vietsoul21

Archive for the ‘Cộng Đồng’ Category

Chứng quên tập thể

In Cộng Đồng, Chính trị (Politics), Liên Kết, talawas, Việt Nam on 2010/08/13 at 11:13

Để tưởng nhớ đến những câu chuyện kể “từ cọng tranh bị tách rời”, “kéo xa cội nguồn”, và “mong ước trở về”… “Cọng tranh này là bạn với tất cả, luôn cả những ai muốn xé tơi tả lát tranh cho gió cuốn đi.
(Trích The illuminated Rumi, 1997)

Sự bền bĩ của ký ức (The persistence of Memory), Salvador Dalí (1931)

VietSoul:21

Bài quan điểm của Sonny Lê*** nhan đề “Giờ là lúc ngưng đánh đấm cuộc chiến đã hạ hồi từ lâu” [1] đăng ngày 26/7/10 trên nhật báo Mercury News ở San Jose, tiểu bang California, Hoa Kỳ, tương đối đã vượt qua được sự phê phán thiên kiến về hành động của Lý Tống là loại “phi văn hoá Hoa Kỳ” và “không thể chấp nhận được”. Dũng Taylor (người bầu sô), và Đỗ Dzũng (phóng viên báo Người Việt) qua lời phát biểu với đài BBC [2] hẳn có dụng ý khi dùng thái độ phê phán này để biện minh và bào chữa sự thuận tình với cái diễn luận (discourse) về nhóm tị nạn đang bị “Trắng” hóa (Whitening).

Hành động cá nhân của Lý Tống có thể bị sỉ nhục và nguyền rủa là vớ vẩn, ác quái, và thiếu văn minh bởi rất nhiều nhóm, đó là những người Mỹ da trắng và người da màu cả tin vào khái niệm “dân chủ” xuất chúng của Hoa Kỳ, giới hâm mộ ca sĩ, các tờ báo và bộ phận kỹ nghệ giải trí lợi nhuận, cũng như những tay đầu cơ chính trị và chính quyền tham nhũng cộng sản Việt Nam. Thế nhưng, đòn đột nhập xuất thần này rõ ràng có một chủ ý và đưa đến một kết quả nổi bật là làm lộ diện chứng liệt trí nhớ tập thể (collective amnesia) đang tràn lan mọi thế hệ và nằm trong tâm thức không chỉ riêng ở những người Việt đang sống tại hải ngoại. Bài quan điểm đề cập trên là một dẫn chứng rõ ràng nhất về hiện trạng của chứng liệt trí nhớ này.

Trọng tâm bài viết sử dụng yếu tố chủng tộc và chiến tranh hầu có thể than vãn một cách hùng biện về chuyện đánh đấm chia rẽ không ngừng của thời hậu chiến tranh Việt Nam. Tuy nhiên, các thuật trò “gài khung” (framing)[3] này được dùng với cử chỉ thách thức cộng đồng. Ngoài ra, bài lại khéo dùng xảo thuật hùng biện hầu tạo nên ảnh hưởng ru ngủ thành phần thế hệ trẻ.

Thành phần thời hậu ký ức (post-memory)

The Disintegration of the Persistence of Memory (Salvador Dalí, 1954)

Chẳng cần phải nói dông dài vì ai cũng thấy rằng cái phê phán cho là “phi văn hóa Hoa Kỳ” này (một kiểu phê phán cốt để tán thành chiều hướng Mỹ hoá, và nằm trong khuôn mẫu tiêu chuẩn Trắng [4] (whiteness) được ủng hộ khá mạnh bởi đa số giới trẻ người Việt sinh ra lớn lên ở Hoa Kỳ thuộc các thành phần sau đây:

(1) bị đồng hoá do ảnh hưởng đô hộ của các ý thức hệ liên quan đến chủng tộc nay đã cập nhật hoá – một loại ý thức hệ tuy vẫn còn dựa vào chủ nghĩa tiêu thụ và chủ nghĩa cá nhân để dẫn đến một thái độ chính trị thụ động nhưng ẩn dưới cái mặt nạ tự cho là mình đang theo chủ nghĩa “người của thế giới” (cosmopolitan) lồng vào chủ nghĩa chính trị tự do (liberal);

(2) bị nhập tâm kỳ thị chủng tộc – một hiện tượng vẫn tồn tại mạnh mẽ ở phương Tây và ẩn sâu trong đầu óc người bị đô hộ hiện đang sống trong quá trình vét cạn xã hội tính và tư hữu hóa những từ vựng [5] của thời hiện đại;

(3) còn lơ mơ về lịch sử của người Việt và các phân nhánh phức tạp bên trong cộng đồng do những học hỏi bị ảnh hưởng bởi nền giáo dục độc quyền về phản chiến khi đề cập đến lịch sử chiến tranh Việt Nam, và nói chung hấp thụ loại dạy dỗ kiểu “đút-rút tiền ngân hàng” [6] (nghĩa: không tạo được tư duy tự suy xét) trong các trường học tại Bắc Mỹ đang ngày càng bị thương mại hóa [7];
và/hoặc:

(4) đang dần dà dù ít dù nhiều trở thành một loại thực dân mới (trong một chính kiến chính trị toàn cầu) về phương diện đặc ân, quyền lực, chức vị, và cùng lúc tự mình bị thuần hóa (cooptation) trong các nối kết qua phương tiện giải trí, thương mại, giáo dục, chính trị, và từ thiện với Việt Nam.

Dù có công nhận hay không thì tất cả các phản xạ tư duy thuần nhất (group thinking) của các nhóm này đã làm nổi bật cái bất trắc giữa thành công và thất bại ở Nghị quyết 36 [8] của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những thành phần này có thể không muốn thấy rằng tất cả sinh hoạt hằng ngày bên ni hay bên nớ đều mang tính chính trị cả.

Riêng về nhóm số 4 đề cập ở trên, họ cảm nhận rất rõ là họ vẫn không được xem là người bản xứ dẫu có cố gắng đến mấy đi nữa. Thật ra thì kinh nghiệm đó không chỉ xảy ra riêng cho họ, và cũng chẳng một ai muốn thú nhận điều này. Tuy nhiên, riêng nhóm này rất ước mong tái định cư ở Việt Nam – nơi mà họ có thể kiếm được chức vị và tiến thân nhờ vào khả năng Anh ngữ và các kỹ năng của phương Tây, nếu họ không phản đối các chuyện bất công, áp bức. Xã hội “được-cho-là đa chủng tộc” như Hoa Kỳ và châu Âu thì lại không có nhiều cơ hội cho công ăn việc làm hoặc chỉ có công việc thấp kém dù họ có dư thừa kỹ năng tiên tiến.

Không chóng thì chày rồi họ cũng nhắm vào chuyện làm sao để có thể thăng quan tiến chức trên một “quê hương” khác – nơi mà thời thơ ấu mơ hồ hoặc không hề có của mình lại được táí lập/nghiệm, nơi mà họ không phải chịu từng trải kinh nghiệm kỳ thị chủng tộc đậm mùi cơ cấu trong xã hội phương Tây. Có người trong số họ thậm chí tự nghĩ một cách ngây thơ rằng nếu mình nhắm mắt làm ngơ trước những vết thương tàn phế của các cựu chiến binh hai miền Nam Bắc cũng như không làm nhân chứng đối kháng các hệ thống bạo lực đang diễn ra thì sẽ được chính quyền cộng sản Việt Nam chấp nhận. Rồi từ đó họ có thể hành xử và đạt được những gì họ muốn cho bản thân mình, và trở thành phần tử của một xã hội Việt Nam “thời hội nhập” – một nơi mà cuộc chiến chống Mỹ đã không còn được đối thoại [9] chỉ vì mối quan hệ với Hoa Kỳ.

Thuật trò quên bất công kỳ thị

Quan điểm của bài viết thật ra thuộc loại “đánh trống bỏ dùi”. Mặc dầu vấn đề chủng tộc được tác giả lồng vào khung cảnh xung đột lê thê trong thời hậu chiến (có nghĩa là không sai), nhưng tác giả đã tự mâu thuẫn với chính mình. Tác giả đang sống trong ảo tưởng hoặc mơ mộng viễn vông khi khơi mào và thách thức người Việt hải ngoại lên tiếng cũng như phản đối những bất công gây ra bởi chính quyền Hoa Kỳ vì nhúng tay vào chuyện của các quốc gia khác ngay trong hiện tại hay thuộc thời quá khứ.

Tác giả xem thường vấn đề cộng đồng người Việt – cũng giống như các cộng đồng bị cho ra rìa khác – là những thuộc địa nhỏ bị tứ tán khắp nơi trên đất Hoa Kỳ. Họ đã tự tạo với cung cách riêng của mình một lịch sử không chính thức và không được truyền kể lại – một lịch sử cộng đồng dễ bị dòm ngó đụng chạm gây tổn thương, kháng cự ngầm, có ưu điểm linh động linh hoạt, và tiềm lực cởi bỏ được đô hộ hóa – mà không có bản thân tác giả tham gia. Tại sao tác giả đã chọn chức chỉ đạo về mặt truyền thông cho tổ chức Đông Tây Hội Ngộ (East Meets West Foundation)?

Thiết nghĩ lời nói thì phải đi đôi với việc làm và phải sử dụng “sân khấu chính trị” về những chuyện “hiện thực” hơn là than vãn về các “khả năng”. Đáng tiếc là tác giả Sonny Lê cùng với một số thành phần trí thức ở Hoa Kỳ đi lại với Việt Nam đã khéo lôi kéo, thuyết phục giới trẻ – các em đầu óc thương mại – thành lập OneVietnam [10] để hỗ trợ cho một mạng lưới có hệ thống và chuyên huy động cho Từ thiện Á Châu (Asian Philanthropy Forum/Give2Asia), một hệ thống được gọi là “tập đoàn kỹ nghệ vô vụ lợi” (non-profit industrial complex). Đó là một hệ thống nhập nhằng giữa nhà nước, các cơ quan cung cấp ngân quỹ (foundations hay sáng viện/sáng hội thuộc cả thiên tả và thiên hữu), giới chủ nhân ông, cùng các cơ quan xã hội và những tổ chức thiên công bằng xã hội một khi tham gia vào mạng lưới để xin tiền hỗ trợ đành trở thành bảo thủ. Vì đây là một hệ thống rất phức tạp đẻ ra việc giám sát, khống chế, và quản lý chặt chẽ các phong trào đấu tranh chính trị.

Các cơ quan vô vụ lợi thiên công bằng xã hội đành phải quay mặt làm ngơ với các tiên chỉ và hoạt động của họ định ra từ lúc đầu là đấu tranh dân chủ (tức là hơn cả việc xóa đói giảm nghèo), nhất là một khi đã nhận tiền và tuân theo điều lệ chỉ thị và sự theo dõi của các cơ quan cung cấp ngân quỹ hay sáng viện/sáng hội (foundations)– những cơ quan thật ra có quyền lực tạo ảnh hưởng lên chính sách nhà nước, các diễn luận công khai phổ biến, và tổng thể bối cảnh chính trị của một quốc gia.[11] Tự do ngôn luận và lập hội nhóm bị kềm chế vì các cơ quan vô vụ lợi tự kiểm duyệt mình sau khi đã tranh đua với các cơ quan cùng thể loại, và trở thành kẻ nhận ngân quỹ.[12] Tác giả và không ít các em thanh niên Mỹ gốc Việt có lẽ hoặc không nghĩ ra hoặc chưa hình dung được một phong trào cá biệt nào không bị kẹt nghẽn trong mô thức vô vụ lợi, một mô hình phục tùng định hướng của chính trị chủng tộc chính thống, mất dần tính dân chủ, và bị điều khiển qua nề nếp của cơ chế chuyên gia và ngân quỹ.

Một quan điểm lấn áp trong thời hậu ký ức

Văn phong bài viết của Sonny Lê dường như cho thấy lời phát biểu của tác giả thuộc lực lượng cấp tiến thiên hòa bình và chỉ vì hòa bình. Tác giả quên phắt đi cái đặc quyền của mình trên đất nước này trong việc chọn lựa hòa bình hay không – trong khi thật ra bất cứ lựa chọn nào trong các chọn lựa ấy ở xứ Hoa Kỳ cũng oái oăm và là nguyên nhân hủy diệt “Kẻ kia” [13]. Tác giả được chọn cho nói và chỉ chú trọng đến cái giàu, cái “phát triển” mới ở Việt Nam, trong khi biết bao nhiêu người Việt Nam trong và ngoài nước bị bịt miệng [14] vì phản kháng đàn áp hay bị đối xử vô nhân đạo.

Giọng văn của tác giả phảng phất một xấu hổ ngấm ngầm trong lúc bất ngờ bị ép phải đối diện với tình trạng hỗn độn của nội tình xích mích bất hòa và chia rẽ không chỉ ở tầm mức cộng đồng. Nó liền được tán thành ngay bằng một phản hồi tiêu biểu với lời lẽ kẻ cả trong việc vừa tha thứ vừa quên phắt đi vài “con sâu”, vì “Tương lai là chìa khóa cho vấn nạn này” [15] và sẽ giúp thế hệ hậu ký ức không bị “phiền nhiễu” lây.

Thật ra bài viết nói trên cũng như không ít luận điểm của giới “hãy quên cuộc chiến Việt Nam” và “phi chính trị” được thổi kèn, đánh trống inh ỏi lên để khỏi phải nghe thấy những nỗi hận trong lòng và các dị diện do mâu thuẫn chiến tranh Việt-Mỹ. Đấy chẳng qua chỉ là cách thức trang điểm lên vết sẹo của những vết thương từ nứt rạn chia rẽ giữa các thế hệ hầu giúp thỏa mãn khát vọng của hai khối trí thức tân bảo thủ (neoconservative) và tân tự do (neoliberal). Tâm thức tự diễn là “không cay đắng về quá khứ”[16] này không vượt ra khỏi cái đầu óc bố thí nhân đạo để có thể thực thi phản kháng các thế lực bạo động phạm nhân quyền, ở Hoa Kỳ hay nơi khác, và dựa vào một tinh thần tranh đấu không lệ thuộc. Các hành động như thế chỉ thúc đẩy cho những tác hại nghiêm trọng về mặt quyền lực, kỹ thuật, di dân, giao dịch và du lịch từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông, từ kẻ có đến kẻ không có, được tồn tại mãi mãi.

Truyền thông hỗ trợ chứng quên?

Tác động của vai trò truyền thông trong việc “gài khung” và chọn lựa ban phát đặc quyền cho ai rất đáng được xem xét ở đây. Tờ San Jose Mercury News đáng lẽ phải cổ võ thật tình cho nhiều quan điểm khác nhau thay vì chỉ đăng vỏn vẹn một ý kiến từ một người cố vấn truyền thông cho tờ báo. Vai trò truyền thông dân chủ là cổ xúy nhiều cách bày tỏ khác nhau và có suy tư sâu sắc thay vì chỉ là một bài viết mang quan điểm “gài khung” như thế. Tờ báo này cũng không thể chỉ miễn cưỡng (nếu phải nhượng bộ) cho đăng thêm chút đỉnh một vài tiếng nói tiêu biểu bất đồng với quan điểm của tác giả. Lý do sâu xa nào khiến tờ báo này chỉ chọn anh Sonny Lê thay vì nhiều quan điểm khác? SJ Mercury News đã không làm đúng vai trò mình trong việc thừa nhận hay ghi khắc lại sức mạnh của những tiếng hô to cũng như nỗi thinh lặng vì ký ức hậu chiến tranh.

Đã hơn ba thập niên qua, nếu những người “dị diện” gào thét thì bị cho là “bệnh” và “điên”, và phải nghe đuổi, “Cút về nước mày đi!” Nếu họ chọn sự im lặng vì nhiều lý do khác nhau, họ bị buộc tội là ngu xuẩn (và cũng dễ tạo chỗ cho các mánh khoé hạng cơ tầng và xóa sổ văn hóa tại các địa phương có người Việt tụ tập). Nếu họ lừng khừng nhưng chăm chỉ cần cù, họ được tưởng thưởng danh hiệu “thiểu số mẫu mực” – nhóm được xếp hạng dự bị tạm không coi là “Kẻ kia” nữa, và đáng làm gương cho các sắc dân khác trong công cuộc đeo đuổi cái thiên đường Hoa Kỳ “hậu chủng tộc” (post-racial)[17]. Dĩ nhiên là trường hợp éo le như thế này chỉ giúp cho hiện trạng bất bình đẳng chủng tộc và giai cấp vẫn y như cũ, và kéo dài tình thế “những nhập nhằng không tên” [18] ra thêm thôi.

Tóm lại, chúng ta cần nhiều tiếng nói đa dạng đa hình và trong tự do dân chủ khi linh hồn cộng đồng đang bị gài khung vào cái nhãn hiệu “bát nháo” “không chấp nhận được” vì “phi văn hóa Mỹ”. Khi những tiếng nói của ký ức tập thể này trỗi lên thì cả lời lẫn ý không thể tuân theo cái mẫu mã tinh vi được sáng chế của các tay “làm nô lệ bậc thầy” (dựa theo định nghĩa của Frantz Fanon [19] và G.W.F. Hegel [20]). Những tiếng nói bày tỏ nỗi niềm của ký ức thời hậu chiến tranh phải ra khỏi khuôn rập có kế hoạch chuyên phục vụ cho cơ chế kiểu Trắng độc đoán nhưng khéo ẩn trong thời đại “hậu dân quyền”[21] (post-civil rights era) hay thời đại đã thui chột màu da (color-blind era)[22].

Tất cả tín hiệu, hình thức, nội dung, và khuôn thước hằng ngày của cơ chế kiểu Trắng đều hoạt động để lấp liếm ký ức ám ảnh quốc gia này về cuộc chiến Hoa Kỳ ở Việt Nam. Đây là loại ký ức chỉ sống ngoài rìa tâm thức của người Mỹ để chống chọi lại sự hiện diện của những ai từng bị nô dịch hoá – nhất là những kẻ bị mang danh “chiến bại chân ướt chân ráo” (fresh-off-the-boat losers) và chỉ coi là những hồn ma bóng quế nơi đất người.

Chắc chắn chúng ta cần nhiều tiếng kêu ca trách móc qua gào thét không còn bị xiềng xích và niềm thinh lặng tang thương hơn là sự phủ nhận và trám miệng của lịch sử chính thống đế quốc. Những tấm thân cởi bỏ xiềng xích ấy cần được công nhận và trình diễn cho hết thảy mọi người, nhất là qua nhiều hình thức khác nhau, và do đó không chỉ ở loại từ chương (text-based) vì “Giờ là lúc ngưng đánh đấm cuộc chiến đã hạ hồi từ lâu” [23].

© 2010 VietSoul:21

© 2010 talawas, http://www.talawas.org/?p=23362


CHÚ THÍCH:

***Tiểu sử của Sonny Lê: Theo nguyệt báo Bia Miệng [2010/09/01]:

“Trong thời gian gần đây Sonny Lê đã có mặt tại Seattle nhiều lần dưới chức vụ nhân viên truyền thông (Regional Media Specialist) cho Cục Kiểm tra dân số của Hoa Kỳ (US Census Bureau). Y lo cho việc vận động để kiểm tra dân số loại cấp vùng [cho 4.5 tiểu bang từ Bắc California ngược lên Oregon và Washington, qua Idaho, và cả tiểu bang Alaska] được thành công. Y đã có mặt trong buổi họp chính thức với các tay chính trị gia của quận hạt King và thành phố Seattle về vđ này tại Rainier Vista Boys & Girls Club, vào chiều ngày 4/3/2010.

Trước khi đến Seattle thì Sonny Lê đã hoàn tất công tác truyền thông hô hào vận động cho kiểm tra dân số cho vùng vịnh phía Bắc (Oakland), nơi y đang cư ngụ. Đây cũng là công việc hắn đã từng đảm trách cho Cục Kiểm tra dân số của Hoa Kỳ từ năm 1997-2000 tại khu vực miền Bắc của California.

Một cách quảng cáo vận động hô hào khuyến khích (hay dụ) để chúng ta ghi danh là nhà mình gồm có bao nhiêu người thì trên bề mặt rất bùi tai: cái giá có lợi lộc được hưởng từ ngân quỹ liên bang kết xù vào khoảng 400 triệu đô la. Ngân quỹ này sẽ chia cho các hội đoàn cơ quan vô vụ lợi và chính phủ địa phương để trang trải việc “lo cho” chúng ta về nhà ở, sức khỏe, việc làm, giáo dục, v.v… Ai là người thực sự hưởng các lợi tức này? Chỗ nào là cái bánh vẽ? Đây là một vđ nhập nhằng mà bài viết của Hồn Việt Thế Kỷ 21 có đề cập đến.

Điều quan trọng là y đã giữ chức chỉ đạo truyền thông (Communication Director) cho tổ chức Đông Tây Hội Ngộ (East Meets West Foundation) vào năm 2001. Đây là một tổ chức được thành lập bởi Lệ Lý Haylip vào khoảng năm 1987. Chắc quý vị vẫn còn nhớ đến quyển sách mà bà này viết tựa đề là “Khi trời và đất đổi thay” (When Heaven and Earth Changed Places) đã chuyển thành phim vào năm 1993 với ông đạo diễn Oliver Stone?

Cơ quan Đông Tây Hội Ngộ này điều khiển khống chế các hoạt động của các cơ quan vô vụ lợi làm việc tại Việt Nam bằng ngân quỹ của họ (nguồn ngân quỹ thì nhận từ World Bank, USAID, các nguồn tài trợ tư như Ford Foundation và mới nhất là Atlantic Philanthropies của ông Feeney). Ngân quỹ hiện tại của tổ chức này đã lên đến 26 triệu và đang làm việc chặt chẽ với CSVN cùng với tổ chức Ford Foundation vận động các em thế hệ trẻ tin vào huyền thoại về tác hại của chất độc màu da cam.

Với danh xưng làm việc này cho tổ chức Đông Tây Hội Ngộ, Sonny Le cũng đã là nhân vật trụ cột đứng ra tổ chức hội nghị toàn quốc đầu tiên để tạo gặp gỡ giữa các cơ quan phi chính phủ đang và mộng sẽ làm việc cho Việt Nam. Hội nghị này đã diễn ra trong ba ngày tại Asilomar Conference Center ở thành phố Pacific Grove, California, từ 7/5/2004 để tiến tới thành lập Mạng lưới các Tổ chức NGO Mỹ gốc Việt (VA NGO). [Chú thích: Dĩ nhiên là có một số nhân vật chẳng hạn như Michael Sơn Phạm tại Seattle tham dự. Vào năm kế tiếp từ ngày 18 đến 20/11/2005 tại quận Sonoma, CA, Lê Xuân Khoa đã đọc diễn văn về “Hoạt động từ thiện và phát triễn xã hội của người Mỹ gốc Việt tại Việt Nam”. Hiện nay Michael Sơn Phạm đang nằm trong hội đồng quản trị của nhóm Liên hiệp các tổ chức phi chính phủ Việt Mỹ (VA NGO Network) cùng với bà BS Quỳnh Kiều.] Liên hệ này cũng là một vđ nhập nhằng mà bài viết của Hồn Việt Thế Kỷ 21 có đề cập đến.

Ngoài ra Sonny Lê cũng là người cố vấn truyền thông cho cuộc triển lãm về quan hệ giữa tiểu bang California và thời chiến Việt Nam (“What’s Going On? California and the Vietnam Era”) tại viện triển lãm Oakland từ tháng 8/2004 đến 2/2005. Quá trình thực hiện cuộc triển lãm này thì đầy mâu thuẫn xung đột vì viện này đã lập tức cho cô Mimi Nguyễn nghỉ việc (không đưa ra lý do) ngay sau khi nghiên cứu sinh người Mỹ gốc Việt được mướn lần đầu tiên này đã tỏ ý muốn các di vật thời chiến của người miền Nam Việt Nam cũng phải được trình bày song song với các di vật chiến tranh (như quần áo bộ đội) của miền Bắc và người Hoa Kỳ vì lẽ công bằng. Một kiến nghị với hơn 500 chữ ký của người Việt Nam khắp thế giới phản đối hành động cho nghỉ việc bất công này đã không giúp cho cô Mimi Nguyễn được trở lại làm việc. Một học sinh cao học người Mỹ gốc Việt được mướn để thay thế cho cô Mimi cũng bỏ việc sáu tháng sau đó. Cho dù viện này có lập ra ban cố vấn tạm thời gồm một số người đã ký tên trong bản kiến nghị đó, họ rồi cũng thất vọng khi thấy lịch sử chiến tranh của miền Nam bị bóp méo xuyên tạc hay giảm thiểu.

Tóm lại, nghề nghiệp chính của Sonny Lê là về truyền thông sau khi hắn làm việc cho Đông Tây Hội Ngộ và được Rockefeller Foundation trong năm 2001 cho đào tạo về kỹ năng làm việc với các hệ thống tiền tệ quốc tế làm việc tại các nước đang phát triển. Y đến Hoa Kỳ vào năm 1981 sau khi vượt biên và ở trại tị nạn Singapore và Nam Dương được hai năm. Sonny Lê cũng là người hiện đảm trách “Little Saigon Inside” blog tại http://littlesaigoninside.blogspot.com/ dưới sự chỉ đạo của Asian-American Poll Media.”

[1] Sonny Lê (2010, July 26th). Giờ là lúc ngưng đánh cuộc chiến đã hạ hồi từ lâu (It’s time to stop fighting the long-past Vietnam War). San Jose Mercury News. Bản chính tiếng Anh:http://www.mercurynews.com/opinion/ci_15590279?nclick_check=15590271
Bản tiếng Việt: http://www.dcvonline.net/php/modules.php?name=News&file=article&sid=7638

[2] Nguyễn Hoàng. (2010, July 20th). “Hành động ‘phi văn hóa Mỹ’”? BBC Tiếng Việt.

[3] Vi Nhân (2010, August 5th). “Bịt miệng nạn nhân”. Talawas 03/8/2010

[4] Cooks định nghĩa thuật ngữ “Trắng” (Whiteness) là “một bộ các sách lược của thuật hùng biện được sử dụng để xây dựng và tạo cho văn hóa và bản thể sắc diện của người da trắng được đứng vững.” Xem: L. Cooks (2003). “Pedagogy, Performance, and Positionality: Teaching about Whiteness in Interracial Communication”. Communication Education, 52 (3), tr. 246. Ngoài ra, P. McLaren thì cho nghĩa “Trắng” là sự chối bỏ việc thừa nhận người da trắng luôn dính đến một số các liên hệ nhất định trong xã hội về đặc quyền và tương quan giữa thống trị và bị trị.” Xem: P. McLaren (1997). “Decentering Whiteness”: In Search of a Revolutionary Multiculturalism. Multicultural Education, 5 (1), tr. 9.

[5] Robbins, C. G. (2004, September). Racism and the Authority of Neoliberalism: A Review of Three New Books on the Persistence of Racial Inequality in a Color-blind Era. Journal for Critical Education Policy Studies, 2(2), .

[6] Freire, P. (1970). Pedagogy of the oppressed (M. B. Ramos, Trans.). London, UK: Penguin.

[7] Saltman, K. J., & Gabbard, D. (2003). Education as enforcement: The militarization and corporatization of schools. New York; London: RoutledgeFalmer.

[8] Bruin, T. (2004, June 17th). Vietnam’s Manifesto on Overseas Vietnamese Rings Hollow. Partito Radicale Nonviolento transnazionale e transpartito (Nonviolent Radical Party transnational and transparty),

[9] Hayton, B. (2010). Vietnam: Rising dragon. New Haven, CT; London, UK: Yale University Press.

[10] Mạng lưới OneVietnam vừa mới phát khởi khoảng giữa tháng 7/2010 từ miền vùng vịnh phía bắc tiểu bang California. Đây là mạng lưới được ủng hộ và cố vấn từ hội Đông Tây Hội Ngộ trong thúc dục tạo sự nối kết toàn cầu cho tầng lớp thanh niên Việt hải ngoại và trong nước. Xem Minh Anh. (2010). OneVietnam kết nối người Việt toàn cầu (OneVietnam links the Vietnamese on the globe). Voice of America (VOA News.com),

[11] “Incite! Women of Color Against Violence” (Ed. 2007). The revolution will not be funded: Beyond the non-profit industrial complex. Cambridge, MA: South End Press.

[12] Roelofs, J. (2009). “Networks and Democracy: It Ain’t Necessarily So.”American Behavioral Scientist, 52(7), 990-1005.

[13] Thuật ngữ “Kẻ kia” là một khái niệm trong triết học được khoa xã hội học dùng để diễn tả “các tiến trình mà các xã hội và nhóm đoàn sử dụng để loại trừ những “Kẻ kia” – những phần tử mà họ muốn thống trị tuy không đồng hóa được trong xã hội hay nhóm đoàn của họ…. Sách lược tạo ra “Kẻ kia” là một nhu cầu cấp bách cho các bản thể căn cước quốc gia, nơi mà các chính sách và hành động cho nhập cư và cách ly giúp tạo ra các ranh giới và làm quốc gia tính được giữ vững. Sách lược tạo ra “Kẻ kia” giúp tạo phân biệt giữa nhà/quê hương và xa nhà/xa quê hương, giữa cái không định và cố định. Sách lược nay thường dính líu đến chước nguyền rủa và bất nhân đối với các nhóm đoàn, để từ đó có thể bào chữa thêm cho các mưu “văn minh hóa” và bóc lột những kẻ hay nhóm “Kẻ kia” bị coi là “tồi” này.

[14] Xem chú thích số 3.

[15] “From Seattle”. (2010, July 27th). “Tương lai là chìa khóa cho vấn nạn này” [Future is our key to this problem (Reader’s Comment on the Opinon Piece, “It’s time to stop fighting the long-past Vietnam War“)]. San Jose Mercury News, .

[Nguyên văn lời phản hồi trên báo này từ một độc giả lấy tên là “Từ Seattle” tạm dịch như sau: “Tôi đứng về phía anh hoàn toàn 100%, anh Sonny Lê à, nhưng tôi chẳng băn khoăn lo lắng mấy về cái chuyện này. Hạng người như Lý Tống thật ra chỉ là vài con sâu trong cộng đồng mình thôi. Những con sâu này đang làm rầu nồi canh, nhưng chẳng bao lâu nữa thì bọn này cũng chết thôi và bầu trời sẽ xanh hơn nhiều. Tôi đã từng đối diện với bọn này, và anh tin tôi đi, tôi biết, họ là đám hung bạo và không biết điều một cách vô lý nhất trên trái đất này. Nhưng mà thôi, dẫu sao thì họ cũng đã từng là cha mẹ, anh chị của mình, và chúng ta không làm gì được cả. Mình cứ mặc kệ họ, văn hóa mình nó là vậy rồi. Việc điên rồ này thì cũng chẳng ăn thua gì đâu, ta cứ ráng kiểu kính trọng họ và cứ mặc kệ họ, cứ tiếp tục làm thế đi. Cái đáng buồn là việc họ làm đã đem lại nhiều bất lợi cho cộng đồng chúng ta, nhưng không sao cả. Ta cứ hướng về nơi sáng sủa, còn nhiều người không thành sâu bọ trong cộng đồng mình lắm. Cái tên Lý Tống sẽ đi vào lãng quên, nhưng những tên khác sẽ được ghi nhớ chẳng hạn như tên của anh, Sonny Lê, Madison Nguyễn, Đàm Vĩnh Hưng, v.v… còn nhiều tên khác nữa, những người đã đóng góp rất nhiều cho cộng đồng mình. Hiện tại thì ta cứ phải coi chừng và tránh cái bình xịt cay ấy trong một khoảng thời gian ngắn nữa thôi, hy vọng là vấn nạn này sẽ tiêu tan trong vòng 5-10 năm nữa, nhưng mà đừng có phải lo phiền về chuyện này làm gì, đừng thèm để ý tới và cứ mặc kệ họ. Cảm ơn anh Sonny Lê nhé!”]

[16] Mạng lưới OneVietnam được ủng hộ và cố vấn từ hội Đông Tây Hội Ngộ trong thúc dục tạo sự nối kết toàn cầu cho tầng lớp thanh niên Việt và để làm các việc “không đề cập tới vấn đề chính trị hay sự cay đắng của quá khứ,” theo lời của cô Isabelle Lai, một trong những người sáng lập đã tuyên bố với ký giả đài VOA. Xem Minh Anh. (2010). OneVietnam kết nối người Việt toàn cầu (OneVietnam links the Vietnamese on the globe). Voice of America (VOA News.com)

[17] Những người quan tâm đến vấn đề chính trị của Hoa Kỳ đã bàn cãi về danh hiệu của thời kỳ sau khi Barack Obama trở thành vị Tổng thống người da đen đầu tiên ở Hoa Kỳ. Có người lạc quan cho rằng thời kỳ hiện tại đã đi vào giai đoạn “hậu chủng tộc” khi mà các nhà tranh đấu cho dân quyền trong thế kỷ trước ủy thác cho lịch sử (thời đại “hậu dân quyền”), và người Mỹ không còn dựa vào yếu tố chủng tộc để chọn ai là người lãnh đạo họ nữa. Rất nhiều người và nhóm khác thì không tin rằng yếu tố chủng tộc đã chấm dứt là một động cơ quan trọng trong việc các thể chế và người nắm quyền đối xử với dân, và họ vẫn cho là giai đoạn hiện tại là thời đại “thui chột màu da” (color-blind). http://news.newamericamedia.org/news/view_article.html?article_id=95559f6b47b35378b96d56a0d13cf461

[18] Vi Nhân (2009, May 10th). “Những cái nhập nhằng không tên” (The Unspoken Ambiguities). talawas 10/05/2009,

[19] Fanon, F. (1967). Black skin, white masks. New York, NY: Grove Press

[20] Hegel, G. W. F., Miller, A. V., & Findlay, J. N. (1977). Phenomenology of spirit. Oxford, UK: Clarendon Press.

[21] Xem chú thích số 16.

[22] Xem chú thích số 16.

[23] Xem chú thích số 1.

Phỏng dịch và thêm ý lời từ hai bản anh ngữ:

Bài cô đọng với 600 từ: Collective Amnesia and Rhetoric of Mobilized Participation

Bài nguyên văn: Collective Amnesia and Rhetoric of Mobilized Participation (Complete)

Joyce Anne Nguyen – Viết

In Cộng Đồng, Thế giới, Việt Nam on 2010/08/08 at 15:31

Một bài của Joyce Anne Nguyễn, cô gái 16 tuổi, hiện sống ở Na Uy “Viết tặng những người bạn trên facebook, những bloggers đang viết, đã ngừng viết và những bloggers sẽ bắt đầu viết.

Viết là viết ra cảm xúc và sự thật. Viết là viết những gì đã nhìn thấy. Viết là nói về những bất công đang diễn ra. Viết là viết về những khác biệt giữa nước ta và nước khác, để thay đổi, tiến bộ và đấu tranh cho những quyền sống cơ bản. Viết là làm thức tỉnh, là kêu gọi sự quan tâm.

… Tôi không nói về những người khác, nhưng riêng phần tôi, tôi biết tôi không có quyền than thở. Tôi không có quyền nói mình mệt mỏi. Hiện tại tôi không còn ở VN, nhưng tôi vẫn luôn mang dòng máu VN, và nhìn chung tôi không làm được gì nhiều, thế nên tôi không thể bỏ cuộc. Tôi sẽ tiếp tục viết. Và làm gì đó, theo cách này hay cách khác.

… Viết không chỉ cho bản thân. Viết cho những người bị buộc phải im lặng. Viết cho những người mất gần như mọi thứ chỉ vì khát vọng tự do. Viết cho những người đã ngã xuống. Viết cho những người đấu tranh cô độc. Viết cho những người còn đang sống và không biết mình bị thiệt thòi và thiếu các quyền sống cơ bản của con người. Viết cho những người đang vô cảm hoặc không biết nhiều về tình hình đất nước. Viết cho dân tộc. Viết cho những phần lãnh thổ lãnh hải đã mất. Viết cho lịch sử. Viết cho những người đã khuất, đang sống và những thế hệ tiếp sau. Viết không phải là tuyên truyền. Viết không phải là hô hào nhân dân xuống đường còn mình an toàn ngồi ở nước khác. Viết là viết ra cảm xúc và sự thật. Viết là viết những gì đã nhìn thấy. Viết là nói về những bất công đang diễn ra. Viết là viết về những khác biệt giữa nước ta và nước khác, để thay đổi, tiến bộ và đấu tranh cho những quyền sống cơ bản. Viết là làm thức tỉnh, là kêu gọi sự quan tâm.

… Bạn cảm thấy gì khi đọc tin công an đánh chết dân? Bạn nghĩ sao khi 1 ủy viên chi bộ tuyên bố “Hoàng Sa, Trường Sa là bãi hoang chim ỉa.”? Bạn cảm thấy gì khi đọc tin ngư dân bị hải quân TQ đánh cướp và giết chết, báo chí VN ban đầu chỉ nói là tàu lạ, rồi sau đó mới thừa nhận? Bạn cảm thấy gì về bài báo phân tích VN phải mất 175 năm để theo kịp Singapore, với điều kiện Singapore không phát triển? Bạn cảm thấy gì khi thử so sánh sự chênh lệch trong mức tiền thưởng Tết của 1 công nhân bình thường và 1 quan chức ở nước ta? Bạn cảm thấy gì và theo bạn vì nguyên do gì người VN luôn tìm cách ra khỏi nước dù phải chịu cực khổ và tủi nhục khi sang nước người bằng những con đường kết hôn với chồng Đài Loan, sang lao động tại Malaysia hay Đông Âu, hoặc du học và ở lại?…

Bạn nhìn thấy cả. Những bất công đang diễn ra và bạn nhìn thấy tất cả. Nhưng bạn đã lựa chọn: im lặng. Bạn im lặng vì những người khác im lặng. Bạn im lặng và bạn muốn mọi người đều im lặng. Bạn cũng muốn tôi phải im lặng. Bạn chất vấn tôi, hỏi tôi nhận bao nhiêu tiền để viết, và tại sao tôi phải viết khi tôi hoàn toàn có quyền quên đi và bắt đầu 1 cuộc sống mới tại nước khác, nhưng tôi tin bạn đã biết câu trả lời tại sao.

Đọc nguyên bài Viết trên blog joyceannenguyen.wordpress.com

Bịt Miệng Nạn Nhân (Vụ LÝ TỐNG-ĐÀM VĨNH HƯNG)

In Cộng Đồng, Chính trị (Politics), talawas, Việt Nam on 2010/08/02 at 14:13

“Cuộc chiến đã chấm dứt vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Phe chiến thắng, phía bại trận đã rõ ràng. … diễn ngôn “tị nạn cộng sản” và diễn ngôn “chống cộng” là diễn ngôn thuộc về nạn nhân. Chống cộng ở đây nằm trong nội hàm lên tiếng tố cáo tội ác gây ra bởi Đảng CSVN đối với các nạn nhân ấy và cho cả dân tộc đang phải tiếp tục cam chịu. Nạn nhân sẽ lên tiếng cho đến khi nào kẻ gây ra tội ác nhận tội.”

—————

Vi Nhân

Không thể để lịch sử bị tẩy trắng “bằng cách lượt chắn sự quan trọng của đau khổ.” (History is not to be whitewashed “by a screening out of the importance of suffering.”)

(Future in the Memory of Suffering, Johann-Baptist Metz, 1972)

Một trong những phương pháp hữu hiệu để kẻ ác che dấu tội phạm họ là bịt miệng nạn nhân. Khi không thể bịt miệng nạn nhân được thì kẻ ác sẽ dùng biện pháp tâm lý để trấn áp tinh thần nạn nhân làm cho nạn nhân có cảm giác mình nhúng tay một phần trong cái tội ác. Sau đó, nạn nhân vì nhục nhã mà không dám lên tiếng tố cáo. Nếu cả hai biện pháp trên không có tác dụng với nạn nhân thì kẻ ác sẽ sử dụng mọi phương tiện dùng địa vị, quyền lực, tiền bạc để một mặt bao biện và đánh bóng nhân thân và chối bỏ tội ác, còn mặt kia thì bôi nhọ nạn nhân là người vu khống xấu xa.

Khi việc bịt miệng đã xảy ra thì nào có ai biết được tội ác và nạn nhân trở thành những bóng ma vất vưởng ở trần gian. Các nạn nhận bị cưỡng bức tình dục trong gia đình thường sống vất vưởng với ám ảnh mình là tội phạm nhiều năm có khi suốt cuộc đời. Chỉ khi họ có thể nào nói ra hết, nhận diện kẻ tội phạm, và từ bi với cả họ lẫn mình thì họ mới có thể bắt đầu tẩy rửa vết thương lòng và hồi phục lại.

Mấy ai biết được có một Trương Văn Sương đã ở trong lao tù, biệt giam của Cộng Sản Việt Nam hơn 33 năm. Khi ông ta được tại ngoại tạm thời vì lý do sức khỏe, có cơ hội lên tiếng thì người ta mới ngỡ ngàng biết rằng ông đã sống/chết trong địa ngục lao tù cộng sản như thế nào. Ông đã chịu đày đọa này chẳng vì ngoài việc gì khác hơn là không nhận tội, và làm đúng phận sự của một công dân bảo vệ tự do trước kẻ gây tội ác với đồng bào ông.

Những nạn nhân của tội ác cộng sản thường luôn luôn bị bịt miệng. Những nạn nhân cộng sản Nga thời Liên Bang Xô Viết đã bị bịt miệng gần 100 năm (1918-2010) đến nay mới được Tổng thống Nga lên tiếng xác nhận là tội ác của Stalin. Khoảng 22.000 sĩ quan ưu tú Ba lan đã bị tàn sát tập thể tại rừng Katyn bởi mật vụ Nga và bị bịt miệng đúng 70 năm. Họ chỉ mới đây được nhận tội bởi chính phủ nước Nga trong năm nay.

Tương tự, gần 50.000 người dân Việt vô tội bị giết và khoảng 500.000 chết lần mòn trong các trại cải tạo lao động hoặc vì đói trong cuộc cải cách ruộng đất năm 1953-1956. Sau 30-4-1975, 65.000 công dân miền Nam bị xử tử. Một triệu quân nhân, nhân viên bị bắt giam cầm trong các trại lao động cải tạo và 165.000 người chết trong tù. Rồi kế đó thì lại gần một triệu người vượt biên tìm được bến bờ tự do và 250.000 bỏ mình trên đường tìm tự do và trên biển cả. Một tập thể người Việt Nam tỵ nạn, nạn nhân cộng sản, đã bị bịt miệng đúng 35 năm. Cho đến nay thì Cộng sản Việt Nam chưa nhận tội. Và ký ức tập thể (collective memory) về tội ác đó đã dần dà bị tẩy xoá dần bởi những hoạt động trong và ngoài nước Việt Nam qua nghị quyết 36.

Nạn nhân càng bị bịt miệng thì họ tự nhiên càng muốn được nói ra hết những uẩn ức trong lòng. Bằng cách này hay cách khác họ muốn kẻ phạm tội thú nhận tội. Khi không được bày tỏ bằng ngôn từ thì họ mong được lên tiếng qua cử chỉ (body language) hoặc dùng “ngôn ngữ” chợ búa. Một phóng viên người Iraq ném giày nhắm vào Tổng thống Bush để phản đối Hoa-kỳ đóng quân trên đất nước của ông. Một bà dân oan đi kiện tụt quần tại văn phòng tiếp dân trung ương đảng CSVN để phản kháng sự hiếp áp của công an nơi thưa kiện và việc chiếm đất ở địa phương. Bà thách thức bạo quyền thà cứ “hiếp” bà trước mặt công chúng còn hơn là bản thân và gia đình bị công an địa phương hà hiếp lén lút ở góc tối. Một gia đình ở Bắc Giang có con chết oan ức vì bị công an đánh buộc phải đem quan tài diễu hành trên phố để đòi lại “công bằng cho con trai tôi”. Còn thêm bao nạn nhân chết tương tự dưới tay công an CS như ông Nguyễn Năm (3-7-10), anh Nguyễn Phú Trung (8-6-10), Nguyễn Quốc Bảo (22-1-10), nhưng đa số tất cả đã bị bịt miệng.

Ông Lý Tống xịt hơi cay vào mặt ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng mà ông cho là một cán bộ văn hoá đang ru ngủ và tẩy xoá tội ác CSVN trong cộng đồng nạn nhân (tỵ nạn) cộng sản. Những hành vi trên được xem là “tục tằn”, “thô bạo”, “thiếu văn hóa”. Cách ứng xử có văn hoá giữa hai đối tượng chỉ có thể xảy ra khi hai bên có quyền lực tương xứng và cơ chế đối thoại phân minh. Một khi “miệng nhà quan có gang có thép” thì những kẻ bị hiếp đáp chỉ biết dùng “đồ nhà khó vừa nhọ vừa thâm” để đáp lại. Nếu một bên có quyền lực tuyệt đối, có quyền sinh sát, nắm tất cả các cơ chế hành pháp, lập pháp, tư pháp – như nhà nước Việt Nam đang nằm trong tay đảng CSVN – để áp đảo tiếng nói của đối tượng thì mọi việc cũng như “con kiến mà kiện củ khoai.” Các luật sư còn bị họ vu khống, bỏ tù, cưỡng chế, quấy nhiễu chỉ vì dám lên tiếng bảo vệ công lý chứ nhằm nhò gì đám dân đen bé cổ thấp họng. Kẻ bị đàn áp không có một cách thức nào khác hơn để lên tiếng. Những hình thức ngôn ngữ dung tục này là phản xạ hoàn toàn hợp lý cho những người nạn nhân bị ức hiếp, đàn áp.

Thế nào là có văn hoá? Ai định đoạt tiêu chuẩn văn hoá? Văn hóa “xin-cho” chăng? Nạn nhân lại phải đi xin công lý ư và chờ cường quyền cho lại nhân phẩm à? Những phê phán trên vị trí đặc ân, quyền lực (privilege, power position) và những so sánh khập khiễng của một số cá nhân trong sự kiện LT-ĐVH này đã cho thấy chứng mất trí nhớ tập thể (hay collective amnesia) trong tâm thức của cộng đồng nạn nhân (tỵ nạn) cộng sản ở nhiều tầng lớp và thế hệ.

Kẻ thống trị và người hiếp áp luôn sử dụng và áp đặt những cơ chế để nạn nhân mất trí nhớ quên đi tội ác mà kẻ bạo quyền đã và sẽ gây ra. Một thí dụ điển hình là có nhiều người từng là nạn nhân lạm dụng tình dục lại trở thành người hiếp áp trong chu kỳ kế. Một trong những nhân tố gây ra là vì họ không có cơ hội lên tiếng tố cáo kẻ phạm tội và tự mình hay bị ảnh hưởng một cách vô thức trạng thái đồng hoá cá nhân mình với bản thân tội phạm. Khi một nạn nhân bị mất trí nhớ về tội phạm thì họ sẽ tự chối mình là nạn nhân, và có lúc quay trở lại tấn công những ai vẫn tiếp tục cố gắng lên tiếng NẾU còn nhớ bản thân họ chính là nạn nhân.

Ta đã thấy dàn đồng xướng khởi từ ngoài vào trong, từ xa đến gần, từ sơ đến thân bắt đầu bôi nhọ nạn nhân. Lý Tống (một trong tất cả người tỵ nạn cộng sản hải ngoại) là nạn nhân cộng sản đã bị gài khung (frame) là “bất lương”, “khủng bố”[i] , “côn đồ”, “ngớ ngẩn, tai hại”[ii] , “kiếm tiền”, và “phi văn hoá Mỹ”[iii] … Gài khung (framing[iv]) là một phương pháp rất hiệu quả để hướng dẫn dư luận, định hướng kết cuộc. Khi đã được cho vào khung thì mọi đối thoại đều lẫn quẩn trong khung với sức thuyết phục hấp dẫn hầu dẫn đến một kết quả có chủ ý. Để có một nhận định tỉnh táo trước vô số tin tức tràn lan nhiễu động thì việc xem xét người viết định khung vấn đề như thế nào rất quan trọng. Nếu không chúng ta sẽ bị dẫn dắt vào ngụy biện và đưa ra một kết luận phán đoán sai lầm.

Ngay sau sự việc xảy ra liền lập tức có một cuộc họp báo được thực hiện chóng vánh để ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng có cơ hội lên tiếng và so sánh “Đàm Vĩnh Hưng đặt vấn đề là có rất nhiều ca sĩ hải ngọai từng hát những bài ca ngợi vinh quang, những chiến công hào hùng của những người ‘trước đây’ (Việt Nam Cộng Hòa), ‘nhưng những ca sĩ đó về Việt Nam hát thì bên đó đâu có ai chống đối’ ”. Rõ ràng một sự so sánh khập khiễng trong tương quan quyền lực. Các ca sĩ hải ngoại đi về Việt Nam hát với tư cách cá nhân. Mọi bài hát đều phải được “duyệt” dưới quyền kiểm soát của Ban Văn Hoá Tư Tưởng. Vui thì cho hát, cho visa ngắn hạn còn không vui thì tống cổ ra khỏi nước một cách “nhẹ nhàng”[iv]. Muốn được “vui vẻ” thì phải nhắm mắt và ngậm miệng, chớ mà “phát biểu lung tung”. Đàm Vĩnh Hưng đi lưu diễn ở hải ngoại với tư cách cá nhân ca sĩ hay là cán bộ văn hoá? Cái nhập nhằng (và cái gian manh) ở đây là thế. Chẳng lẽ ở Việt Nam thì ĐVH tham gia Thành đoàn TP HCM, khi nhót lên máy bay sang nước ngoài trình diễn thì bỏ lại căn cước đó ở nhà. Tóm lại, ĐVH được cả bộ máy quyền lực (ủy ban nước ngoài và các cơ quan truyền thông) đứng phía sau/trước “tiền hô, hậu ủng” nào ai đá động được. Những anh chạy màn và những kẻ cầm cờ đã phát biểu trước dọn đường cho cuộc gài khung bôi nhọ. Những người chân chưa sạch mùi phèn đã dùng luận điệu che bôi, dè bỉu “phi văn hoá Mỹ”. Đáng thương thay cho họ là kẻ “mất trí nhớ”.

Lại có người phát biểu quan điểm là “Giờ là lúc ngưng đánh đấm cuộc chiến đã hạ hồi từ lâu”. Cuộc chiến đã chấm dứt vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Phe chiến thắng, phía bại trận đã rõ ràng. Tuy nhiên, anh ta đã không (muốn) hiểu rằng cái diễn ngôn “tị nạn cộng sản” và diễn ngôn “chống cộng” là diễn ngôn thuộc về nạn nhân. Chống cộng ở đây nằm trong nội hàm lên tiếng tố cáo tội ác gây ra bởi Đảng CSVN đối với các nạn nhân ấy và cho cả dân tộc đang phải tiếp tục cam chịu. Nạn nhân sẽ lên tiếng cho đến khi nào kẻ gây ra tội ác nhận tội. Chừng nào kẻ gây ra tội ác vẫn chối và còn tiếp tục bịt miệng, gây thêm tội ác thì chừng đó nạn nhân vẫn tìm mọi cách mọi phương tiện kêu gào đòi lại công lý và nhân phẩm cho họ. Họ không thể để cho ký ức tập thể bị xóa nhòa và biến dạng để trở thành chứng lãng quên. Ba mươi lăm năm không phải là ngắn nhưng cũng chưa phải là dài để cho thế hệ thứ nhất bị chứng mất trí nhớ tập thể. Thế nhưng thế hệ 1.5 và thứ 2 đã và đang bị điều kiện môi trường dòng chính và tuyên vận cộng sản tìm chỗ yếu kẻ hở để xoá nhoà ký ức tị nạn của họ.

Hoa-kỳ tất nhiên có mặc cảm nhục nhã với cuộc chiến Việt Nam. Vì thế, họ muốn quên và cố gắng vượt qua mối nhục đó: Hoa-kỳ đã gỡ gạc phần nào bắt đầu từ khi có sự kiện bức tường Bá-linh bị sụp đổ và khối cộng sản Đông Âu, Liên Xô tan rã. Họ không muốn nhắc, nhớ đến vết nhơ đó. Họ muốn xoá nhoà lịch sử thua trận và không muốn bị nhắc nhở bởi những người “đồng minh” cũ đang tỵ nạn trên đất nước này. Hoa-kỳ bình thường hoá quan hệ ngoại giao và khuyến khích trao đổi thương mại giữa hai quốc gia. Cộng vào đó là những giao lưu văn hoá, hoạt động thiện nguyện, và du lịch giúp Hoa-kỳ viết lại trang sử chiến bại thành chiến thắng trong tư thế tư bản thống lĩnh thị trường Việt Nam. Thông điệp từ cuộc sống dòng chính Hoa-kỳ là “Hãy quên đi cuộc chiến Việt Nam”. Thế hệ trẻ người Mỹ gốc Việt học hỏi trong nhà trường và giao tiếp thường xuyên với người bản địa nên nhập tâm câu “thần chú” này.

Một ông BS tâm thần người Do thái nói với người Việt đồng nghiệp là “chiến tranh đã qua 35 năm rồi mà sao tụi bay vẫn còn nói tới nói lui hoài.” Chị bạn tôi trả lời “chừng nào người Do thái các ông không còn nhắc nhở đến Holocaust thì chúng tôi sẽ ngừng nói về cuộc chiến Việt Nam” (when the Jews no longer talk about the Holocaust then we’ll stop talking about the Vietnam War). Một người Mễ đồng nghiệp khác cũng nói tương tự với chị và chị đã trả lời “khi nào ông nói với thân chủ là nạn nhân lạm dụng tình dục hãy câm lặng và sống đời phía trước thì lúc đó chúng tôi sẽ không nói đến cộng sản đã đối xử với đồng bào chúng tôi như thế nào” (until you tell your patient, a victim of sexual abuse, shut up, move on, then we will not talk about what they have done to our people.)

Đã đến lúc nạn nhân được lên tiếng và kẻ tội phạm thú tội.

© 2010 Vi Nhân

© 2010 talawas, http://www.talawas.org/?p=23009

——————————–

CHÚ THÍCH:

[i] Báo CAND online 25/7/2010 gài khung “ … vụ Lý Tống tấn công khủng bố ca sỹ Đàm Vĩnh Hưng (Mr Đàm)”

[ii] Henry Nguyễn Hữu Liêm, luật sư và giảng viên dạy Triết tại San Jose City College, California “Hành động của Lý Tống thật là ngớ ngẩn, tai hại và cần phải được trừng trị bằng pháp luật Mỹ”.

[iii] BBC đã phỏng vấn ký giả Đỗ Dzũng từ báo Người Việt ở Nam California “dùng bất kỳ hình thức nào gọi là phi văn hóa Mỹ thì đều không thể chấp nhận được”

[iv] Framing, a term used in media studies, sociology and psychology, refers to the social construction of a social phenomenon by mass media sources or specific political or social movements or organizations. It is an inevitable process of selective influence over the individual’s perception of the meanings attributed to words or phrases. A frame defines the packaging of an element of rhetoric in such a way as to encourage certain interpretations and to discourage others.

[v] Theo lời ông Bill Hayton, phóng viên cho BBC tại Việt Nam năm 2006 và 2007 cho đến khi ông bị rút hộ chiếu vì ông đã tường thuật về những người đối kháng, hiện ở Hà Nội, những người này tham dự cuộc chiến chống Mỹ cảm thấy bị bó trong nỗi giận dữ không có tiếng nói (According to Bill Hayton who in 2006 and 2007 reported for the BBC from Vietnam until his visa was withdrawn for reporting on dissidents, nowadays in Hanoi many Vietnamese who fought the war find themselves trapped in voiceless rage.) Bill Hayton là tác giả quyển sách có tựa đề “Vietnam: Rising Dragon”

Các bài liên hệ khác đã đăng trên talawas:

Chứng quên tập thểCollective Amnesia and Rhetoric of Mobilized Participation

Tôi là người Việt Nam

Chúng tôi (Tự trào – Trí Thức – Tâm Tài)

Những cái nhập nhằng không tênThe Unspoken Ambiguities

Thời cửu vạn, ôsinThe Age of Day Laborer and Housemaid

Lết tới “thiên đường”

Phản bội hay trung thành với lý tưởng?

Các bài trên Tạp chí Da Màu:

Tháng Tư Câm

Hồn ma và xương khô

Nhạc minh hoạ: Hai ca khúc của Phan văn Hưng

(1) Hai Mươi Năm

(2) Còn ai thương Dân tôi (La souffrance des miens)

Chúng tôi (Tự trào – Trí Thức – Tâm Tài)

In Cộng Đồng, talawas, Tạp văn, Việt Nam on 2010/06/15 at 14:52

” Để xoa dịu dị ứng của lương tâm, chúng tôi cũng làm việc thiện, việc phước đức đóng góp cho hội thập tự, bỏ thùng phước sương, giúp xây trường học, giúp quỹ xây cầu, v.v… Nó tạo một khoảng cách tình cảm an toàn giữa chúng tôi và đối tượng. Chúng tôi sống ở chốn bình an, không phải là những người khốn khó đó. Chúng tôi và “họ” là hai thực thể tách biệt. Người làm phước và người được ban phát. Những việc làm đó dần dà tăng sức đề kháng với dị ứng và đến một lúc nào đó chúng tôi được miễn nhiễm.”

—————

Vi Nhân

The opposite of courage is not cowardliness, it is conformity.”

(Anonymous)

The opposite of love is not hate, it’s indifference.  The opposite of art is not ugliness, it’s indifference.  The opposite of faith is not heresy, it’s indifference. And the opposite of life is not death, it’s indifference.”

(Elie Wiesel, Holocaust Survivor)

Cái Tôi của tôi rất lớn nhưng trên diễn đàn mạng thì xin phép các bác cho tôi ôm/vơ/dựa vào đám đông xưng là chúng tôi để thưa chuyện.

Chúng tôi lớn lên trong buổi giao thời, chưa đủ tuổi để tham gia vào cuộc chiến tương tàn cốt nhục. Nhưng dẫu sao chúng tôi cũng đã nghe những tiếng đạn pháo kích nửa khuya và hoảng hốt chui xuống hầm tránh đạn. Chúng tôi thấy dấu máu và tường sập do bị đặt chất nổ ở rạp xi nê mà bạn bè chúng tôi đã nhiều lần cúp cua đi xem phim hồi hộp. Chúng tôi thấy những chiếc xe cam nhông nhà binh chở đầy quan tài phủ cờ quốc gia. Chúng tôi đưa tang, làm giỗ chạp cho anh, cho chú. Chúng tôi cũng bao lần bỏ nhà, bỏ cửa để chuộc mạng di tản, chạy giặc. Rồi chúng tôi trôi dạt tới đất “xin nhận nơi này làm quê hương” thứ hai, kẻ đeo càng trực thăng, người leo lưới nhảy tàu, ai bọc giấy thông hành, và bao người chôn dầu vượt biển. Có hề gì, hãy quên đi cái mảng đời ấy.

Đất nước ngày xưa của chúng tôi bây giờ thì lại đang tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc vào thời kỳ đồ đểu. Đểu qua sự dối trá của chữ nghĩa. Ông láng giềng to kềnh trở thành người “lạ”. Hữu hảo là bảo gì gật ấy. Đầy tớ nhân dân là đày đọa đồng bào. Diễn tiến hoà bình là tiến trình “phản động” cần đề cao cảnh giác. Quốc Hội là cơ quan lập pháp tối cao đại biểu nhân dân nhưng mọi việc phải chờ chủ trương của ban chấp hành trung ương của Đảng CSVN chỉ đạo. Đồng thuận đồng nghĩa với đồng im lặng, đồng gật đầu. Chúng tôi cùng nhau đi theo lề phải, cùng tung hứng nhịp nhàng với loa to, miệng gang miệng thép, để quan lộ hanh thông chứ. Chúng tôi thức thời biết sống với đểu. Chúng tôi là những người sành điệu. Vui thôi mà!

Dù bên này hay bên kia đại dương thì chúng tôi vẫn vui vẻ đánh đu với chữ nghĩa. Chúng tôi thích làm xiếc với phạm trù (triết học, mỹ học, văn học, sử học, v.v…) Hơn thế nữa, chúng tôi dùng mọi khả năng tri thức để tìm chỗ ẩn nấp cho lương tri. Vì mang sứ mệnh trí thức nên chúng tôi không bao giờ muốn để lương tri mình ở nơi thấp kém như gầm cầu, xó chợ. Nó phải được trịnh trọng bưng vào an tọa trong nơi kinh các, thư phòng, hí viện cho xứng đáng nhân thân.

Tâm của chúng tôi thì tròn trịa như viên bi, được dũa mài, được đánh bóng, lóng lánh muôn màu. Bi có thể lăn khắp mọi nơi, mọi hướng, không nằm yên một chỗ vì chỉ động đậy một chút là nó lăn theo hấp dẫn trọng lực (quyền lực). Tâm của chúng tôi được đong đếm, so sánh, cân nhắc với Tài để xem chữ Tâm có được bằng ba chữ Tài.

Chúng tôi thầm kín đắn đo mọi suy nghĩ và hành động vì Tài thì mọn mà Tâm thì mỏng. Trong chúng tôi có kẻ cố rèn luyện kỹ năng chuyên nghiệp và đồng thời mài dũa tâm cho đến một lúc nào đó thì tài cao học hẹp và lương tri tròn trụi. Chúng tôi cùng tự nhận với nhau là trí thức nhưng Tài thì nhỉnh nhỉnh cỡ một bồ và Tâm thì xình xình đâu một rổ. Toàn những chuyên viên chuyên cần chăm chỉ hạt bột. Thế nhưng cái Ngã thì to đùng. Chúng tôi ôm lấy cái chức vị, cái học vị như danh tánh bản thể (personal identity) không thể tách rời hoặc cắt đứt. Chúng tôi sợ chết lắm. Nhưng còn sợ hơn là sống mà bị mất chức danh. Như thể đời tàn. Chúng tôi cố bám lấy cái danh trông vẻ mỹ miều ấy. Nhất quyết phải che chở bao bọc và bán đổi nhiều thứ để an phận giữ lấy “danh”. Ai như cái ông Hữu Loan nào ấy dấm dớ chỉ vì thật mà bỏ tất cả về quê đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi thồ đá. Cứ nhũn đi một tí, cứ dối đi một tị thì chả việc gì! Đúng là con nhà tá điền, nhà nông, quê mùa chả biết gì. Thế đấy, cái Tâm của một người chất phát yêu, ghét quá rõ ràng, chẳng biết màu mè hay dấu diếm. Nên chỉ thiệt thân!

Trong giới chúng tôi nghe đâu có một chàng đeo càng sang đây, xấp xỉ tuổi “anh Ba”[1], mạnh mồm miệng ông Triết (gia). Cũng ngang hàng với người ta, cũng nói năng đúng mức đàng hoàng … Cũng biết cách tư vấn “… vấn đề này là khó lắm đó … chúc ông nỗ lực làm được việc này … vừa động viên … vừa phân hoá” …[2] Ông có viễn kiến tiến trình dân chủ hoá đất nước và chuyện bỏ tù dăm ba người hoạt động dân chủ cũng là chuyện nhỏ. Vì theo cái nhìn biện chứng và sử tính thì mạng con giun cái kiến chả là gì! Con giun cái kiến chẳng thể nhìn xa hiểu rộng—không phân biệt hiện tượng và bản chất, không phóng chiếu tư duy, không nắm được tất yếu của lịch sử, của thời kì quá độ (quá đáng) nên bao nhiêu cũng bị “hy sinh” tế sống cho một đảng “bách chiến bách thắng”. Nhằm nhò chi. Run rủi sao chúng tôi (kể cả ông ấy) đã làm chuyện “phản động”, “phản bội tổ quốc”, bỏ nước ra đi nên bây giờ được hưởng tự do, có nhà (không) cao (nhà trệt), cửa rộng (theo tiêu chuẩn). May là lúc đó đổ khùng “phản động” chứ chờ bây giờ lò mò ra đi theo hạng xuất khẩu lao động làm người rơm, người rừng[3] còn gian truân hơn kiểu “Bác Hồ ra đi tìm đường cứu đói”. Có dại gì mà làm chuyện “chống phá nhà nước”!!!

Chúng tôi có đủ tri thức để tán hươu Đông Tây kim cổ. Tri thức này được trang bị với tinh thần duy lý của hệ thống giáo dục Tây phương nên mọi việc, mọi thứ đều có thể được miêu tả, đong đếm, phân loại, sắp hạng, so sánh, phân tích, và tổng hợp. Mọi luận án, đề án đều có phần kết luận gần như bất khả thi hay tránh né thực hiện. Đó không phải là việc của chúng tôi! Chúng tôi có đủ khả năng lý luận ngụy biện cho mọi việc, với người khác, với nhau, và với cả bản thân. Điều đó không có gì khó vì chúng tôi là những chuyên gia tỉnh lẻ, quen thói tuân thủ nên rất dễ được thuyết phục.

Sinh ra và lớn lên ở Việt Nam vùng Đông Nam Á nên chúng tôi được nghe rất nhiều triết lý Phật giáo và Thiền. Chúng tôi bảo nhau đừng nhìn cái ác và cái thiện trong con mắt của người phàm, từ ý thức trần thế, mà phải nhìn từ ngoài thuyết lưỡng phân. Thiện Ác thì mắt phàm sao thấy được cho nên đừng có mà lên tiếng, chớ có mà hành động để tránh được nhiều phiền toái và thân tâm an lạc. Hơn nữa chúng tôi tin vào cái nghiệp. Chúng tôi có mặt ở xứ tự do, được cuộc sống an lành đó là phước đức ông bà để lại. Còn những đồng bào bị áp bức, bị khổ đau thì cũng là tại cái nghiệp của họ. Cái nghèo, cái đói, cái ngu nào phải do chính quyền thối nát, xã hội đảo điên gây ra. Họ phải chịu trách nhiệm cho bản thân họ như thế thôi. Chúng tôi còn nhắn nhủ nhau nên nhìn vấn đề như những công án thiền—lục lạo và đối chiếu xem cái nào hợp với lý của mình. Chúng tôi cười trên huyên náo của thời cuộc, với cái nhìn của “thức giả” nằm ngoài sự việc và hiện thực, cho rằng mọi hành động chỉ là trò đời, rốt cuộc sự việc trên đời rồi vậy vẫn vậy. Kế sách của chúng tôi là án binh bất động. Chúng tôi lý luận cả hai mặt của một vấn đề (two sides of a coin) (chớ vu là ba phải, vì chỉ mới có hai) nhưng chỗ đứng của chúng tôi thì nhất định phải nằm ở mặt nào (mặt dày) sinh lợi, ít ra là không có hao hụt quyền lợi và danh tánh tùy thuộc vào hoàn cảnh, thời gian. Cùng quá thì ghạt ngang, mắc mớ chi để bàn cãi, tranh luận vì đồng tiền một mặt, hai mặt đã nằm trong túi của tui.

Thật lòng mà nói thì chúng tôi cũng cảm thấy khó chịu và dị ứng với những áp bức, bất công, và giới hạn tự do. Chúng tôi loay hoay, ngứa ngáy do tác động dị ứng và đi tìm liều thuốc xoa dịu. Rất may, chúng tôi có một kho thuốc trị liệu truyền thống: tư tuởng Khổng giáo, Lão giáo, và Phật giáo. Mỗi dị ứng đều có một toa thuốc trị liệu. Nước có minh quân thì ta phò, hôn quân thì ta về ở ẩn. “Con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa phải quét lá đa” có gì mà thắc mắc. Vô vi lão luyện trường sinh. “Đời là bể khổ” và mỗi người có cái nghiệp riêng. Để xoa dịu dị ứng của lương tâm, chúng tôi cũng làm việc thiện, việc phước đức đóng góp cho hội thập tự, bỏ thùng phước sương, giúp xây trường học, giúp quỹ xây cầu, v.v… Nó tạo một khoảng cách tình cảm an toàn giữa chúng tôi và đối tượng. Chúng tôi sống ở chốn bình an, không phải là những người khốn khó đó. Chúng tôi và “họ” là hai thực thể tách biệt. Người làm phước và người được ban phát. Những việc làm đó dần dà tăng sức đề kháng với dị ứng và đến một lúc nào đó chúng tôi được miễn nhiễm.

Miễn nhiễm lương tâm.

Miễn bàn.

© 2010 Vi Nhân

© 2010 talawas, http://www.talawas.org/?p=21341

_________________________________________________________

CHÚ THÍCH:

[1] anh Ba Dũng, Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng

[2] Nguyễn Minh Triết “lòe” Việt Kiều

[3] Những bước chân đổi đời gian nan …

Các bài liên hệ:

(Phản) Phản Biện và Sự Thật

Tôi là người Việt Nam

Những cái nhập nhằng không tênThe Unspoken Ambiguities

Các bài trên Tạp chí Da Màu:

Tháng Tư Câm

Hồn ma và xương khô

Đọc tiếp »

Tôi là người Việt Nam

In Cộng Đồng, Chính trị (Politics), Liên Kết, talawas, Việt Nam on 2010/05/25 at 07:46

“Họ bảo chúng tôi thiếu thông tin, thiếu hiểu biết. Họ bảo chúng tôi đừng mặc cảm nữa. Tại sao mặc cảm? Mặc cảm gì? Mặc cảm phe chiến bại ư? Mặc cảm bọn “phản quốc” bỏ nước ra đi ư? Làm gì có! Chúng tôi chẳng có mặc cảm, và luôn tự hào đã dám bỏ tất cả, chấp nhận tù đày và hiểm nguy trên biển cả sống vất vưởng để đi tìm tự do.”

—————

Vi Nhân

Tôi là người Việt Nam!

Tôi là người Việt Nam!

Tôi là người Việt Nam!

Lập đi lập lại câu này ba bốn lần trong đầu và tôi cảm thấy đau lòng. Đau đứt ruột.

Tôi vừa xem xong Thúy Nga Paris by Night 99, chủ đề “Tôi là người Việt Nam“. Rất nhiều người Việt Nam thành đạt trong mọi lãnh vực, chính trị, khoa học, kinh tế, tôn giáo, v.v… trên khắp thế giới Mỹ, Úc, Gia Nã Đại, Âu Châu được tuyên dương trong chương trình này. Những cá nhân đó với những thành tựu liệt kê xem ra đáng khâm phục. Họ đã vượt qua bao khó khăn cực nhọc trong tiến trình di cư hội nhập và sinh sống ở xứ người để có ngày hôm nay. Sức phấn đấu, trí sáng tạo, lòng tự tin, tính kiên nhẫn, tinh thần tự lực cánh sinh đã giúp họ đạt những thành quả vượt bực. Đó là những tấm gương sáng chói về thành công đường đời trên phương diện cá nhân.

Tôi là người Việt Nam. Nhưng sao lời khoa trương “tự hào dân tộc” hoặc hãnh diện là người Việt Nam này cũng làm tôi cảm thấy ngượng ngùng khi ngắm nhìn các thành tích của các cá nhân đó trong chương trình này. Có lẽ tôi lại thêm một chút gì xấu hổ thì đúng hơn khi “thấy người sang bắc quàng làm họ”. Vì những thành đạt của họ đâu ăn nhập gì đến cá nhân tôi! Tôi cũng chưa nhìn thấy những thành công với kích cỡ này đã mang lại ảnh hưởng tích cực gì cho dân tộc Việt Nam.

Ngược lại, ở xứ người này “một người làm quan cả họ được nhờ” thì cũng chẳng phải là một điều gì hay ho cho lắm. Hoa-kỳ, Úc, Gia-nã-đại, Pháp, Anh, Đức có chắc hãnh diện vì có những gương công dân di dân gốc Việt sáng chói đem lại thịnh vượng cho đất nước của họ? Hay lại trở thành oan khiên của diễn luận và huyền thoại “tấm gương dân thiểu số” (model minority), và là tấm bia gián tiếp dẫn đến những vụ giết người vì phân biệt ghen ghét (hate crime)? Chất xám của những người di dân đến các nước này có điều kiện để phát huy, và giúp tài năng họ nẩy nở tạo ra những thành tựu xuất chúng thì cũng là tất nhiên, nhưng dựa vào đó mà ôm lấy làm tự hào dân tộc Việt Nam ư?

Tôi là người Việt Nam. Rất nhiều lời kêu gọi “Tràng pháo tay cho mẹ Việt Nam”, “Yêu tổ quốc, dân tộc Việt Nam” trong chương trình này. Quả là những lời kêu gọi tình tự ngọt ngào đứt ruột! Khúc ruột ngàn dặm này chẳng đã từng bị cắt vất bao năm, sình chướng ở xứ người. Người Việt nào chẳng yêu mẹ Việt Nam. Nhưng thôi, đừng bắt mẹ Việt Nam phải hy sinh mãi mãi. Đừng bắt chị, bắt em bán thân đợ nợ. Đừng bắt trẻ, bắt già học giáo điều thối rữa. Chúng đã cắt da xẻ thịt mẹ đem cho kẻ “lạ”. Chúng từng thế chấp mẹ cả trăm năm ở rừng đầu nguồn. Chúng không ngừng đào bới lưng còng mẹ, rút tủy tài nguyên. Chúng còn đè lưng cưỡi cổ anh em con, mẹ Việt Nam ạ. Tất cả cho kẻ “lạ”! Còn anh em thì sống chết mặc bay. Chúng lại hành hung, khủng bố, giam cầm người con nào muốn bảo vệ mẹ. Mẹ là mẹ của tất cả các con chứ đâu phải riêng gì của chúng! Chúng lại bảo các con cần đóng góp nuôi dưỡng mẹ. Và cũng chính chúng trâng tráo hàng ngày rút máu mẹ bán trước đã. Các con càng thương mẹ bao nhiêu, thì chúng càng bòn rút mẹ bấy nhiêu. Chúng giết mẹ rồi. Con sói lang lấy chăn phủ người, lấy khăn che mặt. Nhưng chúng con dù là cô bé quàng khăn đỏ ngây thơ cũng biết mẹ là mẹ. Mẹ đâu có mắt lồi hung dữ, mẹ đâu có răng nanh nhọn hoắc, còn hôi mùi thịt, còn tanh mùi máu. Chúng bảo “Trung với Đảng!” Không! Một trăm lần không, một ngàn lần không. Đảng không là tổ quốc! Đảng chẳng bao giờ là tổ quốc.

Tôi là người Việt Nam. Những câu ca dao, tục ngữ “lá lành đùm lá rách”, “bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy là khác giống nhưng chung một giàn” lan chảy trong huyết quản, nằm lòng từ thuở cắp sách tới trường qua các bài học đức dục. Ai mà không yêu tổ quốc, dân tộc. Tuy nhiên, lòng yêu tổ quốc không thể để bị bán tráo cho một chủ thuyết lai căn vô nhân bản.

Tình đồng hương, đồng bào, nhân loại hiện nay đang được khai hoa, rộ trái qua các tổ chức thiện nguyện và bất vụ lợi. Hoạt động của khá nhiều đoàn thể này tạo một cơ cấu, một thuật loại tổ chức sinh hoạt tạo thuận lợi cho các đóng góp giúp đỡ từ mọi người. Họ làm với mục tiêu chuyên biệt và tập trung trong một lãnh vực. Thật đáng quý, đáng trọng biết bao. Mục tiêu của các tổ chức thiện nguyện này nhằm nâng đỡ người nghèo khổ, hoạn nạn, bất hạnh. Đó là cơ chế giảm, bù trong xã hội với nhiều hố cách biệt. Giảm đói, giảm nghèo; bù thiệt thòi, thiếu thốn. Tuy nhiên, các tổ chức thiện nguyện và bất vụ lợi thật ra chỉ là một cơ chế phụ trong một quốc gia, nhà nước. Vì sao?

An sinh xã hội trước hết phải phát xuất từ chính sách của quốc gia và trách nhiệm của nhà cầm quyền đương thời. Quốc sách “cơm no, áo ấm” cho toàn dân bao giờ cũng phải thật sự là điều nằm lòng trong tiềm thức và chủ tâm của người lãnh đạo. Chứ không phải trên đầu môi, chót lưỡi của cái loa tuyên truyền thuộc một nhà nước “xã hội chủ nghĩa” nhưng chẳng màng gì đến phúc lợi xã hội. Giáo dục công cộng đã bị lụn tàn và giờ đây lại đẻ ra vô số khoản “lệ phí” đòi hỏi từ cha mẹ học sinh. Y tế công cộng thì trở chiều bệnh hoạn một khi giới “lương y như từ mẫu” lúc nào cũng hạnh hoẹ “đầu tiên” (tiền đâu?) trong từng khâu, từng phòng.

Tôi là người Việt Nam. Bản thân tôi cũng đã đóng góp gián tiếp, trực tiếp ở các tổ chức thiện nguyện địa phương cũng như các hội xuyên quốc gia về đến Việt Nam. Điều này không mấy phiền khó. Thật dễ để đóng góp tài chánh cho tổ chức thiện nguyện, và cũng không lắm nhọc khi bỏ chút công sức tham gia quyên tiền, hoặc trực tiếp đến tận nơi giúp đỡ người hoạn nạn. Các tổ chức thiện nguyện luôn tạo điều kiện dễ dàng cho mọi người đóng góp—gián tiếp hoặc trực tiếp. Kiểu nào cũng có cả. Ai cũng có thể mua được chút yên ổn tâm hồn mình trong nghĩa cử nhỏ đó. Làm việc đạo hạnh thì được phước. Chúa Giê-su đã phán, Phật đã dạy thế kia mà.

Ở các nước phương Tây và Bắc Mỹ, cơ chế vô vụ lợi này đã được sản sinh đi song song với dòng tư hữu hóa các hoạt động công ích cho phúc lợi của người dân. Chính quyền tự động hết phải lo nhiệm vụ gánh vác phúc lợi xã hội và để cho cả hai khối “tân bảo thủ” (neo-conservative) và “tân tự do” (neo-liberal) đảm nhiệm việc xã hội nhưng đi theo luật thị trường. Chưa kể hết là những tệ nạn cấp mới của thành phần tự xưng thiện nguyện tốt bụng vô vụ lợi để che dấu những động cơ hám danh, thủ lợi đằng sau tấm màn sân khấu vì trò chơi chính trị của tranh dành ngân quỹ. Tệ nạn này được gọi chung là “hội chứng tập đoàn kỹ nghệ vô vụ lợi” (the non-profit industrial complex) giống như tệ nạn “hội chứng tập đoàn kỹ nghệ nhà tù” (the prison industrial complex) từ thế kỷ trước vẫn đang tiếp diễn.

Ca dao Việt Nam có câu “dù xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phước cứu cho một người”. Công việc thiện nguyện thật ra có tính chất xoa dịu tạm thời vết thương cấp bách, giảm bù những thiếu sót của xã hội mà thôi. Y thể như một nhà phát chẩn ở đâu đó đến cho những người nghèo đói tạm qua bữa, qua ngày. Xã hội nào mà người đứng xếp hàng trước nơi phát chẩn càng ngày càng dài và khi nhu cầu phát chẩn càng ngày càng tăng thì cái phước huệ đóng góp đó cần phải được suy nghĩ lại. Nhắm mắt làm phước thì dễ, nhưng mở mắt để nhìn bất công tạo đau khổ khốn cùng thì khó. Sao không ai chất vấn nguyên do gì số người đó càng ngày càng tăng trong khi cũng một số không ít người nhà sang cửa rộng, đô thị cao lớn, xe bóng loáng, tiệc tùng hoành tráng, áo xiêm lộng lẫy?

Đang còn biết bao những người “rơm”[1] ngủ rừng ngủ bụi xứ người, những người lao động không tên tuổi chết vùi trên đất khách, những em thơ làm nô lệ tình dục khi chưa biết mộng mơ. Cơ chế nhà nước thế nào thì kết quả cho con dân của xã hội thế đó. Giàu nghèo là chuyện đương nhiên, nhưng làm gì mà một bên thì giàu nứt vách đổ tường, và còn lại thì nghèo rớt mồng tơi phải là một câu hỏi lớn.

Những tên trưởng giả mới này là ai? Là con ông cháu cha, là con cháu các cụ[2]. Họ cũng xếnh xáng để “tên tuổi” nằm đầu bảng đóng góp thiện nguyện, nhưng trước đó thì họ đã vơ vét vào riêng, để rồi chỉ thí “cô hồn” chút ít hầu đánh bóng tín chỉ đạo đức của mình.

Những người nô lệ mới này là ai? Là nông dân mất ruộng, là công nhân mất việc, là ngư dân mất thuyền. Như trong chuyện ngụ ngôn về người ở cuối nguồn , chúng ta phải hỏi xem “Chuyện gì xảy ra ở đầu nguồn? Nguyên do nào mà các thi thể trôi dạt từ thượng nguồn xuống hạ lưu?” Khi hiểu và giải quyết được nguyên nhân từ thượng nguồn thì không còn vấn đề xẩy ra dưới cuối nguồn.

Tôi là người Việt Nam. Một đất nước bị đô hộ ngàn năm giặc Tàu, làm thuộc địa thực dân Pháp trăm năm, làm công cụ và lệ thuộc Mỹ, Nga, Tàu nhiều thập niên kéo dài cho đến hiện tại. Đã có một thời, toàn dân đã đứng lên trong phong trào giải thực với tinh thần dân tộc để giành lại độc lập. Nhưng vô số những người yêu nước đó, cha ông chúng tôi, đã bị bán đứng, bị thủ tiêu, bị kết án, bị đấu tố, bị kềm kẹp. Họ bị kẻ lừa bịp treo đầu dê bán thịt chó. Chúng đã treo bảng “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà” nhưng bán ép chủ nghĩa “Cộng Sản” độc tài Stalinist, Maoist vô thần, bất nhân. Nay chúng lại treo bảng “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” nhưng món hàng thực chất là độc tài đảng trị, tư bản bè phái, đặc quyền, đặc lợi cho thiểu số cầm quyền và những kẻ quỳ lụy ăn theo.

Tôi là người Việt Nam. Chúng tôi được mang kèm thêm tên “tị nạn cộng sản”. Bây giờ chúng tôi lại “được” dán mác “khúc ruột ngàn dặm”, “kiều bào”, “việt kiều yêu nước”. Họ bảo chúng tôi thiếu thông tin, thiếu hiểu biết. Họ bảo chúng tôi đừng mặc cảm nữa. Tại sao mặc cảm? Mặc cảm gì? Mặc cảm phe chiến bại ư? Mặc cảm bọn “phản quốc” bỏ nước ra đi ư? Làm gì có! Chúng tôi chẳng có mặc cảm, và luôn tự hào đã dám bỏ tất cả, chấp nhận tù đày và hiểm nguy trên biển cả sống vất vưởng để đi tìm tự do. Một tự do mà chính quyền nhà nước cộng sản đã tước đoạt, không cho phép. Tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do đảng phái, tự do báo chí, tự do công đoàn. Chúng tôi không chấp nhận thứ tự do trong cũi, tự do đi lề bên phải, tự do làm con vẹt theo “chỉ đạo” của đảng cộng sản trong một nhà tù lớn.

Họ ve vãn bảo muốn hoà hợp, hoà giải với chúng tôi. Dân tộc, đồng bào, anh em của chúng tôi thì chẳng có gì để sinh ra phải hoà giải với nhau vì chúng tôi tự nhiên thương yêu nhau. Riêng với Đảng CSVN, chúng tôi cũng có thể sẵn lòng gạt bỏ mọi chuyện trong quá khứ để tiến tới tương lai. Nhưng chúng tôi không thể quên dĩ vãng này. Vì chúng tôi cần phải nhớ, phải mở mắt để thấy và kiểm định những việc đang xảy ra trong hiện tại và diễn tiến vào tương lai. Khi Đảng CSVN còn độc tôn lãnh đạo, cố bám chặt đặc lợi, đem đặc quyền cho bè nhóm thì những lời kêu gọi hoà hợp, hoà giải thật ra chỉ là một trò bịp. Tôi không thể nhắm mắt tự hào mình là người Việt Nam như thể trò bịp ấy không hề xẩy ra.

Tôi là người Việt Nam. Tôi sẽ hãnh diện là người Việt Nam với tự hào dân tộc khi đất nước dân tộc tôi thay đổi và phát triển theo chiều cấp tiến xã hội – mọi người được cơm no áo ấm, các trẻ em có tuổi thơ mơ mộng trong hệ thống giáo dục phổ thông miễn phí, những nông dân có ruộng để cày cấy, những công nhân được công đoàn lao động và luật pháp bảo vệ, các văn nghệ sĩ được tự do sáng tác và xuất bản, người khuyết tật, già nua được an sinh xã hội và y tế công cộng chăm lo, và trên hết mọi công dân được tự do bình đẳng dưới một nhà nước dân chủ pháp trị trong tinh thần dân tộc, nhân bản.

© 2010 Vi Nhân

© 2010 talawas, http://www.talawas.org/?p=20610

——————————–

CHÚ THÍCH:

[1] Những bước chân đổi đời gian nan – Câu chuyện người rơm

[2]Vietnam’s New Money (BILL HAYTON | JANUARY 21, 2010, Foreign Policy)

Các bài liên hệ:

Tự tình mẹ

Giờ phẫn nộ

Bịt miệng nạn nhân

Chúng tôi (Tự trào – Trí Thức – Tâm Tài)

Thời cửu vạn, ôsinThe Age of Day Laborer and Housemaid

Những cái nhập nhằng không tênThe Unspoken Ambiguities

Lết tới “thiên đường”

Phản bội hay trung thành với lý tưởng?

Các bài trên Tạp chí Da Màu:

Tháng Tư Câm

Hồn ma và xương khô

Nhạc minh hoạ:   Sinh ra là người Việt Nam – Phan văn Hưng

“Vẹt kiều”

In Cộng Đồng, Chính trị (Politics), Việt Nam on 2009/11/27 at 20:04

Cái gọi là “Đại hội Việt kiều” vừa mới kết thúc tại Hà Nội thì đã có “Vẹt” ở nước ngoài dóng loa phát thanh về “một nỗi bình an” giữa lòng Đại hội. Phải chăng là “một nỗi bình an” trong một miền hoang tưởng và những huyễn hoặc của “hồn nhiên” thứ mấy. Không biết nói thế nào cho vừa nên xin gởi bài thơ (trích từ tập Bài thơ của một người yêu nước mình) và cảm xúc của nhà thơ Trần Vàng Sao nói về bè lũ độc tài, ỉ thế ỉ thần và đám tay sai về hùa với họ:

tau chưởi

tau tức quá rồi

tau chịu không nổi

tau nghẹn cuống họng

tau lộn ruột lộn gan

tau cũng có chân có tay

tau cũng có đầu có óc

có miệng có mắt

có ông bà

có cha mẹ

có vợ con có ngày sinh tháng đẻ

có bàn thờ tổ tiên một tháng hai lần

rằm mồng một hương khói bông ba hoa quả

tau đầu tắt mặt tối

đổ mồ hôi sôi nước mắt

vẫn đồng không trự nõ có

suốt cả đời ăn tro mò trú

suốt cả đời khố chuối Trần Minh

kêu trời không thấu

tau phải câm miệng hến

không được nói

không được la hét

nghĩ có tức không

tau chưởi

tau phải chưởi

tau chưởi bây

tau chưởi thẳng vào mặt bây

không bóng không gió

không chó không mèo

mười hai nhánh họ bây đem lư hương bát nước

giường thờ chiếu trải sắp hàng một dãy ra đây

đặng nghe tau chưởi

tau kêu thằng khai canh khai khẩn tam đợi mười đời

cao tằng cố tổ ông nội ông ngoại cha mẹ chú bác cô dì

con cháu thân hơi cật ruột bây tau chưởi

tau chưởi cho tiền đời dĩ lai bây mất nòi mất giống

hết nối dõi tông đường

tau chưởi cho mồ mả bây sập nắp

tau chưởi cho bây có chết chưa liệm ruồi bu kiến đậu

tam giáo đạo sư bây

cố tổ cao tằng cái con cái thằng nào móc miếng cho bây

hà hơi trún nước miếng cho bây

bây ỉ thế ỉ thần

cậy nhà cao cửa rộng

cậy tiền rương bạc đống

bây ăn tai nói ngược

ăn hô nói thừa

đòn xóc nhọn hai đầu

ngậm máu phun người

bây bứng cây sống trồng cây chết

vu oan giá hoạ

giết người không gươm không dao

đang sống bây giả đò chết

người chết bây dựng đứng cho sống

bây sâu độc thiểm phước

bây thủ đoạn gian manh

bây là rắn

rắn

toàn là rắn

như cú dòm nhà bệnh

đêm bây mò

ngày bây rình

dưới giường

trên bàn thờ

trong xó bếp

bỏ tên bỏ họ cha mẹ sinh ra

bây mang bí danh

anh hùng dũng cảm vĩ đại kiên cường

lúc bây thật lúc bây giả

khi bây ẩn khi bây hiện

lúc người lúc ma

lúc lên tay múa ngón sủi bọt mép gào thét

lúc trợn mắt khua môi múa mỏ đả đảo muôn năm

lúc như thầy tu vào hạ

lúc như con nít đói bụng đòi ăn

hai con mắt bây đứng tròng

bây bắt hết mọi người trứơc khi chết phải hô

cha mẹ bây ông nội ông ngoại bây tiên sư cố tổ bây

sống dai đời đời kiếp kiếp

phải quỳ gối cúi đầu

nghe bây nói không được cãi

phải suốt đời làm người có tội

vạn đợi đội ơn bây

đứa nào không nghe bây hớt mỏ chôn sống

thằng nào không sợ bây vằm mặt thủ tiêu

bây làm cho mọi người tránh nhau

bây làm cho mọi người thấy nhau nhổ nước miếng

đồ phản động

đồ chống đối

đồ không đá bàn thờ tổ tiên

đồ không biết đốt chùa thiêu Phật

thượng tổ cô bà bây

mụ cô tam đợi mười đời bây

tau xanh xương mét máu

thân tàn ma dại

rách như cái xơ mướp chùi trách nồi không sạch

mả ông bà cố tổ bây kết hết à

tụi bây thằng nào cũng híp mắt hai cằm

bây ăn chi mà ăn đoản hậu

ăn quá dã man

bây ăn tươi nuốt sống

mà miệng không dính máu

người chết bây cũng không chừa

năm năm mười năm hai mươi năm

xương chân xương tay sọ dừa vải liệm`

bây nhai bây khới bây mút

cả húp cả chan bây còn kêu van xót ruột

bao nhiêu người chết diều tha quạ rứt xương

khô cốt tàn dọc bờ dọc bụi giữa núi giữa rừng

để bây xây lăng đắp mộ dựng tượng dựng đài cho

cha mẹ cố tổ bây

hỡi cô hồn các đảng

hỡi âm binh bộ hạ

hỡi những kẻ khuất mặt đi mây về gió

trong am trong miếu giữa chợ giữa đường

đầu sông cuối bãi

móc họng bóp cổ móc mắt bọn chúng nó

cho bọn chúng nó chết tiệt hết cho rồi

bây giết người như thế

bây phải chết như thế

ác lai thì ác báo

tau chưởi ngày chưởi đêm

mới bét con mắt ra tau chưởi

chập choạng chạng vạng tau chưởi

nửa đêm gà gáy tau chưởi

giữa trưa đứng bóng tau chưởi

bây có là thiền thừ mười tám con mắt tau cũng chưởi

mười hai nhánh họ bây

cao tằng cố tổ bây

tiên sư cha bây

tau chưởi cho bây ăn nửa chừng mẻ chai mẻ chén

xương cá xương thịt mắc ngang cuống họng

tau chửi cho nửa đêm oan hồn yêu tinh ma quỷ

mình mẩy đầy máu hiện hình vây quanh bây đòi trả đầu trả chân trả tay trả hòm trả vải liệm

tau chưởi cho cha mẹ bây có chết cũng mồ xiêu mả lạc

đoạ xuống ba tầng địa ngục bị bỏ vào vạc dầu

tau chưởi cho cha mẹ bây có còn sống cũng điên tàn

đui què câm điếc làm cô hồn sống lang thang đầu đường xó chợ

bốc đất mà ăn xé áo quần mà nhai cho bây có nhìn ra

cũng phải tránh xa

tau chưởi cho con cái bây đứa mới đi đứa đã lớn

sa chân sẩy tay đui què sứt mẻ nửa đòi nửa đoạn

chết không được mà sống cũng không được

tau chưởi cho dứt nọc dòng giống của bây cho bây chết sạch hết

không bà không con

không phúng không điếu

không tưởng không niệm

không mồ không mả

tuyệt tự vô dư

tau chưởi cho bây chết hết

chết sạch hết

không còn một con

không còn một thằng

không còn một mống

chết tiệt hết

hết đời bây

29 tháng 6 năm 1997

Những bài liên hệ:

Khi con người trở thành con vẹt

Sao anh nỡ đành quên?

Quê hương chưa phải chốn bình an



Biểu tình chống cuộc triển lãm Meet Vietnam ngày 15/11/2009 tại San Francisco

In Cộng Đồng, Chính trị (Politics), Thế giới, Việt Nam on 2009/11/20 at 17:53
phần 1

 

phần 2

 

phần 3

Bài viết liên hệ: Meet Vietnam: Gặp Gỡ Việt Nam ở San Francisco