vietsoul21

Archive for the ‘Lịch Sử’ Category

BS Hồ Hải – Vật thế chấp chính trị

In Chính trị (Politics), Lịch Sử, Liên Kết, Tạp văn on 2013/08/17 at 11:10

Lời tuyên bố đầy bản lĩnh chính trị của cô gái trẻ Phương Uyên trong phiên tòa ngày 16/8/2013 là một bản án đanh thép đi vào lịch sử ngàn năm của dân tộc Việt Nam với chế độ độc quyền của đảng cộng sản ở Việt Nam

Từ ngàn xưa, khi con người bước ra khỏi cuộc sống của thời cộng sản nguyên thủy bầy đàn, để đấu tranh sinh tồn với hiểm họa vây quanh, cũng là lúc con người biết sử dụng vật thế chấp làm tin trong giao dịch.

Để được ngồi ngôi cao, hưởng ân sủng của thiên hạ, lấy uy tín với thần dân, các vua phong kiến sử dụng con mình để gả cho quốc gia lân bang làm vật thế chấp chính trị, để thực hiện phương án ngoại giao, chờ thời cơ xâm chiếm.

Trong làm ăn giao thương, tài sản cố định là vật thế chấp cho đối phương, ngân hàng để vay vốn làm ăn. Chỉ có những đối tác làm ăn lâu bền, uy tín lớn, tín chấp là một kiểu thế chấp cao cấp nhất của con người tới giờ này.

Nhưng khi xã hội ngày càng phát triển vật thế chấp càng có nhiều hình thức tinh vi hơn. Tinh vi và ác độc nhất vẫn là các chính khách lấy đồng bào mình làm vật thế chấp chính trị trong bang giao. Trong khi họa cũng trút lên đầu dân, mà nguy cũng trút lên đầu dân, còn lộc thì chính khách và dòng họ an hưởng.

Ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới ngày nay, phương án dùng dân làm vật thế chấp để đi buôn chính trị của chính khách. Thời chiến cũng thế, và thời bình cũng thế.

Hoa Kỳ khi muốn lấy lòng toàn thế giới, vật thế chấp của họ gồm cả sức mạnh cứng và sức mạnh mềm. Đã thế, ở đâu có bất ổn, họ sẵn sàng đem tuổi trẻ của họ làm lính viễn chinh đến, với cái gọi là vì tự do dân chủ. Nhưng nếu nhìn về bản chất, những người trẻ lính viễn chinh này không ngoài là vật thế chấp.

Nhìn lại lịch sử Việt Nam 83 năm qua, vừa ra khỏi ách đô hộ thực dân Pháp thì lao vào nội chiến. Hậu quả, hơn 3 triệu sinh linh đã ngả xuống, đến giờ này còn hơn 300 ngàn không tìm được xác, và còn hơn 200 ngàn đã tìm được xác, nhưng chưa rõ họ tên. Những chiến sỹ vô danh ấy, họ sinh ra, và lớn lên, không ai nhớ mặt đặt tên, nhưng họ là vật thế chấp cho ngai vàng của các chính trị gia của cả 3 bên – thắng cuộc, bỏ cuộc, và thua cuộc trong nội chiến kéo dài 20 năm.

Hòa bình lập lại, chưa được yên ấm bao nhiêu ngày. Một nửa bên thua và bỏ cuộc trở thành vật thế chấp để các chính khách bên thắng cuộc tiếp tục nồi da nấu thịt, để người dân thà bỏ thây cho cá, cướp biển, để đi tìm đất sống. Và chỉ vì chính khách kém tầm trong ngoại giao, và mê muội trong men say thắng cuộc. Một cuộc chiến kéo dài 12 năm ở cả 2 biên giới Tây Nam và phía Bắc – 1978 đến 1990. Hàng triệu thanh niên nữa lại ngả xuống, không phải vì chén cơm manh áo của mình và gia đình mình, mà vì sai lầm của chính khách.

Vốn xuất thân từ giai cấp làm cách mạng triệt để nhất, nhờ không có gì để mất – giai cấp vô sản. Họ đã chọn con đường đã và đang đi theo 83 năm qua là con đường tăm tối. Nó đã sụp đổ ngay tại cái nôi sinh ra nó. Nhưng có một nghịch lý cuộc đời là, chính giai cấp vô sản là giai cấp làm cách mạng triệt để nhất, nhưng khi cướp được chính quyền, thì họ lại không có gì để có thể dựng xây đất nước. Thế cuộc buộc họ lại phải quay lại con đường mà họ đã đạp đổ nó – bất công, độc tài và tàn ác còn hơn cả thực dân.

Vì không có gì để dựng xây đất nước, và con đường đã chọn tăm tối ấy, họ lại quay sang lấy biên cương lãnh thổ, tài nguyên và cả đồng bào mình làm vật thế chấp cho việc bang giao.

Khi vào WTO và muốn ra khỏi các nước nằm trong danh sách các nước đặc biệt bị quan tâm – Country of Particular Concerns, gọi tắt là CPC – một số nhân vật bất đồng chính kiến như Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Linh Mục Ngô Quang Kiệt, giáo dân Thái Hà, các luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Lê Quốc Quân, Lê Trần Luật, v.v… để làm vật thế chấp trong đàm phán bang giao. Họi được thả và giảm án.

Sau khi vào được ra khỏi danh sách CPC, và vào WTO cùng lúc vào tháng 11/2006, thì tình trạng đàn áp tôn giáo và bắt bớ những nhà bất đồng chính kiến lại diễn ra dày đặt, ngày càng gia tăng từ 2008 đến nay. Cụ thể là tháng 02/2005 Linh mục Nguyễn Văn Lý được giảm án và ân xá, thì đến 18 tháng Hai năm 2007 ông bị bắt và chính thức ngồi tù lại vào ngày 30 tháng Ba năm 2007. Luật sư Lê Quốc Quân cũng trở lại nhà tù vào tháng 12/2012, sau khi bị bắt vào tháng 3/2007, và còn bao nhiêu người khác nằm trong diện sẵn sàng “chờ đợi” làm vật thế chấp cho con buôn chính trị.

Hôm qua, câu chuyện giảm án của Phương Uyên từ 4 năm tù giam còn 3 năm tù treo cộng với 3 năm quản thúc. Với Nguyên Kha giảm án từ 8 năm tù còn 4 năm tù cũng không ngoại lệ là vật thế chấp chính trị trong bang giao. Vì nếu chế độ này đối xử tốt với dân thì cái án của gia đình ông Đoàn Văn Vươn đã không y án sau phiên phúc thẩm! Xem ra chế độ Phong kiến xưa kia tuy vậy mà vua lo cho dân, cho nước hơn nhiều.

Liệu những điều trên các quốc gia bang giao với Việt Nam họ có biết? Chắc chắn và đương nhiên là quá biết, và càng không tin cậy Việt Nam, khi đồng bào Việt Nam bị đối xử tệ thì làm sao họ là ngoại bang được đối xử tốt hơn?

Từ đó cho thấy, chế độ đảng cầm quyền này chưa và sẽ không bao giờ xem dân là gốc, mà luôn là vật thế chấp trong mọi cuộc bán buôn nhơ nhớp của chính trị. Chỉ có ngoại bang có ảnh hưởng đến sinh mệnh sống còn của đảng cầm quyền mới có thể sai khiến được chế độ này làm theo như kiểu con tắc kè đổi nàu để đấu tranh sinh tồn, rồi màu khát máu vẫn là màu của máu.

Một chế độ mà ở đó, xem người dân là vật thế chấp cho con buôn chính trị thì bản chất của chế độ đó như Marx nói – chỉ có súc vật mới quay lưng với nỗi đau của đồng loại, để chăm chút cho bộ lông của mình. Nhưng xem ra súc vật còn có lòng tin với gia chủ của nó được nuôi nấng, vỗ về. Còn với chế độ Việt nam hiện tại niềm tin dân chúng đã không còn 38 năm qua và mãi mãi.

Sức mạnh của một thể chế nhà nước là ở toàn dân, khi niềm tin dân chúng đã cạn kiệt thì, liệu chế độ đó tồn tại được bao lâu? Sức mạnh mềm của một quốc gia là vô hình và vô hạn. Liệu với cách cư xử với đồng bào đã từng vào sinh ra tử cho chế độ như thế thì sức mạnh mềm của Việt Nam có còn?
Nguồn: blog BS Hồ Hải

Cùng đọc lại “Lưu Cầu huyết lệ tân thư” của Phan Bội Châu.

In Chính trị (Politics), Lịch Sử, Liên Kết, Tạp văn on 2013/08/14 at 15:17

 

Cụ Phan Bội Châu viết “Lưu Cầu huyết lệ tân thư” cách đây hơn trăm năm nhưng giờ đọc lại những dòng này những ai còn có chút trí tuệ, lương tâm không khỏi chau mày, rơi lệ.

Lưu Cầu huyết lệ tân thư

(Bức thư viết bằng máu và nước mắt từ đảo Lưu Cầu mới gửi về).

Theo học thuyết của Quảng Trọng, nước có bốn “Duy” (bốn mối lớn). Nói ngược lại thì quốc duy tức là duy quốc (giữ nước). Giữ nước trước hết là giữ quốc thể. Nhưng giữ quốc thể ngày nay thật cũng khó giữ lắm. Vì sao? Quyền bính của nước ta là ở quan lại, nhân dân, tài sản. Nước có quan lại, tức là vị đứng đầu nước (nguyên thủ) có tay chân. Quan lại có nhân dân cũng như tay chân có ngón có đốt. Còn tài sản là huyết mạch của nước, huyết  mạch phải lưu thông trong tay chân ngón đốt, không thể một khắc gián đoạn. Thế mà quan lại ngày nay không phải tự ta truất trắc được. Tài sản ngày nay không phải tự ta vận dụng được. Đại thế sụp đổ khó lòng cứu vãn. Mọi việc đều bị xâm lăng lấn át, ngày càng thêm nặng, dầu muốn vớt vát cũng khó khăn muôn phần.

Nhưng nghĩ cho kỹ thì vẫn có cách làm được. Câu Tiễn đã từng mất nước, vẫn lấy việc thờ Ngô mà diệt Ngô. Nhật Bản là nước nhỏ hèn, vẫn lấy việc chịu lún Anh mà chống Anh. Lão tử nói: “Muốn thu lại, cần trương ra, muốn lấy được cần cho trước”. Binh thư Tá thiên nói: “Mình không đương được, mượn tay người khác, chẳng cần tự mình làm mà vẫn được việc”. Hợp hai thuyết ấy không phải không có cách làm.

Từ ngày nước mất đến nay, sự thế đổi khác, thực là tôi tớ mà danh là chủ nhân. Nói về cục thế, thì là một sự kỳ lạ, từ xưa chưa hề xảy ra. Nói về biến đổi, thì là một điều hổ nhục, từ xưa chưa hề mắc phải. Bọn chúng làm con hổ, nhỏ nước bọt thèm thuồng, người mình làm con cá, vẩy đuôi trốn lui. Động có yêu cầu việc gì thì cho là tốn kém hàng vạn. Bớt điều chúng thích, tiêu việc ta cần, chúng có vui đâu. Sở dĩ chúng còn để ta sống là vì chúng không dám giết chết đó thôi. Bên ngoài để che tai mắt nước khác, bên trong để lừa nhân dân nước ta. Chúng tạm cho ta cái danh giả để chúng giành lấy cái lợi thực.

Nay ta may còn được như thế này thì cũng nên lo tính việc giữ nước (duy quốc), dầu mất bò rồi mới sửa chuồng cũng chưa phải là muộn. Chúng ta nên mưu kín nghĩ xa, rán sức nhọc lòng, ngoài thì cố làm cái việc Câu Tiễn thờ Ngô, trong thì nuôi cái mưu Nhật Bản chịu lún Anh. Khi chưa sinh sự thì phải tự nhún mình nén khí để mua chuộc lòng chúng, phải qua lại thân mật để che tai mắt chúng, tìm trăm cách để lừa dối chúng, hễ chưa nuốt được gan chúng là chưa thôi. Khi đã sinh sự thì viện công pháp quốc tế mà yêu cầu, viện luật lệ nước ta mà tranh chấp, cả trăm miệng đều bẻ lại chúng, hễ chưa chặn được mưu chúng là chưa thôi. Lấy trí khôn và giúp khí mạnh thì dầu phải nhẫn nhục đến đâu cũng nấn ná mà làm; lấy khí mạnh mà đỡ trí khôn thì dầu biện biễn lễ có găng cũng mạnh dạn mà nói. Chúng thấy ta rất đỗi quyết lòng thì cũng phải chiều lòng; chúng thấy ta quả quyết giành thế thì chúng cũng phải nhượng thế. Lòng quyết được thì quyền bính mặc nhiên chuyển về ta, chúng không thể ngăn cản, thế giành được thì quyền bính hiển nhiên trả lại ta, chúng không dám lừa dối. Vua tôi đồng lòng, trăm người một bụng, dầu chúng ngoan cố cũng phải thua ta.

Quyền bính thu về dần thì quan lại lại là quan lại của ta, nhân dân là nhân dân của ta. Do đó, tài sản cũng không thể không phải là tài sản của ta. Rồi thì ta giảm bớt những thứ phù phí vô ích để tiêu vào việc cần kíp; bỏ bớt nhưng hư phí vô dụng để làm những việc thực dụng. Học thuật đổi được thì ta đổi dần, nhân dân nuôi được thì ta nuôi dần, dân khí chấn được thì ta chấn dần. Làm được ba điều ấy, tức là giữ được quốc thể đó vậy.

Trong ba điều nói trên thì chấn dân khí là trước hết. Nhân tài từ nhân dân mà ra, dân khí chấn rồi thì mới nuôi nhân tài được. Học thuật cốt nhân dân noi theo, dân khí chấn rồi học thuật mới đổi được. Sao lại nói đổi học thuật tất phải chấn dân khí đã? Dân khí nước ta bị suy giảm quá tệ. Trước kia sống bình thường đã lâu. Khiếp sợ quen thói, nghe và thấy chật hẹp, tai như điếc, mắt dường mù. Người dưới phải làm điều đê tiện mà không biết hổ, phải chịu sự ô nhục mà không biết thẹn. Người trên lo trang sức cho đẹp mắt, giữ hủ lậu cho yên thân, dẫu có những người thông minh cũng phải chiều theo tập thượng. Nghe một lời nói khác mình thì khiếp sợ như sấm sét, thấy một người làm khác mình thì cho là quái lạ như thấy tuyết và mặt trời (2). Cái tệ ấy buổi đầu là do tính nhu nhược, theo mãi, hóa ngu hèn đến nỗi có tay chân mà không biết làm lụng, có tài sản mà không biết trao đổi, có miệng lưỡi mà không biết trình bày, có núi bể mà không biết vượt bơi, có khoáng sản àm không biết dò lấy, có máy móc mà không biết cho chạy. Thậm chí thấy nhục vua cha mà không biết căm tức, thấy ngoại nhân mắng nhiếc, lừa đùa mà vẫn bằng chân như vại, ngu thật là ngu!

Gần đây phong hội ngày mở mang, thời cuộc ngày thay đổi, gặp cảnh đau lòng khổ tứ mà vẫn không bổ ích cho nỗi thua kém của mình. Các nước Thái tây đâu có hạng người gỗ đá như thế! U mê gàn dở, không chút căm giận, sao mà hèn nhát sút kém đến thế! Phỏng khiến thoắt chốc thay đổi học thuật lập ra qui chế mới thì không khỏi làm cho họ khiếp thấy ngại nghe, sinh ra nhiên nhiễu. Mở mang trí tuệ, họ cho là hiếu kỳ, sửa đổi cho hợp thời, họ cho là trái cổ. Bọn giàu có tài giỏi đã không muốn làm thì những người nghèo dốt trông cậy sao được. Cho nên nói rằng dân khí chưa chấn thì học thuật khó lòng sử đổi.

Muốn chấn dân khí  phải làm thế nào? Cốt yếu là phải tuyệt đường hối lộ để khích lệ lòng liêm sỉ, bớt lệnh áp bức để cổ võ khi cương cường. Hiện nay thói tốt đã mất, việc hối lộ công hành. Lúc đầu chỉ mới mon men lén lút, dần dần thần tiền trở nên vững mạnh, muốn thêm một cấp là được một cấp, muốn thăng một bậc là được một bậc, đồng bạc ném vào, luật nào cũng phá. Cho đến khoa mục là việc to lớn như trời mà người ta cũng dùng tiền chạy chọt, không chút kiêng dè. Người ta chỉ chú trọng việc làm quan và thi đậu, nhờ bất liêm mà được thì còn biết xấu hổ là gì nữa! Huống hồ người dầu non nớt đã có tiền làm cho thành giỏi giang, người dầu dốt kém đã có tiền làm cho thành thông thạo, như thế cần gì phải chịu khó học để cố gắng tiến lên! Con đường hối lộ chưa chặn hẳn thì dân khí không sao chấn được.

Các nước Thái tây cho dân có quyền tự do, người trên có lỗi, dân được phép bắt lỗi, người trên chống dân thì dân được chống lại. Các vua thời trước muốn cùng dân tính việc. Sách Chu Lễ nói: “Hỏi khắp muôn dân” là có ý muốn khuyến khích lòng trung dũng của nhân dân, thấu hiểu việc lớn nhỏ trong thôn xóm. Quan dân như nhau thì dân cần gì phải luồn cúi. Ngày nay giữa quan và dân xa cách như trời với đất. Người bình dân thấy bọn lại thuộc hơn thấy hùm sói, người bách tính đến chốn nha môn khiếp sợ hơn cả con rệp ở khe giường, dầu có oan uổng cũng không chỗ kêu van. Nếu có vài người cứng cổ thì khác nào dùng cái “mâu” đâm vào cái “thuẫn”, thu được cái khí một chút thì mất ngay cái liêm, như thế muốn dân không tự ti sao được! Ôi! Núi sông chưa đổi, quỉ thần còn thiêng, nếu biết đồng bào là ruột thịt thì sao nỡ không thu hút họ để họ phải chạy tới kêu xin nơi cửa người ngoài, khác nào tự ta đuổi cá về vực sâu, sao mà khờ dại đến thế! Nay nên thành thực mở lối kêu van, dứt đường cầu cạnh, thắt chặt tình trên dưới, mở rộng đường thẳng ngay, làm cho công luận vững như sắt đá, chính lý sáng từ cổ kim, búa rìu không uy hiếp nổi, uy quyền không đe dọa được. Quan dưới như thế, quan trên tất phải theo. Quan trên như thế, người ngoài tất phải chiều. Lẽ phải rõ rệt, không ai mạnh ai hèn, dân chúng lâu ngày sẽ cho là thường, dẫu muốn bắt họ quì lụy luồn cúi cũng không thể được…

Còn muốn thay đổi đầy đủ hơn nữa thì phải dùng những ký thuật: Thuật thứ nhất là mở mang công dịch. Xét ra dân ta mà trí khéo không nẩy nở ra được, nào có phải bản chất họ không thông minh đâu, chẳng qua chỉ vì cái khí ươn hèn lười biếng. Hiện nay cầu sắt, đường sắt và các sở nhà máy có thể thuê dân làm. Nếu quả muốn mở mang công dịch thì nên trả công thuê khá cao để người nghèo đói được nhờ. Nghiêm mệnh lệnh làm công, rộng điều lệ làm công, bắt bọn nhà giàu cũng phải làm, không được trốn tránh. Lại cần nghiêm sức những người thừa hành phải lấy công tâm mà làm việc, không được ăn bớt tiền thuê nhân công bỏ túi cho đầy, không được viện lệ vu vơ câu nệ mà làm khó dễ. Có thế thì người nghèo tập quen thói cần cù và người giàu cũng sinh lòng phẫn nộ. Tập cần cù thì khí được luyện, sinh phẫn nộ thì khí được trương. Đã luyện và trương tất không chịu lún người khác.

Kỹ thuật thứ hai là nắn sửa cái hại của phép đánh thuế. Thuế nào có hại cho dân nghèo thì giảm và giảm thêm mãi. Như các loại chè, muối, cá, rau, dân nghèo không có đủ thì đánh thuế nhẹ để đỡ sức dân. Thuế nào có hại cho nhà giàu thì tăng lên và tăng thêm mãi. Như các loại nha phiến, lò rượu,  vốn đặt lãi, nhà cho thuê, chỉ nhà giàu mới có, thu thuế nặng tất họ phải oán, mà họ oán thì qui lỗi cho người ngoài (tức thực dân thống trị) và gợi lên lời chê phiền nhiễu độc ác. Đỡ sức dân thì có lợi cho ta và do đó dân quen theo ta. Gợi lời chê (người ngoài) thì có thiện cảm với ta và do đó ta được thêm thuận lợi.

Những kỹ thuật nói trên là nhằm mục đích mượn tay người ngoài làm để ta thu kết quả. Bọn người ngoài chỉ cầu lợi. Dân nghèo muốn thu ít thì bớt thu, nhà giàu ghét thu nhiều thì tăng thu, chúng nghe lấy làm thích mà ta thì đạt được cái trí. Việc gây thù oán của bọn phú hào, việc luyện khả năng cho đám dân nghèo ấy là một cách thừa cơ mà lợi dụng, chắc chắn làm được. Các thày thuốc thường nói: “Khai thông cái muốn thông, ủng tắc cái muốn tắc” ấy là thượng sách.

Như thế là chấn được dân khí, mà dân khí có chấn thì mới tuyển được những người tài giỏi để dạy cho họ cái học hữu dụng và bỏ cái học hư văn, vẫn tôn trọng cái tốt của sách thánh hiền phải phụ thêm việc học học của Thái tây. Việc thi cử lập qui chế mới, chứ không thi văn suông. Việc chọn nhân tài thì nghiêm phòng cái lối chạy ngoài mà không câu nệ lời khen tục sáo. Học thuật đã tiến thì bỏ bớt thường lệ để bạt dụng những người tài năng ở miền thảo dã, phớt qua cấm lệ để thu hút những người kỳ tài ở nơi núi rừng. Cấp học bổng xuất dương du học thật hậu để giúp thành công; tìm tài ngoại giao cho tinh để khuyên cố gắng. Như thế là nhân tài được nuôi dưỡng. Những người nay đang ở thấp là nhân tài tương lai, những người nay đã lên cao là nhân tài hiện tại. Nhờ có họ giúp sức thì mới thực hiện được những điều nói trên.

Trong khoảng trời xanh bát ngát, bể thẳm mênh mông (tức là trong nước), chắc chắn cũng có những người gánh được cái việc tối đại của nghìn muôn đời, lập nên được cái công tối gian khổ của nghìn muôn năm và đương lấy được cái nhục tối hiếm tối lạ của nghìn muôn thuở. Có được những người ấy thì quyền bính sẽ thu về được, quan lại sẽ truất trắc được dân dân sẽ sử linh được, tài sản sẽ vận dụng được. Lúc bấy giờ, muốn chấn dân khí thì dân khí ngày càng cao vọt, muốn nuôi nhân tài thì nhân tài ngày càng thịnh đạt. Cái thành công của Câu Tiễn, Nhật Bản chỉ ngẩng đầu mà đợi. Nhờ vậy có thể nói chắc rằng, huyết mạch sẽ đầy đủ, tay chân ngón đốt sẽ béo mập và vị đứng đầu nước sẽ vững vàng như núi Thái Sơn. Bằng không làm theo lời bàn trên thì chẳng khác đem cho nhà người ngoài cư trú, làm tôi tớ cho người ngoài sai khiến, hiến tài sản cho người ngoài tiêu dùng, hơn thế nữa, đem thê thiếp và con gái cho người ngoài làm vợ, còn trách gì được ai! Còn trách gì được ai!…

(1903)

Lê Thước dịch

Nguồn: blog thôn Sấu

Tương Lai – Nghĩ về hiện tượng Trần Độ

In Chính trị (Politics), Lịch Sử, Tạp văn, Việt Nam on 2013/08/08 at 11:37

Nói như vậy, vì người viết muốn nhìn ra ở đây “một hiện tượng lịch sử” có ‎ nghĩa biểu tượng.

Lịch sử đi tới theo đội hình hình thoi chứ không “dàn hàng ngang mà tiến”. Bao giờ những người đi trước cũng thuộc số ít. Càng ít hơn nữa là những ngươi có tầm mắt vượt lên phía trước, nhìn thấu được những điều mà nhiều người đồng hành chưa nhìn ra, hoặc nhìn nhưng chưa thấy, hoặc thấy nhưng chưa rõ. Và càng sát cái điểm đầu chóp hình thoi ấy thì càng đơn độc! Trần Độ là một hiện tượng, đúng hơn, là một bằng chứng rất sống động về sự “đơn độc của tia chớp” đang dẫn dắt suy tư của người viết nhân ngày mất của ông, 9. 8. 2002.

Nhận thức là một quá trình, điều này chẳng có gì mới đáng nói. Cái đáng nói hơn vào thời điểm này là: với sự kiểm nghiệm của thời gian, có những con người đã trở thành một  hiện tượng lịch sử vì nó là biểu tượng sống động về sự oái oăm của lịch sử trong nhận thức về lịch sử. Mà trớ trêu thay, chính sự oái oăm đó làm nên lịch sử. Làm nên bằng chính cái tầm vươt lên phía trước ấy. Chẳng thế mà Voltaire từng khuyến cáo rằng “Lch s không nên đ cp đến s thăng trm ca các ông vua mà là trào lưu tiến hoá ca dân tc, không nên đ cp đến tng quc gia riêng r mà là toàn th nhân loi, không nên đ cp đến chiến tranh mà là đ cp đến s phát trin ca tư tưởng. Nhng trn đánh, nhng đoàn quân chiến thng hoc chiến bi, nhng thành ph b chiếm đi hoc ly li là nhng s kin quá tm thường, không nói lên điu gì quan trng. Điu quan trng là con người sng và suy nghĩ như thế nào qua các thi đi… qua nhng giai đon nào con người đi t trng thái man r đến trng thái văn minh”.* 

Không hiểu có phải lẩn thẩn không mà người viết bài này những cứ muốn bạo gan đặt ra câu hỏi với nhà Khai sáng Pháp : liệu dưới tác động nào đó, trong một thời đoạn đau thương nào đó, có thể có quá trình ngược lại, một cơ chế phi lý‎ đẩy con người đi từ trạng thái văn minh trở lại với trạng thái man rợ ? Trần Độ có bốn câu thơ dưới dạng “tự bạch” :

Nhng mơ xoá ác trên đi

                                            Ta phó thân ta vi đt tri

                                         Ng ác xóa ri thay cc thin

                                           Ai hay, biến đi, ác luân hi.

Liệu nỗi niềm “ ai hay, biến đi, ác luân hi” có chút bóng dáng nào của cái cơ chế phi lý kia không? Vì rằng, nếu cứ nhìn về nhân thân và sự nghiệp theo một nếp hằn rất chi là “lập trường quan điểm” từng chi phối đời sống tinh thần xã hội gần hai phần ba thế kỷ nay, thì con người này là một mẫu mực sáng giá, một điểm son chói lọi trong những trang sử hiện đại : Đi làm cách mạng từ năm 16 tuổi, vào đảng năm 17 tuổi, vào tù, cắn răng chịu tra tấn trong các nhà tù đế quốc , vượt ngục về hoạt động bí mật vào những ngày “tiền khởi nghĩa”, góp phần vào Cách Mạng tháng 8.1945, đảm nhiệm vai trò chính ủy Mặt trận Hà Nội “cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh” những ngày Thủ đô rực lửa năm 1946, tiếp đó là chính ủy trung đoàn, chính ủy đại đoàn, chính ủy quân khu, rồi phó chính ủy và phó bí thư quân ủy, được phong hàm thiếu tướng rồi trung tướng, được bầu làm Phó Chủ tịch Quốc hội, ủy viên BCHTƯĐCSVN, Trưởng ban văn hóa văn nghệ TƯ.

Dù được quy chiếu theo những hệ thống giá trị nào thì cuộc đời dấn thân hết mình cho tổ quốc, nằm gai nếm mật, vào tù ra tội, luôn đứng ở mũi nhọn của cuộc chiến tranh cứu nước, con người này có một cuộc sống thật đẹp! Càng đẹp theo kiểu “ta phó thân ta vi đt tri” chứ không chỉ vì những chức vụ, danh vọng mà ông có được bằng sự dấn thân kia !

Ấy thế mà khi con người ấy nằm xuống, người ta quyết không cho cuộc đời “thương tiếc” ông. Dùng một con rôbốt vô hồn để thực hiện một công vụ táng tận lương tâm là kể tội ông trong điếu văn đọc trước linh cữu người quá cố, người ta đã chà đạp lên truyền thống “nghĩa t là nghĩa tn” trong đời sống dân tộc. Cái đáng sợ nhất, khủng khiếp nhất chính ở chỗ này đây.

Một giải pháp vô văn hóa, phản tâm linh được thực thi một cách triệt để theo lối “đào tn gc, trc tn r” khi người ta “trả nghĩa” cho ông “Trưởng ban Văn hóa Văn nghệ Trung ương” của đảng bằng hành động vô văn hóa đó. Một hành động được hoạch định kỹ càng và đóng dấu ở nơi cao cấp nhất! Từ cách công bố tin ông mất sát kề ngày tang lễ để đồng chí, đồng đội của ông không đến kịp nhằm giảm tối đa số người “thương tiếc” ông tại nhà tang lễ đến chuyện xé bỏ những băng tang đính trên vòng hoa nếu có chữ “vô cùng thương tiếc” và rồi bài điếu văn phản nhân văn, ráo cạn nhân tình không tiền khoáng hậu đi vào lịch sử như một vết nhơ không sao xóa mờ đi được!

Xin chen vào đây một mẩu chuyện : vòng hoa của người viết bài này nhờ một người bạn vốn là lính của tướng Độ mang đến nhà tang lễ. Hai vị CA chặn lại, yêu cầu gỡ bỏ mấy chữ “Vô cùng thương tiếc” .Vị cựu chiến binh là thương binh chiến đấu ở chiến trường Miền Tây cố làm nhẹ sự căng thẳng bằng một đề nghị hóm hỉnh :” thế tôi sa li là “thương tiếc va va đng chí Trn Đ nhé“. CA trừng mắt, quát. Xô xát có cơ xảy ra vì anh thương binh “quân của tướng Độ” đã xắn tay áo. Ánh mắt đang đổ dồn về đây. Một vị đeo lon trung tá vừa lịch lãm vừa xử sự rất “có nghề” đã nhanh chóng xin lỗi người cựu chiến binh, vừa gạt tay thuộc cấp định gỡ vòng hoa, rồi mời người cựu chiến binh mang nó cùng đi. Nhưng khi đến gần bậc thềm nhà tang lễ thì anh ta nói ” theo quy đnh, chúng tôi phi trc tiếp chuyn vòng hoa, đng chí c đng đây“. Thế rồi y nhấc bổng vòng hoa đi vòng ra phía sau, mất hút!

Gọi điện kể lại, người cựu chiến binh tự hào là “quân ca tướng Đ” đó an ủi : “thôi chú , thế là mình cũng đã th hin được tm lòng và ý chí trn nghĩa vn tình vi ông y, người s đi vào lch s. Đến vòng hoa ca Đi tướng Võ Nguyên Giáp mà chúng nó cũng đòi bóc, đi tá Huyên quyết lit đu tranh, cui cùng cũng đành ch còn hai chthương tiếc“, phi b hai chvô cùng” trên vòng hoa tang ca bc công thn, người anh c ca quân đi c H gi viếng mt v tướng tng ch huy Mt trn quyết t ca Hà Ni m đu cuc chiến tranh gi nước đ ri có mt trên tt c các mt trn nóng bng nht cho đến khi kết thúc chiến tranh, mà chú!

Có thể ai đó khi hạ lệnh gỡ bỏ những dòng chữ “vô cùng thương tiếc” trên vòng hoa tang đã cạn nghĩ, hoặc mê muội trong nguyên lý khủng khiếp từng thuộc nằm lòng về sự chuyên chính đối với kẻ thù giai cấp, đã không lường trước được hệ lụy cũng khủng khiếp không kém của quyết định dại dột bất cận nhân tình ấy. Trong tâm thức của dân tộc, vết nhơ kia sẽ không có cách gì rửa sạch được. Và nếu như ông cha ta dạy “gươm dơ ly nước làm sch, nước dơ ly máu làm sch” thì rồi đây lấy gì để rửa vết nhơ lịch sử kia đây? Xét cho cùng, vết nhơ lịch sử này chính là ni đau văn hóa.

Đây là điều mà M.Gorki, một thời được mệnh danh là “nhà văn vô sản vĩ đại” từng chiếm lĩnh trọn vẹn các giáo trình lý luận văn học của các trường đại học và sách dạy phổ thông ở nước ta đã từng quyết liệt cảnh báo ngay từ những năm 1917-1918 [đương nhiên là người ta dấu nhẹm sự cảnh báo này] : “Cách mng đã đánh đ nn quân ch, điu đó đúng! Nhưng điu đó có l cũng có nghĩa rng cuc cách mng đã mang chng bnh ngoài da vào bên trong ni tng. Người ta không được phép tin rng cách mng đã cha tr và làm phong phú cho nước Nga v mt tinh thn. Chính vì vậy, M.Gorki viết : “Đi vi tôi, li kêu gi T quc lâm nguy cũng không đáng s hơn li kêu gi Hi các công dân! Văn hóa b lâm nguy”!**

Sư suy thoái đạo đức đích thực, chứ không phải sự gán ghép tùy tiện do sự lú lẫn đầy ác ý, là biểu hiện dễ thấy của “s lâm nguy” này. Sự lâm nguy bắt đầu từ khi người ta “đã mang chng bnh ngoài da vào bên trong ni tng” của cả dân tộc. Càng nguy hiểm hơn khi, thay vì “phi được trui rèn trong ngn la cháy không bao gi dt ca văn hóa, tinh thn nô l đã hn sâu trong nó phi b ty sch đi“, thì người ta làm ngược lại, tàn phá văn hóa.

Sẽ quá dài nếu phải liệt kê ra đây sự tàn phá đó khi mà chỉ lẩy riêng ra “mt hin tượng Trn Đ“, nói chính xác hơn, cách ứng xử với ông Trưởng Ban Văn hóa Văn Nghệ Trung Ương Trần Độ khi ông nằm xuống, cũng đã quá đủ để minh họa một cách sống động về điều này.

Trong một bài gần đây trên tạp chí “Văn Hóa Ngh An” ngày 31.7.2013, giáo sư Nguyễn Minh Thuyết lưu ý‎ rằng : “quan sát trong xã hi, đo đc suy thoái, đúng là chưa bao gi đt nước vào tình trng như hin nay. Nói cách khác, trong lch s ch thi mt mi xut hin nhng chuyn như thế…”. Ông dẫn trong “Hoàng Lê Nht thng chí” lời học trò của L‎ý‎ Trần Quán trả lời thầy khi bị ông mắng về tội bắt Chúa Trịnh Tông nộp cho Tây Sơn : “S thy không bng s gic, yêu chúa không bng yêu thân” để đưa ra nhận định : “Có th nói đó là câu nói đin hình cho s suy thoái…. Còn v các nước, có th nói, nếu so sánh, phi thy là nhng xã hi có hin tượng như thế này là xã hi kém phát trin. Xã hi văn minh cũng có nhng hin tượng này nhưng nó không b rc, không ph biến như thế“….Quả đúng vậy. Nhưng để cho trọn vẹn hơn thì xin mạo muội đề nghị giáo sư Thuyết trích thêm một dòng nữa ở trang 106 trong sách nói trên, con người “la thy phn chúa” ấy rồi “được phong làm Tráng Nghĩa hu thêm chc Trn th Sơn Tây“! Chính cái “được” này mới là động cơ mãnh liệt thôi thúc những chuyện lừa thầy, phản chủ mà giáo sư gọi là “suy thoái” kia.

Những con “rô bốt” vô hồn, dù là cao sang quyền quý, danh gia vọng tộc hay lưu manh chính trị mạt hạng đang nhan nhản khắp nơi, hoặc tác oai tác quái với dân, hoặc lên mặt đạo đức giả đi rao giảng đạo đức lấy đó làm cái lá nho để che đi những xấu xa thối nát quá lộ liễu, hoặc nói một đằng làm một nẻo mất hết liêm sỉ mà dân gian gọi là đã đứt giây thần kinh xấu hổ …xét đến cùng chính là vì cái được ấy! Ngay cả những người đang theo lý thuyết “mắc-kê-nô”, tạm bằng lòng với ngôi nhà vừa tậu, chiếc ô tô đời mới hay cái công ty của con đang làm ăn yên ổn đang xua tay “không muốn động đến chuyện chính trị” thì trong sâu thẳm tâm hồn họ, cái động cơ mãnh liệt kia vẫn đang khởi động.

Xét đến cùng, vâng, xét đến cùng, cái “được” kia, nói chữ nghĩa ra là li ích nhận được từ cái cơ chế sản sinh ra những “rôbốt” vô hồn kia chính là chất xi măng gắn kết chúng với nhau vì lợi ích, và cái đem lại lợi ích nhanh chóng nhất chính là quyn lc. Trong bài viết cách đây chưa lâu, người viết này đã nói về quy luật này : Quyn lc thúc đy vic m rng vô hn đ quyn lc, và hu như không có đim dng. Nhưng “quyn lc li có xu hướng tha hóa và quyn lc tuyt đi thì tha hóa cũng tuyt đi(Power tends to corrupt and absolute power corrupts absolutely, có người dịch từ “corrupt” là “tham nhũng” trong những văn cảnh nhất định nào đó).Chế độ toàn trị phản dân chủ là nguyên nhân sâu xa cho cái chuyện “quyn lc tuyt đi thì tha hóa cũng tuyt đi ” ấyLiệu lịch sử loài người đã biết có bao nhiêu thứ “quyền lực tuyệt đối” như chê độ toàn trị hiện hành?

Thật ra thì vào cuối những năm 50 của thế kỷ trước, Milovan Dijlas, tác giả của “Giai cp mi“, một tác phẩm viết trong tù  được bí mật gửi ra nước ngoài và được in ở New York năm 1957 từng phân tích rất rành mạch về chyện này :

Đng sinh ra giai cp. Sau đó giai cp t phát trin bng chính ngun lc ca mình và s dng đng như là cơ s đây, mun tr thành ch s hu hay đng s hu thì cn phi len được vào hàng ngũ ca b máy quan liêu chính tr“.

Ông chỉ ra rằng : “Giai cp mi ging như mt hình kim t tháp : đáy to, càng lên trên càng hp dn. Đ đi lên, ch ý chí không chưa đ, còn cn phi hiu và “vn dng lý lun na”, cn phi quyết lit trong cuc đu tranh vi k thù, phi cc k khôn khéo khi xy ra các cuc tranh chp trong ni b đng, phi nm được ngh thut, thm chí tài năng trong vic cng c v trí cho giai cp na“.

Vì thế, “cùng vi vic cng c giai cp mi, khi b mt ca nó càng th hin rõ, thì vai trò ca đng cũng ngày càng gim đi. Ht nhân và cơ s ca giai cp mi đã hình thành bên trong cũng như trên đnh quyn lc ca đng cũng như ca b máy nhà nước. Cái đng tng có lúc là mt t chc sinh đng đy sáng kiến, thì nay, đi vi nhng người cm đu ca giai cp mi, đng đã biến thành mt vt trang trí, càng ngày ch càng kéo vào hàng ngũ ca mình nhng k hãnh tiến, nhng k mun nhp vào hàng ngũ ca giai cp mi và đy nhng người vn còn tin vào lý tưởng ra“.***

“Hiện tượng Trần Độ” liệu có phải là minh chứng sống động về“nhng người vn còn tin vào lý tưởng” bị đẩy ra một cách quyết liệt, quá sức phũ phàng, cạn tàu ráo máng? Mà phải đẩy ra bằng được, vì lý tưởng cao đẹp của con người ấy đang là vật cản cho quá trình “cng c giai cp mi bên trong cũng như trên đnh quyn lc ca đng, cũng như ca b máy nhà nước“.

Chẳng có gì khó hiểu và ví ( bí?) ẩn trong chuyện phũ phàng, cạn tàu ráo máng với Trần Độ. Đây là diễn biến logic về sự tha hóa của quyền lực. Nó đồng thời cảnh báo một nguyên lý sẽ được đẩy tới ngày càng hung dữ và bất chấp đạo lý cũng như luật pháp : quyền lực tuyệt đối thì tha hóa cũng tuyệt đối! Chuyện chà đạp lên đời sống tâm linh trong đạo lý nghĩa tình dân tộc chẳng là gì so với chuyện củng cố bộ máy quyền lực khi “cn phi quyết lit trong cuc đu tranh vi k thù, phi cc k khôn khéo khi xy ra các cuc tranh chp trong ni b đng, phi nm được ngh thut, thm chí tài năng trong vic cng c v trí cho giai cp mi đang nm quyn”!***

Thế thì làm sao chấp nhận được một ủy viên trung ương đảng, một phó chủ tịch Quốc hội, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, lại đòi hỏi :” Đng Cng sn phi t mình t b chế đ đc đng, toàn tr, khôi phc vai trò, v trí vn có ca Quc hi, Chính ph. Phi thc hin đúng Hiến pháp, tc là sa cha các đo lut chưa đúng tinh thn Hiến pháp. Đó là phi có nhng đo lut ban b quyn t do lp hi, lp đng, t do ngôn lun, lut báo chí, xut bn. Sa cha các lut bu c ng c t do, t b quyn quyết đnh ca cơ quan t chc Đng…”.

 

Càng không thể nào dung nạp được một cách tư duy quyết liệt khi vạch ra rằng :” Không nên lm dng ch cách mng. Ta bây gi không phi là cách mng chng ai c, không phi đánh đ ai c. Xây dng hoà bình thì phi đoàn kết, có gì tr ngi thì hoá gii nó đ tiến lên…không th lúc nào cũng phi có chương trình hot đng cách mng, lúc nào cũng phi hành đng cách mng…

 

Chính quyn bây gi không phi là chính quyn cách mng. Điu đó ch có ý nghĩa khi cách mng va mi thành côngNgày nay chính quyn phi là chính quyn xây dng. Chính quyn xây dng thì phi có nhng ch trương, chính sách làm cho mi người dân đu được t do làm ăn. Và t đó người dân phi có t do nói, t do tìm thông tin và trao đi thông tin. Như thế t do làm ăn mi thc hin được…  rt nhiu nơi, nhiu lúc, không cn đến cách mngNhưng tt c các nơi đu cn có t do, và ln nht là t do làm ăn phi có t do hưởng li ích ca kết qu s làm ăn đó.

Nhân dân ch mun tiến hoá, ch không mun cách mng bo lc! Đt nước ta đã tri qua mt thi k lch s kéo dài gm nhng cuc chiến đu chng xâm lược giành đc lp, hoà bình xây dng, ri li b xâm lược. Và li chiến tranh chng xâm lược. Qua quá trình đó mà đt nước ta trưởng thành và phát trin. Cho đến nay, đt nước đã được hoà bình đc lp, thng nht.

Không biết tương lai loài người s phát trin, tiến b thế nào và do đó đt nước ta s gp nhng tình hung thế nào ? Nhưng chc chn là nhng bước đi sp ti ca ta cũng không có th lp li y nguyên nhng tình hình trước đây

“Động trời” hơn nữa khi Trần Độ tuyên bố không úp mở : ” Chiến tranh ln và các hot đng bo lc, lt đ càng ngày càng tr nên lc hu li thi…Đ có t do và hnh phúc, không nht thiết phi có bo lc, không nht thiết phi đánh đ ai. Thm chí ngày nay có nhng nn đc lp giành được cũng không cn có bo lc và chiến tranh“!

Và rồi, người đứng đầu cơ quan lãnh đạo văn hóa văn nghệ mà lại công khai nói thẳng cái sự thật nghiệt ngã mà hơn nửa thế kỷ qua người ta cố né tránh, bưng bít : “Văn hóa mà không có t do là văn hóa chết. Văn hóa mà ch còn có văn hóa tuyên truyn cũng là văn hóa chết. Càng tăng cường lãnh đo bao nhiêu, càng bóp chết văn hóa by nhiêu, càng hiếm có nhng giá tr văn hóa và nhng nhà văn hóa cao đp”.

 

Cách chức, khai trừ đảng là chuyện quá dễ hiểu, không thế mới lạ! Thì chẳng phải đã có một ví dụ quá rõ nét khi Đảng và nhà nước Nam Tư đã bỏ tù tác giả của “Giai cp mi“, người đã từng được bầu làm Phỏ Tổng thống Liên bang Nam Tư, “cây lý luận hàng đầu” của Đảng Cộng sản Nam Tư đó sao?

Milovan Dijlas từng tuyên bố : “Tôi, mt trí thc đã đi trn con đường mà mt đng viên cng sn có th đi. T nhng chc v thp nht, t các t chc cơ s cho đến quc gia và quc tế, t vic thành lp mt đng cng sn chân chính, chun b cách mng, đến vic tham gia xây dng cái gi là chế đ xã hi ch nghĩa. Không ai buc tôi phi tham gia hay t b ch nghĩa cng sn c. Tôi đã t quyết, theo nim tin ca mình, mt cách t do…Càng ri xa ch nghĩa cng sn, tôi càng tiến gn đến lý tưởng ca ch nghĩa xã hi dân ch“…

Tư tưởng bình đng và bác ái tn ti cũng lâu như chính loài người, được ch nghĩa cng sn ng h trên li nói, vn mang trong mình nó sc hp dn vĩnh hng đi vi nhng chiến sĩ tranh đu cho t do và tiến b. Sc hp dn mang tính nhân bn ca nhng lý tưởng đó đã làm cho vic phê phán chúng tr thành không ch phn đng mà còn trng rng và vô nghĩa na”.

Chính vì thế, người trí thức “đã đi trn con đường mà mt đng viên cng sn có th đi” ấy đã “tp trung mô t đc trưng ca ch nghĩa cng sn hiến đi…Tt c ch là sn phm ca thế gii mà tôi đang sng và đang phê phán. Tôi đã thy và đã trình bày tt c mà không ngượng ngùng khi thú nhn rng mình đã là sn phm ca nó, có lúc đã là người tham gia xây dng nó và bây gi là người phê phán nó“. ***

Phải chăng đây là sự” phê phán nó” khi “” đã tự tha hóa, tự biến mình thành công cụ trong tay “giai cp mi” với lợi ích của chính nó, củng cố chế độ toàn trị phản dân chủ, quay lưng lại với nhân dân? Trong những bức thư Trần Độ gửi lãnh đạo của, đặc biệt là bức thư viết vào cuối năm 1974 dưới bút danh Chín Vinh, đã có bóng dáng của sự phê phán nói trên :” nhiu hin tượng tiêu cc trong xã hi và trong tt c các t chc Đng, trong b máy chính quyn…Điu đó ai cũng thy. Thế nhưng vn đ là ti sao nó li chuyn biến chm chp. S biến chuyn chm chp này đã to ra mt tình trng gim sút lòng tin trong cán b, đng viên, trong nhân dân và đáng ngi nht là trong thanh niên…Nhng hin tượng tiêu cc ca xã hi ( và trong Đng, trong chính quyên) làm vn đc s trong sáng và đp đ ca nhng lý tưởng, đu đc nhng lòng say mê hăng hái có tính cht lãng mn cách mng, “sng tiêu cc”, to nên “mt thế lc xã hi” bao vây và xua đui nhng tâm hn trung thc”…mi người trung thc đu nóng lòng mong đó mt cái gì đi mi, chuyn biến gì mnh m…”.****

Phải chuyển nhanh, phải đổi mới nhanh để khỏi phải chứng kiến những điều đau lòng mà ông nghe được từ người bạn cũ cùng xóm lần ông từ chiến trường về quê sau mười năm xa cách :”cuc sng nhà tht khn kh, khn kh nhưng không ai dám kêu. Đói đy phi bo là no. Có ai hi đu nói ” cám ơn bác cũng đ ăn. Nếu kêu đói tc là thành phn xu. Ông hỏi người bạn cũ : Được my cháu ri?– Nh ơn cách mng được ba đa- Sao li nh ơn cách mng?-  chiến trường không biết ch nhà cái gì ch nh ơn cách mng. Nuôi được con ln to, cưới được v cho con, nht nht là ơn ca cách mng c“!

Là người lăn lộn ở chiến trường cùng với chiến sĩ, lặng lẽ ghi những hiện thực thất đáng buồn ở hậu phương, câu chữ ngọn bút ghi lại chạy trên trang giây mỏng hoàn toàn là sự thật, tướng Trần Độ day dứt : “Nếu s tht này tin tuyến người lính biết được hoàn cnh sng ca cha m v con thì cp trên biết nói thế nào vi h“? **** Trung thực với chính mình, trung thực với cuộc sống, trung thực với lịch sử, chính cái đó tạo ra “hiện tượng Trần Độ”, ở đây “sc hp dn vĩnh hng đi vi nhng chiến sĩ tranh đu cho t do và tiến b. Sc hp dn mang tính nhân bn ca nhng lý tưởng đó” bị chính sự dối trá lọc lừa của “quyn lc b tha hóa” làm cho băng hoại. Bằng sự trải nghiệm của cả cuộc đời dấn thân trọn vẹn cho lý‎ tưởng nhân văn cao đẹp, Trần Độ tỉnh táo nhận ra sự băng hoại khủng khiếp đó.

Trong Nhật ký viết vào những năm cuối đời mà ông gọi “đây là mt tc lòng “đ tng người đi và cuc đi. Đây là nhng ý nghĩ nung nu trong nhng tháng cui năm Rng và đu năm Rn, và cũng là nhng ý nghĩ nung nu trước đó hàng chc năm và s còn nung nu tiếp đến c khi sang thế gii bên kia. Đây là ni nim cay đng ca mt cuc cách mng, và ca mt kiếp người“.

Vấn đề Trần Độ đặt ra đâu chỉ là ý nghĩ của riêng ông. Mt xã hi mà công dân không được quyn sng tht, nói tht, nhà văn cũng không được quyn bc bch tâm s riêng tư ca mình trên trang giy là mt xã hi không có chân móng. Câu này Nguyễn Khải viết trong “Đi tìm cái tôi đã mât“. Thật đau đớn khi “mt dân tc đã làm nên chiến thng Đin Biên Ph mà mt người dân nám đen, mt nhìn ngơ ngác, đi đng long rom như mt k bi trn. Qu tht dân tc Vit Nam đã thng ln trong phong trào chiến tranh gii phóng nhưng li thua đm trong công cuc xây dng mt xã hi t do và dân ch. Thoát ách nô l ca thc dân li t nguyn tròng vào c cái ách ca mt hc thuyết đã mt hết sc sng. Dân mình sao li phi chu mt s phn nghit ngã đến vy! Vẫn là Nguyễn Khải dăn vặt trong “Đi tìm cái tôi đã mt“.

Mà đâu chỉ nhà văn Nguyễn Khải có nỗi dắn văt đó, nhà thơ Chế Lan Viên trong bài “Trừ Đi” cũng từng nói lên nỗi đau dằng xé tâm can :

Sau này anh đc thơ tôi nên nh

Có  phi tôi viết đâu! Mt na

Cái cn đưa vào thơ, tôi đã giết ri

Giết mt tiếng đau – giết mt tiếng cười

Giết mt k nim – giết mt ước mơ – tôi giết

Cái cánh sp bay – trước khi tôi viết

Tôi giết bão ngoài khơi cho được yên n trên b

Và giết luôn mt tri lên trên bin – Giết mưa

Và giết c c trong mưa luôn th

Cho nên câu thơ tôi gy còm như thế

Tôi viết bng xương thôi, không có tht ca mình

Và thơ này rơi đến tay anh

Anh bo đy là tôi.

                             Không phi!

Nhưng cũng chính là tôi – Người có li

Đã phi giết đi bao nhiêu cái

Có khi không có ti như mình 

                                             

Chính vì thế, Trần Độ thẳng thắn chỉ rõ :

T do là chìa khoá ca phát trin.

Tôi nghĩ thế này: nước Vit Nam ta hin nay, sau bao nhiêu năm đu tranh và chiến tranh gian kh, cn phi hoà bình phát trin và cn phi phát trin nhanh, đ bù li nhng thi gian đã mt, và đ theo kp các nước chung quanh. Đó là mc đích và yêu cu quan trng nht ca đt nước. Nhng cái khác là ph. Do đó, đ phát trin đt nước thì rõ ràng ta phi tìm đường li nào, hc thuyết nào phc v được yêu cu đó. Nếu tht s coi phát trin đt nước là quan trng nht thì Đi đoàn kết dân tc là quan trng hơn đu tranh giai cp; trí thc quan trng hơn công nhân và nông dân; phát trin sc sn xut là quan trng hơn mi th; đ dân làm ch mi lĩnh vc quan trng hơn các trò chuyên chính đàn áp; nghe và thu thp được nhiu ý kiến khác nhau và trái ngược nhau k c v đường li chính sách, quan trng hơn là bt mi người phi tuân theo mt quan đim, mt ý kiến“.

Cho nên, đúng là không có gì khó hiểu khi người ta phải khai trừ Trần Độ ra khỏi đảng, rốt raó đến độ khi ông mất lại cạn tào ráo máng cấm không được “thương tiếc ông“. Đây là kế tục thực hiện một nguyên lý‎ cai trị. Thì chẳng thế sao ? Từ những năm 1955, ngay sau giải phóng Thủ đô, thay vì “Khi đoàn quân tiến v là đêm tan dn” như Văn Cao mơ ước, người ta đã “…đem bc công anh đt gia tim người/ Bt tình cm ngược xuôi/ theo lut đi đường nhà nước“. [Thơ Lê Đạt] Chẳng những thế, “phi to ra mt tình hình chính tr luôn căng thng (mt cuc chiến tranh có th xy ra, mt cuc bo lon có th xy ra) đ buc các công dân phi sng trong nhng quy chế nghiêm ngt ca thi chiến, các chế đ toàn tr ch có hai cơ quan mà quyn uy bao trùm c xã hi. Đó là cơ quan tư tưởng, tuyên truyn và cơ quan công an. Mt đ chn, mt đ chng. 

Còn khi đã có chuyn bt thường xy ra thì ch có mt bin pháp: đàn áp, bt gi, lp toà án xét x nhng k cm đu. Cách gii quyết va nhanh gn li mau n đnh, không dây dưa, phin toái vì có quá nhiu lut l, qua nhiu lý l như các nước tư bn. Nhng ri lon vt vãnh tht ra là nước là không khí ca các nhà cm quyn đc tài. 

H đâu có s lon. H còn bày ra nhng cuc chiến cung đình như Liên Xô và các nước Đông Âu, hay mt cuc chiến gia nhân dân vi nhau như đã làm Trung Quc. Không có mùi v ca thuc súng, ca máu người và nhng tiếng la hét cung n ca đám đông thì người cm quyn biết th bng gì“…Những câu này là của tác giả “Đi tìm cái tôi đã mất”.

Chính vì thế mà phải ” Nói di lem lém, nói di lì lm, nói không biết xu h, không biết run s vì người nghe không có thói quen hi li, không có thói quen lưu gi các li gii thích và li ha đ kim tra. Hoc gi hi li và kim tra là không được phép, là ti k, d gp tai ho nên không hi gì cũng là mt phép gi mình. Người nói nói trong cái trng không, người nghe tuy có mt đy nhưng cũng ch nghe có nhng tiếng vang ca cái trng không. Nói đ giao tiếp đã tr thành nói đ không giao tiếp gì hết, nói đ mà nói, ch l làm người li không nói .

 Tht ra nói thế mà vn hiu nhau c. Người cm quyn thì biết là nhân dân đang rt bt bình v nhiu chuyn, nhân dân thì biết người cm quyn đang nói di, nhìn vào thc tin là biết ngay h đang nói di. Nhưng hãy mc h vi nhng li l di trá ca h, còn mình là dân ch nên hi li nói thế là tht hay không tht

Mi cái khác vi chính thng đu b lên án, mi cái ging nhau đu được tuyên dương. Vì nhng cái khác nhau rt khó to ra s nht trí, còn nhng cái ging nhau s d nghe theo, làm theo mi mnh lnh.

Nhà văn Nguyễn Khải đau đớn đặt ra một câu hỏi : “mt môi trường xã hi ngt ngt vì cái bóng quyn lc ph lên tt c, quyết đnh tt c thì s phn nhng cá nhân s ra sao? Vị tướng Trần Độ trả lời câu hỏi đó trong những trang Nhật ký viết ở chặng sắp kết thúc một cuộc đời dấn thân trọn vẹn cho lý tưởng cao cả từ thuở đầu xanh cho đến lúc tóc bạc để đúc kết vào chỉ mỗi một câu thôi :

 Đây là ni nim cay đng ca mt cuc cách mng, và ca mt kiếp người“.

Tôi mượn câu này làm một nén hương lòng thắp trước di ảnh của ông nhân ngày Giỗ của người mà tôi kính mến. Tôi là kẻ hậu sinh, quen biết ông quá muộn, được ông xem là bạn vong niên đã là một niềm cảm kích lớn, xin chỉ gợi lại một kỷ niệm nhỏ với ông. Hôm ông đến chơi, ông trách tôi : “anh tệ thật, không thèm gửi sách cho tôi”, vừa nói ông vừa đến bên giá sách và chỉ vào cuốn “Kho sát xã hi hc v phân tng xã hi” đã in cách đó 5 năm. Tôi choáng người, vội xin lỗi và thanh mình : “Chết tôi ri, tôi đã gi biếu anh ngay sau khi nhn được t nhà xut bn v. Tôi còn nh rõ, cun đánh s 4“. “Sao? Đánh s? li s 4″, ông ngạc nhiên hỏi.

“Vâng, chính vì thế mà tôi nhớ rõ mà. Duyên do là cuốn sách ấy chỉ là toàn bộ bản báo cáo về cuộc khảo sát xã hội học ở Thái Bình mà Anh đã hỏi chuyện tôi khi gặp anh tại nhà khách tỉnh ủy sau đó một năm nay hoàn chỉnh lại về văn phong, câu chữ để đưa in. Tuy đã được Hội đồng nghiệm thu cấp Nhà nước chấp thuận, nhưng khi đưa in thì Nhà xuất bản đòi bỏ một số đoạn. Tôi từ chối. Giằng co mãi, cuối cùng anh Nguyễn Duy Quý xử lý một cách rất cao tay : in và lưu hành nội bộ. Tôi đồng ý ngay. Chỉ cần in, còn lưu hành nội bộ thì càng tốt, đó là một cách quảng cáo cho sách. NXB chơi chua : chỉ in 100 cuốn và đánh số từ 1 đến 100, gửi cho ai thì phải ghi tên người đó và số của cuốn sách (!). Cuốn này, tôi gửi cho anh HTK, sau khi anh ấy mất, tình cờ đến chơi nhà, thấy cuốn sách nằm lăn lóc trong đống sách cũ, tôi xin lại đem về đặt vào đây, cuốn sách mà anh đang cầm trong tay đó, vì còn cuốn cuối cùng trên giá sách này thì một người bạn thân cầm về rồi “quên” chưa trả”.

Ông trầm ngâm đưa trả cuốn sách không nói gì. Một lần khác, cùng ông lên chơi nhà Thu Bồn ở “Suối Lồ Ồ”, đến nơi thì đã tối tròi, khi bước xuống xe thấy ánh đèn flash lóe sáng. Ông cầm tay tôi nói to với các bạn cùng xuống xe : “đng li đ người ta chp nh đã, chp xong ri hãy vào nhà“, mọi người cười ồ. Lúc ăn cơm, tôi nhắc với ông để in lỗi vì chưa đi photo cuốn sách để gửi đến ông nhưng nói thêm là sách lạc hậu rồi, anh đứng mất thì giờ đọc làm gì. Ông cười và yêu cầu gửi gấp, câu này ông nói hơi to. Thế là, sáng hôm sau, một người học trò cũ của tôi, nay là “nhà báo”, người ngồi cạnh tôi tối qua ở nhà Thu Bồn và bả lả vui vẻ : “em tình c thy thy và theo vào đây, vui quá, thy cho phép em ngi ch“, bỗng bất ngờ đến chơi. Thầy trò gặp nhau vui vẻ, anh ấy xuống bếp mươn mấy cái đĩa, lôi từ trong túi giấy ra mấy thứ bánh lá “em biết thy vn thích loi bánh này nên mang đến thy dùng ba sáng“. Vừa ăn bánh, vừa hàn huyên bao chuyện cũ, anh học trò hạ giọng, “thầy ơi, cuốn sách thầy đinh photo biếu bác Độ, thấy có thể cho em xem được không ạ”.Biết việc anh ấy phải làm và mục đích của bữa ăn sáng, tôi kéo anh ta đến giá sách, lôi cuốn sách ra đưa cho anh và nói : “Mình nh cu đi photo giúp mình, qu tht mình cũng đang đnh làm chuyn này nhưng bn quá. Cu photo cho mình 2 cun, mt mình gi li, mt đưa biếu ông Đ, còn li cu mun photo y bn đ cho công vic ca cu thì tùy“! Người ta “chăm sóc” ông Độ thật chu đáo.

Nhưng rồi bộ sách”Trần Độ. Tác Phẩm tập 1, 2,3″ do NXB Hội Nhà Văn in rất đẹp cũng đã ra mắt bạn đọc. Dành thì giờ đọc lướt qua mấy nghìn trang sách, nhưng những lời, những đoạn tôi trích ra trong bài viết này thì không có ở trong đó.Thôi thì chăc là ai đó đang sực nghĩ đến những bước đi của lịch sử và sự sòng phẳng của lịch sử. Ngạn ngữ phương tây có câu : “Không có vĩ nhân dưới con mt ca k hu phòng“. Người hầu phòng mẫn cán và thông thạo nghiệp vụ chỉ cần đánh giá khách hàng của anh ta thông qua đẳng cấp căn phòng mà khách thuê và số tiến bo anh ta sẽ nhận được từ hầu bao của vị khách.

Sực nhớ đến “Li” trong “Bơ vơ Đông đo” của Việt Phương :

Nhng người lính tr ngã xung Lng Sơn

                   không liên quan gì đến ngày hôm nay na

Ch còn lo toan nhng ghế nh lên ghế to

                    xe cúp lên ô tô chung cư lên bit th

                              trong cuc đòi bơ sa mà thôi. 

Vậy thì người lính Trần Độ, tướng Trần Độ, nhà văn hóa Trần Độ liệu có “bơ vơ” giữa cuộc đời “đông đo” này không nhỉ?

Tôi tìm thấy trong tâp thơ “Nng” của Việt Phương với đề từ “đi đang đón đi đ đong đy” vừa nhận được hôm qua hai câu :

Mong sao được là người mê mui

Ln xung sâu đm đui gp chân tri

Sài Gòn 8.8.2013

_______________________

Roger Pearson, (2005), Voltaire Almighty, London: Bloombury Publishing. Tr. 66 – 67.

** Maxim Gorky Nhng ý tưởng không hp thi đăng trên nhật báoNovaja Žizn (Đời Mới) trong những năm 1917-1918.  NXB Surkamp               taschenbuch của Đức ấn hành năm 1974.

***Những đoạn có *** đều trích trong “Giai Cấp Mới” của Milovan Dijlas

**** Những đoạn có **** đều trích trong “Chuyện Tướng Độ” của Vũ Bá Cường. NXB Quân Đội Nhâ dân

 

Nguồn: blog Quê Choa

Nỗi Sợ Tự Do

In Chính trị (Politics), Lịch Sử, Thế giới on 2013/06/04 at 21:26

Lời dẫn:

Trước khi mời quý bạn đọc bản dịch bài bình luận của The Telegraph (về hồi ức của vụ thảm sát Thiên An Môn xảy ra 24 năm về trước vẫn tiếp tục bị cấm đoán), chúng tôi mời quý bạn lắng nghe bản tin của Đài Phát Thanh Bắc Kinh vào ngày 3 tháng 6 năm 1989. Cuốn băng thâu và bản thông báo này đã đi vào lịch sử vì chứa đựng nhiều nỗi ám ảnh.

Đây là bản tin được phát ra khi các xe tăng tiếp tục tiến vào khu vực Thiên An Môn để thi hành nhiệm vụ thảm sát hàng ngàn người dân (thuộc thành phần sinh viên, trí thức, công nhân, v.v…) đang biểu tình tọa kháng, tuyệt thực và chiếm đóng quảng trường này.

https://i0.wp.com/upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/e/ed/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_ph%E1%BA%A5t_c%E1%BB%9D%2C_Qu%E1%BA%A3ng_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Thi%C3%AAn_An_M%C3%B4n.jpg

Một người phất cờ lớn tại Thiên An Môn, tháng 5 năm 1989. Do Robert Croma (Luân Đôn) chụp tại Quảng trường Thiên An Môn, Bắc Kinh.

Sau đây là nguyên văn bản thông cáo phát ra bằng tiếng Anh trên đài phát thanh vào ngày đó:

Bản sao của cuộn băng thâu âm phát ra từ Đài phát thanh Bắc Kinh, ngày 03 tháng 6 1989:

Đây là Đài phát thanh Bắc Kinh. Xin ghi nhớ ngày Ba tháng Sáu năm 1989. Một sự kiện bi thảm nhất đã xảy ra tại Bắc Kinh, thủ đô Trung Quốc.

Hàng ngàn người, đa số là thường dân vô tội, đã bị giết bởi những người lính đầy đủ vũ trang khi họ xông vào thành phố. Trong số những người thiệt mạng còn có các đồng nghiệp của chúng tôi tại Đài phát thanh Bắc Kinh.

Các binh sĩ trên xe tăng sử dụng súng máy để chế ngự hàng ngàn người dân địa phương và sinh viên đang cố gắng ngăn chặn bước tiến của họ. Sau khi đoàn xe tăng quân sự chọc thủng được thì binh sĩ lại tiếp tục phun đạn một cách bừa bãi vào đám đông trên đường phố.

Những người chứng kiến nói rằng một số xe tăng thậm chí đã nghiền nát những bộ binh nào ngần ngừ khi đứng trước mặt những người dân kháng cự.

Chương trình Anh ngữ của đài phát thanh Bắc Kinh vô cùng thương tiếc những người đã chết trong sự kiện bi thảm này, và khẩn khoản yêu cầu quý thính giả cùng chúng tôi tham gia chống lại các vi phạm nhân quyền thô bạo và đàn áp dã man nhất đối với người dân.

Vì tình hình bất thường tại đây ở Bắc Kinh, chúng tôi không có tin nào khác để gởi đến quý thính giả. Chúng tôi chân thành mong quý vị thông cảm, và xin cảm ơn quý vị đã có mặt với chúng tôi tại thời điểm bi thảm nhất này.

Cuộc ghi âm tự nó đã là một trường hợp ngoại lệ. Một người Mỹ tên là G. Jack Urso, một kỹ thuật viên tại đài phát thanh WQBK-băng tần 1300 AM ở Albany, New York trong lúc thay đổi tần số trên đĩa vệ tinh của đài đã bắt được tín hiệu của Đài phát thanh Bắc Kinh. Ông nghe được tiếng nói của Tệ Năng (Yuan Neng) đang đọc thông báo. Bản thông báo này được soạn bởi Wu Xiaoyong, Phó Giám đốc chương trình Anh ngữ của Đài phát thanh Băc Kinh. Tên tuổi cũng như tin tức về họ chỉ được khám phá sau mười hai năm. 

Trong nghiên cứu về truyền hình như một phần cho chương trình học phó tiến sĩ của mình, Urso đã xác nhận tên của người đọc thông báo và tác giả của bản tin này với một cựu nhân viên của Đài phát thanh Bắc Kinh. Phát hiện của Urso cũng được hỗ trợ bởi một báo cáo của Tổ chức Human Rights Watch.

Tệ Năng (Yuan Nang) đã bị sa thải vì thực hiện chương trình phát sóng, số phận của ông cuối cùng ra sao thì không ai rõ. Điều này tương tự với trường hợp của một sinh viên vô danh một mình chặn đoàn xe tăng–người được dân Trung Quốc gọi là Vương Duy Lâm ((王维林 hay Wang Weilin) trong khi phương Tây mệnh danh là “Unknown Rebel” (Người biểu tình vô danh) hay “Tankman” (tạm dịch là Người xe tăng). Phó giám đốc Wu Xiaoyong, có cha là Wu Xueqian–một cựu ngoại trưởng của Trung Quốc–đã bị quản thúc tại gia từ hai cho đến ba năm, và sau đó nhờ thế lực của cha đã di cư sang sống tại Hồng Kông.

Bức ảnh nổi tiếng, chụp bởi Jeff Widener (The Associated Press)

Các chi tiết liên quan đến cuộc thảm sát Thiên An Môn, các chiêu nhà cầm quyền tiếp tục xử dụng để đàn áp chính kiến của người tham gia biểu tình bất bạo động, và chính sách bưng bít tất cả các tin tức về sự kiện chấn động thế giới này trong thời kỳ hậu Thiên An Môn cần được làm sáng tỏ để làm bài học cho các phong trào dân chủ trong và ngoài Trung Quốc, trong đó có Việt Nam.

Như The Telegraph đã kết luận, “Một chế độ càng cố gắng đè nén các quyền chính trị và tự do khác, tính hợp pháp của chế độ càng giảm trong mắt dân họ và cả thế giới. Sức mạnh kinh tế vỏn vẹn của Trung Quốc không thể đạt được sự tin tưởng từ thế giới tự do.”


______________

Nỗi Sợ Tự Do

Theo The Telegraph (Calcutta, Ấn độ)

Tập tin:Tiananmen Square protests.jpg

Bức tượng Nữ Thần Dân Chủ hướng thẳng về tấm ảnh lớn của Mao Trạch Đông

Chỉ có một Nhà nước hoang tưởng mới cố ra lệnh buộc người dân về những gì họ cần nhớ và phải quên. Cách thức Trung Quốc ngăn chận tổ chức tưởng niệm cuộc Thảm sát Thiên An Môn ngày 4 Tháng 6 năm 1989 lần thứ 24 phản ảnh sự bất an của chế độ cộng sản. Du khách và nhà báo đã bị cấm lai vãng tại nghĩa trang ở Bắc Kinh nơi mà rất nhiều nạn nhân của thảm kịch được chôn cất. Một số hành động của Nhà nước gợi lại hình ảnh mà nhà văn Orwell xử dụng để miêu tả một chế độ toàn trị. Trong khi các nhà chức trách ngăn chặn truy cập Internet tất cả các tài liệu tham khảo về thảm kịch này, họ còn bôi đen loại trừ bất kỳ biểu tượng nào giống như một ngọn nến. Lý do rõ ràng là một ngọn nến được thắp sáng đã từ lâu đồng nghĩa với một cuộc biểu tình hay một tưởng niệm. Chuyện cứ là thế khi các chế độ tự đánh lừa mình rằng họ có thể kiểm soát suy nghĩ và hệ nhớ cho quốc gia bằng cách áp đặt các hạn chế thô bạo. Vì chắc chắn là người dân Trung Quốc – cả ở Trung Quốc và các nơi khác – có rất nhiều cách để nhớ đến ngày bi thảm ấy và ngẫm nghĩ về các ý nghĩa của ngày đó cho tương lai đất nước họ. Nhiều người trong số các nhân vật chính tham dự phong trào còn sống sót bị giam cầm trong nhiều năm dài hoặc đã buộc phải sống lưu vong sau cuộc đàn áp của quân đội vào cuộc biểu tình Thiên An Môn. Nhưng giấc mơ của họ về một Trung Hoa dân chủ đã liên tục ám ảnh các nhà lãnh đạo của Trung Quốc ròng rã 24 năm qua.

Sự kiểm duyệt lễ tưởng niệm lần này cũng nói lên được nhiều điều về thành phần lãnh đạo mới của Trung Quốc. Không ai trông chờ rằng Đảng Cộng Sản Trung Quốc sẽ thay đổi vị trí chính thức từng buộc cuộc biểu tình ở Thiên An Môn vào năm 1989 là một bước chuyển động “phản cách mạng”. Nhưng vài người cầm quyền trong đảng hiện nay, bao gồm Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường, đã được dung dưỡng trong nền văn hóa chính trị tự do chớm nở ấy ở Bắc Kinh trong thập niên 1980. Chắc chắn các nhà lãnh đạo này có thể sẽ không khác với những người tiền nhiệm của họ về mặt cải cách chính trị. Cũng có thể là số phận của bất kỳ nhà quán quân về cải cách nào cũng sẽ như của Triệu Tử Dương, người đảng viên kỳ cựu luôn ủng hộ cải cách, đã bị thanh lọc vì mềm mỏng biểu lộ đồng tình với những người sinh viên biểu tình năm 1989 và bị quản thúc tại gia cho đến cuối đời. Tuy nhiên, cuộc chơi của một nền kinh tế mở cửa Trung Quốc song song với một hệ thống chính trị khép kín đang trở nên khó duy trì. Một chế độ càng cố gắng đè nén các quyền chính trị và tự do khác, tính hợp pháp của chế độ càng giảm trong mắt dân họ và cả thế giới. Sức mạnh kinh tế vỏn vẹn của Trung Quốc không thể đạt được sự tin tưởng từ thế giới tự do.

(Bản dịch của VietSoul:21)

Nguyên bản tiếng Anh “FEAR OF FREEDOM” tại:
http://www.telegraphindia.com/1130605/jsp/opinion/story_16970043.jsp#.Ua7XN0CTih9

Hình chụp ngày 2/6/1989 tại quảng trường ở Thiên An Môn nơi hàng trăm ngàn người dânTrung Quốc tụ tập xung quanh một tượng sao chép của tượng Nữ thần Tự do (chính giữa). Hôm sau hằng ngàn người trong số này đã bị thảm sát dưới lệnh của nhà cầm quyền Trung Quốc. (Ảnh: CATHERINE Henriette / AFP / Getty Images)

Trần Trung Đạo: Võ Thị Thắng và Nguyễn Phương Uyên, bóng tối và ánh sáng

In Chính trị (Politics), Lịch Sử, Liên Kết, Tạp văn on 2013/05/25 at 07:56

 

Một nữ đặc công thuộc lực lượng biệt động thành Sài Gòn được bộ máy tuyên truyền Cộng Sản đánh bóng đến mức không thể nào bóng hơn. Đó là bà Võ Thị Thắng. Nụ cười khá ăn ảnh của bà bên ngoài tòa đại hình Sài Gòn, được một phóng viên Nhật chụp ngày 27 tháng 7 năm 1968 và được Trần Quang Long đưa vào nhạc phẩm Nụ cười chiến thắng. Bắt lấy cơ hội tuyên truyền, theo chỉ thị của đảng, từ đó, không biết bao nhiêu phim, nhạc, thơ, bình luận, hồi ký, bút ký đã viết về bà Võ Thị Thắng.

Kỹ thuật nhồi sọ theo kiểu “Tăng Sâm giết người” rất đơn giản nhưng vô cùng hữu hiệu. Những thông tin có tính chỉ đạo của đảng đã theo nhiều ngã tấn công và tấn công liên tục vào ý thức vào con người. Từ sáng đến chiều, từ ban ngày qua ban đêm, từ năm tàn qua tháng tận, dần dần không chỉ các em học sinh có tâm hồn ngây thơ trong trắng yêu “nụ cười chiến thắng” của bà mà cả người lớn cũng say mê những “mẫu chuyện anh hùng” về bà Võ Thị Thắng.

Và không những đảng viên CS mà cả những người “phê bình đảng”, những “nhà phản biện” cũng không thoát ra khỏi sức hút của “nụ cười Võ Thị Thắng”. Trong phiên tòa xử tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ tháng 4 năm 2011, và lần nữa sau phiên tòa xử hai em Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha mới đây, “nụ cười chiến thắng” của Võ Thị Thắng lại được một số tác giả nhắc đến để ca ngợi tinh thần yêu nước dũng cảm của hai em Phương Uyên và Nguyên Kha. Khi dùng nụ cười một nữ khủng bố để so sánh với ước vọng dân tộc, nhân bản và hòa bình trong tâm hồn trong như ngọc của một nữ sinh viên, các tác giả không để ý đến những nghịch lý vô cùng căn bản trong hai mục đích sống, hai phương pháp đấu tranh và hai nhân cách đạo đức hoàn toàn trái nghịch giữa hai con người.

 Võ Thị Thắng là ai ?

 Bà Võ Thị Thắng, sinh ngày 10 tháng 12 năm 1945 tại xã Tân Bửu, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Ủy viên Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng CSVN khóa VIII và khóa IX. Bà là con út của 10 anh em sinh ra trong một gia đình Cộng Sản hoạt động tại Long An. Từ khi còn nhỏ bà đã giúp cha mẹ đưa cơm, nuôi giấu cán bộ CS.

Sau khi từ Long An lên Sài Gòn đi học đến lớp đệ nhị, tức lớp mười một bây giờ, tại trường Gia Long. Theo tài liệu chính thức của đảng, trong thời gian tại Sai Gòn, “Thắng tham gia phong trào đấu tranh xuống đường của thanh niên sinh viên, học sinh Sài Gòn Gia Định; rồi phong trào công nhân và nhân dân lao động khu xóm, xí nghiệp nội thành; khẩn trương gây dựng cơ sở, xây dựng căn cứ chính trị nội thành, diệt ác phá kềm, ém quân, vũ khí mai phục, chuẩn bị vào đợt Mậu thân – tổng công kích khởi nghĩa năm 1968.” 

Từ sau Mậu Thân, bà Võ Thị Thắng gia nhập lực lượng biệt động thành Sài Gòn và được giao nhiệm vụ ám sát ông Trần Văn Đỗ. Ông Trần Văn Đỗ chẳng phải là viên chức cao cấp, một chính khách tên tuổi gì của chính phủ VNCH mà chỉ là phường trưởng phường Phú Lâm, quận 6, Sài Gòn. Theo tài liệu đăng trên Quân Đội Nhân Dân ngày 17-09-2009 “Ngày 27-7-1968, sau khi nắm tình hình địch, chị cải trang đột nhập vào nhà tên Đỗ cùng với hai đồng chí yểm trợ vòng ngoài. Hôm đó khác thường lệ tên Đỗ đi ngủ sớm, chị tiến thẳng đến giường tên Đỗ lên đạn bắn hai lần nhưng cả hai phát súng đều không nổ. Thấy động tên Đỗ tỉnh dậy, chị bắn lần thứ ba nhưng không trúng”. Vụ ám sát bị lộ, bà bị bắt, đưa ra tòa đại hình và bị kết án hai mươi năm tù. Sau khi hiệp định Paris ký kết, bà Võ Thị Thắng được trao trả về phía Cộng Sản tại Lộc Ninh vào tháng 4 năm 1974.

Tóm lại, dù “vận chuyển vũ khí mai phục” hay “ám sát”, nhiệm vụ chính của nữ cán bộ CS Võ Thị Thắng là giết người. Bà Thắng không giết Tây, không giết Mỹ nhưng như bằng chứng trước tòa, bà đi giết người Việt Nam.

Hoạt động của biệt động thành Sài Gòn chủ yếu là bắt cóc, ám sát, ném bom, đặt chất nổ tại các nơi công cộng. Những hoạt động đó xét theo tiêu chuẩn nào, vào thời kỳ nào và nhân danh bất cứ lý do gì đều là các hoạt động khủng bố. Yasser Arafat, chủ tịch Tổ Chức Giải Phóng Palestine (Palestine Liberation Organization), một tổ chức có liên hệ rất nhiều với các hoạt động khủng bố chống Do Thái và từng thề sẽ làm cho “cuộc sống của người dân Do Thái không thể nào chịu đựng nỗi” cuối cùng cũng thừa nhận khủng bố là một hành động xấu xa, tội lỗi.

Phương pháp khủng bố của biệt động thành Sài Gòn hoàn toàn giống như hoạt động của phong trào Tháng Chín Đen tại Jordan thập niên 1970, của các nhóm Hồi Giáo cực đoan tại Iraq sau 2003, Taliban tại Afghanistan sau 2001, của cánh cực đoan quân sự Hamas tại Palestine, của tổ chức al-Qaeda tại nhiều nơi trên thế giới hiện nay. Giống như hầu hết các tổ chức khủng bố, ngoài việc lấy mục đích biện minh cho phương tiện bất nhân, những kẻ giết người cũng đã được ca ngợi và vinh danh.

Để giết một người Mỹ các nhóm khủng bố al-Qaeda đã giết hàng trăm người dân chính nước họ như các hành động đặt đang bom diễn ra tại Iraq. Tương tự, để giết một người Mỹ hay một người lính VNCH, các biệt động thành Sài Gòn đã giết nhiều người Việt Nam vô tội trong đó có đàn bà trẻ em. Một người Việt Nam lớn tuổi nào cũng không thể quên “chiến công hiển hách” của lực lượng biệt động thành tại nhà hàng Mỹ Cảnh tối 25 tháng 6, 1965. Trong số hàng trăm người chết do hai trái mìm đặt tại nhà hàng có nhiều “kẻ thù nhân dân” còn mặc tả.

Nguyễn Phương Uyên là ai ?

 Nguyễn Phương Uyên, sinh 12 tháng 10, 1992, sinh viên năm thứ 3 trường Đại học Công nghiệp thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh, cư ngụ xã Hàm Trí, huyện Hàm Thuận Bắc, Bình Thuận.

Khác với Võ Thị Thắng được cha mẹ nuôi dường bằng lòng “căm thù Mỹ Ngụy”, sinh viên Nguyễn Phương Uyên, dù tham gia đoàn trường của đại học nhưng bản chất là một cô bé ngoan hiền, hồn nhiên, hiếu thảo và có tấm lòng vị tha đối với mọi người. Trong hai mươi mốt năm làm người từ lúc mới sinh ra cho đến nay, cô bé mảnh mai này, ngoại trừ lúc vô tình dẫm lên, có thể chưa tự tay giết một con kiến đừng nói chi nghĩ đến chuyện giết người. Một bộ ảnh do bạn bè thu thập cho thấy một Phương Uyên sống yên vui bên cạnh gia đình. Các em vui chơi, nhảy nhóc tung tăng, cười nói hồn nhiên như một cánh bướm vàng trong khu vườn xuân tuổi trẻ. Một bạn học của em trả lời đài Á Châu Tự Do: “Năm cấp 3, em và Uyên chơi thân với nhau. Trong lớp học, Uyên học rất chăm chỉ. Bạn ấy hiền lắm. Khi đi học, bạn bè có gì là bạn ấy hay giúp đỡ lắm. Nói chung, bạn ấy rất năng động trong những hoạt động của trường lớp và hòa đồng với bạn bè.”

Khác với Võ Thị Thắng là sản phẩm tuyên truyền, được sơn bằng những lớp son phấn giả tạo, Nguyễn Phương Uyên là một con người thật, tinh khôi như một thiên thần. Trong lúc Võ Thị Thắng đấu tranh bằng phương tiện giết người, bạo động Nguyễn Phương Uyên chọn phương pháp ôn hòa để gióng lên tiếng nói của mình. Che khuất trong đôi cánh thiên thần Phương Uyên là lòng yêu nước vô cùng trong sáng. Trong vóc dáng như sợi tơ tưởng chừng một cơn gió nhẹ cũng có thể thổi em bay ra khỏi cửa sổ là một trái tim chan chứa tình dân tộc không thể nào lay chuyển được. Em đứng trước tòa án CS nhẹ nhàng như một nhánh lau non trước cơn bão lớn, điềm tỉnh nhưng cương quyết: “Việc tôi làm thì tôi chịu, xin nhà cầm quyền đừng làm khó dễ mẹ hay gia đình của chúng tôi. Chúng tôi làm để thức tỉnh mọi người trước hiểm họa Trung Quốc xâm lược đất nước và cuối cùng là chúng tôi làm xuất phát từ cái tấm lòng yêu nước nhằm chống cái xấu để làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp tươi sáng hơn”. Và em nói tiếp “Tôi là sinh viên yêu nước, nếu phiên tòa hôm nay kết tội tôi, thì những người trẻ khác sẽ sợ hãi và không còn dám bảo vệ chủ quyền của đất nước. Nếu một sinh viên, tuổi trẻ như tôi mà bị kết án tù vì yêu nước thì thật sự tôi không cam tâm”.

Tại sao nhiều người vẫn tin vào các “anh hùng” do đảng CS dựng nên ?

Nikolai Bukharin, lý thuyết gia Cộng Sản, chủ nhiệm báo Sự Thật, cơ quan ngôn luận chính thức của đảng CS Liên Xô và người bị Stalin thanh trừng năm 1938, viết trong tác phẩm kinh điển “ABC về chủ nghĩa Cộng Sản”: Tuyên truyền về chủ nghĩa cộng sản, về lâu dài trở thành một phương tiện để xóa bỏ mọi tàn tích cuối cùng của tuyên truyền tư sản bắt nguồn từ chế độ cũ, và là phương tiện mạnh mẽ để tạo ra một hệ lý luận mới, một cách suy nghĩ mới, một tầm nhìn về thế giới mới.” 

Với chủ trương đó, chính sách trồng người của các chế độ CS thể hiện qua hai phương pháp: giáo dục và tẩy não.

Về giáo dục, nền giáo dục Cộng Sản không đặt trên cơ sở khách quan khoa học nhưng là một hệ thống tuyên truyền phục vụ cho các mục tiêu của đảng và nhà nước CS trong mỗi thời kỳ. Về tẩy não, năm kỹ thuật căn bản được áp dụng triệt để trong phạm vi toàn xã hội cho đến từng người: cô lâp, kiểm soát, tạo sự bất an, lập đi lập lại và gây xúc động cho đối phương.

Nhận thức của con người không ở trong trạng thái tỉnh nhưng luôn luôn biến động, thay đổi và đón nhận các nguồn thông tin từ bên ngoài bao gồm xã hội, giáo dục, môi trường thiên nhiên và cả cơ thể của chính con người. Chủ động kiểm soát được nguồn thông tin đi vào ý thức con người là kiểm soát được con người. Cả năm phương pháp tẩy não được thực hiện liên tục, phối hợp chặt chẽ và tác dụng hỗ tương vào nhận thức con người cho đến khi đối tượng hoàn toàn bị đặt trong vòng kiểm soát. Các nguồn thông tin do chế độ CS cung cấp có tính hệ thống, theo từng tuổi, từng giai đoạn trưởng thành thâm nhập vào nhận thức con người, củng cố và đóng đinh trong đó. Có lần Stalin phát biểu một ngày nào đó vai trò của Bộ Công An sẽ không còn cần thiết. Ý của tên đồ tể này là khi đó người dân đã bị cơ chế hóa, một hình thức thuần hóa trong sinh vật, đến mức các luật lệ sẽ không cần phải áp đặt mà vẫn được chấp hành như một phản xạ tự nhiên.

Biết rõ tuổi trẻ là tuổi của khát vọng xanh tươi, nhiệt tình nồng cháy nhưng chưa có những tham vọng cá nhân, bộ máy tuyên truyền của các quốc gia Cộng Sản sản xuất các anh hùng mang tinh thần dâng hiến.

Có một thời tác phẩm Thép đã tôi thế đấy của Nikolai Ostrovsky là tác phẩm gối đầu giường của đa số thanh niên CS khắp thế giới, trong đó có thanh niên miền Bắc. Nhật ký của bác sĩ Đặng Thùy Trâm, người bị giết tại Quảng Ngãi cuối tháng 6 1970, bắt đầu với câu trích từ tác phẩm này “Cả đời ta, cả sức ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời: Sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người“. Tương tự, trong nhật ký của Nguyễn Văn Thạc, tử trận tại Quảng Trị mùa hè 1972, cũng thế, đầy những trích dẫn Thép đã tôi thế đấy. Ngày 24 tháng 12 năm 1971, Nguyễn Văn Thạc viết về thần tượng Paven của anh: “Dạo ấy Paven mới 24 tuổi. Ba năm của thời 20, anh đã sống say sưa, sống gấp gáp và mạnh mẽ. Cưỡi trên lưng con ngựa cụt hai tai trong lữ đoàn Buđionni anh đã đi khắp miền đất nước. Cuộc sống của anh là một dòng mùa xuân bất tận giữa cuộc đời. Đó là cuộc sống của người Đảng viên trẻ tuổi, cuộc sống của một chiến sỹ Hồng quân. Mình thèm khát được sống như thế. Sống trọn vẹn đời mình cho Đảng, cho giai cấp.”

Trong dòng lịch sử Việt Nam bốn ngàn năm chống ngoại xâm và xây dựng đất nước, biết bao nhiêu câu nói, thơ văn hiển hách của lớp lớp anh hùng dân tộc. Có câu nói nào hay hơn, khí phách hơn câu nói của Triệu Nữ Vương “Tôi muốn cỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá tràng kình ở biển Đông, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, cứu dân ra khỏi nơi đắm đuối, chứ không thèm cúi đầu, còng lưng để làm tì thiếp người ta”. Có cái chết nào nói lên tình yêu chung thủy, tình yêu nước đậm đà hơn cái chết của Nguyễn Thị Giang, một phụ nữ như Võ Thị Thắng, “Mờ sáng ngày 18 tháng 6 năm 1930, cô về làng Thổ Tang, tổng Lương Điền, phủ Vĩnh Tường (nay thuộc Vĩnh Phúc) để lạy tạ cha mẹ chồng (ông Nguyễn Văn Hách và bà Nguyễn Thị Quỳnh), tháo chiếc đồng hồ có khắc chữ “G” tặng cho Nguyễn Văn Lâm, em trai Nguyễn Thái Học và từ giã mọi người. Trên đường đi cô ghé quán trà bên gốc cây đề, thuộc Xóm Mới, xã Đông Vệ giáp quốc lộ số 2, cách làng Thổ Tang ước chừng một cây số. Sau khi uống bát nước trà xanh, từ biệt bà chủ quán, cô đến đứng dưới gốc cây đề, mắt nhìn về hướng làng Thổ Tang và tự kết liễu đời mình bằng khẩu súng lục mà Nguyễn Thái Học tặng cô ở đền vua Hùng ngày nào.Hôm ấy là ngày 18 tháng 6 năm 1930”.

Những câu nói anh hùng, những cái chết kiên trinh như thế, tại sao thanh niên, sinh viên miền Bắc không học, không sống, không trích dẫn lại gối đầu giường tác phẩm của nhà văn Sô Viết Nikolai Ostrovsky từ tận xứ Ukraine ?

Chỉ vì “nền giáo dục” ngoại lai và nô dịch Việt Nam thực tế chỉ là một phiên bản tuyên truyền của Liên Xô và Trung Quốc.

Trung Quốc có “anh hùng lao động” Hướng Lôi Phong, Liên Xô có “anh hùng lao động” Alexey Stakhanov, CSVN có Kim Đồng, Lê Văn Tám, Võ Thị Sáu, Võ Thị Thắng v.v… Tuy nhiên, theo thời gian và đà tiến của kỹ thuật thông tin, hầu hết “anh hùng” của Liên Xô, Trung Quốc và Cộng Sản Việt Nam đều lần lượt được chứng minh là hàng giả.

Chuyện “anh hùng lao động” Hướng Lôi Phong một năm sau khi bị trụ đèn đè chết trở thành anh hùng là một ví dụ rất hề. Bộ máy tuyên truyền của đảng CSTQ, ngoài việc phát hành các tuyển tập thơ, văn còn trưng bày nhiều hình ảnh của Hướng Lôi Phong đang “lao động quên mình” khi còn sống. Tuy nhiên, Susan Sontag, một nhà sản xuất phim ảnh sau khi xem xét bộ ảnh 12 tấm của Lôi Phong đã nhận xét những bức ảnh đó được chụp bằng một phẩm chất và điều kiện kỹ thuật tuyệt hảo đến mức không có một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp nào có thể có mặt bên cạnh Hướng Lôi Phong để chụp. Làm thế nào một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp có thể biết trước một anh chàng binh nhì Hướng Lôi Phong khi anh ta gần như vô danh tiểu tốt, để đi theo và ghi lại “cuộc đời anh hùng” , “một người vì mọi người” của anh ta qua một bộ ảnh chuyên nghiệp? Không quá khó để tìm câu giải đáp. Bộ ảnh chỉ là một sản phẩm tuyên truyền được sản xuất sau khi Hướng Lôi Phong chết. Bây giờ chuyện Hướng Lôi Phong là một chuyện cười nhưng đã có một thời người dân Trung Quốc tin một cách chân thành.

Ran Yunfei, một nhà hoạt động dân chủ Trung Quốc, cho The Newyork Review of Books, biết “Tất cả những gì đảng CS dạy bạn để kính phục đều là những chuyện giả dối. Hiện nay họ lại thúc đẩy học tập Hướng Lôi Phong lần nữa nhưng ai cũng biết Hướng Lôi Phong là nhân vật giả tưởng do đảng CS nặn ra. Tất cả “anh hùng” đều là giả tạo”.

Sự kiện Tôn Đức Thắng Người thủy thủ phản chiến ở Biển đen của CSVN đã bị Giáo sư Christoph Giebel trong buổi phỏng vấn dành cho BBC khẳng định: “Trong quyển sách của tôi, tôi tin rằng ông Tôn Đức Thắng không có mặt trên bất kì con tàu nào của Pháp liên quan vụ binh biến ở Hắc Hải. Tôi tin là vào thời điểm đó, ông Tôn Đức Thắng đang ở Toulon, cảng miền nam nước Pháp.” Và thê thảm hơn, Lê Văn Tám là một nhân vật ảo, từ tên tuổi cho đến đầu mình và tay chân đều do bộ máy tuyên truyền CSVN nặn ra. Sự kiện này do chính Trần Huy Liệu, bộ trưởng bộ tuyên truyền CSVN thú nhận và được Phan Huy Lê, một trong nhà sử học hàng đầu của chế độ tiết lộ.

Nạn nhân của các “anh hùng” trong nhiều trường hợp lại chính là “anh hùng”. Chuyện Võ Thị Sáu hái hoa cài lên tóc là một điển hình. Theo sách vở của đảng, ngày bị xử bắn, trên đường ra pháp trường Võ Thị Sáu còn rảnh rỗi để dừng lại hái mấy cành hoa cài lên tóc của mình. Lãng mạn hơn, vài phút trước khi bị bắn, bà ta còn gỡ những cành hoa trên tóc để tặng lại cho những người tù đào huyệt lát nữa sẽ chôn mình. Câu chuyện mô tả bà Võ Thị Sáu giống như một công chúa đi dạo vườn hoa chứ không phải một tử tù sắp chết. Hãy tạm gác qua bên việc bà có thể bị tâm lý bất bình thường như nhiều người đang bàn tán mà chỉ xem xét khía cạnh pháp lý. Trên thế giới này, không phải thế kỷ trước và cũng không phải thời các quốc gia nhược tiểu bị cai trị dưới ách thực dân tàn bạo mà cả ngày nay tại các nước văn minh tiên tiến, một tử tù ra pháp trường hai tay phải bị còng và chân phải bị xích. Còng và xích không phải là vì sợ tử tù bỏ chạy nhưng đó là một phần của bản án tử hình. Giống như Hướng Lôi Phong của Trung Quốc, nhân vật Võ Thị Sáu có thể là một người thật, đảng Cộng Sản lợi dụng bà trong tuổi vị thành niên để khích động lòng dân nhưng lại tô vẽ nên một Võ Thị Sáu bịnh hoạn đến độ đáng thương.

Chúng ta đều biết, về mặt kinh tế và kỹ thuật Việt Nam phát triển chậm hơn các quốc gia khác nhiều chục năm tuy nhiên đó chưa hẳn là một mối nguy nghiêm trọng lâu dài. Mối lo lớn của đất nước là về mặt dân trí, xã hội, đạo đức và những mặt này Việt Nam còn thua xa các quốc gia tiên tiến nhiều thế kỷ. Với óc cần cù của người Việt, chúng ta không phải quá lo lắng về một nền khoa học hiện đại, một nền kỹ thuật hiện đại nhưng điều đáng lo lắng nhất là làm thế nào để có những con người Việt Nam với những suy nghĩ đúng, có nhận thức đúng về hướng đi của đất nước hôm nay và mai sau. Phục hưng dân tộc, vì thế, phải bắt đầu ở việc phục hưng các đặc điểm đạo đức, các giá trị nhân bản, khai phóng từ chính trong mỗi người Việt Nam. Một xã hội lương thiện phải được xây dựng bằng những con người có tinh thần hướng thiện.

Một con vẹt có thể cất giọng ca thánh thót và ngay cả hát hay hơn một con chim sơn ca ngoài vườn buổi sáng nhưng không ai bảo tiếng hát của vẹt là biểu tượng cho “mùa xuân, hạnh phúc, hy vọng, may mắn, tự do, niềm vui, tuổi trẻ, tính sáng tạo và ngày mới” như khi nhắc đến chim sơn ca. Phương Uyên là tiếng hát của sơn ca trong khu vườn xuân đất nước. Cơn mưa dài chưa dứt, cơn bão lớn chưa ngưng nhưng hy vọng vẫn còn đây trong lòng người Việt. Tổ tiên để lại cho chúng ta một gia tài vô cùng phong phú với tất cả phương tiện cần thiết để đưa đất nước Việt Nam thành một cường quốc văn minh và hiện đại. Chúng ta có tinh thần độc lập, tự chủ cao hơn bất cứ một quốc gia nào ở vùng Đông Nam Á. Chúng ta đều ôm ấp một giấc mơ Việt Nam huy hoàng, sáng lạng. Cái duy nhất mà chúng ta chưa có đó là một cơ hội. Và cơ hội sẽ không do ai ban cho, không do ai viện trợ nhưng chính người Việt Nam trong và ngoài nước, đặc biệt là các bạn trẻ, là những người đang tạo ra cơ hội cho dân tộc mình.

Phân tích chính sách tuyên truyền của chế độ CS để thấy sự tác hại của nó trong nhận thức của các tầng lớp nhân dân và cũng cho thấy việc so sánh giữa Võ Thị Thắng và Nguyễn Phương Uyên chẳng khác gì so sánh giữa giả và thật, chiến tranh và hòa bình, hận thù và nhân ái, bóng tối và ánh sáng.

 

FB Trần Trung Đạo 

 

Alvaro Marino – Không, tôi không cần sự khoan hồng

In Chính trị (Politics), Lịch Sử, Liên Kết, Thế giới on 2013/05/22 at 16:22

Theo blog Nguyễn Văn Nguyên

Alvaro Marino (1959-1981?) là một sinh viên văn khoa ở đại học La Habana và là một nhà thơ trẻ. Từ năm 1979 đến 1980, Alvaro đã bị công an tạm giữ và thẩm vấn nhiều lần vì “thái độ chính trị”. Ngày 11 tháng 3 năm 1981, trong khi đang dán một tấm bích chương chống chế độ độc tài Fidel Castro, anh đã bị bắt bởi một nhóm người mặc thường phục. Alvaro Marino vĩnh viễn mất tích kể từ đó.

Ofelia González, người yêu của anh, còn giữ được cuốn nhật ký của anh, trong đó có một số tuỳ bút và 3 bài thơ. Cô đã lén gửi cuốn nhật ký ấy ra nước ngoài, và sau đó, bài thơ “No, yo no necesito el perdón” [“Không, tôi không cần sự khoan hồng”] đã được đăng trong tuyển tập Los poetas cubanos disidentes [Những nhà thơ bất thoả hiệp ở Cuba] do Xavier Mudarra biên tập, xuất bản tại San Martín, Peru, năm 1992.

 

Nếu ngày mai bọn chúng đến đây bắt tôi,
tôi sẽ không cần tự biện hộ,
tôi sẽ không cần ai biện hộ cho tôi,
tôi cũng không cần một gã luật sư công chức
— kẻ chỉ biết đứng trước toà và nói: “Xin hãy khoan hồng…”

Không, tôi không cần sự khoan hồng
vì tôi không có tội.
Tôi chỉ khao khát sự tự do cho đất nước này
và tôi sẵn sàng chết cho điều đó.
Hãy treo cổ tôi lên với bản án: “Đây là kẻ ngoan cố
— kẻ đã dám khao khát tự do.”

Ở đất nước này mọi bản án đều đã được viết sẵn
và đã được để sẵn trong hộc bàn của những quan toà.
Lũ hèn nhát sẽ lấy một bản án ra và điền tên tôi vào,
và tôi sẽ nghe bọn chúng đọc thuộc lòng
những ngôn từ mà mọi người đều đã biết.

Không, tôi không cần sự khoan hồng cho tôi,
vì tôi cũng sẽ không khoan hồng cho bất cứ kẻ nào
dám giẫm đạp lên sự tự do như giẫm đạp lên rác rưởi.

Không, tôi không cần sự khoan hồng.
Ở đất nước này mọi bản án đều đã được viết sẵn.

Alvaro Marino

Tô Hải – Nhân 30 tháng 4, tôi tuyên bố

In Lịch Sử, Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2013/05/03 at 10:52

… Tưởng rằng mình đã hết ý để nói về cái ngày “tưởng rằng vui” 30 tháng 4 này. Lý do: Năm nào mình cũng có viết về nó với những ý mới.

Nhớ lại suốt 5 năm về già vui thú với bờ-nốc-bờ-niếc, mình đã từng vạch trần ra cái âm mưu áp đặt bằng võ lực lên toàn thế giới (mà thành công một bước mới là trên mảnh đất chữ S), một chế độ mà tất cả mọi con người đều bị biến thành một “trại súc vật”, sống thế nào? làm thế nào? vui buồn, yêu, ghét ra sao?… thậm chí cả chết kiểu nào cũng đều do một nhóm người ưu tú nhất mang tên Đảng Cộng sản quyết định!

1– Mình còn nhớ mình đã ghi lại cái cảnh ông Hoàng Tùng, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên huấn, dặn dò bọn văn nghệ sỹ chúng mình khi thẳng đường bay thẳng vô Nam: Bằng một cử chỉ hung hăng, ông hùng hồn giơ hai nắm đấm trước ngực đấm đấm vào nhau mà nói: “Cuộc chiến đấu ai thắng ai hãy tạm dừng ở đây! Chúng ta cần có thời gian để củng cố lực luợng, cải tạo bọn ngụy và… nếu có sức chúng ta chẳng ngại gì không… tiến thẳng tới New Delhi!”

2– Mình cũng là người đã “sợ” cái chuyện trắng trợn tuyên bố và kể công lao to lớn của mấy ông trùm cộng sản khi huênh hoang với toàn thế giới “Chính nhờ có họ, mà một nước nhỏ đã đánh thắng ba đế quốc to” trong khi đó chỉ cách đó không lâu họ vẫn xưng xưng: “Không có chuyện Miền Bắc xâm lược Miền Nam”. Và họ cũng không muốn hoặc không đủ khả năng hiểu nổi câu đối đáp của vị Thủ tướng Thái Lan là: “Nước tôi hân hạnh vì một nước nhỏ mà KHÔNG PHẢI ĐÁNH NHAU VỚI MỘT NƯỚC TO NÀO…” nghĩa là gì v.v và v.v.

3– Mình cũng đã vạch thẳng thừng ra cái sự “miền Bắc được giải phóng” cả về sinh hoạt lẫn tư tưởng bằng những câu chuyện: miền Bắc như hàng triệu cái lò xo lâu nay bị đè ép, bỗng bung ra và không có một sức mạnh nào có thể ngăn cản được. Bằng những câu chuyện sớm “tự cải tạo” từ cách suy nghĩ đến cách sống và làm ăn, người miền Bắc mà 99,9% đều có người thân hy sinh cho cách mạng, đều có người là đảng viên, lao đầu vào những thứ phồn vinh giả tạo như những con thiêu thân,… kệ ai cao đạo giáo dục “cảnh giác, giữ vững lập trường”!!! Trong khi ở miền Nam, người ta cấm “nhạc vàng nhạc ngụy”, đốt sách ngụy thì miền Bắc, oang oang ngày đêm những Giao Linh, Khánh Ly,… sách “phản động đồi trụy” cứ ùn ùn kéo ra Bắc, làm mê say cả mọi lớp người lâu nay chỉ biết ăn có món văn nghệ tuyên truyền cho Đảng!

4– Mình cũng vạch ra cái ngu cực kỳ do tính “kiêu binh hỗn xược” của bọn tưởng rằng mình thắng cuộc thì muốn nói gì thì nói, làm gì thì làm khi vừa tuyên bố “Mọi người Việt Nam đều là người chiến thắng” thì ngay hôm sau đánh lừa cả gần triệu sĩ quan và cán bộ cao cấp “ngụy” mang 20 ngày gạo “đi học tập” rồi giam không án không hạn tù trong các trại gọi là cải tạo khắp nơi thâm sơn cùng cốc rừng sâu nước độc suốt cả chục năm trời hoặc hơn… khiến không ít người bỏ xác nơi nào chả ai biết hoặc nếu sống sót trở về thì có đi H.O. cũng chỉ còn là những thân xác ốm yếu vì bị đọa đày cho thân tàn ma dại! Kèm theo là cả chục triệu những con người là vợ con, người thân,… của họ bị mang hận thù suốt năm này qua tháng khác vì bị cưỡng bức đi kinh tế mới, hoặc đành liều mạng vượt biên, người đến nơi nào đó làm “quê hương thứ hai”, người bỏ xác nơi đại dương, đến cái xương cũng không còn đường về quê mẹ! Trong khi đó, tối tối, con em họ phải tập trung để “bị” học hát: “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” hoặc “Đêm qua em mơ gặp Bác Hồ”!

Mình đã chửi thẳng những thằng “bên thắng cuộc” cho là “các cháu Miền Nam khoanh tay, cúi đầu chào khách là… ảnh hưởng của chế độ phong kiến” (!?) cũng như bọn chủ trương phổ biến những bài hát chiến thắng huênh hoang là những bọn cực kỳ ngu xuẩn và hoàn toàn không có một xu tâm lý học!

Riêng về mặt văn hóa văn nghệ, đã hơn một lần mình đã nói thẳng cái “hơn hẳn” của văn nghệ sỹ, trí thức miền Nam chân chính. Đó là:

a- Họ hoàn toàn tự do, muốn viết gì thì viết, muốn theo trường phái nào thì theo, hoàn toàn tự do sáng tác kể cả viết những gì mà chính quyền không mong muốn…

b- Họ được tự do tiếp xúc với đủ mọi thứ văn hóa nghệ thuật nước ngoài kể cả với những tác phầm của phe cộng sản.

c- Đa số đều thành thạo 1 hoặc 2 ngoại ngữ giúp họ sớm tiếp cận với những gì là văn minh tiến bộ nhất của loài người. Trái lại văn nhân nghệ sỹ miền Bắc, trừ những người theo Tây học trước 45, hầu hết đều… mù ngoại ngữ nên chỉ biết Shakespeare, Balzac,… qua bản dịch. Còn những tác phẩm hiện đại thì chỉ “nghe mấy anh văn nghệ có quyền” phán rằng là “Camus, Sartre… nó phản động thế này,…thế kia,…” nên rất chi là nhục nhã khi tự mình tổ chức ra cái hội nghị lên án “văn hóa thực dân mới” giữa cái đất Sài Gòn đầy những trí thức am hiểu, sành Triết Tây lẫn những fan của Sartre của Camus!

Điều tự sỉ nhục này mình đã lấy làm cái cớ để động viên cả nhà Phạm Duy còn bị kẹt lại Sài Gòn (mà trực tiếp đến với mình là Phạm Đình Chương và Duy Quang) là: “Hãy tìm đường mà cuốn xéo nhanh kẻo có ngày mất mạng vì phản ứng với cái bọn “kiêu binh văn hóa cộng sản” này”. Và tất cả họ đã nghe theo mình…

Cái ĐƯỢC và MẤT của 30 tháng 4, Nguyễn Khải, trên giường bệnh đã nói thẳng không ngại ngùng (vốn có theo bản tính thận trọng) là: Miền Bắc đã cho tôi ĐỘC LẬP, Miền Nam đã cho tôi TỰ DO… Còn tớ thì lại: CHÍNH NHỜ MIỀN NAM NÀY MÀ MÌNH ĐÃ TÌM ĐƯỢC Ý NGHĨA CỦA CẢ ĐỘC LẬP LẪN TỰ DO.

5– Cũng chính mình đã đưa ra cái ý kiến về câu “Có triệu người vui cũng có triệu người buồn“ của ông Võ Văn Kiệt là: “Bề trên”, “Kẻ cả” và cực kỳ… “chủ quan” bằng những lý lẽ để “bổ sung” (thực chất là để “bác bỏ”).

Rằng thì là: “Chẳng có cái tỷ lệ chung chung, bằng nhau đó đâu!” Sự thật thì cái ngày 30 tháng 4 đó có mở ra một vài hướng sống mới cho riêng dân miền Bắc, cả 30 năm sống kiếp ngựa trâu nhưng lại là bắt đầu cả một giai đoạn cực khổ tủi nhục, bất công chưa từng thấy cho toàn thể nhân dân miền Nam!

Đặc biệt khi chủ nghĩa cộng sản, sau khi ra mặt công khai lãnh đạo toàn diện cả cái nước “xuống hố cả nút” này rồi… thoái hóa tới mức “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa???” thì… mọi mặt xã hội của cả hai miền đều bị dìm vào các cuộc đại… “loạn”… Vô tướng bất tài, vô lương tâm, vô học… đã trở thành những ông chủ thực sự từ xã đến trung ương, đã nắm tất tần tật mọi chức vụ quyết định sự sinh tồn của đất nước, kể cả… bán hay không bán nước!!!

Vậy mà cứ đến ngày 30 tháng 4 đến họ lại không ngớt dùng bộ máy khổng lồ tuyên truyền của họ cao giọng huênh hoang, tăng cường chửi Mỹ, chửi “ngụy”. Dù có đôi chút hạn chế hơn trước (tỉ như thỉnh thoảng có nhắc tới cái tên Việt Nam Cộng hòa, “ông” naỳ, “ông” kia… chứ không xách mé, hỗn xược, khinh người như trước) nhưng vẫn không ngớt phịa ra các thứ chiến công tưởng tượng như “giải phóng Trường Sa”, như “tiến đánh dinh Độc Lập”, kể cả “địa đạo trại Davis”, những chuyện chẳng ai biết, chẳng ai làm chứng những ngày 30 tháng tư trước bao giờ!… Cứ như đánh đâu thắng đấy nhưng sự thật thì như mình đã viết: Đây là một cuộc đá bóng mà một bên đã ra khỏi bãi vì không đá nữa! Vậy có có đá với ai đâu mà “đá thắng” cơ chứ!?

Tóm lại, đã qua 38 năm cái 30 tháng 4, mỗi lần nó đến, mình chỉ buồn chứ chẳng vui chỉ vì:

Mỗi lần nó đến lại gợi lại nỗi phân chia đôi ngả của cả một dân tộc ViệtNam, trong đó có gia đình mình: Cả 6 đứa em đều không sao đàng hoàng về thăm lại nơi chôn rau cắt rốn. Còn thằng anh cả duy nhất còn ở lại Việt Nam này thì chưa chắc lúc chết được đặt nắm tro tàn cạnh Bố Mẹ; anh em, con cháu họ Tô chắc vẫn chỉ là một giấc mơ khó trở thành sự thực! Ôi! 30 tháng Tư, mình là một trong những kẻ đau nhất vì MẤT nhiều nhất!

Mỗi lần nó đến lại như khoét sâu vào những nỗi đau của cả triệu triệu con người, vì nó mà con mất cha, vợ mất chồng, dân mất nước để cho một lũ chẳng một ngày xung phong cầm súng, chẳng một ngày đánh Pháp, đuổi Nhật, thậm chí cả chẳng một ngày “chống Mỹ xâm lược” bỗng dưng ăn trên ngồi trốc, làm vua hiểu dụ thần dân những điều vô lý, vô lẽ, vô luân… mà vẫn dám vỗ ngực là cộng sản, là “chủ tập thể” của đất đai, là không có tam tứ quyền phân lập, phân liệt gì sất… nào là tao có quyền lãnh đạo tuyệt đối muôn năm đất nước này, là quân đội do tao dựng lập ra nên phải phục vụ tao!, rằng… tao nhất định sẽ lên… thiên đường! Kẻ nào phản đối, tao cho vô tù hết! Nhà tù 30 tháng Tư nào cũng được mở rộng để khoan hồng cho những tên cướp, giết, hiếp, nhưng cũng để rộng chỗ cho những người “thoái hóa” như Phương Uyên, Điếu Cày, Nguyễn Tiến Trung… và tất cả những tên lưu manh trí thức, cơ hội chính trị…!

Rõ ràng, những kẻ kiêu binh ăn mày dĩ vãng tanh mùi máu và đẫm mặn nước mắt đang ngày càng gây thêm thù, thêm oán…

Rõ ràng 30 tháng 4 không hề làm cho họ phải giật mình soi lại xem vì sao từ những giới trẻ như nhóm sinh viên luật đến lớp già như những trí thức, đảng viên lão thành lại ngày càng đông người ra mặt công khai lên tiếng phản đối mọi chủ trương đường lối phản nước hại dân của những đàn sâu phá hoại đất nước cực kỳ…

Và mình, đến hôm nay, nhân ngày 30 tháng 4/2013, cũng nhân thể nhắc các bạn gần xa đọc lại trên to-hai.blogspot.com những gì mình đã tóm tắt lại ở trên mà tuyên bố rằng:

CHÍNH NGÀY 30 THÁNG 4 NÀY LÀ NGÀY ĐÃ GIẢI PHÓNG CHO TÔI, MỘT CÔNG DÂN MIỀN BẮC, KHỎI KIẾP NÔ LỆ MỘT THỨ TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ NGOẠI LAI CỰC KỲ PHẢN ĐỘNG VÀ SẼ NGUYỆN GÓP SỨC ĐỂ SỚM CHÔN VÙI NÓ CÙNG VỚI NHỮNG KẺ SỐNG BÁM VÀO NÓ TRONG NHỮNG NĂM THÁNG CÒN LẠI CỦA CUỘC ĐỜI!

Nguồn: blog Nhạc sĩ Tô Hải