vietsoul21

Archive for the ‘Chính trị (Politics)’ Category

Alvaro Marino – Không, tôi không cần sự khoan hồng

In Chính trị (Politics), Lịch Sử, Liên Kết, Thế giới on 2013/05/22 at 16:22

Theo blog Nguyễn Văn Nguyên

Alvaro Marino (1959-1981?) là một sinh viên văn khoa ở đại học La Habana và là một nhà thơ trẻ. Từ năm 1979 đến 1980, Alvaro đã bị công an tạm giữ và thẩm vấn nhiều lần vì “thái độ chính trị”. Ngày 11 tháng 3 năm 1981, trong khi đang dán một tấm bích chương chống chế độ độc tài Fidel Castro, anh đã bị bắt bởi một nhóm người mặc thường phục. Alvaro Marino vĩnh viễn mất tích kể từ đó.

Ofelia González, người yêu của anh, còn giữ được cuốn nhật ký của anh, trong đó có một số tuỳ bút và 3 bài thơ. Cô đã lén gửi cuốn nhật ký ấy ra nước ngoài, và sau đó, bài thơ “No, yo no necesito el perdón” [“Không, tôi không cần sự khoan hồng”] đã được đăng trong tuyển tập Los poetas cubanos disidentes [Những nhà thơ bất thoả hiệp ở Cuba] do Xavier Mudarra biên tập, xuất bản tại San Martín, Peru, năm 1992.

 

Nếu ngày mai bọn chúng đến đây bắt tôi,
tôi sẽ không cần tự biện hộ,
tôi sẽ không cần ai biện hộ cho tôi,
tôi cũng không cần một gã luật sư công chức
— kẻ chỉ biết đứng trước toà và nói: “Xin hãy khoan hồng…”

Không, tôi không cần sự khoan hồng
vì tôi không có tội.
Tôi chỉ khao khát sự tự do cho đất nước này
và tôi sẵn sàng chết cho điều đó.
Hãy treo cổ tôi lên với bản án: “Đây là kẻ ngoan cố
— kẻ đã dám khao khát tự do.”

Ở đất nước này mọi bản án đều đã được viết sẵn
và đã được để sẵn trong hộc bàn của những quan toà.
Lũ hèn nhát sẽ lấy một bản án ra và điền tên tôi vào,
và tôi sẽ nghe bọn chúng đọc thuộc lòng
những ngôn từ mà mọi người đều đã biết.

Không, tôi không cần sự khoan hồng cho tôi,
vì tôi cũng sẽ không khoan hồng cho bất cứ kẻ nào
dám giẫm đạp lên sự tự do như giẫm đạp lên rác rưởi.

Không, tôi không cần sự khoan hồng.
Ở đất nước này mọi bản án đều đã được viết sẵn.

Alvaro Marino

Đại Vệ Chí Dị – Một cổ mấy tròng

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn on 2013/05/16 at 09:29

Nước Vệ nhiều nhà Sản năm thứ 68. Kinh tế suy thoái, khó khăn chồng chất đổ lên đầu người dân. Nhà Sản ngầm quy tội tất cả mọi chuyện do đảng Ích mà ra.

Đảng Ích vốn từ trong lòng nhà Sản mà ra. Khi xưa khó khăn, nhà Sản mở trói cho thiên hạ làm ăn. Đồng thời phủ dụ dân chúng hãy chịu khó cày cuốc, buôn bán kiếm kim ngân mà lo cho bản thân. Đừng nghĩ chuyện quốc gia, đại sự. Từ khi có phủ dụ ấy , người thiên hạ thi nhau kiếm tiền bằng mọi giá. Thước đo nhân cách con người không phải là đạo lý thánh hiền, mà thước đo nhân cách con người được tính bằng tiền bạc. Bởi vậy chuyện kiếm tiền bằng tham nhũng, gian lận, cưỡng đoạt, lừa đảo đều được thiên hạ bỏ qua. Miễn sao có nhiều kim ngân người đó là anh tài.

Cơ hội kiếm tiền đến với nhiều người. Thầy thuốc thì ép bệnh nhân trên giường bệnh lấy tiền. Thầy đồ mở lớp học thêm ở nhà thu tiền, ở trường dạy qua loa, ở nhà dạy kỹ càng, học trò muốn giỏi phải đóng tiền học thêm. Công sai đi tuần ráo riết hàng giờ ngoài đường, thấy lỗi gì của dân dù nhỏ cũng không buông tha. Quan lại không có tiền đút lót không duyệt bất cứ thứ gì. Đến bọn văn thư, nha lại cũng cậy mình ở cửa quan sách nhiễu đòi tiền dân. Các con buôn thi nhau nhập hàng độc hại giá rẻ về trà trộn bán cho dân chúng….

Nhưng cơ hội kiếm tiền nhiều nhất và lớn nhất đương nhiên thuộc về tể tướng, bởi ngài coi soát việc kinh tế trong triều. Một lời của ngài, một chữ ký của ngài kẻ khác có được hàng vạn lượng. Những kẻ hám lợi vây quanh tể tướng để nhận chút mưa móc. Lâu ngày chúng đông dần lên. Nghiễm nhiên thành băng đảng, kẻ đứng đầu băng đảng ấy tất là tể tướng.

Người trong thiên hạ gọi cái băng đó là đảng Ích.

Đảng Ích năm thứ 68 thâu tóm mọi tài nguyên, lợi nhuận trong nước. Thế mạnh vô cùng, Vệ Kính Vương lo sợ nhà Sản mất về tay đảng Ích. Ngày đêm Vương toan tính mọi điều để hạn chế sự bành trướng của đảng Ích. Nhưng Vương nghĩ ra mưu kế nào, đảng trưởng X đập tan ngay trong trứng nước.

Sở dĩ kế của Vương không thành do nhiều nguyên nhân. Nguyên nhân do đảng Ích nắm hết ngân khố đã đành. Nguyên nhân nữa là giờ không có đảng Ích thì cái nhà Sản vốn đã bị dân chúng coi khinh làm sao tồn tại được. Đảng Ích quyền hành bao trùm thiên hạ, dù tham nhũng những vẫn coi trọng nhà Sản. Như lý thuyết giữ chùa được ăn oản. Oản thì đảng Ích có được ăn thì mới giữ chùa nhà Sản.

Đảng Ích và nhà Sản gườm nhau thế, nhưng cả hai vẫn ngầm quy ước là quy phục Tề. Bởi có quy phục Tề thì hiện trạng chùa vẫn được giữ, oản vẫn có ăn. Cả Sản và Ích đều tồn tại và có phần.

Nhà Sản mấy lần đã dâng sớ tâu sang Tề, nói rằng đảng Ích lũng đoạn nước Vệ, nếu không diệt thì tất có ngày Ích soán quyền. Lúc ấy liệu Vệ có còn dâng cống nạp mà thuần phục Tề nữa không.?

Đảng Ích cũng đoán được ý trong sớ, nên gia tăng bắt những người trong nước có lòng ghét Tề. Năm nào đảng Ích cũng đưa dăm bảy người Vệ chống Tề ra xử thật nặng.

Tề Vương Tạp Cặn thấy bọn bầy tôi nước Vệ dẫu có dèm nhau, nhưng đối với Tề cả hai đều tỏ lòng trung. Nên chỉ khuyến cáo là đã làm bầy tôi cho Tề thì chớ có bụng làm bạn với nước khác. Cứ nghe khuyến cáo ấy thì chính sự Vệ ổn định, hòa bình, an hòa bốn cõi. Triều đình nhà Sản và đảng Ích sánh ngang tuế nguyệt, đời đời chia nhau hưởng lộc ở nước Vệ.

Bởi thế Tề cho quân sang chiếm đảo Vệ. Nhà Sản không nói gì, đảng Ích cũng chẳng làm gì.

Ở phía Nam nước Vệ, đất Rồng Nằm có đôi học trẻ một trai, một gái tuổi còn đôi chin, vì căm tức quân Tề lộng hành bắn giết ngư dân Vệ ngoại biển, chiếm đoạt tài nguyên của Vệ ngoài biển. Đôi bạn trẻ cắt tay lấy máu viết tờ phản đối hành vì của ngạo ngược của Tề.

Gặp đúng lúc Sản và Ích hục hặc, cả hai muốn lấy lòng thiên triều nhà Tề. Bèn bắt bọn trẻ và kết án tù khổ sai nhiều năm.

Sau đó cả hai đều lập tức dâng sớ sang Tề nhận công, xin chứng nhận lòng trung son sắt với thiên triều.

Tề Bá Vương Tạp Cặn nhận sớ, khen cả hai phe đều là trung nghĩa.

Nước Vệ chính sự lại yên ổn, thanh bình, không có chiến tranh loạn lạc.

Những phường con buôn, quan lại, công sai,văn thư, nha lại, thầy thuốc, thầy đồ..thở phào nhẹ nhõm vì môi trường kiếm ăn không bị xáo trộn. Chúng đua nhau ca ngợi chính sách, đường lối của nhà Sản và đảng Ích đã khéo léo gìn giữ chính sự yên bình. Thay mặt nhân dân, chúng cảm tạ trời đất đã sinh ra nhà Sản, lại còn sinh thêm đảng Ích để giúp rập cơ đồ tiên đế để lại bền như tuế nguyệt.

Khi xưa tiên đế nhà Vệ khởi binh, tuyên cáo tội bọn Phá Lãng Sa và triều đình thực dân đã bóc lột dân Vệ , khiến dân Vệ vào cảnh một cổ hai tròng.

Nhờ vạch tội rõ thế, tiên đế thành công đoạt lấy thiên hạ, dựng nên nhà Vệ đến ngày nay.

Lớp hậu sinh kế tục nghiệp tiên đế đã có những bước ly luận đột phá , đi tắt , đón đầu hợp với thực tiễn thời cuộc để gìn giữ cơ nghiệp. Đó là một cổ hai tròng thì có thể bị lật, chứ một cổ mà ba hay bốn tròng thì dân có sức bằng trời cũng không lật được.

Thật là hậu sinh khả úy.

Người Buôn Gió

Nguyễn Hưng Quốc – Tôi không chống Cộng

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2013/05/09 at 15:04

Ở cả hai lần bị cấm nhập cảnh vào Việt Nam (11/2005 và 4/2009), tôi đều không nhận được lời giải thích thỏa đáng nào từ chính quyền Việt Nam. Nhưng tôi nghe được phong thanh đâu đó: người ta cho là tôi “chống Cộng”. Mà không phải từ phía chính quyền, một số bạn đọc ở hải ngoại, ngay cả những người có vẻ có cảm tình với tôi cũng thường nói: Tôi “chống Cộng”. Riêng tôi, xin nói một cách thành thực: Tôi không hề chống Cộng.

Viết thế, tôi biết nhiều bạn đọc sẽ ngạc nhiên. Tuy nhiên, trước khi đánh giá (hay chụp mũ), xin đọc tiếp phần giải thích phía dưới.

Tôi nói tôi không chống Cộng vì hai lý do chính:

Thứ nhất, tôi không thích chữ “chống”. “Chống”, trong tiếng Việt, khác với các từ hoặc từ tố được xem là tương đương trong tiếng Anh như “fight”, “against”, “counter-” hay “anti-”, thường gợi lên hai ấn tượng chính: một, gắn liền với tổ chức, và hai, có tính chất bạo động. Tôi không thích cả hai. Với bạo động, tôi tuyệt đối không thích. Với tổ chức, tôi trân trọng và nghĩ nó cần thiết, hơn nữa, một nhu cầu tất yếu trong đời sống xã hội, nhưng tôi lại không thích nằm trong bất cứ một tổ chức nào; thậm chí, tôi cũng chưa từng đi biểu tình hay ký tên vào bất cứ một kiến nghị chung nào (1), dù, trên nguyên tắc, có thể tôi đồng tình và ủng hộ những việc làm ấy. Tôi không làm những việc ấy chỉ vì một lý do đơn giản: Tôi không thích ở trong “đội ngũ”, dù lâu dài hay tạm thời, chính thức hay không chính thức. Vậy thôi. Khác với Chế Lan Viên, tác giả của câu thơ “Khi đứng riêng tây, ta thấy mình xấu hổ”, tôi chỉ thích đứng một mình. Khi phê phán bất cứ điều gì, tôi chỉ đứng từ góc độ một người trí thức; mà trí thức, tự bản chất, nói theo Edward W. Said, là kẻ lưu vong, nghĩa là, nói cách khác, một mình. Viết, tôi chỉ nhân danh chính mình và những gì mình tin là đúng. “Lực lượng” của tôi chỉ có sách vở và kinh nghiệm, kiến thức và lý trí, lương tâm và lương thức. Còn phương tiện, trước, với cây bút; sau, với bàn phím: Ở cả hai nơi, tôi chỉ có chữ. Hết.

Thứ hai, quan trọng hơn, ở thời điểm bây giờ, theo tôi, nói chống Cộng là nói chống cái không có, hay đúng hơn, cái không còn hiện hữu nữa.

Lý do thứ hai này cần được giải thích nhiều hơn:

Cái gọi là “chống Cộng” bao gồm hai nội dung chính: một, chống lại chủ thuyết Cộng sản (chủ yếu là chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa Lenin); và hai, chống lại chế độ Cộng sản. Với cả hai nội dung ấy, trước năm 1975, nói chống Cộng: Được; trước năm 1990, nói chống Cộng: Được. Nhưng sau năm 1991, nói chống Cộng là nói một điều thừa thãi, thậm chí, vô duyên. Và có hại.

Trong việc chống Cộng, trước năm 1991, hai khía cạnh chống chủ thuyết (hoặc ý thức hệ) và chống chế độ (hoặc một guồng máy) là một. Chế độ, vốn cụ thể, gắn liền với hệ thống chính trị, tức là hệ thống quyền lực, là mục tiêu chống đối trước mắt. Nhưng sức mạnh của chế độ Cộng sản không phải chỉ ở đảng viên, cán bộ, quân đội, công an, súng đạn và các nhà tù. Sức mạnh của chế độ Cộng sản còn ở các lý tưởng tự do, bình đẳng cũng như cái thiên đường Cộng sản chủ nghĩa vốn có sức mê hoặc to lớn đối với mọi người, đặc biệt với giới trí thức vốn khao khát những điều cao cả, có tầm nhân loại. Hơn nữa, nó còn nằm ở các ảo tưởng về tính khoa học của chủ nghĩa Cộng sản hay ở cái gọi là tính tất yếu trong quy luật phát triển của lịch sử. Bởi vậy, người ta không thể chống lại chế độ Cộng sản chỉ bằng các phương tiện vật chất. Người ta phải chống lại chế độ Cộng sản ngay cả trong phạm trù tư tưởng, trong lãnh vực nhận thức, nghĩa là bằng các phương tiện tuyên truyền và giáo dục, nhắm thẳng vào những tên tuổi như Marx, Engels, Lenin và Stalin, những người đã chết; hơn nữa, bằng một bảng giá trị khác, cao hơn, hiện hữu ngay trong đời sống xã hội để mọi người có thể nhìn thấy hoặc cảm nhận được, nghĩa là bằng một nỗ lực không ngừng tự do hoá, dân chủ hoá và nhân quyền hoá, như những điều chủ nghĩa tư bản, ở các quốc gia phát triển nhất, từng làm trong suốt thế kỷ 20.

Tuy nhiên, kể từ năm 1991, với sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, Cộng sản, với tư cách một chế độ, hoàn toàn sụp đổ; và cùng với nó, chủ nghĩa Cộng sản, với tư cách một ý thức hệ chính trị, cũng bị phá sản theo. Trật tự này, thật ra, theo một số học giả, cũng có thể đảo ngược hẳn lại: Vì sự phá sản của ý thức hệ Cộng sản, chế độ Cộng sản, với tư cách một bộ máy chính quyền, đã sụp đổ. Nhưng dù mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả có thể thay đổi, thực chất của vấn đề vẫn là một: phá sản và sụp đổ.

Về phương diện lý thuyết, hầu như ai cũng thấy chủ nghĩa Cộng sản sai. Những người thiên tả, ít nhiều lưu luyến với chủ nghĩa Cộng sản, cố vớt vát khi cho cái sai ấy không xuất phát từ Karl Marx mà từ Lenin, đặc biệt từ Stalin và Mao Trạch Đông; nghĩa là, nó không sai hẳn, nhưng một, nó không được cập nhật để theo kịp những thay đổi và tiến bộ của chủ nghĩa tư bản; và hai, nó chỉ sai trong cách ứng dụng và vận dụng lý thuyết Marx vào thực tế. Tuy nhiên, nói theo Richard Pipes, trong cuốn Communism, a History (2), chủ nghĩa Cộng sản, ngay trong tư tưởng của Karl Marx, không phải là một ý tưởng hay nhưng bị thực hiện sai mà, tự bản chất, nó là một ý tưởng dở; hay nói theo Kolakowski, do Pipes trích dẫn, chủ nghĩa Marx – nền tảng lý thuyết của chủ nghĩa Cộng sản – là một huyễn tưởng lớn nhất của thế kỷ 20 (3).

Trong vô số những cái sai của chủ nghĩa Marx-Lenin, cái sai này là đáng kể nhất: Họ cho chế độ tư hữu là cội rễ của bất bình đẳng và tin là họ có thể xóa bỏ chế độ tư hữu ấy để xây dựng một xã hội thực sự bình đẳng, không ai bóc lột ai và cũng không ai thống trị ai. Trên thực tế, khi công hữu hóa mọi tài sản và mọi phương tiện sản xuất, thứ nhất, họ triệt tiêu hầu như mọi động cơ lao động và sản xuất của người dân; thứ hai, họ tạo nên một giai cấp đặc quyền và đặc lợi để nắm toàn bộ việc lãnh đạo và quản lý các tài sản và công cụ sản xuất đã được công hữu hóa ấy. Những người ấy, một mặt, kém khả năng quản lý nên dẫn đến hết thất bại này sang thất bại khác; mặt khác, quan trọng hơn, trở thành một thành phần thống trị vừa ngu dốt vừa độc đoán, vừa tham nhũng vừa tàn bạo. Tất cả các yếu tố ấy không những dẫn đến những sự thất bại nặng nề về phương diện kinh tế mà còn phá hủy toàn bộ nền tảng lý tưởng của chủ nghĩa Cộng sản vốn nhắm đến tự do, bình đẳng và hạnh phúc.

Một cái sai khác của chủ nghĩa Marx-Lenin là họ đơn giản hóa lịch sử nhân loại vào lịch sử đấu tranh giai cấp. Sự phát triển của lịch sử, thật ra, còn tùy thuộc, thậm chí, tùy thuộc chủ yếu vào sự hợp tác của con người trong việc khám phá các quy luật của tự nhiên, từ đó, đẩy mạnh các khám phá về kỹ thuật để nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống của mọi người. Chủ nghĩa tư bản, trong thế kỷ 20, đã chứng minh điều đó: Giới chủ nhân biết san sẻ trách nhiệm và quyền lợi với giới công nhân, nhờ đó, so với thế kỷ 19, công nhân càng ngày càng được hưởng lương cao và càng ngày càng được hưởng chế độ lao động hợp lý hơn. Hơn nữa, chính quyền cũng can thiệp để bảo vệ quyền lợi của công nhân và, qua chính sách thuế khóa, bảo đảm sự công bằng trong xã hội. Nhiều quốc gia mang tiếng là tư bản nhưng về các chính sách lao động và an sinh xã hội lại không khác gì với cái lý tưởng xã hội chủ nghĩa mà Marx mơ ước. Chưa hết. Yếu tố then chốt trong sản xuất không phải chỉ là công cụ sản xuất mà còn có cả tri thức. Mà tri thức thì không ai độc quyền được.

Một người tị nạn, như người Việt Nam sau năm 1975, chẳng hạn, khi sang nước ngoài, với hai bàn tay trắng, không thể sở hữu các công cụ sản xuất để làm chủ nhân bất cứ thứ gì được. Nhưng bù lại, chỉ cần chịu khó học hành, sau một thời gian nhất định, người đó có thể sở hữu một vốn tri thức khá cao đủ để bước vào thế giới trung lưu, thậm chí trung lưu cao, dễ dàng. Chính trong lãnh vực tri thức, vốn gắn liền với giáo dục, xã hội tư bản đã tạo nên sự bình đẳng thực sự và tối đa: Nếu mọi người không được và không thể bình đẳng khi ra đời (vốn gắn liền với gia đình, thành phần xã hội, chủng tộc và những đặc điểm về trí tuệ riêng – những điều không ai có thể lựa chọn được), họ lại được bình đẳng trong cơ hội để phát triển và tiến bộ. Ai cũng được quyền đi học; bất cứ ai có trí và có nghị lực cũng đều đi học được, và từ đó, có thể thay đổi cuộc đời mình được. Với những đặc điểm ấy, chủ nghĩa tư bản không những thúc đẩy sự phát triển kinh tế và xã hội một cách hiệu quả mà còn tạo nên sự bình đẳng và dân chủ, tuy không hẳn đã hoàn hảo, nhưng cũng hơn hẳn chế độ xã hội chủ nghĩa đủ để mọi người, kể cả những người đang sống dưới chế độ Cộng sản, cũng nhận thấy không phải kẻ thù mà chính mình mới là những kẻ đang đứng trước vực thẳm. Sự so sánh ấy cũng làm cho người ta nhận thấy những hứa hẹn về một thiên đường Cộng sản chủ nghĩa “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”, chỉ là một ảo tưởng, hơn nữa, một không tưởng. Cái không tưởng ấy lại bị trả giá bằng máu. Không phải máu của một hai người. Mà là của cả một tập thể, có khi cực kỳ đông đảo. Cả hàng triệu hay chục triệu người.

Về phương diện thực tiễn, với tư cách một chế độ, chủ nghĩa Cộng sản có năm đặc điểm chính trên bình diện tổ chức. Một, đảng Cộng sản nắm độc quyền lãnh đạo; hai, đảng ấy được tổ chức một cách chặt chẽ với một thứ kỷ luật thép từ trên xuống dưới; ba, kinh tế hoàn toàn tập trung, mọi quyết định, kể cả về giá cả thị trường, đều do cấp trên quyết định; bốn, mọi phương tiện sản xuất đều nằm trong tay nhà nước; và năm, mỗi quốc gia đều liên kết và, với những mức độ khác nhau, lệ thuộc vào cái gọi là phong trào Cộng sản quốc tế nói chung. Với cách tổ chức như thế, chế độ Cộng sản vấp phải vô số sai lầm. Và những sai lầm ấy rất dễ thấy.

Thứ nhất, các chế độ Cộng sản không những không công bằng hơn các chế độ tư bản, mà thậm chí, còn tệ hại hơn cả các chế độ phong kiến ngày xưa. Xưa, chỉ có vua, nay có cả nguyên một đảng đứng trên pháp luật. Xưa, chỉ có vua là được hưởng mọi đặc quyền và đặc lợi; nay, có cả hàng triệu người nhân danh đảng thi nhau vơ vét lợi và thao túng quyền.

Thứ hai, ngoài chuyện bất bình đẳng, chế độ Cộng sản, qua hơn 70 năm tồn tại, đã chứng tỏ sự tàn bạo vô tiền khoáng hậu. Những nhà lãnh đạo Cộng sản như Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Pol Pot, Fidel Castro… không phải giống vua mà là giống các bạo chúa. Vua, còn đỡ. Trong đám vua còn có các minh quân. Trong hàng ngũ lãnh đạo Cộng sản, được xây dựng quyền lực trên nguyên tắc “chuyên chính”, ngay cả những người có tiềm năng là minh quân cũng trở thành bạo chúa. Hậu quả là chế độ Cộng sản trở thành một chế độ đứng đầu trong danh sách giết người trong suốt cả thế kỷ 20. Họ giết người còn nhiều hơn cả chế độ phát xít và Nazi. Bàn tay của Stalin và Mao Trạch Đông còn nhuộm nhiều máu hơn cả bàn tay của Hitler. Trong cuốn The Black Book of Communism: Crimes, Terror, Repression do Stéphane Courtois và nhiều người khác biên tập (4), các tác giả ước tính tổng số nạn nhân bị giết chết dưới các chế độ Cộng sản trên thế giới kể từ năm 1917 đến năm 1991 là khoảng 100 triệu người, bao gồm khoảng 20 triệu ở Nga, 65 triệu ở Trung Quốc, hai triệu ở Campuchia, hai triệu ở Bắc Triều Tiên, một triệu ở Đông Âu, v.v..

Thứ ba, chế độ Cộng sản hoàn toàn thất bại về phương diện lãnh đạo và quản lý kinh tế đất nước. Không có nước Cộng sản nào giàu có và dân chúng được no ấm. Từ cuối thập niên 1960 đến đầu thập niên 1970, kinh tế của các nước Cộng sản bị lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Đến thập niên 1980, chỉ số phát triển của nó hầu như chỉ là một con số không to tướng. Ở tất cả các nước xã hội chủ nghĩa thời ấy, rất nhiều cửa tiệm trống rỗng không có hàng hóa để bán (5). Dân chúng ngất ngư vì đói khát. Nhưng dễ thấy nhất là khi chúng ta nhìn vào các quốc gia bị chia đôi, trong đó, một nửa theo chế độ Cộng sản và một nửa theo chế độ tư bản. Như Đông Đức và Tây Đức. Hay như Nam Triều Tiên và Bắc Triều Tiên. Cái nửa theo chế độ Cộng sản bao giờ cũng có chỉ số phát triển thấp hơn hẳn cái nửa theo chế độ tư bản. Thấp một cách toàn diện. Riêng ở Triều Tiên, thu nhập tính trên đầu người ở miền Nam (32.400 đô la/người/năm) gấp 18 lần ở miền Bắc (1.800 đô la). Cùng một dân tộc. Cùng một lịch sử. Chỉ khác ở chế độ. Mà hai nơi khác nhau đến vậy.

Cuối cùng, nói theo Stéphane Courtois (6), Cộng sản phạm vô số tội ác không phải đối với con người với tư cách cá nhân mà còn đối với cả văn minh nhân loại và văn hóa quốc gia. Ở đâu, các chế độ Cộng sản cũng phá tan tành rất nhiều di tích và di sản lịch sử cũng như các nhà thờ, chùa chiền và các nơi thờ tự. Họ trấn áp các tôn giáo, xóa bỏ nhiều truyền thống tốt đẹp với lý do, theo họ, đó là những tàn tích của chế độ phong kiến.

Với những thất bại hiển nhiên về cả phương diện lý thuyết lẫn thực hành như vậy, chủ nghĩa Cộng sản đã hoàn toàn bị sụp đổ vào cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, thoạt đầu, vào năm 1989, với việc đảng Cộng sản Hungary chấp nhận một hệ thống chính trị đa đảng vào tháng 2; việc Công đoàn Đoàn kết thắng phiếu trong cuộc bầu cử Quốc hội Ba Lan vào tháng 6, sau đó, lên nắm chính quyền vào tháng 9; việc Bức tường Berlin bị sụp đổ vào tháng 11 (sau đó nước Đức được thống nhất vào tháng 10/ 1990); kết thúc bằng việc Mikhail Gorbachev tuyên bố từ bỏ chế độ độc đảng vào ngày 7/2/1990; và sau đó, sự tan rã của Liên bang Xô Viết vào tháng 12/1991 (trước, trong và sau sự tan ra ấy, có 16 quốc gia – vốn bị sáp nhập vào Liên bang Xô Viết – tuyên bố độc lập, bao gồm: Lithuania, Estonia, Latvia, Georgia, Ukraine, Belarus, Moldova, Azerbaijan, Kyrgyzstan, Uzbekistan, Tajikistan, Armenia, Turkmenistan, và Kazakhstan).

Nếu sự ra đời của chủ nghĩa Cộng sản là biến cố lớn nhất trong nửa đầu thế kỷ 20, sự tan rã của nó ở Nga và Đông Âu là một biến cố trọng đại nhất trong sau thế kỷ 20. Cả hai đều là cách mạng. Cuộc cách mạng đầu nổ ra và, sau đó, tồn tại bằng máu và nước mắt; cuộc cách mạng sau, ngược lại, diễn ra với ba đặc điểm chính: nhanh chóng, nhẹ nhàng và bất bạo động. Có vẻ như giới lãnh đạo Cộng sản (trừ ở Romania) tự ý từ bỏ quyền lực và chế độ Cộng sản tự tan rã. Không có sự kháng cự nào đáng kể cả.

Trước thập niên 1990, trên thế giới có tổng Cộng 23 quốc gia theo chế độ Cộng sản. Trong thời điểm giao thừa giữa hai thập niên 1980 và 1990, có 18 quốc gia từ bỏ Cộng sản: Afghanistan, Albania, Angola, Benin, Bulgaria, Campuchia, Congo, Czechoslovakia, Đông Đức, Ethiopia, Hungary, Mông Cổ, Mozambique, Ba Lan, Romania, Nga, Nam Yemen và Yugoslavia. Người ta gọi những nước này (trừ Đông Đức vốn không còn là một “nước” riêng sau khi thống nhất) là “hậu Cộng sản” (postcommunism), một thuật ngữ do Zbigniew Brzezinski đưa ra vào năm 1989 (7). Do một số quốc gia, sau năm 1991, bị chia cắt (chủ yếu là do vấn đề chủng tộc), hiện nay có 28 quốc gia được xem là hậu Cộng sản (8).

“Hậu Cộng sản” nghĩa là không còn Cộng sản nữa.

Có thể nói, trên bình diện thế giới, cái gọi là “Cộng sản” đã thuộc về quá khứ. Khi “Cộng sản” thuộc về quá khứ, chuyện chống Cộng cũng không còn lý do hiện hữu nữa.

Thật ra, trên thế giới cũng còn ít nhất năm quốc gia, trên danh nghĩa, chưa từ bỏ chủ nghĩa Cộng sản: Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Bắc Triều Tiên và Cuba. Tuy nhiên, trong năm quốc gia ấy, chỉ có Bắc Triều Tiên là thực sự Cộng sản, Cộng sản theo kiểu Stalin trong thập niên 1930 và 1940. Ở tất cả bốn nước còn lại, kể cả Việt Nam, chủ nghĩa Cộng sản đang dần dần biến chất và biến thể. Nó không giống chủ nghĩa Cộng sản của Stalin và Mao Trạch Đông. Nó cũng không giống chủ nghĩa Cộng sản của Lenin. Và nó cũng không giống chút nào với cái chủ nghĩa Cộng sản mà Mark và Engels quan niệm.

Thứ nhất, về phương diện kinh tế, tất cả, với những mức độ khác nhau, đều chấp nhận kinh tế thị trường vốn là đặc trưng của chủ nghĩa tư bản. Dĩ nhiên, cái gọi là “kinh tế thị trường” ở đây vẫn còn bị giới hạn bởi cái đuôi phía sau “theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Nhưng cái đuôi ấy chỉ là một cố gắng níu kéo nắm giữ quyền lợi cho một số người thuộc tầng lớp thống trị qua các đại công ty và tập đoàn quốc doanh. Trên thực tế, hầu hết các hoạt động và sự điều hướng kinh tế vẫn theo quy luật thị trường, nghĩa là tư bản hóa.

Thứ hai, về phương diện chính trị, tất cả vẫn cố thủ, trên danh nghĩa, trong cái gọi là chủ nghĩa Cộng sản. Nhưng ở đây cũng lại có vấn đề. Cái gọi là chính trị Cộng sản chủ nghĩa vốn bao gồm hai khía cạnh: một, về tổ chức, sự độc quyền lãnh đạo của đảng Cộng sản; và hai, về phương diện ý thức hệ, lý thuyết của Marx và Lenin. Ở tất cả bốn quốc gia kể trên, Cộng sản chỉ nằm ở bình diện tổ chức, còn ở bình diện ý thức hệ, hầu như không ai còn tin, thậm chí, không mấy người muốn nhắc đến ý thức hệ Cộng sản nữa. Ngay ở Việt Nam, giới lãnh đạo cũng thừa hiểu chủ nghĩa Marx-Lenin không còn sức thuyết phục và sự quyến rũ nữa. Họ phải thêm vào mấy chữ “tư tưởng Hồ Chí Minh”. Tuy nhiên, cho đến nay, họ cũng không biết cái gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh” ấy thực sự là gì. Lý do là Hồ Chí Minh vốn là người thực hành, không viết về lý thuyết, và thật ra thì cũng chẳng có lý thuyết gì ngoài một mớ giáo điều đơn giản và cũ kỹ ông học được ở Nga và Trung Quốc. Những kẻ đang nắm quyền tại Việt Nam sử dụng cái gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh” như một huyền thoại chứ không như một chủ thuyết.

Theo chủ nghĩa Marx-Lenin, một hình thái chính trị đúng nghĩa phải tương ứng với, thứ nhất, một hình thái kinh tế nhất định; và thứ hai, một ý thức hệ nhất định. Nền chính trị Việt Nam hiện nay, trên danh nghĩa, vẫn là Cộng sản, nhưng kinh tế lại là tư bản hoặc ít nhất, nửa-tư bản hoặc đang trong quá trình tư bản hóa; còn ý thức hệ thì hoàn toàn trống rỗng: Nó phi-Marx và cũng phi-Lenin. Chẳng giống ai và cũng chẳng là cái gì cả. Đó là một thứ tôn giáo vừa không có thần linh vừa không có điển phạm (canon). Tên nó, ở Việt Nam, nhiều người gọi thẳng: mafia.

Bởi vậy, trong trường hợp của Việt Nam hiện nay, nếu chúng ta nói đến chuyện chống Cộng có lẽ ngay cả những người đang mang danh hiệu đảng viên Cộng sản trong nước – hầu hết đều rất giàu có và sống rất trưởng giả – sẽ cười khì, hỏi: “Cộng nào vậy nhỉ?” Lôi tư tưởng Marx, Engels và Lenin ra phê phán, phần lớn họ – những người chẳng bao giờ thực sự đọc Marx, Engels và Lenin – hẳn sẽ trố mắt lên hỏi: “Mấy người đó là ai vậy? Có phải mấy ông râu ria xồm xoàm gì đó không?” Nói đến đấu tranh giai cấp, đến tầng lớp công nhân và nông dân, đến chuyên chính vô sản, đến công bằng xã hội và đến lý tưởng làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu, những vấn đề nòng cốt của ý thức hệ Cộng sản, họ – những người đang sống như giới thượng lưu và thường được gọi là “tư bản đỏ” – hẳn sẽ bịt tai lại, như nghe những chuyện cổ tích vừa xa vời vừa nhảm nhí.

Trong trường hợp ấy, chống Cộng là chống ai và chống cái gì?

Đối với riêng tôi, khi phê phán chính quyền trong nước, tôi không nghĩ là tôi chống Cộng. TÔI CHỈ CHỐNG LẠI ĐỘC TÀI.

Chế độ Việt Nam hiện nay đáng bị phê phán không phải vì nó là Cộng sản. Mà vì nó là độc tài. Cộng sản chỉ là nhãn hiệu. Độc tài mới là thực chất. Ngay cả khi chúng ta chống lại điều 4 trong Hiến pháp Việt Nam, chúng ta cũng chỉ chống lại một sự độc tài. Chính quyền Việt Nam hiện nay đang rục rịch muốn đổi tên nước. Có khi họ đổi cả tên đảng. Nhưng dù đổi đảng Cộng sản thành đảng Dân chủ hay đảng Cộng hoà, cái việc nhân danh Hiến pháp để giành quyền lãnh đạo độc tôn như vậy cũng vẫn là độc tài. Tên gọi có thể thay đổi, thực chất vẫn là một. Vẫn độc tài.

Mọi sự độc tài đều đáng phê phán. Nhưng khi độc tài đi liền với bất tài thì càng đáng bị phê phán hơn. Và nhu cầu phê phán ấy cũng càng khẩn cấp hơn. Sự độc tài chà đạp lên dân chủ và nhân quyền, nhưng trong một số trường hợp nào đó, dưới một sự độc tài sáng suốt, người ta cũng có thể sẵn sàng chấp nhận hy sinh dân chủ và nhân quyền trong một thời gian nào đó để xây dựng và phát triển đất nước (như trường hợp của Singapore). Độc tài mà bất tài thì bao giờ cũng gắn liền với sự ngu dốt và tham nhũng bởi họ sẽ không có, không thể có, bất cứ lý tưởng nào khác ngoài tiền và cũng không có một thứ trí tuệ nào khác nào thứ “trí tuệ” dùng để làm giàu cho bản thân và gia đình. Sự ngu dốt trong chính sách và tham nhũng trong bộ máy chỉ tồn tại được nhờ hai yếu tố: dối trá trong tuyên truyền và tàn bạo trong quản trị. Tập hợp của tất cả các yếu tố ấy, người ta chỉ làm được mỗi một việc duy nhất là tàn phá đất nước và hành hạ dân chúng. Tính chất độc tài, bất tài, tham nhũng, dối trá và tàn bạo ấy càng trở thành nguy hiểm hơn nữa khi đất nước đối diện với nguy cơ xâm lấn chủ quyền và lãnh thổ của Trung Quốc.

Đối diện với các nguy cơ trên, chữ “chống Cộng”, theo tôi, rất dễ làm lệch vấn đề. Nó dễ gợi lên ấn tượng là, khi chống lại chế độ Việt Nam hiện nay, chúng ta nhân danh hai điều vốn bị xem là đối lập với Cộng sản, nhất là Cộng sản Việt Nam: Một, chủ nghĩa tư bản và hai, Việt Nam Cộng Hoà lúc trước. Nhưng chúng ta chống Cộng không phải vì chủ nghĩa tư bản và cũng không phải vì để trả thù hay để phục hồi miền Nam. Việc chống lại chế độ độc tài tại Việt Nam cần xuất phát từ những lý tưởng hiện đại, cao cả và phổ quát hơn: quyền tự do, dân chủ và quyền làm người. Hơn nữa, nó còn xuất phát từ cả sự độc lập, toàn vẹn lãnh thổ và tiền đồ của đất nước nữa. Trong chiến tranh có tính dân tộc chủ nghĩa, người ta có thể huy động lịch sử, hay nói như Tố Hữu, trước năm 1975, “Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận”; trong cuộc chiến chống độc tài, nguồn sức mạnh không phải chỉ nằm ở quá khứ mà còn, nếu không muốn nói chủ yếu còn, nằm ở tương lai.

Chúng ta chống lại chế độ Việt Nam hiện nay không phải vì việc họ chọn lựa hệ thống xã hội chủ nghĩa, việc họ gây ra cuộc chiến đẫm máu ở Việt Nam, việc họ cưỡng chiếm miền Nam, việc họ trả thù những người miền Nam: Tất cả đều đã thuộc quá khứ.

Người ta cần lưu giữ quá khứ, cần thường xuyên đào xới lại quá khứ và cần viết lại quá khứ, một cách chính thức, bằng lịch sử; hoặc một cách không chính thức, bằng ký ức, từ ký ức cá nhân đến ký ức tập thể. Nhưng không ai thay đổi được quá khứ. Càng không cần phải chống lại quá khứ. Những điều ấy khác nhau.

Chúng ta chống lại chế độ độc tài tại Việt Nam vì nó ĐANG chà đạp lên quần chúng, ĐANG làm cho đất nước bị phá sản trên mọi phương diện, từ kinh tế đến giáo dục, từ ý thức đạo đức đến cả lòng tự hào dân tộc, từ các giá trị truyền thống đến tinh thần hiện đại với những giá trị về dân chủ và nhân quyền vốn đang, cùng với xu hướng toàn cầu hoá, càng ngày càng trở thành phổ quát, ĐANG kiềm hãm sự phát triển của đất nước khiến Việt Nam, một dân tộc vốn rất nhiều năng lực, bị thua kém không những các nước được xem là những con rồng của châu Á mà còn có nguy cơ thua cả một quốc gia vốn bị rất nhiều tai tiếng, như Miến Điện.

Và chúng ta cũng chống lại chế độ ấy vì, với sự nhu nhược của nó, Việt Nam có nguy cơ bị biến thành một tỉnh lẻ của Trung Quốc.

Cuối cùng, có một điểm cần được nói thêm: Ở Tây phương, ngay trong thời Chiến tranh lạnh, nghĩa là lúc chế độ Cộng sản vẫn còn rất mạnh, nhiều chiến lược gia và trí thức, đặc biệt ở châu Âu, đã chuyển khẩu hiệu “chống Cộng” (anti-communism) thành “chống toàn trị” (anti-totalitarianism). Dưới khẩu hiệu chống toàn trị, người ta không những chống lại chế độ Cộng sản mà còn chống lại cả chế độ phát xít, đồng thời người ta cũng khẳng định được lập trường của họ một cách rõ ràng: Việc chống đối ấy, thứ nhất, không nhắm vào một lý thuyết mà nhắm vào một chế độ với những guồng máy và chính sách cụ thể; và thứ hai, không nhằm bảo vệ hay bênh vực cho chủ nghĩa tư bản mà là để bảo vệ dân chủ và nhân quyền, những lý tưởng vừa có tính phổ quát vừa dễ được mọi người đồng thuận.

Cả tính phổ quát và sự đồng thuận ấy tạo nên sức mạnh cho cuộc tranh đấu, cuối cùng, dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa như một hệ thống độc tài đáng kinh tởm (9).

Nguyễn Hưng Quốc

Nguồn: VoA blog

* * *

Chú thích:

  1. Trên một số bản kiến nghị lưu hành trên internet, tôi thấy có tên “Nguyễn Hưng Quốc” ở Úc. Đó không phải là tôi. Có thể chỉ là trùng tên hoặc là một sự giả mạo. Bản thân tôi thì chưa từng ký vào bất cứ một kiến nghị nào cả.
  2. Richard Pipes (2003), Communism, a History, New York: Random House, tr. 147.
  3. Như trên.
  4. Do Jonathan Murphy và Mark Kramer dịch sang tiếng Anh, Harvard University Press, 1999.
  5. Xem Stathis N. Kalyvas (1999), “The decay and breakdown of communist one-party systems”, Annu, 1999, tr. 329.
  6. Stéphane Courtois và nhiều người khác (biên tập) (1999), The Black Book of Communism: Crimes, Terror, Repression, Cambridge: Havcard University Press, tr. 7.
  7. Leslie Holmes (1997), Post-Communism, an Introduction, Cambridge: Polity Press, tr. 13.
  8. Ghia Nodia (2000), “Chasing the meaning of ‘post-communsm’: a transitional phenomenon or something to stay?”, Contemporary European History, 9 (2000), tr. 278.
  9. Xem bài “From anti-communism to anti-totalitarianism: the radical potential of democray” của Dick Howard trên Government and Opposition số 37, 2002, tr. 551-572.

Tháng Tư này, nhớ và quên

In Chính trị (Politics), Lịch Sử, Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam, Văn Hóa on 2013/04/26 at 15:11

Viết từ “vùng biên” đáp lời “Tháng Tư, và bạn và tôi”[1]

Memory_PoliticalAgendaDường như cứ mỗi tháng Tư đến thì hồn ma ám ảnh lại lãng vãng trở về và xương khô lục đục bước ra. Bên “thắng cuộc” rầm rộ lễ hội ăn mừng. Bên “thua cuộc” mất nước lưu vong ngậm ngùi tưởng niệm. Rồi như một điệp khúc nghịch lý mỗi năm một đậm nỗi băn khoăn nên có người đã hỏi, “Gần 40 năm rồi sao chúng ta vẫn chưa thực sự ra khỏi cuộc chiến…?[2] và có người không ngần ngại trả lời “chúng tôi cũng không quên nhưng không bắt buộc phải nhớ như ngày xưa nữa[3].

Phải chăng chẳng ai có thể bắt buộc (mỗi cá nhân) ta phải nhớ như thế nào? Phải chăng ta tự cho mình quyền nhớ điều này và quên điều nọ? Phải chăng ta muốn nhớ như thế nào cũng được? Hay là ta tự lựa chọn cái để nhớ và gạn lọc cái cần quên?

Tôi không có một ảo tưởng về cái tự do (ở bên ni hay bên nớ) để nhớ và để quên. Tôi luôn cảnh giác với cái bị quên và điều buộc nhớ. Có lẽ quên thì dễ hơn là nhớ. Quên lãng thường đem lại cho ta cảm giác êm đềm và thăng bằng trong cuộc sống. Dù có thể chỉ trên bề mặt cho qua ngày tháng. Ngược lại, hồi tưởng chiêm niệm quả là khó tránh khỏi chuyện đem lại bao cảm xúc khác màu, lạc âm cho mỗi cá nhân ta.

Hồi tưởng đem lại những cảm xúc khác nhau, thay đổi theo tùy thời gian và theo từng trải nghiệm. Hồi tưởng đem lại cảm giác hân hoan, thỏa mãn, tự hào, đớn đau, ngậm ngùi, xé lòng, hổ thẹn. Hồi tưởng có thể nâng người lên bệ phóng mà cũng có thể đẩy ta đến bờ vực chênh vênh.

Quên lãng và hồi tưởng tựa như hai mảng màu trong một quang phổ lăng kính ký ức đầy phức tạp. Ký ức không chỉ nằm ở góc xó riêng tư và ngăn tủ cá thể nhưng hòa trộn với biển hồ của ký ức tập thể. Hơn nữa ký ức còn tương tác qua lại trong tiến trình định hình bản sắc cá thể (personal identity) và bản sắc tập thể (collective identity) cũng như đan chéo ngang dọc với và trong lịch sử một dân tộc. Ký ức đó có lúc tách màu có lúc hợp quang. Nhưng hai mảng màu ký ức đó không có khả năng tách rời khỏi quang phổ. Nó chỉ có quyền được diễn đạt tự do hơn trong đời thường riêng tư cá lẻ, và có lúc chuyển động ồ ạt trào dâng khi bị chạm mặt bất chợt. Ngược lại, nó thường bị kiềm hãm khi phải phơi bày giữa đám đông hiếu kỳ nhưng cô quạnh tâm hồn—khi đồng hoang không xanh, sông đã ngừng chảy trong tâm tưởng.

Quên và nhớ không ngừng tác động từvới tâm sinh lý cá thể và điều kiện hóa xã hội. Quên lãng và hồi tưởng không ngừng di chuyển đẩy đưa trong tiến trình thành lập và nẩy nở của bản sắc cá thể và bản sắc tập thể—nhất là trong hoàn cảnh di dân hay lưu vong. Quên và nhớ trong tâm thức tị nạn do đó bị buộc sàn lọc từ vô thức và được lọc lừa qua ý thức.

Những động cơ và ước muốn thầm kín (mang tính tâm sinh lý) luôn đứng canh chừng chộp vồ những ký ức lơn tơn kéo vào sau cánh gà hoặc đẩy ký ức trịnh trọng ra trước tấm màn sân khấu. Những động cơ và áp lực từ cuộc sống, bản sắc, và vị thế xã hội lắm lúc chực chờ để thi hành phận sự kiểm duyệt chỉ để trình làng những gì thuận lợi nhất cho riêng cá thể. Ký ức nào lơn tơn bị kéo vào bóng tối sau cánh gà để cho vào quên lãng? Ký ức nào được rọi trước ánh đèn màu để ghi vào bộ nhớ?
Động cơ nào để quên và ước muốn nào để nhớ? Phải chăng truyền thông đại chúng và cỗ máy tuyên truyền thiết tạo các đại tự sự tầm quốc gia đã và đang định hướng rồi điều kiện hóa chúng ta về chuyện gì cần nhớ và điều nào phải quên? Nhất là hướng về những nơi chốn và tình cảm lưu luyến một thời giờ đã xa lìa cách biệt?

Nhớ “Giải phóng miền Nam”, nhớ “ơn đảng, ơn chính phủ”, nhớ “trung với đảng”, nhớ “vì đảng, vì mình”, nhớ “đảng quang vinh muôn năm”, nhớ “đêm qua em mơ gặp bác Hồ”, nhớ “tư tưởng Hồ Chí Minh”, nhớ “chùm khế ngọt”, nhớ “khúc ruột ngàn dặm”.

Quên “cải cách ruộng đất”, quên “nhân văn giai phẩm”, quên “thảm sát Mậu Thân”, quên “học tập cải tạo”, quên “chôn dầu vượt biển”, quên “Nghĩa Trang Biên Hòa”, quên tượng đài thuyền nhân bị đục khoét ở các trại tị nạn, quên “Bản Giốc, Nam Quan”, quên “Gạc Ma, Trường Sa”, quên “ngàn năm đô hộ giặc Tàu”, quên “chiếm đất Cồn Dầu”, quên “cưỡng chế Văn Giang”, quên “lao động bán thân”, quên thân phận nô đòi chế độ nội-thực-dân cộng sản.

Bạn Điếu Cày, Nguyễn Văn Hải, chỉ muốn nhớ “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam” thì ai đã không chấp nhận cho anh nhớ như thế? Ai đã bịt miệng anh bắt anh câm lặng trong lao tù? Và bao người khác cũng chỉ muốn nhớ điều đơn giản ấy nhưng cũng bị giam cầm, sách nhiễu, hành hung, trấn áp. Ai bắt họ phải quên?

Bạn Cù Huy Hà Vũ chỉ lên tiếng chấp nhận (muốn nhớ) những người miền Nam trước đây đã chiến đấu bảo vệ tự do và mong đất nước Việt Nam thuộc về người dân từ hai thể chế miền Nam, miền Bắc đa dạng chứ không phải chỉ rơi vào tay một đảng csvn cầm quyền. Thế thì ai đã thảy hai bao cao su, đem còng số tám xiềng xích hai tay anh? Ai bắt anh phải quên đi những người miền Nam đó?

Bạn từ Bắc chí Nam muốn nhớ một Việt Nam từ thuở vua Hùng dựng nước bao nhiêu triều đại và anh hùng giữ nước–thay vì của đảng csvn với chủ thuyết ngoại lai vong bản áp đặt chế độ toàn trị nội-thực-dân với điều 4 hiến pháp đeo gông cùm vĩnh viễn vào người dân—thì bị hàm hồ thóa mạ gán ghép là “suy thoái”, “phản động”, “thế lực thù địch” và bị trấn áp, đuổi việc, tù đày.

Ký ức cá nhân dễ bị chi phối bởi cả hai yếu tố tâm sinh lý cá thể và điều kiện hóa xã hội trong khi ký ức tập thể thì gần như bị thống trị bởi điều kiện hóa xã hội qua lịch sử.

Thế nên tôi luôn cảnh giác với thói quên của mình cùng sức nhớ của người.

Tháng Tư đó, đã là quá khứ và mốc điểm của bao cá nhân, tập thể. Để rồi …

Tháng Tư này, bạn và tôi quên nhớ những gì?

Memory_GhostHunter

Tôi có thể tạm quên những gì xảy ra trong quá khứ nhưng đừng bắt tôi phải quên cái đang diễn ra trước mắt ở hiện tại. Tôi không thể nhắm mắt mà sống. Tôi không thể câm lặng hiện hữu. Những bất công, bất cập, áp bức, khủng bố hàng ngày trên nẻo đường quê hương cố quận sao không được nhớ?

Tôi không thể quên Văn Giang, Tiên Lãng, Đồng Chiêm, Cồn Dầu. Tôi không thể nào chôn nỗi đau đớn và nhục nhã các ngư phủ ngồi khép nép dưới họng súng quân TQ và những mộ gió trên đảo Lý Sơn. Tôi không thể nào dấu cảm xúc phẫn nộ thấy hai mẹ con trần truồng giữ đất bị nắm tóc nắm chân lôi đi như những con lợn trước khi đưa vào lò mổ. Tôi không thể nào xóa được khỏi trí nhớ mình hình ảnh các cô gái miền Tây trở thành sản phẩm qua hình ảnh bày bán nhan nhãn ở các nước láng giềng. Tôi không thể nào (quên) quen lờn với bao nhiêu bất công để miễn nhiễm lương tâm[4].

Tháng Tư tôi khóc cho những người phải bỏ nước ra đi, lướt sóng vượt đại dương, bao kẻ mất bấy người còn, đi tìm tự do, sống đời hạnh phúc.

Tháng Tư tôi khóc cho anh Vươn, ngọn đầu Tiên Lãng, lập đê đắp kè, chắn sóng đẩy lũ, vượt bao thử thách, con mất thân tàn chống trả quân “ác với dân, hèn với giặc” nội-thực-dân cộng sản.

Tháng Tư tôi cúi đầu tưởng niệm cho những vong linh oan khiên ngày cũ.

Tháng Tư tôi mắt trừng phẫn nộ cho bao mảnh đời đày đọa hôm nay.

Tháng Tư tôi hổ ngươi là con nước Việt cam phận nô đày.[5]

Bạn và tôi thuộc thế hệ “vùng biên”[6] này có thể nào chọn chỗ đứng ngoài lề để nhận định và phán xét. Bạn và tôi có thể cá thể hóa và đơn giản hóa vấn đề để giải quyết những khó chịu bề mặt hay bề sâu cho mình. Thật ra chúng ta những anh em ruột thịt, bên này bên kia, không bao giờ quên nhau, và chẳng bao giờ dửng dưng xa lạ đâu. Nếu quên, nếu dửng dưng xa lạ thì làm gì có bao triệu lượt chuyến bay hàng năm thăm viếng, bao tỷ đô la kiều hối chăm chút trút cạn hầu bao gởi về.

Thiển nghĩ nếu ta đơn giản hóa và chỉ tiếp cận trong liên đới về mặt tình cảm bằng cách cá thể hóa vấn đề thì bạn và ta đã—dù vô tình hay cố ý—đè nén và dập tắt tương tác giữa ký ức với chính trị và quyền lực.

Thế thì mối quan hệ của bạn và tôi với quyền lực là như thế nào?

Liệu lời mời gọi “làm sao để những người Việt Nam từng ở bên này bên kia có thể gặp nhau ở bất cứ đâu một cách thoải mái, chân tình, ấm áp như những người ruột thịt, để cho người bạn vong niên thân quý của chúng ta có thể về lại quê hương, sống bình an vào những năm cuối đời có thể thực hiện nếu chúng ta phải tự bịt miệng, bịt mắt, bịt tai?

Bịt miệng không được (nhắc) nhớ điều này và phải (im) quên điều nọ, bịt tai không phải nghe đảng csvn quang vinh muôn năm, học tập tư tưởng HCM, bịt mắt để không phải thấy cưỡng chế cướp đất áp bức nông dân, phá hủy giáo đường tín đồ Tin Lành/Công Giáo, đập phá thánh thất Cao Đài/Hòa Hảo, đàn áp các buổi cứu trợ thương phế binh VNCH v.v…

Tôi e ngại nhận lãnh một lời hiệu triệu “thế hệ chúng ta có trách nhiệm cần phải mở đầu, thúc đẩy và tiến hành những mối quan hệ nhằm làm lành những vết thương của thế hệ tham chiến, làm cầu nối cho những trái tim thế hệ hậu chiến còn thờ ơ đến được với nhau, bởi chúng ta có sự trải nghiệm chiến tranh có cả sự hiểu biết của thời *toàn cầu hóa* để chia sẻ với thế hệ cha anh và thế hệ con cái chúng ta.”. Bởi vì ngay cả một thái độ trân trọng của thiền sư Nhất Hạnh dù chỉ mong lập đàn giải oan cho các vong linh người chết của hai miền đất nước thì cũng đã bị đáp trả như thế nào. Nói gì chuyện người sống!

Cái quyền lực bên “thắng cuộc” chỉ nhằm nuôi dưỡng, thúc đẩy tiến hành củng cố những mối quan hệ chuyên chính với “chân lý của nòng súng” trong các rao giảng tính “chính danh”. Chưa bao giờ họ lắng nghe hoặc chấp nhận quan điểm nào khác.

Chắc bạn có thiện ý mong bên “thua cuộc” quên đi để lấy lại sự “thăng bằng” tâm lý nhằm tạo cuộc sống an bình cá nhân. Riêng tôi thì không có quyền đánh giá phán xét “mặc cảm thất bại” trong giới cha anh bên “thua cuộc”. Tôi chưa sống trọn ở vị thế của họ để chiêm nghiệm xem có phải sự “thiếu hụt tình cảm bao dung và lòng vị tha” đã gây ra “mặc cảm thất bại” đó hay không.

Bạn và tôi có lẽ không thiếu sự cảm thông và lòng bao dung vì chúng ta thừa mứa xa xỉ sống trong vị trí bình an này. Nhưng chắc bạn và tôi chưa cảm nhận đủ phần nào cái khổ nạn họ gánh gồng, là nhân chứng của đầy đọa gian truân. Chỉ khi nào bạn và ta không chỉ nói mà còn sẵn lòng nhảy xuống đáy vực để cùng họ gào thét, khóc la, rên siết bởi vì không ai khóc than cùng và để tang cho họ thì may ra sự cảm thông và lòng bao dung của bạn và ta có chút thực dụng nào đó.

Bạn và tôi cùng ở trong một vị thế có thể tạm gọi là ưu đãi, vừa đủ tự do với quyền cơ bản để nói để viết, vừa đủ miếng ăn để sống mà không phải lệ thuộc xin-cho, vừa đủ tri thức và tự chủ để không phải vô tình quên và bị nhắc nhớ.

Bạn và tôi hưởng được những lợi ích từ toàn cầu hóa và tự do di dịch gần như tới bất cứ nơi nào trên quả địa cầu này. Ngược lại, những cửu vạn, ô sin[7] và nô lệ hiện đại phục vụ bạn và tôi từ A tới Z—dù trực tiếp hay gián tiếp. Bạn và tôi là thượng đế của thời thượng.

Bạn và tôi có thể hãnh tin để tuyên ngôn về một “thế giới phẳng”—nơi mọi người, mọi nơi đều có sự bình đẳng trong tương quan cạnh tranh và giao dịch nào đó. Nếu chỗ ấy có thật đi nữa, nghĩa là bạn và tôi sống ở một môi trường tương đối phẳng không lắm hố nhiều đồi, ta cũng không thể tự lừa dối về một thế giới đồng hành có rất nhiều hố sâu không đáy và đỉnh cao không hề vượt nổi.

Bạn và tôi có quyền lực ưu đãi để tự cho mình quyền nói hộ cho họ—những ai đang ngụp lặn dưới hố sâu hay bám víu thành vực thẳm—để dám quả quyết thế nào là “sự thật”, để chọn lựa và khắn khít với dòng tự sự “hòa giải” thêu dệt của quyền lực (bên “thắng cuộc”)

Có lẽ điều cốt lõi nhất là bạn và tôi có quyền lực để hội nhập những mảng màu của cái “cá thể co cụm” hầu phù hợp với dòng tự sự của quyền lực xuyên quốc gia (tân tự do, toàn cầu hóa, thời thượng).

Có những tiếng nói xử dụng ngôn từ phù hợp hoa mỹ được trưng dụng tâng cao. Thì cũng có những tiếng nói tiếng lòng nấc nghẹn không đủ được nghĩa từ bị bưng bít xóa mù. Tiếng nói của bạn ít gì cũng thuộc giới học hàm nên được bay bổng và trích dẫn đó đây. Tiếng nói của vị thế ưu đãi và phía quyền lực thường được chấp cánh. Trong khi đó, tiếng nói của những người bên “thua cuộc” dường như nếu không bị bịt nghẽn thì cũng bị bóp méo. Ký ức của người miền Nam và lịch sử của chính thể Việt Nam Cộng Hòa gần như hoàn toàn bị tẩy xóa và gò nặn phản ánh góc nhìn quyền lợi kinh tế, chính trị nước Hoa Kỳ. Còn ký ức của người miền Nam ở tại Việt Nam thì khỏi phải nói làm gì.

Một khi ký ức mất đi thì dân tộc đó chết theo. Nếu như ký ức được ngụy tạo và bóp méo? Đó là điều tồi tệ nhất. Đó là thảm sát. (“When memories dies, a people dies. What if you create a false memories? That’s worse. That’s murder.”, Silvanadan – “When memory dies”)

Bạn và tôi có muốn chấp cánh cho những tiếng kêu gào dường như vô vọng từ đáy vực và những tiếng hú trơi ma của các oan khiên ngày cũ? Hay bạn và tôi chỉ thích dùng tấm bùa thực dụng của các pháp sư quyền lực để bịt miệng nó?

Phải chăng bạn và tôi là những người đi lách né trong căn phòng đầy pha lê tránh đụng chạm làm đỗ vỡ nhưng lại giả đò, làm ngơ bịt mắt, bịt tai không thấy không nghe con voi to đùng đang tung vòi đạp phá[8].

Truyền thống xã hội Tây phương tạm đủ khoảng không gian tự do để trí thức nói thẳng (sự thật) với quyền lực (speak truth to power) nhưng chưa chắc ai cũng muốn lên tiếng. Vì nói thẳng với quyền lực thì chẳng có lợi mà lắm khi lại bị rắc rối lôi thôi. Tôi vẫn luôn hy vọng rằng bạn và tôi không ngại bước ra, đứng vào vị thế chênh vênh thử thách cổ võ cho công bằng, mạnh dạn lên tiếng trực diện với quyền lực (bên “thắng cuộc”) tương tự như những gì bạn đã đặt câu hỏi cùng lời khuyên/tự nhủ cho tôi và bạn.

© 2013 Vietsoul:21


[1] “Tháng Tư, và bạn và tôi”, Nguyễn Thị Hậu, Viet Studies

[2] Cùng trích dẫn (1)

[5] Tháng Tư oan trái, Vietsoul:21

[6] “vùng biên”, vùng đệm, khoảng giao tiếp (in-between) giữa hai thế hệ, hai văn hóa, hai bản sắc

[7]Thời cửu vạn, ô sin”, Vietsoul:21

[8] “Elephant in the room” is an English metaphorical idiom for an obvious truth that is either being ignored or going unaddressed. “Con voi trong phòng” là một thành ngữ ẩn dụ tiếng Anh cho một sự thật hiển nhiên mà hoặc là bị bỏ qua hay không được nói tới.

Có nhiều điều đáng giá trong quyển “Cuộc chiến của Hà Nội”

In Chính trị (Politics), Lịch Sử, Thế giới, Việt Nam on 2013/04/18 at 22:36

“chiến thắng của Hà Nội không phải vì kiên trì và ngoan cường, không phải vì họ chinh phục được con tim và trí óc người dân miền Nam, không phải do những hy sinh to lớn của quân đội và nhân dân miền Bắc Việt Nam, và cũng không phải vì nội tình chính trị nước Mỹ trói tay và làm suy yếu các nỗ lực của Mỹ, nhất là dưới thời Nixon. Chiến thắng của Hà Nội chính là do sức ép không khoan nhượng và không thể cưỡng lại của khối quốc gia hậu thuộc địa, các quốc gia thế giới thứ ba, và nhiều quốc gia phản chiến cũng mong muốn dạy cho Mỹ một bài học và đã bị dẫn dắt bởi tuyên truyền và ngoại giao khôn ngoan của Hà Nội”

Richard Coffman

Phòng Thủ Tốt Nhất – Văn phòng về chiến tranh Việt Nam

Cuộc chiến của Hà Nội là một cuốn sách quan trọng dựa vào các hồ sơ lưu trữ bí mật của chính phủ và Đảng Cộng sản Việt Nam. Cuốn sách này biên niên về cách Hà Nội lên kế hoạch và tiến hành chiến tranh ở Việt Nam sau khi Pháp thua trận và rút khỏi Đông Dương năm 1954.

Hơn thế nữa, cuốn sách làm nổi rõ các bất đồng nghiêm trọng ở cấp cao nhất tại Hà Nội về ưu tiên, chiến lược, và các nguồn lực bên cạnh những thứ khác đã làm hỏng sự chuẩn bị cho cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân năm 1968 và dẫn đến vụ bắt giữ và thanh trừng. Nếu Washington và Sài Gòn có một bức tranh rõ ràng hơn về điều này lúc đó thì cuộc chiến chắc chắn sẽ được tiến hành khác đi và kết quả cũng có thể là thuận lợi hơn. Có thể công bằng để nói rằng chúng ta chẳng biết nhiều về lãnh đạo của Hà Nội lúc đó như chúng ta biết gì về lãnh đạo Bắc Triều Tiên ngày hôm nay.

Như vậy, cuốn sách này cho thấy chiến dịch ném bom của Mỹ ở Bắc Việt Nam và các cuộc hành quân đường bộ vào các chiến khu, cơ sở cộng sản ở Campuchia và Lào đã gây thiệt hại khá nặng vào nỗ lực chiến tranh của Hà Nội. Nó tiếp tục cho thấy sự thất bại hoàn toàn và chi phí khổng lồ của những cuộc tấn công lớn của Hà Nội trong năm 1968, 1969, và năm 1972 đã buộc miền Bắc phụ thuộc nhiều hơn vào Liên Xô và Trung Quốc và cuối cùng là tham gia vào các cuộc đàm phán để cho lực lượng Mỹ rút quân.

Tác giả, Nguyễn T. Liên-Hằng, là người Hoa Kỳ gốc Việt Nam và là giáo sư tại Đại học Kentucky, được tiếp cận với vô số tài liệu lưu trữ chính thức bằng tiếng Việt, nhiều cá nhân, và bản thảo chưa được công bố. Trong số nhiều người, cô phỏng vấn ông Hoàng Minh Chính, lý thuyết gia cộng sản hàng đầu một thời của Bắc Việt Nam và cũng là nhà bất đồng chính kiến ​​bị thanh trừng. Cô đã truy cập cuốn hồi ký chưa được công bố của người vợ cả Bí thư đảng cộng sản Lê Duẩn, người đã hoạt động công tác ở đồng bằng sông Cửu Long trong nhiều năm

Cô Liên-Hằng không những chỉ khai phá lối đi mới nhưng sắp xếp tổ chức tốt, lập luận rõ ràng, cũng như xử lý trình tự thời gian các văn bản của cuộc chiến tranh Việt Nam và đường hướng của Hà Nội. Độc giả sẽ biết ơn khả năng viết và tổ chức của tác giả trong rừng các tài liệu cơ bản dày đặc này, và nhất là cô ấy đã tuyên bố rõ ràng rằng các tài liệu lưu trữ cô xem xét đã bị tẩy rửa và chắc chắn là không đầy đủ.

Đối với học sinh nghiên cứu về ý thức hệ cộng sản và chiến thuật, Cuộc chiến của Hà Nội mô tả sự thăng tiến đến đỉnh cao quyền lực của nhà lãnh đạo cộng sản Lê Duẩn và người thân tín là ông Lê Đức Thọ, và sự tụt thoái quyền lực ra bên lề của Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Thật vậy, hai anh hùng nổi tiếng thế giới với cuộc cách mạng cộng sản Việt Nam mà ai cũng tưởng rằng có quyền lực vô biên ở Hà Nội lại bị cho ra rìa trong cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân. Ông Giáp thì căm tức, cay cú ở Hungary còn ông Hồ thì ngồi chơi xơi nước tại Bắc Kinh.

Chúng ta được biết thêm rằng mặc dù Lê Duẩn liên tục thất bại cả về chiến lược và chiến thuật trong chiến tranh ở miền Nam, thiệt hại nặng nề nhân lực và phá nát gần như hoàn toàn nền kinh tế miền Bắc, ông vẫn nắm giữ quyền lực nhờ đàn áp dã man và không ngừng. Ngay cả trước khi Hà Nội Hilton nổi tiếng vì giam cầm phi công Mỹ,  nhà tù này chứa hàng chục đối thủ chính trị và bất đồng quan điểm ​​với Lê Duẩn, dù là thực sự hay tưởng tượng. Cuộc thanh trừng triệt hạ các sĩ quan quân đội cấp cao thân cận với Giáp và ngay cả một số người giúp kế hoạch cuộc Tổng tấn công.

Những điều trên và một số điểm khác tiếp theo trong cuốn sách này phải làm giới tình báo phương Tây, các quan sát viên ngoại giao, nhà báo, nhà sử học, các viện nghiên cứu, và phe cánh tả quốc tế nhún nhường, khiêm tốn hơn vì những người này có quá nhiều đánh giá sai lầm về Bắc Việt Nam lúc đó và những nhận định và giải thích sai lầm ấy vẫn tồn tại cho đến ngày nay.

Thật rõ ràng đây không phải là lịch sử xét lại. Phụ đề của cuốn sách tiết lộ cho chúng ta thấy chút đầu mối về thiên hướng của tác giả: “Lịch sử quốc tế về chiến tranh vì hòa bình ở Việt Nam.”

Tác giả vẫn kiên định để mô tả cuộc chiến tranh Việt Nam là “không thể thắng được” đối với Hoa Kỳ. Điều này chắc chắn phải là một tin nóng tới tai các sử gia đương đại nổi tiếng như Lewis Sorley và Mark Moyar, mà gần đây các nghiên cứu của họ dù không có tư liệu gốc về các lủng củng của Hà Nội, đã khẳng định rằng kết cuộc ở Việt Nam chưa hẳn đã phải là như vậy. Thêm vào đó, cô ấy có một ác cảm mãnh liệt đối với Richard Nixon và Henry Kissinger, ngay cả khi mô tả rất tinh tường và chi tiết cách họ cùng lúc ảnh hưởng cả Moscow và Bắc Kinh ép Hà Nội – và chống lại bản năng sâu bén của ông Lê Duẩn – để có được những thỏa thuận tốt nhất hầu tách Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam.

Thật vậy, Lê Duẩn chuộng những cuộc tấn công lớn để khích động cuộc tổng nổi dậy quần chúng ở miền Nam nên ông đã gửi Lê Đức Thọ, cánh tay phải của mình, đến Paris nhằm giữ kín các cuộc đàm phán. Điều này rập khuôn mẫu của Lê Duẩn luôn chỉ định các tướng đáng tin cậy để chỉ huy những người cộng sản miền Nam cứng đầu luôn tin rằng cuộc cách mạng của họ đã bị phản bội bởi Hiệp định Genève năm 1954. Thật là mỉa mai – hay ngoan cố – để xem rằng Lê Đức Thọ đã giành giải Nobel Hòa bình vì thành tích của ông ta ở Paris.

Cuối cùng, cô cho rằng chiến thắng của Hà Nội không phải vì kiên trì và ngoan cường, không phải vì chinh phục con tim và lý trí người dân miền Nam, không phải do những hy sinh to lớn của quân đội và nhân dân miền Bắc Việt Nam, và cũng không phải vì nội tình chính trị nước Mỹ trói tay và làm suy yếu các nỗ lực của Mỹ, nhất là dưới thời Nixon. Chiến thắng của Hà Nội chính là do sức ép không khoan nhượng và không thể cưỡng lại của khối quốc gia hậu thuộc địa, các quốc gia thế giới thứ ba, và nhiều quốc gia phản chiến cũng mong muốn dạy cho Mỹ một bài học và đã bị dẫn dắt bởi tuyên truyền và ngoại giao khôn ngoan của Hà Nội. Đấy có lẽ là di sản lớn nhất của cuộc chiến của Hà Nội và là khuôn mẫu cho những ai đang dự định các chiến dịch cách mạng trong tương lai chống lại quyền lực phương Tây.

Kết luận bay bổng trên chỉ hơi làm giảm đi những gì có thể được xem như là một đóng góp quan trọng và độc đáo cho sự hiểu biết của chúng ta về những gì chúng ta phải đối mặt tại Việt Nam. Sinh viên ngành lịch sử quân sự, chiến tranh Việt Nam, và chủ nghĩa cộng sản cách mạng có nhiều thứ để trông mong từ những tài liệu lưu trữ được khai thác đầy đủ hơn trong những năm tới.

Richard Coffman từng là sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến tại Chu Lai và Đà Nẵng, thời Việt Nam Cộng Hòa năm 1965-1966. Sau đó ông phục vụ ở cơ quan CIA trong 31 năm, chuyên phân tích về các lãnh đạo Bắc Việt từ năm 1967 đến năm 1972.

Nguồn: Foreign Policy (Tạp chí Chính Sách Ngoại Giao)

Bài liên hệ: Đập tan các huyền thoại về Việt Nam

Chiến thắng không cần đánh ở Biển Đông (Biển Nam Trung Hoa)

In Chính trị (Politics), Liên Kết, Thế giới, Việt Nam on 2013/04/16 at 18:02

By Marvin Ott | April 15, 2013

Cần gì một lực lượng hải quân? Trung Quốc ra mắt tàu du lịch để đánh dấu tuyên bố  chủ quyền Biển Đông (Biển Nam Trung Hoa)

A Chinese fisherman in front of fishing vessels in the sea town of Tanmen, in China’s southern Hainan Province, on Jan. 21, 2013. With Beijing claiming a huge swath of the strategically crucial South China Sea, Hainan’s fishermen and tour agencies are at the forefront of the dispute. (Wang Zhao/AFP/Getty Images)

 

Cuộc hạ thủy hàng không mẫu hạm đầu tiên của Trung Quốc thu hút sự chú ý của thế giới vào năm 2012. Với chiếc tàu cũ của Nga được tân trang lại, Trung Quốc sẽ thực thi các tuyên bố mở rộng của họ trên Biển Đông (Biển Nam Trung Hoa), các nhà quan sát dự đoán, mặc dù để mẫu hạm Liêu Ninh thực sự vào nhiệm vụ hoạt động vẫn còn vài năm nữa.

Đầu tháng này, Trung Quốc đã giới thiệu một hệ thống vũ khí hiệu quả hơn để khẳng định chủ quyền lãnh thổ bằng cách sử dụng tàu du lịch với hàng ngàn khách du lịch. Triển khai một chiếc thuyền du lịch cùng với vô số tàu khác để thiết lập các yêu sách của mình ở Biển Đông (Biển Nam Trung Hoa) đã mang lại ý nghĩa mới đối với sự kiện “trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc.”

Từ thập niên 1950, bản đồ Trung Quốc đã dùng chín đường kéo dài dọc theo bờ biển của Trung Quốc và Đông Nam Á để đánh dấu kiểm soát lãnh thổ của mình. Những nỗ lực để làm rõ ý nghĩa của dòng chữ U có vẻ bị lẫn mất trong các báo cáo mâu thuẫn, khó hiểu.

Ngay cả khi dự định như là một ranh giới có chủ quyền, các dòng 9 đoạn không được xem là nghiêm túc. Nhưng trong năm 2009, Trung Quốc đệ trình bản đồ lên Liên Hợp Quốc để đánh dấu “chủ quyền không thể tranh cãi” của Trung Quốc. Những động thái của Trung quốc từ đó cho thấy rõ ràng, không chút nghi vấn, là các cấp cao cấp nhất của chính phủ Trung Quốc xem các dòng chữ U như là một ranh giới hàng hải hợp pháp để bảo vệ.

Một loạt các sự cố với các nước láng giềng Đông Nam Á liên quan đến tàu đánh cá Trung Quốc, tàu tuần tra và những tuyên bố công khai gay gắt đã nâng cao nhận thức quần chúng trong tháng 7 năm 2010 khi Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton kêu gọi Trung Quốc giải quyết tranh chấp một cách hòa bình.

Trung Quốc phản ứng bằng cách tăng cường khả năng cưỡng chế và điều động một loạt các cơ quan hàng hải của chính phủ: Cục Quản lý an toàn hàng hải, Bộ chỉ huy thực thi Luật Thuỷ sản, Quản lý đại dương Nhà nước, và Giám sát Hàng hải Trung Quốc. Họ cũng điều động Lực lượng Cảnh sát biển thuộc Bộ Công an và các cơ quan hàng hải cấp tỉnh, đáng chú ý nhất là những người ở đảo Hải Nam – tất cả các tổ chức riêng biệt song hành bên cạnh sự tăng trưởng nhanh chóng của hải quân và không quân Trung Quốc.

Phương pháp mới

Tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc đã nhận được nhiều sự chú ý, nhưng trong tương lai gần nó chỉ là một cơ sở huấn luyện và không phải là một nguồn lực cho hoạt động quân sự. Nhưng lực lượng Cảnh sát hàng hải dưới đủ mọi hình thức khác nhau của họ là một vấn đề hoàn toàn khác.

Tăng trưởng của lực lượng đó đã được nêu rõ bởi phóng viên cho tờ Los Angeles Thời báo ở Bắc Kinh: Ví dụ, từ năm 2000 quân đội Trung Quốc đã chuyển giao 11 tàu chiến cũ cho cơ quan giám sát hàng hải, nơi đã đóng 13 tàu của riêng của mình và kế hoạch thêm 36 chiếc nữa. Bộ chỉ huy áp đặt Luật Thuỷ sản gần đây đã nhận một tàu chiến cũ được trang bị với một bệ hạ cánh máy bay trực thăng. Những tàu mới được bận rộn. Bộ Chỉ Huy Thái Bình Dương Hoa Kỳ ước tính rằng số lượng tuần tra tầm xa bởi cảnh sát hàng hải Trung Quốc ở Biển Đông (Biển Nam Trung Hoa) đã tăng gấp ba lần kể từ năm 2008.

Theo Hải quân Mỹ thuyền trưởng James Fanell quan sát thấy trong bài viết cho tờ Thời Báo, “Các tàu giám sát hàng hải Trung Quốc không có nhiệm vụ gì khác hơn là để quấy rối các quốc gia khác chịu chấp nhận tuyên bố lãnh hải mở rộng của Trung Quốc.” Họ đã cắt dây cáp quang của Việt Nam, bị bắt giữ và đe dọa các ngư dân Đông Nam Á , quấy rối tàu hải quân Hoa Kỳ, và ngay cả trong một trường hợp đặc biệt là dựng lên một rào cản để thiết lập quyền kiểm soát độc quyền của Trung Quốc. Các tàu hải quân Trung Quốc không được trang bị vũ khí quân dụng, nhưng chứng minh sức mạnh bằng vòi rồng và móc câu, châm ngòi vào cái bực bội và cảm giác bất lực ở các nước láng giềng của Trung Quốc.

Trung Quốc có thể đã tự cướp cò trong chiến lược, nhưng không phải ở tầng chiến thuật. Các nước Đông Nam Á không có khả năng để đáp trả với Trung Quốc trên mặt biển bằng quân sự hoặc nguồn lực bảo vệ bờ biển, cái khoảng cách khả năng càng ngày càng lớn. Nói thẳng ra, các cơ quan thực thi pháp luật hàng hải của Trung Quốc có thể uy hiếp các nước Đông Nam Á khác bất kể – riêng chỉ có các tiền đồn quân sự Việt Nam may ra là ngoại lệ.

Trong khi đó, Hoa Kỳ từ lâu đã tuyên bố rằng họ không xác quyết quan điểm nào trên các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông (Biển Nam Trung Hoa), và nhấn mạnh trên hai nguyên tắc: bảo trì các tuyến đường biển quốc tế trong khu vực như là một “thế giới chung” và giải quyết tranh chấp lãnh thổ mà không cần sử dụng lực lượng quân sự . Trung Quốc khai thác lỗ hổng trong lập trường của Mỹ bằng cách sử dụng lực lượng dân sự bảo vệ bờ biển không trang bị vũ khí để thực thi tuyên bố chủ quyền của họ.

Lãnh vực Kinh tế

Đòn bẩy của Trung Quốc trên khu vực Đông Nam Á bao gồm một thành phần kinh tế quan trọng. Vào cuối những năm 1990, Hoa Kỳ và Nhật Bản là đối tác kinh tế lớn của khu vực Đông Nam Á. Hiện tại thì không như vậy – Trung Quốc đã thay thế cả hai quốc gia trên để trở thành đối tác thương mại lớn khu vực trong khi lượng đầu tư vẫn tiếp tục phát triển nhanh chóng. Các mối liên kết vượt xa ngoài tầm đơn giản là xuất khẩu hàng hóa chỉ, dịch vụ, và tài chánh.

Với Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN-Trung Quốc là trung tâm, Trung Quốc đã đàm phán một loạt các thỏa thuận kinh tế với khu vực này bao gồm một loạt các dự án cơ sở hạ tầng kết nối Đông Nam Á với Nam nội địa Trung Quốc. Các công ty Trung Quốc đang xây dựng đường sắt ấn tượng, đường nhựa, và các mạng lưới ven sông cộng với mạng lưới điện và cảng – đan chặt khu vực Đông Nam Á và Trung Quốc cùng nhau trong một đơn vị kinh tế tổng hợp. Không cần sự nhạy bén tuyệt vời người ta cũng hình dung ra các mối liên kết và phụ thuộc có liên quan có thể được sử dụng để thúc đẩy chiến lược và phá vỡ các mối quan hệ khác trong khu vực như thế nào. Vào năm 2012 ở cuộc họp các bộ trưởng ngoại giao khối ASEAN được đăng đàn bởi Cam-pu-chia, tranh chấp phát sinh khi Phi-luật-tân nhất quyết đòi hỏi bản thông cáo chung kết thúc hội nghị phải có điểm tham chiếu đề cập đến các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông (Biển Nam Trung Hoa).

Chủ tịch Campuchia từ chối, và hội nghị tan vỡ trong mâu thuẫn. Các quan chức Campuchia đã thú nhận riêng là họ đã hành động như thế để đáp ứng đòi hỏi của Trung Quốc vì một mối đe dọa các hậu quả kinh tế nghiêm trọng nếu Phnom Penh không tuân thủ. Trong thực tế, Bắc Kinh đã chứng minh khả năng phủ quyết bất kỳ vị trí thống nhất trong ASEAN về Biển Đông (Biển Nam Trung Hoa).

Việc Trung Quốc đưa ra một du thuyền du lịch ở các vùng biển tranh chấp đưa đến một thách thức khác trong khu vực. Không có nước láng giềng Đông Nam Á nào dám bắn vào một tàu ở trong vùng lãnh thổ được coi là của họ nếu tàu chỉ chở khách du lịch dân sự.

Cũng có thể lập luận rằng quyết định kéo bỏ chiếc mạng che mặt của sự mơ hồ về động cơ chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông (Biển Nam Trung Hoa) của Trung Quốc là một sai lầm chiến lược. Nó tạo ra báo động ở Đông Nam Á, đặc biệt là các chính phủ có tuyên bố chủ quyền của mình trong khu vực – Việt Nam, Brunei, Malaysia, Philippines và thậm chí cả Indonesia. Nó cũng quay “trục” Mỹ hướng về châu Á, bao gồm cả các báo cáo của bộ trưởng quốc phòng là các lực lượng Mỹ sẽ được tái triển khai tới châu Á và những việc tái phối trí lực lượng sẽ được bảo vệ trước các cắt giảm ngân sách.

Chính phủ Việt Nam, Philippines, Singapore, và Indonesia đã có động thái công khai tăng cường hợp tác an ninh với Hoa Kỳ. Một khu vực đã từng thoải mái và thiện ý với Trung Quốc hiện nay lại hoàn toàn rất căng thẳng.

Tương lai chiến lược của khu vực Đông Nam Á và khu vực hàng hải của nó không rõ ràng và cũng không dự đoán được. Trung Quốc đã đặt cược một tuyên bố lãnh hải, thậm chí trắng trợn, thiếu hỗ trợ trong luật pháp quốc tế vào lãnh thổ không thuộc kiểm soát lịch sử của họ. Tuy nhiên dù tuyên bố có mập mờ trong giá trị, Trung Quốc đã khai triển các chiến thuật và đòn bẫy để làm tuyên bố chủ quyền thành một thách thức chiến lược đầu tiên đối với khu vực và Hoa Kỳ.

Nguồn: Epoch Times

Nguyễn Hưng Quốc – Chủ nghĩa Phát-xít và chủ nghĩa Cộng sản

In Chính trị (Politics), Lịch Sử, Liên Kết, Tạp văn, Thế giới on 2013/04/07 at 12:04

Nhớ, năm 1978, lúc đang học năm thứ ba ở trường Đại học Sư phạm, tôi và các bạn trong lớp đi thực tập ở trường cấp 3 Tân Lý Tây thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Đó là một xã nhỏ, chưa tới mười ngàn dân, lúc ấy còn khá nghèo, hầu hết các nhà vệ sinh đều nằm chênh vênh trên các hồ cá tra. Thấy sinh viên từ thành phố về, dân chúng có vẻ rất vui. Ủy ban nhân dân xã tổ chức một buổi tiếp đón khá nồng hậu ngay trong buổi tối đầu tiên lúc chúng tôi mới đến. Chủ tịch xã đứng lên phát biểu. Ông là một nông dân, có lẽ, trước 1975, vốn là du kích. Đứng trước hơn 100 đứa sinh viên, ông không giấu được sự lúng túng, nói năng cứ lấp vấp, lập bập, không đầu không đuôi gì cả. Nội dung chính vẫn là ca ngợi tính chất ưu việt của chế độ mới, những điều có lẽ ông nghe được trong các buổi học tập chính trị hoặc trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Nhưng vui nhất là, để nhấn mạnh tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, ông cứ lặp đi lặp lại là “chúng ta không giống bọn Mác-xít độc tài và tàn bạo giết hại cả hàng triệu người”. Bọn chúng tôi biết là ông nhầm giữa Mác-xít và Phát-xít. Nhưng không đứa nào dám cười. Chỉ sau đó, mấy đứa miền Nam mới thì thầm với nhau: “Thì Mác-xít hay Phát-xít cũng vậy thôi!”

Chuyện cũ, cách đây đã hơn 35 năm, tưởng đã quên, bỗng dưng lại sống dậy khi mới đây, tình cờ đọc lại cuốn Intellectuals and Society (Basic Books, 2011) của Thomas Sowell, tôi bắt gặp một đoạn Sowell so sánh chủ nghĩa Cộng sản và chủ nghĩa Phát-xít (bao gồm cả Nazism) ở Đức. Một bên được xem là cực tả và một bên được xem là cực hữu; hai bên lúc nào cũng kết tội nhau và muốn tiêu diệt nhau (với Cộng sản, chủ nghĩa Phát-xít là biểu tượng của chủ nghĩa đế quốc; với Hitler, Cộng sản và Do Thái là hai kẻ thù chính), nhưng theo Sowell, giữa chủ nghĩa Cộng sản và chủ nghĩa Phát-xít có rất ít sự khác biệt, trừ trong lãnh vực tu từ. Những người Phát-xít, từ Ý đến Đức, đều công khai tuyên bố theo chủ nghĩa dân tộc; những người Cộng sản, trên lý thuyết, biểu dương chủ nghĩa quốc tế, nhưng trên thực tế, vẫn luôn luôn mang tinh thần dân tộc chủ nghĩa, cũng đều nhắm, trước hết, đến quyền lợi của quốc gia và dân tộc của họ. Và cả hai đều là những chế độ độc tài vô cùng tàn bạo. (tr. 99-101)

Một nhận xét tương tự được Vladimir Tismaneanu phân tích kỹ lưỡng hơn trong cuốn The Devil in History do University of California Press xuất bản năm 2012. Cái được gọi là “quỷ dữ” (devil) ấy được Tismaneanu nêu đích danh: chủ nghĩa Cộng sản và chủ nghĩa Phát-xít. Cả hai đều gắn liền với những quan điểm không tưởng về tương lai. Cả hai đều muốn chống lại các giá trị của giai cấp trưởng giả và dân chủ tự do. Cả hai đều muốn làm cách mạng triệt để bằng cách xóa bỏ truyền thống để xây dựng một hệ thống chính trị, xã hội và văn hóa hoàn toàn mới; nhưng khi làm như vậy, cả hai đều xóa nhòa ranh giới giữa cái thiện và cái ác, giữa cái tốt và cái xấu. Cả hai đều nhân danh tinh thần nhân đạo nhưng lại biến con người thành những con số để tha hồ giết chết hoặc đày đọa họ mà không hề có chút áy náy nào cả. Cả hai đều đề cao bạo động, một bên là tác giả của Gulags và một bên của Auschwitz, đều chiếm kỷ lục về tội sát nhân và diệt chủng: Trong hơn mười năm (1933-1945), chủ nghĩa Phát-xít giết hại khoảng 25 triệu người và trong vòng hơn 70 năm (1917-1990), chủ nghĩa Cộng sản giết hại khoảng từ 80 đến 100 triệu người.

Nhận xét ấy cũng được hai sử gia, một người Pháp và một người Đức, Francois Furet và Ernst Nolte, phân tích trong cuốn Fascism and Communism (University of Nebraska Press, 2004)Nó cũng lại được mổ xẻ trong cuốn Fascism, Communism and the Consolidation of Democracy: A Comparison of European Dictatorships do Gerhard Besier biên tập (LIT Verlag, 2006), cuốn Lenin, Stalin and Hitler: The Age of Social Catastrophe của Robert Gellately (Vintage, 2008); quan trọng nhất, trong cuốn The Origins of Totalitarianism của Hannah Arendt (được xuất bản lần đầu từ năm 1951), trong đó, ở phần ba, bà tập trung chủ yếu vào hai hiện tượng: chủ nghĩa Cộng sản và chủ nghĩa Phát-xít. Tất cả, từ nhiều góc độ khác nhau, hoặc chính trị hoặc lịch sử hoặc ý thức hệ, đều đi đến kết luận giống nhau: cả chủ nghĩa Phát-xít lẫn chủ nghĩa Cộng sản đều, nói theo Richard Overy, “nhà nước của sự khiếp hãi” hay “nhà nước của khủng bố” (states of terror), theo Eduard Kuznetsov và Dorin Tudoran, một “nền văn minh tội phạm” (criminal civilization), hoặc nói theo Leszek Kolakowski, một triết gia người Ba Lan, là sự đầu thai của quỷ dữ trong lịch sử, “một con quỷ sáng chế ra những nhà nước ý thức hệ (ideological states), nghĩa là, thứ nhà nước tự cho tính chính đáng của nó được đặt trên sự kiện là chủ nhân của nó cũng đồng thời là chủ nhân của chân lý. Nếu bạn chống lại nhà nước hay hệ thống nhà nước ấy, bạn sẽ bị xem là kẻ thù của chân lý.” (Dẫn theo Vladimir Tismaneanu, tr. 2-3, 11 & 26).

Về phương diện luật pháp, năm 2010, Quốc hội Hungary thông qua đạo luật cấm phủ nhận tội ác diệt chủng ở Holocaust của Nazi, sau đó, lại thông qua đạo luật cấm phủ nhận các tội ác của chủ nghĩa Cộng sản: Những người vi phạm, hoặc bằng cách phủ nhận hoặc bằng cách nghi vấn các tội ác ấy, có thể bị phạt từ một đến ba năm tù. Với Quốc Hội Hungary, tội ác của chủ nghĩa Phát-xít và chủ nghĩa Cộng sản ngang nhau.

Theo Timothy Snyder, việc so sánh chủ nghĩa Nazi (một biến thể của chủ nghĩa Phát-xít tại Đức) và chủ nghĩa Stalin (một hình ảnh tiêu biểu của chủ nghĩa Cộng sản) là điều cần thiết: Nó giúp chúng ta hiểu rõ hơn không những về hai hiện tượng khủng khiếp nhất của thế kỷ 20 mà còn về thời đại của chúng ta và kể cả bản thân chúng ta nữa. (Như trên, tr. 19)

Đó là thời đại, nói theo Nietzsche, “Thượng đế đã chết” và con người muốn thay thế Thượng đế để xây dựng những “thành phố của Thượng đế” (city of Gods) ngay trên trần gian này. Họ muốn thay đổi lịch sử, một bên, với giai cấp, một bên với chủng tộc. Họ sùng bái lãnh tụ, và bằng mọi cách, biến lãnh tụ thành thần linh, qua đó, biến đảng phái thành một thứ tôn giáo mới và xây dựng một chế độ toàn trị, khống chế toàn bộ đời sống tinh thần và vật chất của con người. Họ muốn thay đổi cả bản chất của con người bằng các biện pháp tuyên tuyền, nhồi sọ và khủng bố. Bất kể ngôn ngữ hay ho họ thường sử dụng, những “con người mới” họ muốn sản xuất chỉ là những công cụ mù quáng chỉ biết vâng dạ trước lãnh tụ và vì lãnh tụ, sẵn sàng giết người, kể cả đồng bào và người thân của mình, một cách không gớm tay.

Đó là thời đại của khoa học và kỹ thuật, của văn minh và tiến bộ vượt bậc, của lý trí và của rất nhiều lý tưởng nhưng đồng thời cũng là một thời đại của sự cuồng tín và mê tín, của sự thắng thế của thứ lý trí công cụ (instrumental reason) trên lý trí phê phán (critical reason), của sự độc tôn của sức mạnh và bạo lực. Hậu quả cuối cùng của tất cả những nghịch lý ấy là cả hàng trăm triệu người bị giết chết.

Dĩ nhiên, giữa chủ nghĩa Phát-xít và chủ nghĩa Cộng sản có không ít khác biệt. Chủ nghĩa Phát-xít chỉ xây dựng sức mạnh trên một người, người-được-thần-thánh-hóa (ở Đức là Adolf Hitler; ở Ý là Benito Mussolini); chủ nghĩa Cộng sản xây dựng sức mạnh trên cả việc thần thánh hóa lãnh tụ lẫn việc thiêng liêng hóa đảng phái, như một thứ thiên mệnh. Chủ nghĩa Phát-xít đề cao chủ nghĩa dân tộc trong khi chủ nghĩa Cộng sản lại đề cao chủ nghĩa quốc tế và sử dụng chủ nghĩa quốc tế để phục vụ cho tinh thần dân tộc chủ nghĩa. Hệ thống tuyên truyền của Cộng sản tinh vi và khôn khéo hơn Phát-xít: Trong khi chủ nghĩa Phát-xít chỉ đề cao thù hận, chủ nghĩa Cộng sản đề cao tình yêu và nhân danh tình yêu, kích động thù hận; trong khi chủ nghĩa Phát-xít chỉ nói đến việc trả thù, chủ nghĩa Cộng sản nhấn mạnh việc giải phóng, dù để đạt được mục tiêu giải phóng, họ sử dụng chuyên chính vô sản để trả thù. Cộng sản cũng có nhiều tham vọng hơn Phát-xít: Trong khi chủ nghĩa Phát-xít chỉ muốn quản lý hành động của con người, chủ nghĩa Cộng sản muốn quản lý cả tư tưởng và tình cảm thầm kín nhất của con người. Hậu quả là Cộng sản đa nghi hơn Phát-xít: Phát-xít thường chỉ giết những người bị họ xem là kẻ thù chứ hiếm khi thanh trừng trong nội bộ; Cộng sản, đặc biệt Cộng sản ở Nga dưới thời Stalin, vừa tàn sát kẻ thù vừa tàn sát các đồng chí của mình.

Đằng sau chủ nghĩa Phát-xít chỉ có vài tín lý đơn giản như một thứ tín ngưỡng dân gian; đằng sau chủ nghĩa Cộng sản là cả một hệ thống triết học phức tạp đủ để mê hoặc giới trí thức và văn nghệ sĩ: Hệ quả là có một thứ văn học nghệ thuật Cộng sản chứ không có thứ văn học nghệ thuật Phát-xít. Tuy nhiên, sự tồn tại của thứ văn học nghệ thuật Cộng sản không phải là một điều tốt: nó chỉ gieo rắc sự mê tín và cuồng tín, dung dưỡng các ảo tưởng, và cuối cùng, kéo dài thảm họa: Trong khi chủ nghĩa Phát-xít chỉ kéo dài hơn một thập niên, chủ nghĩa Cộng sản kéo đến hơn bảy thập niên; trong khi hầu như mọi người đều nhận ra tội ác của chủ nghĩa Phát-xít, không ít người vẫn còn ảo tưởng về chủ nghĩa Cộng sản; trong khi chủ nghĩa Phát-xít đã trở thành quá khứ, chủ nghĩa Cộng sản vẫn ở trong thì hiện tại, ít nhất là ở năm nước: Trung Quốc, Lào, Bắc Hàn, Cuba và Việt Nam.

Chữ “Việt Nam”, xuất hiện trong ngữ cảnh ấy, quả là một điều đau đớn.

Lý do chính khiến tôi viết bài này là vì tôi biết, ở Việt Nam hiện nay, có không ít người, kể cả trong giới trí thức, chưa nhận ra chủ nghĩa Cộng sản, tự bản chất, rất gần với chủ nghĩa Phát-xít, điều mà họ luôn luôn nguyền rủa.

Nguồn: Blog Nguyễn Hưng Quốc (VOA)