vietsoul21

Archive for the ‘Chính trị (Politics)’ Category

BS Hồ Hải – Nhân Quả trong câu chuyện Tiên Lãng

In Chính trị (Politics), Tạp văn, Triết Học, Việt Nam on 2013/04/05 at 15:02

Hầu hết các bài viết của tôi nằm trong tiêu chí của câu nói Đức Dalailama – Share your knowledge. It’s a way to achieve immortality. Viết vì cái chung cho cộng đồng, không viết cho một cá nhân nào, ngoại trừ cá nhân đó quá kiệt xuất hoặc quá quắt về hành vi hoặc mưu đồ làm hại đến cộng đồng. Hôm nay, xin một lần thứ ba viết về một cá nhân, xin cá nhân và cộng đồng thông cảm, vì đây chỉ là một trải lòng phải làm.

Hôm nay tình cờ đọc bài báo Cổ súy cho “tự xử” là triệt tiêu công lý của nhà báo Đức Hiển, tự nhiên tôi thấy chạnh lòng cho một thế hệ làm báo Việt Nam dưới thời Xã hộ chủ nghĩa.

Chạnh lòng vì thế hệ mà tôi hy vọng có sự đổi thay cho đất nước Việt là thế hệ này – 197x – thế hệ mà nhà báo Đức Hiển sinh ra và lớn lên trong hòa bình, nhân ái, vị tha và hiểu biết để làm người tử tế.

Chạnh lòng vì, đọc xong bài báo, tôi mới ngỡ ngàng là, té ra thế hệ này không như tôi nghĩ, mà là, như một Tổng kết về tâm lý đám đông mà, tôi đã làm cách nay hơn 3 năm về trước.

Chạnh lòng vì nhà báo Đức Hiển là một lãnh đạo trẻ của một tờ báo mà, cách đây hơn 2 năm về trước mà tôi đã từng tin tưởng và cộng tác viết bài trong một số lãnh vực và giáo dục, y tế, vì một tấm lòng với thế hệ tương lai.

Chạnh lòng vì, một lãnh đạo trẻ báo chí mà tôi đã từng tin tưởng, nhưng mất căn bản về kiến thức triết học, khi viết về vụ án Đoàn Văn Vươn trong cặp phạm trù nhân quả.

Tôi đã từng viết trên blog này, muốn nắm bắt một vấn đề thấu đáo thì phải luôn nắm chắc khái niệm của vấn đề. Và muốn tư duy thấu đáo một cách phản biện duy lý, khách quan thì phải nắm chắc triết học. Và triết học không có gì cao xa, mà lại rất gần, như ăn, thở, ngủ, nghĩ trong quá trình sống của con người.

Nhà báo Đức Hiển cho rằng, ông Đoàn Văn Vươn và gia đình ông có tội, vì đã chuẩn bị có chủ đích và cố ý gây thương tích với “người thì hành công vụ”, nên phải xử tội, dù chính quyền sai thì phải xử. Thế nhưng, nguyên nhân, động cơ gây ra để ông Đoàn và gia đình ông buộc phải tự trang bị vũ khí thô sơ để tự vệ là từ đâu đến vậy ông nhà báo trẻ?

Nguyên nhân bắt đầu từ ý đồ cố sát của ông Đoàn và gia đình ông Đoàn hay hành động của ông Đoàn và gia đình ông chỉ là hậu quả vậy nhà báo trẻ?

Tôi cho rằng, muốn làm nhà báo để “được” chức như nhà báo Đức Hiển thì ít nhất cũng phải trải qua tấm bằng đại học dưới thời Xã hội chủ nghĩa này. Trong giáo trình để tốt nghiệp đại học dưới thời này, thì môn thi bắt buộc tốt nghiệp đại học là môn “triết học Marx-Lenin”. Trong đó, phải can qua duy vật biện chứng, và chắc chắn phải học cặp phạm trù Nhân – Quả, mà các nhà theo trường phái duy vật đã đúc kết từ Phật học của Tất Đạt Đa đã nói trước Tây lịch những 624 năm!

Đó là chưa bàn đến vấn đề là, công an là để giữ an ninh trật tự quê nhà cho dân yên ổn làm ăn, nhưng công an ở Tiên Lãng lại đi đàn áp nhân dân, đúng hay sai? Và quân đội là để giữ bờ cõi đất nước trước họa ngoại xâm, nhưng quân đội huyện Tiên Lãng lại được điều động để đi đàn áp dân lành, đúng hay sai vậy ông nhà báo trẻ?

Tự do là gì, nếu không là tự do của anh không được vi phạm đến quyền sống và quyền mưu cầu hạnh phúc của tôi? Trong câu chuyện Tiên Lãng ai đã vi phạm quyền sống và quyền mưu cầu hạnh phúc của ai hỡi nhà báo trẻ?

Nhà báo không thấy rằng ngay cả những người công an và quân đội được lệnh điều đi đàn áp ông Đoàn và gia đình ông Đoàn, mà họ bị thương tích, thì họ cũng cảm thấy xấu hổ, khi lên tiếng không cần bồi thường đối với hành động mà nhà báo thay tòa để kết tội ông Đoàn đó sao?

Đã hơn 40 năm, nhưng tôi mãi nhớ lời thầy dạy năm nào, người trượng phu quân tử chỉ phù suy, không phù thịnh – tức đỡ đần người yếu thế và đúng, chứ không phò kẻ mạnh và lưu manh – không biết nhà trường Xã hội chủ nghĩa có dạy ông nhà lãnh đạo báo còn trẻ tuổi điều này không?

Tuổi đời và tuổi học của ông nhà báo chắc chắn phải sau tôi ít nhất một vài con giáp. Kiến thức ông nhà báo học chắc chắn còn mới hơn tôi có lẽ phải vài thập niên. Nhưng sao ông nhà báo lại “chóng quên” đến thế, mà lại quên một kiến thức rất cơ bản ngay cả bà bán cá, hay ông nông dân không cần học cũng rất hiểu nó rành rọt để sống có nhân cách của một con người tử tế.

Như một bài viết của tôi gần đây – Tự diễn biến – việc nhà lãnh đạo báo trẻ viết bài báo trên không giúp cho sự việc của Tiên Lãng tốt hơn, mà còn góp phần làm lòng tin của dân càng mất sạch, lòng căm thù của người dân càng tăng thêm đối với đảng cộng sản cầm quyền.

Quả thật đáng để chạnh lòng. Chạnh lòng vì một thế hệ lãnh đạo tương lai của đất nước. Lấy đâu ra nhân lực, trong khi chỉ thấy toàn nhân sự trong đảng cầm quyền để cho tương lai đất nước?

Tư gia, 22h26′ ngày thứ Năm, 04/4/2013

 Blog BS Hồ Hải

Nguyễn Đắc Kiên – Về những xác chết biết đi

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Việt Nam on 2013/04/05 at 14:55

 Theo blog Ba Cừu

Tôi không thấy mức án VKS đưa ra là nhẹ, dù ông Quý đã vừa khóc vừa nói, mong tòa giữ nguyên mức án VKS đã đề nghị áp dụng cho anh trai – ông Vươn, 5-6 năm tù. Nhưng tôi cũng sẽ không nhìn vào mắt các vị quan tòa để tìm kiếm tia hy vọng mong manh cho gia đình ông Đoàn Văn Vươn, được xử trắng án.

Những người chịu trách nhiệm phán xử trong vụ án Nọc Nạn năm xưa là những con người tự do. Ngoài mệnh lệnh chính trị của chính quyền thực dân, họ còn phải chịu sự phán xét của tòa án, một tòa án cấp cao hơn, cấp tối cao trong mỗi con người, đó là tòa án lương tâm. Đây chính là khác biệt căn bản của họ với những người đang chịu trách nhiệm phán xử vụ án Tiên Lãng, những nô lệ khoác bộ áo quan tòa.

Khi người ta không được tự do trong hành xử của mình thì họ cũng thấy mình không phải chịu trách nhiệm với những phán quyết mà họ đưa ra. Tất nhiên khi đó họ cũng không phải đối mặt với tòa án lương tâm của chính họ. Giả sử nếu có lúc nào đó họ phải đối mặt thì họ cũng tìm ngay ra một kẻ để đổ lỗi, đó là cấp trên, là lãnh đạo, là hệ thống… Rồi họ tự kết luận, họ vô tội. Họ cũng chỉ là nạn nhân.

Điều tồi tệ hơn, trong xã hội Việt Nam ngày nay, những ông quan tòa của chúng ta không phải là những kẻ hiếm hoi, lạc loài, trái lại, họ dễ dàng tìm thấy những kẻ đồng lõa với mình ở khắp mọi nơi. Đó là ông bác sỹ, anh công an, chú nhà báo, ông bạn kỹ sư, cô hàng nước gần nhà, anh xe ôm đầu ngõ… họ tìm thấy một tình trạng nô lệ, một sự sự vô trách nhiệm, vô trách nhiệm như một lẽ tất yếu, nô lệ như một lẽ tất yếu, được phổ biến khắp nơi, len lỏi đến từng ngõ ngách của cuộc sống.

Trả lời phỏng vấn BBC Tiếng Việt, nghệ sỹ Kim Chi nhận định rằng: “Nếu người ta thả bổng cho Đoàn Văn Vươn, cho gia đình anh ta, thì điều đó sẽ thu phục được lòng dân. Còn nếu mà lấy quyền, lấy luật rừng để mà trừng trị một người lương thiện như thế, thì nhất định là tức nước thì phải vỡ bờ thôi”.

Tôi có thể phần nào đồng ý với nghệ sỹ Kim Chi ở vế thứ nhất, còn ở vế thứ hai thì chắc chắn không. Dù kết quả vụ án Đoàn Văn Vươn thế nào thì cũng không dễ gì có chuyện “tức nước vỡ bờ” trong hoàn cảnh hiện nay. Đa số người dân chỉ “tức nước vỡ bờ” khi những quyền lợi thiết thân của họ bị xâm phạm, như đầm tôm với gia đình ông Vươn, còn ngược lại, sự cảm thông với hoàn cảnh bất hạnh, hay bất bình vì oan trái cùng lắm chỉ gây nên xót xa – căm hận ở trong lòng mà thôi. Một số ít sẽ tỏ thái độ, còn đa phần sẽ làm ngơ. Và cũng như các vị quan tòa trong vụ án Đoàn Văn Vươn, những người làm ngơ sẽ có đủ lý lẽ để biện hộ cho mình.

Đó chính là điều tồi tệ nhất mà một hệ thống toàn trị có thể tạo ra. Những lầm lỗi, thậm chí là tội ác về kinh tế dễ gây bất bình, phẫn nộ cho công luận, nhưng suy cho cùng nó lại là những tội lỗi để lại ít hậu quả và dễ khắc phục. Còn những tội ác làm phá hủy tận căn để lương tri con người thì khó nhận biết hơn, gây phẫn nộ ít hơn, lại khó cứu vãn và để lại hậu quả ghê gớm hơn gấp nhiều lần. Tình trạng nô lệ, sự vô trách nhiệm được gieo rắc phổ biến nơi con người trong các chế độ toàn trị là một trong những tội ác như thế. Nó như một thứ thuốc độc ma mãnh, từng lúc từng lúc len lỏi vào tận xương cốt mỗi con người phá hủy tận gốc dễ, căn để, bòn rút toàn bộ sức mạnh sáng tạo, động lực phát triển của xã hội.

Không có chuyện “tức nước vỡ bờ”, nhưng nếu vụ án Đoàn Văn Vươn kết thúc bằng một bản án khắc nghiệt, một sự hủy hoại trong mỗi con người, niềm tin vào công lý, vào đạo đức xã hội chắc chắn sẽ gia tăng. Khi niềm tin vào công lý, vào đạo đức xã hội bị xói mòn, con người sẽ bị đẩy sâu hơn vào các lợi ích thiết thân. Họ sẽ tìm mọi cách để tự bảo vệ mình, gia đình mình, lợi ích riêng tư của mình và không ngần ngại nếu có thể, xâm phạm vào lợi ích người khác, lợi ích xã hội. Đồng thời cũng chính những con người này, họ cũng sẽ sẵn sàng kháng cự lại bằng “luật rừng” nếu có thể với mọi sự xâm hại đến lợi ích bản thân và gia đình họ.

Những người có trách nhiệm với đất nước cần nghĩ đến những hệ quả sâu xa này. Étienne Vacherot, triết gia, chính trị gia Pháp thế kỷ 19 đã viết: “Chế độ chuyên quyền là trường học tồi tệ nhất cho nền dân chủ”. Tôi đồng ý với nhận định này. Người ta hay lấy những cuộc biểu tình, những bất ổn chính trị ở Thái Lan để chỉ trích chế độ dân chủ. Nhưng tôi thì lại thấy rằng đó là những sự “tập dượt dân chủ” không tránh khỏi và tin rằng không lâu nữa, người Thái sẽ có một chế độ dân chủ đủ trưởng thành để đưa đất nước họ vào một quỹ đạo phát triển bền vững. Sau khi viết những lời trên trong cuốn La Démocratie, năm 1859, tức là 70 năm sau cách mạng Pháp 1789, Étienne Vacherot đã bị bắt vào tù, với mức án 1 năm (sau được giảm xuống còn 3 tháng). Rõ ràng người Pháp đã chẳng được cho không nền dân chủ tự do của họ có bây giờ.

Thật nực cười khi muốn đất nước có dân chủ tự do mà lúc nào cũng canh cánh một nỗi lo gọi là “mất ổn định”. Với cá nhân mỗi con người, tôi không thấy những người lúc nào cũng chỉ chăm chăm một cuộc sống bình yên có thể làm được điều gì đó có ý nghĩa trong cuộc đời của họ.

Xin hãy nghe lại lời Patrick Henry, lãnh tụ Cách mạng Mỹ, phát biểu ngày 23/3/1775: “Liệu có phải cuộc sống quá đáng yêu và hòa bình quá ngọt ngào tới mức phải mua bằng xiềng xích và nô lệ không? Ơn chúa tối cao, hãy đừng bao giờ như vậy. Tôi không biết những người khác sẽ chọn con đường nào. Nhưng với tôi, hãy cho tôi tự do hay là chết”

Nguyễn Đắc Kiên

 

Tháng Tư oan trái

In Chính trị (Politics), Việt Nam on 2013/04/05 at 14:52

Tháng Tư tôi khóc với anh Vươn, tôi khóc cho anh Vươn, tôi khóc cho các đứa con anh Vươn, tôi khóc cho vợ anh Vươn, tôi khóc cho dân oan mất đất mất nhà, tôi khóc cho những người lam lũ oằn lưng thân còi  lây lất dưới chế độ nội-thực-dân cộng sản.

Tháng Tư tôi khóc cho những người phải bỏ nước ra đi, lướt sóng vượt đại dương, bao kẻ mất bấy người còn, đi tìm tự do, sống đời hạnh phúc.

Tháng Tư tôi khóc cho anh Vươn, ngọn đầu Tiên Lãng, lập đê đắp kè, chắn sóng đẩy lũ, vượt bao thử thách, con mất thân tàn chống trả quân “ác với dân, hèn với giặc” nội-thực-dân cộng sản.

Tháng Tư tôi cúi đầu tưởng niệm cho những vong linh oan khiên ngày cũ.

Tháng Tư tôi mắt trừng phẫn nộ cho bao mảnh đời đày đọa hôm nay.

Tháng Tư tôi hổ ngươi là con nước Việt chưa học làm người, cam phận nô đày.

Trần Trung Đạo – Giữ nước bằng thơ và “Cờ tổ quốc” !

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn on 2013/03/30 at 08:46

Trong khi hầu hết các quốc gia vùng Đông Nam Á, từ Philippines dân số gần 95 triệu cho đến Brunei dân số chỉ vỏn vẹn 400 ngàn, đang tìm mọi cách để liên minh với các cường quốc, tăng cường quân sự, trang bị tối đa khả năng phòng thủ vùng trời, vùng biển, vùng đảo mà họ tin rằng thuộc chủ quyền nước họ, Việt Nam tăng cường phòng thủ bằng thơ và cờ.

Hôm qua, theo báo Thanh Niên, “huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), T.Ư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phối hợp với Tỉnh đoàn Quảng Ngãi tổ chức trao một ngàn lá cờ đỏ sao vàng và một trăm áo Đoàn cho các chủ tàu cá là ngư dân trẻ đang bám biển Hoàng Sa và Trường Sa của Tổ quốc.”

Trước đó một ngày, ông Phạm Bá Khoa, Giám đốc Bảo tàng Tuổi trẻ Việt Nam đến trụ sở báo Tiền Phong, nhờ báo này chuyển những món quà “hết sức có ý nghĩa” cho hai ngư dân Bùi Văn Phải và Phạm Quang Thạnh – nhân vật trong bài viết trên báo Tiền Phong. “Món quà ý nghĩa” đó là một “cờ tổ quốc” và chính tay ông đã viết trên đó bài Nam Quốc Sơn Hà.

Ngoài cái tư duy lạc hậu, ngược dòng thời đại, làm những chuyện buồn cười, việc nhận những lá “cờ tổ quốc” của các quan chức CS cũng chẳng khác gì nhận những viên đạn từ nòng súng của hải quân Trung Quốc.

Thật vậy, sự kiện tặng cờ này làm tôi nhớ chuyện tàu hải quân Trung Quốc bắn chết 9 ngư dân Thanh Hóa tám năm trước. Cũng báo Thanh Niên ngày 15 tháng 1 năm 2005 ghi lại lời anh Nguyễn Văn Hoàn, chủ nhân tàu đánh cá ở Thanh Hóa, may mắn còn sống sót và kể lại: “Bất kể ngày đêm, lúc nào tàu của anh cũng treo cờ Tổ quốc và luôn tuân thủ mọi quy định của pháp luật khi hoạt động ngoài khơi”, thế nhưng, “các tàu Trung Quốc vẫn tiếp tục truy sát, vừa đuổi, vừa bắn tàu của anh gần 3 giờ đồng hồ mới chịu quay trở ra”.

taudanhcabiban

Anh Hoàn tội nghiệp kia, tưởng rằng khi treo “cờ Tổ quốc”, biểu tượng của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, và “tuân thủ pháp luật khi hoạt động ngoài khơi” thì hải quân Trung Quốc ắt phải è dè và kính trọng. Đáng thương thật ! Anh ngư dân chất phát không biết rằng cũng chính vì “treo cờ Tổ quốc” nên chiếc ghe máy thô sơ của ông mới bị đuổi bắn suốt 3 giờ. Nói thẳng thì bảo là phản động nhưng phải chi anh đừng treo “lá cờ tổ quốc” đó hay treo đại lá cờ Phi, cờ Thái, thậm chí cờ trắng thì biết đâu bà con ngư dân Hòa Lộc còn có cơ may sống sót.

Việc “tặng thơ và cờ” trong thế kỷ 21 này cho thấy tai họa lớn nhất mà dân tộc Việt Nam đang phải đương đầu không chỉ phát xuất từ hiểm họa thực dân đỏ Trung Quốc mà còn từ tư duy vô cùng lạc hậu của giới lãnh đạo các cấp tại Việt Nam. Những đầu óc khô đặc đó không khác gì nhiều so với đầu óc bảo thủ trong bốn bức tường phong kiến của vua chúa nhà Nguyễn trước họa thực dân, chứng tỏ sự lạc hậu, lỗi thời, tự cô lập với dòng phát triển đa phương của nhân loại và không mở ra một lối thoát nào cho tương lai dân tộc.

Trần Trung Đạo

Chuyện sửa đổi hiến pháp ở Trại súc vật

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Việt Nam, Văn Hóa on 2013/03/23 at 17:09

Phạm Vũ Lửa Hạ

Trong Animal Farm của George Orwell, chương 2 có nhắc tới BẢY ĐIỀU RĂN (THE SEVEN COMMANDMENTS) dành cho các trại viên như sau:

  1. Tất cả các loài hai chân đều là kẻ thù. (Whatever goes upon two legs is an enemy.)
  2. Tất cả các loài bốn chân hoặc có cánh đều là bạn. (Whatever goes upon four legs, or has wings, is a friend.)
  3. Không con vật nào được mặc quần áo. (No animal shall wear clothes.)
  4. Không con vật nào được ngủ trên giường. (No animal shall sleep in a bed.)
  5. Không con vật nào được uống rượu. (No animal shall drink alcohol.)
  6. Loài vật không được giết hại lẫn nhau. (No animal shall kill any other animal.)
  7. Mọi con vật sinh ra đều bình đẳng. (All animals are equal.)

Bảy điều răn này, hay còn được giới phê bình gán cho cái tên mỹ miều “Hiến pháp”, dần dà thay đổi cho phù hợp với thực tiễn cuộc sống. Nhiều lần sửa đổi nhưng tựu chung cũng chỉ phục vụ ý đồ và sở nguyện của đám lợn chóp bu. Cần có những phương châm súc tích, mạnh mẽ và dễ nhớ để đáp ứng nhu cầu của cách mạng, bởi vậy điều 1 và điều 2 gộp thành “Bốn chân tốt, hai chân xấu!” (Four legs good, two legs bad). Theo đề xuất của Tuyết Tròn (Snowball), nhân vật về sau bị lãnh tụ Nã Phá Luân (Napoleon) thanh trừng, cách ngôn mới này được viết to hơn, chồng lên bảy điều ban đầu. Và khẩu hiệu hừng hực hào khí đấu tranh giai cấp này được hô vang liên tu bất tận trong những lần hội họp. (Chương 3)

Tuyên bố bình đẳng phải hiểu một cách tương đối, và ứng dụng linh hoạt tùy theo diễn biến của cách mạng. Khi Nã Phá Luân chuyển từ chuồng heo vào nhà chính và ngủ trên giường cho xứng với vai trò lãnh tụ, có điều tiếng là đồng chí ấy vi phạm điều 4. Tức thì có chỉnh huấn rằng điều ấy đúng ra là “Không con vật nào được ngủ trên giường có trải dra” (No animal shall sleep in a bed with sheets, Chương 6). Khi Tuyết Tròn cùng đồng bọn bị chụp mũ phản bội và bị xử tử, để dập tắt nghi ngờ lãnh tụ vi phạm điều 6, lập tức có huấn thị rằng điều này nguyên thủy là “Loài vật không được giết hại lẫn nhau nếu không có lí do” (No animal shall kill any other animal without cause), chỉ tại đám súc vật ít chữ đọc thiếu mấy từ cuối (Chương 8). Cũng trong Chương 8 có chuyện tay sai của lãnh tụ vi phạm điều 5, cả trại được nhắc rằng điều đó thực ra là: “Không con vật nào được uống rượu đến say xỉn” (No animal shall drink alcohol to excess).

Hiến Pháp của Trại Súc Vật

Nhưng rốt cuộc, lần sửa đổi cuối cùng (Chương 10), chỉ còn vỏn vẹn một câu trên bức tường: “MỌI CON VẬT SINH RA ĐỀU BÌNH ĐẲNG, NHƯNG CÓ MỘT SỐ CON BÌNH ĐẲNG HƠN NHỮNG CON KHÁC” (ALL ANIMALS ARE EQUAL, BUT SOME ANIMALS ARE MORE EQUAL THAN OTHERS).

Khi quyền bính đã thâu tóm trong tay, kẻ súc sinh cần chi tới hiến pháp với hiến chương. Từ 7 điều răn ban đầu chỉ còn lại 1 điều, dư sức chi phối đời sống cả Trại súc vật. Và luôn tâm niệm rằng bỏ điều duy nhất thực sự có ý nghĩa đó là “tự sát”.

(Ghi chú: Những câu trích tiếng Việt lấy từ bản dịch Trại súc vật của Phạm Minh Ngọc, còn phần tiếng Anh ở đây.)

NguồnBlog Phạm Vũ Lửa Hạ, 3-3-2013

Tưởng Năng Tiến – Chuyện Hà Thị Cầu & Trần Đức Thảo

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Văn Hóa on 2013/03/22 at 14:36

Cộng sản nó giết mình hôm nay, mai nó mang vòng hoa đến phúng điếu!”

 

Cứ theo như lời của giáo sư Nguyễn Văn Lục thì T.T. Thích Trí Quang là tác giả của câu nói vừa ghi. Tôi nghe mà bán tin bán nghi vì nếu sự thực đúng y như vậy thì hoa hoè ở Việt Nam phải trồng bao nhiêu mới đủ, cha nội?

Mà chả chỉ riêng hoa, ở nước ta, cái (mẹ) gì mà không thiếu nên mọi thứ vẫn thường phải phân phối theo tiêu chuẩn – ngoại trừ huân chương, huy hiệu, bằng khen, giấy thưởng… thì mới thừa thôi. Bởi vậy, tôi xin được có ý kiến (hơi) khác với T.T. Thích Trí Quang chút xíu: “Cộng sản nó chôn sống mình hôm nay, mai nó mang huân chương hay giải thưởng đến để… làm lễ truy tặng!”

Ông Trần Đức Thảo là một nạn nhân điển hình cho cái cách chôn sống (rất) bất nhân như thế – theo như lời của một bà cụ bán nước tràở đầu khu tập thể Kim Liên, nơi mà triết gia của chúng ta cư ngụ cho đến gần lúc cuối đời:

Trong khu nhà B6 đằng kia cũng có một ông tên Thảo, nhưng lôi thôi nhếch nhác quá mấy anh công nhân móc cống. Mùa rét thì áo bông sù sụ, mùa nực thì bà ba nâu bạc phếch, quần ống cao ống thấp, chân dép cao su đứt quai, đầu mũ lá sùm sụp, cưỡi cái xe đạp ‘Pơ-giô con vịt’ mà mấy bà đồng nát cũng chê. Thật đúng như anh hề làm xiếc! Mặt cứ vác lên trời, đạp xe thỉnh thoảng lại tủm tỉm cười một mình, một anh dở người…”

Một buổi trưa nắng chang chang, ông ghé vào quán uống cốc nước chè xanh, tôi hỏi: “Ông đi đâu về mà nom vất vả thế.. ế.. ế. Ông nói: Lên chợ Hàng Bè mua củi đun. Tôi hỏi: Thế củi ông để đâu cả rồi? Ông quay lại nhìn cái ‘pooc ba ga’, mặt cứ ngẩn tò te. Chỉ còn có sợi dây buộc! Củi nả rơi đâu hết dọc đường, chẳng còn lấy một que… Nghĩ cũng tội, già ngần ấy tuổi đầu mà phải nấu lấy ăn, không vợ, không con… (Phùng Quán – “Chuyện vui về triết gia Trần Đức Thảo”. Ba phút sự thực, Văn Nghệ, Sài Gòn: 2007, bản in lần thứ hai)

Nếu bạn thấy những lời lẽ (thượng dẫn) của một bà cụ bán nước trà vô danh chưa đủ trọng lượng thì xin nghe thêm đôi câu nữa, của một chứng nhân thế giá hơn – luật sư Trương Như Tảng:

Ông không bị tù hay hành hạ thân xác, nhưng công an bao vây, cô lập ông không cho ai tiếp xúc… Nếu ông Thảo tiếp xúc với ai, chẳng hạn một người bạn trên đường phố, thì người đó sẽ bị bắt giữ để điều tra.

Bề ngoài xem ra triết gia sống cuộc đời bình thường. Nhưng thực tế ông sống như Robinson Crusoe, hoàn toàn cô độc, mặc dầu có nhiều người ở xung quanh. Ngay họ hàng thân thích cũng không được phép nói chuyện với ông. Đối với một trí thức như vậy là một sự tra tấn dã man.

Ngó bộ ông Trương Như Tảng có vẻ hơi quá lời chút xíu, chứ nếu Trần Đức Thảo bị “tra tấn dã man” thì làm sao triết gia của chúng ta sống sót cho mãi đến năm 1991 –  năm mà ông được nhà nước tha (tào) và cho trở lại Paris, theo như tường thuật của tác giả Minh Diện:

Bảy mươi tuổi Trần Đức Thảo mới quay về chốn xưa. Tiếc thay thời huy hoàng của ông đã qua lâu rồi. Rất ít người còn nhớ tới ông. Suốt 40 năm ông cô đơn bên trời Nam,giờ lại cô đơn bên trời Tây. Khi người ta đã bỏ lỡ cơ hội thì khó mà tìm lại được.

Quay lại Pari, Trần Đức Thảo sống tạm bợ trong căn phòng xép trên tầng 5, nhà khách của Đại sứ quán Việt Nam. Nhà báo Nguyễn Đức Hiền tả lại cảnh sống của ông như sau: “Một ông già ở độ tuổi cổ lai hy, khoác chiếc áo cũ màu tím dài chấm gót, bưng bê lỉnh kỉnh mọi thứ xoong chảo, chai lọ leo lên, leo xuống hàng trăm bậc thang tự lo lấy bữa ăn cho mình. Ông già ấy cứ hành trình chừng mười bậc thì dừng lại, tựa người vào hành lang đứng nhắm mắt, há miệng thở như thổi bễ.”

Một chiều mùa Hè năm 1993, ông già ấy gục xuống tại bậc cầu thang, không bao giờ gượng đứng dậy được nữa… Năm 2000, ông được nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học Xã hội.

Thiệt là… có hậu!

Ít nhất thì những ngày tháng cuối đời “của ông già ấy” cũng (có vẻ) đỡ đoản hậu hơn cuộc sống lê lết của… một bà già khác, cùng thời, bà Hà Thị Cầu. Nhân vật này tuy có kém danh giá hơn ông Thảo (chút đỉnh) nhưng cũng nổi tiếng như cồn, ít ra là ở phạm vi quốc nội. Trên báo Bắc Giang, phát hành vào ngày 1 tháng 4 năm 2009, một nhà văn Việt Nam đã viết những dòng chữ chí tình như sau về người nghệ sĩ này:

Với bà, tên tuổi, sự nghiệp tôi đã đọc quá nhiều trên báo chí, một nghệ nhân lớn, một người hát xẩm cuối cùng của thế kỷ, một tài sản dân gian quý báu, một nghệ sĩ nổi tiếng không chỉ trong nước mà ở thế giới…

Và tôi choáng váng vì không thể ngờ, một nghệ sĩ tên tuổi như vậy, báo chí ngợi ca như vậy, các cấp quản lý thay nhau tôn vinh như vậy lại đang có cuộc sống khó khăn đến không tin được. Ngôi nhà bà Hà Thị Cầu bé tí nằm cận kề trụ sở UBND xã Yên Phong. Ngôi nhà bé thế lại còn chia làm hai, một nửa cho bà Cầu ở, nửa còn lại là nhà thờ họ. Phần ở của bà lại chia đôi, phía ngoài đủ đặt cái giường đôi, bộ bàn ghế uống nước, phía trong là nơi bà ngủ, diện tích cũng chỉ nhỉnh hơn cái giường một chút xíu.

BBC, nghe được vào hôm 3 tháng 3 năm 2013, lặng lẽ và buồn bã đi tin: “Nghệ nhân được coi là linh hồn của hát xẩm Việt Nam với gần 80 năm tuổi nghề, bà Hà Thị Cầu, đã qua đời tại Yên Mô, Ninh Bình…” Hung tin này đã khiến cho Nguyễn Quang Vinh đùng đùng nổi giận:

Một nghệ nhân tài hoa như thế, cống hiến cho đất nước như thế, được coi là “báu vật nhân văn” của quốc gia như thế, đã từng đào tạo, truyền nghề cho biết bao nghệ sĩ, đã nổi tiếng không chỉ trong nước mà còn với nước ngoài…

Nhưng suốt đời nghèo đói, suốt đời khổ sở, túng thiếu như kẻ ăn mày. Báo chí lên tiếng, dư luận lên tiếng, những nghệ sĩ tâm huyết thay bà gõ cửa khắp nơi nhưng mặc nhiên không ai đoái hoài, và bà – nghệ nhân Hà Thị Cầu, cho tới lúc nhắm mắt, vẫn trong nghèo đói…

Leo lẻo ca ngợi, leo lẻo thuyết giảng, leo lẻo leo lẻo… ở mọi cấp để rồi bỏ rơi một nghệ nhân lớn, cay đắng hơn, còn lợi dụng tài năng, tên tuổi của bà để trục lợi cả tiền, danh tiếng, uy tín của cá nhân mình.

Thôi nhé, bà mất rồi, im cả đi, đừng lại ngoạc mồm “bà mất đi là địa phương mất đi một tài năng, đất nước mất đi một nghệ nhân lớn… vô cùng đau xót”. Câm đi…

Tôi e rằng nhà văn của chúng ta không hiểu biết về đường lối, cũng như chính sách, của Đảng và Nhà nước (rõ ràng và rành mạch) như nhà nghiên cứu âm nhạc Trần Quang Hải. Trong bản tin củaBBC (thượng dẫn) ông Hải khẳng định:

Cũng giống như ca trù, hát xẩm đã bị ‘mất đi’ trong 50 năm vì chính quyền không coi trọng những tài tử dân gian… hát xẩm bị coi là “hạ cấp” và chính quyền không muốn thấy những người hát xẩm lang thang ngoài đường.

Nói cách khác là bà Hà Thị Cầu đã bị chính quyền chôn sống từ lâu nhưng mãi đến tháng Ba năm nay mới (chịu) trút hơi thở cuối cùng. Ngay sau đó, báo Thể thao Văn hoá (số ra ngày 06 tháng 3 năm 2013) đã có… tin vui:

Tới dự đám tang nghệ nhân Hà Thị Cầu, ông Vương Duy Biên – Thứ trưởng Bộ VH,TT&DL – chia sẻ tâm nguyện cần đề nghị truy tặng cho bà danh hiệu NSND… Thời gian tới, Bộ VH,TT&DL sẽ xúc tiến thực hiện việc này.

Thiệt là tử tế hết sức!

Theo Wikipedia: Năm 1977 bà Hà Thị Cầu là tác giả của bài Theo Đảng trọn đời. Tôi sợ rằng vì mù chữ, không đọc được Đề cương văn hoá Việt Nam, nên (có lẽ) mãi cho đến khi nhắm mắt người được coi là “báu vật nhân văn sống của Việt Nam” vẫn không biết rằng toàn Đảng không ai thiết tha hay mặn mà gì lắm với tình cảm (thắm thiết) mà bà đã dành cho nó.

Những người “hát xẩm bị coi là hạ cấp,” đã đành, thế còn triết gia thì sao? Giới người này ở bên nước bạn, cũng như ở nước ta, cả hai Đảng đều coi họ không bằng … cục cứt!

Và nói nào ngay, đối với Đảng thì giới người nào cũng vậy – bất kể là nông dân, công nhân, thương nhân, hay trí thức. Tất cả đều chỉ là phương tiện, được sử dụng tùy theo lúc mà thôi.

Sau đó đều bị mang chôn sống ráo. Nhà nước đợi cho đến khi họ tắt thở sẽ mang bằng khen hay giải thưởng đến làm lễ truy tặng. Những cái lễ này, cũng tựa như những tấm giẻ lau, dùng để lau sạch máu hay nước mắt (hoặc cả hai) cho nạn nhân của chế độ hiện hành.

_________________

Ảnh 1: Hình chụp từ tạp chí Nghiên cứu Đông Dương. Nguồn: vnu.edu

Ảnh 2: Báu vật nhân văn sống của Việt Nam, hình chụp trước tư gia. Nguồn: vnexpress.net

Ảnh 3: Bà Hà Thị Cầu. Nguồn: wikipedia

© Tưởng Năng Tiến &pro&contra

 

BS Ngọc – Trí nô ký sinh

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Việt Nam, Văn Hóa on 2013/03/16 at 13:54

BS Ngọc

Nhờ có chuyện góp ý cho Hiến pháp 1992 chúng ta mới nhìn rõ hơn trình độ của các giáo sư, tiến sĩ như thế nào. Nói thẳng cho dễ hiểu: dốt. Dốt đến mức khó tưởng tượng nổi. Nhưng tại sao họ dốt như thế? Tôi cho rằng vì nền giáo dục tồi. Chỉ có một nền giáo dục tồi mới sản xuất ra những con người vừa dốt vừa trơ tráo như chúng ta thấy trong thời gian vừa qua.

Chúng ta đã thấy qua “Bên thắng cuộc” của Huy Đức các chính khách Việt Nam dốt như thế nào. Nhưng phải đợi đến vụ góp ý cho Hiến pháp chúng ta mới thưởng lãm được sự dốt nát của thành phần giáo sư, tiến sĩ, tướng tá. Cái dốt của họ được bộc lộ qua những lập luận ấu trĩ, những lý giải nguỵ biện, và những quan điểm mang tính xu nịnh. Xu nịnh rất trắng trợn. Tôi gọi họ là những “trí nô ký sinh”. Tức là những kẻ có chút học thức nhưng là thứ học thức nô lệ. Họ là ký sinh vì phải sống bám vào một thứ chủ nghĩa đã bị cả thế giới ruồng bỏ và lên án.

Nhưng để biết loại trí nô ký sinh này ra sao, chúng ta cũng cần phải biết họ nói những gì. Bối cảnh của câu chuyện là bản dự thảo Hiến Pháp. Hai điểm mấu chốt trong bản dự thảo và vai trò của Đảng CSVN và quân đội. Điều 4 Hiến Pháp ghi là Đảng CSVN là lực lượng duy nhất lãnh đạo đất nước. Bản dự thảo Hiến Pháp còn ghi thêm rằng quân đội phải trung thành với Đảng CSVN.

Một nhóm nhân sĩ trí thức đưa ra một bản dự thảo khác, mang tính phản biện. Bản dự thảo của nhóm nhân sĩ được hàng ngàn người đủ thành phần xã hội ký tên ủng hộ. Sự ủng hộ của người dân làm cho những người cầm quyền thấy lo ngại. Những lãnh đạo cao cấp nhất lên tivi tố cáo những người góp ý là “cơ hội”, là “thế lực thù địch”. Thật ra, đó là những phát biểu được sao chép từ sách của Trung Quốc mà Việt Nam đã chuyển ngữ. Đó là những luận điệu Trung Quốc đã dùng 20 năm trước đây. Có thể nói rằng các lãnh đạo ta chẳng có sáng kiến gì mà chỉ lập lại những gì Trung Quốc sáng chế ra. Có thể xem đó là một sự rập khuôn tư tưởng.

Nhà nước lo ngại còn vì lý do khác. Bởi vì khi so sánh hai bản dự thảo, bất cứ ai có chút lương tri cũng có thể nhận ra sự kém cỏi của nhóm soạn thảo ăn lương Nhà nước. Thật ra, phải nói là quá kém cỏi. Kém cỏi từ cách sử dụng từ đến tính hợp lý. Thế là Nhà nước huy động một lực lượng giáo sư, tiến sĩ, tướng tá ra quân phản biện lại những phản biện.

Thế là chúng ta chứng kiến một cảnh phản phản biện.

Khởi đầu là một nhà văn, trung tá, phó giáo sư, tiến sĩ tên là Nguyễn Thanh Tú đăng đàn phát biểu. Ông lý giải rằng “việc đòi bỏ điều 4 Hiến pháp vừa phi lý, vừa chẳng hợp tình. Phi lý ở chỗ với vai trò lịch sử của mình không một ai có thể làm thay Đảng ta công cuộc đưa đất nước phát triển, lớn mạnh” và ông hồn nhiên kết luận rằng bỏ điều 4 Hiến Pháp là đồng nghĩa với “đe dọa sự tồn vong của cả dân tộc!

Chỉ tiếc một điều là ông nhà văn – trung tá – phó giáo sư – tiến sĩ Nguyễn Thanh Tú không thuộc sử. Dân tộc Việt đã tồn tại trên 2000 năm nay mà có cần đến Đảng CSVN đâu. Dân tộc Nga và các dân tộc Đông Âu có bị diệt vong khi đảng cộng sản ở những nước đó bị truất phế?

Phải nói ngay rằng chính sự thống trị của Đảng CSVN đã dẫn đất nước này và dân tộc này đến bờ nguy cơ mất căn cước tính. Đảng CSVN đã du nhập một chủ nghĩa ngoại lai và dựng nên một chế độ công an trị để phá nát nền văn hoá dân tộc. Chính Đảng CSVN đã ký công hàm dâng đảo cho Trung Cộng. Chính Đảng CSVN đã để mất đất trên vùng biên giới phía Bắc. Chính Đảng CSVN đã cho bọn Tàu cộng vào quậy phá đất nước này. Đến đây thì chúng ta đã thấy ông nhà văn – trung tá – phó giáo sư – tiến sĩ Nguyễn Thanh Tú dốt như thế nào.

Tiếp theo lập luận của Nguyễn Thanh Tú là “GSTS” Hoàng Chí Bảo, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương. Tôi phải để GSTS trong ngoặc kép vì tôi nghĩ trình độ lý luận của ông này chưa qua khỏi tú tài. Ông Hoàng Chí Bảo nói: “Tuy nhiên, Đảng với nhân dân là thống nhất, với nhà nước là thống nhất. Phủ nhận vai trò của Đảng tức là phủ nhận vai trò của nhân dân, phủ nhận ý chí, nguyện vọng của nhân dân, phương hại đến nền độc lập tự do của Tổ quốc. Phương hại đến quyền sống, quyền tự do hạnh phúc của nhân dân. Vì bảo vệ dân mà phải bảo vệ Đảng. Vì bảo vệ dân mà phải hiến định nó”. Tôi phải thốt lên: wow! Ông lập luận theo kiểu tam đoạn luận:

  • A với B là một,
  • A với C là một,
  • Bỏ A tức là bỏ B và C,
  • Bảo vệ B và C thì phải bảo vệ A.

Vấn đề ở đây là ông đã sai be bét ngay từ định đề đầu tiên. Đảng CSVN với người dân Việt Nam không phải là một, không thống nhất được. Đảng CSVN chỉ có 3 triệu người, nhưng Việt Nam có đến 91 triệu dân. Đảng CSVN cướp chính quyền, chứ người dân đâu có bầu cho Đảng. Nếu ông thành thật tin rằng Đảng CSVN thật sự được sự ủng hộ của người dân, thì tại sao không cho người dân tự do lập đảng và tranh cử nghiêm minh?

Đến lượt ông Phó Giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Tấn Phát, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phát biểu thì chúng ta mới thấy sự thảm hại của tư duy. Ông vẫn khẳng định điều 4 trong Hiến pháp là “yêu cầu tất yếu của lịch sử đương đại Việt Nam”, nhưng đề nghị viết lại cho … hay hơn. Hay như thế nào? Ông muốn sửa thành: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong đồng thời là đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam hành động, lãnh đạo đất nước dựa trên nền tảng liên minh công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức”. Nếu các bạn hiểu được ý của ông này tôi nghĩ các bạn không thành thật. Đây là kiểu nói của một con vẹt. Con vẹt nói chỉ nói chứ nó không hiểu nó nói gì.

Thật ra, đây là một sự đạo văn. Câu “Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam hành động” là lấy từ trong tài liệu của Đại hội Đảng lần thứ 7.

Nhưng đó là một kiểu nói nhập nhằng. Đã đại diện mà còn đội tiên phong? Lãnh đạo dựa trên “nền tảng liên minh công nhân, nông dân, và đội ngũ trí thức” là cái gì? Cái chủ nghĩa Mác-Lênin đó đã bị cả thế giới ghê tởm và phỉ nhổ. Chính đất nước khai sinh ra cái chủ nghĩa đó cũng đã vứt nó vào thùng rác. Thật ra, cái chủ nghĩa gọi là Mác-Lê đó không có thật, nó chỉ là sản phẩm tưởng tượng của tên đồ tể Stalin để triệt hạ những ai chống đối hay tranh giành quyền lực với hắn. Nay các đồ đệ của Stalin ở Việt Nam lại làm sống cái chủ nghĩa đó để trấn áp người dân Việt. Thật là trớ trêu!

Ông Hồ Chí Minh không hề có tư tưởng gì cả. Chính ông nói như thế. Xin trích một đoạn trong hồi ký của ông Nguyễn Văn Trấn như sau:

“Trong tư cách Tổ trưởng Đại biểu Đảng CSVN năm 1951, lúc ấy vừa tái công khai dưới cái tên Đảng Lao động VN, ông đã gặp ông HCM. Tôi báo cáo tình hình, anh em trong tổ nói bộ hết duyên rồi sao mà lấy tư tưởng Mao Trcạh Đông làm kim chỉ đạo cho Đảng ta. Nhưng anh em giao là nói trong tổ cho nhau nghe thôi chớ không phát biểu ở hội trường. Và đã lỡ miệng nói ở đây một điều như vậy, trong quan hệ quốc tế này thì ngậm miệng đừng nói là hơn.

HCM nhắm hí mặt như Stalin khi gặp vấn đề khó nghĩ, vì tìm chữ. Tôi thưa tiếp: ‘Có đồng chí nói hay là ta viết ‘tư tưởng Mao Trạch Đông và tư tưởng Hồ Chí Minh’ có phải hay không!’

Câu nói của tôi làm cho mắt ông già rạng lên theo lời đáp cấp kỳ: ‘Không, tôi không có tư tưởng gì khác ngoài tư tưởng chủ nghĩa Mác-Lênin. […] Chớ còn tư tuởng là quan niệm về vũ trụ, về thế giới xã hội con người thì tôi là học trò của Mác, Anghen, Lê-nin, chớ làm gì tôi có tư tưởng ngoài triết học Mác”.

Đấy, chính ông cụ Hồ nói ông không có tư tưởng gì cả. Ông chỉ là học trò của mấy ông râu xồm kia mà thôi. Mà chưa chắc là học trò giỏi vì tiếng Pháp của ông còn khá hạn chế, như có lần được biểu hiện qua một bài phỏng vấn (www.youtube.com/watch?v=LsNJ28qM0vU). Những bài viết và phát biểu của ông có thể nói là nhỏ nhặt, linh tinh, có khi chẳng đâu vào đâu. Cách ông trả lời cũng có khi khá buồn cười. Ví dụ như khi được hỏi thế nào là dân chủ tập trung, ông nói một cách hồn nhiên: “Như các cô, các chú có đồ đạc tài sản gì đó thì các cô chú là chủ, đó là dân chủ. Các cô chú không biết giữ, tôi giữ dùm cho. Tôi tập trung bỏ vào rương. Tôi khóa lại, bỏ chìa khoá vào túi tôi đây. Đó là dân chủ tập trung”! Một tư tưởng gia mà lý luận ngô nghê như thế hay sao? Ấy thế mà các đàn em của ông lại gán ghép và nâng tầm những câu nói của ông thành “tư tưởng”! Tất cả chỉ là một sự giả tạo.

Nếu xem những giáo huấn của ông là tư tưởng và đáng học tập thì tại sao không làm theo câu sau đây:“Nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ”. Chính phủ hiện nay đã làm cho người dân hết đau khổ này đến đau khổ khác. Cải cách ruộng đất. Nhân văn giai phẩm. Mậu thân 68. Cải tạo. Vượt biên. Buôn bán người qua biên giới. Cướp nhà, cướp đất. Đó là vài “sản phẩm” tiêu biểu của Đảng CSVN. Chính phủ do Đảng CSVN điều khiển đã làm cho Việt Nam nghèo nàn và tụt hậu cả trăm năm so với Tân Gia Ba và Đại Hàn, đi sau 50 năm so với Thái Lan và Mã Lai Á. Đó là một nỗi nhục. Ấy thế mà Đảng lại không biết nhục mà còn đòi quyền lãnh đạo!

Nếu làm theo lời dạy của cụ Hồ thì tại sao không nhớ câu này của ông cụ: Quân đội ta trung với Nước, hiếu với dân”. Ấy thế mà có ông tiến sĩ nọ dám sửa lời ông cụ rằng “Quân đội ta trung với Nước, hiếu với dân”! Ngoài miệng họ nói làm theo lời ông cụ, nhưng khi viết xuống thì họ chỉ lợi dụng ông cụ cho những toan tính cá nhân.

Tôi nghĩ nếu họ là trí thức thật sự và có tự trọng, họ không thể nào ăn nói trơ tráo như thế. Chỉ có thể kết luận đây là một đám xu nịnh và sống vì cái “chủ nghĩa sổ hưu” của Trần Đăng Thanh, chứ chẳng trí thức gì cả. Đúng là ăn cơm chúa, múa tối ngày. Quả là một loại trí nô ký sinh.

Nhưng tất cả những trò gọi là góp ý Hiến pháp chỉ là một màn kịch. Đó là một màn kịch vụng về. Cái gọi là Hiến pháp chỉ là một cách hiến định hoạt động của Đảng CSVN mà thôi. Chính vì thế mà những trí nô ký sinh phải gân cổ lên biện minh cho điều 4. Tôi thấy thiếu tướng tiến sĩ Nguyễn Xuân Mười thành nhận nhất khi ông nói “Hiến pháp và pháp luật nước ta chính là sự thể chế hóa Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng; thực chất của việc tuân thủ nghiêm minh Hiến pháp, pháp luật chính là sự thực hiện Cương lĩnh, đường lối của Đảng trong mọi hoạt động của Nhà nước, trong đời sống xã hội và như vậy mới bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng”. Thế là đã quá rõ: vì sự tồn vong của Đảng chứ đâu phải tồn vong của dân tộc. Nhưng sự tồn vong của Đảng lại là một đe doạ đến sự tồn vong của dân tộc. Đó mới chính là bi kịch.

Tôi tự hỏi tại sao có những con người trí nô ký sinh như thế? Tại sao có những người mang danh giáo sư, tiến sĩ mà phát biểu chẳng có một chút hàm lượng tri thức nào cả. Tôi nghĩ có thể tìm câu trả lời trong cái hệ thống giáo dục hiện nay. Trong một nền giáo dục mà văn bằng tiến sĩ là một thứ đồ trang sức (xem Vietnamnet) thì chúng ta biết hệ quả như thế nào. Yếu tố làm nên những đồ trang sức đó là những luận án mà đọc lên chúng ta chỉ biết lắc đầu ngao ngán. Luận án về tắm giặt cho quân nhân. Lấy nghị quyết của Đảng làm luận án tiến sĩ. Hay thử đọc vài tựa đề luận án tiến sĩ:

  • Quan điểm của C. Mác về phát triển con người và sự vận dụng ở Việt Nam hiện nay.
  • Hoàn thiện chính sách tài chính đối với ngành công an Việt Nam.
  • Hoàn thiện chính sách phát triển giáo dục đại học Việt Nam hiện nay.
  • Giải pháp xóa đói giảm nghèo nhằm phát triển kinh tế – xã hội ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam.
  • Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán Việt Nam.
  • Vai trò của Nhà nước đối với hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
  • Vân vân.

Với những “nghiên cứu” như thế thì hẳn nhiên chúng ta không thể nào đòi hỏi tri thức từ những “tiến sĩ”. Nhưng những con người đó, những tiến sĩ đó sẽ trở thành giáo sư, phó giáo sư. Họ sẽ đóng vai thầy để đào tạo thêm một thế hệ “tiến sĩ” khác. Thế hệ “tiến sĩ” mới sẽ trở thành “giáo sư”, thành tướng, thành tá. Và cứ thế, đất nước này sẽ có nhiều thế hệ tiến sĩ giấy và giáo sư dỏm. Chính họ vừa là sản phẩm vừa là tác nhân làm cho nền giáo dục nước nhà suy thoái. Một đất nước có truyền thống giáo dục cả ngàn năm mà bây giờ phải bị ô nhiễm bởi những kẻ dỏm như thế thì quả là một nỗi nhục với tiền nhân.

Nếu những kẻ dỏm này ngồi yên một góc xó nào đó thì sẽ không có gì để nói. Nhưng ở đây, họ lại cất tiếng nói về những chuyện quốc gia đại sự và đó là điều đáng quan ngại. Quan ngại vì với danh xưng hoa mỹ họ có thể thuyết phục vài người nghe theo. Và đó là một điều nguy hiểm. Càng nguy hiểm hơn khi những kẻ dỏm đó dùng quyền lực trong hệ thống quân đội và công an để trấn áp những tiếng nói của những nhà trí thức chân chính. Nhưng trên hết, sự có mặt của họ là một nỗi nhục cho nền học thuật của nước ta.

Trong một xã hội hưng thịnh, giới trí thức là những tinh hoa của xã hội. Xin hiểu ở đây “trí thức” không có nghĩa là những người có bằng cấp cao mà là những người có khả năng sáng tạo tri thức mới và dấn thân vì xã hội. Nói như GS Cao Huy Thuần, trí thức là những người không để cho xã hội ngủ. Hiểu như thế mới thấy những người chủ trương trang bauxitevn là trí thức. Và nếu hiểu trí thức như vừa nói thì có lẽ những người mang danh giáo sư, tiến sĩ của Chính Phủ đang ra rả trên đài, trên báo không phải là trí thức mà chỉ là những trí nô ký sinh.
Theo blog BS Ngọc

Bài liên hệ:  Nô dịch đỏ