vietsoul21

Archive for the ‘Việt Nam’ Category

Nguyễn Lân Thắng – “Phe” Nước mắt

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2013/10/20 at 10:20

Chị Nguyễn Thị Hiền, vợ của Luật sư Lê Quốc Quân, ảnh chụp hôm 30/12/2012. Photo by Nguyễn Lân Thắng

Hành động theo con tim mách bảo

Tôi sinh ra trong một gia đình công chức ở Hà Nội vào đúng năm 1975 – Cái năm được ông Võ Văn Kiệt “đánh dấu” bằng câu nói: “Chúng ta có triệu người vui, mà cũng có triệu người buồn”. Vết thương trong lòng người Việt cứ day dứt như thế trong suốt cả gần 40 năm cuộc đời tôi từ tấm bé đến tận bây giờ. Ngày nhỏ, tôi đã chứng kiến đủ cả những màn pháo hoa mừng thắng trận mỗi năm, cũng như cảnh những người họ hàng lặn lội từ miền Nam ra Bắc, đến ở nhờ gia đình tôi để đi thăm chồng cải tạo. Bé quá, chả biết được rồi sau này những cảnh đã thấy đó chính là nỗi đau của dân tộc…

Hồi đó, cả nhà tôi chỉ có một cái loa truyền thanh bọc vải hoa bé tý tẹo treo trên tường, cứ đến bốn giờ chiều là lại ré lên: “Giải phóng Điện Biên bộ đội ta tiến quân trở về… ” – Thế là biết đã đến giờ vo gạo thổi cơm. Thế hệ tôi lớn lên hoàn toàn “Đỏ”. Chúng tôi chỉ biết đến ném bom rải thảm Khâm Thiên, em bé Napal, chất độc da cam… mà chẳng hề hay có những đồng bào đã bỏ mạng tức tưởi trên biển. Tình cảm, nhận thức đến từ những điều mình thấy, mình nghe nó tự nhiên thế thôi, chẳng ai thắc mắc gì. Mà có điều gì khó lý giải quá thì sẵn có đế quốc Mỹ xâm lược đấy… cứ đổ lên đầu chúng là ai cũng yên lòng mà sống tiếp. Cái tâm thế được – thua, ta – địch phải mãi những năm sau này, qua nhiều luồng tin của phương tiện truyền thông trên internet mới gột tẩy khỏi đầu tôi những điều ngớ ngẩn đó…

Người Việt dù sinh ra trong bất cứ chế độ nào, rồi cuối cùng ai cũng thấy chỉ có nhân dân là bên thua cuộc. Sở dĩ đến bây giờ người dân đã nhận thức được điều đó bởi liên tục bao năm nay, đã có biết bao nhiêu lớp người liên tục đấu tranh, liên tục cống hiến cuộc đời mình vì lý tưởng đổi mới và xây dựng một nước Việt Nam độc lập, dân chủ và tôn trọng những giá trị phổ quát của nhân loại. Tôi có dính dáng ít nhiều đến các hoạt động đấu tranh trong nước, bị bắt bớ sách nhiễu đôi lần, nhưng có may mắn là chưa bao giờ chịu cảnh truy nã, tù đày. Nhìn những người bạn đấu tranh quanh mình, nay đang phải giam mình sau song sắt như anh Lê Quốc Quân hay anh em Đinh Nhật Uy, Đinh Nguyên Kha… tôi thấy mình còn quá hạnh phúc.

Luật sư Lê Quốc Quân (giữa) cùng những người nông dân biểu tình chống trưng thu đất đai tại Hà Nội tháng 8/2012. AFP photo

Anh em cậu Uy – Kha thì còn quá trẻ, còn nhiều cơ hội, nhưng anh Quân mới là điều đáng nói. Chuyện vụ án anh Quân thế nào, cả tháng nay các phương tiện truyền thông đều có nhắc cả. Tôi biết, nhiều người tự hỏi động lực ghê gớm nào khiến anh ấy bỏ qua mọi hiểm nguy, dám bỏ mình để đương đầu với cái ác. Mỗi con người ai cũng có gia đình, có bạn bè, có những điều quý giá không thể mất… Bỏ những điều ấy để đi vào con đường lửa, chấp nhận ngồi sau song sắt lạnh, ai cũng thương anh ấy!

Người đời có câu: “Phù thịnh, chứ không ai phù suy”. Không biết sao tôi chỉ muốn làm ngược lại, chỉ muốn bênh vực những người yếu thế. Bức ảnh này được chụp đúng 1 tuần sau ngày anh Quân bị bắt. Đó là một ngày cuối năm 2012. Hôm ấy trời lạnh lắm. Chúng tôi chỉ có khoảng chục người đến thăm nhà anh Quân, người thì vừa ra tù, người thì cũng bị bắt nhốt liên tục, bị theo dõi dài ngày vì những vụ án chính trị mà chính quyền tưởng tượng ra. Cả một gia đình chỉ còn toàn đàn bà và trẻ con tiếp đón chúng tôi. Nhìn giọt nước mắt của chị Hiền vợ anh Quân nghẹn ngào, nhưng sung sướng vì có người đến sẻ chia lúc hoạn nạn… chẳng ai cầm lòng được.

Cuộc sống vốn hết sức phức tạp. Thú thực tôi cũng không biết hết những việc anh Quân đã làm, và cũng có nhiều ý kiến chê trách anh ấy dại quá, liều quá, lộ liễu quá… Nhưng có lẽ, điều rõ nét nhất chính là cái án quá bất công cho mấy trăm triệu tiền trốn thuế, vốn là cái cớ mà chính quyền khó mà chứng minh được. Và, cũng chẳng ai biết liệu cái án anh Quân đang phải chịu bây giờ, lúc thi hành xong sẽ có một cái án khác như anh Điếu Cày hay không?…

Còn biết bao nhiêu những trường hợp như anh Quân, như Uy, Kha… đang trong nhà tù nhỏ? Còn biết bao nhiêu cảnh đời khốn khó của những người tranh đấu ở nhà tù lớn ngoài kia? Tôi cũng như bạn, chẳng thể nào đếm hết được. Tôi chỉ biết hành động những gì con tim mình mách bảo. Dù thế nào tôi cũng đứng về “phe” nước mắt!

*Nội dung bài viết không phản ảnh quan điểm của RFA

Nguồn: RFA

Tương Lai – Nghĩ về hiện tượng Trần Độ

In Chính trị (Politics), Lịch Sử, Tạp văn, Việt Nam on 2013/08/08 at 11:37

Nói như vậy, vì người viết muốn nhìn ra ở đây “một hiện tượng lịch sử” có ‎ nghĩa biểu tượng.

Lịch sử đi tới theo đội hình hình thoi chứ không “dàn hàng ngang mà tiến”. Bao giờ những người đi trước cũng thuộc số ít. Càng ít hơn nữa là những ngươi có tầm mắt vượt lên phía trước, nhìn thấu được những điều mà nhiều người đồng hành chưa nhìn ra, hoặc nhìn nhưng chưa thấy, hoặc thấy nhưng chưa rõ. Và càng sát cái điểm đầu chóp hình thoi ấy thì càng đơn độc! Trần Độ là một hiện tượng, đúng hơn, là một bằng chứng rất sống động về sự “đơn độc của tia chớp” đang dẫn dắt suy tư của người viết nhân ngày mất của ông, 9. 8. 2002.

Nhận thức là một quá trình, điều này chẳng có gì mới đáng nói. Cái đáng nói hơn vào thời điểm này là: với sự kiểm nghiệm của thời gian, có những con người đã trở thành một  hiện tượng lịch sử vì nó là biểu tượng sống động về sự oái oăm của lịch sử trong nhận thức về lịch sử. Mà trớ trêu thay, chính sự oái oăm đó làm nên lịch sử. Làm nên bằng chính cái tầm vươt lên phía trước ấy. Chẳng thế mà Voltaire từng khuyến cáo rằng “Lch s không nên đ cp đến s thăng trm ca các ông vua mà là trào lưu tiến hoá ca dân tc, không nên đ cp đến tng quc gia riêng r mà là toàn th nhân loi, không nên đ cp đến chiến tranh mà là đ cp đến s phát trin ca tư tưởng. Nhng trn đánh, nhng đoàn quân chiến thng hoc chiến bi, nhng thành ph b chiếm đi hoc ly li là nhng s kin quá tm thường, không nói lên điu gì quan trng. Điu quan trng là con người sng và suy nghĩ như thế nào qua các thi đi… qua nhng giai đon nào con người đi t trng thái man r đến trng thái văn minh”.* 

Không hiểu có phải lẩn thẩn không mà người viết bài này những cứ muốn bạo gan đặt ra câu hỏi với nhà Khai sáng Pháp : liệu dưới tác động nào đó, trong một thời đoạn đau thương nào đó, có thể có quá trình ngược lại, một cơ chế phi lý‎ đẩy con người đi từ trạng thái văn minh trở lại với trạng thái man rợ ? Trần Độ có bốn câu thơ dưới dạng “tự bạch” :

Nhng mơ xoá ác trên đi

                                            Ta phó thân ta vi đt tri

                                         Ng ác xóa ri thay cc thin

                                           Ai hay, biến đi, ác luân hi.

Liệu nỗi niềm “ ai hay, biến đi, ác luân hi” có chút bóng dáng nào của cái cơ chế phi lý kia không? Vì rằng, nếu cứ nhìn về nhân thân và sự nghiệp theo một nếp hằn rất chi là “lập trường quan điểm” từng chi phối đời sống tinh thần xã hội gần hai phần ba thế kỷ nay, thì con người này là một mẫu mực sáng giá, một điểm son chói lọi trong những trang sử hiện đại : Đi làm cách mạng từ năm 16 tuổi, vào đảng năm 17 tuổi, vào tù, cắn răng chịu tra tấn trong các nhà tù đế quốc , vượt ngục về hoạt động bí mật vào những ngày “tiền khởi nghĩa”, góp phần vào Cách Mạng tháng 8.1945, đảm nhiệm vai trò chính ủy Mặt trận Hà Nội “cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh” những ngày Thủ đô rực lửa năm 1946, tiếp đó là chính ủy trung đoàn, chính ủy đại đoàn, chính ủy quân khu, rồi phó chính ủy và phó bí thư quân ủy, được phong hàm thiếu tướng rồi trung tướng, được bầu làm Phó Chủ tịch Quốc hội, ủy viên BCHTƯĐCSVN, Trưởng ban văn hóa văn nghệ TƯ.

Dù được quy chiếu theo những hệ thống giá trị nào thì cuộc đời dấn thân hết mình cho tổ quốc, nằm gai nếm mật, vào tù ra tội, luôn đứng ở mũi nhọn của cuộc chiến tranh cứu nước, con người này có một cuộc sống thật đẹp! Càng đẹp theo kiểu “ta phó thân ta vi đt tri” chứ không chỉ vì những chức vụ, danh vọng mà ông có được bằng sự dấn thân kia !

Ấy thế mà khi con người ấy nằm xuống, người ta quyết không cho cuộc đời “thương tiếc” ông. Dùng một con rôbốt vô hồn để thực hiện một công vụ táng tận lương tâm là kể tội ông trong điếu văn đọc trước linh cữu người quá cố, người ta đã chà đạp lên truyền thống “nghĩa t là nghĩa tn” trong đời sống dân tộc. Cái đáng sợ nhất, khủng khiếp nhất chính ở chỗ này đây.

Một giải pháp vô văn hóa, phản tâm linh được thực thi một cách triệt để theo lối “đào tn gc, trc tn r” khi người ta “trả nghĩa” cho ông “Trưởng ban Văn hóa Văn nghệ Trung ương” của đảng bằng hành động vô văn hóa đó. Một hành động được hoạch định kỹ càng và đóng dấu ở nơi cao cấp nhất! Từ cách công bố tin ông mất sát kề ngày tang lễ để đồng chí, đồng đội của ông không đến kịp nhằm giảm tối đa số người “thương tiếc” ông tại nhà tang lễ đến chuyện xé bỏ những băng tang đính trên vòng hoa nếu có chữ “vô cùng thương tiếc” và rồi bài điếu văn phản nhân văn, ráo cạn nhân tình không tiền khoáng hậu đi vào lịch sử như một vết nhơ không sao xóa mờ đi được!

Xin chen vào đây một mẩu chuyện : vòng hoa của người viết bài này nhờ một người bạn vốn là lính của tướng Độ mang đến nhà tang lễ. Hai vị CA chặn lại, yêu cầu gỡ bỏ mấy chữ “Vô cùng thương tiếc” .Vị cựu chiến binh là thương binh chiến đấu ở chiến trường Miền Tây cố làm nhẹ sự căng thẳng bằng một đề nghị hóm hỉnh :” thế tôi sa li là “thương tiếc va va đng chí Trn Đ nhé“. CA trừng mắt, quát. Xô xát có cơ xảy ra vì anh thương binh “quân của tướng Độ” đã xắn tay áo. Ánh mắt đang đổ dồn về đây. Một vị đeo lon trung tá vừa lịch lãm vừa xử sự rất “có nghề” đã nhanh chóng xin lỗi người cựu chiến binh, vừa gạt tay thuộc cấp định gỡ vòng hoa, rồi mời người cựu chiến binh mang nó cùng đi. Nhưng khi đến gần bậc thềm nhà tang lễ thì anh ta nói ” theo quy đnh, chúng tôi phi trc tiếp chuyn vòng hoa, đng chí c đng đây“. Thế rồi y nhấc bổng vòng hoa đi vòng ra phía sau, mất hút!

Gọi điện kể lại, người cựu chiến binh tự hào là “quân ca tướng Đ” đó an ủi : “thôi chú , thế là mình cũng đã th hin được tm lòng và ý chí trn nghĩa vn tình vi ông y, người s đi vào lch s. Đến vòng hoa ca Đi tướng Võ Nguyên Giáp mà chúng nó cũng đòi bóc, đi tá Huyên quyết lit đu tranh, cui cùng cũng đành ch còn hai chthương tiếc“, phi b hai chvô cùng” trên vòng hoa tang ca bc công thn, người anh c ca quân đi c H gi viếng mt v tướng tng ch huy Mt trn quyết t ca Hà Ni m đu cuc chiến tranh gi nước đ ri có mt trên tt c các mt trn nóng bng nht cho đến khi kết thúc chiến tranh, mà chú!

Có thể ai đó khi hạ lệnh gỡ bỏ những dòng chữ “vô cùng thương tiếc” trên vòng hoa tang đã cạn nghĩ, hoặc mê muội trong nguyên lý khủng khiếp từng thuộc nằm lòng về sự chuyên chính đối với kẻ thù giai cấp, đã không lường trước được hệ lụy cũng khủng khiếp không kém của quyết định dại dột bất cận nhân tình ấy. Trong tâm thức của dân tộc, vết nhơ kia sẽ không có cách gì rửa sạch được. Và nếu như ông cha ta dạy “gươm dơ ly nước làm sch, nước dơ ly máu làm sch” thì rồi đây lấy gì để rửa vết nhơ lịch sử kia đây? Xét cho cùng, vết nhơ lịch sử này chính là ni đau văn hóa.

Đây là điều mà M.Gorki, một thời được mệnh danh là “nhà văn vô sản vĩ đại” từng chiếm lĩnh trọn vẹn các giáo trình lý luận văn học của các trường đại học và sách dạy phổ thông ở nước ta đã từng quyết liệt cảnh báo ngay từ những năm 1917-1918 [đương nhiên là người ta dấu nhẹm sự cảnh báo này] : “Cách mng đã đánh đ nn quân ch, điu đó đúng! Nhưng điu đó có l cũng có nghĩa rng cuc cách mng đã mang chng bnh ngoài da vào bên trong ni tng. Người ta không được phép tin rng cách mng đã cha tr và làm phong phú cho nước Nga v mt tinh thn. Chính vì vậy, M.Gorki viết : “Đi vi tôi, li kêu gi T quc lâm nguy cũng không đáng s hơn li kêu gi Hi các công dân! Văn hóa b lâm nguy”!**

Sư suy thoái đạo đức đích thực, chứ không phải sự gán ghép tùy tiện do sự lú lẫn đầy ác ý, là biểu hiện dễ thấy của “s lâm nguy” này. Sự lâm nguy bắt đầu từ khi người ta “đã mang chng bnh ngoài da vào bên trong ni tng” của cả dân tộc. Càng nguy hiểm hơn khi, thay vì “phi được trui rèn trong ngn la cháy không bao gi dt ca văn hóa, tinh thn nô l đã hn sâu trong nó phi b ty sch đi“, thì người ta làm ngược lại, tàn phá văn hóa.

Sẽ quá dài nếu phải liệt kê ra đây sự tàn phá đó khi mà chỉ lẩy riêng ra “mt hin tượng Trn Đ“, nói chính xác hơn, cách ứng xử với ông Trưởng Ban Văn hóa Văn Nghệ Trung Ương Trần Độ khi ông nằm xuống, cũng đã quá đủ để minh họa một cách sống động về điều này.

Trong một bài gần đây trên tạp chí “Văn Hóa Ngh An” ngày 31.7.2013, giáo sư Nguyễn Minh Thuyết lưu ý‎ rằng : “quan sát trong xã hi, đo đc suy thoái, đúng là chưa bao gi đt nước vào tình trng như hin nay. Nói cách khác, trong lch s ch thi mt mi xut hin nhng chuyn như thế…”. Ông dẫn trong “Hoàng Lê Nht thng chí” lời học trò của L‎ý‎ Trần Quán trả lời thầy khi bị ông mắng về tội bắt Chúa Trịnh Tông nộp cho Tây Sơn : “S thy không bng s gic, yêu chúa không bng yêu thân” để đưa ra nhận định : “Có th nói đó là câu nói đin hình cho s suy thoái…. Còn v các nước, có th nói, nếu so sánh, phi thy là nhng xã hi có hin tượng như thế này là xã hi kém phát trin. Xã hi văn minh cũng có nhng hin tượng này nhưng nó không b rc, không ph biến như thế“….Quả đúng vậy. Nhưng để cho trọn vẹn hơn thì xin mạo muội đề nghị giáo sư Thuyết trích thêm một dòng nữa ở trang 106 trong sách nói trên, con người “la thy phn chúa” ấy rồi “được phong làm Tráng Nghĩa hu thêm chc Trn th Sơn Tây“! Chính cái “được” này mới là động cơ mãnh liệt thôi thúc những chuyện lừa thầy, phản chủ mà giáo sư gọi là “suy thoái” kia.

Những con “rô bốt” vô hồn, dù là cao sang quyền quý, danh gia vọng tộc hay lưu manh chính trị mạt hạng đang nhan nhản khắp nơi, hoặc tác oai tác quái với dân, hoặc lên mặt đạo đức giả đi rao giảng đạo đức lấy đó làm cái lá nho để che đi những xấu xa thối nát quá lộ liễu, hoặc nói một đằng làm một nẻo mất hết liêm sỉ mà dân gian gọi là đã đứt giây thần kinh xấu hổ …xét đến cùng chính là vì cái được ấy! Ngay cả những người đang theo lý thuyết “mắc-kê-nô”, tạm bằng lòng với ngôi nhà vừa tậu, chiếc ô tô đời mới hay cái công ty của con đang làm ăn yên ổn đang xua tay “không muốn động đến chuyện chính trị” thì trong sâu thẳm tâm hồn họ, cái động cơ mãnh liệt kia vẫn đang khởi động.

Xét đến cùng, vâng, xét đến cùng, cái “được” kia, nói chữ nghĩa ra là li ích nhận được từ cái cơ chế sản sinh ra những “rôbốt” vô hồn kia chính là chất xi măng gắn kết chúng với nhau vì lợi ích, và cái đem lại lợi ích nhanh chóng nhất chính là quyn lc. Trong bài viết cách đây chưa lâu, người viết này đã nói về quy luật này : Quyn lc thúc đy vic m rng vô hn đ quyn lc, và hu như không có đim dng. Nhưng “quyn lc li có xu hướng tha hóa và quyn lc tuyt đi thì tha hóa cũng tuyt đi(Power tends to corrupt and absolute power corrupts absolutely, có người dịch từ “corrupt” là “tham nhũng” trong những văn cảnh nhất định nào đó).Chế độ toàn trị phản dân chủ là nguyên nhân sâu xa cho cái chuyện “quyn lc tuyt đi thì tha hóa cũng tuyt đi ” ấyLiệu lịch sử loài người đã biết có bao nhiêu thứ “quyền lực tuyệt đối” như chê độ toàn trị hiện hành?

Thật ra thì vào cuối những năm 50 của thế kỷ trước, Milovan Dijlas, tác giả của “Giai cp mi“, một tác phẩm viết trong tù  được bí mật gửi ra nước ngoài và được in ở New York năm 1957 từng phân tích rất rành mạch về chyện này :

Đng sinh ra giai cp. Sau đó giai cp t phát trin bng chính ngun lc ca mình và s dng đng như là cơ s đây, mun tr thành ch s hu hay đng s hu thì cn phi len được vào hàng ngũ ca b máy quan liêu chính tr“.

Ông chỉ ra rằng : “Giai cp mi ging như mt hình kim t tháp : đáy to, càng lên trên càng hp dn. Đ đi lên, ch ý chí không chưa đ, còn cn phi hiu và “vn dng lý lun na”, cn phi quyết lit trong cuc đu tranh vi k thù, phi cc k khôn khéo khi xy ra các cuc tranh chp trong ni b đng, phi nm được ngh thut, thm chí tài năng trong vic cng c v trí cho giai cp na“.

Vì thế, “cùng vi vic cng c giai cp mi, khi b mt ca nó càng th hin rõ, thì vai trò ca đng cũng ngày càng gim đi. Ht nhân và cơ s ca giai cp mi đã hình thành bên trong cũng như trên đnh quyn lc ca đng cũng như ca b máy nhà nước. Cái đng tng có lúc là mt t chc sinh đng đy sáng kiến, thì nay, đi vi nhng người cm đu ca giai cp mi, đng đã biến thành mt vt trang trí, càng ngày ch càng kéo vào hàng ngũ ca mình nhng k hãnh tiến, nhng k mun nhp vào hàng ngũ ca giai cp mi và đy nhng người vn còn tin vào lý tưởng ra“.***

“Hiện tượng Trần Độ” liệu có phải là minh chứng sống động về“nhng người vn còn tin vào lý tưởng” bị đẩy ra một cách quyết liệt, quá sức phũ phàng, cạn tàu ráo máng? Mà phải đẩy ra bằng được, vì lý tưởng cao đẹp của con người ấy đang là vật cản cho quá trình “cng c giai cp mi bên trong cũng như trên đnh quyn lc ca đng, cũng như ca b máy nhà nước“.

Chẳng có gì khó hiểu và ví ( bí?) ẩn trong chuyện phũ phàng, cạn tàu ráo máng với Trần Độ. Đây là diễn biến logic về sự tha hóa của quyền lực. Nó đồng thời cảnh báo một nguyên lý sẽ được đẩy tới ngày càng hung dữ và bất chấp đạo lý cũng như luật pháp : quyền lực tuyệt đối thì tha hóa cũng tuyệt đối! Chuyện chà đạp lên đời sống tâm linh trong đạo lý nghĩa tình dân tộc chẳng là gì so với chuyện củng cố bộ máy quyền lực khi “cn phi quyết lit trong cuc đu tranh vi k thù, phi cc k khôn khéo khi xy ra các cuc tranh chp trong ni b đng, phi nm được ngh thut, thm chí tài năng trong vic cng c v trí cho giai cp mi đang nm quyn”!***

Thế thì làm sao chấp nhận được một ủy viên trung ương đảng, một phó chủ tịch Quốc hội, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, lại đòi hỏi :” Đng Cng sn phi t mình t b chế đ đc đng, toàn tr, khôi phc vai trò, v trí vn có ca Quc hi, Chính ph. Phi thc hin đúng Hiến pháp, tc là sa cha các đo lut chưa đúng tinh thn Hiến pháp. Đó là phi có nhng đo lut ban b quyn t do lp hi, lp đng, t do ngôn lun, lut báo chí, xut bn. Sa cha các lut bu c ng c t do, t b quyn quyết đnh ca cơ quan t chc Đng…”.

 

Càng không thể nào dung nạp được một cách tư duy quyết liệt khi vạch ra rằng :” Không nên lm dng ch cách mng. Ta bây gi không phi là cách mng chng ai c, không phi đánh đ ai c. Xây dng hoà bình thì phi đoàn kết, có gì tr ngi thì hoá gii nó đ tiến lên…không th lúc nào cũng phi có chương trình hot đng cách mng, lúc nào cũng phi hành đng cách mng…

 

Chính quyn bây gi không phi là chính quyn cách mng. Điu đó ch có ý nghĩa khi cách mng va mi thành côngNgày nay chính quyn phi là chính quyn xây dng. Chính quyn xây dng thì phi có nhng ch trương, chính sách làm cho mi người dân đu được t do làm ăn. Và t đó người dân phi có t do nói, t do tìm thông tin và trao đi thông tin. Như thế t do làm ăn mi thc hin được…  rt nhiu nơi, nhiu lúc, không cn đến cách mngNhưng tt c các nơi đu cn có t do, và ln nht là t do làm ăn phi có t do hưởng li ích ca kết qu s làm ăn đó.

Nhân dân ch mun tiến hoá, ch không mun cách mng bo lc! Đt nước ta đã tri qua mt thi k lch s kéo dài gm nhng cuc chiến đu chng xâm lược giành đc lp, hoà bình xây dng, ri li b xâm lược. Và li chiến tranh chng xâm lược. Qua quá trình đó mà đt nước ta trưởng thành và phát trin. Cho đến nay, đt nước đã được hoà bình đc lp, thng nht.

Không biết tương lai loài người s phát trin, tiến b thế nào và do đó đt nước ta s gp nhng tình hung thế nào ? Nhưng chc chn là nhng bước đi sp ti ca ta cũng không có th lp li y nguyên nhng tình hình trước đây

“Động trời” hơn nữa khi Trần Độ tuyên bố không úp mở : ” Chiến tranh ln và các hot đng bo lc, lt đ càng ngày càng tr nên lc hu li thi…Đ có t do và hnh phúc, không nht thiết phi có bo lc, không nht thiết phi đánh đ ai. Thm chí ngày nay có nhng nn đc lp giành được cũng không cn có bo lc và chiến tranh“!

Và rồi, người đứng đầu cơ quan lãnh đạo văn hóa văn nghệ mà lại công khai nói thẳng cái sự thật nghiệt ngã mà hơn nửa thế kỷ qua người ta cố né tránh, bưng bít : “Văn hóa mà không có t do là văn hóa chết. Văn hóa mà ch còn có văn hóa tuyên truyn cũng là văn hóa chết. Càng tăng cường lãnh đo bao nhiêu, càng bóp chết văn hóa by nhiêu, càng hiếm có nhng giá tr văn hóa và nhng nhà văn hóa cao đp”.

 

Cách chức, khai trừ đảng là chuyện quá dễ hiểu, không thế mới lạ! Thì chẳng phải đã có một ví dụ quá rõ nét khi Đảng và nhà nước Nam Tư đã bỏ tù tác giả của “Giai cp mi“, người đã từng được bầu làm Phỏ Tổng thống Liên bang Nam Tư, “cây lý luận hàng đầu” của Đảng Cộng sản Nam Tư đó sao?

Milovan Dijlas từng tuyên bố : “Tôi, mt trí thc đã đi trn con đường mà mt đng viên cng sn có th đi. T nhng chc v thp nht, t các t chc cơ s cho đến quc gia và quc tế, t vic thành lp mt đng cng sn chân chính, chun b cách mng, đến vic tham gia xây dng cái gi là chế đ xã hi ch nghĩa. Không ai buc tôi phi tham gia hay t b ch nghĩa cng sn c. Tôi đã t quyết, theo nim tin ca mình, mt cách t do…Càng ri xa ch nghĩa cng sn, tôi càng tiến gn đến lý tưởng ca ch nghĩa xã hi dân ch“…

Tư tưởng bình đng và bác ái tn ti cũng lâu như chính loài người, được ch nghĩa cng sn ng h trên li nói, vn mang trong mình nó sc hp dn vĩnh hng đi vi nhng chiến sĩ tranh đu cho t do và tiến b. Sc hp dn mang tính nhân bn ca nhng lý tưởng đó đã làm cho vic phê phán chúng tr thành không ch phn đng mà còn trng rng và vô nghĩa na”.

Chính vì thế, người trí thức “đã đi trn con đường mà mt đng viên cng sn có th đi” ấy đã “tp trung mô t đc trưng ca ch nghĩa cng sn hiến đi…Tt c ch là sn phm ca thế gii mà tôi đang sng và đang phê phán. Tôi đã thy và đã trình bày tt c mà không ngượng ngùng khi thú nhn rng mình đã là sn phm ca nó, có lúc đã là người tham gia xây dng nó và bây gi là người phê phán nó“. ***

Phải chăng đây là sự” phê phán nó” khi “” đã tự tha hóa, tự biến mình thành công cụ trong tay “giai cp mi” với lợi ích của chính nó, củng cố chế độ toàn trị phản dân chủ, quay lưng lại với nhân dân? Trong những bức thư Trần Độ gửi lãnh đạo của, đặc biệt là bức thư viết vào cuối năm 1974 dưới bút danh Chín Vinh, đã có bóng dáng của sự phê phán nói trên :” nhiu hin tượng tiêu cc trong xã hi và trong tt c các t chc Đng, trong b máy chính quyn…Điu đó ai cũng thy. Thế nhưng vn đ là ti sao nó li chuyn biến chm chp. S biến chuyn chm chp này đã to ra mt tình trng gim sút lòng tin trong cán b, đng viên, trong nhân dân và đáng ngi nht là trong thanh niên…Nhng hin tượng tiêu cc ca xã hi ( và trong Đng, trong chính quyên) làm vn đc s trong sáng và đp đ ca nhng lý tưởng, đu đc nhng lòng say mê hăng hái có tính cht lãng mn cách mng, “sng tiêu cc”, to nên “mt thế lc xã hi” bao vây và xua đui nhng tâm hn trung thc”…mi người trung thc đu nóng lòng mong đó mt cái gì đi mi, chuyn biến gì mnh m…”.****

Phải chuyển nhanh, phải đổi mới nhanh để khỏi phải chứng kiến những điều đau lòng mà ông nghe được từ người bạn cũ cùng xóm lần ông từ chiến trường về quê sau mười năm xa cách :”cuc sng nhà tht khn kh, khn kh nhưng không ai dám kêu. Đói đy phi bo là no. Có ai hi đu nói ” cám ơn bác cũng đ ăn. Nếu kêu đói tc là thành phn xu. Ông hỏi người bạn cũ : Được my cháu ri?– Nh ơn cách mng được ba đa- Sao li nh ơn cách mng?-  chiến trường không biết ch nhà cái gì ch nh ơn cách mng. Nuôi được con ln to, cưới được v cho con, nht nht là ơn ca cách mng c“!

Là người lăn lộn ở chiến trường cùng với chiến sĩ, lặng lẽ ghi những hiện thực thất đáng buồn ở hậu phương, câu chữ ngọn bút ghi lại chạy trên trang giây mỏng hoàn toàn là sự thật, tướng Trần Độ day dứt : “Nếu s tht này tin tuyến người lính biết được hoàn cnh sng ca cha m v con thì cp trên biết nói thế nào vi h“? **** Trung thực với chính mình, trung thực với cuộc sống, trung thực với lịch sử, chính cái đó tạo ra “hiện tượng Trần Độ”, ở đây “sc hp dn vĩnh hng đi vi nhng chiến sĩ tranh đu cho t do và tiến b. Sc hp dn mang tính nhân bn ca nhng lý tưởng đó” bị chính sự dối trá lọc lừa của “quyn lc b tha hóa” làm cho băng hoại. Bằng sự trải nghiệm của cả cuộc đời dấn thân trọn vẹn cho lý‎ tưởng nhân văn cao đẹp, Trần Độ tỉnh táo nhận ra sự băng hoại khủng khiếp đó.

Trong Nhật ký viết vào những năm cuối đời mà ông gọi “đây là mt tc lòng “đ tng người đi và cuc đi. Đây là nhng ý nghĩ nung nu trong nhng tháng cui năm Rng và đu năm Rn, và cũng là nhng ý nghĩ nung nu trước đó hàng chc năm và s còn nung nu tiếp đến c khi sang thế gii bên kia. Đây là ni nim cay đng ca mt cuc cách mng, và ca mt kiếp người“.

Vấn đề Trần Độ đặt ra đâu chỉ là ý nghĩ của riêng ông. Mt xã hi mà công dân không được quyn sng tht, nói tht, nhà văn cũng không được quyn bc bch tâm s riêng tư ca mình trên trang giy là mt xã hi không có chân móng. Câu này Nguyễn Khải viết trong “Đi tìm cái tôi đã mât“. Thật đau đớn khi “mt dân tc đã làm nên chiến thng Đin Biên Ph mà mt người dân nám đen, mt nhìn ngơ ngác, đi đng long rom như mt k bi trn. Qu tht dân tc Vit Nam đã thng ln trong phong trào chiến tranh gii phóng nhưng li thua đm trong công cuc xây dng mt xã hi t do và dân ch. Thoát ách nô l ca thc dân li t nguyn tròng vào c cái ách ca mt hc thuyết đã mt hết sc sng. Dân mình sao li phi chu mt s phn nghit ngã đến vy! Vẫn là Nguyễn Khải dăn vặt trong “Đi tìm cái tôi đã mt“.

Mà đâu chỉ nhà văn Nguyễn Khải có nỗi dắn văt đó, nhà thơ Chế Lan Viên trong bài “Trừ Đi” cũng từng nói lên nỗi đau dằng xé tâm can :

Sau này anh đc thơ tôi nên nh

Có  phi tôi viết đâu! Mt na

Cái cn đưa vào thơ, tôi đã giết ri

Giết mt tiếng đau – giết mt tiếng cười

Giết mt k nim – giết mt ước mơ – tôi giết

Cái cánh sp bay – trước khi tôi viết

Tôi giết bão ngoài khơi cho được yên n trên b

Và giết luôn mt tri lên trên bin – Giết mưa

Và giết c c trong mưa luôn th

Cho nên câu thơ tôi gy còm như thế

Tôi viết bng xương thôi, không có tht ca mình

Và thơ này rơi đến tay anh

Anh bo đy là tôi.

                             Không phi!

Nhưng cũng chính là tôi – Người có li

Đã phi giết đi bao nhiêu cái

Có khi không có ti như mình 

                                             

Chính vì thế, Trần Độ thẳng thắn chỉ rõ :

T do là chìa khoá ca phát trin.

Tôi nghĩ thế này: nước Vit Nam ta hin nay, sau bao nhiêu năm đu tranh và chiến tranh gian kh, cn phi hoà bình phát trin và cn phi phát trin nhanh, đ bù li nhng thi gian đã mt, và đ theo kp các nước chung quanh. Đó là mc đích và yêu cu quan trng nht ca đt nước. Nhng cái khác là ph. Do đó, đ phát trin đt nước thì rõ ràng ta phi tìm đường li nào, hc thuyết nào phc v được yêu cu đó. Nếu tht s coi phát trin đt nước là quan trng nht thì Đi đoàn kết dân tc là quan trng hơn đu tranh giai cp; trí thc quan trng hơn công nhân và nông dân; phát trin sc sn xut là quan trng hơn mi th; đ dân làm ch mi lĩnh vc quan trng hơn các trò chuyên chính đàn áp; nghe và thu thp được nhiu ý kiến khác nhau và trái ngược nhau k c v đường li chính sách, quan trng hơn là bt mi người phi tuân theo mt quan đim, mt ý kiến“.

Cho nên, đúng là không có gì khó hiểu khi người ta phải khai trừ Trần Độ ra khỏi đảng, rốt raó đến độ khi ông mất lại cạn tào ráo máng cấm không được “thương tiếc ông“. Đây là kế tục thực hiện một nguyên lý‎ cai trị. Thì chẳng thế sao ? Từ những năm 1955, ngay sau giải phóng Thủ đô, thay vì “Khi đoàn quân tiến v là đêm tan dn” như Văn Cao mơ ước, người ta đã “…đem bc công anh đt gia tim người/ Bt tình cm ngược xuôi/ theo lut đi đường nhà nước“. [Thơ Lê Đạt] Chẳng những thế, “phi to ra mt tình hình chính tr luôn căng thng (mt cuc chiến tranh có th xy ra, mt cuc bo lon có th xy ra) đ buc các công dân phi sng trong nhng quy chế nghiêm ngt ca thi chiến, các chế đ toàn tr ch có hai cơ quan mà quyn uy bao trùm c xã hi. Đó là cơ quan tư tưởng, tuyên truyn và cơ quan công an. Mt đ chn, mt đ chng. 

Còn khi đã có chuyn bt thường xy ra thì ch có mt bin pháp: đàn áp, bt gi, lp toà án xét x nhng k cm đu. Cách gii quyết va nhanh gn li mau n đnh, không dây dưa, phin toái vì có quá nhiu lut l, qua nhiu lý l như các nước tư bn. Nhng ri lon vt vãnh tht ra là nước là không khí ca các nhà cm quyn đc tài. 

H đâu có s lon. H còn bày ra nhng cuc chiến cung đình như Liên Xô và các nước Đông Âu, hay mt cuc chiến gia nhân dân vi nhau như đã làm Trung Quc. Không có mùi v ca thuc súng, ca máu người và nhng tiếng la hét cung n ca đám đông thì người cm quyn biết th bng gì“…Những câu này là của tác giả “Đi tìm cái tôi đã mất”.

Chính vì thế mà phải ” Nói di lem lém, nói di lì lm, nói không biết xu h, không biết run s vì người nghe không có thói quen hi li, không có thói quen lưu gi các li gii thích và li ha đ kim tra. Hoc gi hi li và kim tra là không được phép, là ti k, d gp tai ho nên không hi gì cũng là mt phép gi mình. Người nói nói trong cái trng không, người nghe tuy có mt đy nhưng cũng ch nghe có nhng tiếng vang ca cái trng không. Nói đ giao tiếp đã tr thành nói đ không giao tiếp gì hết, nói đ mà nói, ch l làm người li không nói .

 Tht ra nói thế mà vn hiu nhau c. Người cm quyn thì biết là nhân dân đang rt bt bình v nhiu chuyn, nhân dân thì biết người cm quyn đang nói di, nhìn vào thc tin là biết ngay h đang nói di. Nhưng hãy mc h vi nhng li l di trá ca h, còn mình là dân ch nên hi li nói thế là tht hay không tht

Mi cái khác vi chính thng đu b lên án, mi cái ging nhau đu được tuyên dương. Vì nhng cái khác nhau rt khó to ra s nht trí, còn nhng cái ging nhau s d nghe theo, làm theo mi mnh lnh.

Nhà văn Nguyễn Khải đau đớn đặt ra một câu hỏi : “mt môi trường xã hi ngt ngt vì cái bóng quyn lc ph lên tt c, quyết đnh tt c thì s phn nhng cá nhân s ra sao? Vị tướng Trần Độ trả lời câu hỏi đó trong những trang Nhật ký viết ở chặng sắp kết thúc một cuộc đời dấn thân trọn vẹn cho lý tưởng cao cả từ thuở đầu xanh cho đến lúc tóc bạc để đúc kết vào chỉ mỗi một câu thôi :

 Đây là ni nim cay đng ca mt cuc cách mng, và ca mt kiếp người“.

Tôi mượn câu này làm một nén hương lòng thắp trước di ảnh của ông nhân ngày Giỗ của người mà tôi kính mến. Tôi là kẻ hậu sinh, quen biết ông quá muộn, được ông xem là bạn vong niên đã là một niềm cảm kích lớn, xin chỉ gợi lại một kỷ niệm nhỏ với ông. Hôm ông đến chơi, ông trách tôi : “anh tệ thật, không thèm gửi sách cho tôi”, vừa nói ông vừa đến bên giá sách và chỉ vào cuốn “Kho sát xã hi hc v phân tng xã hi” đã in cách đó 5 năm. Tôi choáng người, vội xin lỗi và thanh mình : “Chết tôi ri, tôi đã gi biếu anh ngay sau khi nhn được t nhà xut bn v. Tôi còn nh rõ, cun đánh s 4“. “Sao? Đánh s? li s 4″, ông ngạc nhiên hỏi.

“Vâng, chính vì thế mà tôi nhớ rõ mà. Duyên do là cuốn sách ấy chỉ là toàn bộ bản báo cáo về cuộc khảo sát xã hội học ở Thái Bình mà Anh đã hỏi chuyện tôi khi gặp anh tại nhà khách tỉnh ủy sau đó một năm nay hoàn chỉnh lại về văn phong, câu chữ để đưa in. Tuy đã được Hội đồng nghiệm thu cấp Nhà nước chấp thuận, nhưng khi đưa in thì Nhà xuất bản đòi bỏ một số đoạn. Tôi từ chối. Giằng co mãi, cuối cùng anh Nguyễn Duy Quý xử lý một cách rất cao tay : in và lưu hành nội bộ. Tôi đồng ý ngay. Chỉ cần in, còn lưu hành nội bộ thì càng tốt, đó là một cách quảng cáo cho sách. NXB chơi chua : chỉ in 100 cuốn và đánh số từ 1 đến 100, gửi cho ai thì phải ghi tên người đó và số của cuốn sách (!). Cuốn này, tôi gửi cho anh HTK, sau khi anh ấy mất, tình cờ đến chơi nhà, thấy cuốn sách nằm lăn lóc trong đống sách cũ, tôi xin lại đem về đặt vào đây, cuốn sách mà anh đang cầm trong tay đó, vì còn cuốn cuối cùng trên giá sách này thì một người bạn thân cầm về rồi “quên” chưa trả”.

Ông trầm ngâm đưa trả cuốn sách không nói gì. Một lần khác, cùng ông lên chơi nhà Thu Bồn ở “Suối Lồ Ồ”, đến nơi thì đã tối tròi, khi bước xuống xe thấy ánh đèn flash lóe sáng. Ông cầm tay tôi nói to với các bạn cùng xuống xe : “đng li đ người ta chp nh đã, chp xong ri hãy vào nhà“, mọi người cười ồ. Lúc ăn cơm, tôi nhắc với ông để in lỗi vì chưa đi photo cuốn sách để gửi đến ông nhưng nói thêm là sách lạc hậu rồi, anh đứng mất thì giờ đọc làm gì. Ông cười và yêu cầu gửi gấp, câu này ông nói hơi to. Thế là, sáng hôm sau, một người học trò cũ của tôi, nay là “nhà báo”, người ngồi cạnh tôi tối qua ở nhà Thu Bồn và bả lả vui vẻ : “em tình c thy thy và theo vào đây, vui quá, thy cho phép em ngi ch“, bỗng bất ngờ đến chơi. Thầy trò gặp nhau vui vẻ, anh ấy xuống bếp mươn mấy cái đĩa, lôi từ trong túi giấy ra mấy thứ bánh lá “em biết thy vn thích loi bánh này nên mang đến thy dùng ba sáng“. Vừa ăn bánh, vừa hàn huyên bao chuyện cũ, anh học trò hạ giọng, “thầy ơi, cuốn sách thầy đinh photo biếu bác Độ, thấy có thể cho em xem được không ạ”.Biết việc anh ấy phải làm và mục đích của bữa ăn sáng, tôi kéo anh ta đến giá sách, lôi cuốn sách ra đưa cho anh và nói : “Mình nh cu đi photo giúp mình, qu tht mình cũng đang đnh làm chuyn này nhưng bn quá. Cu photo cho mình 2 cun, mt mình gi li, mt đưa biếu ông Đ, còn li cu mun photo y bn đ cho công vic ca cu thì tùy“! Người ta “chăm sóc” ông Độ thật chu đáo.

Nhưng rồi bộ sách”Trần Độ. Tác Phẩm tập 1, 2,3″ do NXB Hội Nhà Văn in rất đẹp cũng đã ra mắt bạn đọc. Dành thì giờ đọc lướt qua mấy nghìn trang sách, nhưng những lời, những đoạn tôi trích ra trong bài viết này thì không có ở trong đó.Thôi thì chăc là ai đó đang sực nghĩ đến những bước đi của lịch sử và sự sòng phẳng của lịch sử. Ngạn ngữ phương tây có câu : “Không có vĩ nhân dưới con mt ca k hu phòng“. Người hầu phòng mẫn cán và thông thạo nghiệp vụ chỉ cần đánh giá khách hàng của anh ta thông qua đẳng cấp căn phòng mà khách thuê và số tiến bo anh ta sẽ nhận được từ hầu bao của vị khách.

Sực nhớ đến “Li” trong “Bơ vơ Đông đo” của Việt Phương :

Nhng người lính tr ngã xung Lng Sơn

                   không liên quan gì đến ngày hôm nay na

Ch còn lo toan nhng ghế nh lên ghế to

                    xe cúp lên ô tô chung cư lên bit th

                              trong cuc đòi bơ sa mà thôi. 

Vậy thì người lính Trần Độ, tướng Trần Độ, nhà văn hóa Trần Độ liệu có “bơ vơ” giữa cuộc đời “đông đo” này không nhỉ?

Tôi tìm thấy trong tâp thơ “Nng” của Việt Phương với đề từ “đi đang đón đi đ đong đy” vừa nhận được hôm qua hai câu :

Mong sao được là người mê mui

Ln xung sâu đm đui gp chân tri

Sài Gòn 8.8.2013

_______________________

Roger Pearson, (2005), Voltaire Almighty, London: Bloombury Publishing. Tr. 66 – 67.

** Maxim Gorky Nhng ý tưởng không hp thi đăng trên nhật báoNovaja Žizn (Đời Mới) trong những năm 1917-1918.  NXB Surkamp               taschenbuch của Đức ấn hành năm 1974.

***Những đoạn có *** đều trích trong “Giai Cấp Mới” của Milovan Dijlas

**** Những đoạn có **** đều trích trong “Chuyện Tướng Độ” của Vũ Bá Cường. NXB Quân Đội Nhâ dân

 

Nguồn: blog Quê Choa

Tưởng Năng Tiến – Chỉ một góc nhìn Duy Nhất

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2013/06/15 at 10:36

“Trước một thông tin, trước một tác phẩm, một bài viết, một cây bút, một góp bàn phản biện, chỉ được phép dùng chính phương cách truyền thông “tham chiến”, chứ không được phép dùng đến cái còng số 8, nòng súng và nhà giam.”, Trương Duy Nhất

Sau quyết định (“Nghỉ Báo Viết Blog”) của Trương Duy Nhất, có độc giả “bình” rằng đây là một “cáo phó” cho báo bổ thời bao cấp. Ông Mặc Lâm thì mô tả hành động này như là một phương cách “thoát khỏi vòng kim cô” của nhà báo nổi tiếng này.

Trương Duy Nhất, nói nào ngay, không phải là người đầu tiên có quyết định ngon lành như thế. Hơn nửa thế kỷ trước, Nguyên Hồng còn tuyên bố một câu (ngon) hơn thế:

“Đủ, đủ lắm rồi. Ông đéo chơi với chúng mày nữa.”

Ấy thế nhưng chả bao lâu sau, vẫn theo lời kể của Tô Hoài:

“Hội Nhà văn Đức tặng Hội Nhà văn Việt Nam 200 cái xe đạp Diamant mới cứng. Nguyên Hồng được điện khẩn mời xuống công tác. Ấy là việc dắt chiếc xe đạp đứng vườn hoa Cửa Nam trò chuyện với người qua đường. Vô tuyến truyền hình của Việt, của Đức quay giới thiệu nhà văn với tặng phẩm hữu nghị quốc tế.

Nguyên Hồng hồi ấy mới để râu, rõ ra phong thái học giả phương Đông. Tuyên truyền thế thôi, cả hội chẳng được sờ vào vành bánh chiếc xe nào. Hai trăm cái xe lăn cả vào kho Bộ Thương nghiệp”. (Tô Hoài. Cát Bụi Chân Ai. Wesminster, CA: Hồng Lĩnh, 1993.)

Tôi nghe nói, Bộ Thương Nghiệp, vào thời điểm vàng son của nó, quản luôn cả đến cây kim và sợi chỉ nữa cơ. Nhờ thế, nhà nước cột chặt được tất cả mọi người, không xót một ai. Muốn “đéo chơi” (với chúng nó) nữa cũng chả phải là chuyện dễ dàng gì.

Cái thời hoàng kim (thổ tả) đó, của chúng nó, may quá, đã qua. Bây giờ, cả ông hai ông Hữu Thỉnh và Đinh Thế Huynh dù có tam cố thảo lư, và khiêng đủ “200 chiếc xe đạp Diamont mới cứng” đến tận nhà (chắc) cũng không cách chi thuyết phục được Trương Duy Nhất trở lại cái “Hợp Tác Xã Tư Tưởng” của nhà nước nữa.

Nhất đã đi rồi.

“Hợp Tác Xã Tư Tưởng” là chữ dùng (riêng) của Trương Duy Nhất để mô tả những sinh hoạt có liên quan đến sách báo thời bao cấp. Cái thời mà blogger Đào Tuấn đặt tên, một cách (vô cùng) lãng mạn, là “Thời Đại Buông Rèm.” Tôi vốn sính Tây nên gọi cái thứ của nợ này là một loại ghetto, dành cho những người cầm viết, ở Việt Nam.

Trong Thế Chiến Thứ II, ghettos được Đức Quốc Xã tạo nên (ở nhiều thành phố Đông Âu) để làm nơi tập trung người Do Thái. Với thời gian, hạn từ ghetto được phổ biến theo một nghĩa rộng rãi hơn – để chỉ những nơi biệt cư, thường là nghèo nàn và chật hẹp, của một nhóm người (nào đó) trong lòng phố thị:Black Ghetto, Mexican Ghetto, Chinese Ghetto, Student Ghetto, Gay Ghetto…

 

Nguồn ảnh: http://www.whutupdoe.

Từ hơn nửa thế kỷ qua, nhà đương cuộc Hà Nội cũng thiết lập một loại ghetto bẩn chật (tương tự) để làm nơi quần tụ cho những người cầm viết. Kẻ nào lỡ bước qua (hay bị đẩy ra) khỏi lằn ranh của cái ghetto văn hoá này là sẽ bị rơi ngay vào “bước đường cùng” – theo như (nguyên văn) lời của Bùi Ngọc Tấn:

“Có một ý kiến (hay chỉ thị) không thành văn nhưng mạnh hơn văn bản mà tất cả các báo, các nhà xuất bản đều thực hiện rất triệt để và nghiêm chỉnh là không in bài của Mặc Lân, Lê Bầu. Nếu hạn hữu có in cũng không được ký tên hai người… không được in đã hẳn, nhuận bút cũng không có nốt.

Túng thiếu. Mà phải có tiền. Phải sống. Đang loay hoay với kế mưu sinh thì Dương Tường đến. Nào ai ngờ được chính anh chàng lơ ngơ này lại là người giải quyết cho Mặc Lân vấn đề cực kì khó khăn ấy: Đi bán máu…

Lân mừng như người chết đuối vớ được cọc… Tiền tính theo cc còn tem phiếu thì đồng loạt. Mỗi người được lĩnh tem 2 cân đường, 4 cân đậu phụ, 2 kí thịt, 2 hộp sữa. Thế là mất đi một ít màu nhưng túi nằng nặng tiền và tem phiếu. Cho nên những ngày đi bán máu rất vui…

Bán máu êm ả là thế mà nhiều lúc vẫn giật mình. Ví như đang ngồi nhìn cả vào người y tá chờ gọi tên mình thì người ấy bỗng bật ra những cái tên bất ngờ nhất:

Chính Yên!

Phan Kế Bảo!

…..

Phương Nam!

Toàn những người quen. Toàn những trí thức. Ngượng nghịu nhìn nhau. Rồi cũng quen dần. Lương thiện thì rõ ràng là lương thiện rồi. Nhưng nó tố cáo bước đường cùng.” (Bùi Ngọc Tấn. “Thời gian gấp ruổi“. Viết về bè bạn. Virginia: Tiếng Quê Hương, 2006. 65 – 67)

Và đến “bước đường cùng” thì mới thấm thía hương vị của một tô phở, cho dù là phở quốc doanh. Nó có thể làm cho khách qua đường phải ứa nước miếng, và (đôi khi)… nước mắt:

“Ngày ấy từ quê ra đèo nhau qua hiệu phở, ngửi mùi thơm ngào ngạt, quyến rũ, hai vợ chồng cùng thấy đói, thấy thèm và bảo nhau vào ăn phở. Nhưng khi lục túi chỉ còn ba trăm. Đúng một bát phở chín. Không hơn. Ai ăn? Bà bảo ông ăn vì trông ông gầy quá. Ông bảo bà ăn. Bà bảo thế thì không ai ăn cả. Cùng về. Nhưng ông biết bà đã nhịn thèm nhịn nhạt, nhường chồng con bao nhiêu năm rồi. Ông quát lên khe khẽ, bắt bà phải ăn. Bà vâng lời ông. Ông còn dặn bà: Nửa bát đầu cứ thế ăn, nửa bát sau hãy cho chanh ớt. Như vậy em được ăn hai thứ phở.” (Bùi Ngọc Tấn. Vũ trụ không cùng. Fall Church,Virginia: Tiếng Quê Hương, 2007).

 

Tranh: Babui

Ở trong vòng ghetto, tuy bẩn chật nhưng được cái an toàn. Nó an toàn đến độ khiến không ít kẻ sinh tật múa gậy vườn hoang – theo như lời than phiền của tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, về một cây viết và một tờ báo tăm tiếng (và tai tiếng) nhất hiện nay:

“Vì sao Nguyễn Như Phong và báo An Ninh Thế Giới dám tự tung tự tác, ngang nhiên hoành hành, đổi trắng thay đen, ngậm máu phun người như vậy? “

An Ninh Thế Giới không phải là tờ báo duy nhất chuyên ngậm máu (hay ngậm cứt) phun người như thế. Ngày 31 tháng 10 năm 2009, qua một bài báo (“Bán dâu – Hủ tục man rợ vẫn hoành hành”) tờ Tiền Phong cũng đã ngang hiên xỉ nhục người dân ở huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh, về điều mà họ mô tả là “tập tục vô luân” nơi địa phương này: ”Thích thì bỏ tiền cưới vợ, khi ‘bực mình’ thì rao bán cả vợ cả con, bố mẹ chồng cũng có quyền bán con dâu và cháu nội…”

Một tuần sau, cũng báo Tiền Phong, số ra ngày 8 tháng 11, đăng lời “xin lỗi nhân dân và chính quyền xã Phong Dụ cùng bạn đọc…” vì “tác giả bài báo đã xào xáo và không hiểu biết gì về tập tục và đời sống bà con đồng bào dân tộc, thêm thắt, thổi phồng sự việc…” 

Xin lỗi quấy quá, cho có lệ vậy thôi, chứ “đổi trắng thay đen” hay “thêm thắt, thổi phồng sự việc” để phỉ báng thiên hạ – đối với những người cầm viết trong ghetto Việt Nam – chỉ là chuyện nhỏ, không đáng để họ phải bận tâm. Họ còn được dung túng để thay mặt cho cả ngành tư pháp của xứ sở này kết án hết người này, đến người nọ về tội danh này hay tội danh khác nữa cơ.

Qua một cuộc phỏng vấn, do Lê Thị Thái Hoà thực hiện, đọc được ở Thanh Niên Online vào ngày 30 tháng 4 năm 2008, nhà văn Trần Đăng Khoa cho biết:

“Tôi nói thật, chưa bao giờ tôi viết có xúc cảm hết. Thời trẻ con cũng thế và sau này cũng vậy. Thấy cần viết là tôi viết. Họ đặt ký tôi viết về người này người kia thì tôi viết. Thế là có tập Chân dung và Đối thoại đấy”.

Thế … đấy” nhưng tập Chân Dung Và Đối Thoại vẫn được tái bản đều đều. Lý do: ghetto chữ nghĩa ở VN là một loại công ty độc quyền, không có đối thủ, miễn có cạnh tranh, và thường kín như bưng. Bởi vậy, khi Trần Đăng Khoa hé mở cho chút xíu ánh sáng (sự thật) soi rọi vào một vài mảng tối thui ở đất nước này là tác phẩm của ông liền được đón chào nhiệt liệt.

Dù thế, chỉ hơn một năm sau, qua một cuộc phỏng vấn khác – đọc được vào hôm 13 tháng 7 năm 2009, do Hồng Thanh Quang thực hiện – Trần Đăng Khoa đã nói khác ngay. Ông không đề cập đến chuyện “viết không cần cảm xúc” hay “viết theo đơn đặt” nữa. Thay vào đó, ông nêu lên“thiên chức của nhà văn” bằng những lời lẽ hết sức trang trọng và cảm động:

“Bởi vì ở Phương Đông cũng như ở Việt Nam, văn chương đích thực, phải tải Đạo, như cụ Đồ Chiểu nói: Chở bao nhiêu Đạo, thuyền không khẳm. Vì thế, trong con mắt của xã hội, nhà văn là cao quí, là đại diện cho giá trị đạo đức và văn hoá xã hội.”

Cảm ơn Trần Đăng Khoa, và cảm ơn Trời. Thế thời, rõ ràng, đã đổi. Và đổi nhanh ngoài sức tưởng tượng của tất cả mọi người. Mới bữa nào người dân Việt còn thi thoảng uống cà phê chui, nay thì họ ngồi đầy những tiệm cà phê internet.

Cái phương tiện truyền thông (tân kỳ) này đã làm cho quả địa cầu nhỏ lại. Nhân loại nhích lại gần nhau hơn. Việt Nam không còn là một nơi biệt cư, dành riêng cho một dân tộc hoàn toàn mù thông tin, như trước nữa. Bây giờ mà vẫn cứ “viết theo đơn đặt hàng” thì rách việc như không. Và điều này thì Trương Duy Nhất biết rõ hơn rất nhiều người.

Cuối bài “Viện Sĩ Tự Sướng” (viết ngày 4 tháng 2 năm 2011) ông cho biết: “Tôi post bài này lên lúc 14 giờ 57, xong đi một vòng chúc Tết. Chưa đầy 2 tiếng sau về mở lại thì thấy báo Nhân Dân đã tháo bài này xuống khỏi trang Nhân Dân điện tử.”

Trước đó không lâu, báo Pháp Luật cũng bị một tai nạn tương tự vì bài báo “Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng Xuất Sắc Nhất Châu Á” của ông hay bà Phượng Lê nào đó. Nó cũng được “tháo xuống” tức thì.

Hệ thống truyền thông quốc doanh, rõ ràng, không còn là nơi để có thể múa gậy vườn hoang (như xưa) nữa. Dù nấp dưới bút danh nào, và trong ngõ ngách nào chăng nữa, hễ cứ nói bậy hay nói láo là bị chúng “vả” vào mồm – khiến mặt mũi sưng vù – ngay tức khắc.

Cái ghetto chữ nghĩa Việt Nam bây giờ, ví von mà nói, là một con thuyền lủng. Nó sắp đắm đến nơi. Bởi thế, khi Trương Duy Nhất tuyên bố “bỏ thuyền” thì ai cũng lấy làm mừng. Đây là một tin vui. Một người ngay thoát nạn!

Nhất đã đi rồi!

Tưởng là đi đâu, ai dè ổng đi… vô hộp, theo như tin loan của Thanh Niên On Line, đọc được vào hôm 26 tháng 5 năm 2013:

“Bộ Công an vừa tiến hành bắt giữ ông Trương Duy Nhất (49 tuổi, ngụ tại TP.Đà Nẵng) về hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước Việt Nam, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân theo điều 258, Bộ luật Hình sự.”

Nguyên Hồng, rõ ràng, vẫn may mắn hơn Trương Duy Nhất. Thời của ông nhà văn ở miền Bắc Việt Nam ngày trước – nói nào ngay – cửa tù không mở rộng (hết cỡ) như thời của ông nhà báo hôm nay, trên toàn lãnh thổ. Bởi vậy, nhiều người cầm bút ở Việt Nam đã chọn cuộc sống trong ghetto (được lúc nào hay lúc đó) thay vì ở trong tù. Cái trước, khách quan mà xét, vẫn rộng rãi thoải mái hơn cái sau nhiều lắm. Thiệt đúng là một xứ sở chỉ có một góc nhìn duy nhất.!

Nguồn: blog Tưởng Năng Tiến

Nguyễn Hưng Quốc – Lòng tin và sự xấu hổ

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2013/06/14 at 09:37

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đọc diễn văn trong phiên họp khai mạc cuộc họp Shangri-La bàn về an ninh khu vực Đông Nam Á, ngày 31/5/2013.

 

Nhân nhắc đến khái niệm lòng tin chiến lược trong bài nói chuyện của ông Nguyễn Tấn Dũng, chúng ta thử bàn về chuyện lòng tin trong chính trị nói chung. Nói đến lòng tin, ở đây tôi chỉ muốn tập trung vào sự tin cậy (trust, chứ không phải faith hay belief) và chỉ giới hạn trong phạm vi chính trị đối nội, trong nội bộ một quốc gia.

Trước hết, hầu như ai cũng biết sự tin cậy là một trong những yếu tố quan trọng nhất để mọi người có thể sinh hoạt chung với nhau trong xã hội, từ phạm vi nhỏ và riêng tư nhất là gia đình và bạn bè đến những phạm vi lớn hơn như các cơ sở làm ăn buôn bán hoặc các đoàn thể và cuối cùng, sinh hoạt chính trị trong cả nước. Nền tảng của cái gọi là đạo đức công dân, thật ra, là vấn đề tin cậy: mình tin người khác và làm cho người khác tin mình bằng cách, trước hết, tự mình làm cho mình đáng tin cậy. Nền tảng của dân chủ, nghĩ cho cùng, cũng là sự tin cậy: tin cậy vào thiện chí của người khác và vào quyết định của đa số (biểu hiện cụ thể nhất là qua các lá phiếu).

Trong chính trị đối nội, lòng tin có ba loại: tin vào các nhà lãnh đạo, tin vào các tổ chức công quyền và tin vào cơ chế.

Trong các tổ chức công quyền, nổi bật nhất là lập pháp (tập trung vào Quốc hội – ở một số nước, có hai hình thức chính Thượng viện và Hạ viện), hành pháp (tập trung vào phủ Tổng thống và/hoặc văn phòng Thủ tướng) và tư pháp (qua hình ảnh của toà án cũng như công an). Ranh giới giữa lòng tin vào các nhà lãnh đạo và các tổ chức công quyền không hoàn toàn rạch ròi: Ở các cơ quan hành pháp, người ta có khuynh hướng nhìn vào người lãnh đạo cao nhất (tổng thống hoặc/và thủ tướng); còn ở các cơ quan khác, từ lập pháp đến tư pháp, vai trò tập thể nổi bật hơn vai trò của cá nhân, do đó, người ta có thói quen nhìn vào cả cơ quan hơn hơn là từng người cụ thể, ngay cả là người lãnh đạo cao nhất.

Đối với các nhà lãnh đạo, lòng tin cũng có nhiều loại: Một, tin vào cá tính và đạo đức của họ; và hai, tin vào lý tưởng cũng như các chính sách mà họ theo đuổi. Trong hai loại lòng tin ấy, cá tính của người lãnh đạo là yếu tố quan trọng đầu tiên, có vai trò thu hút quần chúng nhất. Không có cá tính mạnh và không có sức cuốn hút quần chúng, không ai có thể trở thành lãnh tụ được, nhất là ở các quốc gia dân chủ, nơi để trở thành lãnh tụ, người ta phải trải qua những cuộc tranh cử và bầu cử gay gắt, trước hết, trong nội bộ đảng, và sau đó, trong phạm vi quốc gia. Nhưng yếu tố đầu tiên này tức khắc trở thành thứ yếu khi người ta trở thành lãnh tụ thực sự. Khi trở thành lãnh tụ, yếu tố được quần chúng quan tâm nhất lại là lý tưởng và từ đó, chính sách của họ. Lý tưởng, vốn thường lớn và chung chung, là yếu tố đầu tiên để gây chú ý và sự đồng cảm. Tuy nhiên, yếu tố chính để quần chúng đánh giá giới lãnh đạo chính là đường lối và chính sách, tức những khía cạnh nhằm hiện thực hoá lý tưởng mà họ tuyên truyền. Đối với đường lối và chính sách, ba điều kiện căn bản nhất là: một, rõ ràng; hai, nhất quán; và ba, hiệu quả. Xuyên suốt từ đầu đến cuối, vấn đề đạo đức của nhà lãnh đạo luôn luôn là một vấn đề quan trọng. Có điều, ở đây là đạo đức công dân chứ không phải là đạo đức cá nhân. Những cái gọi là hiền lành, khiêm tốn, hòa nhã, dễ thương, mau nước mắt, v.v. đều thuộc loại đạo đức cá nhân. Là đạo đức cá nhân, chúng chỉ có ý nghĩa trong phạm vi liên-cá nhân, giữa người này và người khác, trong một không gian có giới hạn. Điều người ta quan tâm nhất ở nhà lãnh đạo là thứ đạo đức công dân, trong đó, nổi bật nhất là sự trong sạch, tinh thần trách nhiệm và tôn trọng pháp luật, bởi vậy, ba cái xấu thường dễ bị theo dõi và lên án nhất chính là tham nhũng, vô trách nhiệm và lạm dụng quyền hành.

Đối với các tổ chức, nội dung của cái gọi là lòng tin chỉ tập trung chủ yếu vào khía cạnh thực hành với hai nội dung chính: năng lực và tính hiệu quả. Tiêu chí để đánh giá việc thực hành là hiến pháp và luật pháp. Nói đến năng lực và tính hiệu quả của các cơ quan, người ta phải đối chiếu việc thực hành của các cơ quan ấy so với các quy định ghi trong hiến pháp và luật pháp. Nếu nhiệm vụ chính của công an, chẳng hạn, là bảo đảm an ninh và an toàn trong xã hội thì năng lực và tính hiệu quả của công an cần phải được đo lường và đánh giá trên mức độ tội phạm các loại trong xã hội.

Đối với cơ chế, lòng tin chủ yếu tập trung vào tính lý tưởng, tính hiệu quả và sự bền vững của nó.

Qua ba loại lòng tin ở trên, chúng ta có thể nhận thấy sự khác biệt giữa các xã hội dân chủ và các xã hội phi dân chủ.

Ở các xã hội dân chủ, từ Mỹ đến Úc và toàn bộ các quốc gia Tây Âu và Bắc Âu, dân chúng có thể mất lòng tin vào giới lãnh đạo hay các cơ quan công quyền, nhưng họ luôn luôn tin tưởng vào cơ chế. Cơ chế dân chủ mà họ thiết lập và hoàn thiện suốt cả trăm năm hoặc lâu hơn nữa không những có tính lý tưởng cao, phù hợp với những bảng giá trị phổ quát của nhân lại (tôn trọng tự do cá nhân và sự bình đẳng giữa mọi người cũng như tinh thần thượng tôn pháp luật) mà còn có tính hiệu quả trong việc vận hành kinh tế, an sinh xã hội và đặc biệt, quản trị đất nước. Hơn nữa, mọi người còn tin tưởng vào sự bền vững của nó: Một mặt, giới lãnh đạo hay các cơ quan công quyền có thể thay đổi, nhưng cơ chế dân chủ thì không; mặt khác, chính cơ chế ấy bảo đảm mọi sự thay đổi quyền lực đều diễn ra một cách êm thắm, không gây nên bất cứ một xáo trộn nào trong xã hội. Chính vì vậy, ở hầu hết các nước dân chủ, tâm lý quần chúng thường khá an tâm sau các cuộc bầu cử. Trong bầu cử, người ta có thể tranh đấu với nhau một cách dữ dội nhưng bầu cử xong, tuy có kẻ thắng người thua và tuy sẽ có những chính sách khác nhau, mọi người vẫn biết rõ một điều: tự do, dân chủ, nhân quyền và pháp chế vẫn được tôn trọng và duy trì. Dưới chính phủ mới, một số người có thể bị cắt bớt một phần trong các trợ cấp thất nghiệp hay trợ cấp xã hội, chẳng hạn, nhưng chắc chắn, sẽ không có ai bị bỏ đói, bị tước đoạt đất đai hay bị bắt bỏ tù một cách vô lý vì một số phát ngôn hay vì tham gia một cuộc biểu tình nào đó.

Cũng chính vì tin cậy vào cơ chế nên ở các quốc gia Tây phương, hầu như không ai nghĩ đến chuyện gây bạo loạn để lật đổ chính quyền. Mọi sự thay đổi, nếu có, đều diễn ra bên trong cơ chế, với các luật chơi gắn liền với cơ chế.

Ở các nước phi dân chủ, ngược lại, điều người ta ít tin nhất, lại là cơ chế. Thoạt đầu, chế độ phi dân chủ nào cũng khuếch đại tính lý tưởng của nó để thu phục nhân tâm. Nhiều người sẵn sàng tin và có người sẵn sàng hy sinh tính mạng để thực hiện các lý tưởng ấy. Nhưng cái thiếu nhất của các chế độ độc tài là tính hiệu quả. Khái niệm hiệu quả ở đây không chỉ giới hạn trong phạm vi kinh tế mà còn trải rộng ra mọi phạm vi khác, từ luật pháp đến xã hội, văn hóa, chính trị và nhân quyền. Cứ nói mãi đến tự do nhưng đi đâu cũng đối đầu với công an, lúc nào cũng có nguy cơ bị công an còng tay hay đạp vào mặt; cứ nói mãi đến dân chủ, nhưng tranh cử thì hạn chế, bầu cử thì gian lận, bộ máy công quyền đều được giao phó cho những kẻ bất tài nhưng có nhiều “quan hệ”… dần dần người ta sẽ mất hết niềm tin. Chính vì có sự trái ngược giữa tính lý tưởng và tính hiệu quả như vậy, mọi chế độ độc tài đều thiếu hẳn tính ổn định và bền vững. Kiểu tuyên truyền ưu tiên cho ổn định ở các nước độc tài, trong đó có Việt Nam, là một lối ngụy biện đầy nghịch lý, bởi, tự bản chất, đã độc tài thì không thể ổn định, và vì không ổn định, nó cũng không thể bền vững.

Đó chính là tình trạng ở Việt Nam hiện nay.

Lần lượt, nhiều người, ngay cả những kẻ từng cúc cung phục vụ chế độ gần như cả đời, đều nhận ra một điểm: tất cả các khuyết điểm ở Việt Nam đều bắt rễ từ một cái lỗi chính, có người gọi là “lỗi hệ thống”. Lỗi hệ thống tức là lỗi ở cơ chế. Lỗi ở cơ chế chủ yếu là lỗi ở ba khía cạnh: một, phương thức lên cầm quyền (thường, một cách chính đáng, phải gắn liền với các cuộc bầu cử tự do); hai, ở phương thức phân quyền (yêu cầu tối thiểu là tính chất độc lập của tư pháp, và đằng sau nó, lực lượng công an); và ba, phương thức kiểm soát quyền lực (chỉ đáng tin cậy khi, thứ nhất, người kiểm soát độc lập với người bị/được kiểm soát; và thứ hai, từ nhiều nguồn khác nhau. Ở Tây phương, cơ cấu kiểm soát quyền lực thường chằng chịt nhiều tầng và từ nhiều góc độ khác nhau, từ tư pháp đến truyền thông, các tổ chức chính trị đối lập, các tổ chức phi chính phủ và, bàng bạc khắp nơi, dân chúng).

Lâu nay, dường như chính quyền Việt Nam cảm thấy tuyệt vọng trong việc củng cố lòng tin của dân chúng vào cơ chế nên bộ máy tuyên truyền của họ thường hiếm khi đề cập đến cơ chế, vốn gắn liền với chế độ. Họ chỉ sử dụng biện pháp tiêu cực là cấm đoán việc phê phán cơ chế hoặc lâu lâu vẽ vời vài chuyện nhăng nhít (trong đó, mới nhất là việc bỏ phiếu tín nhiệm giới lãnh đạo) để mị dân hoặc lừa dân với ảo tưởng là cơ chế ấy đang trong tiến trình tự hoàn thiện. Nhưng cố gắng xây dựng lòng tin dựa trên lời hứa hẹn là nó đang tự thay đổi và hoàn thiện chỉ là một trò chơi nửa vời của những kẻ đang biết là mình thua cuộc. Nó thiếu hẳn tự tin. Và cũng thiếu lòng tin ở cơ chế.

Trước đây, bộ máy đảng và chính quyền tập trung thật nhiều công sức vào việc gây dựng lòng tin vào các nhà lãnh đạo bằng cách thần thánh hóa, hoặc ít nhất, thần tượng hóa một người nào đó, trước là Hồ Chí Minh, sau là Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp. Nhưng với giới lãnh đạo thuộc các thế hệ sau, các nỗ lức ấy bị biến thành tuyệt vọng ngay cả trước khi họ bắt đầu thực hiện. Lý do chính, tôi nghĩ, là do sự phát triển của truyền thông. Với thế hệ lãnh đạo đầu tiên, việc thần thánh hóa tương đối dễ: dưới mắt dân chúng, ông Hồ Chí Minh, chẳng hạn, lâu lâu mới thoáng qua một lần. Toàn bộ hình ảnh của ông là do các cán bộ tuyên truyền hoặc chính ông vẽ ra. Không ai có thể kiểm tra được cả. Giới lãnh đạo gần đây, đi đâu cũng có các ống kính chĩa vào ghi hình và ghi âm, rất dễ bộc lộ những sự hớ hênh trong cả trí tuệ lẫn nhân cách. Huống gì hầu hết các nhà lãnh đạo gần đây đều thuộc loại kém cỏi. Họ khó đủ sức để giữ được lòng tin của quần chúng.

Dĩ nhiên, nói đến lòng tin của dân chúng đối với lãnh đạo Việt Nam, chúng ta khó tìm ra một bằng chứng cụ thể nào để phân tích. Bầu cử thì gian lận; các cuộc điều tra dư luận thì bị cấm đoán, mọi cố gắng tìm kiếm số liệu đều trở thành vô vọng. Nhưng ít nhất cũng có một số người biết chắc chắn là dân chúng không tin giới lãnh đạo: Đó chính là giới lãnh đạo hiện nay. Biết, nên họ sợ và tìm mọi cách để tránh né việc đối đầu với việc bày tỏ cách đánh giá của dân chúng. Họ biết chắc chắn một điều: nếu để dân chúng tự do bộc lộ lòng tin, họ sẽ chỉ đạt được số âm.

Như vậy, ở đây, chúng ta lại thấy một khía cạnh khác: Ở Việt Nam, không phải chỉ có việc dân chúng mất lòng tin vào cơ chế, cơ quan công quyền và giới lãnh đạo mà còn có hiện tượng bản thân giới lãnh đạo cũng không tin vào cơ chế và đặc biệt, vào quần chúng. Họ không bao giờ dám để dân chúng phát biểu một cách tự do và trung thực. Họ cũng không dám để dân chúng được tự do lựa chọn. Đây đó, họ giải thích lý do tại sao Việt Nam không thể đa đảng: đa đảng sẽ gây nên hỗn loạn. Tại sao đa đảng, ở các nơi khác không gây nên hỗn loạn mà ở Việt Nam thì có? Họ trả lời: Tại dân trí Việt Nam còn thấp! Nói thế tức là không tin vào trí tuệ, vào phán đoán, và cuối cùng, sự lựa chọn của dân chúng.

Trên diễn đàn quốc tế, giới lãnh đạo Việt Nam nói đến lòng tin, nhưng một trong những bi kịch lớn nhất ở Việt Nam là không ai tin ai cả. Trong quan hệ xã hội, người ta không tin nhau. Trong quan hệ chính trị, dân chúng không tin nhà cầm quyền và nhà cầm quyền, ngược lại, cũng không tin dân chúng. Khi lòng tin bị đánh mất, yếu tố thống trị mọi quan hệ xã hội và chính trị chỉ còn là sự giả dối.

Giả dối thì ở đâu cũng có, nhưng ở Việt Nam, sự giả dối có hai điểm đặc biệt: Thứ nhất, nó không phải chỉ hiện diện, thậm chí, không phải chỉ phổ biến mà còn thống trị mọi sinh hoạt và mọi loại quan hệ; và thứ hai, chính vì tính chất thống trị ấy, nó trở thành một điều bình thường, không còn làm cho ai xấu hổ cả.

Không có một xã hội nào có thể lành mạnh nếu thiếu sự tin cậy và không có một nền đạo đức nào có thể đứng vững nếu thiếu sự xấu hổ.

Tiếc, Việt Nam thiếu cả hai.

Nguồn: VoA Blog

Người Buôn Gió – Đại Vệ Chí Dị 12/6/2013

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2013/06/12 at 12:25

Nước Vệ triều nhà Sản năm thứ 68.

Khi trước Vệ Cường Vương ngồi trên ngôi, tài trí có hạn, việc nước không đảm trách được. Vương để mặc cho Bạo tể tướng lo chính sự. Còn Vương ngày đêm lo ăn chơi, hưởng lạc tìm gái đẹp trong thiên hạ để thỏa mãn thú tính. Việc chính sự duy nhất của Vương là răm rắp một lòng theo ý của Tề Bá Vương.

Nước Vệ thời Cường Vương lý mà nói, chỉ đáng xưng là Vệ Hầu hay Vệ Công. Nhưng kẻ chép sử vì kiêu hãnh thái quá tính dân tộc, cứ chép thành Vệ Vương cho thỏa lòng người Vệ.

Vệ Kính Vương lên ngôi, thấy quyền lực nhà Sản trong tay tể tướng. Bụng lấy làm uất lắm. Kính Vương xuất thân là nho sĩ, bụng chứa nhiều chữ nghĩa. Mới quyết lấy sở trường của mình để đoạt lại quyền lực trong tay tể tướng. Bởi thế Vương quy định những điều Sản Viên không được làm, Vương cho mở rộng phê bình kiểm điểm từ người lính đến đại thần nghị sự. Mũi tên chính nhắm vào Bạo tể tướng.

Bạo nắm triều chính bấy lâu,tiền bạc và thủ hạ đông vô kể. Qua mấy đợt kiểm chính của nhà Sản, Bạo vẫn vững như bàn thạch.

Vương quyết mạnh tay hơn, lập những ban chuyên ngành trực thuộc quyền phủ Sản. Vương kỳ công chọn dũng tướng ở miền Trung về đứng đầu ban. Tướng ấy tướng mạo khôi vĩ, oai hùng, tiếng nói sang sảng. Một mình trấn ải miền Trung dựng cơ đồ khiến bốn cõi phải khâm phục. Tướng ấy ra triều nhận ấn, múa đủ 8 thứ binh khí giữa sân triều, rồi giương giương tự đắc giữa tiếng tán thưởng của quần thần. Triều thần vỗ tay không ngớt rằng:

– Võ giỏi quá, múa đao giỏi quá, tài quá!

Tướng ấy hứng khởi dộng đại đao xuống đất hét lớn đầy khí thế:

– Vâng mệnh vương, chém sạch bọn lũng đoạn triều đình.

Cả triều đình lại ồ lên tán thưởng, tiếng vỗ tay như pháo nổ giữa trời quang. Vang ra tận ngoài thành. Khiến dân chúng cũng nức lòng theo.

Bạo tể tướng thấy vậy chỉ nhếch mép cười phất tay áo về phủ. Đám lâu la rón rén đi theo, trong bụng còn thấp thỏm sợ hãi màn ra oai của tướng miền Trung. Có đứa nén sợ lấy hơi hỏi thăm ý chủ. Bạo cười nói:

– Các người quên ta chính chiến từ thưở mới còn để chỏm, sở trường là du kích quân, chuyên đánh lén dưới thắt lưng địch sao?

Nhờ câu nói ấy, thủ hạ tin tưởng mà không tẩu tán tài sản nữa, lúc đó giá vàng cũng chững lại một phần.

Lại nói về tướng miền Trung, đương vểnh râu ngồi quán dịch ở kinh thành chờ nhận quân, nhận ấn tín thì nghe phong phanh quê nhà có biến. Bèn lên ngựa vào thành tìm Vệ Kính Vương tâu chuyện, nào ngờ lúc đêm tối đi qua cửa phía Nam bị một bọn đạo tặc giăng dây, móc câu liêm giật cho ngã lộn cổ. Chúng xúm lại đập nhầu cho tướng ấy môt trận thừa sống thiếu chết rồi bỏ đi, tổn thất quy thành tiền đến ba nghìn tỷ Vệ kim. Tướng ấy lê vào thành, mình còn thương tích, Vệ Kính Vương thấy vậy lắc đầu biết là không thể trì hoãn được lâu. Hôm sau Vương gấp rút cho họp đại hội Sản Ủy để đưa gấp tướng ấy vào hàng đại thần nghị sự để nắm thế chủ động tấn công.

Thông báo Vương đưa ra chưa ráo mực, Vương đương soạn kế sách trong ngày đại hội, bỗng đâu có tiếng xôn xao ngoài phủ. Vừa ngó đầu ra xem thì bị một mũi tên bắn thấu xương sườn, rút tên ra thấy trên mũi tên khắc chữ Tra. Bầy tôi vực Vương vào trong, canh phòng cẩn mật, mời thấy thuốc đến chữa trị tổn hại đến bốn nghìn tỷ Vệ kim.

Đến lúc đại hội Sản Ủy, Vương cùng bầy tôi yêu ra trận, thương tích chưa lành. Đành phải huơ vài đường đao lấy lệ rồi thúc thủ nhìn trận bên kia, Tể tướng uy vũ điều quân tung hoành đánh phá thắng lợi giòn giã. Trận đại chiến quan trọng sinh tử ấy tể tướng toàn thắng chiếm được hai vị trí đại thần nghị sự. Vương trắng tay lủi thủi dắt binh mã ra về, ốm luôn một trận dài cả tháng. Tướng miền Trung thành bơ vơ ngoài quán dịch, đi không được, ở không xong.

Vương gượng dậy, gọi mấy kẻ tâm phúc là đại thần nghị sự, vốn toàn quan văn đến mật nghị. Các đại thần thưa:

– Tên ấy (ám chỉ Bạo) là kẻ vũ phu, không dùng trận mà đánh hắn được. Phải dùng binh thư mà đánh. Trước đánh hắn về uy tín để hắn bị cô lập dần, sau đó dùng pháp luật mà trị mới xong. Giờ trước hết hay sửa pháp trị nước Vệ để khẳng định quyền lực trong nước tất cả thuộc về nhà Sản, duy nhất nhà Sản có quyền quyết định tất thảy mọi việc mà thôi. Phải chặn trước lỡ sau này tên Bạo lập nhà X tiếm ngôi.

Vương nói:

– Nếu vậy thì ban hành sửa pháp trị, nhưng trước tiên cứ cho dân chúng góp ý thoải mái, để đánh lừa tên ấy. Sau cuối cùng chốt lại cho người mình giả dạng góp ý nhất quyết khẳng định quyền lực thuộc nhà Sản là điều tất yếu của nhà Phật, của đạo lý dân tộc uống nước nhớ nguồn, chú trọng khoét sâu vào tâm lý vị tình của nhân dân, tiếp tới bước nữa là mạnh mẽ khẳng định duy nhất nhà Sản có quyền ấy mà thôi. Chú ý phải giữ từ duy nhất.

Lệnh lấy ý kiến sửa đổi pháp trị đưa ra. Nhà Sản mị dân phao giữa chợ rằng dân tình đóng góp thoải mái. Nhân sĩ, trí thức, lãnh đạo tôn giáo khắp nước đưa ý kiến tới tấp, có ý kiến cho rẳng cần bỏ luôn cả cái điều nhà Sản giữ quyền lãnh đạo. Vương hoảng quá bèn trở mặt lệnh rằng những ai mà nói bỏ điều nhà Sản lãnh đạo là phản nghịch. Đồng thời dư luận viên giả dạng thay mặt nhân dân đi khắp nước ôm mặt khóc thảm thiết rống lên rằng – ôi cha mẹ làng nước ơi, nhà Sản mang cho dân tộc ta sự sống, mang lại ấm no, mang lại hòa bình, Sản là cha mẹ, là tổ tiên, ông bà. Bỏ Sản khác nào bỏ tổ tiên ông bà huuuu…

Có kẻ khóc chán chê xong thấy chưa đủ,quay ra giả bộ phẫn uất nằm lăn ra đất vật vã, đập chân đập tay liên hồi đòi phải xử lý những ai đòi không chịu ghi trong pháp trị là Sản là lực lượng duy nhất lãnh đạo. Quân của nhà Sản đi khắp nơi diễn màn kịch ấy, tốn kém không biết bao nhiêu mà kể. Không rõ là ngân sách làm chuyện đó lấy ở đâu ra, trong khi mọi nguồn ngân khố tể tướng nắm cả. Có tin đồn chuyện sửa pháp trị ngân sách do bên ngoài trợ cấp. Điều này đến nay vẫn chưa ai rõ.

Thấy việc lấy ý kiến sửa đổi pháp trị chưa đâu vào đâu. Vương liên kết với các nghị để lấy xét tư cách uy tín của các quan bên phủ Bạo. Bầy tôi của tướng miền Trung là một văn sĩ, e sợ Bạo khống chế các nghị viên, mới lập ra bảng trưng cầu tín nhiệm cho nhân dân đóng góp. Thủ hạ của Bạo bắt ngay về kinh, tống vào ngục thất tức thời. Đó cũng là câu cảnh báo chung cho Vệ Kính Vương, chưa chắc có cái gì là Duy Nhất với nhà Sản.

Cuộc xét uy tín các quan lại, Bạo và thuộc hạ thân cận bị xếp hạng bét. Cũng như trước đó ở đại hội các đại thần nghị chính Bạo cũng bị đánh giá cần phải kỷ luật. Thế nhưng Bạo còn mạnh lắm, chỉ bị ảnh hưởng uy tín chứ vây cánh và bản thân chưa hề bị sứt mẻ.

Nhưng nhà Sản xưa nay triệt ai nếu không mạnh để thẳng tay thì đều chọn cách trước là giảm danh dự, uy tín để cô lập với nhân dân. Rồi mới ra tay hành động. Trước kia Bạo dùng chiêu này với Cù Tiên Sinh, nay nhà Sản lại dùng chiêu đó để hại Bạo. Chung quy cũng toàn một lò sinh ra duộc mới giống nhau vậy.

Bạo may mắn thoát trận mấy lần, thậm chí còn dành thắng lợi. Nhưng lẽ nào người kiêu dũng như Bạo cứ thủ thế đợi đối thủ hết mở đợt công kích này đến đợt công kích khác. Đối thủ của Bạo chẳng phải là Vệ Kính Vương, bởi không có Vệ Vương này thì lại có Vệ Vương khác.

Kẻ kiêu dũng như Bạo, nắm được quyền như Bạo mấy mươi năm mới có một người. Chắc hẳn Bạo hiểu được cỗ máy nhà Sản vận hành xử kẻ thất thế ra sao hơn ai hết.

Xét theo tướng mạo thì Bạo có bề ngoài giống Câu Tiễn hơn là giống Phù Sai.

Nguon: Người Buôn Gió

Phạm Thị Hoài – Hiệu ứng Trương Duy Nhất

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2013/05/28 at 09:37

Vài tháng trước, một người từng tham gia những hoạt động không được chính quyền Việt Nam ưu ái như biểu tình, kiến nghị, đồng thời là tác giả của một số bài viết thẳng thắn về những đề tài nhạy cảm đăng trên blog cá nhân, chia sẻ với tôi rằng cho đến nay ông vẫn an toàn và sự an toàn đó có ý nghĩa lớn, vì nó giúp những người khác bớt sợ hơn.

Quả thật số người không còn sợ hay đã bớt sợ bộ máy trấn áp của chế độ chưa bao giờ tăng nhanh như trong thập niên vừa qua tại Việt Nam, và một phần quan trọng là do được khích lệ bởi sự an toàn tương đối của cá nhân một số người đi ở hàng đầu. Cho đến Chủ nhật vừa rồi, blogger Trương Duy Nhất thuộc về số ấy. Song việc ông bị bắt khẩn cấp một lần nữa cho thấy: bảo hiểm chính trị ở Việt Nam chỉ đảm bảo một điều duy nhất, đó là: nó không bảo đảm điều gì hết.

Trương Duy Nhất đã chuẩn bị sẵn chỗ dựa lập luận để tránh cho mình khỏi trở thành nạn nhân của bộ máy trấn áp một cách vô ích. Bài trả lời một nhân vật Tom Cat nào đó của ông là tổng kết của những lập luận này, không ai có thể bảo vệ ông xuất sắc hơn. Ông trình bày mình như một tiếng nói độc lập chứ không đối lập, một nhà báo tự do chứ không li khai, một người phát ngôn chính kiến riêng chứ không bất đồng chính kiến, phản biện chứ không phản động, phản đối chứ không chống đối. Ông không treo biển “Kính Đảng, trọng chế độ, yêu Bác Hồ” [i], không trưng hình Đại tướng Võ Nguyên Giáp, không đồng tình với mọi biểu hiện chống cộng cực đoan, không đi biểu tình, chưa bao giờ kí tên vào một bản tuyên bố hay kiến nghị, và bất chấp những tấn công và đe dọa từ nhiều phía vẫn không rời góc nhìn KHÁC của mình. Trong nhiều năm trời, ông đi ở ranh giới giữa an toàn và mạo hiểm mà tỉ lệ có thể là 51 % nghiêng về an toàn.

Một số người có cảm giác rằng thời gian gần đây, tỉ lệ ấy đã đảo ngược, Trương Duy Nhất đã ngày càng đi xa hơn trong quan điểm phê phán chế độ và đó là một trong những lí do khiến ông bị bắt. Tôi cho rằng mọi phỏng đoán đều vô nghĩa, vì không có một biểu giá an toàn nào cố định trong một chế độ công an trị, trừ biểu giá duy nhất là không làm gì hết. Ảo tưởng về những vùng an toàn nào đó, trớ trêu thay, được nuôi dưỡng trên mảnh đất đầy mìn, gài bởi chính sách chia để trị, kết tinh thành thủ pháp điêu luyện nhất của bộ máy an ninh Việt Nam. Người chưa bị đụng tới có thể là một cái thớt hữu ích cho con dao bổ xuống người nằm trên thớt. Hay đơn giản hơn, những người còn đi xa hơn Trương Duy Nhất mà vẫn an toàn chẳng qua là “của để dành”, nói theo cách dân dã của blogger Người Buôn Gió, cho những thao tác khác trong chiếc hộp đen của bộ máy quyền lực mà chúng ta chịu đựng và dung dưỡng.

Quan sát từ những bản án chính trị trong ba năm gần đây (2011, 2012, 2013), tôi nhận thấy hai đặc điểm đáng lưu ý: Thứ nhất, tuyệt đại đa số những người bị kết án đều không phải là đảng viên Đảng Cộng sản [ii]. Thứ hai, tuyệt đại đa số những người bị kết án đều không ở trong biên chế cán bộ, nhân viên, công chức các cơ quan Đảng và nhà nước [iii]. Ông Trương Duy Nhất thỏa mãn cả hai đặc điểm này. Khả năng vụ điều tra ông được đình chỉ như trong trường hợp ông Phạm Chí Dũng, đảng viên, cán bộ Thành ủy TPHCM khi bị bắt, có vẻ như xa vời.

Trở lại với câu chuyện mở đầu bài viết này, vâng, tôi đồng ý rằng người ta bớt sợ khi dựa lưng vào an toàn. Nhưng điều đáng nói hơn là: người ta có thể can đảm lên, khi chứng kiến người khác thách thức mạo hiểm và đường hoàng chấp nhận cái giá của hành động đó. Trương Duy Nhất rất chú trọng đến hiệu ứng thông điệp của các hình ảnh. Ông từng ca ngợi hình ảnh hiên ngang của Cù Huy Hà Vũ, hình ảnh trong trắng, đĩnh đạc của Nguyễn Phương Uyên. Bức hình chụp ông trong ngày bị bắt cho thấy một Trương Duy Nhất khỏe mạnh và tự chủ, không một nét khiếp nhược. Tôi hoàn toàn tin rằng nếu phải đứng trước tòa, ông sẽ là một hình ảnh đẹp và hình ảnh ấy sẽ có ý nghĩa lớn, vì nó gây cảm hứng cho lòng can đảm, cũng như blog Một góc nhìn khác của ông đã góp phần quan trọng để giới blogger Việt Nam bớt e sợ, khi ông còn an toàn.

© 2013 pro&contra


[i] Ngay sau khi Trương Duy Nhất bị bắt, chủ nhân của blog “Kính Đảng, trọng chế độ, yêu Bác Hồ” này, nhà báo kì cựu Đào Tuấn, người có nhiều bài viết nhạy bén và thẳng thắn mà tôi thường xuyên theo dõi, lập tức lên tiếng với bài “Cái còng và khẩu súng không thể chĩa vào Nhất”. Nhưng một ngày sau, bài ấy chỉ còn là mã 404 trên chính trang của chủ blog.

[ii] Riêng ông Vi Đức Hồi từng là giám đốc trường Đảng một huyện ở Lạng Sơn, nhưng đã trở thành thành viên Khối 8406 và bị khai trừ Đảng nhiều năm trước khi bị bắt.

[iii] Ngoại lệ duy nhất là ông Đinh Đăng Định, giáo viên trung học phổ thông ở Đắk Nông.

 

Nguyễn Hưng Quốc – Tôi không chống Cộng

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2013/05/09 at 15:04

Ở cả hai lần bị cấm nhập cảnh vào Việt Nam (11/2005 và 4/2009), tôi đều không nhận được lời giải thích thỏa đáng nào từ chính quyền Việt Nam. Nhưng tôi nghe được phong thanh đâu đó: người ta cho là tôi “chống Cộng”. Mà không phải từ phía chính quyền, một số bạn đọc ở hải ngoại, ngay cả những người có vẻ có cảm tình với tôi cũng thường nói: Tôi “chống Cộng”. Riêng tôi, xin nói một cách thành thực: Tôi không hề chống Cộng.

Viết thế, tôi biết nhiều bạn đọc sẽ ngạc nhiên. Tuy nhiên, trước khi đánh giá (hay chụp mũ), xin đọc tiếp phần giải thích phía dưới.

Tôi nói tôi không chống Cộng vì hai lý do chính:

Thứ nhất, tôi không thích chữ “chống”. “Chống”, trong tiếng Việt, khác với các từ hoặc từ tố được xem là tương đương trong tiếng Anh như “fight”, “against”, “counter-” hay “anti-”, thường gợi lên hai ấn tượng chính: một, gắn liền với tổ chức, và hai, có tính chất bạo động. Tôi không thích cả hai. Với bạo động, tôi tuyệt đối không thích. Với tổ chức, tôi trân trọng và nghĩ nó cần thiết, hơn nữa, một nhu cầu tất yếu trong đời sống xã hội, nhưng tôi lại không thích nằm trong bất cứ một tổ chức nào; thậm chí, tôi cũng chưa từng đi biểu tình hay ký tên vào bất cứ một kiến nghị chung nào (1), dù, trên nguyên tắc, có thể tôi đồng tình và ủng hộ những việc làm ấy. Tôi không làm những việc ấy chỉ vì một lý do đơn giản: Tôi không thích ở trong “đội ngũ”, dù lâu dài hay tạm thời, chính thức hay không chính thức. Vậy thôi. Khác với Chế Lan Viên, tác giả của câu thơ “Khi đứng riêng tây, ta thấy mình xấu hổ”, tôi chỉ thích đứng một mình. Khi phê phán bất cứ điều gì, tôi chỉ đứng từ góc độ một người trí thức; mà trí thức, tự bản chất, nói theo Edward W. Said, là kẻ lưu vong, nghĩa là, nói cách khác, một mình. Viết, tôi chỉ nhân danh chính mình và những gì mình tin là đúng. “Lực lượng” của tôi chỉ có sách vở và kinh nghiệm, kiến thức và lý trí, lương tâm và lương thức. Còn phương tiện, trước, với cây bút; sau, với bàn phím: Ở cả hai nơi, tôi chỉ có chữ. Hết.

Thứ hai, quan trọng hơn, ở thời điểm bây giờ, theo tôi, nói chống Cộng là nói chống cái không có, hay đúng hơn, cái không còn hiện hữu nữa.

Lý do thứ hai này cần được giải thích nhiều hơn:

Cái gọi là “chống Cộng” bao gồm hai nội dung chính: một, chống lại chủ thuyết Cộng sản (chủ yếu là chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa Lenin); và hai, chống lại chế độ Cộng sản. Với cả hai nội dung ấy, trước năm 1975, nói chống Cộng: Được; trước năm 1990, nói chống Cộng: Được. Nhưng sau năm 1991, nói chống Cộng là nói một điều thừa thãi, thậm chí, vô duyên. Và có hại.

Trong việc chống Cộng, trước năm 1991, hai khía cạnh chống chủ thuyết (hoặc ý thức hệ) và chống chế độ (hoặc một guồng máy) là một. Chế độ, vốn cụ thể, gắn liền với hệ thống chính trị, tức là hệ thống quyền lực, là mục tiêu chống đối trước mắt. Nhưng sức mạnh của chế độ Cộng sản không phải chỉ ở đảng viên, cán bộ, quân đội, công an, súng đạn và các nhà tù. Sức mạnh của chế độ Cộng sản còn ở các lý tưởng tự do, bình đẳng cũng như cái thiên đường Cộng sản chủ nghĩa vốn có sức mê hoặc to lớn đối với mọi người, đặc biệt với giới trí thức vốn khao khát những điều cao cả, có tầm nhân loại. Hơn nữa, nó còn nằm ở các ảo tưởng về tính khoa học của chủ nghĩa Cộng sản hay ở cái gọi là tính tất yếu trong quy luật phát triển của lịch sử. Bởi vậy, người ta không thể chống lại chế độ Cộng sản chỉ bằng các phương tiện vật chất. Người ta phải chống lại chế độ Cộng sản ngay cả trong phạm trù tư tưởng, trong lãnh vực nhận thức, nghĩa là bằng các phương tiện tuyên truyền và giáo dục, nhắm thẳng vào những tên tuổi như Marx, Engels, Lenin và Stalin, những người đã chết; hơn nữa, bằng một bảng giá trị khác, cao hơn, hiện hữu ngay trong đời sống xã hội để mọi người có thể nhìn thấy hoặc cảm nhận được, nghĩa là bằng một nỗ lực không ngừng tự do hoá, dân chủ hoá và nhân quyền hoá, như những điều chủ nghĩa tư bản, ở các quốc gia phát triển nhất, từng làm trong suốt thế kỷ 20.

Tuy nhiên, kể từ năm 1991, với sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, Cộng sản, với tư cách một chế độ, hoàn toàn sụp đổ; và cùng với nó, chủ nghĩa Cộng sản, với tư cách một ý thức hệ chính trị, cũng bị phá sản theo. Trật tự này, thật ra, theo một số học giả, cũng có thể đảo ngược hẳn lại: Vì sự phá sản của ý thức hệ Cộng sản, chế độ Cộng sản, với tư cách một bộ máy chính quyền, đã sụp đổ. Nhưng dù mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả có thể thay đổi, thực chất của vấn đề vẫn là một: phá sản và sụp đổ.

Về phương diện lý thuyết, hầu như ai cũng thấy chủ nghĩa Cộng sản sai. Những người thiên tả, ít nhiều lưu luyến với chủ nghĩa Cộng sản, cố vớt vát khi cho cái sai ấy không xuất phát từ Karl Marx mà từ Lenin, đặc biệt từ Stalin và Mao Trạch Đông; nghĩa là, nó không sai hẳn, nhưng một, nó không được cập nhật để theo kịp những thay đổi và tiến bộ của chủ nghĩa tư bản; và hai, nó chỉ sai trong cách ứng dụng và vận dụng lý thuyết Marx vào thực tế. Tuy nhiên, nói theo Richard Pipes, trong cuốn Communism, a History (2), chủ nghĩa Cộng sản, ngay trong tư tưởng của Karl Marx, không phải là một ý tưởng hay nhưng bị thực hiện sai mà, tự bản chất, nó là một ý tưởng dở; hay nói theo Kolakowski, do Pipes trích dẫn, chủ nghĩa Marx – nền tảng lý thuyết của chủ nghĩa Cộng sản – là một huyễn tưởng lớn nhất của thế kỷ 20 (3).

Trong vô số những cái sai của chủ nghĩa Marx-Lenin, cái sai này là đáng kể nhất: Họ cho chế độ tư hữu là cội rễ của bất bình đẳng và tin là họ có thể xóa bỏ chế độ tư hữu ấy để xây dựng một xã hội thực sự bình đẳng, không ai bóc lột ai và cũng không ai thống trị ai. Trên thực tế, khi công hữu hóa mọi tài sản và mọi phương tiện sản xuất, thứ nhất, họ triệt tiêu hầu như mọi động cơ lao động và sản xuất của người dân; thứ hai, họ tạo nên một giai cấp đặc quyền và đặc lợi để nắm toàn bộ việc lãnh đạo và quản lý các tài sản và công cụ sản xuất đã được công hữu hóa ấy. Những người ấy, một mặt, kém khả năng quản lý nên dẫn đến hết thất bại này sang thất bại khác; mặt khác, quan trọng hơn, trở thành một thành phần thống trị vừa ngu dốt vừa độc đoán, vừa tham nhũng vừa tàn bạo. Tất cả các yếu tố ấy không những dẫn đến những sự thất bại nặng nề về phương diện kinh tế mà còn phá hủy toàn bộ nền tảng lý tưởng của chủ nghĩa Cộng sản vốn nhắm đến tự do, bình đẳng và hạnh phúc.

Một cái sai khác của chủ nghĩa Marx-Lenin là họ đơn giản hóa lịch sử nhân loại vào lịch sử đấu tranh giai cấp. Sự phát triển của lịch sử, thật ra, còn tùy thuộc, thậm chí, tùy thuộc chủ yếu vào sự hợp tác của con người trong việc khám phá các quy luật của tự nhiên, từ đó, đẩy mạnh các khám phá về kỹ thuật để nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống của mọi người. Chủ nghĩa tư bản, trong thế kỷ 20, đã chứng minh điều đó: Giới chủ nhân biết san sẻ trách nhiệm và quyền lợi với giới công nhân, nhờ đó, so với thế kỷ 19, công nhân càng ngày càng được hưởng lương cao và càng ngày càng được hưởng chế độ lao động hợp lý hơn. Hơn nữa, chính quyền cũng can thiệp để bảo vệ quyền lợi của công nhân và, qua chính sách thuế khóa, bảo đảm sự công bằng trong xã hội. Nhiều quốc gia mang tiếng là tư bản nhưng về các chính sách lao động và an sinh xã hội lại không khác gì với cái lý tưởng xã hội chủ nghĩa mà Marx mơ ước. Chưa hết. Yếu tố then chốt trong sản xuất không phải chỉ là công cụ sản xuất mà còn có cả tri thức. Mà tri thức thì không ai độc quyền được.

Một người tị nạn, như người Việt Nam sau năm 1975, chẳng hạn, khi sang nước ngoài, với hai bàn tay trắng, không thể sở hữu các công cụ sản xuất để làm chủ nhân bất cứ thứ gì được. Nhưng bù lại, chỉ cần chịu khó học hành, sau một thời gian nhất định, người đó có thể sở hữu một vốn tri thức khá cao đủ để bước vào thế giới trung lưu, thậm chí trung lưu cao, dễ dàng. Chính trong lãnh vực tri thức, vốn gắn liền với giáo dục, xã hội tư bản đã tạo nên sự bình đẳng thực sự và tối đa: Nếu mọi người không được và không thể bình đẳng khi ra đời (vốn gắn liền với gia đình, thành phần xã hội, chủng tộc và những đặc điểm về trí tuệ riêng – những điều không ai có thể lựa chọn được), họ lại được bình đẳng trong cơ hội để phát triển và tiến bộ. Ai cũng được quyền đi học; bất cứ ai có trí và có nghị lực cũng đều đi học được, và từ đó, có thể thay đổi cuộc đời mình được. Với những đặc điểm ấy, chủ nghĩa tư bản không những thúc đẩy sự phát triển kinh tế và xã hội một cách hiệu quả mà còn tạo nên sự bình đẳng và dân chủ, tuy không hẳn đã hoàn hảo, nhưng cũng hơn hẳn chế độ xã hội chủ nghĩa đủ để mọi người, kể cả những người đang sống dưới chế độ Cộng sản, cũng nhận thấy không phải kẻ thù mà chính mình mới là những kẻ đang đứng trước vực thẳm. Sự so sánh ấy cũng làm cho người ta nhận thấy những hứa hẹn về một thiên đường Cộng sản chủ nghĩa “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”, chỉ là một ảo tưởng, hơn nữa, một không tưởng. Cái không tưởng ấy lại bị trả giá bằng máu. Không phải máu của một hai người. Mà là của cả một tập thể, có khi cực kỳ đông đảo. Cả hàng triệu hay chục triệu người.

Về phương diện thực tiễn, với tư cách một chế độ, chủ nghĩa Cộng sản có năm đặc điểm chính trên bình diện tổ chức. Một, đảng Cộng sản nắm độc quyền lãnh đạo; hai, đảng ấy được tổ chức một cách chặt chẽ với một thứ kỷ luật thép từ trên xuống dưới; ba, kinh tế hoàn toàn tập trung, mọi quyết định, kể cả về giá cả thị trường, đều do cấp trên quyết định; bốn, mọi phương tiện sản xuất đều nằm trong tay nhà nước; và năm, mỗi quốc gia đều liên kết và, với những mức độ khác nhau, lệ thuộc vào cái gọi là phong trào Cộng sản quốc tế nói chung. Với cách tổ chức như thế, chế độ Cộng sản vấp phải vô số sai lầm. Và những sai lầm ấy rất dễ thấy.

Thứ nhất, các chế độ Cộng sản không những không công bằng hơn các chế độ tư bản, mà thậm chí, còn tệ hại hơn cả các chế độ phong kiến ngày xưa. Xưa, chỉ có vua, nay có cả nguyên một đảng đứng trên pháp luật. Xưa, chỉ có vua là được hưởng mọi đặc quyền và đặc lợi; nay, có cả hàng triệu người nhân danh đảng thi nhau vơ vét lợi và thao túng quyền.

Thứ hai, ngoài chuyện bất bình đẳng, chế độ Cộng sản, qua hơn 70 năm tồn tại, đã chứng tỏ sự tàn bạo vô tiền khoáng hậu. Những nhà lãnh đạo Cộng sản như Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Pol Pot, Fidel Castro… không phải giống vua mà là giống các bạo chúa. Vua, còn đỡ. Trong đám vua còn có các minh quân. Trong hàng ngũ lãnh đạo Cộng sản, được xây dựng quyền lực trên nguyên tắc “chuyên chính”, ngay cả những người có tiềm năng là minh quân cũng trở thành bạo chúa. Hậu quả là chế độ Cộng sản trở thành một chế độ đứng đầu trong danh sách giết người trong suốt cả thế kỷ 20. Họ giết người còn nhiều hơn cả chế độ phát xít và Nazi. Bàn tay của Stalin và Mao Trạch Đông còn nhuộm nhiều máu hơn cả bàn tay của Hitler. Trong cuốn The Black Book of Communism: Crimes, Terror, Repression do Stéphane Courtois và nhiều người khác biên tập (4), các tác giả ước tính tổng số nạn nhân bị giết chết dưới các chế độ Cộng sản trên thế giới kể từ năm 1917 đến năm 1991 là khoảng 100 triệu người, bao gồm khoảng 20 triệu ở Nga, 65 triệu ở Trung Quốc, hai triệu ở Campuchia, hai triệu ở Bắc Triều Tiên, một triệu ở Đông Âu, v.v..

Thứ ba, chế độ Cộng sản hoàn toàn thất bại về phương diện lãnh đạo và quản lý kinh tế đất nước. Không có nước Cộng sản nào giàu có và dân chúng được no ấm. Từ cuối thập niên 1960 đến đầu thập niên 1970, kinh tế của các nước Cộng sản bị lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Đến thập niên 1980, chỉ số phát triển của nó hầu như chỉ là một con số không to tướng. Ở tất cả các nước xã hội chủ nghĩa thời ấy, rất nhiều cửa tiệm trống rỗng không có hàng hóa để bán (5). Dân chúng ngất ngư vì đói khát. Nhưng dễ thấy nhất là khi chúng ta nhìn vào các quốc gia bị chia đôi, trong đó, một nửa theo chế độ Cộng sản và một nửa theo chế độ tư bản. Như Đông Đức và Tây Đức. Hay như Nam Triều Tiên và Bắc Triều Tiên. Cái nửa theo chế độ Cộng sản bao giờ cũng có chỉ số phát triển thấp hơn hẳn cái nửa theo chế độ tư bản. Thấp một cách toàn diện. Riêng ở Triều Tiên, thu nhập tính trên đầu người ở miền Nam (32.400 đô la/người/năm) gấp 18 lần ở miền Bắc (1.800 đô la). Cùng một dân tộc. Cùng một lịch sử. Chỉ khác ở chế độ. Mà hai nơi khác nhau đến vậy.

Cuối cùng, nói theo Stéphane Courtois (6), Cộng sản phạm vô số tội ác không phải đối với con người với tư cách cá nhân mà còn đối với cả văn minh nhân loại và văn hóa quốc gia. Ở đâu, các chế độ Cộng sản cũng phá tan tành rất nhiều di tích và di sản lịch sử cũng như các nhà thờ, chùa chiền và các nơi thờ tự. Họ trấn áp các tôn giáo, xóa bỏ nhiều truyền thống tốt đẹp với lý do, theo họ, đó là những tàn tích của chế độ phong kiến.

Với những thất bại hiển nhiên về cả phương diện lý thuyết lẫn thực hành như vậy, chủ nghĩa Cộng sản đã hoàn toàn bị sụp đổ vào cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, thoạt đầu, vào năm 1989, với việc đảng Cộng sản Hungary chấp nhận một hệ thống chính trị đa đảng vào tháng 2; việc Công đoàn Đoàn kết thắng phiếu trong cuộc bầu cử Quốc hội Ba Lan vào tháng 6, sau đó, lên nắm chính quyền vào tháng 9; việc Bức tường Berlin bị sụp đổ vào tháng 11 (sau đó nước Đức được thống nhất vào tháng 10/ 1990); kết thúc bằng việc Mikhail Gorbachev tuyên bố từ bỏ chế độ độc đảng vào ngày 7/2/1990; và sau đó, sự tan rã của Liên bang Xô Viết vào tháng 12/1991 (trước, trong và sau sự tan ra ấy, có 16 quốc gia – vốn bị sáp nhập vào Liên bang Xô Viết – tuyên bố độc lập, bao gồm: Lithuania, Estonia, Latvia, Georgia, Ukraine, Belarus, Moldova, Azerbaijan, Kyrgyzstan, Uzbekistan, Tajikistan, Armenia, Turkmenistan, và Kazakhstan).

Nếu sự ra đời của chủ nghĩa Cộng sản là biến cố lớn nhất trong nửa đầu thế kỷ 20, sự tan rã của nó ở Nga và Đông Âu là một biến cố trọng đại nhất trong sau thế kỷ 20. Cả hai đều là cách mạng. Cuộc cách mạng đầu nổ ra và, sau đó, tồn tại bằng máu và nước mắt; cuộc cách mạng sau, ngược lại, diễn ra với ba đặc điểm chính: nhanh chóng, nhẹ nhàng và bất bạo động. Có vẻ như giới lãnh đạo Cộng sản (trừ ở Romania) tự ý từ bỏ quyền lực và chế độ Cộng sản tự tan rã. Không có sự kháng cự nào đáng kể cả.

Trước thập niên 1990, trên thế giới có tổng Cộng 23 quốc gia theo chế độ Cộng sản. Trong thời điểm giao thừa giữa hai thập niên 1980 và 1990, có 18 quốc gia từ bỏ Cộng sản: Afghanistan, Albania, Angola, Benin, Bulgaria, Campuchia, Congo, Czechoslovakia, Đông Đức, Ethiopia, Hungary, Mông Cổ, Mozambique, Ba Lan, Romania, Nga, Nam Yemen và Yugoslavia. Người ta gọi những nước này (trừ Đông Đức vốn không còn là một “nước” riêng sau khi thống nhất) là “hậu Cộng sản” (postcommunism), một thuật ngữ do Zbigniew Brzezinski đưa ra vào năm 1989 (7). Do một số quốc gia, sau năm 1991, bị chia cắt (chủ yếu là do vấn đề chủng tộc), hiện nay có 28 quốc gia được xem là hậu Cộng sản (8).

“Hậu Cộng sản” nghĩa là không còn Cộng sản nữa.

Có thể nói, trên bình diện thế giới, cái gọi là “Cộng sản” đã thuộc về quá khứ. Khi “Cộng sản” thuộc về quá khứ, chuyện chống Cộng cũng không còn lý do hiện hữu nữa.

Thật ra, trên thế giới cũng còn ít nhất năm quốc gia, trên danh nghĩa, chưa từ bỏ chủ nghĩa Cộng sản: Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Bắc Triều Tiên và Cuba. Tuy nhiên, trong năm quốc gia ấy, chỉ có Bắc Triều Tiên là thực sự Cộng sản, Cộng sản theo kiểu Stalin trong thập niên 1930 và 1940. Ở tất cả bốn nước còn lại, kể cả Việt Nam, chủ nghĩa Cộng sản đang dần dần biến chất và biến thể. Nó không giống chủ nghĩa Cộng sản của Stalin và Mao Trạch Đông. Nó cũng không giống chủ nghĩa Cộng sản của Lenin. Và nó cũng không giống chút nào với cái chủ nghĩa Cộng sản mà Mark và Engels quan niệm.

Thứ nhất, về phương diện kinh tế, tất cả, với những mức độ khác nhau, đều chấp nhận kinh tế thị trường vốn là đặc trưng của chủ nghĩa tư bản. Dĩ nhiên, cái gọi là “kinh tế thị trường” ở đây vẫn còn bị giới hạn bởi cái đuôi phía sau “theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Nhưng cái đuôi ấy chỉ là một cố gắng níu kéo nắm giữ quyền lợi cho một số người thuộc tầng lớp thống trị qua các đại công ty và tập đoàn quốc doanh. Trên thực tế, hầu hết các hoạt động và sự điều hướng kinh tế vẫn theo quy luật thị trường, nghĩa là tư bản hóa.

Thứ hai, về phương diện chính trị, tất cả vẫn cố thủ, trên danh nghĩa, trong cái gọi là chủ nghĩa Cộng sản. Nhưng ở đây cũng lại có vấn đề. Cái gọi là chính trị Cộng sản chủ nghĩa vốn bao gồm hai khía cạnh: một, về tổ chức, sự độc quyền lãnh đạo của đảng Cộng sản; và hai, về phương diện ý thức hệ, lý thuyết của Marx và Lenin. Ở tất cả bốn quốc gia kể trên, Cộng sản chỉ nằm ở bình diện tổ chức, còn ở bình diện ý thức hệ, hầu như không ai còn tin, thậm chí, không mấy người muốn nhắc đến ý thức hệ Cộng sản nữa. Ngay ở Việt Nam, giới lãnh đạo cũng thừa hiểu chủ nghĩa Marx-Lenin không còn sức thuyết phục và sự quyến rũ nữa. Họ phải thêm vào mấy chữ “tư tưởng Hồ Chí Minh”. Tuy nhiên, cho đến nay, họ cũng không biết cái gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh” ấy thực sự là gì. Lý do là Hồ Chí Minh vốn là người thực hành, không viết về lý thuyết, và thật ra thì cũng chẳng có lý thuyết gì ngoài một mớ giáo điều đơn giản và cũ kỹ ông học được ở Nga và Trung Quốc. Những kẻ đang nắm quyền tại Việt Nam sử dụng cái gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh” như một huyền thoại chứ không như một chủ thuyết.

Theo chủ nghĩa Marx-Lenin, một hình thái chính trị đúng nghĩa phải tương ứng với, thứ nhất, một hình thái kinh tế nhất định; và thứ hai, một ý thức hệ nhất định. Nền chính trị Việt Nam hiện nay, trên danh nghĩa, vẫn là Cộng sản, nhưng kinh tế lại là tư bản hoặc ít nhất, nửa-tư bản hoặc đang trong quá trình tư bản hóa; còn ý thức hệ thì hoàn toàn trống rỗng: Nó phi-Marx và cũng phi-Lenin. Chẳng giống ai và cũng chẳng là cái gì cả. Đó là một thứ tôn giáo vừa không có thần linh vừa không có điển phạm (canon). Tên nó, ở Việt Nam, nhiều người gọi thẳng: mafia.

Bởi vậy, trong trường hợp của Việt Nam hiện nay, nếu chúng ta nói đến chuyện chống Cộng có lẽ ngay cả những người đang mang danh hiệu đảng viên Cộng sản trong nước – hầu hết đều rất giàu có và sống rất trưởng giả – sẽ cười khì, hỏi: “Cộng nào vậy nhỉ?” Lôi tư tưởng Marx, Engels và Lenin ra phê phán, phần lớn họ – những người chẳng bao giờ thực sự đọc Marx, Engels và Lenin – hẳn sẽ trố mắt lên hỏi: “Mấy người đó là ai vậy? Có phải mấy ông râu ria xồm xoàm gì đó không?” Nói đến đấu tranh giai cấp, đến tầng lớp công nhân và nông dân, đến chuyên chính vô sản, đến công bằng xã hội và đến lý tưởng làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu, những vấn đề nòng cốt của ý thức hệ Cộng sản, họ – những người đang sống như giới thượng lưu và thường được gọi là “tư bản đỏ” – hẳn sẽ bịt tai lại, như nghe những chuyện cổ tích vừa xa vời vừa nhảm nhí.

Trong trường hợp ấy, chống Cộng là chống ai và chống cái gì?

Đối với riêng tôi, khi phê phán chính quyền trong nước, tôi không nghĩ là tôi chống Cộng. TÔI CHỈ CHỐNG LẠI ĐỘC TÀI.

Chế độ Việt Nam hiện nay đáng bị phê phán không phải vì nó là Cộng sản. Mà vì nó là độc tài. Cộng sản chỉ là nhãn hiệu. Độc tài mới là thực chất. Ngay cả khi chúng ta chống lại điều 4 trong Hiến pháp Việt Nam, chúng ta cũng chỉ chống lại một sự độc tài. Chính quyền Việt Nam hiện nay đang rục rịch muốn đổi tên nước. Có khi họ đổi cả tên đảng. Nhưng dù đổi đảng Cộng sản thành đảng Dân chủ hay đảng Cộng hoà, cái việc nhân danh Hiến pháp để giành quyền lãnh đạo độc tôn như vậy cũng vẫn là độc tài. Tên gọi có thể thay đổi, thực chất vẫn là một. Vẫn độc tài.

Mọi sự độc tài đều đáng phê phán. Nhưng khi độc tài đi liền với bất tài thì càng đáng bị phê phán hơn. Và nhu cầu phê phán ấy cũng càng khẩn cấp hơn. Sự độc tài chà đạp lên dân chủ và nhân quyền, nhưng trong một số trường hợp nào đó, dưới một sự độc tài sáng suốt, người ta cũng có thể sẵn sàng chấp nhận hy sinh dân chủ và nhân quyền trong một thời gian nào đó để xây dựng và phát triển đất nước (như trường hợp của Singapore). Độc tài mà bất tài thì bao giờ cũng gắn liền với sự ngu dốt và tham nhũng bởi họ sẽ không có, không thể có, bất cứ lý tưởng nào khác ngoài tiền và cũng không có một thứ trí tuệ nào khác nào thứ “trí tuệ” dùng để làm giàu cho bản thân và gia đình. Sự ngu dốt trong chính sách và tham nhũng trong bộ máy chỉ tồn tại được nhờ hai yếu tố: dối trá trong tuyên truyền và tàn bạo trong quản trị. Tập hợp của tất cả các yếu tố ấy, người ta chỉ làm được mỗi một việc duy nhất là tàn phá đất nước và hành hạ dân chúng. Tính chất độc tài, bất tài, tham nhũng, dối trá và tàn bạo ấy càng trở thành nguy hiểm hơn nữa khi đất nước đối diện với nguy cơ xâm lấn chủ quyền và lãnh thổ của Trung Quốc.

Đối diện với các nguy cơ trên, chữ “chống Cộng”, theo tôi, rất dễ làm lệch vấn đề. Nó dễ gợi lên ấn tượng là, khi chống lại chế độ Việt Nam hiện nay, chúng ta nhân danh hai điều vốn bị xem là đối lập với Cộng sản, nhất là Cộng sản Việt Nam: Một, chủ nghĩa tư bản và hai, Việt Nam Cộng Hoà lúc trước. Nhưng chúng ta chống Cộng không phải vì chủ nghĩa tư bản và cũng không phải vì để trả thù hay để phục hồi miền Nam. Việc chống lại chế độ độc tài tại Việt Nam cần xuất phát từ những lý tưởng hiện đại, cao cả và phổ quát hơn: quyền tự do, dân chủ và quyền làm người. Hơn nữa, nó còn xuất phát từ cả sự độc lập, toàn vẹn lãnh thổ và tiền đồ của đất nước nữa. Trong chiến tranh có tính dân tộc chủ nghĩa, người ta có thể huy động lịch sử, hay nói như Tố Hữu, trước năm 1975, “Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận”; trong cuộc chiến chống độc tài, nguồn sức mạnh không phải chỉ nằm ở quá khứ mà còn, nếu không muốn nói chủ yếu còn, nằm ở tương lai.

Chúng ta chống lại chế độ Việt Nam hiện nay không phải vì việc họ chọn lựa hệ thống xã hội chủ nghĩa, việc họ gây ra cuộc chiến đẫm máu ở Việt Nam, việc họ cưỡng chiếm miền Nam, việc họ trả thù những người miền Nam: Tất cả đều đã thuộc quá khứ.

Người ta cần lưu giữ quá khứ, cần thường xuyên đào xới lại quá khứ và cần viết lại quá khứ, một cách chính thức, bằng lịch sử; hoặc một cách không chính thức, bằng ký ức, từ ký ức cá nhân đến ký ức tập thể. Nhưng không ai thay đổi được quá khứ. Càng không cần phải chống lại quá khứ. Những điều ấy khác nhau.

Chúng ta chống lại chế độ độc tài tại Việt Nam vì nó ĐANG chà đạp lên quần chúng, ĐANG làm cho đất nước bị phá sản trên mọi phương diện, từ kinh tế đến giáo dục, từ ý thức đạo đức đến cả lòng tự hào dân tộc, từ các giá trị truyền thống đến tinh thần hiện đại với những giá trị về dân chủ và nhân quyền vốn đang, cùng với xu hướng toàn cầu hoá, càng ngày càng trở thành phổ quát, ĐANG kiềm hãm sự phát triển của đất nước khiến Việt Nam, một dân tộc vốn rất nhiều năng lực, bị thua kém không những các nước được xem là những con rồng của châu Á mà còn có nguy cơ thua cả một quốc gia vốn bị rất nhiều tai tiếng, như Miến Điện.

Và chúng ta cũng chống lại chế độ ấy vì, với sự nhu nhược của nó, Việt Nam có nguy cơ bị biến thành một tỉnh lẻ của Trung Quốc.

Cuối cùng, có một điểm cần được nói thêm: Ở Tây phương, ngay trong thời Chiến tranh lạnh, nghĩa là lúc chế độ Cộng sản vẫn còn rất mạnh, nhiều chiến lược gia và trí thức, đặc biệt ở châu Âu, đã chuyển khẩu hiệu “chống Cộng” (anti-communism) thành “chống toàn trị” (anti-totalitarianism). Dưới khẩu hiệu chống toàn trị, người ta không những chống lại chế độ Cộng sản mà còn chống lại cả chế độ phát xít, đồng thời người ta cũng khẳng định được lập trường của họ một cách rõ ràng: Việc chống đối ấy, thứ nhất, không nhắm vào một lý thuyết mà nhắm vào một chế độ với những guồng máy và chính sách cụ thể; và thứ hai, không nhằm bảo vệ hay bênh vực cho chủ nghĩa tư bản mà là để bảo vệ dân chủ và nhân quyền, những lý tưởng vừa có tính phổ quát vừa dễ được mọi người đồng thuận.

Cả tính phổ quát và sự đồng thuận ấy tạo nên sức mạnh cho cuộc tranh đấu, cuối cùng, dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa như một hệ thống độc tài đáng kinh tởm (9).

Nguyễn Hưng Quốc

Nguồn: VoA blog

* * *

Chú thích:

  1. Trên một số bản kiến nghị lưu hành trên internet, tôi thấy có tên “Nguyễn Hưng Quốc” ở Úc. Đó không phải là tôi. Có thể chỉ là trùng tên hoặc là một sự giả mạo. Bản thân tôi thì chưa từng ký vào bất cứ một kiến nghị nào cả.
  2. Richard Pipes (2003), Communism, a History, New York: Random House, tr. 147.
  3. Như trên.
  4. Do Jonathan Murphy và Mark Kramer dịch sang tiếng Anh, Harvard University Press, 1999.
  5. Xem Stathis N. Kalyvas (1999), “The decay and breakdown of communist one-party systems”, Annu, 1999, tr. 329.
  6. Stéphane Courtois và nhiều người khác (biên tập) (1999), The Black Book of Communism: Crimes, Terror, Repression, Cambridge: Havcard University Press, tr. 7.
  7. Leslie Holmes (1997), Post-Communism, an Introduction, Cambridge: Polity Press, tr. 13.
  8. Ghia Nodia (2000), “Chasing the meaning of ‘post-communsm’: a transitional phenomenon or something to stay?”, Contemporary European History, 9 (2000), tr. 278.
  9. Xem bài “From anti-communism to anti-totalitarianism: the radical potential of democray” của Dick Howard trên Government and Opposition số 37, 2002, tr. 551-572.