vietsoul21

Archive for the ‘Việt Nam’ Category

Phó thường dân (15): phố vẫy …

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2012/10/07 at 14:25

 

Mấy ngày trước đây là Trung Thu, trăng tròn, ở quê nhà thì tùng cắc tung lũ trẻ với lồng đèn chú cuội. Ở đây thì người ta gọi là trăng mùa gặt (harvest moon), cũng tròn như ở bên nhà chỉ có khác là không có đám trẻ con lăng xăng hớn hở rước đèn.

Nói đến trăng tròn thì phó thường dân tui chợt nhớ câu thơ “Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ, đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ nước Mỹ.”[1] trong tập thơ Cửa Mở của nhà thơ Việt Phương.  Riêng hai câu thơ này mới là cay đắng để đời nè nghe: “Tôi đã sống một phần hai thế kỷ. Ðể hôm nay làm đĩ với tâm hồn!

Nhà thơ Việt Phương tự thấy mình “làm đĩ tâm hồn” phục vụ cho cái chế độ cộng sản bịp bợm, thối nát khi đành đã bao năm nằm chung cái chăn đầy rận với các đồng “chí” chuyên nghề hút máu. Nhưng đáng tội hơn nữa nhà thơ ấy đã mở mắt, mở tâm hồn, mở cửa (“Mở đài địch như mở toang cánh cửa.”) nên sự nghiệp ông Thi sĩ kiêm thư ký của Thủ tướng Phạm Văn Đồng chưa bay qua cánh cửa thì đã bị treo bút “lặn không sủi tăm”.

Không riêng chỉ mỗi một nhà thơ này mới mở mắt, mở tâm hồn. Những người dù chỉ có một chút lương tâm rồi cũng không thể tự dối mình được nữa và thậm chí ân hận vì dây dưa với cái hủi cộng sản. Rất nhiều người (Hữu Loan, Hoàng Hữu Quỳnh, Hà Sĩ Phu, Bùi Tín, Tô Hải) ở lúc giữa đời hoặc chậm đến khi gần đất xa trời thì cũng bỏ đảng[2], lánh xa, tẩy rửa mặt nạ vô hình đã làm ô uế tâm hồn. Riêng nhà văn Dương Thu Hương thì tuyên bố thẳng “làm giặc” chống lại cái ác rồi từ chối cả “tự do ảo là khoảng sinh tồn của ngòi bút” và chấp nhận sống lưu vong. Gần đây hơn là TS Đỗ Xuân Thọ, anh Nguyễn Chí Đức, em Tô Hoài Nam bỏ đảng về với Nhân Dân[3]. Vì sao bỏ đảng – bộ phận quyền lực tuyệt đối trong nước?

Vì đảng ta vốn đã xây dựng được (XHCN) kỹ nghệ “đánh đĩ”[4]  nên ai ai phò cái bình vôi (BCT) cộng sản cũng đều phải học cho rành “Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề”. Mà thiệt là tội cho cái nghề làm đĩ, chẳng đặng đừng đành bán trôn nuôi miệng. Còn những tay chuyên gia đánh đĩ thì thiệt tình (và nhiệt tình) hồ hởi “bán miệng nuôi trôn”.

Đánh đĩ nên Giám đốc CA TP Hà-nội Nguyễn Đức Nhanh mới hôm trước phát ngôn “Biểu tình chống TQ là yêu nước” thì hôm sau đã nhất quyết đạp mặt, vặt khủy tay, tống lên xe buýt như lợn chở về trai “phục hồi nhân phẩm”.

Đánh đĩ nên TT Nguyễn Tấn Dũng lúc đăng đàn Quốc hội tuyên bố khẳng định Hoàng Sa-Trường Sa là của Việt Nam thì mới đây đi chầu TQ chẳng dám ọ ẹ một lời chủ quyền biển đảo.

Đánh đĩ nên vãi Doan nhà ta chả ngượng mồm “Dân chủ của chúng ta là rân chủ gấp vạn lần dân chủ các nước tư sản.”

Đánh đĩ nên Nguyễn Trần Bạt  mới “Tôi đã có một kết luận rằng nhân quyền không còn là quyền chính trị, nhân quyền là quyền phát triển và chống lại rủi ro của cuộc sống.”

Mà kể sao cho hết cái (nọc) nòi (cộng sản) đánh đĩ này[5].

Thế nên nhà thơ Việt Phương cũng phải thốt lời “Từ kỳ lạ đến bình thường rồi quá bình thường. Thứ chính trị không chính mà chỉ trị”.

Riêng phó thường dân tui thì hổng sao chịu nổi cái đánh đĩ chính sách “đại đoàn kết dân tộc” và “hòa giải” của đám chuyên gia trong “kỹ nghệ đánh đĩ” này.

Hổng biết “đại đoàn kết dân tộc” cái kiểu gì, chứ theo kiểu chính sách lớn đảng ta với búa liềm, cuốc chim trong Cải Cách Ruộng Đât với “trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ” rồi rần rần tới luôn bác tài trong “cải tạo thương nghiệp” đến mút mùa “học tập cải tạo” và “Đối với bọn Ngụy quân, Ngụy quyền, nhà của chúng: ta ở; vợ của chúng: ta xài; con của chúng: ta bắt làm nô lệ; còn bọn chúng nó: ta giam cho đến chết!” thì có mà đời tàn dân tộc.

Đại đoàn kết dân tộc gì mà sĩ-nông-công-thương thì thí bỏ thành phần sĩ-thương và thổi ống đu đủ giai cấp công-nông.

Đại đoàn kết chi mà đày đọa dân miền Nam (một nửa đất nước) làm phó-thường-dân, diện “lý lịch” có vấn đề.

Đại đoàn kết nào mà lại bóp mũi, khai tử đồng chí (rận) trẻ người non dạ (Thanh Niên Sinh Viên Học Sinh Tranh Đấu) Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Tấn tuồng “Hoàn tất sứ mệnh lịch sử” vừa hạ màn thì cho lũ trẻ xuống đường và nằm vùng chầu rìa, “dựa cột” coi bộ gọn ghê!

Còn cái loa “hòa giải” lại to chẳng thua gì “đại đoàn kết dân tộc”.

Chèng đéc ơi ai đời “hòa giải” với trò thủ tiêu Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ và đàn áp Cư sĩ Phật Giáo Hòa Hảo[6]… “hòa giải” bằng cách khai tử Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất rồi bắt giam Tăng thống Thích Huyền Quang và quản chế tại chùa[7] … “hòa giải” dùng cần cẩu giật sập thánh đường Giáo hội Mennonite (dù chỉ là chuồng bò tái tạo) của MS Dương Kim Khải[8] … “hòa giải” cướp nhà chung giáo phận Hà Nội và “thoái vị” Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt ra khỏi nước … “hòa giải” đem đàn áp tín đồ Cao Đài và trù dập giáo dân Con Cuông[9] … “hòa giải” triệt để áp lực chính quyền sở tại phá phá đổ tượng đài kỷ niệm thuyền nhân ở Galang và Bidong[10] hủy bỏ tang chứng trăm ngàn người chết trên biển, trên sông vì chính sách “hòa giải” trước đó v.v…

Mà thôi để chuyện chung, chuyện lớn ra một bên. Phó thường dân xin kể cái đời cá nhân lăn tăn, trầy trụa bà con nghe.

Số là tui được sanh trưởng ở miền Nam tự do, cũng được ăn (nhiều) học (ít) còn chơi thì lơ mơ thằng cù lần. Nghĩ lại đó cũng là cái phước vì chỉ biết ăn-học-chơi trong lúc tuổi thơ.

Không phải học căm thù người dân miền Bắc (như kiểu căm thù Mỹ-Ngụy), không phải học chém giết bộ đội CS trong phép toán cộng trừ (kiểu bắn bao nhiêu thằng Mỹ, thằng Ngụy) hoặc sát máu trong thơ ca (Giết, giết nữa bàn tay không phút nghỉ. Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong. Cho đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng,Thờ Mao Chủ tịch, thờ Sít-ta-lin bất diệt).

Phước đức nhất là không phải yêu, thờ ai ngoài thờ cha, kính mẹ và ông bà. Ai đời lại thương, thờ cái ông râu xồm tội phạm nhân loại ở tận đâu đâu (Tiếng đầu lòng con gọi Stalin! … Hỡi ơi, Ông mất! đất trời có không? Thương cha, thương mẹ, thương chồng. Thương mình thương một, thương Ông thương mười). Vừa mới thoát khỏi nạn học “tổ tiên chúng ta là người Gô-Loa (nos ancêtres étaient des Gaulois )” dưới thực dân Pháp thì lại đội đầu ông Mác-ông Nin hở trời!

Vì không bị tuyên truyền, tẩy não với thù hận chém giết nên phó thường dân tui chẳng có chút thù hận nào với cộng sản dù có thấy những thảm cảnh gây ra bởi cộng sản. Nhưng sợ thì có (thiệt) à nha.

Sợ cúp cua đi coi phim kiếm hiệp, phim chưởng Khương Đại Vệ, Lý Tiểu Long mà bị đặc công đặt mìn plastic chết lòi phèo, phọt óc, máu me đầy rạp hát.

Sợ đi xem đá banh bị ném lựu đạn người tung như bóng.

Sợ đón xe lam đi học từ quê ra thị xã 12 cây số mà lỡ cán phải mìn bị chết hoặc cụt tay, què giò, mù mắt thì chắc phải đi ăn xin hoặc ăn bám cha mẹ suốt đời.

Sợ nửa đêm đang ngủ bị pháo kích lạc đạn cả nhà đi chầu ông bà sớm.

Tuy sợ thì có sợ thiệt nhưng phó thường dân tui không có lòng thù hận gì vì có gì (cá nhân) mà thù ghét họ. Ngay khi lúc lơn lớn dậy thì, bắt đầu biết nghe ca nhạc nên cũng có lúc khuya hôm mở radio gặp nghe chương trình “sinh Bắc tử Nam”. Nghe xướng danh thì cũng ngậm ngùi thương những người đã chết không hương khói giỗ chạp.

Còn dối trá hả. Không có ai bắt tui phải học nằm lòng. Làm gì có bị buộc dối trá, giả hình trong cuộc sống. Có dối thì cũng chỉ là cái dối cha mẹ đi chơi, dối để thuê truyện chưởng trinh thám đọc lén, dối hút thuốc lá lấy le phong độ bạn gái. Còn bạn bè thì xạo sự chơi dzui thôi mà.

Đâu có phải sống trong cái “thời kỳ bao cấp” tem phiếu, phải sống “đăng ký hộ khẩu” đi thưa (xin giấy phép) về trình (báo) với công an phường, hay họp tổ dân phố, không phải nghe phổ biến nghị quyết trên cái loa phường. Mạnh ai nấy sống chẳng nghi kị, dòm ngó. Mười bẩy năm niên thiếu của tui hổng thấy cái ông chính quyền Việt Nam Cộng Hòa nào xen vào cái đời tư cá nhân của tui hết ráo.

Thế nhưng cuộc đời êm ấm của tui chấm dứt vào cái ngày 30 tháng 4 năm ấy.

Đó là khởi đầu cái học dối trá và thù hận. Học đấu tranh giai cấp, học ai thắng ai, học “xưa cha đào, nay con đắp”[11], học (tham gia) đánh tư bản mại sản, kiểm kê tiểu thương, v.v…

Trời đất quỷ thần ơi! Sống ở dưới chế độ CS mà không dối trá thì đi đoong cái đời. Hổng dám kết bè, kết bạn với ai vì chỉ nói thật điều mình không ưa là có ngày gặp họa. Tui còn nhớ rành rành câu “Lao động là vinh quang, lang thang là chết đói, hay nói là đi học tập.” Thành ra có gì thật thì giữ kín trong lòng, còn tất cả là giả vờ giả dối tung hô theo khẩu hiệu thì mới sống ngáp ngáp thôi. Họp hành ai nói gì thì nói cứ vỗ tay lớn là chắc ăn. Phải biết nói như con vẹt lập đi lập lại cái “ba giòng cách mạng”, “thời kỳ quá độ”. Phải “phấn khởi”, “hồ hỡi” thuộc long những câu trong nghị quyết làm bùa hộ mạng, làm lưới chống đạn B40.

Mà thôi, đó là chuyện cá nhân, nghe dài cũng oải. Mấy ổng đang vẫy gọi “hòa hợp hòa giải” nè!

Phó thường dân tui hổng biết gặp ai để nói chuyện “hòa giải”. Đi gặp ông Tổng (bí) hay ông Thủ (tiền)? Chắc chắn là tui hổng có thế, có lực để mà ngồi nói chuyện hòa giải với hai ổng.

Còn bà con chòm xóm láng giềng thì tui có gì xích mích mà hòa giải? Ngay cả người dưng ngoài ngõ đầu đường tui cũng hổng xích mích thì hòa giải cái nỗi gì.

Mà mẹ ơi, tui ở bên này (bên kia bờ đại dương) thì có ăn cái giải gì mà hòa hợp với lại hòa giải. Mấy ông vẫy tui lại để móc cái “khúc ruột ngàn dặm” coi còn sót đồng Đô nào chứ gì? Mỗi năm mấy ông ăn hớt cũng được bao nhiêu trên số kiều hối sấp xỉ mười tỷ đô la rồi chớ ít ỏi gì đâu mà còn bòn rút nữa mấy cha.

Khi nói tới “hòa giải” thì cũng có người bàn tới “thỏa hiệp” (compromise)[12]. Nói nghe cũng thủng lỗ nhĩ đó, vì trong đối thoại, từ đòi hỏi các phe nhóm, thì có lúc đi đến thỏa hiệp nhằm tránh sự bế tắc. Nhưng đó chỉ là chuyện của các thế lực (ba bẩy, tám mười) chứ cái cộng đồng và dân đen chung chung thì có thế lực gì. Chuyện “thỏa hiệp” giữa cá nhân với tập đoàn cộng sản thực chất là làm tay sai để đạt lợi ích riêng của họ. Mà thôi, để tôi chống mắt xem “Nhất định trong tương lai gần, người Cộng sản sẽ nhẹ nhàng ngồi vào bàn đàm phán đặt vấn đề ‘thỏa hiệp’ để vì lợi ích Dân tộc, Tổ Quốc.”[13] là tới khi nào.

Phó thường dân tui nghĩ mấy ổng nên hòa giải với dân chúng trong nước cho phải phép (pháp luật). Hòa giải với những người dân oan mất đất, trả đất đền bù thỏa đáng. Hòa giải với tín đồ các tôn giáo, tôn trọng tự do tín ngưỡng và trả lại tài sản giáo hội. Hòa giải với những người bất đồng chính kiến, không giam cầm, bắt bớ, sách nhiễu, tôn trọng quyền tự do ngôn luận, hội họp và chính trị của họ. Hòa giải bằng cách xóa bỏ độc quyền lãnh đạo, tạo bình đẳng cho mọi người thực thi quyền công dân xác đáng của họ trong việc chọn người tài giỏi xây dựng đất nước.

Mấy ông thực hành hữu hảo 4 tốt và 16 chữ vàng với dân trong nước thay vì với thằng láng giềng hung hăng trước đi.

Phó thường dân mới đọc đâu đây có cái giải thưởng Trần Nhân Tông[14] về hòa giải trao tặng cho hai vị: Tổng thống Myanmar, ông U Thein Sein và Chủ tịch Đảng đối lập NLD – bà Aung San Suu Kyi. Tui dám cá độ là mấy ổng mà làm được ba bốn điều hoà giải ở trên thì tui xin tiến cử và đài thọ chi phí đi lãnh giải kỳ tới liền (liền).

Tui nói thiệt nghe, coi bộ cái kỹ nghệ “đánh đĩ” của đoảng có nhiều hàng tồn kho nên cứ năm ba bữa rảnh rang là đem chào hàng món ế ẩm, câu khách tham bèo. Dzậy mà cũng có người dù không dám bỏ tiền túi mua nhưng lại rùm beng khen rẻ.

Phó thường dân tui lúc trước 75 có nghe phong phanh đến các “chị em” mua bán dâm ở ngã ba chú Ía nhưng chưa hề nghe vẫy chào quá cỡ thợ mộc kiểu này. Giờ thì nghe nói các “phố vẫy” nhan nhãn ở (Phan Đăng Lưu-Phạm Văn Đồng ) Hà Nội. Nghe rằng đặc điểm của phố vẫy là mờ mờ, ảo ảo phấn son, xiêm áo, mông má đắp vá, chuyên là đồ mã.

Còn phố vẫy khu Ba Đình thì sao? Thấy thì mát mắt. Sờ thì chắc cũng mát tay. Nhưng đụng trận là tới bến! Mụn cơm, mụn cóc, sùi mào gà, giang mai, hột xoài, HIV, HPV, SIDA vòng trong vòng ngoài khỏi kể. Ai xâm mình thì xin mời một quả “hòa hợp, hòa giải”, “đại đoàn kết dân tộc” dưới rốn.

Phó thường dân tui thì xin hai chữ bình an.

© 2012 Vietsoul:21


[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu  – (8) Gió mưa là chuyện của trời …  – (9) Vô liêm sỉ – man rợ – (10) Phế-anh-hùng – (11) Luật Lệ(nh) … (12) Nhà em có nuôi một con két … (13) Cái nhà là nhà của ta … (14) Mèo – thỏ (16) Mít tờ Đàm và Bác Hồ (17) Nín thở qua cầu (18) Bán Thân – Bán Thận – Bán Thần (19) Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm]


[1] NHÀ THƠ VIỆT PHƯƠNG RA MẮT TẬP THƠ “CỬA ĐÃ MỞ”
http://vanchuong.vnweblogs.com/post/2192…

Cuộc Đời Như Vợ Của Ta Ơi

Năm xưa ta nói rất nhiều “cực kỳ” và “hết sức”
Tội nghiệp nhất là ta nói chân thành rất mực
Chưa biết rằng “trời” còn xanh hơn “trời xanh”
Ta thiếu sự trầm lắng đúc nên bởi nhiệt tình.
Ta cứ nghĩ đồng chí rồi thì không ai xấu nữa

Người ta dạy tôi
Ðồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ
Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ
Tôi đã sống một phần hai thế kỷ
Ðể hôm nay làm đĩ với tâm hồn!

[2] Hồi ký “Tôi Bỏ Đảng”, Hoàng Hữu Quýnh – Tại sao bỏ Đảng, bỏ Bác mà chạy trốn?

[4] Đánh đĩ chính trị, blog Nguyễn Tường Thụy

[11] Sau 30-4-75, chính quyền CS bắt thanh thiếu niên con em “lính  Ngụy” vào Thanh Niên Xung Phong đi đào thủy lợi, đắp đê.

Bút Gà (chấp bút) Đinh Thế Huynh trực tuyến vờ-tờ-vờ

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2012/10/05 at 20:27

 

Tớ nghe loang loáng rằng anh Huynh đang tọa hổ (độn thổ) tàng long (ngậm tăm) vì đàn anh (trâu bò) đá thúng đụng niêu. Anh sợ nhỡ lời bị trúng miểng thế nào ấy nên dùng chước ngậm miệng ăn tiền. Còn tớ nào có dại gì mà nhọc công cầm bút khuáy hủ cáy cho khắm cả làng. Anh lại buộc tớ mở phủ để bà phán cho an (ăn) dân. Ấy thế nên trực tuyến vờ-tờ-vờ chuyển lời bà cho các cậu đây:

Bà nói đồng bào nghe rõ không?

Ba thằng đệ tử cận kề bà nếu chúng có kèn cựa lẫn nhau, có đá giò lái, hoặc thọc gậy bánh xe tranh giành oản lộc[1] của bà thì mặc chúng thôi. Đừng có đem chúng ra mà báng bổ bà nghe chửa.

Thằng nào gãy chân (ghế) cụt tay (trong) không đứng, hết ngồi thì bà khiến thằng khác chứ chả việc gì mà gởi sớ tới bà.

Bà đã răn đe nhiều lần là không kiến nghị, tâm thư, thư ngỏ (mở), thư kín tơ tưởng đến chuyện dở hơi như “con cặc”[2] trong phủ bà.

Thằng đệ tử nào muốn hầu bà mà lòi cái “con cặc” ra là bà cắt gọn ngay.

Ối giào chả việc gì đến chúng mày. Cái “dương vật buồn thiu” của chúng đã được bà triệt sản bằng hóa chất khi mới vào chầu. Họa hoằn mới nhỡ sót tàn dư thằng nào để nhúng nhẳng “con cặc” với bà.

Tự thuở bà nằm ở gốc cây đa (đất Nga) đến ngày được thằng đệ tử ranh mãnh Hồ Chí Minh (hồ ly tinh) tuân theo thằng Nin đem Mác, vác Bà về. Thằng lõi ấy mở phủ lập đền mê muội nhân dân bao năm nay nên chúng có hưởng lộc bà hết đời con cháu các cụ nó thì có là bao.

Nghe mà nhớ này. Đám đồng nhang, đồng đèn, lính anh, lính chị hầu dưới trướng bà thì lắm như quân Nguyên, quân Hán. Chúng dân khấn ván thỉnh cầu trừ sâu bọ, Việt gian, Hán gian làm gì. Từ ngày cái vàng mã (cộng sản, chủ nghĩa xã hội) đốt cháy (cướp chính quyền) giang sơn thì Hán gian, Việt gian môi hở răng lạnh, chung chăn đầy rận. Đến Bà cũng còn mờ mắt gian (Yuan[3]) thì làm sao cắn chấy, bắt rận được.

Bà chỉ căm thằng đệ tử ba Đê (3D) quái quắt. Nó cứ đợi Bà vừa thăng xong là thoăn thoắt bút sa lời phán thay bà sổ tuyẹt

Mấy thằng đệ tử đồng môn hậm hực chúng mách với bà nhưng khi Bà xuất thì nó đã quẹt mỏ quay chân trốn tiệt. Bà chỉ nắm được vài thằng cắc ké cắp tráp của nó[4].

Cậu Thanh Đồng của bà cũng cáu lên vì c.c.c.c. đệ tử này nọ ngày nào cũng lê lết phủ bà… hết Tuấn nghiện, Nghị lu du, Hương váy hồng, Chung cắt cu, Tuấn vê-tê-vê. Cài-cấy-cơ-cấu-cắt-cu[5] cái củ cải.

Ớ, mấy thằng đệ tử (kỳ đà) cắc ké (kỳ nhông) của bà lúc này sao chúng mày thối mồm thế.

Chắc là chúng bay ăn tạp chẳng ngừng chả chùi mồm, súc miệng nên cái bệnh thối mồm này lây lan trong đám chúng mày.

Hết cậu (cá) Cảnh,“Các nước có chỉ số IQ cao đều xây đường sắt cao tốc.” tới cậu (vô) Phước,“Chưa cần luật biểu tình vì dân trí ta còn thấp” trong cái quốc hội (quốc lủi) đèn cù.

Nó lây sang cả vãi Doan “Dân chủ của chúng ta là rân chủ gấp vạn lần dân chủ các nước tư sản” qua đến tiến (táo) sĩ Lư viện (tâm thần), “Người dân quá kém hiểu biết về động đất nên gây hoang mang dư luận”.

Rồi nhập vào thống Bình, “Do dân trí tập quán Việt Nam chưa cao như một số nước khác, rất nhiều người dân hiện nay đi gửi tiền nhưng cũng không để ý đó là ngân hàng tốt hay xấu”.

Thối thế!

Đã làm “chú phỉnh” thì phải biết phỉnh nịnh, mị dân chứ chúng mày trắng phớ thì lộ cái mặt mo rồi.

Dân trí thấp là chủ trương và đường lối nhất quán của đền (Đảng) bà. Có ngu dân thì các đệ tử ta mới định hướng chỉ đạo phò cái bình vôi (BCT) của bà. Chúng mày cứ trêu ngươi, không khéo chúng quẳng bình vôi thì cả lũ đi ăn mày à.

Chúng mày phải định hướng, tô hồng “quy hoạch hóa”, “đô thị hóa”, “tái cấu trúc” mỹ miều để thu hồi đất, thuổm tiền đút vào cái ruột tượng bình vôi phủ bà. Đứa nào hô hoán “cướp đất”[6] thì phải nhắc cho chúng nó nhớ là đã theo bà “cướp chính quyền” thì sao lại đần thế.

Giời ạ. Chúng mày chưa nghe thủng lỗ tai với câu vè dân gian về cái “thiên tài”[7] đảng ta hay sao mà có thằng lại thối mồm “Cái gì cũng … nhất”[8].

Tiện thể sao nó không nhắc luôn là một mặt ta chủ trương xuất khẩu (nô lệ) lao động sang Á, Nga, Đông Âu, Trung Đông v.v… Mặt khác ta chỉ đạo xuất khẩu gái làm điếm, phụ nữ vừa làm nô lệ tình dục, vừa làm ô sin cho đàn ông què quặt, tâm thần các nước láng giềng.

Cái “thiên tài” rút ruột, tham ô, hủ hóa, phá hoại của đảng ta thì thiên tai cũng cạch!

Bà phê và tự phê lưng lửng từng trời nhưng làm gì chẳng biết là bọn nông dân chân lấm tay bùn, bán mặt cho đất bán lưng cho trời mới làm ra lúa thóc để bà gom thu. Còn chúng bay chỉ có tài ăn cướp cơm chim người dân chứ làm ăn tích sự gì.

Người ta khôn ngoan thì họ tích lũy, dành dụm, bảo tồn tài nguyên không khai thác khánh kiệt để cho con cháu đời sau (và còn để nộp “thóc” cho bà nữa chứ).

Có ai như bọn mày chỉ cắm đầu ăn xổi ăn xổi, bán lúa non, đào quặng mỏ cạp hết sạch thì còn gì để nuôi bà làm lên sự nghiệp “sống mãi mãi trong lòng quần chúng”.

Thế thì bà phải đào cả cái mả bố[9] chúng mày để sống chứ cạp đất mà ăn à!

Chúng mày nhìn xem chung quanh (nước) láng giềng (ngoài cái thằng môi hở răng lạnh chết tiệt) có đứa nào nó mồm thối (hoăng) đâu.

Chúng mày cần noi gương thằng đệ tử ruột 3D thôi. Tuy nó quái quắt, ăn ngập họng nhưng nó khôn lõi, không phát ngôn thì ai biết nó thối nào.

Còn thằng Trọng “lú” đem trống đi đánh xứ người[10] lại mắc chứng lở mồm long móng nên chúng chặn cổng (bục bể phốt) khước từ.

Chúng nó lại đem ra bôi bác cả làng thế còn gì thể diện của bà. Có biết chửa?.

Bà chán chúng mày lắm … nói lắm cũng mỏi mồm … Chả là “làm đầy tớ thằng khôn còn hơn làm thầy thằng dại” mà bà lại phải làm gia sư cho chúng mày thì quả là vô vọng.

Ô hô, thăng … thăng … thăng …


[2] CHUYỆN CON C. LÀM NÓNG SÔI EM FB, blog Huỳnh Ngọc Chênh

[3] Yuan, Nhân dân tệ, đơn vị tiền TQ

[7]Mất mùa là tại thiên tai, được mùa là bởi thiên tài đảng ta”, câu vè dân gian thời Xuống Hố Cả Nước

[10] Nguyễn Phú Trọng đem ma đi bịp kẻ đào mồ, Nữ Vương Công Lý – Vì sao, vì sao ư? , Đàn Chim Việt


Chuỗi bài:


[Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu  – (8) Gió mưa là chuyện của trời …  – (9) Vô liêm sỉ – man rợ – (10) Phế-anh-hùng – (11) Luật Lệ(nh) … (12) Nhà em có nuôi một con két … (13) Cái nhà là nhà của ta … (14) Mèo – thỏ]

Phạm Hồng Sơn – “Hoa địa ngục” và Đảng, Bác, Mác-Lê

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Việt Nam on 2012/10/05 at 11:07

Ông Nguyễn Chí Thiện, sinh năm 1939 tại Hà Nội, tác giả của tập thơ nổi tiếng Hoa địa ngục vừa qua đời ngày 02/10/2012 tại nước Mỹ. Những dòng sau đây xin được thay cho lời cầu nguyện tốt đẹp nhất tới linh hồn người quá cố và những bạn hữu, thân nhân và những người yêu quí ông.

Kể cả sau này khi thời thế đã thay đổi và Hoa địa ngục được xuất bản chính thức ở Việt Nam thì có thể vẫn có nhiều độc giả không thiện cảm với những từ ngữ thường quá bộc trực, cay đắng hay mang tính chửi thẳng của tác phẩm này. Nhưng nếu đặt những cảm xúc hoặc những hình thức thể hiện sang một bên thì không thể không thừa nhận Hoa địa ngục đã dám phê phán ba yếu tố – ba vấn đề – mà cho đến tận bây giờ không phải ai cũng nhận ra hoặc dám đụng đến, đó là: Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh tụ Hồ Chí Minh thường được gọi là “Bác” và chủ nghĩa Marx-Lenin.

Ngay năm 1959, trước khi vào tù lần thứ nhất và khi mới chỉ chớm tuổi 20, Hoa địa ngục[i] đã chĩa sự phê phán không úp mở vào đúng Đảng:

“Tôi thường đi qua phố
Có anh chàng mù, mắt như hai cái lỗ
Kính chẳng đeo, mồm thời xệch méo
Ngậm vào tiêu, cổ nổi gân lên
Dốc tàn hơi thổi đứt đoạn như rên
Mấy bài hát lăng nhăng ca ngợi Đảng
Đã mang lại Ấm no và Ánh sáng!”
(“Tôi thường đi qua”, 1959)

và bản chất gieo rắc cái ác của Đảng:

“Trên mảnh đất, Đảng gieo mầm tội lỗi!
Trong lành cũng phải tanh hôi!
Trẻ con chưa nứt mắt đã tù rồi!
Bạo lực đi về rất vội! “
(“Trên mảnh đất”, 1964)

Càng về sau, qua những lần tù càng dài thêm, sự phê phán và nhận thức về bản chất Đảng lại càng sâu hơn và, dĩ nhiên, gay gắt hơn:

“Không ai kêu nổi một lời
Mồm dân Đảng khóa đã mười mấy năm!”
(“Gửi Bertrand Russel”, 1968)

“Đảng bắt câm, bắt nói, bắt khóc, bắt cười
Bắt đói, bắt làm, hé răng oán thán
Là tù ngục mục xương độc đoán
Phải chăng đó giá công lao huyết hãn
Mấy ngàn ngày đánh Pháp những năm xưa”
(“Đồng lầy”, 1972)

“Đảng thực chất chỉ là Đảng cướp
Dựng triều đình mông muội giữa Văn minh
Sống tạm thời nhờ thủ đoạn yêu tinh,
Nhờ súng đạn Tàu, Nga, bắt bớ.”
(“Đảng”, 1973)

Và đây, Hoa địa ngục phác lên một hình ảnh toàn trị thu nhỏ của Đảng, kiểm soát hết các nhân quyền cơ bản:

“Nhà văn nhà báo
Nhà giáo nhà thơ
Nhà thờ nhà chùa
Đều sợ đều thua
Nhà tù – nhà Vua!
Chớ đùa với Đảng!”
(“Nhà văn”, 1980)

Còn về “Bác”, Hoa địa ngục đã đề cập nhiều lần trong nhiều giai đoạn khác nhau nhưng có thể nói bài “Không có gì quí hơn độc lập tự do” là bài điển hình cho cái nhìn tổng quát nhưng xuyên thấu qua mọi lớp vỏ tuyên truyền về Hồ Chí Minh hay của chính Hồ Chí Minh. Tuy nhiên nếu vẫn thành kiến về những đại từ nhân xưng như “thằng”, “nó”, “con” thì có thể có hơi khó khăn để đồng cảm được với sự bộc trực, tinh ý của Hoa địa ngục lúc mới có 29 tuổi:

“Không có gì quý hơn độc lập tự do
Tôi biết nó, thằng nói câu nói đó
Tôi biết nó, đồng bào miền Bắc này biết nó
Việc nó làm, tội nó phạm ra sao
Nó đầu tiên đem râu nó bện vào
Hình xác lão Mao lông lá
Bàn tay Nga đầy băng tuyết giá
Cũng nhoài qua lục địa Trung Hoa
Không phải xoa đầu mà túm tóc nó từ xa
Nó đứng không yên, tất bật, điên đầu
Lúc rụi vào Tàu, lúc rúc vào Nga
Nó gọi Tàu Nga là cha anh nó
Và tình nguyện làm con chó nhỏ
Xông xáo giữ nhà gác ngõ cho cha anh
Nó tận thu từ quả trứng, quả chanh
Học lối hung tàn của cha anh nó
Cuộc chiến tranh chết vợi hết thanh niên
đương diễn ra triền miên ghê gớm đó
Cũng là do Nga giật Tàu co
Tiếp nhiên liệu gây mồi cho nó
Súng, Tăng, Tên lửa, Tàu bay
Nếu không, nó đánh bằng tay?
Ôi đó, thứ độc lập không có gì quý hơn của nó!
Tôi biết rõ, đồng bào miền Bắc này biết rõ
Việc nó làm, tội nó phạm ra sao
Nó là tên trùm đao phủ năm nào
Hồi cải cách đã đem tù, đem bắn
Độ nửa triệu nông dân, rồi bảo là nhầm lẫn!

Mọi tầng lớp nhân dân bị cầm chân trên đất nó
Tự do, không thời hạn đi tù!
Mắt nó nhìn ai cũng hóa kẻ thù
Vì ai cũng đói món nhục nhằn cắn răng tạm nuốt
Hiếm có gia đình không có người bị nó cho đi suốt.
Đất nó thầm câm cũng chẳng được tha
Tất cả phải thành loa
Sa sả đêm ngày ngợi ca nó và Đảng nó
Đó là thứ tự do không có gì quý hơn của nó !
Ôi, Độc lập, Tự do !
Xưa cũng chỉ vì quý hai thứ đó
Đất Bắc mắc lừa mất vào tay nó
Nhưng nay mà vẫn có người mơ hồ nghe nó…”
(“Không có gì quí hơn độc lập tự do”, 1968)

Và chỉ bằng hai câu thôi, Hoa địa ngục đã có thể tóm gọn “Bác”:

“Bác Hồ chúng ta
Kịch gia xuất sắc”
(“Tên hề”, 1971)

Về chủ nghĩa Marx-Lenin tức chủ nghĩ cộng sản, điều đáng ngạc nhiên nếu không muốn nói là kinh ngạc, trong một hoàn cảnh ngặt nghèo thông tin, tuổi đời còn rất trẻ và chắc chắn không có nhiều thời gian để đi học hay tự đọc, vì đã phải liên tục đi tù, nhưng Hoa địa ngục ngay lúc chưa đầy 25 tuổi đã nhận ra sai lầm rất chính trị:

“Cuộc đời tôi có nhiều lầm lẫn
Lầm nơi, lầm lúc, lầm người
Nhưng cái lầm to uổng phí cả đời
Là đã ngốc nghe và tin Cộng sản!”
(“Mỗi lầm lỡ”, 1963)

Dường như năm tháng tù đày triền miên lại làm cho Hoa địa ngục nhận thức sâu hơn chủ nghĩa Marx-Lenin về sự bất tương thích và hệ lụy của nó đối với dân tộc:

“Học thuyết Mác, một linh hồn u ám
Không gốc rễ gì trên mảnh đất ông cha
Mấy chục năm phá nước, phá nhà.”
(“Đồng lầy”, 1972)

Và đây Hoa địa ngục đã nói về chủ nghĩa Marx cách đây gần 40 năm mà lại gần giống như những gì ai đó mới lần đầu lên tiếng gần đây:

“Chủ nghĩa Mác chỉ là không tưởng
Trái với bản chất con người, reo rắc tai ương

Nếu cứ ngu si ôm mãi chủ nghĩa này
Nếu cứ thẳng tay bóp mãi dạ dầy
Đất nước nở mặt nở mày làm sao được nữa!
Dân tộc ta phải quăng ngay nó vào bếp lửa
Nồi cơm mới có thể mong đầy
Tự do, no ấm mới sum vầy”
(“Chủ nghĩa Mác”, 1984)

Có thể nói, so với tuổi đời của bản thân, Hoa địa ngục đã nhận thức được rất sớm và cũng dám phê phán bác bỏ rất sớm, mặc dù không hệ thống, về ba trụ cột chính của quyền lực cộng sản tại Việt Nam: Đảng, Bác, Marx-Lenin.

Nếu nhìn lại “Nhân văn-Giai phẩm” và “Xét lại chống Đảng”, những hoạt động và biến cố xảy ra gần trước và sau so với Hoa địa ngục, trong ánh sáng nhận thức về ba trụ cột đó thì lại thấy nhận thức của Hoa địa ngụccòn sớm cả so với thời đại nữa. Trong “Nhân văn-Giai phẩm” đã có những tiếng nói, bài viết và thái độ bất ưng, phê phán sâu sắc về sự chà đạp nhân quyền cơ bản hay vấn đề pháp trị của Đảng và có thể có cả những phê phán ẩn dụ về lãnh tụ nữa nhưng tất cả vẫn còn hoàn toàn trên tinh thần chấp nhận Đảng, tránh xa vấn đề “Bác” và không hề đề cập đến Marx-Lenin. Ở “Xét lại chống Đảng” cũng tương tự, chỉ là không đồng ý với chính sách của Đảng lúc đó, còn về chủ nghĩa Marx-Lenin, Hồ Chí Minh và Đảng đều vẫn được tôn trọng – tinh thần này gần như vẫn được các cựu thành viên của các biến cố đó giữ nguyên cho đến tận gần cuối những năm 1990.

Nhìn lại bối cảnh khắc nghiệt, tăm tối của Hoa địa ngục cách đây gần nửa thế kỷ và thực trạng hôm nay còn rất nhiều bậc trí giả vẫn tự coi Đảng, Bác là những thứ húy kỵ, lại càng thấy cái ghê gớm nhất, đáng kính phục nhất của Hoa địa ngục: không phải là bản lĩnh tù đày, kiên gan trong cô đơn hay trường thơ tố cáo in trong trí nhớ, mà là sự nhìn ra sớm, nhìn thấy triệt để nhưng lại không giấu mọi người về cái Ác rất to lớn – cái Ác ở tầm quốc gia, dân tộc.

Hoa địa ngục đương nhiên phải chia tay trần thế nhưng chắc chắn không bao giờ phải đi về địa ngục.

© 2012 pro&contra


[i] Các bài thơ trích dẫn ở đây đến từ hai nguồn: Hoa địa ngụcThơ Nguyễn Chí Thiện

Gia tăng lo ngại về một cuộc khủng hoảng kinh tế ở Việt Nam

In Kinh Tế, Liên Kết, Việt Nam on 2012/08/23 at 15:14

Quinn Ryan Mattingly for the International Herald Tribune
A stalled construction site in Ho Chi Minh City, one of many.


By
Published: August 22, 2012

Ðội xây dựng chỉ làm tới tầng đầu tiên trong công trình xây dựng Saigon Residence, một căn hộ cao cấp ở trung tâm của Thành phố Hồ Chí Minh. Chứng tích của dự án bị bỏ rơi còn sót lại là những đống gạch mốc, thanh thép gỉ và một nhóm nhỏ các nhân viên bảo vệ, và họ đã biến đổi nền xi măng trống thành một bãi đậu xe máy.

Có đầy rẫy hàng trăm khu xây dựng bị bỏ rơi ở các thành phố lớn của Việt Nam.

Quinn Ryan Mattingly for The International Herald Tribune
Vietnam’s major cities are scattered with hundreds of abandoned construction sites.

Tại các thành phố lớn của Việt Nam, thị trường bất động sản một thời bùng nổ đã sụp đổ. Hàng trăm khu xây dựng bị bỏ rơi là những dấu hiệu rõ ràng nhất của một nền kinh tế ốm yếu.Một viên chức cao cấp Đảng Cộng sản Việt Nam, nói chuyện trong phòng khách trang trí công phu của một tòa nhà thuộc địa Pháp, so sánh các vấn đề kinh tế của đất nước với sự sụp đổ của thị trường cách đây 15 năm đã san phẳng nhiều nền kinh tế vùng châu Á.

“Tôi có thể nói hiện tình bây giờ tương tự như cuộc khủng hoảng ở Thái Lan vào năm 1997”, ông Hứa Ngọc Thuận, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, cơ quan điều hành hàng đầu của thành phố cho biết. “Các nhà đầu tư bất động sản đã đẩy giá cao như vậy. Họ mua để đầu cơ chứ không phải để sử dụng”.

Vấn đề kinh tế của Việt Nam có vẻ ít nghiêm trọng hơn so với những vấn đề trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997. Nền kinh tế vẫn đang phát triển, mặc dù tương đối èo uột với tốc độ khoảng 4%, nhưng danh sách các vấn đề khó khăn của đất nước tiếp tục tăng lên.

Việc bắt giữ Nguyễn Đức Kiên, một trong những doanh nhân giàu có của Việt Nam, trong tuần này đã gây ra sụt giảm 4,8% trong chỉ số thị trường chứng khoán của nước này, một mức giảm lớn nhất trong vòng bốn năm. Các cáo buộc cho ông Kiên còn mơ hồ. Các phương tiện truyền thông nhà nước chỉ cho biết ông bị buộc tội hoạt động kinh doanh bất hợp pháp.

Cách xử lý bịt bùng vụ ông Kiên làm nổi bật lên một yếu tố trầm trọng tăng nặng đối với tai họa của đất nước: Cuộc hôn nhân độc hiểm mờ ám giữa lãnh đạo của Đảng Cộng sản và một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa làm vẩn đục mịt mùng triển vọng phục hồi cho đất nước của 91 triệu người.

Các nhà đầu tư hoài nghi về quản lý kinh tế của chính phủ và đặt câu hỏi về độ tin cậy của số liệu thống kê. Ngân hàng trung ương của quốc gia này cho biết khách hàng vay đã ngừng trả lại 1 trong mỗi 10 khoản vay trong hệ thống ngân hàng, nhưng Fitch Ratings cho biết tỷ lệ phần trăm của các khoản nợ xấu có thể cao hơn nhiều.

Nếu cuộc khủng hoảng năm 1997 thường được đổ lỗi cho “chủ nghĩa tư bản bè phái”, vấn đề của Việt Nam có thể được mô tả như là chủ nghĩa tư bản bè phái theo kiểu cộng sản. Công ty nhà nước được “cơ cấu” với bạn bè và các đồng minh quan chức trong hệ thống Đảng Cộng sản.

Ông Jonathan Pincus, hiệu trưởng của Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright tại Việt Nam, nói “Nhà nước đang bị thao túng bởi những quan chức nhà nước để kiếm tiền”.

Ông nói ” Điều cần thiết nhất là Đảng Cộng sản phải từ bỏ chức năng quản lý các công ty này thế nhưng tôi không thấy nó được cứu xét.”

Giống như các bong bóng bất động sản ở các nơi khác trên thế giới, các nhà đầu tư ở Việt Nam đã lợi dụng tín dụng dễ dàng để xây dựng địa ốc với hy vọng trao tay tạo lợi nhuận. Điều khác biệt quan trọng nhất là một số các nhà đầu cơ bất động sản lớn nhất Việt Nam lại là doanh nghiệp nhà nước cấu kết với các chóp bu hàng đầu trong Đảng Cộng sản và được tính dụng lãi xuất thấp. Những công ty này đang phải vật lộn với mức nợ không thể thanh khoản, hoặc trong trường hợp của Vinashin và Vinalines, hai tập đoàn lớn của chính phủ, trên bờ vực phá sản.

Thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn vù vù với năng động, chen chật với khách du lịch và tai ách bởi ùn tắc giao thông – những dấu hiệu của sức sống kinh tế của thành phố. Nhưng đó là mặt nạ che đậy những triệu chứng của các tai họa kinh tế toàn quốc: Những người trẻ ngày càng khó tìm được việc làm, gần 20% các công ty nhỏ và vừa đã tháo chạy trong năm qua, và các dự án cơ sở hạ tầng, thành phố trực thuộc Trung ương đang bị trì hoãn hoặc hủy bỏ .

Lê Đăng Doanh, một nhà kinh tế nổi bật và một cựu quan chức hàng đầu trong một tổ chức nghiên cứu của chính phủ, cho biết ông lo ngại về thời điểm của các vấn đề của đất nước, sắp tới cũng giống như nền kinh tế toàn cầu sa lầy do nợ nần và châu Âu vật lộn với các tình thế tiến thoái lưỡng nan tồn tại của euro.

“Vấn đề ở Việt Nam là một loại hỗn hợp rất độc hại từ cuộc khủng hoảng nợ châu Âu, tình trạng trì trệ trong nền kinh tế Mỹ cộng với một tình huống rất nghiêm trọng trong nền kinh tế trong nước”, ông Doanh nói. “Đó là một hỗn hợp rất nguy hiểm.”

Khu vực kinh tế tư nhân đang giúp giữ cho nền kinh tế chuyển động – Việt Nam là một nước xuất khẩu lớn quần áo và giày dép sang Hoa Kỳ, nhưng dòng tiền nước ngoài đã chậm lại. Cam kết của nhà đầu tư nước ngoài là $ 8 tỷ USD trong nửa đầu năm nay, một phần tư mức trong cùng thời kỳ ba năm trước đây.

Reuters
Nguyen Duc Kien, one of Vietnam’s wealthiest businessmen, is accused of illegal business activity.

Những hệ quả của các vấn đề khó khăn kinh tế của Việt Nam ảnh hưởng sâu rộng. Các khoản thu của chính quyền thành phố bị co hẹp lại trên khắp đất nước bởi vì các phí chuyển nhượng tài sản là một phần lớn thu nhập của họ. Theo ông Thuận, một quan chức cấp cao Thành phố Hồ Chí Minh thì tàu điện ngầm đầu tiên của thành phố Hồ Chí Minh được dự kiến ​​hoàn thành vào năm 2016 sẽ trì hoãn một năm sau so với kế hoạch,.Tại thành phố Trung phần Đà Nẵng, nơi đã phát triển mạnh trong thập kỷ qua, các quan chức đã buộc phải hủy bỏ dự án phát triển ở vùng ngoại ô của thành phố. Trần Văn Sơn, phó giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Đà Nẵng, cho biết ông “rất lo lắng” rằng thành phố sẽ phải thu gọn hơn nữa bởi vì thuế doanh thu tụt giảm nhiều hơn so với dự kiến.

Những người trẻ tuổi đang tìm kiếm các việc làm tốt hơn thì càng ngày càng thấy vượt tầm tay. Nguyễn Duy Hương, 21 tuổi, con trai của một nông dân trồng lúa ở vùng ngoại ô của thủ đô Hà Nội, đã dành phần đầu của năm nay tìm kiếm công việc trong các cửa hàng sửa chữa máy tính trong vô vọng.

Anh Hương nói “Mọi nơi tôi đến họ đều nói rằng họ chỉ cần các kỹ viên giỏi có kinh nghiệm. Họ không muốn người tập sự.”

Giống như nhiều người trẻ khác tại Việt Nam, anh Hương sống ở biên giới giữa công nghệ thông tin và nền kinh tế nông nghiệp. Anh đã làm việc bán thời gian tại một cửa hàng in ảnh, bằng cách sử dụng phần mềm để làm trắng khuôn mặt và loại bỏ nhược điểm, nhưng thu nhập chính của gia đình anh đến từ công việc chân tay do trồng và thu hoạch lúa gạo. Trong con đường tìm kiếm công việc toàn thời gian, gần đây anh bắt đầu tham gia các khóa học lập trình phần mềm của Reach, được tạo ra bởi một tổ chức phi lợi nhuận Plan International của nước Anh.

Những vấn đề phải đối mặt với những người trẻ tuổi không có gì gần tầm cỡ của cuộc khủng hoảng thất nghiệp Tây Ban Nha và Hy Lạp, nhưng việc tìm kiếm để có một công việc không còn tự động như một vài năm trước đây.

“Các công ty có nhiều sự lựa chọn”, bà Nguyễn Thị Vân Trang giúp điều hành các chương trình đào tạo nói. “Họ không phải nhận thanh niên, thiếu nữ chân ướt chân ráo ngoài đường”.

Chính phủ đã chiến đấu với những khó khăn của đất nước bằng các công cụ kinh tế vĩ mô cổ điển: thắt chặt cung tiền để thắt nghẹt lạm phát hai con số và sau đó cắt giảm lãi suất trong năm nay để tiếp sinh lực cho nền kinh tế.

Tuy nhiên, các ngân hàng vẫn rất thận trọng, một phần vì số lượng khách hàng không có khả năng trả lại khoản vay của họ ngày càng tăng. Việc cung cấp tín dụng trong nền kinh tế đang thu hẹp lại và tiêu thụ đứng yên, ví dụ như giới siêu thị đã thông báo giảm doanh số bán hàng từ 20 đến 30%.

Ông Doanh, nhà kinh tế, cho biết Việt Nam cần nhiều biện pháp hơn là chỉ tiêm tiền với lãi suất thấp hơn.

Ông Doanh nói các ụ đá khổng lồ nhà nước không hiệu quả như Vinashin, đã bành trướng loạn xạ đầu tư vào các doanh nghiệp mà họ chẳng đủ hiểu biết để hoạt động, cần phải được tháo dỡ, tư nhân hóa hoặc thu nhỏ lại.

“Bây giờ là thời điểm tốt để tiêu hủy sáng tạo”, ông nói, đề cập đến các khái niệm về thành lập công ty được thay thế bởi các đối thủ cạnh tranh sáng tạo hơn.

Tương tự như Hoa Kỳ, hồi sinh kinh tế Việt Nam lệ thuộc một phần vào sự phục hồi của thị trường bất động sản.

Theo ông Nguyễn Duy Lâm, Giám đốc Pacific Real, công ty xây dựng và bất động sản thì có quá nhiều thặng dư vượt quá nhu cầu diện tích văn phòng cho thuê tại thành phố Hồ Chí Minh. Ngay cả trong khu phố hấp dẫn nhất thì chỉ số thuê chỉ bằng một nửa mức của ba năm trước đây.

Ông Thuận, một quan chức Đảng Cộng sản, cho biết là “với hy vọng thu hút người mua nhiều hơn nước ngoài, các quan chức ở thành phố Hồ Chí Minh đã gửi một đề nghị chính thức với chính phủ trung ương để mở ra các thị trường bất động sản cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài”

Tuy vậy, các đại lý bất động sản như ông Lâm tường trình là thương trường vẫn đóng băng.

“Mọi người muốn bán, ngay cả khi họ hạ giá nhưng vẫn không bán được “, ông Lâm cho biết trong một cuộc phỏng vấn trên sân thượng của một khách sạn ở thành phố Hồ Chí Minh. “Không có khách hàng.”

Ông Lâm trông mong vào triển vọng dài hạn của thành phố. Nhưng qua lời ông nói, một hình ảnh tương phản của Việt Nam lại lộ ra. Cái bóng đậm của tòa nhà chọc trời làm dở dang hiện ra lờ mờ trên cao, nhưng một khu xây dựng gần đó đã đánh bật được xu hướng: Vào một buổi tối chủ nhật, một cần cẩu vung qua lại dưới ánh sáng bóng đèn pha cho công nhân xây lên một tòa nhà khác để vẽ nét vào đường chân trời của thành phố Hồ Chí Minh.

Source: New York Times, In Vietnam, Growing Fears of an Economic Meltdown

Liên-Hằng Nguyễn – Đập tan các huyền thoại về Việt Nam

In Chính trị (Politics), Lịch Sử, Liên Kết, Việt Nam on 2012/08/15 at 12:19

Liên-Hằng Nguyễn – DCVOnline lược dịch

Cuộc chiến tại Afghanistan tiếp tục kéo dài không thấy chiến thắng dứt khoát trong tầm tay, và  Mỹ bắt đầu rút quân, sự so sánh với chiến tranh Việt Nam lại một lần nữa bùng lên, 50 năm sau khi cả Washington và Hà Nội đã quyết định tăng cường lực lượng Nam Việt Nam. “Chỉ cần đọc thoáng qua danh sách từ ngữ chiến tranh Việt Nam,” Tom Engelhardt viết trong tạp chí Mother Jones,  “có ‘vũng lầy’” và “ý tưởng chiếm được ‘trái tim và lý trí’” cũng như “có thể ném bom được, có thể, hay trong thời đại của chúng ta hôm nay “cho máy bay không người lái”, “‘mật khu’ vùng biên giới” và có cả “phiên bản Mỹ Lai một người”. Mặc dù những tương tự này đặc biệt hấp dẫn các nhà bình luận – những người thấy cuộc chiến của Mỹ tại Afghanistan vô ích hơn chiến tranh Việt Nam và tánh thành một cuộc rút quân nhanh – họ vô cùng thiếu sót.

Một trong nhiều vấn đề của việc rút tỉa những bài học từ chiến tranh Việt Nam để áp dụng vào cuộc chiến tại Afghanistan là lịch sử của Chiến tranh Việt Nam thường bị hiểu lầm hoàn toàn. Lịch sử Chiến tranh liên tục khai triển cùng với sự xuất hiện của những bằng chứng mới, đặc biệt là những chứng từ mới từ phía bên kia [Việt Nam].

Vì ít chú ý để tìm hiểu động cơ thúc đẩy của địch, động lực nội bộ, và quan hệ đối ngoại, chúng ta [Hoa Kỳ] luôn luôn có một hình ảnh không đầy đủ và không chính xác về cuộc chiến tranh đó.

Nếu chúng ta muốn học hỏi từ quá khứ thì nên vén bức màn tre, từ  lâu đã che giấu những quyết định của Bắc Việt, để xóa tan một số huyền thoại đã hằn sâu về cuộc chiến  đó.

Người ta thường tin rằng Bắc Việt đã quyết định đi đến chiến tranh vào 1959-60 để cứu quân du kích miền nam khỏi bị xoá sổ và Đảng Cộng sản được người dân Việt Nam hết mình ủng hộ cho đến khi chiến tranh kết thúc vào năm 1975. Tuy nhiên, những bằng chứng gần đây cho thấy rằng quyết định đi đến chiến tranh tại miền Nam Việt Nam liên quan mật thiết đến các vấn đề ở Bắc Việt. Tạo ra chiến tranh cách mạng là một cách hiệu quả để đánh lạc hướng sự chú ý đến các vấn đề trong nước, gồm có một chiến dịch cải cách ruộng đất tàn tệ, một phong trào trí thức bất đồng chính kiến và một kế hoạch nhà nước không thành công trong việc cải tạo nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.

Một trong những nhận thức sai lầm lớn nhất về chiến tranh Việt Nam là Hồ Chí Minh là người lãnh đạo không tranh cãi của Bắc Việt. Trên thực tế, Hồ Chí Minh là một bù nhìn, trong khi Lê Duẩn, một người chỉ nằm trong ghi chú bên lề của lịch sử, chính là kiến trúc sư, chiến lược gia và là chỉ huy trưởng của nỗ lực chiến tranh của Bắc Việt. Một người trầm tĩnh, nghiêm khắc,  Lê Duẩn tránh sự chú ý, nhưng ông có ý chí sắt, tập trung và khả năng hành chính cần thiết để thống trị Đảng Cộng sản [Việt Nam].

Bí thư thứ nhất, Lê Duẩn, bên trái của Hồ Chí Minh trong một cuộc họp tại Hà Nội năm 1966. (Nguồn ảnh: Nihon Denpa News/Associated Press)

Cùng với cánh tay phải, Lê Đức Thọ, người sau này đối đầu với Henry A. Kissinger trong các cuộc đàm phán hòa bình tại Paris, ông Duẩn xây dựng một đế chế quân phiệt vững mạnh mà đến nay vẫn bao trùm Hà Nội. Chính sách hiếu chiến của họ đã đưa Bắc Việt vào cuộc chiến chống lại Sài Gòn và sau đó là Washington, và cũng để bảo đảm một nền hòa bình qua đàm phán sẽ không bao giờ thay thế được một thắng lợi hoàn toàn.

Lê Duẩn cai trị với  bàn tay sắt và xem Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nổi tiếng vì đánh bại Pháp ở Điện Biên Phủ, là mối đe dọa lớn nhất đối với quyền lực của mình. Ông Duẩn đã cho ông Hồ, Tướng Giáp và nhóm đàn em ra rìa và gần như nắm hết những quyết định quan trọng.

Năm 1963-4, Lê Duẩn hăm dọa khiến Hồ Chí Minh phải nín thinh khi người lãnh tụ già chống lại quyết định [của Lê Duẩn] nhằm leo thang chiến tranh và đi đến toàn thắng trước khi quân đội Mỹ có thể can thiệp. Và năm 1967-8, có một cuộc thanh trừng quy mô [Vụ án Xét lại Chống Đảng] tại Hà Nội khi Hồ Chí Minh, Tướng Giáp và các đồng minh của họ phản đối kế hoạch Tổng tấn công Tết Mậu Thân của Lê Duẩn. Mặc dù cuộc chiến tại miền Nam ban đầu đã tập hợp được người miền Bắc ủng hộ Đảng CSVN, nó đã nhanh chóng trở thành một vũng lầy. Lê Duẩn và Lê Đức Thọ phản ứng bằng cách tạo ra một nhà nước thành lũy [dựa vào sức mạnh của bạo lực], dán nhãn cho tất cả mọi đối kháng lại chính sách chiến tranh của họ là phản quốc. Bằng cách gia tăng quyền hạn của lực lượng nội an và công an tư tưởng và làm quân du kích miền Nam khuất phục Hà Nội, họ đã có thể tiến hành chiến tranh toàn diện theo quyết định của họ cho đến năm 1975.

Sự kình địch giữa Trung Quốc và Liên Xô cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định quá trình cuộc chiến Việt Nam. Chủ nghĩa cực đoan đang lên của Trung Quốc và sự thiếu cam kết với những cuộc cách mạng tại thế giới thứ ba của Liên Xô khiến Lê Duẩn nghiêng về phía Trung Quốc và đẩy mạnh chiến tranh quy mô ở miền Nam vào đầu những năm 1960. Khi sự tham gia của Mỹ đã tăng lên vào năm 1965, Liên Xô đổ viện trợ vào Bắc Việt. Đến năm 1968, sự cạnh tranh ảnh hưởng với Hà Nội giữa Bắc Kinh và Moscow đã trở nên căng thẳng.

Lê Duẩn đã tìm cách khẳng định quyền tự chủ Việt Nam bằng cách tung ra hai cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968 và Mùa Hè đỏ lửa [Chiến dịch Xuân-Hè] năm 1972. Cả hai cuộc tấn công này đều không được Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa chấp thuận. Năm 1972, chuyến viếng thăm Trung Quốc và Liên Xô của Richard M. Nixon đã đánh dấu đỉnh cao của nỗ lực ngăn cản chiến tranh của Trung-Xô với Bắc Việt. Cả hai đồng minh Trung, Xô gây áp lực với Hà Nội đòi chấm dứt chiến tranh theo các điều khoản của Nixon để tranh dành ân sủng của Washington. Thay vì chờ sự “phản bội của nước lớn”, Lê Duẩn và các đồng chí đã phát động cuộc Tổng tấn công Xuân-Hè 1972, với mục đích lật đổ chính phủ Sài Gòn và đánh một đòn quan trọng vào tình hình bớt căng của Mỹ với Liên Xô và Trung Quốc.

Cuối cùng, Mỹ tự đánh bại mình trong chiến tranh Việt Nam là một huyền thoại. Trên thực tế, Việt Nam đã không là con rối hoặc người thụ động trong cuộc chiến của họ; họ đã xắp xếp hành động của Mỹ ở Việt Nam cũng như trật tự chiến tranh lạnh trên thế giới. Chính quyết định đi đến chiến thắng của Lê Duẩn trong năm 1964 đã thúc đẩy Mỹ dứt khoát can thiệp. Và các đồng minh ở Sài Gòn đã trì hoãn việc Mỹ rút quân khỏi Việt Nam.

Họ gan lỳ theo đuổi lợi ích riêng của họ, ngay cả khi việc này gây bất lợi cho liên minh Washington-Saigon. Làm Mỹ phải rút quân chậm lại vào năm 1969 và phá vỡ các cuộc hòa đàm giữa Kissinger và Lê Đức Thọ trong những năm 1972-3, giới lãnh đạo miền Nam đã làm việc Mỹ rút lui khỏi khu vực Đông Nam Á phức tạp hơn nhiều. Mặc dù Washington có lý do riêng của nội bộ và về mặt địa chiến lược để can thiệp và ở lại Việt Nam, giới lãnh đạo tại Hà Nội và Sài Gòn đã quyết định tính chất và tốc độ can thiệp của Mỹ.

Chiến đấu trong cuộc chiến cuối cùng luôn luôn là một mối nguy hiểm. Nó lại trở thành vấn đề lớn hơn khi những sự tương tự lịch sử dẫn lối cho các chính sách hiện nay lại dựa trên sự hiểu biết không đầy đủ và sai sót về những thất bại trong quá khứ của Mỹ. Bằng chứng lịch sử mới đã sửa lại sự hiểu biết của chúng ta về chiến tranh Việt Nam và làm cho tất cả mọi đánh đồng trực tiếp không đứng vững, ít nhất chúng ta có thể rút ra một bài học: chúng ta cần khắt khe trong phân tích về nỗ lực chiến tranh của địch.

Lãnh đạo Taliban có  những quan điểm xung đột về các cuộc đàm phán hòa bình, triển vọng hòa giải với chính phủ Afghanistan, và hướng đi của phong trào. Với Mullah Muhammad Omar chỉ như là lãnh đạo tinh thần của Taliban, cơ hội đã xuất hiện cho một phe dám làm với một chỉ huy kiên định – như là trường hợp của Lê Duẩn – để thống nhất hay thống trị các phe nhóm tại Afghanistan. Nhóm lãnh đạo mới này chắc chắn sẽ là người chủ chiến, và đặc biệt nếu Mỹ có một thỏa thuận không phổ biến với các quan chức Taliban ở Pakistan.

Và ngay cả khi thương vong gia tăng cuối cùng có thể khiến phe chủ chiến ủng hộ hòa bình, chính sách của Lầu Năm Góc xếp loại tất cả đàn ông thanh niên trong vùng lân cận với các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái là binh sĩ có thể làm suy yếu khuynh hướng ủng hộ hòa bình, cũng giống như cách Mỹ đã ném bom tới tấp vào các “vùng oanh kích tự do” và “khu oanh tạc có quy định” trong chiến tranh Việt Nam đã đẩy biết bao người dân bực tức gia nhập hàng ngũ Cộng sản.

Hiểu rõ vai trò của các nhân tố trong khu vực là điều rất quan trọng với Hoa Kỳ – thí dụ như các dịch vụ an ninh của Pakistan – có ảnh hưởng đến chính trị nội bộ của Taliban. Trong khi sự cạnh tranh giữa Trung Quốc-Liên Xô cho phép Hà Nội duy trì quyền tự chủ cùng lúc nhận được viện trợ tối đa từ cả hai nước, các cuộc nổi dậy tại Afghanistan không được lợi thế như vậy, đặc biệt vì ảnh hưởng của nước láng giềng, Iran, rất hạn chế. Do đó, Mỹ có vị thế thuận lợi hơn ở Afghanistan so với vị trí đã có tại Việt Nam.

Cuối cùng, Hoa Kỳ dự định hoàn tất cuộc rút quân vào năm 2014, nhưng như lịch sử cho thấy, đồng minh có thể không luôn luôn thực hiện theo mong muốn của chúng ta. Có thể là chính phủ Hamid Karzai hoặc chính quyền kế nhiệm sẽ định tốc độ của việc rút quân của Mỹ khỏi Afghanistan. Vì như chúng ta đã thấy tại Việt Nam, chúng ta không thể giả định rằng chúng ta có thể một mình quyết định được hành động của mình.

© DCVOnline

Nguồn: Exploding the Myths About Vietnam. By LIEN-HANG NGUYEN, The New York Times. August 11, 2012.

Bài liên hệ: Có nhiều điều đáng giá trong quyển “Cuộc chiến của Hà Nội”

Liên-Hằng Nguyễn là Phó Giáo sư lịch sử  tại Đại học Kentucky và là tác giả cuốn Chiến tranh của Hà Nội: Một lịch sử quốc tế của cuộc chiến tranh vì hòa bình tại Việt Nam. (“Hanoi’s War: An International History of the War for Peace in Vietnam”)

Hanwonders – Người việt nam hèn hạ

In Cộng Đồng, Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2012/08/01 at 12:28

Bài viết này sẽ không có một chữ việt nam nào được viết hoa.

Bởi chúng ta có xứng đáng được trân trọng như vậy không? Không hề.

Cách đây đã lâu, tôi đọc “người trung quốc xấu xí” của ông Bá Dương (Đài Loan), chưa bàn tới hay/ dở/ đúng/ sai của nội dung cuốn sách gây tranh cãi ầm ĩ đó, tôi chỉ nhớ lại cảm giác giật mình của tôi khi đó. Khi tôi đọc lướt qua vài trang sách. Tôi như vỡ ra một niềm cảm khái mà từ lâu nó cứ âm ỉ trong lòng. Tôi biết thế giới đã từng có những cuốn “Người Mỹ xấu xí”, “Người Nhật Bản xấu xí”, rồi mới đến cuốn của ông Bá Dương. Tôi vừa đọc, vừa tự hỏi, tại sao người việt nam chúng ta không có một cuốn như thế này? Tại sao chúng ta cứ tự ru ngủ mình trong cái điệp khúc dân tộc việt nam là “cần cù, nhân hậu, thông minh, kiên cường, bất khuất, đoàn kết thương yêu nhau,…” & nhìn đâu cũng thấy anh hùng, liệt sĩ… Nếu thực sự chúng ta có những tố chất đó, nếu thực sự chúng ta là những người như thế, sao kết quả chúng ta hiện nay lại là một đất nước như thế này?

Một đất nước mà hơn phân nửa các cô cậu tú tài đi thi cử nhân khoe rằng mình có quay cóp một cách hoàn toàn không có chút tự trọng (đó là được hỏi, còn báo chí không cần hỏi vẫn có những hình ảnh phao thi trắng cả trường thi! Vậy thì thi cái gì? Thi xem ai quay cóp giỏi hơn chăng?). Trong đó còn có cả những đứa trẻ bảo rằng năm nay không thi thì năm sau thi, chứ làm bài mà phỉ báng “thần tượng Su-Ju” của nó là nó không thi! Mặc cho bao nhiêu tâm sức, kỳ vọng của gia đình, nhà trường, xã hội – những nền tảng đã cho nó có được cuộc sống và kiến thức để mà tiếp cận được với Su-Ju danh giá của nó. Thế mà nó vẫn được rất nhiều đứa trẻ khác tung hô! Chính là những đứa trẻ sẵn lòng khóc lóc, quỳ gối, hôn ghế… trước thần tượng. Một dân tộc gì đã sản sinh và nuôi dạy ra một thế hệ kế thừa như thế?

Con nít nó học cha anh mà ra, chúng ta đã nuôi dạy trẻ con thành ra như thế sao? Đừng ai đổ thừa cho ai. Vì trường học đổ cho cha mẹ, cha mẹ đổ cho xã hội, xã hội đổ cho cha mẹ & nhà trường. Tóm lại, đừng đổ nữa. Hãy biết hốt về mình đi! Tất cả chúng ta là người lớn, chúng ta đều có lỗi.

Bởi người lớn có hơn gì? Một xã hội mà người ta đang sẵn lòng thuốc chết nhau đi từng ngày bởi tiền bạc bất kể lương tri. Làm quan thì chỉ lo vơ vét, tham nhũng, quỳ gối trước ngoại bang để duy trì sự thống trị trước nhân dân. Gần 40 năm thống nhất, việt nam có hơn gì thời chiến ngoài đống xe máy chạy đầy đường & trong túi ai cũng có một cái điện thoại di động? Dù nhà ở không có, đất đai không có, bảo hiểm không có, tương lai cho con cái không có,… nhưng bia rượu chảy tràn lan mỗi ngày trong quán nhậu. Người ta được ru giấc suốt 40 năm bằng niềm ước mơ cháy bỏng “cơm no, áo ấm”. Hạnh phúc chỉ thế thôi! Muốn hạnh phúc hơn thì hãy làm giàu, làm giàu, làm giàu! “Doanh nhân là chiến sĩ thời bình”. Cứt! Tôi ỉa vào cái khẩu hiệu sặc mùi con buôn, đầy phân chợ trời đó! Tiếng súng không còn nổ ngoài đường. Một cuộc chiến khác đậm chất mafia, côn đồ, đảo Sicily chắc còn phải chào thua nhà cầm quyền việt nam trước khả năng dùng “luật im lặng” của họ với dân mình. Cuộc chiến đó là rình mò, là theo dõi, là cấm cản, là kiểm duyệt, là vu cáo, là bắt bớ, là dùi cui, là tù đày, là chết không lý do, là bị bịt miệng tại tòa, là con cháu theo lời lãnh đạo cầm gậy gộc ra ngoài đồng ức hiếp ông bà cha mẹ chòm xóm của mình vì họ đang giữ đất. Trong khi họ giữ đất cho ai? Những đứa thanh niên đó nó đang nghĩ gì khi quay lưng lại với dân tộc mình? Đơn giản thôi. Nó tin rằng nếu trung thành với cái thể chế mà nó đang phục vụ, thể chế đó sẽ cho nó công việc ổn định, đặc quyền, đặc lợi hơn người. Vậy là nó nhắm mắt làm theo, coi nhân dân là cỏ rác, cũng vì lợi ích cá nhân & gia đình nó – nếu nó có nghĩ tới. Chứ ngoài ra, liệu còn cái lý tưởng cao đẹp nào có thể tin vào lúc này? Đừng nói với tôi là “lý tưởng Hồ Chí Minh” hay “lý tưởng cộng sản” nhé! Hỏi những đứa mặc áo xanh cán bộ Đoàn thử xem, nó nói có trôi chảy không? Tôi đã thử rồi, rốt cuộc là ngồi im nghe tôi nói huyên thuyên toàn những điều mà trường học gọi là “phản động”.

Cuộc chiến này được khoác lên chiếc áo bảo vệ hòa bình, tự do, hạnh phúc. Còn bên trong là để bảo vệ quyền lợi, quyền lực cho một nhóm người gắn kết với nhau bằng những chiếc răng cùng gặm vào xương máu người nghèo, người thất học, người bán buôn lương thiện hàng ngày. Những người mỗi ngày chỉ biết tạ ơn trời phật đã cho chúng con một ngày yên ổn làm ăn, không bị cán bộ thuế đến nhũng nhiễu, không bị CSGT thổi phạt kiếm ăn, không bị đội dân phòng rượt đuổi, không bị ông chủ đẩy vào toa-lét để sờ soạng, không bị cắt tiền tăng ca, không bị cho ăn cơm thiu ngộ độc, không bị bệnh đột ngột phải vào bệnh viện nằm gầm giường chờ chết,..

Thế là cái dân tộc đầy sợ sệt, bất an đó cuống cuồng kiếm tiền, cuống cuồng vơ chỗ này, cấu chỗ kia để lo cho cái thân mình. Họ còn biết làm gì nữa?

Và khi họ chăm chắm vào tiền và sự yên ổn cho mình, họ để mặc cho một bọn ác khác lên ngôi, bọn này là sản phẩm của công thức: Bên trên, chúng nhìn thấy cách hành xử của một chính quyền côn đồ, có tiền là ra luật + Bên cạnh, chúng nhìn thấy những con người thờ ơ với người khác, chỉ còn biết nghĩ tới mình + Bên dưới, chúng nhận ra một đám người khổ sở, sợ sệt, yếu ớt = Chúng chợt nhận ra chúng có khả năng luồn cúi bên trên, tránh né bên cạnh & ức hiếp bên dưới.

Sao mà tôi sợ bọn người đó như thế?!

Bọn đó tập trung vào các cơ quan công quyền, làm quản lý, làm công an, làm công chức,… làm “đầy tớ” của nhân dân!

Bọn công bộc đó đã cùng nhau đẩy những cụ già bỏ quê bỏ xứ, lên Sài gòn ngồi vạ vật dầm mưa dãi nắng suốt ngày đêm, ngày này qua tháng nọ để kêu oan.

Bọn công bộc đó đã đẩy 2 mẹ con người phụ nữ nọ phải dùng đến cách phản kháng cuối cùng mà họ có là khỏa thân ở giữa đường để đòi lại công bằng. Vì trong tay họ còn có gì để chống lại chúng ngoài phẩm cách của người đàn bà vốn được coi là thiêng liêng? Họ dùng đến cách đó, và cuối cùng bị chúng lôi kéo dọc đường và nỗi oan của họ có ai thèm đoái tới?

Bọn công bộc đó đã đẩy đến đỉnh điểm hôm nay, một người mẹ uất ức tự thiêu trước cổng 1 cơ quan công quyền vì không còn sức để chịu đựng chúng…

Tôi sợ bọn chúng vì bọn chúng đông quá, đông như kiến cỏ. Chúng nhan nhản khắp nơi, ngày ngày bóp chết mọi ước mơ, triệt tiêu mọi khao khát, thêm sự dốt nát của chúng vào nữa là hoàn hảo để tạo ra một nền kinh tế xã hội thụt lùi đến chóng mặt, quay cuồng trong dối trá và danh lợi. Đáng sợ hơn, cuộc sống ấm êm no đủ của chúng nhờ vào tính cơ hội – thu vén lại là sự thèm khát của những tầng lớp khác. Khiến cho những con thiêu thân non trẻ khác lao vào như một cơ hội ngàn vàng.

Bọn này tiếp tay cho bọn con buôn cũng lưu manh không kém. Thế là chúng ta ăn thức ăn có độc mỗi ngày, con cháu chúng ta uống sữa độc mỗi ngày, chúng ta đi trên những con đường hiểm họa mỗi ngày, chúng ta tiêu dùng những gì chúng mang tới, chúng ban phát, với giá mà chúng ấn định, với mức thuế mà chúng muốn,… không còn một lựa chọn nào khác. Không biết làm gì khác, không có phản ứng gì khác! Vì chúng ta lương thiện.

Kẻ không lương thiện có những phản ứng tàn độc hơn, hoặc biến hẳn sang một trạng thái sống khác, như một sự kết tinh cao cấp hơn của một xã hội đương nhiên sẽ sản sinh ra nó.

Tôi nghĩ đến bọn này khi tôi đọc tin về tên bác sĩ lợi dụng lúc mẹ của bệnh nhi đi lấy giấy xét nghiệm, hắn hãm hiếp đứa bé mới 3 tuổi.

Tôi đọc tin ông bà chủ đánh trẻ làm công đến thương tật.

Tôi đọc tin một gã thanh niên có học chặt chém bạn gái mình thành từng khúc chỉ vì một chiếc xe máy và chút ít tài sản.

Tôi đọc tin bọn chủ & lơ xe vứt xác hành khách bị lèn chết giữa đường mà cả xe không ai phản ứng.

Tôi đọc tin nữ sinh phải ngủ với thầy giáo để được điểm tốt.

Tôi đọc tin người đi đường bị cướp, may mắn giật lại được túi tiền, nhưng túi rách, tiền bay ra, xung quanh thiên hạ xúm lại nhặt, nhưng không phải nhặt giúp, mà nhặt hết đi không chừa lại đồng nào. Thay vì bị 1 đứa cướp, anh ta bị cả con đường đè ra mà cướp!

… còn rất nhiều tin.

Một dân tộc gì mà độc ác và hèn hạ thế?

Dĩ nhiên không chỉ có mình tôi biết đau đớn vì những điều đó.

Chúng ta có cả một thứ to tát mà tôi tạm gọi là “nền văn chương than khóc”.

Trong những tác phẩm thi ca xuất bản từ khoảng 20 năm trở lại đây, tôi không dám nói mình đọc nhiều hay nghe nhiều, nhưng tôi cố gắng đọc, nghe, cố gắng tìm tòi, cố gắng tìm kiếm một tác phẩm nó xứng đáng làm cho tôi thấy dân tộc việt nam của tôi thực sự là “cần cù, nhân hậu, thông minh, kiên cường, bất khuất, đoàn kết thương yêu nhau,…” một cách đúng nghĩa. Vì hãy quên những hình tượng cách mạng cao đẹp trong văn chương hay cả âm nhạc của miền Bắc thời chiến tranh đi! Đó không phải là văn chương, nó là thuốc pháo, tìm cách dẫn dắt, thôi thúc người ta chém giết & chết. Không hơn không kém.

Các bạn có tìm kiếm giống tôi không? Và các bạn có tìm thấy không? Hay đầy rẫy xung quanh chúng ta chỉ có 3 loại:

– Loại mờ nhạt, rẻ tiền, xúc cảm vu vơ, vụn vặt, vô thưởng vô phạt.

– Loại có trăn trở, có suy tư, nhưng toàn đau đáu những nồi niềm xưa cũ, tương lai chả biết phải vứt đi đâu và vứt cho ai?

– Loại mạnh mẽ hơn, trực diện hơn, nhưng tầm vóc tác phẩm chỉ ở mức gẩy lên 1 tiếng đàn, rồi thôi!

Tinh thần chúng ta đang được nuôi dưỡng bằng những thứ chỉ đến mức đó thôi.

Còn những thứ hổ lốn lai căng phát trên TV, bán ngoài sạp báo mỗi ngày, tôi không dám kể tới, vì đó là nỗi kinh hoàng mà nếu phân tích thêm, chỉ muốn vứt cái đầu mình đi, không cần suy nghĩ nữa làm gì cho mệt óc.

Vậy cái gì đã gây nên nông nỗi?

Tôi không muốn tạo ra sự hiểu lầm là cái gì cũng do lỗi cộng sản.

Nhiều người rất cực đoan, nói ra cái gì sai, họ cũng đổ vấy hết cho cộng sản.

Nhưng cộng sản tệ đến thế mà cai trị được chúng ta đến ngày giờ này, thì chúng ta cũng tệ không kém!

Nghe nói cụ Tản Đà có câu:

Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn!

Cho nên quân ấy mới làm quan.

Những gì độc ác, bẩn thỉu của cộng sản, những người khác đã nói đầy cả ra rồi, tôi nghĩ mình cũng không cần nhắc lại.

Tôi chỉ nghĩ đến một điều, cái gì đã làm cộng sản tồn tại lâu như thế?

Ngoài sự cấu kết quyền lực – quyền lợi để cùng bảo vệ lẫn nhau, cộng sản đã làm gì để chúng ta thành ra một dân tộc việt nam hèn hạ tự trên xuống dưới, từ già tới trẻ như ngày hôm nay? Ngoài sự mafia, côn đồ, trấn áp bằng sợ hãi, giáo dục một cách ngu dân ra, chúng còn làm gì nữa?

Ai từng học luật đều biết, khi quy phạm pháp luật không điều chỉnh được, thì hành vi con người sẽ phải điều chỉnh bởi quy phạm đạo đức. Pháp luật không theo con người lên giường, vào toa-lét, xuống bếp. Nhưng đạo đức theo ta khắp nơi, tận trong ngõ ngách tâm hồn. Pháp luật cũng không ép tạo ra đạo đức. Chính sự vô thần vô thánh, không thừa nhận đức tin mà cộng sản triệt để nhồi nhét từ khi họ nắm được dân tộc này đã hun đúc ra những con người sẵn sàng bán thịt thối cho người ta ăn, đút sữa độc vào miệng con nít, chém mẹ ruột, giết con đẻ,…
Vì những người này họ không sợ, hoặc họ tin rằng họ sẽ tránh được sự trừng trị của pháp luật. Khi pháp luật không trị được mà người ta không sợ luân hồi, không sợ quả báo, không sợ bị đày xuống địa ngục,… thì họ còn sợ gì nữa? Việc gì mà họ không dám làm?

Còn những kẻ yếu không có niềm tin là có Phật, có Chúa, có Thánh Allah luôn soi sáng mình, giúp đỡ mình, ngự trị trong mình, thì họ còn biết dựa vào đâu để tìm lại niềm lạc quan mà sống? Mà tranh đấu để tự tìm lấy giá trị sống thiêng liêng mà đấng tạo hóa đã ban cho mỗi chúng ta?

Tôi có cảm giác như mình đang sống giữa một bầy đàn hỗn loạn nhưng hoang vu, hỗn loạn về vật chất – nhưng hoang vu về tinh thần. Bạn có thấy như thế không?

Giữa sự hỗn loạn và hoang vu ấy, cái ác sẽ luôn luôn ngự trị, kẻ có sức mạnh sẽ luôn trấn áp chúng ta. Chúng ta – những kẻ được đến trường nhưng thật ra thất học, những kẻ nghĩ mình lương thiện nhưng thật ra không có lương tri, những kẻ đủ ăn mặc nhưng thật sự chưa hề nếm mùi vị hạnh phúc, những kẻ đọc sách – nghe nhạc mỗi ngày nhưng không biết đó chẳng phải là nghệ thuật đích thực – một nền nghệ thuật có thể soi sáng tâm hồn ta chứ không phải ru ta ngủ trong quên lãng. Những kẻ hoang mang không biết tin ai, không hiểu nên làm gì cho đúng.

Lúc đó, lúc hỗn loạn và hoang vu đó, anh cộng sản xuất hiện và nói: Đời chúng mày chỉ cần độc lập – tự do – hạnh phúc.

Chúng ta tưởng thế là hay ho lắm! Dù nền độc lập này có mang lại tự do không? Có hạnh phúc không? Hay chúng ta đang cúi đầu nô dịch cho ai đây? Chúng ta thực chất đang sống thế nào đây? Và đang để lại cho con cháu chúng ta di sản gì?

Chúng ta đeo bám theo họ, quên cả chính bản thân mình, một con người, cần phải sống sao cho đúng nghĩa, đúng phẩm cách, hành động đúng theo những gì mà một con người có lương tri cần phải hành động.

Bạn có đang tự hào vì mình là người việt nam không? Hỡi những con người ấu trĩ mang trong mình một đinh ninh sắt đá là tôi rất tự hào vì tôi là người việt nam “cần cù, nhân hậu, thông minh, kiên cường, bất khuất, đoàn kết thương yêu nhau,…” đã từng đấu tranh thắng Mỹ, các bạn không thấy điều đó nó hết thời rồi à? Ta thắng Mỹ để có một xã hội phồn vinh, một dân tộc được tôn trọng. Chứ còn thắng Tàu, thắng Pháp, thắng Mỹ, thắng khắp nơi… Mà ngày nay những kẻ ta từng thắng đó, nó coi chúng ta còn không hơn con chó thì cái chiến thắng đó nhắc tới làm chi cho thêm nhục?

Mặt phải, chúng ta ra rả trên báo mỗi ngày là “Mỹ đã đến biển Đông”, “bà Hillary dọa TQ không nên gây hấn”,.. để mong lòng dân yên ổn. Mặt trái, chúng ta tổ chức ngày hội gặp gỡ những lớp cán bộ đã từng được Tàu đào tạo để cám ơn họ đã “dạy dỗ” cả đám chóp bu việt nam. “Đĩ” chưa từng thấy! Chưa có cái chính quyền nào mà “đĩ” như chính quyền việt nam hiện tại. Dựa hơi mà cũng không biết dựa hẳn bên nào cho trót. Lá mặt lá trái như thế bảo sao quốc tế nó không khinh?

Còn dân việt nam thì sao? Dám cầm súng đánh TQ hay đánh bất cứ thằng nào xâm lược việt nam nữa không? Mà cầm súng để làm gì? Kết quả của gần 40 năm độc lập, ai cũng thấy cả rồi, không cần nói nữa.

Và cả bọn hèn hạ chúng ta đang ôm lấy nhau, hồi hộp chờ đợi hồi chuông báo tử.

Hanwonders

http://bit.ly/R76wO2

Vũ Đông Hà – Đứa nào là tổ sư lợi dụng lòng yêu nước?

In Chính trị (Politics), Lịch Sử, Liên Kết, Việt Nam on 2012/07/28 at 15:57

 

Đứa nào thay tên đổi họ, che tông họ Cộng, dấu tích loài Sản, rao hàng Việt minh, lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân để “cướp chính quyền”?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để cướp xong là độc lập thành độc quyền cai trị đất nước?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để lập nên điều 4 và sau đó có đứa tuyên bố bỏ đi là tự sát?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để gào lên “Thương cha, thương mẹ, thương chồng / Thương mình thương một, thương Ông thương mười / Yêu con yêu nước yêu nòi / Yêu bao nhiêu lại yêu Người bấy nhiêu!; để oe oe Tiếng đầu lòng con gọi Stalin?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để thiết tha tha thiết “Bên kia biên giới là nhà/ Bên nầy biên giới cũng là Quê hương”?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để sẵn sàng đốt cháy Trường Sơn, xua hàng triệu thanh niên Việt Nam vào cuộc chiến huynh đệ tương tàn, sinh Bắc tử Nam?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để nướng hàng nghìn thanh niên Việt Nam trên núi rừng Tây Nam?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để gửi thanh niên ra chiến trường Việt Bắc và sau đó làm đẹp lòng quân xâm lược – nay đã trở thành đồng chí 4 tốt 16 vàng – xóa bia đục mộ những người con nước Việt hy sinh vì tổ quốc?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để cắt đất, chia rừng, bỏ biển, bỏ đảo cho những con cắc kè đồng chí-xâm lược-đồng chí đã từng huênh hoang “dạy cho VN một bài học”?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để Ải Nam Quan, nửa Thác Bản Giốc và một phần lãnh thổ biên giới Việt Trung bị xóa tên trên bản đồ Tổ quốc?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để ký công hàm dâng đảo, để ngày hôm nay Hoàng Sa – Trường Sa được các đồng chí “bên kia biên giới là nhà” chính thức trương bảng Tam Sa?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để treo đèn lồng phương bắc, gắn thêm sao trên cờ đỏ 4 cánh, rình rập âm mưu đem tiếng nước “lạ” dạy cho học trò con nít dân ta?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để tống giam thiếu nữ biểu tình tại nhà – đả đảo quân xâm lược?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để đạp mặt chính “đồng chí” của mình xuống đường phản đối bọn xâm lăng?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để bắt người phụ nữ lên tiếng bảo vệ biển đảo vào trại phục hồi nhân phẩm?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để bán rẽ tài nguyên tổ quốc?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để vẽ vời các đề án phát triển đất nước nhằm rút ruột công trình?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để ăn cắp tiền bá tánh ODA?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để vay tiền mượn vốn và làm giàu trên núi nợ của quốc gia?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để đổ lên đầu nhân dân Vinashin, Vinalines, trái bom bùn đỏ bô xít trên nóc nhà Tây Nguyên?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để ra đi từ vô sản trở về là tài phiệt, tư bản đỏ?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để bám ghế giữ quyền trong khi tự thú nhận cả đám là một bầy sâu – sâu nhỏ, sâu lớn; cả lũ từ trên xuống dưới càng chỉnh càng đốn?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để phán rằng đóng phí là yêu nước?

Đứa nào lợi dụng lòng yêu nước để phán rằng vệ sinh là yêu nước?

Đứa nào…

Đứa đó, chính nó là tổ sư lợi dụng lòng yêu nước. 

Đứa đó:

không có yêu nước mà chỉ có lợi dụng lòng yêu nước. 

   đó là nghề và độc quyền của tổ sư. 

 “thằng” nào khác yêu nước là “thằng” đó láo! 

   “Con” nào khác yêu nước, “con” đó là đồ phản động!

Nguồn: Danlambao