vietsoul21

Posts Tagged ‘thuần hóa’

Nô dịch đỏ

In Chính trị (Politics), Lịch Sử, Liên Kết, Triết Học, Việt Nam on 2012/11/16 at 22:37

Nguồn: Dân Làm Báo

Phong kiến → Thực dân → Nô dịch đỏ

Việt Nam là một nước (hậu thuộc địa) có lịch sử lập nước, giữ nước đầy gian truân với nước mắt và máu. Xấp xỉ một ngàn năm dưới Bắc thuộc, phải triều cống làm nô lệ cho quyền lực của nhiều triều đại phương Bắc. Kế tiếp là cả trăm năm thuộc địa của Pháp. Phận nô lệ tôi đòi cho ngoại bang vừa chấm dứt, chưa được hưởng chút tự do, thì cái ách búa liềm của chủ nghĩa cộng sản lại đặt vào cổ người dân miền Bắc suốt gần 70 năm. Còn cái tự do dân chủ non trẻ chưa kịp đơm hoa kết trái ở miền Nam Việt Nam thì đã bị khai tử bởi người anh em vào “giải phóng”.

Lịch sử Việt Nam hầu như không ngớt chứng minh người Việt Nam muốn thoát ách nô lệ. Oái ăm thay, một trong những hệ lụy của lịch sử Việt Nam là tâm thức người nô lệ.

Nô dịch dưới các triều đại phong kiến và đô hộ giặc Tàu, nô dịch bởi chính sách thực dân Pháp, và tiếp tục nô dịch dưới chế độ chuyên chính bạo lực của đảng cộng sản cầm quyền.

Đại tự sự (grand narrative) – Chiếm hữu/thuần dụng (appropriation/co-optation)

Triều đại nhà Sản từ khi nắm quyền đã thêu dệt một đại tự sự và đan may hàng trăm tự sự (narratives) khác nhằm tô son điểm phấn cho mình và đồng thời cấy vào tâm thức người dân để huy động họ cùng một hướng phò Đảng.

Họ chiếm hữu/thuần dụng dòng đại tự sự “truyền thống chống ngoại xâm” của tổ tiên dân tộc trong quá trình chống thực dân Pháp giành lại độc lập và đánh đế quốc Mỹ thống nhất đất nước. Tất cả các đảng phái quốc gia, nhân sĩ yêu nước nếu không phủ phục dưới ngọn cờ Việt Minh và miền Bắc XHCN đều bị thủ tiêu, ám sát, tiêu diệt.

Họ lại đánh tráo chế độ (chính phủ) và đảng CSVN với dân tộc: “Yêu nước là yêu XHCN”, “Trung với Đảng”, “Còn Đảng còn mình”.

Họ vẫn tiếp tục ăn mày dĩ vãng với giòng đại tự sự đó qua các tự sự tuyên truyền dối trá “Bác Hồ tìm đường cứu nước”, “Tư tưởng Hồ Chí Minh”, và xây dựng tượng đài “Mẹ Anh hùng”, Viện tư tưởng Hồ Chí Minh v.v…

Khi đã “xuống hố cả nước” triều đại Sản đành phải “đổi mới” kinh tế nới lỏng (đặc quyền cho tầng lớp hạt giống đỏ, nhân thân tốt, hoặc bè phái móc nối) có thể tự làm, tự ăn khấm khá, nhất là vào giai đoạn chuyển sang thời kỳ hội nhập WTO thì họ khai trương dòng đại tự sự “ổn định xã hội” và “phát triển”.

Tất cả các hạt giống tự sự đó được gieo trong tính toán cân nhắc để cấy vào tâm thức hầu hết những người dân sợ “máu đỏ đầu rơi” nên tuân thủ vào quyền lực tuyệt đối.

Một thể chế “do dân” và “vì dân” (by the people, for the people) là một chính thể dân chủ. Còn chính quyền CSVN này “do ai” thì khỏi cần phải hỏi. Câu hỏi còn lại là “cho ai?” đúng ra cũng không cần phải hỏi (với chế độ độc tài CSVN) vì nó quá hiển nhiên.

Tuy nhiên vì dòng tự sự “nhân dân” làm chủ (cái bánh vẽ) và đảng lãnh đạo (vàng ròng SJC) ngày càng thấm nhuần, cấy sâu trong tim óc mọi người qua ngôn ngữ hàng ngày, nên tâm thức bao thế hệ nặng cưu mang não trạng nô dịch thể hiện qua trong tương quan “xin-cho”.

Do đó khi nghe, đọc, thấy tất cả những diễn ngôn và các dòng tự sự hào nhoáng mị dân từ cái loa phường, trên tấm biển đỏ, và “thời sự” trên các báo, các đài thì ta cần phải đặt câu hỏi là các diễn ngôn đó (có lợi) “cho ai?” và “vì ai?”.

Ổn định xã hội và phát triển (có lợi) cho ai?

Ổn định xã hội để hàng hóa độc hại, rẻ tiền từ nước lạ tự do thao túng trong thị trường. Cho ai? Cho vừa lòng quan thầy Bắc phương. Cho chủ quản bộ Công Thương và Hải quan.

Ai là người chịu thiệt thòi và ai là người hưởng lợi? Tiểu thương thì điêu đứng, phá sản. Người tiêu thụ nghèo với thu nhập thấp (dân lao động, nông dân, nhân viên nhà nước, sinh viên) mang tật bệnh chẳng lường trước khi nào triệu chứng mới lòi ra và lúc đó thì đã là quá trễ.

Ổn định xã hội để khai thác tài nguyên vô tội vạ phá hủy môi trường, rừng môi sinh, rừng đầu nguồn. Cho ai? Cho tập đoàn nhà nước (bè phái lợi ích nhóm) bòn rút tài sản đất nước. Người dân tộc, người thiểu số bị di dời tiệt gốc, mất tài sản văn hóa, mất môi trường sống, vào danh sách tuyệt chủng. Người dân cuối nguồn vùng hạ lưu bị thiên tai đe dọa, bị ô nhiễm bám ám.

Phát triển bằng thu hồi đất nông nghiệp làm sân gôn, khu công nghiệp bỏ hoang, khu đô thị “xanh”[1]. Cho ai? Cho trao (tráo) tay chuyển sở hữu làm trắng tay dân nghèo và đong đầy hầu bao cổ phần, trái phiếu đại gia quan lớn.

Phát triển bằng xây dựng các khu nghỉ dưỡng (resort) cho khách du lịch ngoại quốc, cho giới thượng lưu rửng mỡ, cho con ông cháu cha, cho Việt kiều áo gấm. Làm co cụm khoảng không gian công cộng (public space) thường dân vốn có, đẩy dồn họ vào phòng trọ góc hẻm và bến bãi ô đọng tù bít. Dân nghèo chỉ biết cúi đầu nhắm mắt còng lưng trong dịch vụ cắt cỏ, dọn phòng, đổ rác hoặc sang hơn là trơ mặt tiếp viên cung phụng “thượng đế” rởm đời thời thượng.

Kẻ cướp ngày thường “vừa ăn cướp vừa la làng” để đánh lạc hướng dân làng, hàng xóm của nạn nhân. Đảng CSVN cũng như thế khi ăn cắp (chiếm hữu) ngôn từ làm của riêng cho họ. Họ độc quyền xử dụng những từ ngữ: phản động, chống phá nhà nước, thế lực thù địch. Thật ra ai thuộc thành phần phản động này?

Cái quyền lực (cực kỳ phản động) vô nhân tính tự cho mình quyền độc tôn qua điều 4 hiếp pháp để đàn áp dân lành, chiếm hữu toàn bộ tài sản đất nước và gán ép cho bất cứ ai không đồng tình, phản đối đường lối chính sách của họ là thành phần “phản động”.

Cũng cái quyền lực vô cùng bạo động đó dùng hơi cay, chó nghiệp vụ, dùi cui, súng ống khủng bố người dân thuộc mọi tầng lớp. Đấy là quyền gán ghép cho những nông dân chống lại cưỡng chiếm đất, giáo dân đòi công lý tự do tín ngưỡng, nhà báo tự do đòi quyền ngôn luận và đấu tranh chống tham nhũng hối lộ, thi sĩ mở miệng, nhân sĩ lên tiếng là thành phần manh động, “chống phá nhà nước”, “bị xúi dục” bởi “thế lực thù địch”.

Cái quyền lực này tuy thế lại khiếp nhược trước ngoại bang, trơ tráo bán nước không dám vạch mặt kẻ xâm lược. Trên báo chí thì tập đoàn độc đảng e dè từ ngữ “nước lạ” còn bộ Giáo dục thì lại sửa đổi cả bài học sử[2] dấu tên nước ngoại xâm đô hộ ngàn năm. Ngược lại, hệ thống độc tài này sẵn sàng chụp mũ bỏ tù người tay không một tấc sắt (Phạm Thanh Nghiên, Điếu Cày Nguyễn văn Hải, Tạ Phong Tần) lên tiếng phản đối TQ xâm phạm lãnh hải Hoàng Sa-Trường Sa và kết tội họ tuyên truyền “chống phá nhà nước”

Cái quyền lực chuyên chế đấy thành lập “tập đoàn kinh doanh” bảo kê cho “nhóm lợi ích” bè phái đục khoét ngân quỹ mới chính là thế lực thù địch phá hoại nền kinh tế và đất nước.

Cái quyền lực chuyên chế chiếm hữu ngôn từ và áp đặt giá trị lên những từ ngữ—khởi đầu bằng “công hữu” đến “sở hữu toàn dân” rồi “cổ phần hóa”—để đút vào cái hầu bao riêng của gia đình, dòng họ, và bè phái.

Con dân tương lai của đất nước tha hồ hưởng công ích xã hội ở các trường học không nhà xí, không vách, không sân chơi “sở hữu toàn dân”. Người bệnh nghèo thoải mái chung giường, chung chiếu chia sẻ vi khuẩn mầm bệnh, hành lang, băng ghế ở bệnh viện “sở hữu toàn dân”. Và cả cái loa phường “sở hữu toàn dân” rác tai không muốn nghe cũng bị nhét vào lỗ nhĩ từng giờ.

“Theo mô hình Chủ-Nô (‘Master-Slave’ paradigm) của Georg Wilhem Friedrich Hegel thì quan hệ giữa chủ và nô thể hiện mối quan hệ một chiều trong đó người nô lệ vì sợ hãi đe dọa bạo lực nên phải công nhận và chấp nhận cả quyền lực cùng hiện thân của chủ từ ngôn ngữ, ý tưởng, giá trị cho đến niềm tin.

Cuộc đấu tranh về ngôn ngữ và tư tưởng của người bị trị với chủ nô phát sanh từ mô hình Chủ-Nô có thể quan sát được qua tiến trình bá quyền (hegemonic process)—một quá trình trong đó kẻ thống trị chủ tâm giữ quyền kiểm soát ý nghĩa một cáchchặt chẽ từng con chữ lẫn diễn ngôn (discourse) để áp đặt và tạo điều kiện đảm bảo cho quyền lực chuyên chế qua ngôn ngữ sử dụng thường ngày.”[3]

Những tên cai thầu nô dịch văn hóa và tư tưởng sẵn sàng hợp lực với bộ máy tuyên truyền qua phương tiện thông tin đại chúng thi hành nhiệm vụ nuôi dưỡng, gìn giữ mô hình Chủ-Nô đó.

Người phản kháng một khi tâm thức không ngừng tìm khai sáng sẽ luôn cảnh giác và giải mã/mở toang (unpack) những từ ngữ áp đặt bởi giới quyền lực để phá vỡ vòng kim cô của mô hình Chủ-Nô đó. Trong đám đông đã bị thuần hóa thì dần dà cũng có người bắt đầu học “cách nhận diện các khái niệm bị đánh tráo”[4] để khỏi bị lừa bịp mang gông nô lệ trong não trạng mãi.

Nhưng nhìn vào toàn cảnh thì không có gì để ngạc nhiên khi tâm thức xin-cho vẫn tồn tại trong sinh hoạt hàng ngày vì cơ chế xin-cho (nói một cách khác là mô hình Chủ-Nô) chính là cơ chế của quyền lực hiện hành.

Nô dịch đỏ

Một nền kinh tế thị trường bình thường thì vận hành theo điều tiết của thị trường trong một xã hội tự do nhưng đã bị biến thái dị dạng với tàn tích của cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa”. Dị dạng từ đó trở thành tế bào ung thư, di căn khắp ngõ ngách, ngốn hết chất dinh dưỡng và hủy hoại các phần tử lành mạnh chung quanh.

Tất cả công sức mồ hôi, nước mắt, và xương máu của người dân đã bị họ tóm trọn gói và ăn chia xí phần trong nội bộ đảng CSVN, chính xác hơn là BCT và BCH Trung ương.

Giới cầm quyền ĐCSVN không thể tự nó quản lý, điều hành tất cả thế nên tổ chức đảng (3 triệu đảng viên) và bộ máy chính quyền “nhân dân” cồng kềnh được sử dụng để vận hành hệ thống chuỗi ký sinh ăn bám vào sức lực tạo của cải từ người dân và tài nguyên quốc gia.

Khế ước xã hội (social contract) bị vất bỏ và được thay thế bằng cam kết đồng thuận của Đảng và tập đoàn tư bản đỏ qua bè phái lợi ích nhóm. Người dân bị đẩy ra bên lề, nằm ngoài rìa lại phải cạnh tranh mới mót mét được một chút cặn thừa thải để sống qua ngày.

Các cơ chế trong một chế độ pháp trị thì tương đối tạm đủ (và luôn được điều chỉnh để đáp ứng với sinh động xã hội) cho công dân và cư dân có thể thực thi dân quyền của mình. Người ta có thể xử dụng các phương pháp khác nhau tùy theo mức độ và tầm vóc tạo được ảnh hưởng đến cá nhân, nhóm, cộng đồng.

Còn trong chế độ độc tài chuyên chế nô dịch đỏ thì chính sách cai trị được thực hành qua “luật lệnh”[5] và “nghị quyết” trên thượng tầng cơ sở và luật rừng, luật miệng “tao là luật”, “hành (là) chính” ở hạ tầng cơ sở mà người dân hàng ngày trực tiếp gánh chịu. Vậy thì các phương cách nào đã và đang được thực thi trong chế độ độc tài ấy?

Ta thấy hiện nay có rất nhiều thỉnh nguyện thư. Đây là loại văn bản do một (nhiều) cá nhân hay nhóm là một phương thức khả thể. Khi có các vấn đề hoặc mâu thuẫn giữa công dân và chính quyền (thành phố, quận, tỉnh, tiểu bang, quốc gia) thì người ta sử dụng đường dây chính thức (official administrative channel) trước khi hoặc cùng lúc với phương tiện pháp lý. Tuy nhiên, mức độ không hiệu quả của loại văn bản này trong một thể chế toàn trị thì chả ai nghi ngờ. Thỉnh nguyện thư chỉ có tính tượng trưng trừ khi đi với biện pháp pháp lý song hành.

Quyền tự do cá nhân ăn sâu vào tâm thức người dân trong chế độ pháp trị ở nước tự do. Ngay cả đứa trẻ bậc trung học khi cảm thấy quyền tự do cá nhân bị xâm phạm chúng cũng cùng nhau hoặc kiếm sự hỗ trợ của cha mẹ phản đối hoặc thưa kiện (vì bị buộc đọc lời cầu nguyện của kinh thánh trong buổi lễ ra trường, vì tìm kiếm thông tin trong chương mục facebook cá nhân, vì để trái đất nóng)[6].

Còn chuyện (thỉnh nguyện thư) kiến nghị ở nhà nước CHXHCN Việt Nam thì sao? Việc làm này hoàn toàn chỉ có tính biểu tượng và dấm dớ nửa vời vì từ trước tới giờ tất cả các kiến nghị đều rơi vào sọt rác, không được hồi đáp.

Trong vòng hơn năm nay thì các kiến nghị, thư ngõ liên tục gởi đi, hết Chủ tịch nước tới Quốc hội và Văn phòng Chính phủ. Dù ngay chính các người ký tên tự biết rằng đó chỉ là một hành động tượng trưng. Thế nhưng chẳng lẽ mọi người cứ mãi giả vờ ăn bánh vẽ (như thật)?

Lại có cả chuyện luật sư gởi “Kiến nghị chấn chỉnh lại hoạt động bắt giam và hỏi cung của cơ quan điều tra”[7] cho Chủ tịch Nước (và cả Thủ trưởng Cơ quan điều tra). Rồi ngay cả ĐB Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Bé cũng kiến nghị “Tôi kiến nghị sớm ban hành luật đất đai sửa đổi, trong đó, những vấn đề cụ thể phải ghi rõ trong luật để hạn chế sự quá tải văn bản dưới luật”. Ai cũng ngoan ngoãn xin-cho (phép) được thực hiện chức năng của mình.

Ở nước dân chủ tự do thì luật sư cứ đường đường làm chức năng của mình là đâm đơn khiếu kiện đối tượng vi phạm pháp luật (bất kể ai và cơ quan nào) và ĐB Quốc Hội thì tự họp nhau lại soạn thảo dự luật rồi bỏ phiếu thông qua cho Tổng thống phê chuẩn hoặc phủ quyết. Chẳng ai lại phải “kiến nghị” xin phép được làm công việc của mình.

Việc lên tiếng theo kiểu kiến nghị là tiếp tục nuôi dưỡng một tiền lệ của lối mòn tâm thức xin-cho chỉ tiếp sức cho quyền lực hiện hành tiếp tục xử dụng cơ chế và hệ thống sắt bọc nhung áp đặt tư tưởng lên người nô lệ. Tác hại của nó là mọi người tiếp tục đi vào vết bánh xe đổ của nô dịch. Nó không khác gì việc các con chuột đất vàng (hamster) chạy trong vòng quay (wheel) không đích, không ngừng đặt ra bởi người chủ để rồi giống như những chú chuột lemming theo nhau lao đầu xuống vực thẳm.

Đấy chính là tâm thức nô dịch. Tâm thức nô dịch đó đã được ông Steve Biko, một nhà đấu tranh chống phân biệt chủng tộc tại Nam Phi trong các thập niên 60 và 70 đã từng hùng hồn cảnh báo, “Vũ khí mạnh mẽ hiệu nghiệm nhất trong tay kẻ chủ nô đàn áp là não trạng của người đang bị nô lệ.” (“The most potent weapon in the hands of the oppressor is the mind of the oppressed.”). Quan hệ chủ nô trong bối cảnh hậu thuộc địa hiện nay thì không cần thuộc dạng khác biệt về mặt chủng tộc vì nô đã được tự tạo trở thành cai thầu nô lệ và thực dân mới sau khi bị thuần hóa từ vị trí nô lệ.

Nói một cách khác, người nô lệ không phải là đã thoát ra cảnh đời nô lệ khi được thăng cử lên thành cai thầu nô lệ (slavemaster). Những ai trong giới trí thức và tầng lớp ưu đãi (privileges) Việt Nam (trong và ngoài nước) vẫn ôm ấp công việc, chức vụ dưới dạng cai thầu nô lệ và thực dân mới? Đây là những người sẵn lòng dùng vô số cái vỏ bọc và hoán đổi chúng để phủ chụp cái ruột thực dân mới và che đậy cái tâm cai thầu nô lệ bẩn thỉu bên trong.

Người ta không thể phá vỡ vòng nô dịch bằng các phương tiện được cho phép bởi chủ nô. Người bị nô dịch chỉ có thể thoát khỏi kiếp nô lệ khi họ xử dụng các phương tiện tự giành lại được hoặc chính mình sáng tạo ra. Martin Luther King, Jr đã nhắn nhủ “các bạn hãy tự viết lên bản tuyên ngôn giải phóng nô lệ …”[8]

Bản tuyên ngôn giải phóng đó (từ nghìn xưa tới nay) được thể hiện qua đại cáo[9], băng rôn[10], kháng thư, tờ rơi, bài hát[11], và lời thơ …

Trong thời đại toàn cầu hóa và thực dân mới thì người nô lệ bị đưa đẩy nhưng cai thầu nô lệ thì gần như là tự nguyện nhập vào vai trò của họ. Những tên chủ nô tư bản đỏ (BCT, TW đảng và nhóm lợi ích) cùng thực dân mới (neo-colonialists, global capitalists), các tay cai thầu nô lệ (Quốc Hội, Mặt Trận, Bộ, Ngành) và người nô lệ (nông dân, công nhân, lao động xuất khẩu, nhân viên hành chánh, giáo viên) là các tác nhân của chế độ nội-thực-dân nô dịch đỏ.

Thử hỏi xem phát ngôn “Duy nhất một chất vấn cho Thủ tướng”[12] chẳng phải là lời thưa thốt của tên cai thầu nô dịch hay là gì? Như Tùng Lâm đã bày tỏ trong bài viết “Những bài học lớn từ một cuộc đối thoại” thì “Những ‘kẻ làm thuê có chữ’ đó nếu không có chính kiến và/hoặc không trung thực bảo vệ chính kiến (cho dù chính kiến chưa đồng thuận hay khác biệt) thì chẳng khác gì những tên lưu manh giỏi dao súng hay những gã đồ tể lành nghề làm công cụ cho những kẻ thống trị tàn bạo và ngu dốt …

Xảo thuật của cai thầu nô dịch rất tinh vi trong khi nhập vai. Có lúc thì ngọt giọng vuốt giận người nô lệ để họ không nổi loạn “Vừa qua, việc chống tham nhũng tựa như đánh trận giả, kế hoạch tác chiến rất hoành tráng, lực lượng huy động rất hùng hậu, mệnh lệnh ra quân rất dứt khoát và lại được nhân dân cổ vũ mạnh. Vậy mà khi lâm trận thì súng nổ rất to mà không sát thương được ai vì đạn không có đầu. Quan trọng hơn là quân xanh hay quân đỏ đều là quân ta cả”. Khi khác lại bợ đỡ cho chủ nô của mình “Thông điệp của Thủ tướng làm an lòng dân[13] nhằm tiếp tục giữ công việc khấm khá, người trung gian cho giới chủ nô.

Những tên thực dân mới trong thời đại toàn cầu hóa không còn là kẻ khác màu da nhưng là người đồng chủng, cùng tiếng nói (hoặc ít gì cũng cùng một sinh ngữ toàn cầu là Anh ngữ). Họ đồng tình kết cấu với tư bản đỏ dùng các dòng tự sự “phát triển”, “văn minh” để khai thác tài nguyên, nhân lực địa phương trục lợi cho riêng mình. Vậy, làm sao ta tránh khỏi nhập vai thực dân mới hay cai thầu nô lệ?

Thử thách của giải thực “tâm thức nô lệ”

Giải thực tâm thức nô lệ là một quá trình, ngắn hay dài, tùy thuộc vào cá nhân (tập thể) và môi trường sinh hoạt.

Môi trường sinh hoạt có tác động rất lớn đến tâm thức vì cái thực thể sinh động hàng ngày liên tục tạo dấu ấn, cả tích cực và tiêu cực, đến nhận thức và tư duy. “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” vì đó là trọng lực điều-kiện-hóa (conditioning) của xã hội lên cá thể.

Tuy nhiên con người vốn có ý thức nên chính họ có thể chọn (dù trong giới hạn nào đó) để khởi đầu bằng khai sáng tư duy độc lập, và gầy tạo cho mình cuộc sống tự do. Đồng thời họ cũng không coi trọng cái tôi (bản ngã hay phương diện tâm lý thường đòi hỏi sự tách biệt do khao khát sáng tạo độc lập và chỗ đứng riêng do trải qua nhiều thăng trầm nô lệ tập thể) vì hậu quả phản ứng ngược, và không quên dấn thân vào công cuộc tận dụng sức mạnh liên đới tranh đấu cho tự do hợp lực của mọi người. Đó là tinh thần “Tôi không có tự do cho đến khi nhân dân (mọi người) được tự do” (I’m not free until people/everyone is free)[14] của Aung San Suu Kyi và “Bất công ở bất cứ nơi nào đều là mối đe dọa cho công lý ở mọi nơi” (Injustice anywhere is a threat to justice everywhere) của Martin Luther King Jr.

Không thiếu gì người tự cho mình có được tự do và độc lập trong lồng kiếng hoặc tháp ngà kỹ năng của tầng lớp chuyên gia. Những “vĩ nhân tỉnh lẻ” chăm chỉ hạt mít tự an ủi với chút quyền lợi được ban cho và quyết nhắm mắt làm ngơ trước thế sự nhiễu nhương tác hại cho những người bần cùng khốn khổ chung quanh mình.

Trong chế độ chuyên chế, độc tài thì vấn nạn điều-kiện-hóa và nỗi sợ đè bẹp hầu hết nụ mầm tư duy độc lập và cuộc sống tự do trong liên đới lành mạnh dân chủ. Thường quyền lực chuyên chính dùng nhiều thể thức bạo lực khác nhau: cả trực tiếp (cảnh sát, công an, an ninh) lẫn gián tiếp (tổ dân phố, UBND, mặt trận TQ, sở thuế, phòng kiểm tra, công sở làm việc, cơ sở giao dịch, v.v…) chưa kể đến việc sử dụng xã hội đen.

Quyền lực chuyên chính cũng không ngớt rao hàng mời chào và ban bố chút quyền (cai thầu nô lệ) cho những ai chấp nhận phục tùng nó. Vì thế cởi bỏ nỗi sợ và tâm thức nô lệ đòi hỏi sự chọn lựa chấp nhận hy sinh khi phải đối đầu với nó và rũ bỏ cái tôi, chút địa vị, lợi ích cám dỗ.

Tự bao lâu quyền lực chuyên chế đã chiếm hữu ngôn từ cũng như dòng tự sự, diễn luận và áp đặt ý nghĩa riêng phục vụ cho họ. Vì vậy, người bị áp bức, người phản kháng phải cùng nhau giải mã, phải chất vấn cái ý nghĩa và sự thật nằm trong ngôn từ rồi vẽ ra con đường mới để thoát khỏi dòng tự sự định sẵn.

Phải chăng “Đường ta rộng thênh thang tám thước[15] thì chỉ là con đường đi vào “trại súc vật[16] của hợp tác xã nông trường. Còn lời phát biểu “”Các nước có chỉ số IQ cao đều xây đường sắt cao tốc. Ra nước ngoài, tôi đi thử rồi. Tốc độ nhanh, an toàn, trẻ em đi học, bà mẹ đi chợ… Việt Nam không phải nước nghèo, với quyết tâm chính trị, tôi đề nghị phải xây” về dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam, “Việt Nam chưa phải là siêu cường kinh tế để có thể đài thọ cho một sự ô danh”[17]cho đề xuất luật biểu tình và “dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận”[18], “thủy điện sông Tranh” cũng chỉ là tiếng kèn của dàn giao hưởng cho đại tự sự “phát triển”, “ổn định xã hội” của quyền lực chuyên chế.

Không phải ai cũng là thiên tài để viết, vẽ lên được kiệt tác trong đó sự thật là trọng tâm. Ta đã khâm phục biết mấy một danh hào Aleksandr Solzhenitsyn với tác phẩm “Quần đảo ngục tù”, một nhà soạn kịch, nhà văn Oscar Wilde với kịch bản “The Important of Being Earnest”, hay nhà thơ Nguyễn Chí Thiện với “Hoa Địa Ngục” và những nhà đấu tranh khác đã dám nói lên sự thật của của kinh nghiệm sống, xã hội và chế độ. Dĩ nhiên, họ biết cái giá rất đắt phải trả một khi cởi trói mình ra khỏi ách nô lệ và can đảm lên tiếng đó.

Oscar Wilde đã từng nói “Nếu bạn muốn nói lên sự thật với người khác thì phải làm cho họ cười, bằng không họ sẽ giết bạn” (If you want to tell people the truth, make them laugh, otherwise they’ll kill you). Tương tự, triết gia Friedrich Nietzsche cũng than thở “Có lúc người ta không muốn nghe sự thật bởi vì họ không hề muốn những ảo tưởng của họ bị tiêu hủy” (Sometimes people don’t want to hear the truth because they don’t want their illusions destroyed.)

Bạn (và ta) có muốn đối diện với sự thật hay không?

Bạn (và ta) có đang làm thân nô lệ hay không?

Bạn (và ta) có muốn tự viết lên bản tuyên ngôn giải phóng nô lệ cho mình hay không?

© 2012 Vietsoul:21


[2] Hai Bà Trưng đánh giặc nào?, blog Tâm Sự Y Giáo

[3] Yellow Bird, M. (2008). Postscript Terms of endearment: A brief dictionary for decolonizing social work with indigenous peoples. In M. Gray, J. Coates & M. Yellow Bird (Eds.), Indigenous social work around the world:  Towards culturally relevant education and practice (pp. 275-292). Aldershot, Hants, England; Burlington, VT: Ashgate.

[5] Luật Lệnh, Vietsoul21.net

[9] Tham nhũng đại cáo, J.B Nguyễn Hữu Vinh

[11] Việt Nam Tôi Đâu, Việt Khang – Asia Channel

[15] Ta đi tới, Tố Hữu

[16] Animal Farm, George Orwell

Advertisements

Đại Vệ Chí Dị – Vàng và đậu phụ

In Chính trị (Politics), Kinh Tế, Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2012/11/02 at 16:47

Nước Vệ triều nhà Sản năm thứ 67. Vệ Kính Vương năm thứ hai.

Mùa thu, có cơn bão đổi hướng không dự đoán được, tàn phá nặng nề vùng duyên hải, cây cối hoa màu ngoài đồng không kịp thu hái dập nát, tả tơi.

Năm ấy nhà Sản chỉnh đốn quan lại, kiểm kê nợ nần, số nợ thật là khủng khiếp. Mọi việc đều đổ tại cho phủ Chúa quản lý không ra gì mới đến nỗi vậy. Chúa là người cơ mưu ứng biến tài giỏi, trước việc khó vẫn tươi cười như không. Khi xưa còn thưở là cai đội ở miền heo hút tận cùng đất nước, đã hiểu được chuyện kinh tài rành rẽ. Lại từng canh cửa biển ngăn chặn bọn vượt biên, nên ngài nắm được trong dân còn có nhiều vàng lắm.

Chúa họp bầy tôi lại phán.

– Giữ cho dân trong rọ, cũng như giữ được vàng trong túi. Nay lệnh cho bộ Hình tăng cường xiết chặt không để cho dân chúng dám có ý khác. Sau đó sẽ có kế lấy vàng thanh khoản nợ công.

Bộ Hình ra tay khắp nước, bắt bớ, xét xử lại bắt bớ. Dân chúng cúi đầu im thin thít, người đi đường không dám ngẩng đầu chào nhau. Ai cũng lo việc nhà nầy. Động một lời phàn nàn cũng thành tội nói xấu triều đình. Bởi thế không ai dám nói gì đến chính sự.

Rồi Chúa ra lệnh cấm vàng trong dân, ai có phải mang bán cho triều đình lấy tiền giấy. Rồi lại khuyên dân mang tiền giấy ấy mà gửi ngân khố triều đình. Cầm giấy chứng nhận mà hàng tháng đi lấy tiền lời.

Dân có ý thăm dò, nhìn nhau. Một tháng trôi qua, chả ai mang vàng đến bán.

Bầy tôi coi kho bạc đến gặp Chúa hiến kế  như vầy, như vầy.

Chúa cấp tốc xuất kho, cho người cầm vàng đi ra thương điếm bán. Đồng thời lại sai bộ Hình đi theo nhằm lúc bán mà bắt. Rồi phao tin trong thiên hạ có kẻ bị bắt tich thu trắng cả mấy trăm lượng vàng. Thiên hạ nghe ai cũng xót xa nghĩ đến phận mình, ruột gan bồn chồn thấp thỏm lo lắng nếu ai có chút vàng giữ trong nhà.

Lúc này quan coi kho mới cho người cầm vàng, lẻn cổng sau đến cổng trước xếp hàng. Rồi lấy đó mà tiếng rằng mỗi ngày kho bạc triều đình mua đến cả xe vàng.

Chúa lại lệnh rằng quyết tâm giữ không để lạm phát, mất giá đồng tiền.

Lác đác người dân thấy giao dịch bên ngoài thì lỡ công sai thấy thu trắng mất,bèn  đem bán cho kho bạc kém giá một chút nhưng an toàn,vả lại Chúa cam kết thế rồi lo gì tiền mất giá, đem tiền ấy gửi cho ngân khố lấy lời có hơn là để vàng chôn dưới đất.

Có mụ đi chợ thấy miếng đậu phụ ngoài chợ bỗng bé hơn bình thường. Lúc về phàn nàn với chồng. Gã chồng nói.

– Cái mẹo người bán đầu tiên cho bé dần đi để người mua không để ý. Đến khi bé lắm rồi, mới chợt làm to bằng như cũ với giá cao hơn. Thiên hạ cứ tưởng là vì to hơn thì giá cao hơn, thực tình là đã tăng giá còn miếng đậu phụ vẫn thế mà thôi.

Hào phú bên cạnh nghe thấy, lập tức gom hết vàng trong nhà đem đi chôn giấu thật kỹ. Phu nhân mới hỏi sao lại làm chuyện lạ đời lúc này thế. Hào phú nói.

– Nhờ có miếng đậu phụ mà ta nhớ đến câu ” gánh vàng đi đổ sông Ngô, đêm nằm tơ tưởng đi mò sông Thương.”  Chuyện này cứ thế, không nói nhiều kẻo đắc tội triều đình.

Phu nhân là người am hiểu, nghe thế không hỏi thêm gì nữa.

Nguồn: Người Buôn Gió

cực đoan – phản động

In Cộng Đồng, Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2012/10/19 at 23:50

minh họa: dân làm báo

Cuối tuần vừa rồi người Việt tỵ nạn cộng sản ở Hoa-kỳ đã tiễn đưa nhà thơ, ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện ra đi vĩnh viễn. Dù chúng tôi chưa bao giờ gặp mặt nhưng có đọc nhiều bài thơ của ông và lấy lòng cảm phục với tấm lòng chân thật và tinh thần bất khuất của con người ấy.

Cái giá mà ông Nguyễn Chí Thiện trả cho việc nói lên sự thật quả rõ đắt và đắng[1]. Dù đó chỉ là sự thật của một sự kiện trong lịch sử:

“Anh chuẩn bị kỹ, giải thích cho học sinh biết rằng phát xít Nhật bị bắt buộc phải đầu hàng vào tháng 8-1945 là do 2 quả bom nguyên tử của Mỹ ném xuống Nagasaki và Hiroshima. Thế là có phụ huynh học sinh cùng một giáo viên ganh tỵ với anh tố cáo với công an quận rằng anh cố tình truyền bá tư tưởng đế quốc, không theo giáo án, nói trái quan điểm của đảng, không giải thích rằng phát xít Nhật thua là do công ơn của Nguyên soái Stalin đã chỉ huy Hồng quân tiêu diệt đạo quân Quan Đông ở Mãn Châu.”

Có lẽ cái giá của sự thật không bao giờ rẻ, nhất là ở những nơi mị dân đầy xảo trá lọc lừa thì phải rất đắt. Đắt bằng 3 lần đi tù, gần nửa đời người cho nhà thơ.

Đắt bằng 34 năm tù còn tiếp tục cho anh Nguyễn Hữu Cầu[2], người cương quyết không ký nhận tội danh của bản án.

Đắt bằng 12 năm tù cho anh Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, 10 năm cho cô Tạ Phong Tần và 4 năm cho Anhbasaigon Phan Thanh Hải[3].

Đắt bằng với 16 năm tù cho Trần Huỳnh Duy Thức, 5 năm cho LS Lê Công Định.

Đắt bằng 9 năm cho Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, 7 năm cho Đỗ thị Mỹ Hạnh và 7 năm cho Đoàn Huy Chương[4].

Đắt bằng 7 năm tù cho anh Cù Huy Hà Vũ.

Đắt bằng giam cầm vô thời hạn cho Paulus Lê Sơn[5] và các thanh niên công giáo vì công lý và sự thật.

Đắt bằng cái chết lần mòn cả tinh thần và thể xác cho LS Nguyễn Mạnh Tường kẻ bị “mất phép thông công[6], và triết gia Trần Đức Thảo[7] sống trong tăm tối cho đến cuối đời. Cái chết của những con người lương thiện trong một thể chế dị dạng vô lương tri.

Và đắt hơn cả là vô số cái chết và tù đày của trăm vạn ngàn người suốt 67 năm dài …

Cực đoan (Cực kỳ)

Đối với những quyền lực, nhất là những quyền lực gần như tuyệt đối thì bất cứ những ý kiến trái ngược hoặc phản kháng nào – dù phản kháng đó bằng lời hay bằng hành động – nếu không theo “khuôn khổ” được quy định thì sẽ được gán cho từ “cực đoan”.

Nhà Thiên văn học Galileo sau bao nhiêu tháng năm quan sát, tìm tòi và đã khám phá ra rằng “trái đất quay quanh mặt trời”. Thế nhưng sự thật đó không được công nhận bởi Tòa thánh La Mã. Giáo quyền thời đó đã xem ông Galileo là kẻ cực đoan, dị giáo (heretics) muốn phao tin giả (hearsay) trái với giảng giải trong kinh thánh. Ông đã trả giá cho sự thật bằng một bản án giam tại gia cho đến cuối đời.

Triết gia Socrates lúc làm ủy viên của hội đồng thành phố (boule) đã bất chấp đe dọa truất phế và tù tội, kiên quyết không bỏ phiếu cho một cuộc xử án vi hiến – kiểu đấu tố (collective trial)  – ngay cả đối với những tên bạo chúa tiếm quyền. Dù rằng trước đó không lâu ông suýt bị nhóm 30 tên bạo chúa này (Thirty Tyrants) xử tử chỉ vì ông lặng lẽ từ chối không làm đồng lõa cho các cuộc xử tử bất công do họ dựng ra. Socrates phản kháng cái quyền lực bất công quy buộc ông vào tội danh “đầu độc tâm hồn thanh thiếu niên” dù rằng ông chỉ giảng dạy triết lý muốn đi tìm sự thật và công lý. Ông chấp nhận uống thuốc độc chết để bảo tồn danh dự và khế ước xã hội dù có cơ hội trốn thoát khỏi lao tù. Socrates đã bị gán là kẻ “cực đoan” về mặt tư tưởng chỉ vì muốn bảo vệ công lý và sự thật.

Ông Ghandi, người hiện được mọi người ca tụng là vĩ nhân hòa bình vì là người chủ xướng đấu tranh bất bạo động chống thực dân Anh, cũng bị chính quyền thời đó gán tội danh “quấy rối trật tự” chống nhà nước. Rất nhiều quan chức, giới thượng lưu, thành phần ưu tú (elites), và ngay cả trí thức trong giai đoạn ấy đã dán cho ông nhãn hiệu “cực đoan”. Họ muốn ông đàm phán, hòa giải bất công qua các “thủ tục” quy định bởi chính quyền thực dân.

Ông Martin Luther King Jr., mục sư đạo Tin Lành và thủ lãnh phong trào dân quyền ở Hoa-kỳ , đã noi gương Ghandi đấu tranh bất bạo động, đòi hỏi quyền làm người, bình đẳng và công lý cho người Da Đen nên cũng bị ghán cho là thành phần nguy hiểm, khích động . Không ít những mục sư Tin Lành và một số trí thức cùng màu da, cùng lý tưởng đấu tranh dân quyền đã tránh né xa lánh ông vì cho rằng phương thức hành động và tuyên ngôn quá “cực đoan” sẽ đưa tới phản ứng mạnh đàn áp phong trào.

Nguyễn Chí Thiện, Dương Thu Hương, Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Cù Huy Hà Vũ, Phạm Thanh Nghiên, Bùi Thị Minh Hằng đều “được” gán cho cái mác “cực đoan”, “quá khích” v.v…

Những người vì sự thật, công lý, bình đẳng khi cương quyết, nhất quán trong đấu tranh thường (luôn) hay bị giới cầm quyền gán cho cái mác “cực đoan” và “quá khích”. Đặc biệt là nhà nước cộng sản Việt Nam thì họ sẽ được cho thêm cái mũ “phản động” kèm với “cực đoan”.

Anh em Đoàn Văn Vươn sử dụng mìn tự chế chống lại cưỡng chế bất công, tàn bạo của công an, cảnh sát, dân phòng thì được “phong” hàm “manh động”, “cực đoan”, “quá khích”.

Giáo dân cùng tu sĩ xứ Thái Hà[8], Con Cuông, Cồn Dầu tụ tập để cầu nguyện hiệp thông, bảo vệ tài sản, giáo đường cũng bị chụp cái mác “cực đoan”, “quá khích”.

Những người dân oan bị cướp đất đi khiếu kiện, lê la lếch thếch từ xã tới huyện đến thành phố và tận trung ương cũng bị mồm loa, mép giải của báo của đài gọi là “khích động” và “cực đoan”.

Hai mẹ con cởi truồng giữ đất[9] vì không muốn bị cướp đi phần mồ hôi nước mắt bao năm gầy dựng. Họ trần truồng bám trụ giữ phần tài sản nhỏ bé nghèo nàn để “cạp đất mà ăn” cũng bị gán là có hành động “cực đoan”.

Cơ chế và Quyền lực

Các quyền lực độc đoán không bao giờ chấp nhận ý kiến trái ngược với họ để bảo vệ giữ vững cái vị trí độc đoán đó. Những quyền lực này luôn gieo ảnh hưởng lên công chúng bằng cách xử dụng ngôn ngữ để gài khung (framing) hầu tạo cái nhìn phán đoán về dị biệt (deviant) để dễ dàng cách ly (isolate)  người/nhóm phản kháng ra khỏi đám đông. Kế tiếp là họ sẽ tấn công vào thân thế, bôi nhọ cá nhân hay tập thể nhỏ đó. Và sau cùng là dùng cả hai cơ chế luật pháp (các luật lệ khiếm khuyết, hoặc vi hiến) và luật rừng để cưỡng chế và vô hiệu hóa người/nhóm phản kháng.

Phương tiện để gài khung là thuật ngữ. Đó là việc sử dụng những từ ngữ phổ thông và có định kiến xấu để quy chụp vào tình huống cá biệt. Họ dùng những cây cọ thật to – các phương tiện truyền thông đại chúng – để tô hồng (đồng chí) và bôi đen (đồng bọn/đối tượng) tạo phán xét dễ dãi không cần tư duy định hướng dư luận.

Những quan sát trên thuộc cái nhìn về “cực đoan” dưới lăng kính tương quan giữa quyền lực và cá nhân/tập thể thiểu số. Còn cái nhìn về “cực đoan” dưới lăng kính tương quan xã hội thì sao?

Ở các nước Á Đông, nền văn hóa Khổng, Nho, Lão giáo vẫn còn ảnh hưởng đẫm đặc trong tư duy của mọi người, nhất là trong tầng lớp có học vấn. Cái tinh thần “dĩ hòa vi quý”, thuyết “trung dung”, “vô vi” thường được xử dụng làm chỗ dựa để biện minh cho việc an vị, tịnh tâm và để rúc vào đám đông thầm lặng “ôn hòa”.

Dĩ nhiên khi đã tự xưng là thành phần “ôn hòa” thì mối liên hệ với những người cương quyết, nhất quán trở thành mối liên hệ xa lạ – giữa ta và kẻ kia (the other) – cho dù ngay lúc cả hai đều có cùng một mục đích hoặc lý tưởng đi nữa. Không thiếu gì trường hợp người ôn hòa gán cho người khác là “quá khích”, “cực đoan”, là “bất hảo”, “mất gốc rễ”, là “vô liêm sĩ, man rợ”[10], là “ô hợp” thiếu “văn minh” một khi kẻ kia có những ứng xử không theo “tiêu chuẩn” của người chủ quan tự cho mình là thành phần ôn hòa. Vô hình chung cách ứng xử này sẽ cô lập và tách biệt quần thể ra thành hai nhóm—một tập thể bỗng dưng có hai thái cực đối kháng và khắc kỵ nhau. Kết quả cả hai đều rơi vào bẫy phân hóa do diễn luận cài khung thực thi bởi quyền lực hiện hành.

Bên cạnh chỗ dựa “ôn hòa” trong đám đông thầm lặng những kẻ tựa vào quyền lực lại còn có chiếc ô che “khách quan” vô tư tránh nắng (thiếu) khoa học tạo thuận lợi giúp những phán quyết về người khác được xem như là chuẩn mực.

Nơi an toàn nhất đối với họ là vị thế “ôn hòa”, “việc đâu còn có đấy”, “bình chân như vại” không động đến cái lông chân. Chốn khó khăn đầy hiểm nguy là điểm trực diện đương đầu với quyền lực của những ai chọn dấn thân.

Ngược lại, người phản kháng luôn tìm mọi phương cách để trực diện đương đầu, biểu lộ chính kiến của mình nhất là khi họ bị cô lập và giới hạn trong các phương tiện truyền thông đại chúng. Họ dùng mọi phương thức, cả kiểu sáng tạo lẫn lối thông thường từ việc chiếm phố Wall (Occupy Wall Street) đến chuyện ban nhạc Bướm Nổi Loạn (Pussy Riots) hóa trang hát nhạc rock trong nhà thờ diễu cợt Putin, từ nhóm người bảo vệ môi trường “cắm dùi” trên ngọn cây chống đường ống dẫn dầu xuyên đại lục (XL pipeline, tar sands) đến nhóm chống bom nguyên tử dùng thuyền chèo (kayak) và thuyền buồm cản trở hải trình tàu ngầm nguyên tử, từ nhóm bảo vệ quyền thú vật (animal rights) dùng thuyền cao tốc đuổi cản tàu đánh bắt cá voi/ông đến nhóm chống chiến tranh lấy thân mình làm lưới chắn cổng hải quân vận chuyển vũ khí ra ngoại quốc, từ phong trào người Tây Tạng lưu vong tự thiêu chống Trung Quốc đến hiện tượng người Việt Nam tỵ nạn biểu tình chống cộng sản ở phố Bolsa v.v… Bất cứ phản ứng nào dù thật sự ôn hòa cũng có thể bị gán ghép là “cực đoan”.

Họ bị gán cho là những kẻ vô công rỗi nghề, bọn không công ăn việc làm, người nhận tiền nước ngoài (thế lực thù địch), mất gốc rễ, dân đầu đường xó chợ, kẻ ăn bám xã hội, đám ăn trợ cấp (welfare), thứ rác rưởi, bọn trẻ xuẩn ngốc v.v… Hệ thống quyền lực thành công hay không trong việc gài khung cô lập những người này hoàn toàn tùy thuộc vào nhận xét của dân chúng – nhóm/đám này đa phần chịu ảnh hưởng bởi các định kiến tạo ra và đặt để trong xã hội.

Tính Năng Động của Quyền Lực – Ký Sinh – Đồng hóa

Hãy thử thoáng nhìn về các tính năng động phức tạp của quyền lực trong xã hội (complex power dynamics within society).

Nhà nước nắm giữ hệ thống quyền lực là chủ (host) trong chuỗi quyền lực mang tính ký sinh “trao thân gởi phận”. Nhà nước luôn chủ động trong vận hành, đặt ra kế hoạch mà không cần phải trao đổi với những nhân vật hữu quan chủ yếu, và từ đó áp đặt quyền lực lên các thành viên trong xã hội. Và xoay quanh quyền lực hiện hành này là vô số những ký sinh (sát cánh) giúp vận hành cỗ máy đó.

Có rất nhiều móc xích trong chuỗi ký sinh, loại trực tiếp và loại gián tiếp. Có ký sinh trực tiếp “còn đảng, còn mình”. Có ký sinh gián tiếp thoáng ra không ai nhìn thấy vì nó nằm xa mãi ở tận cuối chuỗi móc xích. Ký sinh trực tiếp thì biết (bám) chủ còn ký sinh gián tiếp nằm ở cuối chuỗi móc xích thì lờ mờ (lửng lơ) với chủ gốc.

Điểm đặc biệt ở đây khác với định luật sinh tồn trong quan điểm sự tồn tại thuộc về loại mạnh nhất (survival of the fittest) ở chỗ ký sinh rất dị ứng với việc chủ bị triệt tiêu. Vấn đề này rất hệ trọng vì làm rối loạn mối liên hệ của chủ-ký sinh (host-parasite relationship). Nguyên do bởi lẽ ký sinh và chủ có cùng một chu trình tiến hóa tương tác (co-evolution). Chủ có sống thì ký sinh mới tồn tại. Chính đó mới là cái nhập nhằng, đan chéo trong các mối quan hệ của quyền lực trong xã hội.

Quyền lực chuyên chính không bỏ qua một thủ thuật tinh vi và lắm lúc miễn cần gông cùm mã tấu. Đó là chước tạo đồng hóa/thuần hóa (assimilate/cooptation) về mặt tưởng, lợi ích, và danh vọng nhằm loại trừ và dập tắt những thành phần kháng cự, chống đối, và muốn phản ứng ngược. Đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam đã xử dụng thủ thuật này xuyên suốt chiều dài lịch sử ngay từ khi cướp chính quyền.

Đồng hóa tư tưởng qua nhiều phương tiện tuyên truyền: từ cái loa phường, các bích chương khẩu hiệu, đội thiếu niên quàng khăn đỏ, đoàn thanh niên, đến họp tổ dân phố, họp hội phụ nữ, hội người cao niên, hội cựu chiến binh, nghị quyết, báo, đài v.v…

Đồng hóa lợi ích qua cơ chế tạo hệ thống đồng lõa với các tổ chức ngoại vi và nhà nước. Số cán bộ (gần xa) và nhân viên nhà nước được bổ xung, cồng kềnh cho nên có xã có trên 500 cán bộ[11]. Gần như ai ai cũng có dính phần tí tẹo nào đó vào cơ chế để móm chút lợi. Những ký sinh và các con vắt này liên tục hút máu tài sản nhân dân và tài nguyên quốc gia.

Việc đồng hóa lợi ích đã được thể hiện rõ trong Hội nghị Trung ương 6 vừa qua. Toàn thể BCHTƯ và BCT đã đồng hóa về lợi ích và dĩ nhiên không thể nào có việc phản kháng lại lợi ích chung ăn sâu tận gốc rễ.  Nếu nói theo giới cầm (tu) chai thì đây quả là “nguyên lý mâm thịt chó[12] (Hất đổ thì mất ăn, mà tất cả mọi người đều muốn ăn!)

Đồng hóa lợi ích với hia mão qua phong trào tấn phong “nghệ sĩ ưu tú”, “nghệ sĩ nhân dân”, “anh hùng lao động”, “chiến sĩ thi đua” v.v… “Đại văn hào” Mạc Ngôn chẳng phải đã tự mình làm tròn sứ mệnh Đảng CS Trung Quốc áp đặt, ngay từ bút danh cho đến thực danh, là “mất/tắt lời” đấy ư!? Một câu nói vớt vát “Tôi hy vọng ông ấy [Lưu Hiểu Ba] sẽ được tự do nhanh chóng”[13] hầu chống đỡ các chỉ trích thì chỉ tiêu hao tí tị điểm thi công (political capital) mà ông đã vón vén “xin/cho” được từ cái giải văn học làm giải tỏa “mặc cảm Nobel” của Trung Quốc. Đương nhiên sẽ có tiếng thổi kèn đồng nhịp tương tác vào diễn luận “ôn hòa”[14], “ổn định”, và “phát triển”. Những ai không muốn bị đồng hóa là tất nhiên thuộc thành phần “bất hảo”, “phản động” như nhà thơ Hữu Loan, LS Nguyễn Mạnh Tường, ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện, Khôi Nguyên Hòa Bình Lưu Hiểu Ba, và nghệ sĩ Ngãi Vị Vị.

Tương Quan Quyền Lực

Tương quan quyền lực trong xã hội rất đa dạng. Nó không chỉ đơn thuần là tương quan giữa nhà nước và cá nhân viết tắt là nhà nước-cá nhân (state-individual) nhưng còn ở nhà nước-tổ chức (state-group) và giữa nhóm-cá nhân (group-individual) hoặc nhóm-nhóm (group-group) v.v…

Trong tương quan quyền lực (đặc biệt là quyền lực chuyên chế) giữa nhà nước và cá nhân hay thiểu số thì chắc chắn cá nhân/thiểu số là bị lép vế hoàn toàn. Những gì được cho là cực đoan của cá nhân/thiểu số không thể nào so bằng cái cực đoan, cực kỳ phản động ngàn vạn lần của tập đoàn quyền lực chuyên chế (nhà nước độc tài).

Thiết nghĩ các sự việc liên hệ đến đấu tranh giữa hai thế lực luôn phải được nhìn qua lăng kính tương quan quyền lực để xem xét. Chúng ta chỉ có thể tạm bỏ qua lăng kính quan trọng này khi hai lực nằm trong lãnh vực cá nhân riêng tư, thí dụ như tranh chấp của người này với người nọ trong các sinh hoạt hàng ngày.

Dù vậy chúng ta vẫn không thể làm ngơ không xét đến các quyền lực ngầm hoặc quyền lực mềm. Thí dụ như mâu thuẫn giữa một thường dân với ông hàng xóm quan quyền (chủ tịch, bí thư, trưởng CA, v.v…) thì ông hàng xóm quan quyền có quyền lực ngầm. Hoặc mâu thuẫn giữa một người lao động chân tay không học vấn với người lao động trí óc thì người trí óc hẳn có quyền lực mềm vì biết các thủ tục pháp lý có mối liên hệ với các bộ máy nhà nước v.v…

Ta cũng không thể quên việc “ở đâu có áp bức ở đó có đấu tranh”. Các áp bức, oan ức, ép uổng thường tạo kích động gây phản ứng “cực đoan” vì chỉ có bằng cách đó những nỗi oan khiên mới được nghe, biết, và hiện hữu (heard, known, and existed).

Khi đối diện với những hiện tượng “cực đoan” nếu chúng ta không vội vàng phán đoán chỉ trên bề mặt của hiện tượng mà cố gắng hàm dung (cởi mở) để lắng nghe mặt chìm đằng sau những cử chỉ hành vi “cực đoan” kèm tiếng kêu gào này thì có thể tìm đến bản chất và nguyên nhân của sự việc. Ít ra thì từ đấy chúng ta có thể đồng cảm hoặc dù gì cũng trút bỏ định kiến và cảm thông được phần nào tại sao kẻ/nhóm thấp cổ bé miệng kia hành xử như thế.

Điều cần tránh nhất là không tự dễ dãi phang ra những phán xét trên quan điểm cá nhân (trong lối mòn nhận thức) vô tình làm cánh tay nối dài của quyền lực chuyên chế và gián tiếp bóp mũi, bịt miệng, thậm chí xiết cổ cái khát vọng cũng như nỗi oan khiên từ kẻ khốn cùng.

© 2012 Vietsoul:21


[14] “Người ta nói rằng, giải thưởng Nobel văn chương năm nay ôn hòa về mặt chính trị.” Phạm Xuân Nguyên – Mạc Ngôn giải tỏa ‘mặc cảm Nobel’ cho Trung Quốc, VTC News

Nguồn: Vành Anh Online (Trích từ city-n.ru)


Các bài liên hệ:

Yueh Nan – 2029

Giờ phẫn nộ!

Con tin lương tâm

Chúng tôi (Tự trào – Trí Thức – Tâm Tài)

Tôi là người Việt Nam

Những cái nhập nhằng không tên – The Unspoken Ambiguities

Bịt miệng nạn nhân