vietsoul21

Archive for the ‘Chính trị (Politics)’ Category

Nhập nhằng sinh hoạt cộng đồng Việt TB WA (2)

In Cộng Đồng, Chính trị (Politics), LittleSaigon - Seattle on 2009/07/19 at 15:03

Thị trưởng Seattle tiếp xúc với Cộng Đồng người Á Châu

Mỗi kỳ bầu cử (2, 4, 6 năm một lần) ở tầm địa phương hay toàn quốc thì các ứng cử viên lại xuất hiện như nấm trắng sau cơn mưa. Ngoài các tấm bảng/áp phích cắm/dán đầy mọi nơi và những phút quảng cáo rầm rộ trên truyền hình và truyền thanh chúng ta cũng lại thấy ứng cử viên xuất hiện trong công chúng.

So với các thị trưởng tiền nhiệm, Nickels khét tiếng là người áp dụng chính sách top-down approach--không hề biết lắng nghe và bảo vệ quyền công dân của cư dân trong thành phố, nhất là người nghèo và thiểu số. Bài bình luận trên báo SeattleWeekly cho rằng Nickels là tay trong/tay ngoài của các nhóm đầu tư địa ốc kết sù ở tiểu bang và toàn quốc để trục lợi. Thử hỏi tại sao lương hướng của ông ta chỉ cỡ trên một trăm ngàn nhưng phải bỏ ra hàng triệu bạc để được tái đắc cử?

So với các thị trưởng tiền nhiệm, Nickels khét tiếng là người áp dụng chính sách top-down approach–không hề biết lắng nghe và bảo vệ quyền công dân của cư dân trong thành phố, nhất là người nghèo và thiểu số. Bài bình luận trên báo SeattleWeekly cho rằng Nickels là tay trong/tay ngoài của các nhóm đầu tư địa ốc kết sù ở tiểu bang và toàn quốc để trục lợi. Thử hỏi tại sao lương hướng của ông ta chỉ cỡ trên một trăm ngàn nhưng phải bỏ ra hàng triệu bạc để được tái đắc cử?

Ứng cử viên tranh cử có những người đã từng tranh cử trước nhưng chưa thành công và cũng có những người mới bắt đầu ra chính trường. Những người này cật lực đem tên tuổi và thành tích để làm bảng đo cho công chúng lựa chọn. Với sự thờ ơ của công chúng thì họ khó được nhớ đến để được bầu. Riêng các vị tại chức tái tranh cử thì có một lợi thế vô cùng lớn, đó là tên tuổi của họ được nhắc đi nhắc lại nhiều trong suốt những năm tại chức. Thế nhưng họ làm được việc gì, cho ai thì lại là một điều cần đem ra để cân nhắc có xứng đáng để được tái đắc cử hay không.

Ông Greg Nickels, “ngài”[i] thị trưởng thành phố Seattle vừa có cuộc gặp gỡ đặc biệt “dành riêng” cho người Mỹ gốc Á Châu địa phương vào ngày 25 tháng 6 năm 2009. Mục đích cuộc gặp gỡ này là “lắng nghe ý kiến, đệ đạt của các đại diện các cộng đồng sắc tộc này, hầu tạo cơ hội giải quyết, giúp đỡ thông qua việc ban hành các nghị quyết hoặc đưa vào lịch trình hoạt động trong các kế hoạch tương lai của thành phố [ii].

Denny Điệp Đặng bắt tay Thị Trưởng. Denny đã từng làm việc cố vấn cho tổ chức thân cộng PeaceTrees VietNam lại tự xưng làm người đại diện cho cộng đồng Việt TP Seattle!? Người đàn ông trong hình đang ngồi là Gary Johnson, cùng đồng giữ chức Giám đốc của Greater Seattle VN Association với Sơn Michael Phạm--nhân vật đã từng bị đồng hương biểu tình tại Seattle để phản đối cơ quan này quan hệ mật thiết với CSVN. Gary Johnson làm việc cho Thành Phố Seattle thuộc Phòng Kế Hoạch và Phát Triển đô thị.

Denny Điệp Đặng bắt tay Thị Trưởng. Denny đã từng làm việc cố vấn cho tổ chức thân cộng PeaceTrees VietNam lại tự xưng làm người đại diện cho cộng đồng Việt TP Seattle!? Người đàn ông trong hình đang ngồi là Gary Johnson, cùng đồng giữ chức Giám đốc của Greater Seattle VN Association với Sơn Michael Phạm–nhân vật đã từng bị đồng hương biểu tình tại Seattle để phản đối cơ quan này quan hệ mật thiết với CSVN. Gary Johnson làm việc cho Thành Phố Seattle thuộc Phòng Kế Hoạch và Phát Triển đô thị.

Quả y như là người ta thường nói rằng miệng lưỡi của chính trị gia thì dẻo và ngọt như kẹo kéo. Cứ mỗi mùa bầu cử thì cái bánh vẽ (xin đọc bài Xẻ cái bánh vẽĐề án xây cất Goodwill/Dearborn đã bị hủy bỏ) lại được vẽ to, tô đậm, thổi phồng đưa cho những tay cò mời chào. Và những người cơ hội thì xun xoe, quay quần như đèn kéo quân. Quý vị, những công dân Hoa-kỳ, những cư dân thành phố Seattle hãy tự hỏi là có biết “ngài” thị trưởng đã làm được gì cho cư dân người Mỹ gốc Việt trong suốt hai nhiệm kỳ qua?

Suốt bao nhiêu năm qua nào có thấy “ngài” thị trưởng thò mặt ra ở sinh hoạt cộng đồng Việt Nam. Đấu đế quá thì “ngài” cũng nên hạ giá, “giáng lâm” đến với dân đen chứ đâu mà lại vời chỉ vài vị “đại diện” đến để trình tấu lên. Đám dân đen này chỉ cần “ngài” đem các kế hoạch, đề án vẽ vời trước đây bao nhiêu năm đã xếp xó trong tủ, lấy ra thổi bụi và thực thi thì đã là quá tốt chứ chẳng cần gì đến ý kiến, đệ đạt nào mới nữa. (Xin xem Thư gởi toà soạn báo Seattle PI về chỉnh trang đô thị Little Saigon)

Riêng về người Mỹ gốc Việt tại Seattle cùng vài người các sắc dân Á châu khác đến gặp mặt ông thị trưởng thì phải nói đó là một cơ hội diễn tuồng (photo op, photo opportunity).

Denny Điệp Đặng và Thái Nhật Lĩnh được ai cử hay tự đại diện cộng đồng người Việt Seattle trong cuộc gặp gỡ hội thoại về các vấn đề và quan ngại cho người Mỹ gốc Á Châu và Thái Bình Dương với Thị Trưởng vào ngày 25.6.2009 tại tòa Thị Sảnh??? Đây là cuộc họp hoàn toàn không cho cộng đồng biết trước. Việc tham khảo ý kiến của các tổ chức, hội đoàn cộng đồng là chuyện không hề xảy ra.

Denny Điệp Đặng và Thái Nhật Lĩnh được ai cử hay tự đại diện cộng đồng người Việt Seattle trong cuộc gặp gỡ hội thoại về các vấn đề và quan ngại cho người Mỹ gốc Á Châu và Thái Bình Dương với Thị Trưởng vào ngày 25.6.2009 tại tòa Thị Sảnh??? Đây là cuộc họp hoàn toàn không cho cộng đồng biết trước. Việc tham khảo ý kiến của các tổ chức, hội đoàn cộng đồng là chuyện không hề xảy ra.

“Ngài” thị trưởng “quan tâm” đến cư dân thiểu số Á châu hay chỉ thấy họ là những lá phiếu cử tri cần thu góm. Còn người đi đến để đệ đạt, thỉnh cầu cùng lúc có cơ hội được xướng danh để dễ dàng trong hoạt động riêng tư hoặc cho tổ chức cục bộ.

Các diễn viên đóng vai quan hay vai hầu đều rôm rả vì đôi bên cùng hưởng lợi mà chẳng mất tí tị vốn liếng, công sức gì. Việc “ngài” thị trưởng đi kiếm phiếu thì đó là chuyện thường ngày chẳng ai cần để ý. Thế nhưng chuyện quanh quẩn cối xay là một điều không có gì vinh dự. Nếu có gặp mặt giới chức trách thì lẽ ra cần tự trọng, thẳng thắn với tư cách công dân (hay cư dân) để đặt vấn đề quyền hạn và quyền lợi hiển nhiên của cá nhân và cộng đồng chứ không phải mong đợi và xin cho. Phải tự xét lại xem có phải di chứng của tinh thần thuộc địa vẫn tiềm ẩn trong nhiều người Việt Nam nên thi hành tòng phục các hành vi hay xin cho, chứ không thực sự đứng lên đòi hỏi quyền lợi thiết thực của mình.

Họ đang nhỏ to bàn chuyện hành lang gì đây sau khi cuộc họp kết thúc? Có bao giờ chi tiết thông tin này được phổ biến trong cộng đồng? Thái Nhật Lĩnh (Linh Thai) không có mặt trong các hình chụp vì làm việc phó nhòm.

Họ đang nhỏ to bàn chuyện hành lang gì đây sau khi cuộc họp kết thúc? Có bao giờ chi tiết thông tin này được phổ biến trong cộng đồng? Thái Nhật Lĩnh (Linh Thai) không có mặt trong các hình chụp vì làm việc phó nhòm.

Thái Nhật Lĩnh, giám đốc Nhà Văn Hóa của Giáp Phúc Đạt, mới đây nhất đang lèo lái một ban vận động bầu cử. Kiểu làm việc gần như bắt chước theo kiểu Thị trưởng Nickels!!!

Thái Nhật Lĩnh, giám đốc Nhà Văn Hóa của Giáp Phúc Đạt, mới đây nhất đang lèo lái một ban vận động bầu cử. Kiểu làm việc gần như bắt chước theo kiểu Thị trưởng Nickels!!!

Chú thích:

[i] Cách dùng nêu danh của Báo Người Việt Ngày Nay (NVNN)

[ii] Theo báo NVNN số 55, ngày 26 tháng 6 năm 2009

Các bài viết liên hệ khác:

Phần 1: Chuyến viếng thăm riêng của Đại sứ Hoa Kỳ Michalak [Nhập nhằng sinh hoạt cộng đồng Việt TB WA]

Bài đã đăng Talawas: Những cái nhập nhằng không tên (Chuyện cộng đồng Việt hải ngoại rối rắm sau 30 năm)

Tham khảo: Chỉnh trang đô thị–một dạng phân biệt chủng tộc mới.

Bài mới: Thư cho chủ bút báo International Examiner: “Phản hồi bài của Quang Nguyễn (Phòng Thương Mại) ngày 8/8/2009″

Thư ngỏ Anh ngữ cho giới trẻ (A letter to the second-generation Vietnamese Americans): “Critical Reflection with Vietnamese Young Readers regarding an International Examiner Article from Quang Nguyễn (Vietnamese Chamber of Commerce)”

Sự Thật Về Hồ Chí Minh (Phim tài liệu)

In Chính trị (Politics), Việt Nam on 2009/07/17 at 21:54

Chúng tôi vừa mới xem qua phim tài liệu “Sự thật về Hồ Chí Minh”.  Phim có nhiều dữ kiện, tài liệu lịch sử rõ ràng chứng minh sự giả dối, gian ác, độc tài, diệt chủng, hại dân, bán nước của đảng CSVN dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh.  Phim tài liệu này cần được phổ biến rộng.

http://freevietnews.com/video/viewvideo.php?id=223

Thảm sát Thiên An Môn (Tiananmen Massacre)

In Chính trị (Politics), Thế giới on 2009/06/04 at 07:00

Xin giới thiệu phim tài liệu “Thảm Sát Thiên An Môn mới được được phát hành bởi công ty Brain Mind.

Những cái nhập nhằng không tên

In Cộng Đồng, Chính trị (Politics), LittleSaigon - Seattle, talawas, Việt Nam on 2009/05/10 at 05:03

Vi Nhân

(bài đăng ngày 10/5/2009 trên diễn đàn Talawas, http://www.talawas.org/?p=4258)

BBT: Đây là một bài viết tập hợp các suy nghĩ trăn trở về cộng đồng Việt hải ngoại. Bài viết này chúng tôi–anh em Nhóm Hoạt Động Dân Chủ Xã Hội vùng Tây Bắc–trao đổi đàm đạo với nhau sau khi đã hợp lực tranh đấu giúp Little Saigon Seattle không bị xóa tên trên bản đồ thành phố trong vòng ba năm từ 2007-2009. Xin xem thêm một số chi tiết dữ liệu quan trọng về công cuộc đấu tranh ngăn cản dự án xây dựng trung tâm siêu thương mại (Dearborn Mall) tại khu phố International District trong khu downtown Seattle tại https://vietsoul21.net/vi%E1%BB%87t-nam/

Chúng ta kinh hoàng nhận thấy rằng–kể từ khi người anh em của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa xã hội bị chính thức khai tử–thì chủ nghĩa tư bản bắt đầu hoành hành vô độ do chứng vĩ cuồng thúc đẩy nên lập diễn những lầm lạc của người anh em tưởng đã tuyệt giống ấy. 

(Günter Grass – Diễn từ Nobel Văn chương 1999)

Capitalism-Socialism_Günter Grass_E_1

Kể từ ngày quốc nạn 30 tháng 4 đến nay là đã hơn ba mươi năm. Lớp người chạy trốn CS bỏ nước ra đi đợt đầu tiên (1975) và làn sóng vượt biên, vượt biển đợt hai (1979-1980s) cho đến nay thì đã già/non suýt soát một thế hệ. Gần nhất nữa là đợt tỵ nạn nhân đạo của các nhóm HO, con lai, cũng như đoàn tụ gia đình vào thập niên 90 cho đến hiện tại. Hơn 30 năm đủ để thế hệ con cháu của những người ra đi đầu tiên và đợt vượt biên trưởng thành và bắt đầu sự nghiệp.

Các em thuộc thế hệ thứ nhì nay bắt đầu hội nhập vào cuộc sống. Việc con em người Việt tỵ nạn hoà đồng sinh hoạt rộng hơn trong các hội sinh viên Việt Nam và tổ chức thiện nguyện tùy thuộc vào hai nguyên nhân chính: (1) không tham gia nếu bị cô lập do không quen thuộc với ngôn ngữ mẹ đẻ và đã quen lối sống riêng trong dòng chính trọng cá nhân chủ nghĩa và mãi băn khoăn đi tìm cái tôi; hoặc (2) có tham gia vì đã từng sinh sống ở môi trường đa sắc dân hay do cơ hội đưa đẩy trong lúc cảm thấy trống vắng.

Trong môi trường đại học, một đội ngũ giới hàn lâm thiên tả với nhãn quan da trắng sinh sôi lớn mạnh và tiếp tục sứ mệnh lên lớp bài học lịch sử lệch lạc về cuộc chiến Việt Nam. Ngoài đời thường, hàng ngày, hàng giờ các em học hỏi giao tiếp và đi cùng nhịp với mạch điệu thiên vị chính thống đầy thiên lệch. Dĩ nhiên, khi cách thức sinh hoạt này trở thành cơm bữa thì việc cư xử đi ngược với văn hóa và cách sinh hoạt của cộng đồng người Việt tỵ nạn là chuyện tất nhiên. Kết quả là từ đó mầm mặc cảm tự ti vô thức gieo trồng lần lần vào đầu óc các em. Đến khi bị đồng hóa và tiếp thu tiềm ẩn phân biệt chủng tộc mà cũng không biết. Cụ thể nhất là cái vô thức đen tối thăm thẳm này đã ảnh hưởng đến cách ứng xử và hành động khi liên hệ với cộng đồng và Việt Nam.

Các em dấn thân làm việc cho các tổ chức, cơ quan phục vụ xã hội bất vụ lợi (non-profit) vì mang ước vọng phục vụ xã hội nhất là đóng góp cho “cộng đồng”. Oái ăm thay, các tổ chức này vì cần ngân quỹ để hoạt động và để bảo tồn sự sống còn của riêng mình nên họ làm việc cầm chừng và phục vụ quyền lợi riêng (self-interest) nhưng luôn nghĩ vị trí “ban ơn” của mình to tác. Họ nhất định không đi xa hơn giới hạn của công việc và từ khước các phản kháng chống lại áp bức bất công. Hậu quả là các cơ quan này, dù biết hay không, trở thành một công cụ trong một guồng máy tiếp tục duy trì hệ thống cấu trúc không công bằng nằm sẵn trong các chính sách công cộng và phúc lợi xã hội (public and welfare policies). Mọi hoạt động của các tổ chức này không khác gì hơn là dán băng tạm vào vết thương sâu. Tuy nhiên họ không (muốn) tìm hiểu vì sao và ai gây ra các vết thương sâu hay tấy đau đó. Đây là cái nhập nhằng thứ nhất: cơ quan bất vụ lợi và duy trì cơ cấu bất công.

Đi xa hơn nữa là công tác từ thiện và gây quỹ giúp đồng bào khốn khổ Việt Nam không chỉ với lớp trẻ thế hệ thứ hai. Bao nhiêu câu ca dao tục ngữ của truyền thống nhân hậu “máu đổ ruột mềm”, “lá lành đùm lá rách” đã ăn sâu vào tâm khảm người Việt. Thêm vào đó là việc làm công quả, làm phước mong được hưởng ân phước kiếp sau, hoặc hứa hẹn thiên đàng ở nước trời. Vừa có tiếng thơm, lại vừa có phước thì ai lại chẳng muốn làm! Nhưng đặc biệt hơn, không ít người đứng ra lập hội từ thiện cốt để dựng lên cột tín chỉ đạo đức, và tạo gạch nối cho những công việc liên quan đến nghề nghiệp riêng tư. Một hình thức mua tín chỉ cho người có khả năng tài chánh mộng làm “trùm”. Dường như lại có khá nhiều người trong đám đông bị ám ảnh từ nhu cầu cần cả hai tín chỉ, một là học vị và hai là đạo đức, để hãnh tiến. Đó là cái nhập nhằng thứ hai: tổ chức từ thiện và tín chỉ đạo đức.

Người ta dễ dàng núp sau tấm khiên “từ thiện” và chiếc áo giáp “văn hóa” để không dính dáng gì cả về mặt “chính trị” và giúp cho họ được an toàn địa vị. Nhưng nói thế mà không phải vậy. Những việc làm từ thiện và văn hoá luôn chứa đựng một hàm ý chính trị thực tiễn. Chúng ta có thể không tham gia chính trị “đảng phái” nhưng tất cả mọi hành vi–dù ít dù nhiều và thậm chí ngay cả nếu “bình chân như vại”–của mình cũng đều mang tính chính trị liên hệ đến quyền công dân và xã hội dân sự. Đó là quyền và trách nhiệm của một công dân trong một nước và là con người sống trên trái đất.

Yêu đất nước không đồng nghĩa với yêu chính quyền hoặc mến mộ chính sách của nước đó. Yêu nước là phải biết phản kháng lại khi chứng kiến khổ đau ngày càng tích tụ không đếm kể do các chính sách bất công, chính sách độc tài, chính sách nước lớn, chính sách kỳ thị — dù ở nội địa hay đối với nước ngoài. Yêu nước là năng nổ xốc vác để tranh thủ và cổ súy cho phong trào tự do, dân chủ, dân quyền, nhân quyền cho mọi người. Yêu nước là không mù quáng theo tiếng gọi cảm tính mang màu sắc phe phái, cục bộ, địa phương, dân tộc hẹp hòi. Đây là cái nhập nhằng thứ ba: “phi chính trị” và yêu tổ quốc chung chung (lung tung).

Thử đọc một bài báo của Tuổi Trẻ Online tại Việt Nam tường thuật về buổi trại hè với một nhóm thanh niên Việt hải ngoại được gọi là “trại sinh” tham dự chương trình “Hành trình di sản quê hương”:

Cũng tại buổi chia tay, Bí thư thường trực Trung ương Đoàn Lâm Phương Thanh khẳng định: “Công tác thanh niên ở nước ngoài là một trong những nội dung được Trung ương Đoàn đặc biệt quan tâm. Trung ương Đoàn sẽ tiếp tục phối hợp với các đơn vị, Đài truyền hình Việt Nam thực hiện các chương trình dành cho bạn trẻ Việt Nam ở nước ngoài…”. Chia sẻ thêm với các bạn trẻ kiều bào có mặt hôm nay, Bí thư Thành đoàn TP.HCM Tất Thành Cang gửi gắm thông điệp: “Quê hương Việt Nam chúng ta rất đỗi yêu thương, dung dị, nghĩa tình và sẵn sàng đón nhận các bạn trở về đất mẹ”.

“Suốt hành trình 15 ngày dọc chiều dài đất nước, các trại sinh đã được tham quan những danh lam thắng cảnh của quê hương. Hơn thế nữa, các bạn còn bày tỏ niềm xúc động khi được tham gia các hoạt động truyền thống như hành hương về đất tổ Vua Hùng, viếng nghĩa trang Trường Sơn, giao lưu “Những đóa hoa bất tử” về 10 cô gái đã hi sinh trên tuyến lửa tại ngã ba Đồng Lộc. Nhưng có lẽ nhiều bạn cũng sẽ in sâu dấu ấn về tinh thần anh dũng, mưu trí của người dân đất thép Củ Chi khi tham quan đền Bến Dược, chui địa đạo Củ Chi…”

Chỉ qua hai đoạn trên thì ta cũng thấy rõ hoạt động chính trị vận, kiều bào vận, sinh viên vận luôn sát kèm vào tất cả sinh hoạt để họ có thể lấp liếm vàng thau lẫn lộn: đem những cái của đảng và “chính trị bộ” ráp gắn với văn hóa và truyền thống dân tộc. Di sản quê hương bị tiếm đoạt làm món hàng đánh bóng cho truyền thống “đánh giặc cứu nước” của “đảng ta”. Những kẻ chóp bu ấy luôn chỉ đạo các nhóm cấp dưới làm nhiệm vụ tuyên truyền vẽ vời không ngừng một đất mẹ huyền thoại bên kia bờ đại dương với chiêu bài “xây dựng đất nước” để dụ dỗ kích thích các em bằng các hình ảnh đói khổ nghèo nàn do hậu quả chiến tranh. Lời mời chào “yêu tổ quốc và yêu quê hương” lẫn lộn với yêu xã hội chủ nghĩa, yêu chính quyền và chính sách cai trị của đảng Cộng Sản Việt Nam hiện hành. Một nhập nhằng yêu nước của kẻ bịp bợm.

Sau ba mươi năm một thế hệ người Việt hải ngoại đã thành đạt trong khoa cử, thương mại, và chính trường. Vì tâm thức “tước hữu ngũ, sĩ cư kỳ liệt – dân hữu tứ, sĩ vi chi tiên” [1] tạo nhu cầu tiến thân vượt trội, nên “cờ mũ cân đai” gây ảnh hưởng hay đạt vị thế xã hội cũng tăng dần. Nhu cầu này đi song song với một đòi hỏi bất khả thi trong khá nhiều đổi chác. Cái giá phải trả cho các đổi chác này là sự “im lặng”. Im lặng dù biết mình đồng lõa với bất công, che mắt với dối trá, làm ngơ với áp bức bóc lột. Sự đổi chác này không chỉ qua các thoả ước bằng lời mà còn từ những “luật chơi” ngầm được tự động thi hành. Các luật chơi này hoàn toàn có tính cách “tự hiểu” do đã ăn sâu trong suy nghĩ và không cần bị mua chuộc, áp lực hay bắt buộc. Do đó các luật chơi này được tuân thủ răm rắp. Những người “thức thời” luôn là kẻ cặp kè với người quyền thế, để được bao chống, nâng đỡ, vừa có ô che lại được bệ đỡ không sợ mưa nắng, không sợ té ngã. Đây không phải chỉ là những người hay cơ sở sợ “bể nồi cơm”. Đây còn là giới trí thức “thức thời” luôn nhìn xuống đám dân đen, người lao động, người phục vụ như là công cụ để lèo lái, để ban phát ân huệ và tự cảm là người tốt bụng rộng rãi.

“Há miệng mắc quai” và “Ngậm miệng ăn tiền”, hai câu tục ngữ tuy hai là một. Há miệng để ăn nên không ngậm miệng thì cũng đành ú ớ. Chúng ta đã thấy lắm “chuyện dài cộng đồng tỵ nạn” nhan nhãn ở địa phương mình và thở dài thất vọng. “Phân” [2] xanh “phân” tươi, vừa thấy là tranh giành chụp giựt. Thực ra cũng không đáng phải quá thất vọng khi thấy hiện tượng này xảy ra trong một xã hội xô bồ. Nhưng nó xảy ra như cơm bữa thành ra có người phải lên tiếng là “cái cộng đồng mình nó là như thế đấy!” Và kẻ “thức thời” hăm hở vin vào mà thốt lên rằng, “thế thời thời phải thế!”. Phải chăng đám đông thầm lặng đều thức thời, theo mô hình cho một cộng đồng “gương mẫu” (model minority) là chăm chỉ hạt bột, tuân thủ, tòng phục, cúi mặt làm ngơ? Đó là cái nhập nhằng thứ tư: sự “thức thời” của giới trí thức và đám đông thầm lặng.

Những năm gần đây ta thấy có một làn sóng ngầm của người di dân từ Việt Nam sang hải ngoại, từ du học sinh đến tạm thời ngắn hạn hoặc ở dài hạn với giao kèo việc làm, đến lao động xuất khẩu trá hình dưới các hình thức khác nhau. Đã thấy các cơ sở thương mại dần dần đổi chủ sang tên không liên hệ gì đến cộng đồng người Việt tỵ nạn.

Bắt đầu đã có người đứng đầu hay mang nhiệm vụ liên hệ cho hội “đồng hương” không còn là người Việt tỵ nạn. Rõ hơn hết trong đợt “di dân” này là số du học sinh các trường đại học cộng đồng và hậu đại học. Nhờ làn sóng này không ít người Việt hải ngoại được thăng quan tiến chức do nhu cầu phục vụ hay xử dụng du học sinh. Và cũng không thiếu người đã thấy được thành phần này sẽ trở thành nguồn lợi nhuận lớn từ khâu A đến khâu Z cho đến khi họ đạt được mảnh bằng “con” (và có thể kéo dài nếu họ quyết định không về nước).

Ngoài việc trở thành nguồn lao động nghiên cứu rẻ cho các học giả “hàn lâm” (để thâu thập tin tức dữ kiện từ các chốn sinh hoạt cộng đồng Việt hải ngoại như chùa chiền nhà thờ), du học sinh còn trở thành món hàng công khai bán chạy. Vì họ có nhiều chất xám (chẳng hạn sinh ngữ và kiến thức) hơn diện lao động ở chui hay bán thân. Món hàng hấp dẫn mới nhất này được rao mời, và đưa vào một mạng lưới dây chuyền lao động trong nhà hàng ăn tiền mặt, qua nơi thuê trọ. Dịch vụ cũng có thể bao gồm cả hệ thống hút sách tiêu pha đàn đúm nếu là con cán bộ giàu có. Đàn đúm không chỉ trong vòng nội bộ du học sinh. Họ đang dần dần bành trướng trong phương sách “sinh viên vận” để tạo sinh hoạt thân thiện gần gũi trong khi xâm nhập vào các hội sinh viên người Việt hải ngoại thuộc thế hệ thứ hai.[3].

Trong khi đó, thị trường Hoa-kỳ không còn hấp dẫn cho đầu tư. Chất xám thì không được trưng dụng hay mua rẻ mạt. Lý do là kỳ thị chủng tộc vẫn còn nằm sâu gốc rễ trong xã hội. Số lượng tư bản và trí tuệ Việt hải ngoại do đó chuyển hướng quay đầu trở về quê cha đất tổ. Họ xăng xái đầu tư, “xây dựng” đất nước. Họ viện cớ không mắc cở câu “đất nước mình đã thay đổi nhiều”. Có thay đổi chăng chỉ là cái bộ mã tự do thương mại để đầu sỏ đảng bộ tự tung, tự tác lạm quyền đổi chác, bán đổ, bắt tay với kẻ cơ hội làm giàu riêng. Cái bình phong quái thai “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” do thiểu số chóp bu Đảng Cộng Sản Việt Nam dựng lên để che đậy lấp liếm cho chính sách độc tài, bán nước, hại dân, tiêu tan đạo đức, phá hủy môi trường, vét sạch tài nguyên.

Thế nhưng đau đớn thay vẫn có hết loạt này đến loạt khác về Việt Nam không những cố quên lịch sử mà còn nhắm mắt trước những đàn áp bất công trước mắt. Họ lao vào vầng hào quang cá nhân thành “người đương thời” để ăn trên, ngồi trốc. Họ cứ sống chết mặc bay và tiếp tay với quan quyền bản xứ như kẻ thực dân mới. Nếu người “đương thời” có được đưa lên tận mây xanh qua truyền thông báo chí mà lại bị vừa đập vừa xoa trước mặt khán thính giả để chửi khéo và làm nhục rằng “anh đã mất gốc” thì cũng vẫn làm. [4]

Tư bản xanh chạy vào, tư bản đỏ chạy ra. Tiền máu, tiền mồ hôi lẫn lộn ai nào biết được! Bóc lột thực dân mới, bóc lột giai cấp với đảng trị được vận chuyển xoay vần trên danh nghĩa thị trường mở cửa. Một môi trường cho người bóc lột người trong hổ lốn của chế độ đảng quyền, tư bản rừng rú, và tri thức vô tâm. Lần là, những liên hệ tình cảm, đối tác thương mại, và hoạt động trong mạng lưới tổ chức phi-chính-phủ (NGO hay Non-Government Organizations) tạo ra các ràng buộc khiến các cá nhân hay nhóm này (dù vô thức hay có ý thức) xuôi lòng thoả hiệp—dưới danh nghĩa hoà giải—với chính sách độc tài, hại dân, bán nước.

Mới đây, vào ngày 14 tháng 10 năm 2008 tổ chức từ thiện phi-chính-phủ PeaceTrees Vietnam đã khoản đãi Đại Sứ CS Lê Công Phụng tại Câu Lạc Bộ Thể Thao Washington (Washington Athletic Club hay WAC) thuộc thành phố Seattle. Bốn tổ chức bảo trợ chính cho buổi khoản đãi này là tập đoàn luật gia DuBois Law Firm, hãng máy bay Boeing, công ty đầu tư Russell Investments, và WAC. Tổ chức phi-chính-phủ nhưng lại có các hoạt động hoàn toàn không phi chính trị, phi vụ lợi. Một cuộc giao hữu thuần túy hay để đánh bóng phô trương bề ngoài cho chính quyền CS, và cò mồi cho các đối tác thương mại (tư vấn luật pháp, máy bay, và đầu tư) gặp nhau? Tiền máu cũng dễ dàng tẩy rửa và trao tay để sạch và mới như toanh.

Hai tuần sau đó, Bà Jerilyn Brusseau, đồng sáng lập viên và chủ tịch tổ chức PeaceTrees Vietnam, lại được trân trọng mời làm diễn giả chính trong buổi dạ tiệc hàng năm của Hội Luật Gia Người Mỹ Gốc Việt TB Washington (VABAW) tổ chức ngày 28 tháng 10 năm 2008.[5] Đây là cái nhập nhằng đa tầng trong/ngoài, tư/công rối rắm: phát triển và xây dựng hay là bóc lột thực dân mới và bóc lột giai cấp đảng trị?.

Những nhập nhằng không tên với biên giới mỏng manh giữa cái thiện và cái ác nên dễ lầm lẫn hoặc lấp liếm. Cái ác bao giờ cũng được tô điểm mỹ miều và bọc đường ngọt ngào; con quỷ đỏ luôn mặc áo choàng lấp lánh chói lòa. Sau khi chiêm nghiệm về những nhập nhằng đã điểm mặt nêu tên, thiển nghĩ rằng chúng ta sẽ phân biệt được thực được hư để khỏi vướng vào thoả hiệp với cái ác mà hành động theo tình người và lẽ phải.

© 2010 Vietsoul:21

CHÚ THÍCH:

[1] “Trong năm chức tước làm quan thì kẻ Sĩ là oanh liệt, trong bốn nghề nghiệp thì kẻ Sĩ cũng là trên hết.” Trích thơ “Kẻ sĩ” và “Tiến sĩ giấy” của Nguyễn Công Trứ (1778-1858).

[2] “Fund” là nguồn ngân quỹ–công hoặc tư–xuất ra để trợ cấp cho các hoạt động an sinh xã hội, văn hoá, nghệ thuật, v.v…

[3] Mới đây nhất là sự kiện mừng xuân Kỷ Sửu 2009 tại hội Tết in Seattle (mà BS Kiet Ly hay Lý Anh Kiệt là giám đốc điều hành) tại Seattle Center. Thành phần du học sinh Việt Nam từ trường Seattle Central Community College và một số trường cộng đồng khác đã tham gia đề án “Tuổi trẻ và Ước mơ” do bà Judith Henchy, nhân viên thư viện của Trung Tâm Đông Nam Á tại trường đại học UW, cùng phối hợp với nhân viên Seattle Public Library phụ trách. Vì “nhầm lẫn” nên cờ đỏ CSVN đã chễm chệ đính lên trên bản đồ nước Việt treo trong phòng triễn lãm. Chỉ đến khi các vị HO đến xem chợ Tết thấy và phản đối thì cờ này mới được gỡ xuống.

Một vài sự kiện khác không kém quan trọng về hiện tượng du học sinh trà trộn vào hội sinh viên người Việt hải ngoại thuộc thế hệ thứ hai:

(1) tại khuôn viên trường đại học UW này, du học sinh Việt Nam khắp Seattle thường hội tụ họp hành để tham gia tích cực vào đề án Kids Without Borders;

(2) năm nay hội sinh viên UW (VSAUW) thuộc thế hệ thứ hai người Việt hải ngoại cũng đã nối tiếp bước đường “thành công” qua cuộc thi hoa hậu “Miss Vietnam Washington” tại hội Tết in Seattle. Họ đã gây quỹ cho một bệnh xá “lưu động” Việt Nam và đang muốn đạt chỉ tiêu 20.000 USD. Họ sẽ cử sinh viên trong hội về cùng với cơ quan thiện nguyện trung gian Wellness Global Foundation (www.wellnessglobalfoundation.org) của một bà “Việt Kiều Yêu Nước” và “công dân danh dự” của VN nhiều năm bị chống đối ở Bỉ. Hai thành viên hội đồng quản trị ở Hoa Kỳ giúp đỡ là bà con của bà ở tiểu bang Colorado, và ông BS Giáo sư Y Khoa của đại học UW, Khu Tiêu Hóa tại nhà thương VA Puget Sound, Seattle. Hội sinh viên UW đã gây quỹ hai kỳ:

(2a) ngày 28-2-2009 tại nhà hàng Tea Palace được 10.000 USD; và

(2b) cuộc thi Hoa Khôi Liên Trường ngày 18-4-2009 tại trường UW. Trong khi đó, không biết lý do gì mà các tin tức điện thư nhờ chuyển gởi cho các thành viên của hội sinh viên UW để các em có cơ hội am tường về các vấn nạn thiết kế đô thị tại Little Saigon Seattle đã bị ngăn cản, bưng bít gần một năm nay. Các sinh viên UW đã vướng vào các hoạt động nhập nhằng này.

[4] Henry (Hoang) Nguyen hay Nguyễn Bảo Hoàng–con trai út của Nguyễn Bang, một cựu phụ tá thứ trưởng chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, đã được Tạ Bích Loan–¬người điều khiển chương trình–cho ăn “củ chuối” vào phần mở đầu của cuộc phỏng vấn trong chương trình “Người đương thời” trên đài VTV1 phát hình ngày 07-05-2006 tại VN.

(Trích: http://topviet.blogspot.com/2008/11/daugher-of-srv-prime-minister-nguyen.html hay tại YouTube: http://www.youtube.com/watch?v=6OEfwNIC-6I&feature=related )

Trái chuối là một ẩn dụ ám chỉ người Mỹ gốc Á châu bên ngoài thì vẫn da vàng nhưng trong ruột thì trắng tượng trưng việc chọn lối sống suy nghĩ coi trọng văn hóa người Anglo Saxon. Đây là những người, vì đã bị hay muốn được đồng hóa, không gìn giữ văn hóa của các thế hệ đầu tiên của họ mang theo khi mới di dân đến Mỹ.

Tuy nhiên, chương trình “Người đương thời” này vẫn mệnh đề cho Nguyễn Bảo Hoàng là “Ẩn số đến từ Harvard”, và là “thế hệ Việt kiều thứ 2 về đóng góp, làm giàu cho quê hương.” Trong khi đa số tất cả các đóng góp ý kiến sau khi xem chương trình TV đông nhất người biết đến này đều cho anh Henry (Hoang) Nguyen là thần tượng, một quý khán thính giả với bút danh “Con Quốc Quốc” đã phát biểu như sau:

“Ẩn số đến từ Harvard Nguyễn Bảo Hoàng có lẽ là một trong những đáp số chính xác nhất cho nghị quyết 36 về người VN ở nước ngoài của ban BTTƯ đảng CSVN.”

(Trích: http://nguoiduongthoi.com.vn/Desktop.aspx/NhanVatNDT/Nhan_vat/An_so_den_tu_Harvard/)

[5] VABAW’s Fourth Annual Banquet (http://vabaw.com/annualbanquet.aspx) was held on October 28, 2008 at the Triple Door. The theme for the evening was “Ambassadors to Our Communities.” (Xin tạm dịch: Đêm dạ tiệc lần thứ tư của Hội Luật Sư Người Mỹ Gốc Việt tiểu bang Washington đã được tổ chức vào ngày 28 tháng 10, 2008 tại nhà hàng Triple Door. Chủ đề của đêm ấy là “Những sứ giả của cộng đồng chúng ta.”)

Bản tiếng Anh: The Unspoken Ambiguities

 

Capitalism-Socialism_Günter Grass

Mời xem thêm các bài viết sau đây:

Phần 1: Chuyến viếng thăm riêng của Đại sứ Hoa Kỳ Michalak [Nhập nhằng sinh hoạt cộng đồng Việt TB WA]

Phần 2: Thị trưởng Seattle tiếp xúc với những ai trong Cộng Đồng người Việt [Nhập nhằng sinh hoạt cộng đồng Việt TB WA (2)]

Tham khảo: Chỉnh trang đô thị–một dạng phân biệt chủng tộc mới.

Bài viết mới trong tháng 9/2009:

Bài phản biện (The Rebuttal in Vietnamese): “Thư gởi chủ bút báo International Examiner vì bài viết không trung thực của Quang Nguyễn (Phòng Thương Mại)”

Bài phản biện Anh ngữ (The Rebuttal) vì bài viết không trung thực của Quang Nguyễn (Phòng Thương Mại): “Letter to the International Examiner Editor in Chief regarding Quang Nguyen’s article”

Thư ngỏ Anh ngữ cho giới trẻ (A letter to the second-generation Vietnamese Americans): “Critical Reflection with Vietnamese Young Readers re: an International Examiner article by Quang Nguyen (Vietnamese Chamber of Commerce)”

Các bài liên hệ khác đã đăng trên talawas:

Chứng quên tập thể

Bịt miệng nạn nhân

Chúng tôi (Tự trào – Trí Thức – Tâm Tài)

Tôi là người Việt Nam

Thời cửu vạn, ôsinThe Age of Day Laborer and Housemaid

Lết tới “thiên đường”

Phản bội hay trung thành với lý tưởng?

Các bài trên Tạp chí Da Màu:

Tháng Tư Câm

Hồn ma và xương khô

Thư gởi CĐNVQG TB/WA và LHCQN QLVNCH TB/WA

In Cộng Đồng, Chính trị (Politics), LittleSaigon - Seattle on 2008/09/14 at 07:36

Ghi chú::

Mặc dù cuộc họp ngày 13/9/2008 của chúng tôi đã không được thực hiện như ý muốn–nhất là việc trong vòng hơn tiếng đồng hồ đầu tiên phải đối diện với các xáo loạn gây ra từ ông Phạm Huy Sảnh, Tăng Phước Trọng, và Phan Rang, chúng tôi vẫn đối thoại trong ôn hòa với họ, nhưng giữ vững lập trường trước sau như một. Việc chống chỉnh trang đô thị và các hoạt động không minh bạch của các nhóm ký giao kèo với tập đoàn xây cất, chuyện tin tức ký kết thỏa thuận này lại về Việt Nam mau chóng trong khi các tiểu thương trong khu Little Saigon Seattle và cộng đồng lại không được thông báo trực tiếp, v.v… là việc cần làm trước khi có điều trần (hearing) ngày 22/9/2008. Chúng tôi đã bắt đầu cuộc họp này của mình với Câu chuyện 5 người bạn và 5 kẻ thù ( Tale of Five Friends and Five Enemies“) như đã hoạch định.

Ông Tăng Phước Trọng sau đó đã chính thức (1) tiếm danh cộng đồng (dùng tên hội tư của mình để tự đại diện cộng đồng) và thề trong buổi điều trần tại tòa Thị Sảnh ngày 22/9/2008 là ông ủng hộ Phòng Thương Mại, và không chống đề án Dearborn 300 triệu của tập đoàn xây cất Ravenhurst; và (2) sau đó đến tham gia tiệc tùng tại nhà hàng Saigon Bistro (của ông Nguyễn Minh Tâm) với Phòng Thương Mại (WaVA) vào tối thứ ba ngày 30/9/2009. Đây là cơ hội cho WaVA tìm cách “hoạt động hành lang” về tiền bán thí đường phố trong khu Goodwill cho dù WaVA quảng cáo là cho một buổi nói chuyện về Ngân sách thành phố, an ninh công cộng, và phát triển kinh tế. Cuộc tiệc này WaVA chiêu đãi ba nghị viên Jean Godden, Bruce Harrell, and Tim Burgess đã xảy ra một tuần sau ngày chúng tôi điều trần về tầm ảnh hưởng tiêu cực của thiết kế đô thị đề án Dearborn lên khu Tiểu Saigon.

____________________________

Nhóm Hoạt Động Dân Chủ Xã Hội Vùng Tây Bắc

Seattle ngày 14 tháng 9 năm 2008

Đồng kính gởi:

Ông Tăng Phước Trọng,

Chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Tiểu Bang Washington

Ông Phạm Huy Sảnh,

Chủ tịch Liên Hội Cựu Quân Nhân QLVNCH Tiểu Bang Washington

 

Kính thưa ông Tăng Phước Trọng và Ông Phạm Huy Sảnh,

Sau khi quý hội kết thúc buổi họp ngày 6 tháng 9 năm 2008, chúng tôi Nguyễn Hiếu và Nguyễn Quỳnh-Trâm đã được phép trình bày các vấn đề liên hệ đến hai dự án thiết kế đô thị thành phố Seattle trong 15 phút. Với sự hỗ trợ của tất cả quý quan khách tham dự cũng như quý hội đoàn, chúng tôi sau đó đã gởi thông báo bằng điện thư và các phương tiện truyền thông đại chúng (báo chi, radio) mời tất cả các hội đoàn, tổ chức, nhân sĩ, và thương gia đến tham dự cuộc họp của chúng tôi tổ chức vào ngày thứ Bảy 13 tháng 9 năm 2008.

Dựa vào tôn chỉ cho quá trình sinh hoạt với tư cách độc lập từ trước đến nay, chúng tôi đứng riêng ra tổ chức buổi họp. Tuy nhiên, một sự kiện đã xảy ra trong buổi họp này. Quý vị đến tham dự cuộc họp và tuyên bố là người tổ chức, rồi đặt để gán ép cho chúng tôi là người đến thuyết trình. Quý hội đoàn vẫn nhất quyết không nhận hiểu sau khi đã có những phát biểu và dàn xếp của một số quan khách tham dự, và cho dù chúng tôi đã có tất cả những đơn từ chính thức chuyển lưu đến mọi người, cũng như đã có ghi danh tại thư viện Columbia trước ngày họp. Vì tôn trọng quý quan khách đến tham dự buổi họp nên chúng tôi quyết định không tiếp tục tranh luận (hay ấu đả), hoặc dùng những biện pháp hành chánh theo nội quy của thư viện. Chúng tôi đã ứng xử ôn hòa và tự trọng để mọi người tự phán xét qua những lời trình bày của chúng tôi và của quý vị.

Tiếp theo, chúng tôi thuyết trình về hai dự án và đề xuất phương án hành động. Đây là lần thứ ba chúng tôi trình bày trước tập thể công cộng và luôn có đính kèm thêm những bản tin, thư gởi qua điện thư cho tất cả các hội đoàn, tổ chức, cá nhân trong cộng đồng trong khả năng hạn hẹp của riêng bản thân chúng tôi. Như đã bao lần trước sau như một, chúng tôi không xưng danh đại diện cộng đồng, mà chỉ là người dóng tiếng nói để thông báo—ví như người đánh trống la làng khi thấy nhà bị cháy. Còn việc chữa cháy là việc của toàn dân trong làng xóm. Chúng tôi chỉ đấu tranh vì nhận thấy mình là một phần tử thuộc cộng đồng nên cần có trách nhiệm bổn phận, nhưng không hề dám khoác áo đấu tranh cho cộng đồng.

Chuyện cộng đồng là chuyện của tất cả các hội đoàn cũng như cá nhân, chứ không phải một hội đoàn hay một cá nhân được “ủy nhiệm”. Trách nhiệm riêng cá nhân chúng tôi tự khoác lấy áo làm người đưa tin–được nhiều chừng nào hay chừng ấy trong cộng đồng–đến đây là chấm dứt. Nay việc đánh trống, báo tin đã hoàn tất. Chúng tôi đã thu xếp dọn dẹp ra về sau khi trình bày xong vấn đề hai dự án thiết kế đô thị. Chúng tôi hoàn toàn không tham gia vào việc “bầu bán”, “đề cử” cho một “ủy ban” nào đó mà quý vị đặt ra.

Chúng tôi tin rằng quý vị cũng như cộng đồng người Việt đã có đủ thông tin, có kế hoạch cũng như nhân lực để bảo vệ quyền lợi của cộng đồng.

Trân trọng kính chào,

Nguyễn Hiếu

Nguyễn Hữu Quỳnh-Trâm

Bản tiếng Anh (English)

Phản bội hay trung thành với lý tưởng?

In Chính trị (Politics), talawas, Thế giới on 2008/01/01 at 08:04

Nguyễn Hiếu

(Gợi hứng từ bài ”Phản bội lý tưởng” của Lê Tất Điều)

Lý tưởng cao cả của Hoa Kỳ là gì? Tự do, Dân chủ? Có phải vai trò của Hoa Kỳ trong thế giới là “mở rộng tự do dân chủ”, “bảo vệ thành trì tự do”, hay “chấm dứt và tiêu diệt bạo quyền, khủng bố và thay thế hận thù bằng hy vọng.” Chúng ta đã luôn được nghe những câu tuyên ngôn hùng hồn và những lời hứa hẹn mỹ miều để củng cố niềm tin mặc định vào một chân lý dường như hiển nhiên không thể chối cãi. Thế nên đôi lúc người ta phải ngỡ ngàng hoặc thất vọng trước những sự kiện trong đường lối và chính sách của Hoa Kỳ, nổi bật nhất là với nội các chính phủ Bush, đi ngược với lý tưởng đó.

Chủ nghĩa lý tưởng (Wilsonian Idealism về chính trị và quan hệ ngoại giao quốc tế) khởi phát vào hai thập niên trong cuối thế kỷ 19 (những năm tám mươi và chin mươi) với lý thuyết hòa bình dân chủ (democratic peace theory) tôn trọng nguyên tắc tự chủ quốc gia (national self-determination principle). Chủ thuyết này chưa kịp lớn mạnh thì rơi vào khủng hoảng sau hai Thế chiến I và II, qua đó các nước tư bản đồng minh tranh giành, xâu xé thuộc địa từ các Đế quốc Hung-Áo, Đức, và Ottoman (Thế chiến I) và phát xít Đức (Thế chiến II). Chủ thuyết này rốt cuộc bị lấn áp và rút ruột để được nhét vào cốt lõi của chủ nghĩa tân thuộc địa (neo-colonialism), qua đó tư bản đế quốc có cái bình phong che đậy những chính sách gián tiếp bóc lột, khai thác, chiếm hữu tài nguyên các quốc gia yếu kém. Ngay chính Wilson sau khi đạt ghế Tổng thống cũng đã bị quyền lực của giới tư bản và quyền lợi riêng nước Hoa Kỳ áp lực đi trệch lý tưởng do chính ông khởi xướng. Wilson đã dùng quân lực thay đổi chế độ ở Nicaragua, kiểm soát trực tiếp Haiti và Dominican Republic, cũng như phong toả hải phận xâm lấn Mexico. Ngay sau Thế chiến I ông cũng đã phá lệ, thuận tình cho Pháp và Anh giữ lại các nước thuộc địa thay vì để các nước này đạt được độc lập, tự chủ. [1]

Chính sách của Hoa Kỳ trong vòng 100 năm qua đặt trọng tâm vào sự bành trướng khu vực ảnh hưởng, mở rộng thị trường theo chủ thuyết tư bản, tân thuộc địa, tân tự do (neo-liberalism) dưới chiêu bài tự do và dân chủ. Hoa Kỳ đã và luôn sẵn sàng dùng mọi biện pháp để tạo một môi trường “tự do” thương mại với điều kiện hết sức thuận lợi cho các tập đoàn tư bản nước Mỹ. Hoa Kỳ đã từng gây chính biến lật đổ các chính thể dân chủ xã hội, dân chủ nhân dân, cộng hòa hoặc can thiệp quân sự khắp nơi từ các nước Nam Mỹ (Chile, Guatemala, Colombia, Nicaragua, El Salador, Mexico v.v.) đến vùng Vịnh (Iran, Iraq, Bahrain) và châu Phi, dựng lên những chế độ độc tài, quân phiệt, hoặc quân chủ tộc quyền.

The overall history of US activity in Africa during the cold war reads like a litany of anti-Wilsonian practices justified in the name of containing communism. This included US support of such brutal dictators as Mobutu, Moi, Barre, Nimieri, and Selassie, whose human rights records were among the worst in Africa. Billions of dollars were spent to roll back communism. Indeed, US weapons played major roles in conflict situations in Angola, Ethiopia, Liberia, Zaire (now the Democratic Republic of Congo-DRC), Namibia, Somalia, Sudan, Uganda, and Sierra Leone. [2]

Tổng thể lịch sử về hoạt động của Hoa Kỳ tại châu Phi trong thời chiến tranh lạnh viết nên một chuỗi dài những hoạt động phản-lý-tưởng được biện hộ với danh nghĩa ngăn chặn cộng sản. Hoa Kỳ ủng hộ những nhà độc tài tàn bạo như Mobutu, Moi, Barre, Nimieri, và Selassie, với lý lịch hồ sơ nhân quyền tồi tệ nhất ở châu Phi. Hàng tỉ đô-la chi dùng nhằm đẩy lùi chủ thuyết cộng sản. Thực ra, vũ khí của Hoa-kỳ đóng vai chính trong những xung đột tại Angola, Ethiopia, Liberia, Zaire (hiện tại là Cộng hoà Dân chủ Congo), Nambia, Somalia, Sudan, Uganda, và Sierra Leone.

Thử nghe những nhận định của Woodrow Wilson về Hoa Kỳ ở thập niên của đầu thế kỷ 20 và so sánh với bây giờ. Thực sự không có gì đổi khác ngoại trừ mức độ trầm trọng hơn, tư bản tập trung hơn, kỹ thuật tuyên truyền che dấu tinh tế hơn. Hoa Kỳ luôn trung thành lý tưởng mở rộng thị trường “tự do” cho đại tư bản siêu cường quốc.

“American free enterprise is not free…Why? Because the laws of this country do not prevent the strong from crushing the weak.” (Thương trường tự do Hoa Kỳ không có tự do … Tại sao? Bởi vì luật lệ nước này không ngăn ngừa kẻ mạnh đè bẹp người yếu.)

“The government, which was designed for the people, has got into the hands of their bosses and their employers, the special interests. An invisible empire has been set up above the forms of democracy.” (Chính quyền này thay vì nhân dân, đã rơi vào tay những tên xếp và chủ nhân, những đặc quyền thiểu số. Một đế quốc vô hình đã được thành lập trên đầu những hình thức dân chủ.)

“Why, my fellow Americans, is there any man here or any woman – let me say, is there any child here – who does not know that the seed of war in the modern world is commercial and industrial rivalry.” (Tại sao, hỡi đồng bào của tôi, quý ông hay quý bà, hay thôi, có trẻ con nào ở đây mà không biết rằng mầm mống của chiến tranh trong thế giới hiện đại là tranh chấp thương mại và kỹ nghệ.)

Hãy nghe lời than trách của ông Elie Weisel, người được trao giải Nobel hòa bình và cũng là nhân chứng sống sót từ Holocaust, trong bài diễn văn “Hiểm họa của sự dửng dưng” [3] ở phòng Đông tại Bạch Ốc tháng 4 năm 1999 khi nhắc lại chuyện tàu St. Louis chở hơn 1.000 người Do Thái trốn phát xít Đức đến Hoa Kỳ bị từ chối cập bến và trao trả lại. Số phận của những người đó ở trong trại tập trung và lò thiêu thì lịch sử đã viết rõ. Ông đặt câu hỏi về thái độ bàng quan của chính quyền Hoa Kỳ và việc các công ty lớn hàng đầu của Hoa Kỳ tiếp tục duy trì thương mãi với Đức Quốc xã cho đến 1942 (tài liệu dẫn đến kết luận nếu không có sự tiếp tay của tư bản Hoa Kỳ cung cấp dầu thì Đức không thể đánh chiếm Pháp).

Lợi dụng cơ hội những cường quốc khác bị suy sụp sau Thế chiến II, Hoa Kỳ dùng sức mạnh quân sự và tư bản tập trung để củng cố địa vị trở thành siêu cường độc nhất trên thế giới. Họ khai thác tuyệt đối thị trường quốc tế đem lại lợi tức vượt trội cho các đại tư bản Hoa Kỳ rồi nhỏ giọt xuống các tầng lớp kinh tế xã hội dưới thấp. Người dân được hưởng một số quyền tự do căn bản, có chút phúc lợi xã hội, đạt mức thu nhập và tiêu chuẩn sống cao. Hoa Kỳ cho người dân cảm thấy thoải mái với đời sống riêng và ru ngủ họ với lối sống tiêu thụ, tha hóa, vị kỷ. Phần lớn dân chúng trở nên thờ ơ, dửng dưng với những cuộc tàn sát, chiến tranh diệt chủng, chết chóc, nghèo đói, huỷ hoại môi sinh ở các quốc gia khác, kể cả do hệ quả của chính sách đế quốc bá quyền miễn sao tỉ lệ thất nghiệp thấp, giá cả hàng hoá rẻ, và được an toàn trong nội địa mình.

Thêm nữa, hệ thống lưỡng đảng (kể như là độc quyền) với tài trợ của giai cấp tư bản phú trọc, của các đại công ty và giới vận động hành lang (lobbyist) cho những đặc quyền thiểu số (special interests) đã làm cho dân chúng cảm thấy bất lực không có khả năng thay đổi gì được. Họ nghĩ và tin vào đó để rồi dùng nó bào chữa cho thái độ dửng dưng không dính líu đến chính trị, dân chủ, xã hội. Tuy nhiên cũng có một số công dân tích cực hoạt động công bằng xã hội và hòa bình, dóng chuông kêu gọi đám đông tham gia thực thi dân chủ. Điển hình là thành viên “Trung tâm khởi điểm cho Hành động bất bạo động” (Ground Zero Center for Non-violence Action) diễn hành đến căn cứ hải quân Bangor (Bangor Naval Base) trong ngày lễ Martin Luther King để phản đối và đòi hỏi giải giới vũ khí hạt nhân (abolish nuclear weapons), hoặc nhóm “Lake Forest Park cho hòa bình” (Lake Forest Park for Peace) diễu hành cho hòa bình tại Seattle, tiểu bang Washington để phản đối cuộc chiến Iraq.

Ground Zero Center for Non-violence Action – MLK 2007

Người Việt tha hương ở hải ngoại khởi đầu có tâm trạng vừa hận Mỹ đã chạy bỏ rơi đồng minh dưới sự đày đọa của cộng sản Việt Nam, vừa mang ơn được cứu vớt, dung dưỡng. Tâm trạng mang ơn phổ biến trong tầng lớp có công ăn việc làm ổn định, sở hữu nhà cửa, cuộc sống sung túc so với tầng lớp nghèo bản xứ. Thật khó lòng để chỉ trích đường lối và chính sách của chính quyền khi họ “cho” dung thân và việc làm, “tạo” điều kiện học hành, cơ hội thăng tiến, “bảo vệ” khỏi hiểm họa khủng bố, chiến tranh trên đất nước. Thêm nữa huyền thoại “cứu vớt và giải phóng” (“rescue and liberation” [4] ) được nhắc đi nhắc lại qua bao lần nên khó bỏ ngoài tai.

Không biết cái tên “tị nạn” (refugee) gán ép cho mình có ảnh hưởng gì đến cách suy nghĩ và lối sống? Phải chăng cái tên “tị nạn” ấy làm cho mình lúc nào cũng có cảm giác ở trong trạng thái sống còn (survival mode) nên chỉ nghĩ đến sự sinh tồn và an toàn cho bản thân và gia đình không? Có nên tự cởi trói khỏi định danh hạn hẹp “tị nạn” ấy để hành xử, không chỉ với tư cách là công dân một nước nhưng là một thành viên xuyên quốc gia (transnational), mạnh dạn tham dự vào những hoạt động dân chủ, tự do, công bằng, bình đẳng cho mọi người.

Martin Luther King Day 2007 – Walk for Peace

Milan Kundera mở đầu tiểu thuyết “The book of laughter and forgetting” bằng câu “cuộc đấu tranh của con người chống lại quyền lực là cuộc đấu tranh của ký ức chống quên lãng.” (“the struggle of man against power is the struggle of memory against forgetting.”). Trong cuộc tranh đấu dân quyền, nữ quyền chống kỳ thị màu da, kỳ thị giới tính, bell hooks cũng nói “cuộc đấu tranh của chúng ta là cuộc đấu tranh cho ký ức khỏi xóa nhoà” (our struggle is the struggle of memories against forgetting) [5]. Lẽ nào nguyên nhân cơ bản và hệ quả của cuộc di dân lớn nhất trong lịch sử Việt Nam lại bị xoá khỏi ký ức chúng ta?

Không thể để ký ức xóa mờ chính sách bành trướng đế quốc Hoa Kỳ dưới chiêu bài ngăn chặn hiểm họa Cộng sản. Không thể quên hàng triệu người dân Việt chết bên hai chiến tuyến. Không thể quên độc tài Cộng sản đày đọa hàng trăm ngàn người trong lao tù “tập trung cải tạo.” Không thể bỏ quên phong trào đấu tố trong Cải cách Ruộng đất, đàn áp Phật giáo, thảm sát Mỹ Lai, thảm sát biến cố Tết Mậu Thân, chiến dịch Phượng Hoàng.

Chúng ta phải nhắc nhở nhau để ký ức tập thể (collective memories) không bị xóa nhòa, để đấu tranh chống lại bạo quyền dưới bất cứ hình thức hoặc chiêu bài nào. Nhất là không thể dửng dưng với quyền lực đang vẫn áp đặt trên hai đất nước (Việt Nam, Hoa Kỳ).

“To take seriously Vietnamese standpoints on the war and its aftermath is to critically examine the relationship between history and memory, not as facts but as narratives. Like other communities in exile, Vietnamese in the United States feel keenly the urgency to forge unified histories, identities, and memories. Against this moral weight of ‘the community,’ we need to ask what happens to events that cannot be narrated.” [6]

(Để nhìn nhận nghiêm túc những quan điểm người Việt về cuộc chiến và hậu quả của nó thì phải xem xét nghiêm khắc mối quan hệ giữa lịch sử và ký ức, không phải như những sự kiện riêng biệt mà là những câu chuyện nối kết. Cũng như các cộng đồng tha hương khác, người Việt ở Hoa Kỳ cảm thấy sự cấp bách mãnh liệt phải tạo dựng lịch sử thống nhất, bản chất, và ký ức cho mình. Dưới gánh nặng đạo đức của “cộng đồng”, chúng ta cần hỏi cho ra lẽ những sự tình không thể thuật lại.)

Những gì được chia sẻ, bàn thảo trên diễn đàn này giới hạn ở tầm nhìn trên góc độ khác nhau. Nó chỉ là một cuộc tập diễn trí tuệ (intellectual exercise) đơn thuần. Công việc thiết thực hơn là đóng góp và tham gia trực tiếp vào những hoạt động tùy theo khả năng ở tầm tay và quan tâm riêng ngay tại địa phương hoặc rộng lớn hơn. Nếu không chúng ta sẽ trở thành người quá thích nghi với sự bất công (“The last thing one wants to see [is] people who are well adjusted to injustice” ).[7]

© 2007 talawas, http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9218&rb=0402

CHÚ THÍCH:

[1]John Thompson, Woodrow Wilson, (New York: Pearson Education Limited, 2002)

[2]Korwa G. Adar, The Wilsonian Conception of Democracy and Human Rights: A Retrospective and Perspective, African Study Quarterly – The Online Journal for African Studies.

[3]Ellie Wiesel,The Perils of Indifference, April 12, 1999.

[4]Lisa Yoneyama, “Liberation Under Siege: U.S. Military Occupation and Japanese Women’s Enfranchisement,” American Quarterly 57, no. 3 (September 2005): 885-910.

[5]bell hooks, Yearning: race, gender and cultural politics, (Boston, MA: South End Press, 1990).

[6]Yến Lê Espiritu, Toward a Critical Refugee Study: The Vietnamese Refugee Subject in US Scholarship, Journal of Vietnamese Studies, no. 1-2 (Fall 2006): 410-433.

[7]Cornel West, lecture on “Race, Injustice” at Cornell University, April 2006.

Các bài khác trên Talawas:

Bịt miệng nạn nhân

Chúng tôi (Tự trào – Trí Thức – Tâm Tài)

Tôi là người Việt Nam

Thời cửu vạn, ôsin

Lết tới “thiên đường”

Những cái nhập nhằng không tên

Các bài trên Tạp chí Da Màu:

Tháng Tư Câm

Hồn ma và xương khô

Thời cửu vạn, ôsin

In Chính trị (Politics), talawas, Việt Nam on 2007/03/29 at 08:09

Nguyễn Hiếu

Talawas – 29/3/2007

Chưa bao giờ hiện tượng cửu vạn, ôsin lại phổ biến như bây giờ. Người làm công tạm cư có mặt đầy rẫy khắp nơi trên thế giới từ nước nghèo đến nước giàu. Họ được mang những tên khác nhau như làm công nhật (day laborer), làm tạm cư (migrant worker), làm hợp đồng, làm khoán. Họ từ thôn quê lên thành thị, tạm trong lúc giữa mùa hay suốt cả năm. Họ từ nước này sang nước nọ, theo hợp đồng hoặc đi chui. Họ khác nhau về màu da, tiếng nói, nhưng cảnh ngộ đều như nhau. Cảnh nghèo!

Lần đầu tiên về Việt Nam năm 1993 tôi được nghe đến từ “cửu vạn” [1] , hoàn toàn xa lạ với người sinh trưởng ở miền Nam và cắt đứt với dòng sống đó gần 15 năm, rồi được giải thích gốc rễ của từ ấy. Năm 2004, tôi viếng cảnh Sapa ngồi nói chuyện với một cô bán khoai lùi, nếp nướng, cô nói không ngừng nhờ giúp đưa vào Sài Gòn làm “ôsin”, như thể đó là phép màu ra khỏi tình cảnh bế tắc. Tôi nghe và ngầm hiểu theo ngữ cảnh trong câu chuyện và sau này tìm hiểu thêm mới biết Ôsin là tên một cô gái trong một phim truyện nhiều tập của Nhật Bản một thời được chiếu trên truyền hình Việt Nam. Ngày xưa khi tôi nghe nói về cuộc sống của những người phu khuân vác ở bến tàu, những người làm cu-li thời Pháp thuộc, những người ở đợ cho điền chủ là điển hình cho giới cùng đinh, thấp kém, bị bóc lột trong xã hội. Ai ngờ qua thế kỷ 21 những người đó nhiều như những đạo quân. Chỉ riêng Trung Quốc, trong thống kê 2003 có gần 113,9 triệu lao động tạm cư với tỉ lệ 23,2 % tổng số lao động vùng quê. [2]

Cửu Vạn Ôsin

Tại Hoa Kỳ, họ có mặt trong các tiểu bang tập trung vào nông nghiệp, gia súc, xây cất, và dịch vụ không chuyên môn. Đến các nông trại ta thấy họ làm công việc lượm, hái, đóng thùng, chất rau quả. Đến các lò súc sanh gà, heo, bò, họ làm công việc bắt, chặt, gói thịt. Đến các công trường xây cất họ làm việc đào, xúc, khuân, đổ. Đến các nhà ăn họ làm việc dọn, rửa, lau, chùi. Đến các chợ họ làm khuân vác, sắp xếp, dọn dẹp. Đến các trung tâm vật liệu xây cất, sửa sang nội thất ta thấy họ quần áo xộc xệch, ba lô cũ kỹ đứng, ngồi, tập trung ở một góc bãi đậu xe, chờ đợi một cánh tay vẫy đến đón về làm công.

Ở Dubai, một trong bẩy thủ hiến tự trị của Liên hiệp Ả-rập (United Arab Emirates), đổ đồng cứ mỗi công dân quốc gia này là có tám người làm công tạm cư chủ yếu đến từ các nước châu Á, châu Phi và Trung Đông. Họ làm tất cả mọi việc từ trong nhà ra ngoài đường, giao sữa buổi sáng, lau chùi bệnh viện, dọn đổ rác, giữ trẻ, nấu ăn, đổ móng, sửa ống nước, cắt tóc, v.v… ngoại trừ các việc làm ở công sở chính quyền. Nói chung những công việc nặng nề nhất, dơ nhất, nguy hiểm nhất.

Số phụ nữ đi làm ôsin trong nước và xuyên quốc gia cũng không kém gì lực lượng cửu vạn. Đấy là một phương thức giảm đói, một hy vọng và con đường duy nhất thoát nghèo, vì không phải ai cũng có đủ tiền, trí óc, và kiên nhẫn để mua vé cho chuyến xe học vấn ra khỏi tầng lớp nghèo. Số vốn cỏn con nếu có thì cũng để dành ưu tiên cho con trai, còn con gái phải lượm mót phần sót lại. Trong thế giới phụ hệ, phân chia lao động theo giới tính, thì phụ nữ lãnh đủ. Phụ nữ chiếm một nửa của nhân loại, nhưng vẫn là thành phần nghèo nhất của giới nghèo. Họ đóng góp khoảng 2/3 công việc trên thế giới nhưng chỉ được 1/10 lợi tức thu nhập. Họ sở hữu ít hơn 1/100 tổng tài sản. [3] Phụ nữ không chỉ bán sức lao động mà ngay thân thể họ cũng bị dùng như món hàng. Không biết bao nhiêu gia đình đã đem con gái gả, bán, chuộc nợ, gây vốn “hy sinh” cho gia đình (anh trai, em trai, ông bố). Một trong những hệ quả của cửu vạn, ôsin là cấu trúc gia đình, nền tảng của xã hội bị phá vỡ. Con cái của họ phần lớn bị tách rời không thể theo cha mẹ vì điều kiện cư trú, hộ khẩu và phải ở lại với ông bà nơi thôn quê. Ảnh hưởng tâm sinh lý do sự cách biệt đó lâu dài không lường. Vợ hoặc chồng xa cách quá lâu dẫn đến tình cảm nhạt mờ hoặc nhu cầu sinh lý, cô đơn đẩy vào liên hệ ngoại hôn.

Đã qua rồi một thời lo âu (age of anxiety) của thế kỷ 20 và bây giờ là thời sợ hãi (age of fear) của thế kỷ 21. Không còn nữa những lo âu, bất ổn về đối nghịch giữa đế quốc, thuộc địa, tự do, phát xít, và cộng sản. Đây là thời chấm dứt của ý thức hệ (the end of ideology). Cộng sản suy thoái rơi vào thùng rác của lịch sử để còn lại duy nhất một nền kinh tế thị trường của tư bản toàn cầu xuyên quốc gia. Không còn ý thức hệ nên hầu hết các nhà lãnh đạo, chính trị gia sẵn sàng quên (hay từ bỏ) lý tưởng phục vụ xã hội, quốc gia và gắn cho mình chiếc cầu vai thực dụng (pragmatist) để có chân trong thiểu số đặc quyền tư bản. Vấn nạn của thế kỷ này là tư bản toàn cầu và độc tài toàn trị. Cái nào cũng đáng sợ nhưng sợ hơn là khi cả hai liên kết với nhau và người dân “một cổ hai tròng” như theo mô hình Trung Quốc mà Việt Nam nhại lại. Một mặt độc tài toàn trị tạo giai cấp lãnh đạo cai trị với đặc quyền, đặc lợi, không giới hạn, không kiểm soát, trù dập dân chủ, giới hạn tự do. Mặt khác kinh tế thị trường lũng đoạn bởi tham nhũng, co cụm phúc lợi xã hội công cộng, tư nhân hóa giáo dục và y tế công cộng dẫn đến bất công xã hội, đào sâu cách biệt giàu nghèo, gia tăng nghèo đói. Giới lãnh đạo cai trị gián tiếp hay trực tiếp làm nhiệm vụ cò mồi móc túi. Mặt nổi của kinh tế thị trường đầy hàng hoá sung túc không lấp được một nỗi sợ bao trùm. Nhà nước sợ người dân có tự do, dân chủ phản kháng với độc tài toàn trị. Người có tiền do tham nhũng sợ bị tố, hất cẵng. Người làm ăn chân chính sợ sách nhiễu thuế má, vòi vĩnh. Tài xế sợ công an giao thông ghi phạt, giam xe, rút bằng vô lối. Hãng xưởng sợ bị mất giao kèo. Bệnh nhân sợ vào bệnh viện bị đối xử phân biệt nếu không có tiền mặt hoặc bảo hiểm. Học sinh sợ thi không đạt nếu không học tư thêm ngoài giờ. Người làm sợ bị mất việc và giai cấp lao động tê liệt không phản kháng. Một nỗi sợ về tương lai bất ổn, cản trở các toan tính hợp lý, nhất là niềm tin và hy vọng vào tương lai để có động lực chống lại những điều kiện quá quắt không chấp nhận được hiện thời. [4]

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một quái thai sanh ra từ con cái “tư bản toàn cầu bóc lột” dưới nhãn hiệu tự do và con đực “độc tài toàn trị” trên chiêu bài xã hội chủ nghĩa. Dưới chính sách kinh tế hiện nay, tư sản chân chính bị đè bẹp và tư bản đỏ thống trị dẫn đến phân hóa xã hội trầm trọng. Mở rộng thị trường để tự do cạnh tranh, chèn ép, và lừa đảo. Thị trường chứng khoán Việt Nam hiện thời là môi trường cho lừa đảo và công cụ rửa tiền (biến tiền làm ăn phi pháp, tham nhũng thành tiền chính thức) tiện nghi hợp pháp. Đó cũng là một sòng bài hợp thức hoá làm tán gia bại sản như phong trào “chim cút”, “nuôi chó”, trong đó mơ ước hão huyền từ vốn liếng nho nhỏ ăn theo bị cuốn mất trong mê man của cơn sốt bệnh hoạn. Cái bong bóng xà phòng màu sắc lung linh ấy vỡ ngay sau khi lơ lửng vài giây. Không biết định hướng xã hội chủ nghĩa như thế nào nhưng nhà cửa, đất đai của người dân bị trưng mua bồi hoàn với giá vất đi trong khi đất công hữu thì hoặc chia năm xẻ bẩy vào tay riêng hoặc chuyển nhượng cho giới đầu tư với bao bì đút túi. Nhà nước càng ngày càng tư hữu hóa những cơ chế công cộng căn bản góp vào phúc lợi xã hội như y tế, giáo dục, giao thông để dân nghèo phải nhịn cơm mua thuốc, bỏ học đi làm, mất phương tiện di chuyển mưu sinh.

Tại sao đội ngũ cửu vạn, ôshin tăng trên đà gia tốc trong khi chỉ hơn hai chục năm về trước số người làm công nhật lẻ tẻ, rời rạc không tập trung như bây giờ?

Cửu vạn và ôsin là nô lệ thời hiện đại vì “chủ nhân không cần phải chiếm hữu nô lệ mà chỉ cần mướn nô lệ” [5] . Không cần phải đô hộ chiếm đóng về không gian địa lý hoặc về thân thể, mà qua trung gian của thị trường. Kỹ nghệ hoá tạo thặng dư lao động và giới vô sản sẵn sàng cạnh tranh, giành giựt lẫn nhau để kiếm chút cháo. Các nước nghèo kém tranh giành hạn nghạch và điều kiện tối ưu để xuất cảng sang Hoa Kỳ, châu Âu. Việt Nam, Campuchia, Bangladesh tranh nhau ở hàng vải, quần áo. Tương tự ở ngành xuất khẩu tôm, cá Basa, cà phê, tiêu, v.v… Những địa phương sản xuất này được thay đổi như áo lót và sẵn vứt đi như vớ rách. Tư bản toàn cầu xuyên quốc gia nắm giữ phương tiện sản xuất, phân phối, quyết định chỉ số sản xuất, và ấn định giá thành. Giới tiêu thụ được tự do lựa chọn và mua dùng. Những hình thức khuyến mãi tiêu thụ tạo thèm muốn cho giới tiêu thụ, từ người có của cho đến kẻ nghèo khó, từ lúc sơ sinh cho đến khi về trời. Mọi người có cảm giác bình đẳng với nhau và tự do lựa chọn trên mặt bằng tiêu thụ. [6] Nhưng quyền tự do và bình đẳng trên lãnh vực khác thì không thấy đâu. Người làm công tầm tầm vẫn có thể dành dụm mua quần Calvin Klein, ví tay Coach, đeo kiếng Chanel cứ như là người mẫu. Nhưng chỉ cần một tai biến như cơn bệnh nặng của cá nhân hoặc gia đình thì các món hàng sở hữu được đem đi cầm, bán đổ bán tháo, gia nhập vào đám đông nghèo khó không có một phúc lợi xã hội nào đỡ đần.

Việt Nam gia nhập WTO và ký những hiệp ước thương mại trong vùng, đặt chân lên con tàu tốc hành tư bản kinh tế thị trường, nhưng có lẽ đã vào toa sau cùng dành cho người phục vụ. Đội quân cửu vạn, ôsin sẵn sàng thay thế người gục ngã.

Chẳng lẽ dân tộc Việt Nam không đáng được một nhà nước pháp quyền, tự do, dân chủ với cơ cấu phúc lợi xã hội công cộng vững chắc và các tổ chức hiệp hội nông dân, công đoàn, chính trị, tôn giáo, báo chí, truyền thông, văn bút, nghệ thuật độc lập, tự trị, để tiếng nói của mỗi người dân mọi giới góp vào xây dựng một xã hội ấm no, hạnh phúc, và công bằng?

© 2007 talawas

http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=9597&rb=0502

Bài dịch Anh ngữ: The Age of Day Laborer and Housemaid

CHÚ THÍCH:

[1] Hình ảnh nữ ‘cửu vạn’ trong ngày 8/3 (VnExpress.net)

[2] China had 113.9 million migrant workers in 2003 (Xinhua 2004-05-15)

[3]Paul Ekins, A New World Order: Grassroots Movements for Global Change (New York: Routledge, 1992), p. 74.

[4] Pierre Bourdieu, Acts of Resistance – Against the Tyranny of the Market, (New York: The New Press, 1998), p. 82.

[5] Harvest of Shame, 1960

[6] Zillah Eisenstein, global obscenities, (New York: New York University Press, 1998), p. 46.

 

Everyday Life-Global Capitalism_1

Các bài khác trên talawas:

Bịt miệng nạn nhân

Chúng tôi (Tự trào – Trí Thức – Tâm Tài)

Tôi là người Việt Nam

Những cái nhập nhằng không tênThe Unspoken Ambiguities

Lết tới “thiên đường”

Phản bội hay trung thành với lý tưởng?

Đọc tiếp »