay vào mắt. Rất nhiều mái lệch, ở rất nhiều độ cao khác nhau. Mưa móc ở xứ nhiệt đới này rơi mỗi tầng một trọng lượng. Rất nhiều tháp. Rất nhiều cột. Rất nhiều vòm và những thứ lỉnh kỉnh khác. Trông rắc rối hoành tráng thế thôi nhưng bên trong cũng “bình thường chứ chẳng có vấn đề gì“, như ông Truyền cho biết. Chân tường chắc cũng lở loét, dây điện cũng nhằng nhịt, toa lét cũng khai mù, có gì mà xa hoa.
Hơn nữa, sao bạn không đơn giản ghi nhận sự may mắn của những người thành đạt? Nước bao giờ cũng chảy chỗ trũng, bạn không thể lôi ông Truyền ra tòa chỉ vì con trai ông ấy có viễn kiến, biết mua kha khá đất từ thuở bạn còn dồn tiền mua xe máy bãi rác; chỉ vì em nuôi ông ấy hảo tâm hào phóng, trong khi ở những gia đình khác con giết mẹ lấy 2,8 triệu đồng đi chơi game, cậu ruột chích điện mưu sát cả nhà cháu ruột do tranh chấp 200 mét đất, con đòi bán nhà chia tài sản không được bèn giết bố; chỉ vì xung quanh ông ấy biết bao người vô tư xúm lại biến đầm lầy đất hoang thành dinh thự khang trang, trong khi bạn cứ một thân một mình chống chọi với hoàn cảnh… Tạo hóa bất công, tiếc rằng chúng ta vẫn phải chấp nhận luật fairplay với cả những người quá nhiều may mắn. Không, bạn tuyệt đối không nên ném đá.
Còn khi tất cả những sự may mắn đã thi nhau chọn ông Truyền chứ không chọn bạn nhưng vẫn không đủ để giải trình cái dinh thự của ông thì như một nhà báo trong vụ này đã đặt vấn đề, chúng ta có thể cân nhắc áp dụng một công cụ hữu ích: ân xá kinh tế, nhằm “giải phóng các tài sản đang nằm ở đâu đó để khơi lại dòng vốn đầu tư cho nền kinh tế“. Nói cách khác, hợp pháp hóa những tích lũy có thể bất hợp pháp, khơi trong những dòng vốn có thể không sạch, rửa những đồng tiền có thể bẩn. Đen trắng không quan trọng, miễn là đầu tư vào kinh tế quốc gia, và xây “biệt thự gia đình” tất nhiên là kích cầu, là đầu tư, là đóng góp cho đất nước. Đúng quá. Sâu trong những góc tối nhất của lương tâm, ai chẳng có vài cái xác chưa chôn. Bây giờ đem chúng ra ánh sáng, làm một lễ truy điệu tế nhị, rồi “ân xá và công nhận” thủ phạm “thay vì truy tìm và trừng phạt“, thế là xua tan bao nhiêu tử khí độc hại, giải quyết bao nhiêu tồn đọng âm ỉ, mở nắp van cho bao nhiêu áp lực ngầm, chắp cánh cho bao nhiêu lương tâm khỏi bị đè nặng. Quả là một giải pháp kì diệu. Điều gì có lợi cho đất nước hơn: khuyến khích cho phần chìm của tảng băng nổi lên và tan vào những lâu đài, biệt thự hay ủ vàng vào hũ đem chôn? (Nói khẽ, vàng chôn lâu đến đâu cũng không hết đát, trong khi băng tan rồi, đông cứng lại và chìm xuống một lần nữa khó hơn.)
Ảnh 2: Nội thất trong một biệt thự ở Cần Thơ
Tôi đồng ý hết, với điều kiện: không ân xá thẩm mĩ. Tối thiểu ba năm tù cho các kiểu biệt thự cổ điển rởm tân trang. Từ ngoài vào trong: mỗi chiếc mái lệch phạt thêm hai trăm triệu. Mỗi chiếc vòm bốn trăm triệu. Mỗi chiếc tháp năm trăm triệu. Cổng chạm rồng phạt sáu tháng quản thúc, chạm rồng phun nước tăng gấp rưỡi, chạm trống đồng tăng gấp đôi. Mỗi đôi sư tử đá phạt ba tháng lao động công ích, tượng Vệ Nữ sáu tháng, hòn non bộ chín tháng. Mỗi bộ sừng voi một năm tù cho hưởng án treo cộng năm trăm triệu tiền phạt, sừng tê giác phạt thêm năm mươi tỉ đồng.
Mỗi bể cá vàng phạt chín roi vào mông, năm mươi roi cho mỗi bộ bàn ghế gỗ đỏ, một trăm roi cho mỗi nhà sàn Tây Nguyên tái chế, năm trăm roi cho mỗi bức tranh ngựa trên mực Tầu giấy dó, một nghìn roi cho mỗi bức tranh tám con ngựa phi trên biển sơn mài…
Vì sao? Vì tài sản địa chủ có thể biến hóa, nhưng gu phú nông mãi mãi là gu phú nông, dù không cái gu nào trên đời không hợp pháp.
Bạn cũng thấy đấy, lâu đài của cựu Tổng thống Ukraine Yanukovych có thể chuyển về tay nhân dân, nhưng cái gu thẩm mĩ của các nhà độc tài thì không thể thanh lí.
Ảnh 3: Sofa Nàng tiên cá bằng vàng trong lâu đài của Gaddafi
Năm ngoái, tôi được nghe Thượng Tọa Tuệ Sĩ kể lại mộ câu chuyện hơi buồn:
Tại xã Hương Thọ huyện Hương Trà tỉnh Thừa Thiên có một gia đình nghèo khổ sống lênh đênh trên một chiếc đò. Khi cơn lụt ập đến, gia đình này là duy nhất có ghe ở địa phương miền núi này, do đó đã vớt được trên 80 người khỏi cảnh chết chìm. Sau nước rút, thỉnh thoảng có vài phái đoàn đến cứu trợ.
Các gia đình khác đều nhận được cứu trợ. Chỉ trừ gia đình anh. Lý do:không có hộ khẩu, vì lâu nay gia đình này nghèo quá, phải sống “vô gia cư” phiêu bạt trên các sông suối nên không có hộ khẩu thường trú. Dân làng biết ơn anh, xin chính quyền địa phương cấp hộ khẩu cho. Nhưng thiếu điều kiện nhập hộ: gia đình anh không có đủ 400,000 đồng VN để hối lộ...
Thay vì “lênh đênh trên một chiếc đò” (vì không có hộ khẩu) dân Việt có thể lựa chọn một cách sống “vô gia cư” khác: chui (mẹ) vô … rừng. Báo Xã Luận, số ra ngày 15 tháng 2 năm 2014, mới đi tin “Phát Hiện Cô Bé Người Rừng Ở Khánh Hoà. ” Xin ghi lại nguyên văn, không sót một chữ để rộng đường dư luận:
Thị Ni đã được 7 tuổi, (SN 2007, người dân tộc Rắc-lây) nhưng chỉ nhỏ bé như một đứa trẻ lên 5 và mọi sinh hoạt đều gặp hạn chế vì những chứng bệnh bẩm sinh của mình (do quá trình mẹ em mang thai bị Rubela).
Từ ngày sinh ra cho đến tận lúc được sư thầy cùng các phật tử phát hiện giúp đỡ, Ni không biết nói, không thấy đường, cũng chẳng thể nghe và đi lại được, bị hẹp van tim và phổi… Em nằm yên một chỗ giữa cái nền nhà trơ trọi cát đất và chờ sự chăm sóc từ những người thân.
Bi kịch chưa dừng lại ở đó với Ni. Năm em lên 2 tuổi, mẹ em đột ngột qua đời để lại Ni cho người cha nghèo già yếu. 4 năm sau (tháng 11/2013), trải qua một quá trình bệnh nặng không có tiền chữa trị, người cha – người thân duy nhất còn lại của em cũng qua đời vì ung thư gan. Đứa bé dị tật câm – điếc – mù và nhiều chứng bệnh nặng khác chính thức bước vào con đường “người rừng” do không ai chăm sóc.
Khi được một sư thầy đã vô tình phát hiện ra, cô bé “người rừng” Mấu Thị Ni đang trong tình trạng báo động về thể chất và tinh thần, rất cần giúp đỡ.
Nhận được sự trợ giúp, hiện cô bé đáng thương này đã được đem về chùa Phú Quang (thuộc tỉnh Khánh Hòa) để tập dần với cuộc sống người thường và chờ kêu gọi hỗ trợ để chữa trị bệnh tật.
Bán tin thượng dẫn dài 275 chữ. Hai từ “giúp đỡ” và “rất cần giúp đỡ” được lập đi lập lại đến đôi lần nhưng không một chữ nào – nửa chữ cũng không luôn – nhắc đến Đảng, Nhà Nước, Ủy Ban Nhân Dân, hay Mặt Trận Tổ Quốc (cùng với hàng trăm thứ cơ quan, ban ngành, đoàn thể hội hè … (thổ tả gì đó) của tỉnh Khánh Hoà.
Người rừng Mấu Thị Ni được “sư thầy cùng các phật tử vô tình phát hiện “rồi mang về chùa, “… chờ kêu gọi hỗ trợ trị bệnh tật.” Tất nhiên là “kêu gọi hỗ trợ” đồng bào (trong hay ngoài nước) chứ không phải từ phía chính quyền.
Đảng, Nhà Nước và Nhân Dân là ba phạm trù luôn luôn đi liền, và gắn bó mật thiết với nhau, khi có nhu cầu tuyên truyền hay đóng góp – kể cả đóng góp máu xương cho cách mạng: đâu cần nhân dân có, đâu khó có nhân dân. Khó trăm lần, dân liệu cũng xong. Tuy thế, khi Nhân Dân trăm họ bị bệnh tật hay gặp chuyện khó khăn thì đó lại là chuyện (riêng) của mỗi người. Đảng và Nhà Nước hoàn toàn vô can và vô trách nhiệm.
Cứ thử google bốn chữ “cần được giúp đỡ” coi. Trong vòng 25 giây, hiện ra 3,300, 000 “kết quả”, xin xem qua vài ba để … mở mang kiến thức:
– Thân nhân liệt sĩ gặp khó khăn cần được giúp đỡ. Đó là gia đình bà Hà Thị Thủy, 74 tuổi, trú tại thôn Cái Tắt, xã An Đồng (An Dương, thành phố Hải Phòng)… Thời kỳ chiến tranh, bà là thanh niên xung phong. Bà gặp và kết hôn cùng ông Nguyễn Văn Viền là bộ đội. Ông Viền hy sinh năm 1968, khi con gái vừa mới sinh. Bản thân bà là người ngoại tỉnh, gia cảnh lại neo đơn không có anh em ruột thịt, bà phải gửi con nhỏ về quê Nam Định cho mẹ già chăm sóc. Bà lăn lộn kiếm tiền gửi về cho mẹ nuôi con gái. Mọi sự giúp đỡ xin gửi về bà Hà Thị Thủy hoặc bà Vũ Thị Hải – Trưởng văn phòng đại diện Báo Nông Thôn Ngày Nay tại Hải Phòng – số 31 Điện Biên Phủ, quận Hồng Bàng, ĐT: 0903212789; hoặc Báo Nông Thôn Ngày Nay – 13 Thụy Khuê, Hà Nội, tài khoản 1506311002117, chi nhánh Ngân hàng NNPTNT Tây Hồ, Hà Nội.
– Gia đình anh Dũng rất cần được giúp đỡ. Hoàn cảnh của gia đình anh Nguyễn Ngọc Dũng, (tên thường gọi là Đất) ở xóm Bàu Cả, thôn Phú Vang, xã Bình Kiến (TP Tuy Hòa) rất đáng thương, cần được các tấm lòng hảo tâm và cộng đồng chung tay giúp đỡ…Mọi sự giúp đỡ xin được gửi về anh Nguyễn Ngọc Dũng (xóm Bàu Cả, thôn Phú Vang, xã Bình Kiến, TP Tuy Hòa, Phú Yên) hoặc Phòng Bạn đọc – Ban công tác Xã hội – Từ thiện Báo Phú Yên, 62 Lê Duẩn, TP Tuy Hòa, Phú Yên. ĐT: 057 3841043.
– Chị Tâm cần được giúp đỡ. Nói đến gia đình chị Trần Thị Tâm (tổ 74, khu 9, phường Cao Thắng, TP Hạ Long), bà con sống xung quanh ai cũng thấy ái ngại cho hoàn cảnh của chị. Chị Nguyễn Thị Châm, cán bộ LĐ-TB&XH phường Cao Thắng cho biết: “Chồng mất sớm, chị Tâm lam lũ nuôi hai con. Dù rất cố gắng nhưng gia đình chị Tâm vẫn không thể thoát nghèo…”…Mọi sự giúp đỡ xin gửi về một trong các địa chỉ: Chị Trần Thị Tâm, tổ 74, khu 9, phường Cao Thắng, TP Hạ Long hay Quỹ Xã hội từ thiện Báo Quảng Ninh (71 Nguyễn Văn Cừ, TP Hạ Long, tài khoản 010704060014495 – Ngân hàng Quốc tế Chi nhánh Quảng Ninh), số điện thoại 0915771582.
– Một hoàn cảnh thương tâm cần được giúp đỡ. Là trụ cột của gia đình nhưng tháng 9-2013, anh Nguyễn Hoàng Hiệp, trú tại 646/34A đường 30-4 (TP.Vũng Tàu) đã phát hiện mình bị ung thư máu trong khi cuộc sống gia đình đang khó khăn chồng chất… Hơn lúc nào hết, gia đình anh Hiệp rất cần sự chung tay của những tấm lòng hảo tâm để giúp gia đình anh vượt qua khó khăn, chiến thắng bệnh tật. Mọi sự đóng góp có thể gửi trực tiếp tới gia đình anh Hiệp, số điện thoại 0962571933 hoặc thông qua Quỹ tấm lòng vàng Báo Bà Rịa-Vũng Tàu, địa chỉ: Số 28 Trần Hưng Đạo, phường 1 (TP.Vũng Tàu).
Từ hai phần ba thế kỷ qua, ngoài việc thu thuế (và thu thêm hàng trăm khoản tiền bà rằn khác nữa) Đảng & Nhà Nước tuyệt nhiên và tuyệt đối không có bổn phận hay trách nhiệm gì ráo trọi trong đời sống của bất cứ ai – bất kể là người rừng hay người thành thị.
Mỗi tuần tôi nhận được qua bưu điện bốn tờ tuần báo: Sống (phát hành từ Westminster, California) Thời Báo(Cheektowaga, New York) Trẻ (Dalla, Texas) và Việt Tribune (San Jose, California). Trừ tờ cuối cùng, ba tờ còn lại đều có mục “Những Tấm Lòng Vàng” hay “Trang Tương Trợ” với tên tên tuổi, địa chỉ, và hình ảnh những đồng bào đang lâm trọng bệnh hay rơi vào hoàn cảnh cực kỳ bi đát – ở quê nhà – cùng với lời kêu gọi xin độc giả hảo tâm giúp đỡ.
Chớ cái Chính Phủ của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc) làm gì và ở đâu, vậy Trời? Một cá nhân, một gia đình, hoặc ngay cả một tập thể người (đôi lúc) cũng cần đến sự trợ giúp của tha nhân khi lâm hoạn nạn nhưng một quốc gia thì không thể theo đuôi chính sách sống nhờ vào lòng từ thiện, vào kiều hối, hay vay vốn ODA nước ngoài – mãi mãi – như vậy được.
Câu hỏi cũng cần được đặt ra là nhà nước Việt Nam làm gì với thuế má của dân mà lại điều hành xã hội một cách chó má như thế. Đã thế, hôm 18 tháng 2 năm 2014 BBC còn đi tin:
“Tòa phúc thẩm TP Hà Nội vừa y án 30 tháng tù giam vì Tội Trốn thuế theo Điều 161 Bộ Luật Hình sự đối với luật sư bất đồng chính kiến Lê Quốc Quân. Luật sư Hà Huy Sơn, một trong bốn luật sư bào chữa cho ông Quân ngày 18/2, cho biết ngoài án tù giam, doanh nghiệp của ông Quân còn phải bồi thường một khoản tiền phạt 1,29 tỷ đồng.”
Luật sư Lê Quốc Quân tại Tòa án nhân dân Hà Nội
hôm 18/2/2014. Ảnh: AFP
Theo Blogger Nguyễn Ngọc Già: gọi ‘trốn thuế’ phủ chụp luật sư Lê Quốc Quân đều được đại đa số gọi là sự trả thù hiển hiện của chế độ cộng sản Việt Nam mang màu sắc chính trị. Nó cũng được xem là đòn dằn mặt tiếp tục cho bất kỳ ai đòi dân chủ. Blogger Nguyễn Hữu Vinh nói thêm đây là “chuyệg gắp lửa bỏ tay người”.
Việt Nam – có lẽ – là nơi duy nhất mà người dân có thể bị cầm tù (thay vì xử phạt) với tội danh trốn thuế, dù không ai biết là bọn chó má đã xử dụng thuế má của người dân đóng góp ra sao, từ hơn nửa thế kỷ qua?